Archive | Tháng Sáu 2011

Bàn về thuyết rỗng hoặc vơi đầy của Lão tử

 

 

Nhân kỳ thi ĐH của học sinh sắp tới)

 

 

 

Bàn về thuyết rỗng hoặc vơi đầy của Lão tử(*)

 

 

 

Tư duy của Lão tử xét theo quan điểm hiện đại tôi cho là có nhiều điểm rất thú vị,  đó  là giữ cho đầu óc mình có khoảng trống ( ở trạng thái vơi) , biết thường xuyên loại bỏ những cái cũ lỗi thời, bảo thủ, kiến thức vô bổ ,dọn vệ sinh đầu óc, để có thể tiếp thu những  thông tin mới có ích của thời đai.

 

Nguyên văn câu của ông như sau :những

 

 

夫 唯不 盈,  故 能 蔽 新 成

 

( Phù duy bất doanh cố năng tế tân thành)

 

Nghĩa là

 

Do không đầy (vơi) nên mới có thể  bao trùm  được cái mới.

 

 

 

. Ông từng nói đại ý: công dụng của cái bình chính là do nó rỗng. Bởi vậy có thể nói, thuyết của ông là học thuyết về trạng thái Rỗng, hoặc lý thuyết Vơi Đầy, là khái niệm chuyển hóa.vơi mới có đầy và ngược lại đầy thì phải xả bớt cho vơi đi. Sự vật ở trạng thái đầy là đã tận cùng, là sắp hủy diệt. Ta gọi chủ nghĩa kinh nghiệm, bảo thủ tự mãn (tự cho mình đầy đủ rồi) là sự kìm hãm xã hội phát triển là vì thế trong thời đại kinh tế tri thức, quan điểm này mang một ý nghĩa hoàn toàn mới. Theo nghiên cứu, kiến thức của nhân loại cứ năm năm lại tăng lên gấp đôi, nhưng bộ óc con người là hữu hạn. Nó chỉ có gần 28 tỷ nơ ron và được con người sử dụng với hiệu suất cỡ 1 đến 2 %. Bộ óc vĩ đại như Bismark, Einstein cũng chỉ huy động được dưới 10%. Tại sao vậy ? Bởi vì tế bào não trong suốt cuộc đời không phân chia, chỉ thoái hóa đi. Chúng mang thông tin và xử lý thông tin như những hạt điện từ trên băng hình, nhưng lại để lại nếp nhăn, vết xước, không dễ xóa. Bởi vậy muốn cho nó nhận được thông tin mới,ta phải dành cho nó những khoảng (segment) chưa ghi, phải nén lại, nghĩa là phải làm rỗng bộ óc. Quá trình học tập là nạp vào bộ nhớ những thông tin của nhân loại cái đã tích lũy hàng nghìn năm, để giúp cho tư duy logic xử lý, tạo nên những thông tin mới, ý tưởng mới, sáng tạo mới. Giữa nhớsáng tạo có quan hệ tỷ lệ nghịch, nên yêu cầu của thời đại mới, con người phải nhớ ít, sáng tạo nhiều. Thật là một nghịch lý. May mắn thay, loài người đã có những bộ óc điện tử ngày một tinh xảo hơn, đó là computer, có khả năng dung nạp, nhớ, xử lý logic (không sáng tạo) hàng chục tỷ phép tính trong một giây. Có thể coi đó là bộ nhớ ngoài của con người thời đại mới. Tương lai nó còn mạnh hơn nữa, thay thế phần lớn nhiệm vụ nhớ của óc con người,để  dành khoảng trống cho nó phát triển tư duy phi logic, sáng tạo cao hơn nữa. Nghĩa là trong tương lai con người ngày càng phải vệ sinh, dọn dẹp bộ óc thường xuyên, tránh tư duy lối mòn, kinh nghiệm, bảo thủ để có thể sống còn và phát triển không ngừng. Cuộc chạy đua giữa các cộng đồng người trong thời đại mới chính là ở chỗ này, nhất là khi tài nguyên thiên nhiên trên hành tinh ngày càng bị cạn kiệt, chỉ còn bộ óc con người là chưa khai thác hết mà thôi. Vì thế ta có thể nói: chủ nghĩa kinh nghiệm, bảo thủ đã, đang và sẽ trở thành kẻ thù số một, cản trở sự phát triển của nhân loại .

 

Vậy có thể nói lối dạy và họctheo kiểu khoa cử xưa. Sự  nhồi nhét kiến thức của nướ ta hiện nay,là ngày càng nguy hại hơn

 

 

 

 

Thio Trí tuệ Lão tử của Đỗ Anh Thơ

 

 

 

 


Tư duy của Lão tử xét theo quan điểm hiện đại tôi cho là có nhiều điểm rất thú vị,  đó  là giữ cho đầu óc mình có khoảng trống ( ở trạng thái vơi) , biết thường xuyên loại bỏ những cái cũ lỗi thời, bảo thủ, kiến thức vô bổ ,dọn vệ sinh đầu óc, để có thể tiếp thu những  thông tin mới có ích của thời đai.

Nguyên văn câu của ông như sau :những

夫 唯不 盈,  故 能 蔽 新 成

( Phù duy bất doanh cố năng tế tân thành)

Nghĩa là

Do không đầy (vơi) nên mới có thể  bao trùm  được cái mới.

 

. Ông từng nói đại ý: công dụng của cái bình chính là do nó rỗng. Bởi vậy có thể nói, thuyết của ông là học thuyết về trạng thái Rỗng, hoặc lý thuyết Vơi Đầy, là khái niệm chuyển hóa.vơi mới có đầy và ngược lại đầy thì phải xả bớt cho vơi đi. Sự vật ở trạng thái đầy là đã tận cùng, là sắp hủy diệt. Ta gọi chủ nghĩa kinh nghiệm, bảo thủ tự mãn (tự cho mình đầy đủ rồi) là sự kìm hãm xã hội phát triển là vì thế trong thời đại kinh tế tri thức, quan điểm này mang một ý nghĩa hoàn toàn mới. Theo nghiên cứu, kiến thức của nhân loại cứ năm năm lại tăng lên gấp đôi, nhưng bộ óc con người là hữu hạn. Nó chỉ có gần 28 tỷ nơ ron và được con người sử dụng với hiệu suất cỡ 1 đến 2 %. Bộ óc vĩ đại như Bismark, Einstein cũng chỉ huy động được dưới 10%. Tại sao vậy ? Bởi vì tế bào não trong suốt cuộc đời không phân chia, chỉ thoái hóa đi. Chúng mang thông tin và xử lý thông tin như những hạt điện từ trên băng hình, nhưng lại để lại nếp nhăn, vết xước, không dễ xóa. Bởi vậy muốn cho nó nhận được thông tin mới,ta phải dành cho nó những khoảng (segment) chưa ghi, phải nén lại, nghĩa là phải làm rỗng bộ óc. Quá trình học tập là nạp vào bộ nhớ những thông tin của nhân loại cái đã tích lũy hàng nghìn năm, để giúp cho tư duy logic xử lý, tạo nên những thông tin mới, ý tưởng mới, sáng tạo mới. Giữa nhớsáng tạo có quan hệ tỷ lệ nghịch, nên yêu cầu của thời đại mới, con người phải nhớ ít, sáng tạo nhiều. Thật là một nghịch lý. May mắn thay, loài người đã có những bộ óc điện tử ngày một tinh xảo hơn, đó là computer, có khả năng dung nạp, nhớ, xử lý logic (không sáng tạo) hàng chục tỷ phép tính trong một giây. Có thể coi đó là bộ nhớ ngoài của con người thời đại mới. Tương lai nó còn mạnh hơn nữa, thay thế phần lớn nhiệm vụ nhớ của óc con người,để  dành khoảng trống cho nó phát triển tư duy phi logic, sáng tạo cao hơn nữa. Nghĩa là trong tương lai con người ngày càng phải vệ sinh, dọn dẹp bộ óc thường xuyên, tránh tư duy lối mòn, kinh nghiệm, bảo thủ để có thể sống còn và phát triển không ngừng. Cuộc chạy đua giữa các cộng đồng người trong thời đại mới chính là ở chỗ này, nhất là khi tài nguyên thiên nhiên trên hành tinh ngày càng bị cạn kiệt, chỉ còn bộ óc con người là chưa khai thác hết mà thôi. Vì thế ta có thể nói: chủ nghĩa kinh nghiệm, bảo thủ đã, đang và sẽ trở thành kẻ thù số một, cản trở sự phát triển của nhân loại .

Vậy có thể nói lối dạy và học theo kiểu khoa cử xưa, sự  nhồi nhét kiến thức của giáo dục nướ ta hiện nay, sẽ ngày càng nguy hại hơn ,/.,

Thio Trí tuệ Lão tử của Đỗ Anh Thơ

 

 

Advertisements

Ma cụt trốc

Ma cụt trốc

Tạp văn của Đỗ Anh Thơ: Mùa hè quê tôi thường có gió Nam, là gió mùa từ xích đạo mang nhiều hơi nước thổi lên, gặp khối gió phơn (foehn) nóng, từ cao nguyên Thanh Hải Trung Quốc tràn xuống, nên nó phải vượt ngang qua Trường Sơn, lên cao gặp lạnh, gây mưa như trút nước bên Lào. Sang đến bên ta, nó lại nóng lên, nên độ ẩm tương đối xuống rất thấp, gây nên một cái nóng khô như rang, cây cối héo hết. Sự tranh chấp này diễn ra từ đời này qua đời khác, trên đất miền Trung đói nghèo xơ xác. Nhưng do gió Nam thổi mạnh, nên khi mặt trời lửa vừa tắt, chúng tôi đã tranh nhau dội vài ba gàu nước giếng, rồi để trần mà nằm, mà lăn, mà vật nhau, trên giàn phơi khoai mà cười khoái trá. Chúng tôi chỉ thấy sợ nhất những hôm trời chuyển, gió đứng im phăng phắc, rôm sảy đầy người, nó cắn lưng, trán chúng tôi rộp lên như những tấm bánh đa, ngứa ngáy vô cùng.

Những buổi trưa này, mẹ tôi đi trỉa lúa về, bà để cả yếm gọi tôi ra giếng, múc nước dội cho sảy bà đỡ cắn. Giếng thùng cha tôi xây đúng mạch nước mát nhưng nông choèn choẹt. Nước cạn, gàu chằm bằng mo cau mấy ngày đã thủng, vục lên chẳng được là bao. Vì vậy, nhiều hôm mẹ còn nhờ tôi lấy móng tay giết sảy, rồi mới vào cùng anh chị tôi ăn mấy bát khoai vai to với cà pháo. Ăn xong, họ lại ra sân bào khoai hoặc trục dây lạc, dây khoai… làm thức ăn khô cho lợn. Nếu không thì họ vào nhà bếp, giã khoai bột cho vào chum cất dành, hoặc ra sau chuồng trâu, sàng phân để chuẩn bị trộn với thóc, chuẩn bị cho buổi trỉa lúa ngày hôm sau. Trỉa là cách gieo thẳng. Mẹ hoặc chị dâu tôi đi theo sau cày chìa vôi của anh tôi, tay cắp thúng, nhón từng vốc phân trong đó có thóc, bỏ xuống rãnh luống đất vừa được cày vạch nên.

Những buổi trưa như vậy, tôi thường tha thẩn ngoài bụi tre còi tìm bắt ve ve. Con đực thường đậu rất thấp, đang kéo đàn gọi tình. Con cái đậu trên cao. Nhưng nhác thấy tôi nó liền im bặt. Tôi tiến tới gần, nó vụt bay đi, sang bụi tre còi khác. Lại tiếng tình ca vang lên và đáp lại…

Đồng quê tôi lúc này đang một màu cát trắng chói chang giữa trưa hè. Thảng hoặc, có ruộng trỉa sớm thì đang cháy lá.
Trời đứng gió là “ma cụt trốc” hay hiện về. Nó bốc lên một cột cát cao, xoay tròn, múa may, lừng lững đi từ cánh đồng cát này sang đồng cát khác… như một kỵ sĩ không đầu mặc áo choàng trắng.

Mẹ tôi kể, đó là hồn của ông giáo Thụ, chiến sĩ của phong trào Văn Thân, bị Pháp bắt chém ở góc chùa Vảy mấy chục năm về trước, đúng giữa trưa hè. Ngày ông bị chém, bà còn nhỏ, cùng các bạn có đi xem. Bà thấy ông tóc búi tó sau gáy, miệng thản nhiên nhai trầu. Một tên đao phủ múa đao sáng loáng trước mặt ông. Bỗng cái đầu ông lăn xuống cát. Té ra người đứng sau khai đao. Bà thấy máu phọt lên cao và cùng bạn ù té chạy. Tên đao phủ túm tóc ông giơ lên. Có tiếng loa, tiếng trống. Miệng ông vẫn đỏ nước trầu, nhoẻn cười, mắt nhìn lũ trẻ.

Từ đó, ông thường hiện về trong gió cát. Mẹ tôi còn kể, có lần bà và các bạn lấy nón úp được con “ma cụt trốc”. Nó biến mất, để lại cho họ một cái gương và cái lược…

Vào những năm 60 ở nơi sơ tán, một lần tôi có kể chuyện này với một bác người Quảng Bình. Bác ta cười:
“Bịa! Tao đã từng vác đao chặt đầu mấy thằng Việt gian. Có hôm bắt được nó, tao còn bắt nó gối đầu lên gốc cây rồi chặt đứt. Có thấy ma miếc gì đâu. Nếu gặp bọn tao, chúng cũng làm như rứa. Cách mạng mà!”

Tôi rùng mình, còn bác ta thì thản nhiên như kể chuyện cắt tiết một con gà. Tôi cảm thấy sợ, xa lánh bác. Mấy tháng sau, bác ta được điều đi làm công tác khác. Nghe nói là đi B, không biết nay còn sống không!

Chú thíchTrốc = đầu (tiếng địa phương Nghi Lộc – Nghệ An)
Hình minh họa lấy từ Google.

Mây..lang thang về Thịnh Long … và quên

                                                 Mây..lang thang về Thịnh Long …. và Quên.
                                   TTCh còn mơ công nghệ mây điện tử, Thiệu mơ Về Thịnh Long còn Đỗ mơ Điếc và Quên  Mà thực tế đã đáng trí rồi Ước nguyện mới làm sáng qua 25-5-Tân Mão (2011) thì lại ghi là Kỷ Mão ( 1999 tức là 10 năm trước)
                               May mà các bạn vẫn châm chước và sẻ chia
                                                Ngày tàn càng lắm nhọc nhằn  
                                           Trước khi gặp Chúa còn trăm bộn bề
NxTh
                       Người về…nào đã được về, 
Kiếp đời còn nặng, bộn bề, đôi nơi !
Đồng Mô hòn đá đơn côi.
Đã bao thu vắng bên tôi sớm chiều?
Villa, chắc lá rụng nhiều ?
Đàn Sophie ấy chiều chiều ai chăm ?
Ngày tàn sao lắm nhọc nhằn !
Đường trần nỡ dứt thế nhân sao đành.
: Chủ nhật, 26 tháng 6, 2011, 21h46

ttch

Chuyện Khổng tử và Tiến sĩ Termsak Chalermpalanupap

Chuyện Khổng tử và Tiến sĩ Termsak Chalermpalanupap

           Khổng tử hiện là cố vấn cấp cao cho giáo sư Tô Hạo trong cuộc hội thảo khoa học về Biển Đông mới đấy. Giờ giải lao ngoài hành lang, ông vỗ vai Tô Hao mà nói :  Cháu đăng đàn hay lắm, sao không nhấn mạnh thêm lời dạy của ta là :

Tổn giả tam hữu: hữu tiện tích, hữu thiện nhu, hữu tiện nịnh, tổn giả.

損 者 三 友: 友 便 辟﹐友 善 柔﹐友 便 佞﹐損 者.

 Nghĩa là: “có ba loại bạn xấu, bạn ra vẻ ta đây, bạn quen nói dịu ngọt nhưng không thực lòng, bạn hay nịnh bợ. Những bạn đó có hại”.

Nói rồi, Khổng tử quay sang chắp tay vái dài rất đúng lễ với TS Termsak Chalermpalanupap, Giám đốc Ban an ninh chính trị thuộc ban thư ký ASEAN , còn tiến sĩ này thì ngao ngán lắc đầu:

:… sau khi nghe phần trình bày của GS Tô Hạo, tôi  mới thấy rõ một điều là : “Trung Quốc và ASEAN khác nhau về phong cách”.Dừng một lát, ông nói thêm: “Các nước ASEAN thì “nói và nói” (talk and talk) còn Trung Quốc thì “miệng nói và tay làm” (talk and take)”

Đỗ Anh Thơ (sưu tầm)

.

Ước nguyện của DOCAGO

             

            Ước nguyện của DOCAGO

Đồng Mô ta ước được về,

Dắt con nghé, nón mê đội đầu.

Ngốc si đi… như lũ trâu,

Tai nghễnh ngãng, hết buồn rấu thế gian.

Đá mồ côi, bạn ngày tàn,

Đêm thì ngáy, sáng ra sân trông vườn.

Gặp thời tiết người ươn ươn,

Đau mình tý chút, một cơn …rồi về !

                                Đỗ Anh Thơ

                   ( Viết trước ngày giỗ cha 27-5 Kỷ Mão)

Về Thịnh Long – Thơ Nguyễn Xuân Thiệu và Trần Trọng Chiêm

           Thơ Nguyễn Xuân Thiệu và Trần Trọng Chiêm 

                                      

                            ( ảnh minh họa lấy trên mạng)

                Về Thịnh Long(*)

Tôi lại về Thịnh Long

Vẫn con đường xưa, vẫn bờ đê cũ

Biển vẫn thế,vẫn ngàn năm sóng vỗ

Biển chẳng gìa, gìa mỗi mình tôi

Chiều nay bên biển bồi hồi

Bỗng dưng nhớ lại một thời đã xa

Một thời trai trẻ đã qua

Về đây, tôi-một ông gìa cô đơn

Ngoài xa sóng biển dập dồn

Biển đông vui thế,tìm không thấy người

Em đi,đi mãi xa rồi

Nhớ em,tôi lại về ngồi…nơi xưa

                                   Nguyễn Xuân Thiệu

 

Biển chẳng già, biển rỡn đùa hối hả,
Sóng ầm ào, lúc dụi êm thư thả.
Chiều, triều về, biển mênh mông hung dữ !
Bình minh lên lại như em mười tám !
Riêng mình tôi run run trên bờ đá,
Đứng lặng nhìn con nước sợ ngày qua !


                                  Trần Trọng Chiêm

(*) Biển thuộc huyện Hải Hâu, Nam Định