LÃO NHẮNG VÀ TÔI

Với đôi kính trắng, chiếc áo ba đờ xuy, cái xe đạp mi ni mới của Trung Quốc, trông lão thật xứng là một người danh giá, vọng tộc trong làng. Đời Lê, họ nhà lão có đến ba tiến sĩ. Nhưng truyền thuyết kể rằng: “Ông tổ nhà lão làm nghề cất vó. Một đêm đi mò cá, biết họ Võ đào nền chùa tìm huyệt. Ông tổ nhà lão dọa tố cáo. Họ Võ đành nhường cho một cái nên chỉ có phát được có ba đời”. Lão nghe chuyện, liền nổi xung. Lão đánh tiếng sẽ gọi con cáu đầu gấu đến họ Võ xin tí tiết. Ai ai nghe cũng phải sợ.
Buổi đầu, mới về làng này, chưa quen, tôi giáp mặt lão, không chào. Lão dương mắt kính, nhìn tôi trân trân. Đi một đoạn, lão buông một câu trống không:
– Đường cái làng này, mười viên gạch thì họ Trần nhà tao có chín viên. Mấy thằng ngụ cư, không biết lề thói, gì cả!
Từ đó về sau, nếu tôi có chào, lão cũng không thèm lên tiếng đáp lại… Thế là tôi bắt buộc phải tìm cách lánh mặt. Hễ nhác thấy bóng lão từ xa, tôi giả vờ sửa xe, hoặc đành quay lại, y chuyện Lạn Tương Như với Liêm Pha, xưa kia.
Có lẽ, lão hơn tôi đến hơn chục tuổi. Đã thuộc làu câu “kính… nhi viễn chi” của Khổng tử, đúng ra, tôi phải sửa lỗi lầm đó. Nhưng mà không được, lý là tại làm sao? Lòng tự ái trong tôi cứ dày vò mãi. Vợ con cứ trách tôi rằng, chẳng hiểu gì câu nói của cha ông xưa: “bán bà con xa mua láng giềng gần”. Đã nghỉ hưu rồi, làm anh dân thường, mà còn làm phách. Cực chẳng đã, chiều mồng hai tết năm đó, tôi chủ động sang nhà lão. Lão nằm ngay trên giường, đắp chăn không dậy. Bà vợ hai rót chén nước, mời chiếu lệ. Tôi vội vàng làm thủ tục của cha ông, nói mấy câu chúc tụng, rồi lủi thủi ra về.
Sau đó mấy hôm, xóm họp người cao tuổi. Tôi cũng được mời. Các cụ dòng họ Võ phấn khởi lắm. Biết tôi võ vẽ đôi ba câu, nên họ bắt tôi đọc thơ xuân. Bỗng có một tiếng cắt ngang:
– Thôn quê chúng tôi ít chữ, biết gì “thơ với thẩn”!
Tôi quay sang nhìn, thấy lão Nhắng tỉnh bơ, đang nói tiếp:
– Có bàn lễ hội thì bàn. Không, tôi về!
Cụ chủ nhiệm câu lạc bộ tuổi già cuống quýt, bấm lưng tôi. Tôi cụt hứng. Té ra cụ nào trong xóm cũng sợ lão Nhắng. Có lẽ vì lão là hậu duệ của một dòng họ danh giá, lại là ông từ “lừ khừ giữ đền”, đang cho các cụ mượn làm trụ sở chăng?
Thế là kế hoạch hội nhập của tôi không thành công. Thậm chí, mấy ngày sau, tôi còn được nghe phong thanh rằng, lão Nhắng bảo, tôi muốn vào hội, để sau này xin “hai thước đất”… cuối làng.
Từ đó tôi bất cần. Gặp lão tôi cũng giương kính lên, nhìn thẳng.
Thế rồi thời thế xoay vần. Xã tôi thành phường, một phần huyện thành quận. Dân xóm tôi bầu khối trưởng mới. Ông trưởng xóm cũ, vốn họ Trần của lão Nhắng, do tham ô nhiều tiền làm đường điện, nên mất ghế. Thế là lão đứng lên, thọc tay vào túi áo ba đờ xuy, lững thững bước ra về. Các bà trong họ ấy cũng lỉnh gần hết. Tôi thấy ông trưởng khối mới, mặt có hơi tái đi, khi thấy ba gian đình, người vãn đi già nửa.
… Rồi một hôm, tôi đi qua, thấy lão Nhắng ngồi trực đền. Nhằm chọc tức lão, tôi vào đình, đọc câu đối và ghi ghi chép chép.
Ngờ đâu, lão Nhắng đứng lên đon đả rót nước mời tôi. Thế là từ đó, hai chúng tôi thân nhau, lui tới nhà nhau như chưa từng có hiềm khích bao giờ. Lão còn lấy trong ống bương ra một cuộn giấy bản to, toàn là sắc phong thời Lê, nhờ tôi dịch. Vợ tôi mừng ra mặt. Trong óc bà ấy thoáng nghĩ ngay đến cái cơ hội “hai thước đất” mà lão Nhắng đoán như trúng tim đen ấy, đã đến gần. Vì chả dấu gì các bạn, bà ấy với tôi, đều đã già, lại thuộc diện KT2, KT3 cả, chưa có tiền nộp thuế đất, làm đơn xin sổ đỏ để nhập hộ khẩu.
Nhưng rồi một năm trôi qua. Phường mới của tôi, trâu bò vẫn cứ thả rông. Rác rưởi, rơm rạ của các nhà hàng thịt chó vẫn hun mù mịt. Lòng, phân, nước thối nồng nặc vẫn mặc nhiên… chảy tràn qua đường… hội nhập với dòng sông Tô lững lờ đen.
Tôi ngán ngẩm. Thế rồi, không biết tôi đã nhiễm vi rút A.Q của lão, tự bao giờ. Ngồi với lão, tôi cũng đâm sính kể chuyện họ hàng, rằng bà con tôi, có tới hàng chục tiến sĩ, giáo sư đang sống ở Hà Nội. Còn phó tiến sĩ, giáo sư thì… đếm không xuể.
Tôi với lão thường vỗ đùi đen đét, tâng bốc lẫn nhau như thế, rồi tu rượu đến khuya. Chỉ có khác, lão nói tiến sĩ họ nhà lão thuở trước, còn bia trên Văn Miếu. Phần tôi, tôi nói chuyện thành đạt của con cháu tôi thời nay, hết đi Tây lại đi Mỹ. Thế thôi!
Đỗ Anh Thơ
( Rút từ Nước mắt mẹ- NXB Phụ nữ 2010)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s