Archive | Tháng Chín 2011

ocago.wordpress.com số ra thứ 7 ngày 1/10/2011 9 (tức 05 tháng 9 năm Tân Mão.) :lỗi dàn trang nên đăng lạipp CHUYÊN MỤC: VĂN HÓA ĐÔNG TÂY Đỗ Anh Thơ ( biên soạn) Chương 7: Aurelius Augustinus với thuyết thượng đế thống trị Augustine là triết gia và nhà thần học Kitô giáo, người Bắc Phi. Tên La-tin đầy đủ là Aurelius Augustinus, hoặc còn gọi là Augustinus Hipponensis, thánh Augustine. Augustine sinh tại Tagaste, Numidia, phía nam Hippo, nơi hiện nay thuộc Algeria. Từ đó, ông bắt đầu cuộc sống phấn đấu của một triết gia hành giả, rồi trở thành vị giáo phụ vĩ đại nhất trong bốn giáo phụ La-tin của Kitô giáo và để lại ảnh hưởng lớn lao trong triết học phương Tây cùng thần học Kitô giáo. Ông đươc mẹ là một tín đồ Kitô giáo dưỡng, nhưng chàng thanh niên Augustine từ bỏ tập quán tín hữu ấy khi sang Carthage du học. Ở đó, ông tinh thông khoa hùng biện. Trong cuốn Confessions (Tự thú), ông kể lại, bằng giọng ăn năn, quãng thời gian tuổi trẻ hoang dại tại Carthage với kết quả có với tình nhân một đứa con trai tên là Adeonatus. Vào một thời điểm Tranh Augustine ở nhà thờ Lateran thế kỷ thứ 6 Cuộc đối thoại Augustine (Gozzoli, tk15 Lễ rửa tội cho Augustine (Gozzoli, tk15 Augustine tranh của Simone Martini nào đó ông cải giáo sang Manichea— thường gọi là đạo Mani, một hệ thống tôn giáo khá thịnh hành từ thế kỷ 3 tới thế kỷ 5, chủ trương Satan, cái ác hoặc bóng tối ở trong tình trạng xung khắc thường trực và bất tận với Thượng đế, cái thiện hoặc ánh sáng. Sau năm 376, Augustine bỏ đi La Mã, dạy khoa hùng biện, rất thành công. Tới năm 384, các tín đồ Mani thúc giục ông sang Milan dạy học. Milan là khoảng thời gian then chốt của đời ông. Không còn tín nhiệm giáo phái Mani, ông tuyên bố từ bỏ đạo ấy sau khi nghiên cứu triết học Plato, thuyết tân Plato và thuyết hoài nghi. Khủng hoảng tâm linh, Augustine bị lôi cuốn mãnh liệt bởi nhiệt tình hùng biện của thánh Ambrose, giám mục Milan. Kết thúc hai năm sống với tâm trạng hoài nghi sâu xa và rối rắm tinh thần, Augustine đột nhiên đi theo Kitô giáo. Ông làm lễ nhập đạo vào dịp lễ Phục sinh năm 387. Sau đó chẳng bao lâu, ông quay về Tagaste, sống đời tu viện với một nhóm bạn. Năm 391, trong khi thăm viếng Hippo, ông được chọn — ngoài ý muốn của mình — làm linh mục của hội thánh Kitô ở đó. Suốt phần đời còn lại, ông sống ở Hippo, làm giám mục phụ tá năm 395 rồi không lâu sau, làm giám mục. Ông qua đời khi thành Hippo bị quân Vandal bao vây. Ảnh hưởng của Augustine lên Kitô giáo được nhiều người đánh giá là chỉ đứng sau Phaolô, vị tông đồ thời lập đạo. Các nhà thần học, cả giáo hội Công giáo, Chính thống giáo lẫn Tin Lành đều xem ông là người thành lập thần học. Cuốn Confessions (Tự thú, ra đời khoảng năm 400) được xem là kinh điển của chủ nghĩa thần bí Kitô giáo. Tác phẩm này, nguồn thông tin chính về cuộc đời của Augustine, là một biện hộ cho việc tác giả cải sang Kitô giáo, và được viết với giọng văn tuyệt vời. Tranh:: Augustinus đang giảng giáo lý Tác phẩm nổi tiếng kế đó là City of God (Thành đô của Thiên Chúa, sau năm 412), một chống trả lớn lao của Kitô giáo trước những lời phê bình nó là tà giáo, đặc biệt nổi tiếng vì quan điểm Kitô giáo được tác giả trau chuốt tỉ mỉ xuyên suốt từng trang sách. Trong đó, Augustine đánh giá toàn bộ lịch sử như một chuẩn bị có tính quan phòng của Thiên Chúa cho hai thành đô bí nhiệm, một của Thiên Chúa và một của quỉ dữ; và toàn thể nhân loại sẽ tối hậu thuộc về thành đô này hoặc thành đô kia. Và cái ác là do bởi sự thiếu cái thiện. Tranh: Augustinus đang đọc sách Tác phẩm đơn thuần giáo điều và vĩ đại nhất của ông là On the Trinity (Bàn về Chúa Ba Ngôi), một hệ thống hóa học thuyết Kitô giáo, nhưng phần lớn văn bản ấy có xuất xứ từ các bài luận chiến của ông. Các tác phẩm chống giáo phái Mani, đặc biệt Against Faustus (Chống Faustus), vị thầy Mani cũ của ông, là quan trọng vì nó chiếu rọi lên tôn giáo ấy. Ðể chống giáo phái Donatus ỏ Bắc Phi chủ thương thanh khiết và tái thanh tẩy, Augustine viết hai tác phẩm On Baptism (Bàn về phép rửa tội) và On the Correction of the Donatists (Bàn về sự sửa chữa của người Donatus) trong đó ông công thức hóa một ý tưởng mà kể từ đó, nó trở nên thành phần của học thuyết của Kitô giáo, cho rằng thẩm quyền của Giáo hội Công giáo là một bảo đảm cho Ðức tin Kitô do bởi tính chất chắc chắn của tông truyền — được truyền thừa trực tiếp từ mười hai Tông đồ của Ðức Kitô, đặc biệt Phêrô, giám mục La Mã đầu tiên. Cuộc tranh luận ngoạn mục nhất mà Augustine can dự là trận đánh chống lại giáo phái Pelagion. Người Pelagion phủ định tội tổ tông và cuộc sa ngã của con người. Quan điểm ấy có hàm ý rằng ân sủng của Thiên Chúa không nhất thiết là bước tiên khởi để hướng tới sự cứu độ, và như thế, nó kích động Augustine, kẻ cho rằng loài người bị hư hoại và không có khả năng tự lo liệu. Trong cuộc luận chiến này, ông viết nhiều luận văn, và sau đó, tiếp tục trau chuốt các ý tưởng ấy. Từ các văn bản của Augustine, cuộc tranh luận vĩ đại về ân sủng cứ thế tiếp diễn. Và những người tự cho mình đi theo đúng con đường của Augustine, như nhà cải cách Thệ phản người Pháp John Calvin (1509-1564) và những người theo giáo phái Hà Lan Cornelius Jansen (1585-1638) triển khai thành các thần học có tính tiền định. Dù vẫn tôn kính Augustine, nhiều nhà thần học không chịu chấp nhận những phát biểu quá cực đoan của ông về ân sủng. Một trong các luận văn quan trọng của Augustine, On the Work of Monks (Về công việc của tu sĩ) được dùng rộng rãi trong các tu viện. Ông cũng soạn các tác phẩm bình giải Kinh thánh. Một trong những luận văn đáng quan tâm nhất của ông, được gọi là Retractions (Xóa bỏ), được biên soạn thời cuối đời, như một cách thức duyệt xét các tác phẩm và các quan điểm của mình. Augustine là bậc thầy về bút pháp, các bức thư của ông nhiều về số lượng, rất cởi mở và bộc trực. Ngày nay, mỗi khi các Hội thánh Kitô giáo gặp tranh luận hay khủng hoảng về thần học, người ta có thói quen tìm về các tác phẩm của Augustine và của các giáo phụ thời sơ khai ấy, để tham chiếu cùng tìm sự soi sáng. Giáo lý của Augustinus chi phối tới 1000 năm của cơ đốc giáo Chương 8.- Thuyết tồn tại của thượng đế và học thuyết nhà nước của Thomas Aquinas Thomas Aquinas là khuôn mặt vĩ đại nhất của triết học kinh viện và nhà thần học người Ý. Cũng được gọi là Tiến sĩ Thiên thần (Doctor Angelicus). Sinh tại Rocca Secca, gần Naples, trong một gia đình quan quyền, Aquinas theo học các thầy dòng Bênêdictô (Biển Ðức) tại Monte Cassino rồi Ðại học Naples. Sau đó, cưỡng lại quyết định của gia đình, ông vào dòng Ðôminicô (Ða Minh), làm tu sĩ khất thực (1244). Ông bị các anh em bắt cóc và giam trong một lâu đài của cha mẹ hơn một năm. Cuối cùng, thoát ra được, ông đi Cologne và trở thành môn sinh của Albertus Magnus. Năm 1248, ông cùng thầy đi Cologne, rồi từ đó đi Paris lần nữa và nổi tiếng, trở thành giáo sư thần học rất thành công tại Anagni, Orieto, Rome và Vitenbo. Aquinas xuất hiện khi giới thế tục tìm cách giới hạn đặc quyền của giới tu sĩ tại các đại học. Sau năm 1259, ông trải qua vài năm ở Ý, làm giáo sư và cố vấn cho Tòa thánh Vatican. Việc ông quay lại Paris có lẽ do gấp rút vì nổi giận với Siger De Brabant và bài đọc của học giả ấy trình bày quan điểm của triết gia Hồi giáo Tây Ban Nha Averroës về Aristotle. Cuộc chiến đấu học thuyết với Siger là biến cố đáng nhớ nhất trong đời Aquinas; chiến thắng ấy có nghĩa rằng lập trường của ông đã khải hoàn. Năm 1272, Thomas Aquinas rời Paris đi Naples để tổ chức một viện nghiên cứu. Hai năm sau, đang cùng với người bạn lâu năm, Sư huynh Reginald ở Fossanuova, trên đường đi dự Công đồng Lyons với tư cách cố vấn cho giáo hoàng, Aquinas qua đời, hưởng thọ 49 tuổi. Aquinas đang giảng thuyết thượng đế Nhân đây, tưởng cũng nên nói đôi chút về vị triết gia Hồi giáo Averroës. Tên A Rập của ông là Ibn Rushd (1126-1198), người nổi tiếng nhất trong các triết gia Hồi giáo thời trung cổ, còn Averroës là tên gọi theo hình thức La-tin. Là quan tòa và bác sĩ ở Córdoba, Seville, nơi ông chào đời, ông sang sống một thời gian tại Marocco, Bắc Phi. Ở đó, ông làm bác sĩ ngự y cho vua Hồi Abu Yusuf nhưng rồi bị trục xuất về Tây Ban Nha vì tình nghi dị giáo. Sau đó, ông được phục hồi và quay lại sống ở Marrakesh cho tới ngày qua đời. Tác phẩm vĩ đại nhất của Averroës là Commentaries on Aristotle (Bình luận Aristotle). Những thông giải của ông về Aristotle vẫn ảnh hưởng lâu dài sau khi ông qua đời và trở thành vấn đề suy tưởng lý tính, góp phần dọn đường cho thời Phục hưng. Ông nỗ lực đặt ranh giới tương ứng cho từng lãnh vực đức tin và lí trí, chỉ ra rằng cả hai không cần phải hòa giải vì chúng chẳng xung khắc nhau. Averroës tuyên bố triết học là hình thức thẩm tra cao nhất. Siêu hình học của ông mang sắc thái tân Plato chủ nghĩa, giống y như Avempace, người ông mang nợ trong các ý tưởng về trí thức. Các học thuyết của Averroës về sự bất tử của cá nhân và sự hằng cửu của vật chất bị Giáo hội Công giáo lên án. Thomas Aquinas tôn trọng Averroës nhưng tấn công cuộc phấn đấu của Averroës khi vị triết gia Hồi giáo người Tây Ban Nha ấy cho rằng chân lý triết học bắt nguồn từ lý trí chứ không từ đức tin. Hầu hết tác phẩm của Averroës được châu Âu biết tới qua bản dịch bằng tiếng La-tin và Do Thái Híp-ri, về sau có ảnh hưởng lên các nhà văn Do Thái giáo, Kitô giáo và cung cấp một tổng hợp từng phần cho hai truyền thống triết học A Rập và Hi Lạp. Khác với bản tính lầm lì và phong thái chậm chạp, Thomas Aquinas là người diễn giảng xuất sắc, rõ ràng với những tư tưởng bén nhạy, như các tác phẩm của ông cho thấy, với lối lý luận khúc chiết và sử dụng tiếng La-tin giản dị, chính xác đáng phục. Càng khiêm tốn và đức hạnh, ông càng chứng tỏ một cuộc sống tâm linh phong phú và lòng mộ đạo sâu xa. Không một tác phẩm nào vén lộ đầy đủ triết học Aquinas. Có thể xếp loại công trình trước tác suốt 20 năm của ông theo hình thức và chủ đích của từng tác phẩm. Những cuốn chính là Commentary in the Sentences (Bình luận về các câu, 1254-1256), tác phẩm vĩ đại và sớm sủa nhất gồm một tập hợp các bài giảng cho công chúng; bảy quaestiones disputatae (các vấn đề tranh luận công khai, 1256-1271); những bình luận triết học về các tác phẩm của Aristotle như Mỹ học, Siêu hình học, Loài vật, Vật lý học; một phần của De interpretatione (Về thông giải), và Posterior Analytics (Phân tích về sau); các luận văn về nhiều chủ đề trong đó có Summa theologica contra Gentiles (Tổng luận thần học chống người ngoài Công giáo, 1258- 1260), cũng là Summa philosophica (Tổng luận triết học); và cuốn quan trọng hơn hết là Summa theologica (Tổng luận thần học, 1267-1273), tác phẩm trình bày thần học có tính hệ thống nhưng chưa hoàn tất. Hơn 600 năm sau, năm 1879, Giáo hoàng Leo XIII, trong Thông điệp Aetterni Patris, chính thức tuyên bố triết học của Aquinas là triết học Kitô giáo. Triết học Aquinas được công khai thừa nhận là mang bản sắc Aristotle với những phương pháp và những phân biệt của người Hi Lạp được thích nghi theo với mạc khải. Thế kỷ 13 là thời kỳ chủ chốt trong tư tưởng Kitô giáo, bị xâu xé giữa những tuyên bố của người theo phái Averroës và những người cực đoan theo Augustine. Aquinas chống đối cả hai trường phái ấy. Người theo Averroës do Siger de Brabant lãnh đạo, tách riêng đức tin và chân lý một cách tuyệt đối, còn người theo Augustine muốn biến chân lý thành vấn đề đức tin. Aquinas cho rằng lý trí và đức tin lập thành hai cảnh giới hòa điệu trong đó các chân lý của đức tin bổ sung cho chân lý của lí trí; cả hai đều là tặng phẩm của Thượng đế, nhưng lí trí có sự tự quản của chính nó. Như thế, ông biện hộ cho quyền của lí trí chống lại nỗi sợ hãi của những kẻ muốn trấn áp Aristotle, xem ông là tổ phụ của Averroës và dị giáo. Theo Aquinas, nguyên lý đệ nhất của triết học là sự khẳng định hữu thể. Từ quan điểm ấy, ông tiến hành cuộc xem xét thái độ trong đó trí tuệ hiểu biết hữu thể là gì. Ðối với con người, toàn bộ tri thức bắt đầu bằng con đường giác quan; qua trung gian đó, hắn nắm bắt cái phổ quát, tức là thế giới chỉ có thể nhận thức được bằng trí tuệ. Theo lập trường được cho là duy thực chủ nghĩa vừa phải (moderate realism) của Aquinas, một dạng thức hoặc cái phổ quát có thể hiện hữu theo ba cách: trong Thượng đế, trong vạn vật và trong tâm trí. Chính qua tri thức về vạn vật mà chúng ta đi tới hiểu biết sự hiện hữu của Thượng đế. Trong trật tự thiên nhiên thì chỉ có thể biết Thượng đế bằng loại suy và phủ định. Niềm xác tín của Aquinas vào việc lí trí có thể phát hiện sự hiện hữu của Thượng đế được chứng minh bằng các chứng cớ của ông về sự hiện hữu của Thượng đế. Phân tích của Aquinas về vấn đề này được tiến hành bằng các khái niệm của Aristotle về tính hiệu ứng và hành động, vật chất và dạng thức, hữu thể và yếu tính. Một vật đòi hỏi phải có vật khác mới trọn vẹn thì được cho là hiện hữu trong hiệu ứng của cái khác; sự nhận ra hiệu ứng ấy được gọi là thực tại. Vũ trụ được nhận thức như một chuỗi sự vật được sắp xếp theo trật tự hướng thượng hoặc hiệu ứng và hành động, trong cùng một lúc được ban thưởng và được tạo nên bởi Thượng đế, kẻ một mình ngài là hành động đơn thuần. Thượng đế thì bất biến vì biến đổi có nghĩa là đi từ hiệu ứng tới hành động. Và như thế, Thượng đế hiện hữu mà không có bắt đầu cũng chẳng có kết thúc, vì cả hai cái đó đòi hỏi sự biến đổi. Vật chất và dạng thức đều thiết yếu để am hiểu sự biến đổi, vì biến đổi đòi hỏi đồng nhất tính của cái trở thành và cái mà nó trở thành. Vật chất là cái đầu và dạng thức là cái sau. Mọi vật có tính vật lý đều được làm thành bởi vật chất và dạng thức. Lâu đài Monte San Giovanni Campano . Sự khác biệt giữa cái là dạng thức hoặc đặc tính với sự hiện hữu thật sự của nó được biểu hiệu bằng các thuật ngữ yếu tính và hữu thể. Chỉ ở trong Thượng đế mới có sự phân biệt giữa vật chất và dạng thức. Từng cặp một: vật chất và dạng thức, yếu tính và hữu thể, đều là những trùng hợp đặc biệt của hiệu ứng và hành động. Hệ thống của Aquinas dựa trên ba phân biệt đó. Hữu thể cũng có thể được đặc điểm hóa bằng kiểu thức (mode). Kiểu thức không thêm được gì vào ý tưởng về hữu thể nhưng nó là phương cách để làm rõ ràng và dứt khoát cái tiềm ẩn bên trong hữu thể. Theo ý nghĩa nào đó, kiểu thức có nghĩa là sự phân chia hữu thể thành các phạm trù. Theo ý nghĩa khác, nó phô diễn những phân biệt nhất định của hữu thể trong sự chung chia với mọi loại. Theo ý nghĩa này, các kiểu thức được biết như là những cái tiên nghiệm; cùng với hữu thể, một cách chủ yếu, những cái đó là sự hiệp nhất, chân lý và cái thiện. Những từ ngữ ấy có thể hoán đổi cho nhau. Vì cái đối lập của hữu thể không hiện hữu và cái thiện thì đồng hóa với hữu thể, nên đối với Aquinas, thật rõ ràng rằng cái ác chỉ là sự vắng mặt cái thiện. Suốt một thời gian dài, Aquinas bị lãng quên hoặc bị hiểu sai bởi ngay cả những triết gia vĩ đại nhất, nhưng cuoi cùng, những lời giảng của ông đã khải hoàn. Sự kiện chúng được công nhận chính thức trong Giáo hội Công giáo La Mã không có nghĩa người Công Giáo có thể không bám sát các triết học khác, đặc biệt các lời giảng mang bản sắc Scotus, được triển khai từ học thuyết của Duns Scotus (k.1270-1308), người sáng lập trường phái dòng thánh Phanxicô và mở cuộc tranh luận sôi nổi với Thomas Aquinas. Tổng hợp tuyệt vời của Aquinas ngày nay được khái quát công nhận là một trong những công trình vĩ đại nhất của tư tưởng loài người, Triết học bao quát của ông được áp dụng vào mọi cảnh giới của cuộc sống con người. Thuyết Thomas — Thomist, được gọi cách ấy vì lòng kính trọng thánh vị Aquinô của ông do Giáo hội Công giáo phong — là một cấu trúc toàn vẹn trong chính nó, và không đơn giản là một bộ sưu tập các lý thuyết triết học. Các thuật ngữ tân Thomas và tân kinh viện được dùng để gọi một trường phái triết học trong thế kỷ 20. Các thủ lãnh Công giáo Pháp của trường phái này là Etienne Gilson (1884-1978), sử gia triết học và nhà thần học, và Jacques Maritain (1882-1973), nhà thần học, những kẻ tìm cách áp dụng các nguyên tắc của thuyết Thomas vào các điều kiện xã hội, kinh tế và chính trị hiện đại. Người ngoài Công giáo cũng tìm cách thích nghi các nguyên tắc của thuyết Thomas vào dời sống hiện đại; họ cũng được gọi là những người tân Thomas chủ nghĩa. ( Nguồn: Lấy từ một phần bài viết Ba mươi triết gia phương Tây của Nguyễn Ước) Tượng Thomas Aquinas. CHUYÊN MỤC THƠ VĂN Thơ Trần văn Kinh 3. Tửu tam bôi. Mới một ly mà, mới nhấp môi, Gió đưa hương đến, nhẹ như mời ! Hai ly đã thấy tình xuân lắm Ly nữa, này xuân mới tuyệt vời… 4. Nửa chén quỳnh tương. Có khoảnh khắc nào, em đấy chăng Cung thương dìu dặt khúc Tầm dương(*) Thi nhân với tiếng tơ đàn ấy Một nỗi nhân tình giữa thế gian Có khoảnh khắc nào, ta đấy chăng Tầm dương dạ khúc cứ đa mang Ngàn năm đâu phải mình ta nhỉ Nửa chén quỳnh tương, nhấp dở dang… ——- (*) Bến tầm dương canh khuya đưa khách Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu… (Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị) Hoàng Thảo Mưa – Lại mưa nữa rồi, mưa gì mưa mãi! – Thì mùa mưa mà em! Hình như tôi không còn là tôi. Chỉ một cái nhìn cũng khiến tôi rùng mình. Một hơi thở cũng đủ quấn chặt lấy tôi kéo lại gần anh ấy. Mọi lời anh nói dù rất khẽ cũng làm tôi đau. Ngay cả những lúc anh im lặng uống cà phê, tiếng những viên nước đá lanh canh trong lòng cốc cũng khua vào lòng tôi những nhịp đập nghẹn thở. Anh kể toàn những chuyện vui khiến tôi không thể nhịn cười. Nhưng những tiếng cười ấy cũng làm tôi ray rứt mà anh không biết. Giá như anh đừng nói gì. Chỉ cần anh ngồi im thôi cũng đủ làm tôi ấm áp. Tôi lạnh không phải vì những cơn gió đêm mang theo hơi mưa. Những tiếng cười của tôi đang làm tôi tê tái. Bỗng dưng những lần gặp nhau bình thường ở quán cà phê lại trở thành một niềm mong mỏi, những giây phút khuấy động nhịp sống đơn điệu hàng ngày của tôi, lấp đầy một khoảng trống âm ỉ ngày càng lớn trong đời sống. Tôi bỗng sợ ngày mai, khi anh ra đi, những ngày cũ sẽ lập lại, dài hơn, chậm hơn, trống vắng hơn. Tôi ngồi với anh đã hơn 3 giờ đồng hồ mà anh vẫn không nói điều tôi muốn được nghe. Chỉ cần một lời thôi cũng có thể làm tôi sung sướng thao thức suốt đêm để mơ mộng, để tưởng tượng về cả phần đời còn lại. Có lẽ anh biết điều tôi thầm mong muốn và cố tình đùa cợt tôi chăng? – Mới tạnh một chút trời lại mưa nữa. Mưa hoài, anh nhỉ? – Ừ, trời mưa thế này thì đành ngồi tán gẫu cho qua thời gian chứ biết làm gì! Tôi không muốn biện hộ. Sự thành thật của những rung cảm sẽ làm chứng cho tôi. Em cười rất tươi theo những câu chuyện bông đùa của tôi nhưng em không biết tôi đang chết héo trong cảm xúc của mình. Những câu chuyện linh tinh ấy là cái phao cuối cùng để tôi bám víu vào thực tại. Ngày mai tôi đi rồi. Có nên không để lại một niềm lưu luyến và bao tiếc nuối? Em đâu biết rằng tôi muốn vứt bỏ hết màn kịch tôi đang độc diễn để có thể nói lên một lời thành thật duy nhất, rất thiết tha, và rất quen thuộc, như đã bao lần tôi đã thốt lên với những người con gái đi qua hay ở lại trong đời mình. Tôi không muốn những cảm xúc vừa êm ái vừa đau đớn này tan biến. Cái cảm xúc khi tim chợt sai nhịp đập, khi tâm trí bỗng nhiên mộng du, khi mỗi ánh mắt chạm vào đâu cũng biến nơi đó thành vàng ngọc quý giá. Chỉ có sự từng trải của một người đàn ông mới giúp tôi giữ được vẻ bình thản cần thiết. Và sự lo sợ nữa! Tôi sợ rằng nếu tôi không đủ tỉnh táo thì những giây phút đẹp đẻ này sẽ vỡ tan và trở thành nỗi ân hận khôn nguôi như những mối tình đã trót đánh mất. Những mối tình luôn là mối tình đầu. – Vậy là ngày mai anh đi? – Ừ, ngày mai anh đi. Sao anh không hiểu rằng em đang chờ chỉ mỗi một lời ấy? Em bồng bột ư? Có thể. Nhưng em đang sống thực với chính mình nhất trong sự bồng bột ấy, anh có biết không? Chỉ có anh mới có thể cuốn em vào cái dòng lũ mê đắm này. Chưa bao giờ em có cái cảm giác ấy mặc dù không ít người đã từng đến với em và mong mỏi ở em nỗi xao xuyến dữ dội như thế. Em đang buông trôi chính mình trong dòng thác ấy, đang chờ đợi những phiêu lưu đầy mê hoặc. Nhưng anh đã neo chặt em lại bên này bờ an toàn. Em nào cần tới sự an toàn ấy đâu anh! Không, em tin là anh hiểu rõ em. Nhưng anh không thể cho em điều em khao khát. Điều đó càng làm em thêm đau, và muốn đau hơn. Cái đau đớn ấy sao mà đầy ma lực bởi vì chính sự hóa giải nỗi đau mới là điều kỳ diệu. Anh, chỉ có anh mới có thể cho em điều kỳ diệu ấy. Em không cần biết đằng sau điều kỳ diệu lấp lánh ấy những bất trắc gì đang chờ đợi. Em chỉ cần một lời của anh thôi cũng đủ thấy mình đã sống bằng muôn cuộc đời. Chẳng lẽ anh muốn chính em phải nói ra với anh những điều ấy sao anh? – Mình đã ăn hai tô mì và uống mấy ly nước rồi mà vẫn chưa hết mưa, anh nhỉ? – Chắc sắp tạnh mưa rồi. Mưa đã bớt nặng hạt. Em ngồi im lặng đã lâu. Hình như em đang chịu đựng những cơn mưa. Mưa sắp tạnh rồi. Những câu chuyện bông đùa của tôi cũng gần khô kiệt. Khách trong quán cà phê đã lần lượt ra về. Cuối cùng chỉ còn lại hai người. Tôi sẽ nói lời ấy chứ? Gương mặt em trong bóng tối của quán cà phê vắng sao quá gần! Nếu mình nói ra mà bị từ khước, bị hoài nghi thì đau đớn lắm. Nhưng nếu được chấp nhận thì có hết đau đớn không? Chỉ một lát nữa thôi là mưa sẽ tạnh. Và tôi sẽ không còn cơ hội nào nữa để được thấy mình lớn lao hơn chính mình trong niềm ngây ngất được vượt thoát cái thực tại không có thực này. Có lẽ những gì không thể cầm giữ trong lòng bàn tay mới là những điều có thực bởi vì ai cũng trân trọng và khao khát. Biết là không thể cầm giữ được nhưng vẫn muốn vươn tay ra vồ chặt lấy. Điều có thực ấy đang ở ngay cạnh bên tôi. Chỉ cần tôi đưa tay ra… Và nói một lời… Tôi đưa tay ra. Bàn tay cầm chiếc thìa khoắng lanh canh trong lòng ly cà phê đã cạn. Tôi không nói được điều mình muốn nói. – Anh ơi, tạnh mưa rồi! – Ừ, thôi mình về. CHUYÊN MỤC CHUYÊN XƯA CHUYỆN NAY Vũ Đức Sao Biển ( do ĐỖ CAO ĐÀM sưu tầm) Rượu trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung Cũng như nhiều dân tộc khác ở vào vùng khí hậu lạnh, dân tộc Trung Hoa trường thích rượu. Khái niệm rượu đã được người xưa kết hợp với khái niệm lễ, không có rượu không thành lễ nghi (vô tửu bất thành lễ). Rượu là thức uống kích thích niềm sảng khoái, được dùng trong y dược Trung Hoa như một chất xúc tác. Thời Tam Hoàng, Ngũ Đế đã có những bài thuốc ngâm rượu, những cách xông hơi rượu ra đời. Trong những tác phẩm võ hiệp tiêu biểu của Kim Dung, rượu luôn luôn có mặt, dàn trải khắp cả câu chuyện. Chắc hẳn những bạn đọc tác phẩm Kim Dung đều đồng ý rằng đoạn tửu luận của Tổ Thiên Thu trong Tiếu ngạo giang hồ là đoạn gây sảng khoái nhất. Với đoạn văn này, Kim Dung đã nâng nghệ thuật uống rượu lên thành một thứ đạo: tửu đạo – và với cách diễn đạt tài tình, dàn cảnh oái ăm, Kim Dung đã thực sự cuốn hút người đọc. Tổ Thiên thu biết được Lệnh Hồ Xung, người yêu của Thánh cô Nhậm Doanh Doanh, đang bị bệnh mất hết công lực. Anh ta bèn ăn cắp Tục mệnh bát hoàn (8 viên thuốc duy trì mạng sống) của một người bạn thân là Lão Đầu Tử, hòa vào rượu để dẫn dụ cho Lệnh Hồ Xung uống. Nguyên Lão Đầu Tử đã bỏ ra 18 năm để ăn cắp những kỳ trân, dược vật trên thế gian, chế ra 8 hoàn thuốc thuần âm, chữa trị chứng “Tiên thiên bất túc” (một dạng suy dinh dưỡng) cho con gái mình là Tiểu Di. Trong khi đó, bệnh của Lệnh Hồ Xung thuộc trạng thái khí âm hàn. Cho nên, đem thuốc thuần âm cho kẻ dư khí âm hàn uống khác nào sông Trường Giang nước đã đầy, lại được tháo nước hồ Bàn Dương, hồ Động Đình đưa vào cho nước thêm đầy lên, hóa ra càng thêm hại. Tổ Thiên Thu biết Lệnh Hồ Xung là người khảng khái, không chịu uống thuốc ăn cắp nên y bày đặt ra chuyện tửu luận, kích thích tinh thần Lệnh Hồ Xung. Theo y, bậc danh sĩ phải biết uống từng thứ rượu với từng thứ chung riêng: rượu Bồ đào uống chung Dạ quang; rượu Trúc diệp thanh phải uống chén Dương chi bạch ngọc mà phải Dương chi bạch ngọc đời Bắc Tống; rượu trắng phải uống trong sừng trâu, lấy mùi tanh của sừng chế ngự mùi men nồng của rượu; rượu Bách thảo mỹ tửu được chế với 100 thứ hoa cỏ thơm, phải được uống với chung bằng trúc để thơm hơn…Y nói một hơi 8 thứ rượu và móc trong bọc ra 8 thứ chén, rót rượu vào mời Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung tức khí, nuốt sạch 8 chén rượu; có chén thum thủm mùi cá ươn, có chén cay sè, có chén rào rạt như ngàn dao đâm vào cổ họng…Thiện ý của Tổ Thiên Thu là cứu người, vì hắn dốt nát về y lý hóa ra làm hại người. Trong Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung xây dựng nhân vật Lệnh Hồ Xung, đại đệ tử phái Hoa Sơn, là một chàng du tử lãng mạn, quý rượu hơn tính mạng mình. Đoạn buồn cười nhất là đoạn Lệnh Hồ Xung xin rượu Hầu nhi tửu của lão ăn xin dưới chân thành Hành Dương. Lệnh Hồ Xung chỉ xin uống một tợp và lão cũng chỉ đồng ý cho uống một tợp mà thôi. Nào ngờ, nghe hơi rượu ngon, Lệnh Hồ Xung đã vận hỗn nguyên khí công uống sạch bầu rượu. Lão ăn xin lăn đùng ra khóc vì tiếc bầu rượu. Lệnh Hồ Xung đành phải xin lỗi và mời lão vào tửu lâu, đãi lão một chầu túy lúy càn khôn. Trong khi uống rượu, các nhân vật của Kim Dung thường thể hiện phẩm cách người đối ẩm với mình. Đoạn uống rượu đẹp nhất và khiến cho người đọc kinh ngạc nhất là đọan Điền Bá Quang mời rượu Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung bị sư phụ phạt giam trên đỉnh Ngọc Nữ Phong để ăn năn, sám hối. Biết bạn rất nhớ rượu, Điền Bá Quang đã vượt 5000 dặm về tới kinh đô Lạc Dương, vào trong Tuý tiên lâu, hoàng cung của vua Tống, ăn cắp 2 hũ Thiệu Hưng nữ nhi hồng. Thấy trong hầm rượu của hoàng cung còn đến mấy ngàn hũ Thiệu Hưng, Điền Bá Quang phóng cước đá bể tất cả để “bọn vua quan không còn được uống thứ rượu quý này nữa”, vì trên đời này “chỉ còn Điền mỗ với Lệnh Hồ huynh đệ mới xứng đáng được uống nó mà thôi”. Tuy nhiên, gánh 2 hũ rượu lên Ngọc Nữ Phong là chuyện dễ, mà được đối ẩm với Lệnh Hồ Xung là chuyện cực kỳ khó vì Điền Bá Quang vốn rất sợ sư phụ của Lệnh Hồ Xung là Nhạc Bất Quần. Hắn bèn nghĩ cách điệu hổ ly sơn làm Nhạc Bất Quần lầm mưu xuống núi đi tìm Điền Bá Quang. Thế là hắn ung dung lên Ngọc Nữ Phong đối ẩm với Lệnh Hồ Xung. Nhà Nho có câu :”Bậc quân tử lấy văn kết bạn” (quân tử dĩ văn hội hữu). Kim Dung đã mượn chén rượu cho những nhân vật võ lâm của mình giao kết với nhau. Trong tình bạn hay trong tình yêu, chén rượu vẫn làm vai trò của cơ duyên hội ngộ. Đọc Thiên Long bát bộ, ta thấy cuộc hội ngộ giữa Kiều Phong, bang chúa Cái bang và Đoàn Dự, vương tử nước Đại Lý, là cuộc hội ngộ trong hương rượu nồng. Thoát ra khỏi cảnh giam cầm ở Thái Hồ, Đoàn Dự tìm đến một quán rượu ngoài thành Vô Tích thì bắt gặp: “Một đại hán mắt sáng như điện, trạc ngoài 30, thân thể cao lớn, mặc áo vải màu tro, phục sức sơ sài, mộc mạc” đang ngồi độc ẩm. Đoàn Dự nhận định: “Đây chắc chắn là hào khách của Yên, Triệu; Giang Nam quyết không thể có nhân vật thế này”. Ngoại hình Kiều Phong đã khiến Đoàn Dự kính ngưỡng, bèn mời Kiều Phong uống rượu. Kiều Phong gọi tất cả 30 cân rượu (khoảng 18 lít) và đề nghị Đoàn Dự uống bằng bát lớn. Đoàn Dự nào biết uống rượu? Cho nên uống xong bát đầu tiên, anh đã muốn gục xuống tại chỗ; Kiều Phong chỉ nhìn anh mà tủm tỉm cười. Đến đây thì Kim Dung “cứu” nhân vật của mình. Vốn Đoàn Dự đã học được tuyệt kỹ Lục mạch thần kiếm, quy khí lực vào huyệt Đan điền rồi vận công phóng kiếm khí vô hình ra 6 ngón tay. Từ kiếm khí, Kim Dung cho phép nhân vật của mình phóng ra …kiếm tửu. Đoàn Dự nạp hết số rượu vừa uống vào huyệt Đại truy, rồi dẫn rượu đi qua các huyệt Thiên tôn, Kiên chân, Tiểu hải, Chi chính, Dưỡng lão, Dương cốc, Hậu thoát và “phóng” rượu ra nơi ngón Thiếu trạch (ngón út). Anh ta cứ gác tay trái lên vách quán rượu, uống bao nhiêu vận nội lực phóng rượu ra bấy nhiêu khiến Kiều Phong kinh hoàng, tưởng tửu lượng chàng thư sinh cao không kể xiết! Từ cuộc đấu rượu hi hữu đó, họ nhận ra phẩm chất của nhau và kết nghĩa anh em. Cuộc đối ẩm giữa Kiều Phong và Đoàn Dự làm cho người đọc vừa sảng khoái vừa buồn cười. Rượu nối kết tình bạn và cũng chính rượu tạo ra hào khí. Trong Thiên Long bát bộ, có đoạn nhà sư Hư Trúc, cung chủ Linh Thứu, bái kết Kiều Phong làm đại ca trước mặt quần hùng Trung Nguyên khi Kiều Phong đang bị quần hùng vây hãm. Từ nước Khất Đan, Kiều Phong dẫn 18 tên lính trung thành gọi là Yên Vân thập bát kỵ, mang theo 36 túi da dê đựng rượu quay về chùa Thiếu Lâm, tỉnh Hồ Nam. Nơi đây, anh bị quần hùng vây hãm. Trong cảnh nguy nan, bỗng dưng Đoàn Dự xuất hiện. Hai anh em đang bưng rượu lên uống thì một nhà sư xấu xí trong đội ngũ chùa Thiếu Lâm chạy ra: “Đại ca với tam đệ uống rượu sao không gọi ta ?”. Nhà sư đó là Hư Trúc. Hư Trúc đã kết nghĩa với Đoàn Dự nhưng chưa được bái kiến Kiều Phong. Mặc dù quy luật giới tửu (cấm rượu) của chùa Thiếu Lâm rất khắt khe nhưng khi đã thấy đại ca và tam đệ uống rượu để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu, Hư Trúc cũng nổi hào khí, muốn uống rượu trước mặt quần hùng để chia sẻ với hai người anh em những hoạn nạn sẽ xảy ra. Và quả nhiên bầu rượu nghĩa tình đó đã làm nên đại sự. Kiều Phong chế ngự được kẻ đại ác Du Thản Chi, vươn tay xách cổ Cô Tô Mộ Dung Phục như người ta xách một con gà. Đoàn Dự sử dụng 6 thế Lục mạch thần kiếm đánh cho Mộ Dung Phục thất điên bát đảo, làm phơi bày toàn bộ âm mưu đen tối của nhà Mộ Dung. Hư Trúc vận Bắc minh chân khí, biến những giọt rượu của đại ca thành băng làm một thứ Sinh tử phù cấy vào người gã đại ác Đinh Xuân Thu, chế ngự và sanh cầm gã. Bọn Yên Vân thập bát kỵ, mỗi người một túi rượu, phanh cổ áo để lộ ra hình tượng con chó sói được xăm trên ngực của dân tộc Khất Đan, hú lên những tiếng hoang dã và ngửa cổ uống rượu, thể hiện quyết tâm cũng liều chết với chủ tướng Kiều Phong. Chưa có một đoạn nào trong tiểu thuyết cổ kim miêu tả hào khí của con người trước gian nan thử thách hay hơn đoạn của Kim Dung viết về cuộc hội ngộ của 3 anh em Kiều Phong – Hư Trúc – Đoàn Dự dưới chân núi Thiếu Thất. Nhưng rượu trong tác phẩm võ hiệp của Kim Dung không chỉ uống trong lúc đoàn viên, mà còn được uống trong khi lâm biệt đầy máu và nước mắt. Như trong trận ác đấu của Kiều Phong tại Tụ hiền trang. Từ khi biết mình là người Khất Đan, Kiều Phong chỉ mong tìm về bên kia Nhạn môn quan để suốt đời săn chồn đuổi thỏ, tuyệt không dính dấp đến giới võ lâm Trung Quốc nữa. Nhưng hoàn cảnh đã bó buộc ông phải cứu lấy cô bé A Châu, và ông đã bế nàng tới Tụ hiền trang ra mắt Tiết Mộ Hoa, nhờ viên thần y này giúp đỡ. Hóa ra KIều Phong đã tự dấn thân vào chốn hung hiểm: quần hùng Trung Nguyên đang họp nhau tại Tụ hiền Trang để bàn kế sách diệt ông, loài Liêu cẩu man rợ! Kiều Phong nhìn những kẻ đang vây hãm mình. Họ là những anh em ruột thịt của ông ngày trước ở Cái bang, là những bạn bè tốt của ông thuộc các võ phái Trung Quốc, là những người mà ông cha bao giờ có ý niệm thù hằn, căm ghét. Nhưng cục diện ở Tụ hiền trang lúc đó là một mất một còn, là ta sống thì người chết. Kiều Phong đã đề nghị anh em Du Ký, Du Câu – chủ nhân Tụ hiền trang – cho xin mấy vò rượu lớn. Ông rót rượu ra bát lớn, mời anh em Cái bang uống trước để nói lời cuối cùng, dứt tình đoạn nghĩa. Ông uống rượu với bạn bè các môn phái mỗi người một bát. Có kẻ bưng tô rượu dứt tình với Kiều Phong mà nước mắt tuôn rơi. Rồi sau đó, Kiều Phong đại khai sát giới, tìm con đường sống riêng cho mình, chạy về bên kia ải Nhạn môn quan nghìn trùng xa cách. Có trường hợp uống rượu tưởng như chia biệt lại hóa ra đoàn viên. Đó là trường hợp uống rượu kỳ cục của Cẩu Tạp Chủng (Thạch Phá Thiên), một thiếu niên ngây thơ, trong trắng trước hai ông anh kết nghĩa đầy mưu mô xảo quyệt là Trương Tam và Lý Tứ. Trương Tam, Lý Tứ thật ra chỉ là tên giả mạo; họ chính là hai sứ giả Thưởng Thiện và Phạt Ác của đảo Long Mộc ngoài biển Đông. Trương Tam, Lý Tứ cũng giả vờ kết nghĩa với Thạch Phá Thiên, cũng thề đồng sinh đồng tử, nhưng trong bụng hai lão chỉ muốn chàng thiếu niên này chết đi cho khuất mắt. Trương Tam có bầu rượu dương cương, Lý Tứ có bầu rượu âm nhu, mỗi lão tự uống bầu rượu của mình và lão này rất sợ bầu rượu của lão kia. Kết nghĩa xong, chàng thiếu niên Thạch Phá Thiên đề nghị… uống rượu. Thạch Phá Thiên ngây ngô, xin được uống hai thứ rượu trong đủ hai bầu. Trương Tam, Lý Tứ cả mừng vì đinh ninh thế nào thằng nhỏ này cũng chết tươi vì hai thứ rượu xung đột nhau. Một lần nữa, Kim Dung lại “cứu” nhân vật ngây thơ, trong trắng của mình. Thạch Phá Thiên đã từng ngộ kỳ duyên, con người chàng ta dung hòa được cả hai loại chất độc dương cương và âm nhu. Cho nên uống rượu xong, chẳng những chàng trai trẻ không chết mà công lực còn tăng tiến. Trương Tam, Lý Tứ hối hận và xấu hổ vô cùng. Từ tình bạn giả trá, họ đã đổi ra tình bạn chân thành. Cẩu Tạp Chủng trở thành người em tốt của Thưởng Thiện và Phạt Ác. Đó là chương uống rượu thú vị nhất trong toàn bộ bộ truyện Hiệp khách hành. Rượu trong truyện võ hiệp Kim Dung còn làm nên tình yêu lứa đôi, giàu chất thơ lãng mạn. Có những lứa đôi gặp gỡ lần đầu tiên qua chén rượu và tình yêu bắt nguồn từ đó. Trong Ỷ thiên Đồ long ký, Trương Thúy Sơn làm quen với Hân Tố Tố qua chén rượu trên con thuyền nhỏ đậu giữa lòng Thái Hồ. Trương Vô Kỵ cũng gặp gỡ và yêu quận chúa Triệu Mẫn qua chén rượu. Đoạn giàu chất thơ nhất của Ỷ thiên Đồ long ký là đoạn Triệu Mẫn nhớ Vô Kỵ, tìm lên tửu lâu và ngồi đúng vào cái bàn mà hai người đã từng ngồi đối ẩm. Thiếu vắng Vô Kỵ, cô cũng gọi bình rượu, thức ăn, hai cái chén, hai đôi đũa, hai chung rượu. Cô rót rượu ra đủ hai chung, uống một chung và nước mắt rơi. Đúng lúc đó thì Trương Vô Kỵ xuất hiện. Và họ tìm lại được hơi ấm tình yêu trong chung rượu đối ẩm. Trong Tiếu ngạo giang hồ, Lệnh Hồ Xung thường đối ẩm với người yêu là Doanh Doanh. Một nhân vật khác, Lam Phượng Hoàng, giáo chủ Ngũ độc giáo Vân Nam, cũng rất say đắm Lệnh Hồ Xung. Cô mang vò rượu Ngũ độc mỹ tửu, trong đó có ngâm năm thứ trùng độc, từ Vân Nam đến Giang Nam để chữa bệnh cho Lệnh Hồ Xung. Cảm xúc tấm thịnh tình đó, Lệnh Hồ Xung đã uống rượu cho cô vui lòng. Tác giả Kim Dung đã để cho Lam Phượng Hoàng hôn Lệnh Hồ Xung trước mặt mọi người, kể cả sư phụ của Lệnh Hồ Xung là Nhạc Bất Quần. Trong con mắt của Lam Phượng Hoàng, kẻ biết uống rượu của cô mới là người tốt. Trong Thiên Long bát bộ, mỗi khi trở về Nhạn môn quan, Kiều Phong nhớ A Châu là tìm đến chung rượu giải sầu. Đoạn đẹp nhất trong mối tình hai người là đoạn Kiều Phong ngồi nghe A Châu tâm sự: “Đại ca ơi, tiểu nữ nguyện suốt đời đi theo đại ca về Nhạn môn quan săn chồn đuổi thỏ, sống cuộc đời ung dung khoái lạc”. Nghe cô bé tâm sự, Kiều Phong cao hứng. Trong cái quán nghèo ngoài biên giới không có một giọt rượu, ông cũng giả vờ nâng cái chén không lên, ngửa cổ ra như đang thực sự thưởng thức men rượu nồng. Trong Thần điêu hiệp lữ, có cô bé Quách Tương, 16 tuổi, say mê người huynh trưởng của mình là Thần điêu đại hiệp Duơng Qua. Mặc dù Dương Qua chạy theo hình bóng của sư phụ là Tiểu Long Nữ, không nghĩ đến mối tình si của Quách Tương, Quách Tương vẫn vượt ngàn dặm ra đi tìm anh. Trong túi hành trang của cô bé, luôn luôn có một bầu rượu. Cô chỉ có mỗi ước mong: cùng Dương Qua đối ẩm. Nhưng ước mong đó không bao giờ thành hiện thực. Quách Tương lên núi đi tu, trở thành sư tổ phái Nga Mi. Những lứa đôi yêu nhau của tác phẩm Kim Dung uống rượu như ta uống cà phê. Họ gặp nhau là mời nhau chén rượu, trang trọng, cung kính. Không có ai uống rượu đến nỗi quần áo xốc xếch, ong bướm lả lơi. Chén rượu trong tình yêu của tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung mang theo tính cách đạo đức mặc dù khung cảnh uống rượu lãng mạn vô kể: uống trong quán khuya vắng người, uống trong căn phòng chỉ có hai người, giữa đêm mùa dông tuyết rơi lả tả; uống trên con thuyền nhỏ chơi vơi giữa đêm trăng trên dòng Trường Giang mông mênh. Nhân vật Tiêu Tương Dạ Vũ Mạc Đại tiên sinh, chưởng môn phái Hành Sơn trong Tiếu ngạo giang hồ luôn luôn gắn liền tâm hồn mình với chén rượu. Kim Dung mô tả Mạc Đại: “Tướng mạo tiên sinh điêu linh cổ quái, lúc nào cũng như ba phần tỉnh, bảy phần say”. Mạc Đại có cây dao cầm rất cũ kỹ, trong cây dao cầm lại giắt một lưỡi kiếm mỏng như lá lúa. Tiên sinh xuất hiện dưới chân núi Hành Sơn, trong quán rượu đầy ấn tượng. Quần hùng gồm 7 gã, uống 7 chung trà, đang ngồi nghị luận rằng võ công Mạc Đại còn kém thua sư đệ mình là Lưu Chính Phong vì Lưu Chính Phong đánh ra một đường kiếm là đứt đầu 5 con chim nhạn. Lúc đang nói chuyện cao hứng thì một ông già gầy gò đi đến, nghẹo cổ nhìn các hán tử và bảo: “Các người nói thúi lắm!”. Rồi bỗng dưng, các gã hán tử chỉ thấy trước mắt hoa lên một cái như có một luồng ánh sáng lấp lánh. Ông già gầy gò bỏ đi, tiếng đàn tình tang xa dần. Một cơn gió nhẹ thổi qua trên bàn ruợu, 7 cái miệng chén bị cắt đứt lìa lần lượt rơi xuống mặt bàn, vỡ tan. Hóa ra kẻ lam lũ ấy là Mạc Đại tiên sinh. Ông già say ấy rút kiếm khi nào, chém 7 miệng chén khi nào, đút kiếm vào đáy cây dao cầm khi nào, không ai nhìn rõ được. Chỉ với một đường kiếm tiện đứt 7 miệng chung thì 7 đầu chim nhạn phỏng có là bao! Rõ ràng, trong đoạn này có hai thứ: một thứ trà sinh nói bậy của 7 hán tử và một thứ rượu cực kỳ tỉnh táo của Mạc Đại tiên sinh. Rượu trong truyện võ hiệp của Kim Dung cũng biến thành một thứ võ khí. Trong Thiên Long bát bộ, bọn Dư Bà Bà của cung Linh Thứu tung bì rượu lên thành thế Mãn thiên hoa vũ (mưa hoa đầy trời) cho chủ nhân mình là Hư Trúc dùng Bắc minh chân khí hóa rượu thành băng, khống chế địch thủ. Rượu được dùng để pha độc được, trừng trị những anh háo sắc. Vợ của Mã Đại Nguyên là Ôn Thị tư tình với Đoàn Chính Thuần, em ruột nhà vua nước Đại Lý. Giận Chính Thuần lòng dạ lang chạ, Ôn Thị đã pha bình Mê xuân tửu dụ cho Đoàn Chính Thuần uống, rồi trói lại và bắt đầu… cắn từng miếng thịt của Đoàn Chính Thuần để trả thù. Trong Lộc Đỉnh ký, Vi Tiểu Bảo đã biết dùng Mê xuân tửu từ thuở bé. Mẹ của y là Vi Xuân Phương, làm điếm trong thành Dương Châu đã từng pha thuốc mê vào rượu cho bọn làng chơi uống, để trấn lột tiền tài vật dụng. Đắc thủ được bài học lưu manh đó khi làm quan lớn ở Bắc Kinh, Vi Tiểu Bảo cũng pha chế những bình Mê xuân tửu để hãm hại, vu cáo những kẻ thù của mình. Từ rượu độc, Vi Tiểu Bảo nghĩ ra những trò đầu độc khác tệ hại hơn và tất nhiên mực độ lưu manh hạ cấp cao hơn. Rượu trợ lực cho những màn tác oai, tác quái của bọn quan lại triều Thanh. Để hành hạ Trịnh Khắc Sảng, kẻ tình địch ngày trước của mình, Vi Tiểu Bảo đã cho tiền để bọn thị vệ dưới quyền uống rượu thoải mái. Uống xong, chúng kéo qua tư dinh Trịnh Khắc Sảng, đòi nợ cho “công tước” Vi Tiểu Bảo. Chúng đập phá nhà cửa, tài sản, lăng nhục Trịnh Khắc Sảng và vợ con, bắt cóc, giết người rồi vu cáo… Đọc tác phẩm Kim Dung, ta biết được người Trung Quốc có nhiều thứ rượu danh tiếng: Thiệu Hưng Nữ nhi hồng, Thiệu Hưng Trạng nguyên hồng, Trúc diệp thanh, Mai quế lộ, Bách thảo tửu, Biên tái tửu, Hầu nhi tửu, Bồ đào tửu, Ngũ gia bì, Kim tước tửu… Đọc Kim Dung, ta mới biết được phong cách uống rượu của người Trung Quốc: rượu thường được hâm nóng trước khi uống, nhất là vào mùa đông. Thỉnh thoảng, trong vài tình huống đặc biệt, khi công nghiệp làm nước đá chưa ra đời, tác giả đã để cho nhân vật mình làm ra băng để uống rượu. Trong Tiếu ngạo giang hồ, có đoạn Lệnh Hồ Xung cùng Hướng Vấn Thiên tìm về Cô Mai sơn trang ở Giang Nam gặp gỡ Giang Nam tứ hữu. Để mời rượu Lệnh Hồ Xung giữa mùa hè nóng bức, Đan Thanh tiên sinh đã nhờ anh mình là Hắc Bạch Tử dùng Hàn băng chưởng hóa nước thành ra nước đá ướp lạnh rượu bồ đào Thổ Lỗ Phồn! Đọc Kim Dung, ta mới biết được những cách uống rượu khác nhau. Đối ẩm là hai người uống, thường là tình nhân hoặc bạn hữu thân thiết. Độc ẩm là uống một mình, trong lòng đang lo nghĩ hoặc tưởng nhớ. Cộng ẩm hay Quần ẩm là một nhóm người cùng uống với nhau. Loạn ẩm là một đám đông cùng uống. Trong Tiếu ngạo giang hồ, đoạn loạn ẩm hay nhất là đoạn bọn tà ma ngoại đạo thết tiệc Lệnh Hồ Xung để lấy lòng Thánh cô Doanh Doanh. Thương nhau, quý nhau, người ta mới tặng rượu. Quần hào Cái bang Trung Quốc, tuy là đi ăn mày, đáng lẽ chỉ xin cơm, thì người ta còn xin cả rượu nữa. Chén rượu của Kim Dung đã làm cho những nhân vật của ông nổi tiếng. Hồng Thất Công nổi tiếng chuyên uống rượu với thịt chó. Kiều Phong nhờ rượu mới phát huy được thần oai, càng uống càng mạnh, càng tỉnh táo. Hư Trúc nhờ uống rượu phá giới mà tìm ra được cô vợ sắc nước hương trời: công chúa Ngân Xuyên của nước Tây Hạ. Thạch Phá Thiên nhờ uống hai thứ rượu độc mà hóa giải được sự xung đột của âm dương nhị khí, đạt đến mức thượng thừa trong võ học… ở chừng mực nào đó, Kim Dung đã nghĩ đến câu cổ thi : Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh (Xưa nay thánh hiền đều lặng lẽ Chỉ người uống rượu mới còn danh) (Lý Bạch) Tác phẩm của Kim Dung tràn đầy rượu và ruợu. Trừ những nhà sư, các nhân vật của ông ít nhiều đều biết đến chén rượu. Rượu làm nên sự hưng phấn cho cuộc đấu tranh chống cái ác, biểu dương cái thiện và lẽ công bằng ở đời. Uống rượu nhiều tất có tình trạng say rượu xảy ra. Những người say trong tác phẩm Kim Dung cũng say một cách tử tế. Trong những hội loạn ẩm, họ xai quyền thách đố nhau hoặc cãi cọ chửi bới. Duy nhất trong 12 bộ truyện, có một nhân vật say rượu phạm vào tội đại ác, trở thành một thứ tửu tặc. Nhân vật đó là Thành Khôn, sư phụ của Tạ Tốn trong Ỷ thiên Đồ long ký. Thành Khôn say rượu, đã làm nhục và giết hại vợ con của đồ đệ mình. Y lẻn vào chùa Thiếu Lâm làm một nhà tu giả mạo dưới pháp danh Viên Chân. Kẻ tửu tặc ấy đã bị tìm ra, bị trừng trị nhưng rồi cuối cùng cũng được tha thứ. Rượu trong truyện võ hiệp Kim Dung khác xa với rượu ở miền Viễn Tây Mỹ trong phim cao bồi, khác xa với rượu trong các hộp đêm trên toàn thế giới và cũng khác xa với “rượu” trong các quán bia ôm. Chính vì thế, tôi mạnh dạn gọi rượu trong truyện Kim Dung là một loại rượu đạo đức. Rượu trong truyện Kim Dung thể hiện triết lý nhân sinh gần gũi cuộc sống. Nó làm nên tình yêu, tình bạn, hận thù, sự tha thứ, mối hoài cảm, niềm hối tiếc. Qua rượu, Kim Dung hé mở cho chúng ta nhìn thấy một khoa học mới: tửu học. Với một chữ Rượu, Kim Dung đã vượt xa hơn bất kỳ nhà văn nào khác. Rượu của ông có bài bản, có tính chất triết lý tề chỉnh. Nó góp phần làm nên cái đẹp cho đời sống con người. Men rượu kết hợp với men tình, men võ khiến ta không “uống” được tác phẩm mà lòng vẫn say. CHUYÊN MỤC: NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT BQM: Trong tiếng Việt có rất nhiều tên cây quả ta nghe ra tưởng xuất xứ từ Trung Quốc nhưng thực ra là thuần Việt như đã đề cập đến như “ Trà ” 茶 chính là chè , là b’lè . Mật hay mít 蜜, cây mít, quả mít 菠 萝 蜜 là thuần Việt. BQM vừa vào sống trong Nam mới hai năm, nhưng đã gặp vô số tên cây như “ dương tùng” “ mãng cầu” nếu không kịp thời truy nguyên thì lại cho là tên từ TQ. Cây dương tùng ở Bắc và Trung nước ta gọi là phi lao. Nó là loại cây do người Pháp di thực sang ta có tên là philaus. Quả “na” ở trong Nam gọi là mãng cầu. Từ điển Việt Hán của Hà Thành (TQ) dịch là “ phiên lệ chi” 番 荔 枝 (nghĩa quả vải nước ngoài!) . Bản thân chữ “lệ chi”, BQM nghi là một từ thuần Việt được người Hán phiên âm . Măng cụt cũng là cây di thực mới đây, có tên Pháp là mangustan CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE LBT: Nhận thấy vui cười thư giãn, sống vui…cũng là những liều thuoc bổ nên chuyên mục này vào thứ bảy sẽ có những mẩu chuyện vui cung cấp cho độc giả . Đỗ Cao Đàm ( sưu tầm): 1.- Bánh mừng sinh nhật Một ông chồng đến tiệm đặt bánh mừng sinh nhật vợ. Ông nghĩ ra 1 câu để viết lên bánh “Em không già đi mà còn trẻ lại” . Ông nói với người làm bánh: – Tôi đặt chiếc bánh có viết dòng chữ để mừng sinh nhật vợ đấy nhé. – Trình bày thế nào ạ ? Thằng bé con chủ tiệm hỏi (vì chủ tiệm đi vắng) – Viết thế này: EM KHÔNG GIÀ ĐI, phía trên, MÀ EM CÒN TRẺ LẠI, phía dưới. Thằng bé lấy bút ghi chép cẩn thận rồi nói : – Chiều ông ghé lại lấy, con sẽ làm thật đẹp và cẩn thận cho ông. Buổi tối, khi khách khứa đã ngồi vào bàn đầy đủ, người chồng mang bánh đặt giữa bàn, trịnh trọng mở hộp bánh ra và tất cả mọi người đều nhìn thấy dòng chữ “EM KHÔNG GIÀ ĐI PHÍA TRÊN, MÀ EM CÒN TRẺ LẠI PHÍA DƯỚI” 2.- MUỐN CÁI GÌ ??? Có một ông đến phòng mạch Bác sĩ than rằng vợ ông ta bị bệnh lạnh cảm, vợ chồng còn trẻ mà mấy tháng nay vợ không đòi hỏi mà cũng không cho ông gần gũi nữa. Bác sĩ khuyên ông ta nên đem vợ tới để định bệnh, nếu mới bị thì chữa rất dễ. Hôm sau ông ta dẫn vợ đến gặp Bác sĩ… Bác sĩ hỏi vợ ông ta : – Cô có thấy triệu chứng gì khác thường trong cơ thể không ? Sao ông nhà nói là cô bị lạnh cảm, không đòi hỏi, ham muốn sinh lý nữa ? Cô vợ ngạc nhiên nhìn Bác sĩ: – Bác sĩ thử nghĩ xem, cả mấy tháng nay, hàng ngày tôi đi làm bằng TAXI mà đâu có đủ tiền trả, hễ cứ cười trừ là ông tài xế lại hỏi tôi: “hôm nay cô trả tiền hay trả cái gì ?”. Tui bèn chọn “cái gì” ! Khi tui vô sở thì bị trễ giờ, ông Boss cũng hỏi: “Cô muốn tui ghi vào sở cảnh cáo hay muốn “cái gì” ?. Tui lại chọn “cái gì”. Khi tan sở tui lại về bằng taxi và ông tài xế lại hỏi: “Lần nầy cô trả tiền hay lại trả “cái gì”? Tôi lại phải chọn “cái gì” lần nữa ! Bác sĩ thấy đó, tôi về tới nhà là mệt phờ, 3 “cái gì” trong một ngày rồi thì làm sao tôi còn phục vụ chồng tôi được nữa ! ? Bác sĩ bèn nhỏ nhẹ hỏi: – Thế bây giờ cô muốn tôi nói lại chuyện nầy với chồng cô hay là cô muốn “cái gì” ???

CHUYÊN MỤC: VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Đỗ Anh Thơ ( biên soạn)

          Chương 7: Aurelius Augustinus với thuyết thượng đế thống tr

Augustine là triết gia và nhà thần học Kitô giáo, người Bắc Phi. Tên La-tin đầy đủ là Aurelius Augustinus, hoặc còn gọi là  Augustinus Hipponensis, thánh Augustine. Augustine sinh tại Tagaste, Numidia, phía nam Hippo, nơi hiện nay thuộc Algeria. Từ đó, ông bắt đầu cuộc sống phấn đấu của một triết gia hành giả, rồi trở thành vị giáo phụ vĩ đại nhất trong bốn giáo phụ La-tin của Kitô giáo và để lại ảnh hưởng lớn lao trong triết học phương Tây cùng thần học Kitô giáo. Ông đươc mẹ là một tín đồ Kitô giáo dưỡng, nhưng chàng thanh niên Augustine từ bỏ tập quán tín hữu ấy khi sang Carthage du học. Ở đó, ông tinh thông khoa hùng biện. Trong cuốn Confessions (Tự thú), ông kể lại, bằng giọng ăn năn, quãng thời gian tuổi trẻ hoang dại tại Carthage với kết quả có với tình nhân một đứa con trai tên là Adeonatus. Vào một thời điểm

 

Tranh Augustine ở nhà thờ Lateran thế kỷ thứ 6

 

Cuộc đối thoại  Augustine (Gozzoli, tk15

 

Lễ rửa tội cho Augustine  (Gozzoli, tk15

 

Augustine tranh của Simone Martini

nào đó ông cải giáo sang Manichea— thường gọi là đạo Mani, một hệ thống tôn giáo khá thịnh hành từ thế kỷ 3 tới thế kỷ 5, chủ trương Satan, cái ác hoặc bóng tối ở trong tình trạng xung khắc thường trực và bất tận với Thượng đế, cái thiện hoặc ánh sáng.

Sau năm 376, Augustine bỏ đi La Mã, dạy khoa hùng biện, rất thành công. Tới năm 384, các tín đồ Mani thúc giục ông sang Milan dạy học. Milan là khoảng thời gian then chốt của đời ông. Không còn tín nhiệm giáo phái Mani, ông tuyên bố từ bỏ đạo ấy sau khi nghiên cứu triết học Plato, thuyết tân Plato và thuyết hoài nghi. Khủng hoảng tâm linh, Augustine bị lôi cuốn mãnh liệt bởi nhiệt tình hùng biện của thánh Ambrose, giám mục Milan.

Kết thúc hai năm sống với tâm trạng hoài nghi sâu xa và rối rắm tinh thần, Augustine đột nhiên đi theo Kitô giáo. Ông làm lễ nhập đạo vào dịp lễ Phục sinh năm 387. Sau đó chẳng bao lâu, ông quay về Tagaste, sống đời tu viện với một nhóm bạn. Năm 391, trong khi thăm viếng Hippo, ông được chọn — ngoài ý muốn của mình — làm linh mục của hội thánh Kitô ở đó. Suốt phần đời còn lại, ông sống ở Hippo, làm giám mục phụ tá năm 395 rồi không lâu sau, làm giám mục. Ông qua đời khi thành Hippo bị quân Vandal bao vây.

Ảnh hưởng của Augustine lên Kitô giáo được nhiều người đánh giá là chỉ đứng sau Phaolô, vị tông đồ thời lập đạo. Các nhà thần học, cả giáo hội Công giáo, Chính thống giáo lẫn Tin Lành đều xem ông là người thành lập thần học. Cuốn Confessions (Tự thú, ra đời khoảng năm 400) được xem là kinh điển của chủ nghĩa thần bí Kitô giáo. Tác phẩm này, nguồn thông tin chính về cuộc đời của Augustine, là một biện hộ cho việc tác giả cải sang Kitô giáo, và được viết với giọng văn tuyệt vời.

 

Tranh:: Augustinus đang giảng giáo lý

Tác phẩm nổi tiếng kế đó là City of God (Thành đô của Thiên Chúa, sau năm 412), một chống trả lớn lao của Kitô giáo trước những lời phê bình nó là tà giáo, đặc biệt nổi tiếng vì quan điểm Kitô giáo được tác giả trau chuốt tỉ mỉ xuyên suốt từng trang sách. Trong đó, Augustine đánh giá toàn bộ lịch sử như một chuẩn bị có tính quan phòng của Thiên Chúa cho hai thành đô bí nhiệm, một của Thiên Chúa và một của quỉ dữ; và toàn thể nhân loại sẽ tối hậu thuộc về thành đô này hoặc thành đô kia. Và cái ác là do bởi sự thiếu cái thiện.

 

Tranh: Augustinus đang đọc sách

Tác phẩm đơn thuần giáo điều và vĩ đại nhất của ông là On the Trinity (Bàn về Chúa Ba Ngôi), một hệ thống hóa học thuyết Kitô giáo, nhưng phần lớn văn bản ấy có xuất xứ từ các bài luận chiến của ông. Các tác phẩm chống giáo phái Mani, đặc biệt Against Faustus (Chống Faustus), vị thầy Mani cũ của ông, là quan trọng vì nó chiếu rọi lên tôn giáo ấy. Ðể chống giáo phái Donatus ỏ Bắc Phi chủ thương thanh khiết và tái thanh tẩy, Augustine viết hai tác phẩm On Baptism (Bàn về phép rửa tội) và On the Correction of the Donatists (Bàn về sự sửa chữa của người Donatus) trong đó ông công thức hóa một ý tưởng mà kể từ đó, nó trở nên thành phần của học thuyết của Kitô giáo, cho rằng thẩm quyền của Giáo hội Công giáo là một bảo đảm cho Ðức tin Kitô do bởi tính chất chắc chắn của tông truyền — được truyền thừa trực tiếp từ mười hai Tông đồ của Ðức Kitô, đặc biệt Phêrô, giám mục La Mã đầu tiên.

Cuộc tranh luận ngoạn mục nhất mà Augustine can dự là trận đánh chống lại giáo phái Pelagion. Người Pelagion phủ định tội tổ tông và cuộc sa ngã của con người. Quan điểm ấy có hàm ý rằng ân sủng của Thiên Chúa không nhất thiết là bước tiên khởi để hướng tới sự cứu độ, và như thế, nó kích động Augustine, kẻ cho rằng loài người bị hư hoại và không có khả năng tự lo liệu. Trong cuộc luận chiến này, ông viết nhiều luận văn, và sau đó, tiếp tục trau chuốt các ý tưởng ấy.

Từ các văn bản của Augustine, cuộc tranh luận vĩ đại về ân sủng cứ thế tiếp diễn. Và những người tự cho mình đi theo đúng con đường của Augustine, như nhà cải cách Thệ phản người Pháp John Calvin (1509-1564) và những người theo giáo phái Hà Lan Cornelius Jansen (1585-1638) triển khai thành các thần học có tính tiền định. Dù vẫn tôn kính Augustine, nhiều nhà thần học không chịu chấp nhận những phát biểu quá cực đoan của ông về ân sủng.

Một trong các luận văn quan trọng của Augustine, On the Work of Monks (Về công việc của tu sĩ) được dùng rộng rãi trong các tu viện. Ông cũng soạn các tác phẩm bình giải Kinh thánh. Một trong những luận văn đáng quan tâm nhất của ông, được gọi là Retractions (Xóa bỏ), được biên soạn thời cuối đời, như một cách thức duyệt xét các tác phẩm và các quan điểm của mình. Augustine là bậc thầy về bút pháp, các bức thư của ông nhiều về số lượng, rất cởi mở và bộc trực. Ngày nay, mỗi khi các Hội thánh Kitô giáo gặp tranh luận hay khủng hoảng về thần học, người ta có thói quen tìm về các tác phẩm của Augustine và của các giáo phụ thời sơ khai ấy, để tham chiếu cùng tìm sự soi sáng.

 

 

Giáo lý của Augustinus chi phối tới 1000 năm của cơ đốc giáo

 

 

 

 

 

 

       Chương 8.-  Thuyết tồn tại của thượng đế và học thuyết nhà nước của Thomas Aquinas

 

Thomas Aquinas  là khuôn mặt vĩ đại nhất của triết học kinh viện và nhà thần học người Ý. Cũng được gọi là Tiến sĩ Thiên thần (Doctor Angelicus).

Sinh tại Rocca Secca, gần Naples, trong một gia đình quan quyền, Aquinas theo học các thầy dòng Bênêdictô (Biển Ðức) tại Monte Cassino rồi Ðại học Naples. Sau đó, cưỡng lại quyết định của gia đình, ông vào dòng Ðôminicô (Ða Minh), làm tu sĩ khất thực (1244). Ông bị các anh em bắt cóc và giam trong một lâu đài của cha mẹ hơn một năm. Cuối cùng, thoát ra được, ông đi Cologne và trở thành môn sinh của Albertus Magnus. Năm 1248, ông cùng thầy đi Cologne, rồi từ đó đi Paris lần nữa và nổi tiếng, trở thành giáo sư thần học rất thành công tại Anagni, Orieto, Rome và Vitenbo.

Aquinas xuất hiện khi giới thế tục tìm cách giới hạn đặc quyền của giới tu sĩ tại các đại học. Sau năm 1259, ông trải qua vài năm ở Ý, làm giáo sư và cố vấn cho Tòa thánh Vatican. Việc ông quay lại Paris có lẽ do gấp rút vì nổi giận với Siger De Brabant và bài đọc của học giả ấy trình bày quan điểm của triết gia Hồi giáo Tây Ban Nha Averroës về Aristotle. Cuộc chiến đấu học thuyết với Siger là biến cố đáng nhớ nhất trong đời Aquinas; chiến thắng ấy có nghĩa rằng lập trường của ông đã khải hoàn.

Năm 1272, Thomas Aquinas rời Paris đi Naples để tổ chức một viện nghiên cứu. Hai năm sau, đang cùng với người bạn lâu năm, Sư huynh Reginald ở Fossanuova, trên đường đi dự Công đồng Lyons với tư cách cố vấn cho giáo hoàng, Aquinas qua đời, hưởng thọ 49 tuổi.

 

                           Aquinas đang giảng thuyết thượng đế

Nhân đây, tưởng cũng nên nói đôi chút về vị triết gia Hồi giáo Averroës. Tên A Rập của ông là Ibn Rushd (1126-1198), người nổi tiếng nhất trong các triết gia Hồi giáo thời trung cổ, còn Averroës là tên gọi theo hình thức La-tin. Là quan tòa và bác sĩ ở Córdoba, Seville, nơi ông chào đời, ông sang sống một thời gian tại Marocco, Bắc Phi. Ở đó, ông làm bác sĩ ngự y cho vua Hồi Abu Yusuf nhưng rồi bị trục xuất về Tây Ban Nha vì tình nghi dị giáo. Sau đó, ông được phục hồi và quay lại sống ở Marrakesh cho tới ngày qua đời.

Tác phẩm vĩ đại nhất của Averroës là Commentaries on Aristotle (Bình luận Aristotle). Những thông giải của ông về Aristotle vẫn ảnh hưởng lâu dài sau khi ông qua đời và trở thành vấn đề suy tưởng lý tính, góp phần dọn đường cho thời Phục hưng. Ông nỗ lực đặt ranh giới tương ứng cho từng lãnh vực đức tin và lí trí, chỉ ra rằng cả hai không cần phải hòa giải vì chúng chẳng xung khắc nhau. Averroës tuyên bố triết học là hình thức thẩm tra cao nhất. Siêu hình học của ông mang sắc thái tân Plato chủ nghĩa, giống y như Avempace, người ông mang nợ trong các ý tưởng về trí thức.

Các học thuyết của Averroës về sự bất tử của cá nhân và sự hằng cửu của vật chất bị Giáo hội Công giáo lên án. Thomas Aquinas tôn trọng Averroës nhưng tấn công cuộc phấn đấu của Averroës khi vị triết gia Hồi giáo người Tây Ban Nha ấy cho rằng chân lý triết học bắt nguồn từ lý trí chứ không từ đức tin. Hầu hết tác phẩm của Averroës được châu Âu biết tới qua bản dịch bằng tiếng La-tin và Do Thái Híp-ri, về sau có ảnh hưởng lên các nhà văn Do Thái giáo, Kitô giáo và cung cấp một tổng hợp từng phần cho hai truyền thống triết học A Rập và Hi Lạp.

Khác với bản tính lầm lì và phong thái chậm chạp, Thomas Aquinas là người diễn giảng xuất sắc, rõ ràng với những tư tưởng bén nhạy, như các tác phẩm của ông cho thấy, với lối lý luận khúc chiết và sử dụng tiếng La-tin giản dị, chính xác đáng phục. Càng khiêm tốn và đức hạnh, ông càng chứng tỏ một cuộc sống tâm linh phong phú và lòng mộ đạo sâu xa. Không một tác phẩm nào vén lộ đầy đủ triết học Aquinas. Có thể xếp loại công trình trước tác suốt 20 năm của ông theo hình thức và chủ đích của từng tác phẩm.

Những cuốn chính là Commentary in the Sentences (Bình luận về các câu, 1254-1256), tác phẩm vĩ đại và sớm sủa nhất gồm một tập hợp các bài giảng cho công chúng; bảy quaestiones disputatae (các vấn đề tranh luận công khai, 1256-1271); những bình luận triết học về các tác phẩm của Aristotle như Mỹ học, Siêu hình học, Loài vật, Vật lý học; một phần của De interpretatione (Về thông giải), và Posterior Analytics (Phân tích về sau); các luận văn về nhiều chủ đề trong đó có Summa theologica contra Gentiles (Tổng luận thần học chống người ngoài Công giáo, 1258- 1260), cũng là Summa philosophica (Tổng luận triết học); và cuốn quan trọng hơn hết là Summa theologica (Tổng luận thần học, 1267-1273), tác phẩm trình bày thần học có tính hệ thống nhưng chưa hoàn tất. Hơn 600 năm sau, năm 1879, Giáo hoàng Leo XIII, trong Thông điệp Aetterni Patris, chính thức tuyên bố triết học của Aquinas là triết học Kitô giáo.

Triết học Aquinas được công khai thừa nhận là mang bản sắc Aristotle với những phương pháp và những phân biệt của người Hi Lạp được thích nghi theo với mạc khải. Thế kỷ 13 là thời kỳ chủ chốt trong tư tưởng Kitô giáo, bị xâu xé giữa những tuyên bố của người theo phái Averroës và những người cực đoan theo Augustine. Aquinas chống đối cả hai trường phái ấy. Người theo Averroës do Siger de Brabant lãnh đạo, tách riêng đức tin và chân lý một cách tuyệt đối, còn người theo Augustine muốn biến chân lý thành vấn đề đức tin.

Aquinas cho rằng lý trí và đức tin lập thành hai cảnh giới hòa điệu trong đó các chân lý của đức tin bổ sung cho chân lý của lí trí; cả hai đều là tặng phẩm của Thượng đế, nhưng lí trí có sự tự quản của chính nó. Như thế, ông biện hộ cho quyền của lí trí chống lại nỗi sợ hãi của những kẻ muốn trấn áp Aristotle, xem ông là tổ phụ của Averroës và dị giáo. Theo Aquinas, nguyên lý đệ nhất của triết học là sự khẳng định hữu thể. Từ quan điểm ấy, ông tiến hành cuộc xem xét thái độ trong đó trí tuệ hiểu biết hữu thể là gì.

Ðối với con người, toàn bộ tri thức bắt đầu bằng con đường giác quan; qua trung gian đó, hắn nắm bắt cái phổ quát, tức là thế giới chỉ có thể nhận thức được bằng trí tuệ. Theo lập trường được cho là duy thực chủ nghĩa vừa phải (moderate realism) của Aquinas, một dạng thức hoặc cái phổ quát có thể hiện hữu theo ba cách: trong Thượng đế, trong vạn vật và trong tâm trí. Chính qua tri thức về vạn vật mà chúng ta đi tới hiểu biết sự hiện hữu của Thượng đế. Trong trật tự thiên nhiên thì chỉ có thể biết Thượng đế bằng loại suy và phủ định.

Niềm xác tín của Aquinas vào việc lí trí có thể phát hiện sự hiện hữu của Thượng đế được chứng minh bằng các chứng cớ của ông về sự hiện hữu của Thượng đế. Phân tích của Aquinas về vấn đề này được tiến hành bằng các khái niệm của Aristotle về tính hiệu ứng và hành động, vật chất và dạng thức, hữu thể và yếu tính. Một vật đòi hỏi phải có vật khác mới trọn vẹn thì được cho là hiện hữu trong hiệu ứng của cái khác; sự nhận ra hiệu ứng ấy được gọi là thực tại.

Vũ trụ được nhận thức như một chuỗi sự vật được sắp xếp theo trật tự hướng thượng hoặc hiệu ứng và hành động, trong cùng một lúc được ban thưởng và được tạo nên bởi Thượng đế, kẻ một mình ngài là hành động đơn thuần. Thượng đế thì bất biến vì biến đổi có nghĩa là đi từ hiệu ứng tới hành động. Và như thế, Thượng đế hiện hữu mà không có bắt đầu cũng chẳng có kết thúc, vì cả hai cái đó đòi hỏi sự biến đổi. Vật chất và dạng thức đều thiết yếu để am hiểu sự biến đổi, vì biến đổi đòi hỏi đồng nhất tính của cái trở thành và cái mà nó trở thành. Vật chất là cái đầu và dạng thức là cái sau. Mọi vật có tính vật lý đều được làm thành bởi vật chất và dạng thức.

 

 

 

Lâu đài Monte San Giovanni Campano

.          Sự khác biệt giữa cái là dạng thức hoặc đặc tính với sự hiện hữu thật sự của nó được biểu hiệu bằng các thuật ngữ yếu tínhhữu thể. Chỉ ở trong Thượng đế mới có sự phân biệt giữa vật chất và dạng thức. Từng cặp một:

 

 

vật chất và dạng thức, yếu tính và hữu thể, đều là những trùng hợp đặc biệt của hiệu ứng và hành động.

Hệ thống của Aquinas dựa trên ba phân biệt đó. Hữu thể cũng có thể được đặc điểm hóa bằng kiểu thức (mode). Kiểu thức không thêm được gì vào ý tưởng về hữu thể nhưng nó là phương cách để làm rõ ràng và dứt khoát cái tiềm ẩn bên trong hữu thể. Theo ý nghĩa nào đó, kiểu thức có nghĩa là sự phân chia hữu thể thành các phạm trù. Theo ý nghĩa khác, nó phô diễn những phân biệt nhất định của hữu thể trong sự chung chia với mọi loại. Theo ý nghĩa này, các kiểu thức được biết như là những cái tiên nghiệm; cùng với hữu thể, một cách chủ yếu, những cái đó là sự hiệp nhất, chân lý và cái thiện. Những từ ngữ ấy có thể hoán đổi cho nhau. Vì cái đối lập của hữu thể không hiện hữu và cái thiện thì đồng hóa với hữu thể, nên đối với Aquinas, thật rõ ràng rằng cái ác chỉ là sự vắng mặt cái thiện.

Suốt một thời gian dài, Aquinas bị lãng quên hoặc bị hiểu sai bởi ngay cả những triết gia vĩ đại nhất, nhưng cuoi cùng, những lời giảng của ông đã khải hoàn. Sự kiện chúng được công nhận chính thức trong Giáo hội Công giáo La Mã không có nghĩa người Công Giáo có thể không bám sát các triết học khác, đặc biệt các lời giảng mang bản sắc Scotus, được triển khai từ học thuyết của Duns Scotus (k.1270-1308), người sáng lập trường phái dòng thánh Phanxicô và mở cuộc tranh luận sôi nổi với Thomas Aquinas. Tổng hợp tuyệt vời của Aquinas ngày nay được khái quát công nhận là một trong những công trình vĩ đại nhất của tư tưởng loài người,

Triết học bao quát của ông được áp dụng vào mọi cảnh giới của cuộc sống con người. Thuyết Thomas — Thomist, được gọi cách ấy vì lòng kính trọng thánh vị Aquinô của ông do Giáo hội Công giáo phong — là một cấu trúc toàn vẹn trong chính nó, và không đơn giản là một bộ sưu tập các lý thuyết triết học. Các thuật ngữ tân Thomastân kinh viện được dùng để gọi một trường phái triết học trong thế kỷ 20. Các thủ lãnh Công giáo Pháp của trường phái này là Etienne Gilson (1884-1978), sử gia triết học và nhà thần học, và Jacques Maritain (1882-1973), nhà thần học, những kẻ tìm cách áp dụng các nguyên tắc của thuyết Thomas vào các điều kiện xã hội, kinh tế và chính trị hiện đại. Người ngoài Công giáo cũng tìm cách thích nghi các nguyên tắc của thuyết Thomas vào dời sống hiện đại; họ cũng được gọi là những người tân Thomas chủ nghĩa.

(  Nguồn: Lấy từ một phần bài viết  Ba mươi triết gia phương Tây của Nguyễn Ước)

 

Tượng Thomas Aquinas.

 

 

 

 

 

 

                CHUYÊN MỤC THƠ VĂN

 

             Thơ Trần văn Kinh

 

3. Tửu tam bôi.

 

Mới một ly mà, mới nhấp môi,

Gió đưa hương đến, nhẹ như mời !

Hai ly đã thấy tình xuân lắm

Ly nữa, này xuân mới tuyệt vời…

 

 

 

 

 

4. Nửa chén quỳnh tương.

 

Có khoảnh khắc nào, em đấy chăng

Cung thương dìu dặt khúc Tầm dương(*)

Thi nhân với tiếng tơ đàn ấy

Một nỗi nhân tình giữa thế gian

 

Có khoảnh khắc nào, ta đấy chăng

Tầm dương dạ khúc cứ đa mang

Ngàn năm đâu phải mình ta nhỉ

Nửa chén quỳnh tương, nhấp dở dang…

——-

(*) Bến tầm dương canh khuya đưa khách

Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu…

(Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị)

 

 

Hoàng Thảo
               Mưa 
– Lại mưa nữa rồi, mưa gì mưa mãi!
– Thì mùa mưa mà em!

Hình như tôi không còn là tôi. Chỉ một cái nhìn cũng khiến tôi rùng mình. Một hơi thở cũng đủ quấn chặt lấy tôi kéo lại gần anh ấy. Mọi lời anh nói dù rất khẽ cũng làm tôi đau. Ngay cả những lúc anh im lặng uống cà phê, tiếng những viên nước đá lanh canh trong lòng cốc cũng khua vào lòng tôi những nhịp đập nghẹn thở. Anh kể toàn những chuyện vui khiến tôi không thể nhịn cười. Nhưng những tiếng cười ấy cũng làm tôi ray rứt mà anh không biết. Giá như anh đừng nói gì. Chỉ cần anh ngồi im thôi cũng đủ làm tôi ấm áp. Tôi lạnh không phải vì những cơn gió đêm mang theo hơi mưa. Những tiếng cười của tôi đang làm tôi tê tái.

Bỗng dưng những lần gặp nhau bình thường ở quán cà phê lại trở thành một niềm mong mỏi, những giây phút khuấy động nhịp sống đơn điệu hàng ngày của tôi, lấp đầy một khoảng trống âm ỉ ngày càng lớn trong đời sống. Tôi bỗng sợ ngày mai, khi anh ra đi, những ngày cũ sẽ lập lại, dài hơn, chậm hơn, trống vắng hơn. Tôi ngồi với anh đã hơn 3 giờ đồng hồ mà anh vẫn không nói điều tôi muốn được nghe. Chỉ cần một lời thôi cũng có thể làm tôi sung sướng thao thức suốt đêm để mơ mộng, để tưởng tượng về cả phần đời còn lại. Có lẽ anh biết điều tôi thầm mong muốn và cố tình đùa cợt tôi chăng?

– Mới tạnh một chút trời lại mưa nữa. Mưa hoài, anh nhỉ?
– Ừ, trời mưa thế này thì đành ngồi tán gẫu cho qua thời gian chứ biết làm gì!

Tôi không muốn biện hộ. Sự thành thật của những rung cảm sẽ làm chứng cho tôi. Em cười rất tươi theo những câu chuyện bông đùa của tôi nhưng em không biết tôi đang chết héo trong cảm xúc của mình. Những câu chuyện linh tinh ấy là cái phao cuối cùng để tôi bám víu vào thực tại. Ngày mai tôi đi rồi. Có nên không để lại một niềm lưu luyến và bao tiếc nuối? Em đâu biết rằng tôi muốn vứt bỏ hết màn kịch tôi đang độc diễn để có thể nói lên một lời thành thật duy nhất, rất thiết tha, và rất quen thuộc, như đã bao lần tôi đã thốt lên với những người con gái đi qua hay ở lại trong đời mình.

Tôi không muốn những cảm xúc vừa êm ái vừa đau đớn này tan biến. Cái cảm xúc khi tim chợt sai nhịp đập, khi tâm trí bỗng nhiên mộng du, khi mỗi ánh mắt chạm vào đâu cũng biến nơi đó thành vàng ngọc quý giá. Chỉ có sự từng trải của một người đàn ông mới giúp tôi giữ được vẻ bình thản cần thiết. Và sự lo sợ nữa! Tôi sợ rằng nếu tôi không đủ tỉnh táo thì những giây phút đẹp đẻ này sẽ vỡ tan và trở thành nỗi ân hận khôn nguôi như những mối tình đã trót đánh mất. Những mối tình luôn là mối tình đầu.

– Vậy là ngày mai anh đi?
– Ừ, ngày mai anh đi.

Sao anh không hiểu rằng em đang chờ chỉ mỗi một lời ấy? Em bồng bột ư? Có thể. Nhưng em đang sống thực với chính mình nhất trong sự bồng bột ấy, anh có biết không? Chỉ có anh mới có thể cuốn em vào cái dòng lũ mê đắm này. Chưa bao giờ em có cái cảm giác ấy mặc dù không ít người đã từng đến với em và mong mỏi ở em nỗi xao xuyến dữ dội như thế. Em đang buông trôi chính mình trong dòng thác ấy, đang chờ đợi những phiêu lưu đầy mê hoặc. Nhưng anh đã neo chặt em lại bên này bờ an toàn. Em nào cần tới sự an toàn ấy đâu anh!

Không, em tin là anh hiểu rõ em. Nhưng anh không thể cho em điều em khao khát. Điều đó càng làm em thêm đau, và muốn đau hơn. Cái đau đớn ấy sao mà đầy ma lực bởi vì chính sự hóa giải nỗi đau mới là điều kỳ diệu. Anh, chỉ có anh mới có thể cho em điều kỳ diệu ấy. Em không cần biết đằng sau điều kỳ diệu lấp lánh ấy những bất trắc gì đang chờ đợi. Em chỉ cần một lời của anh thôi cũng đủ thấy mình đã sống bằng muôn cuộc đời. Chẳng lẽ anh muốn chính em phải nói ra với anh những điều ấy sao anh?

– Mình đã ăn hai tô mì và uống mấy ly nước rồi mà vẫn chưa hết mưa, anh nhỉ?
– Chắc sắp tạnh mưa rồi. Mưa đã bớt nặng hạt.

Em ngồi im lặng đã lâu. Hình như em đang chịu đựng những cơn mưa. Mưa sắp tạnh rồi. Những câu chuyện bông đùa của tôi cũng gần khô kiệt. Khách trong quán cà phê đã lần lượt ra về. Cuối cùng chỉ còn lại hai người. Tôi sẽ nói lời ấy chứ? Gương mặt em trong bóng tối của quán cà phê vắng sao quá gần! Nếu mình nói ra mà bị từ khước, bị hoài nghi thì đau đớn lắm. Nhưng nếu được chấp nhận thì có hết đau đớn không?

Chỉ một lát nữa thôi là mưa sẽ tạnh. Và tôi sẽ không còn cơ hội nào nữa để được thấy mình lớn lao hơn chính mình trong niềm ngây ngất được vượt thoát cái thực tại không có thực này. Có lẽ những gì không thể cầm giữ trong lòng bàn tay mới là những điều có thực bởi vì ai cũng trân trọng và khao khát. Biết là không thể cầm giữ được nhưng vẫn muốn vươn tay ra vồ chặt lấy. Điều có thực ấy đang ở ngay cạnh bên tôi. Chỉ cần tôi đưa tay ra… Và nói một lời… Tôi đưa tay ra. Bàn tay cầm chiếc thìa khoắng lanh canh trong lòng ly cà phê đã cạn. Tôi không nói được điều mình muốn nói.

– Anh ơi, tạnh mưa rồi!
– Ừ, thôi mình về.

CHUYÊN MỤC  CHUYÊN XƯA CHUYỆN NAY

 

 

Vũ Đức Sao Biển ( do ĐỖ CAO ĐÀM  sưu tầm)

 

 

 

Rượu trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung

 

Cũng như nhiều dân tộc khác ở vào vùng khí hậu lạnh, dân tộc Trung

Hoa trường thích rượu. Khái niệm rượu đã được người xưa kết hợp với khái

niệm lễ, không có rượu không thành lễ nghi (vô tửu bất thành lễ). Rượu là

thức uống kích thích niềm sảng khoái, được dùng trong y dược Trung Hoa như

một chất xúc tác. Thời Tam Hoàng, Ngũ Đế đã có những bài thuốc ngâm rượu,

những cách xông hơi rượu ra đời. Trong những tác phẩm võ hiệp tiêu biểu của

Kim Dung, rượu luôn luôn có mặt, dàn trải khắp cả câu chuyện.

Chắc hẳn những bạn đọc tác phẩm Kim Dung đều đồng ý rằng đoạn

tửu luận của Tổ Thiên Thu trong Tiếu ngạo giang hồ là đoạn gây sảng khoái

nhất. Với đoạn văn này, Kim Dung đã nâng nghệ thuật uống rượu lên thành

một thứ đạo: tửu đạo – và với cách diễn đạt tài tình, dàn cảnh oái ăm, Kim

Dung đã thực sự cuốn hút người đọc. Tổ Thiên thu biết được Lệnh Hồ Xung,

người yêu của Thánh cô Nhậm Doanh Doanh, đang bị bệnh mất hết công lực.

Anh ta bèn ăn cắp Tục mệnh bát hoàn (8 viên thuốc duy trì mạng sống) của

một người bạn thân là Lão Đầu Tử, hòa vào rượu để dẫn dụ cho Lệnh Hồ

Xung uống. Nguyên Lão Đầu Tử đã bỏ ra 18 năm để ăn cắp những kỳ trân,

dược vật trên thế gian, chế ra 8 hoàn thuốc thuần âm, chữa trị chứng “Tiên

thiên bất túc” (một dạng suy dinh dưỡng) cho con gái mình là Tiểu Di. Trong

khi đó, bệnh của Lệnh Hồ Xung thuộc trạng thái khí âm hàn. Cho nên, đem

thuốc thuần âm cho kẻ dư khí âm hàn uống khác nào sông Trường Giang nước

đã đầy, lại được tháo nước hồ Bàn Dương, hồ Động Đình đưa vào cho nước

thêm đầy lên, hóa ra càng thêm hại.

Tổ Thiên Thu biết Lệnh Hồ Xung là người khảng khái, không chịu uống

thuốc ăn cắp nên y bày đặt ra chuyện tửu luận, kích thích tinh thần Lệnh Hồ

Xung. Theo y, bậc danh sĩ phải biết uống từng thứ rượu với từng thứ chung

riêng: rượu Bồ đào uống chung Dạ quang; rượu Trúc diệp thanh phải uống

chén Dương chi bạch ngọc mà phải Dương chi bạch ngọc đời Bắc Tống; rượu

trắng phải uống trong sừng trâu, lấy mùi tanh của sừng chế ngự mùi men nồng

của rượu; rượu Bách thảo mỹ tửu được chế với 100 thứ hoa cỏ thơm, phải

được uống với chung bằng trúc để thơm hơn…Y nói một hơi 8 thứ rượu và

móc trong bọc ra 8 thứ chén, rót rượu vào mời Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung

tức khí, nuốt sạch 8 chén rượu; có chén thum thủm mùi cá ươn, có chén cay sè,

có chén rào rạt như ngàn dao đâm vào cổ họng…Thiện ý của Tổ Thiên Thu là

cứu người, vì hắn dốt nát về y lý hóa ra làm hại người.

Trong Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung xây dựng nhân vật Lệnh Hồ

Xung, đại đệ tử phái Hoa Sơn, là một chàng du tử lãng mạn, quý rượu hơn tính

mạng mình. Đoạn buồn cười nhất là đoạn Lệnh Hồ Xung xin rượu Hầu nhi

tửu của lão ăn xin dưới chân thành Hành Dương. Lệnh Hồ Xung chỉ xin uống

một tợp và lão cũng chỉ đồng ý cho uống một tợp mà thôi. Nào ngờ, nghe hơi

rượu ngon, Lệnh Hồ Xung đã vận hỗn nguyên khí công uống sạch bầu rượu.

Lão ăn xin lăn đùng ra khóc vì tiếc bầu rượu. Lệnh Hồ Xung đành phải xin lỗi

và mời lão vào tửu lâu, đãi lão một chầu túy lúy càn khôn.

Trong khi uống rượu, các nhân vật của Kim Dung thường thể hiện phẩm

 

cách người đối ẩm với mình. Đoạn uống rượu đẹp nhất và khiến cho người

đọc kinh ngạc nhất là đọan Điền Bá Quang mời rượu Lệnh Hồ Xung. Lệnh

Hồ Xung bị sư phụ phạt giam trên đỉnh Ngọc Nữ Phong để ăn năn, sám hối.

Biết bạn rất nhớ rượu, Điền Bá Quang đã vượt 5000 dặm về tới kinh đô Lạc

Dương, vào trong Tuý tiên lâu, hoàng cung của vua Tống, ăn cắp 2 hũ Thiệu

Hưng nữ nhi hồng. Thấy trong hầm rượu của hoàng cung còn đến mấy ngàn

hũ Thiệu Hưng, Điền Bá Quang phóng cước đá bể tất cả để “bọn vua quan

không còn được uống thứ rượu quý này nữa”, vì trên đời này “chỉ còn Điền

mỗ với Lệnh Hồ huynh đệ mới xứng đáng được uống nó mà thôi”. Tuy nhiên,

gánh 2 hũ rượu lên Ngọc Nữ Phong là chuyện dễ, mà được đối ẩm với Lệnh

Hồ Xung là chuyện cực kỳ khó vì Điền Bá Quang vốn rất sợ sư phụ của Lệnh

Hồ Xung là Nhạc Bất Quần. Hắn bèn nghĩ cách điệu hổ ly sơn làm Nhạc Bất

Quần lầm mưu xuống núi đi tìm Điền Bá Quang. Thế là hắn ung dung lên

Ngọc Nữ Phong đối ẩm với Lệnh Hồ Xung.

Nhà Nho có câu :”Bậc quân tử lấy văn kết bạn” (quân tử dĩ văn hội

hữu). Kim Dung đã mượn chén rượu cho những nhân vật võ lâm của mình giao

kết với nhau. Trong tình bạn hay trong tình yêu, chén rượu vẫn làm vai trò của

cơ duyên hội ngộ.

Đọc Thiên Long bát bộ, ta thấy cuộc hội ngộ giữa Kiều Phong, bang

chúa Cái bang và Đoàn Dự, vương tử nước Đại Lý, là cuộc hội ngộ trong

hương rượu nồng. Thoát ra khỏi cảnh giam cầm ở Thái Hồ, Đoàn Dự tìm đến

một quán rượu ngoài thành Vô Tích thì bắt gặp: “Một đại hán mắt sáng như

điện, trạc ngoài 30, thân thể cao lớn, mặc áo vải màu tro, phục sức sơ sài, mộc

mạc” đang ngồi độc ẩm. Đoàn Dự nhận định: “Đây chắc chắn là hào khách của

Yên, Triệu; Giang Nam quyết không thể có nhân vật thế này”. Ngoại hình Kiều

Phong đã khiến Đoàn Dự kính ngưỡng, bèn mời Kiều Phong uống rượu. Kiều

Phong gọi tất cả 30 cân rượu (khoảng 18 lít) và đề nghị Đoàn Dự uống bằng

bát lớn. Đoàn Dự nào biết uống rượu? Cho nên uống xong bát đầu tiên, anh

đã muốn gục xuống tại chỗ; Kiều Phong chỉ nhìn anh mà tủm tỉm cười. Đến

đây thì Kim Dung “cứu” nhân vật của mình. Vốn Đoàn Dự đã học được tuyệt

kỹ Lục mạch thần kiếm, quy khí lực vào huyệt Đan điền rồi vận công phóng

kiếm khí vô hình ra 6 ngón tay. Từ kiếm khí, Kim Dung cho phép nhân vật của

mình phóng ra …kiếm tửu. Đoàn Dự nạp hết số rượu vừa uống vào huyệt Đại

truy, rồi dẫn rượu đi qua các huyệt Thiên tôn, Kiên chân, Tiểu hải, Chi chính,

Dưỡng lão, Dương cốc, Hậu thoát và “phóng” rượu ra nơi ngón Thiếu trạch

(ngón út). Anh ta cứ gác tay trái lên vách quán rượu, uống bao nhiêu vận nội

lực phóng rượu ra bấy nhiêu khiến Kiều Phong kinh hoàng, tưởng tửu lượng

chàng thư sinh cao không kể xiết! Từ cuộc đấu rượu hi hữu đó, họ nhận ra

phẩm chất của nhau và kết nghĩa anh em. Cuộc đối ẩm giữa Kiều Phong và

Đoàn Dự làm cho người đọc vừa sảng khoái vừa buồn cười.

Rượu nối kết tình bạn và cũng chính rượu tạo ra hào khí. Trong Thiên

Long bát bộ, có đoạn nhà sư Hư Trúc, cung chủ Linh Thứu, bái kết Kiều

Phong làm đại ca trước mặt quần hùng Trung Nguyên khi Kiều Phong đang

bị quần hùng vây hãm. Từ nước Khất Đan, Kiều Phong dẫn 18 tên lính trung

thành gọi là Yên Vân thập bát kỵ, mang theo 36 túi da dê đựng rượu quay về

chùa Thiếu Lâm, tỉnh Hồ Nam. Nơi đây, anh bị quần hùng vây hãm. Trong

 

cảnh nguy nan, bỗng dưng Đoàn Dự xuất hiện. Hai anh em đang bưng rượu

lên uống thì một nhà sư xấu xí trong đội ngũ chùa Thiếu Lâm chạy ra: “Đại ca

với tam đệ uống rượu sao không gọi ta ?”. Nhà sư đó là Hư Trúc. Hư Trúc đã

kết nghĩa với Đoàn Dự nhưng chưa được bái kiến Kiều Phong. Mặc dù quy

luật giới tửu (cấm rượu) của chùa Thiếu Lâm rất khắt khe nhưng khi đã thấy

đại ca và tam đệ uống rượu để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu, Hư Trúc cũng nổi

hào khí, muốn uống rượu trước mặt quần hùng để chia sẻ với hai người anh

em những hoạn nạn sẽ xảy ra.

Và quả nhiên bầu rượu nghĩa tình đó đã làm nên đại sự. Kiều Phong

chế ngự được kẻ đại ác Du Thản Chi, vươn tay xách cổ Cô Tô Mộ Dung Phục

như người ta xách một con gà. Đoàn Dự sử dụng 6 thế Lục mạch thần kiếm

đánh cho Mộ Dung Phục thất điên bát đảo, làm phơi bày toàn bộ âm mưu đen

tối của nhà Mộ Dung. Hư Trúc vận Bắc minh chân khí, biến những giọt rượu

của đại ca thành băng làm một thứ Sinh tử phù cấy vào người gã đại ác Đinh

Xuân Thu, chế ngự và sanh cầm gã. Bọn Yên Vân thập bát kỵ, mỗi người một

túi rượu, phanh cổ áo để lộ ra hình tượng con chó sói được xăm trên ngực của

dân tộc Khất Đan, hú lên những tiếng hoang dã và ngửa cổ uống rượu, thể

hiện quyết tâm cũng liều chết với chủ tướng Kiều Phong. Chưa có một đoạn

nào trong tiểu thuyết cổ kim miêu tả hào khí của con người trước gian nan thử

thách hay hơn đoạn của Kim Dung viết về cuộc hội ngộ của 3 anh em Kiều

Phong – Hư Trúc – Đoàn Dự dưới chân núi Thiếu Thất.

Nhưng rượu trong tác phẩm võ hiệp của Kim Dung không chỉ uống

trong lúc đoàn viên, mà còn được uống trong khi lâm biệt đầy máu và nước

mắt. Như trong trận ác đấu của Kiều Phong tại Tụ hiền trang. Từ khi biết

mình là người Khất Đan, Kiều Phong chỉ mong tìm về bên kia Nhạn môn quan

để suốt đời săn chồn đuổi thỏ, tuyệt không dính dấp đến giới võ lâm Trung

Quốc nữa. Nhưng hoàn cảnh đã bó buộc ông phải cứu lấy cô bé A Châu, và

ông đã bế nàng tới Tụ hiền trang ra mắt Tiết Mộ Hoa, nhờ viên thần y này

giúp đỡ. Hóa ra KIều Phong đã tự dấn thân vào chốn hung hiểm: quần hùng

Trung Nguyên đang họp nhau tại Tụ hiền Trang để bàn kế sách diệt ông, loài

Liêu cẩu man rợ! Kiều Phong nhìn những kẻ đang vây hãm mình. Họ là những

anh em ruột thịt của ông ngày trước ở Cái bang, là những bạn bè tốt của ông

thuộc các võ phái Trung Quốc, là những người mà ông cha bao giờ có ý niệm

thù hằn, căm ghét. Nhưng cục diện ở Tụ hiền trang lúc đó là một mất một còn,

là ta sống thì người chết. Kiều Phong đã đề nghị anh em Du Ký, Du Câu – chủ

nhân Tụ hiền trang – cho xin mấy vò rượu lớn. Ông rót rượu ra bát lớn, mời

anh em Cái bang uống trước để nói lời cuối cùng, dứt tình đoạn nghĩa. Ông

uống rượu với bạn bè các môn phái mỗi người một bát. Có kẻ bưng tô rượu

dứt tình với Kiều Phong mà nước mắt tuôn rơi. Rồi sau đó, Kiều Phong đại

khai sát giới, tìm con đường sống riêng cho mình, chạy về bên kia ải Nhạn

môn quan nghìn trùng xa cách.

Có trường hợp uống rượu tưởng như chia biệt lại hóa ra đoàn viên. Đó

là trường hợp uống rượu kỳ cục của Cẩu Tạp Chủng (Thạch Phá Thiên), một

thiếu niên ngây thơ, trong trắng trước hai ông anh kết nghĩa đầy mưu mô xảo

quyệt là Trương Tam và Lý Tứ. Trương Tam, Lý Tứ thật ra chỉ là tên giả mạo;

họ chính là hai sứ giả Thưởng Thiện và Phạt Ác của đảo Long Mộc ngoài biển

 

Đông. Trương Tam, Lý Tứ cũng giả vờ kết nghĩa với Thạch Phá Thiên, cũng

thề đồng sinh đồng tử, nhưng trong bụng hai lão chỉ muốn chàng thiếu niên

này chết đi cho khuất mắt. Trương Tam có bầu rượu dương cương, Lý Tứ có

bầu rượu âm nhu, mỗi lão tự uống bầu rượu của mình và lão này rất sợ bầu

rượu của lão kia. Kết nghĩa xong, chàng thiếu niên Thạch Phá Thiên đề nghị…

uống rượu. Thạch Phá Thiên ngây ngô, xin được uống hai thứ rượu trong đủ

hai bầu. Trương Tam, Lý Tứ cả mừng vì đinh ninh thế nào thằng nhỏ này cũng

chết tươi vì hai thứ rượu xung đột nhau. Một lần nữa, Kim Dung lại “cứu”

nhân vật ngây thơ, trong trắng của mình. Thạch Phá Thiên đã từng ngộ kỳ

duyên, con người chàng ta dung hòa được cả hai loại chất độc dương cương

và âm nhu. Cho nên uống rượu xong, chẳng những chàng trai trẻ không chết

mà công lực còn tăng tiến. Trương Tam, Lý Tứ hối hận và xấu hổ vô cùng. Từ

tình bạn giả trá, họ đã đổi ra tình bạn chân thành. Cẩu Tạp Chủng trở thành

người em tốt của Thưởng Thiện và Phạt Ác. Đó là chương uống rượu thú vị

nhất trong toàn bộ bộ truyện Hiệp khách hành.

Rượu trong truyện võ hiệp Kim Dung còn làm nên tình yêu lứa đôi, giàu

chất thơ lãng mạn. Có những lứa đôi gặp gỡ lần đầu tiên qua chén rượu và

tình yêu bắt nguồn từ đó. Trong Ỷ thiên Đồ long ký, Trương Thúy Sơn làm

quen với Hân Tố Tố qua chén rượu trên con thuyền nhỏ đậu giữa lòng Thái

Hồ. Trương Vô Kỵ cũng gặp gỡ và yêu quận chúa Triệu Mẫn qua chén rượu.

Đoạn giàu chất thơ nhất của Ỷ thiên Đồ long ký là đoạn Triệu Mẫn nhớ Vô

Kỵ, tìm lên tửu lâu và ngồi đúng vào cái bàn mà hai người đã từng ngồi đối

ẩm. Thiếu vắng Vô Kỵ, cô cũng gọi bình rượu, thức ăn, hai cái chén, hai đôi

đũa, hai chung rượu. Cô rót rượu ra đủ hai chung, uống một chung và nước

mắt rơi. Đúng lúc đó thì Trương Vô Kỵ xuất hiện. Và họ tìm lại được hơi ấm

tình yêu trong chung rượu đối ẩm.

Trong Tiếu ngạo giang hồ, Lệnh Hồ Xung thường đối ẩm với người yêu

là Doanh Doanh. Một nhân vật khác, Lam Phượng Hoàng, giáo chủ Ngũ độc

giáo Vân Nam, cũng rất say đắm Lệnh Hồ Xung. Cô mang vò rượu Ngũ độc

mỹ tửu, trong đó có ngâm năm thứ trùng độc, từ Vân Nam đến Giang Nam để

chữa bệnh cho Lệnh Hồ Xung. Cảm xúc tấm thịnh tình đó, Lệnh Hồ Xung đã

uống rượu cho cô vui lòng. Tác giả Kim Dung đã để cho Lam Phượng Hoàng

hôn Lệnh Hồ Xung trước mặt mọi người, kể cả sư phụ của Lệnh Hồ Xung là

Nhạc Bất Quần. Trong con mắt của Lam Phượng Hoàng, kẻ biết uống rượu

của cô mới là người tốt.

Trong Thiên Long bát bộ, mỗi khi trở về Nhạn môn quan, Kiều Phong

nhớ A Châu là tìm đến chung rượu giải sầu. Đoạn đẹp nhất trong mối tình

hai người là đoạn Kiều Phong ngồi nghe A Châu tâm sự: “Đại ca ơi, tiểu nữ

nguyện suốt đời đi theo đại ca về Nhạn môn quan săn chồn đuổi thỏ, sống

cuộc đời ung dung khoái lạc”. Nghe cô bé tâm sự, Kiều Phong cao hứng. Trong

cái quán nghèo ngoài biên giới không có một giọt rượu, ông cũng giả vờ nâng

cái chén không lên, ngửa cổ ra như đang thực sự thưởng thức men rượu nồng.

Trong Thần điêu hiệp lữ, có cô bé Quách Tương, 16 tuổi, say mê người

huynh trưởng của mình là Thần điêu đại hiệp Duơng Qua. Mặc dù Dương Qua

chạy theo hình bóng của sư phụ là Tiểu Long Nữ, không nghĩ đến mối tình si

 

của Quách Tương, Quách Tương vẫn vượt ngàn dặm ra đi tìm anh. Trong túi

hành trang của cô bé, luôn luôn có một bầu rượu. Cô chỉ có mỗi ước mong:

cùng Dương Qua đối ẩm. Nhưng ước mong đó không bao giờ thành hiện thực.

Quách Tương lên núi đi tu, trở thành sư tổ phái Nga Mi.

Những lứa đôi yêu nhau của tác phẩm Kim Dung uống rượu như ta uống

cà phê. Họ gặp nhau là mời nhau chén rượu, trang trọng, cung kính. Không có

ai uống rượu đến nỗi quần áo xốc xếch, ong bướm lả lơi. Chén rượu trong tình

yêu của tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung mang theo tính cách đạo đức mặc dù

khung cảnh uống rượu lãng mạn vô kể: uống trong quán khuya vắng người,

uống trong căn phòng chỉ có hai người, giữa đêm mùa dông tuyết rơi lả tả;

uống trên con thuyền nhỏ chơi vơi giữa đêm trăng trên dòng Trường Giang

mông mênh.

Nhân vật Tiêu Tương Dạ Vũ Mạc Đại tiên sinh, chưởng môn phái Hành

Sơn trong Tiếu ngạo giang hồ luôn luôn gắn liền tâm hồn mình với chén rượu.

Kim Dung mô tả Mạc Đại: “Tướng mạo tiên sinh điêu linh cổ quái, lúc nào

cũng như ba phần tỉnh, bảy phần say”. Mạc Đại có cây dao cầm rất cũ kỹ,

trong cây dao cầm lại giắt một lưỡi kiếm mỏng như lá lúa. Tiên sinh xuất hiện

dưới chân núi Hành Sơn, trong quán rượu đầy ấn tượng. Quần hùng gồm 7 gã,

uống 7 chung trà, đang ngồi nghị luận rằng võ công Mạc Đại còn kém thua sư

đệ mình là Lưu Chính Phong vì Lưu Chính Phong đánh ra một đường kiếm

là đứt đầu 5 con chim nhạn. Lúc đang nói chuyện cao hứng thì một ông già

gầy gò đi đến, nghẹo cổ nhìn các hán tử và bảo: “Các người nói thúi lắm!”.

Rồi bỗng dưng, các gã hán tử chỉ thấy trước mắt hoa lên một cái như có một

luồng ánh sáng lấp lánh. Ông già gầy gò bỏ đi, tiếng đàn tình tang xa dần. Một

cơn gió nhẹ thổi qua trên bàn ruợu, 7 cái miệng chén bị cắt đứt lìa lần lượt rơi

xuống mặt bàn, vỡ tan. Hóa ra kẻ lam lũ ấy là Mạc Đại tiên sinh. Ông già say

ấy rút kiếm khi nào, chém 7 miệng chén khi nào, đút kiếm vào đáy cây dao

cầm khi nào, không ai nhìn rõ được. Chỉ với một đường kiếm tiện đứt 7 miệng

chung thì 7 đầu chim nhạn phỏng có là bao! Rõ ràng, trong đoạn này có hai

thứ: một thứ trà sinh nói bậy của 7 hán tử và một thứ rượu cực kỳ tỉnh táo của

Mạc Đại tiên sinh.

Rượu trong truyện võ hiệp của Kim Dung cũng biến thành một thứ võ

khí. Trong Thiên Long bát bộ, bọn Dư Bà Bà của cung Linh Thứu tung bì rượu

lên thành thế Mãn thiên hoa vũ (mưa hoa đầy trời) cho chủ nhân mình là Hư

Trúc dùng Bắc minh chân khí hóa rượu thành băng, khống chế địch thủ. Rượu

được dùng để pha độc được, trừng trị những anh háo sắc. Vợ của Mã Đại

Nguyên là Ôn Thị tư tình với Đoàn Chính Thuần, em ruột nhà vua nước Đại

Lý. Giận Chính Thuần lòng dạ lang chạ, Ôn Thị đã pha bình Mê xuân tửu dụ

cho Đoàn Chính Thuần uống, rồi trói lại và bắt đầu… cắn từng miếng thịt của

Đoàn Chính Thuần để trả thù. Trong Lộc Đỉnh ký, Vi Tiểu Bảo đã biết dùng

Mê xuân tửu từ thuở bé. Mẹ của y là Vi Xuân Phương, làm điếm trong thành

Dương Châu đã từng pha thuốc mê vào rượu cho bọn làng chơi uống, để trấn

lột tiền tài vật dụng. Đắc thủ được bài học lưu manh đó khi làm quan lớn ở

Bắc Kinh, Vi Tiểu Bảo cũng pha chế những bình Mê xuân tửu để hãm hại, vu

cáo những kẻ thù của mình. Từ rượu độc, Vi Tiểu Bảo nghĩ ra những trò đầu

độc khác tệ hại hơn và tất nhiên mực độ lưu manh hạ cấp cao hơn.

 

Rượu trợ lực cho những màn tác oai, tác quái của bọn quan lại triều

Thanh. Để hành hạ Trịnh Khắc Sảng, kẻ tình địch ngày trước của mình, Vi

Tiểu Bảo đã cho tiền để bọn thị vệ dưới quyền uống rượu thoải mái. Uống

xong, chúng kéo qua tư dinh Trịnh Khắc Sảng, đòi nợ cho “công tước” Vi Tiểu

Bảo. Chúng đập phá nhà cửa, tài sản, lăng nhục Trịnh Khắc Sảng và vợ con,

bắt cóc, giết người rồi vu cáo…

Đọc tác phẩm Kim Dung, ta biết được người Trung Quốc có nhiều thứ

rượu danh tiếng: Thiệu Hưng Nữ nhi hồng, Thiệu Hưng Trạng nguyên hồng,

Trúc diệp thanh, Mai quế lộ, Bách thảo tửu, Biên tái tửu, Hầu nhi tửu, Bồ đào

tửu, Ngũ gia bì, Kim tước tửu… Đọc Kim Dung, ta mới biết được phong cách

uống rượu của người Trung Quốc: rượu thường được hâm nóng trước khi

uống, nhất là vào mùa đông. Thỉnh thoảng, trong vài tình huống đặc biệt, khi

công nghiệp làm nước đá chưa ra đời, tác giả đã để cho nhân vật mình làm ra

băng để uống rượu. Trong Tiếu ngạo giang hồ, có đoạn Lệnh Hồ Xung cùng

Hướng Vấn Thiên tìm về Cô Mai sơn trang ở Giang Nam gặp gỡ Giang Nam

tứ hữu. Để mời rượu Lệnh Hồ Xung giữa mùa hè nóng bức, Đan Thanh tiên

sinh đã nhờ anh mình là Hắc Bạch Tử dùng Hàn băng chưởng hóa nước thành

ra nước đá ướp lạnh rượu bồ đào Thổ Lỗ Phồn!

Đọc Kim Dung, ta mới biết được những cách uống rượu khác nhau.

Đối ẩm là hai người uống, thường là tình nhân hoặc bạn hữu thân thiết. Độc

ẩm là uống một mình, trong lòng đang lo nghĩ hoặc tưởng nhớ. Cộng ẩm hay

Quần ẩm là một nhóm người cùng uống với nhau. Loạn ẩm là một đám đông

cùng uống. Trong Tiếu ngạo giang hồ, đoạn loạn ẩm hay nhất là đoạn bọn tà

ma ngoại đạo thết tiệc Lệnh Hồ Xung để lấy lòng Thánh cô Doanh Doanh.

Thương nhau, quý nhau, người ta mới tặng rượu. Quần hào Cái bang Trung

Quốc, tuy là đi ăn mày, đáng lẽ chỉ xin cơm, thì người ta còn xin cả rượu nữa.

Chén rượu của Kim Dung đã làm cho những nhân vật của ông nổi tiếng.

Hồng Thất Công nổi tiếng chuyên uống rượu với thịt chó. Kiều Phong nhờ

rượu mới phát huy được thần oai, càng uống càng mạnh, càng tỉnh táo. Hư

Trúc nhờ uống rượu phá giới mà tìm ra được cô vợ sắc nước hương trời: công

chúa Ngân Xuyên của nước Tây Hạ. Thạch Phá Thiên nhờ uống hai thứ rượu

độc mà hóa giải được sự xung đột của âm dương nhị khí, đạt đến mức thượng

thừa trong võ học… ở chừng mực nào đó, Kim Dung đã nghĩ đến câu cổ thi :

 

Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch

Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh

(Xưa nay thánh hiền đều lặng lẽ

Chỉ người uống rượu mới còn danh)

(Lý Bạch)

Tác phẩm của Kim Dung tràn đầy rượu và ruợu. Trừ những nhà sư,

các nhân vật của ông ít nhiều đều biết đến chén rượu. Rượu làm nên sự hưng

phấn cho cuộc đấu tranh chống cái ác, biểu dương cái thiện và lẽ công bằng ở

đời.

Uống rượu nhiều tất có tình trạng say rượu xảy ra. Những người say

trong tác phẩm Kim Dung cũng say một cách tử tế. Trong những hội loạn ẩm,

 

họ xai quyền thách đố nhau hoặc cãi cọ chửi bới. Duy nhất trong 12 bộ truyện,

có một nhân vật say rượu phạm vào tội đại ác, trở thành một thứ tửu tặc. Nhân

vật đó là Thành Khôn, sư phụ của Tạ Tốn trong Ỷ thiên Đồ long ký. Thành

Khôn say rượu, đã làm nhục và giết hại vợ con của đồ đệ mình. Y lẻn vào

chùa Thiếu Lâm làm một nhà tu giả mạo dưới pháp danh Viên Chân. Kẻ tửu

tặc ấy đã bị tìm ra, bị trừng trị nhưng rồi cuối cùng cũng được tha thứ.

Rượu trong truyện võ hiệp Kim Dung khác xa với rượu ở miền Viễn

Tây Mỹ trong phim cao bồi, khác xa với rượu trong các hộp đêm trên toàn

thế giới và cũng khác xa với “rượu” trong các quán bia ôm. Chính vì thế, tôi

mạnh dạn gọi rượu trong truyện Kim Dung là một loại rượu đạo đức. Rượu

trong truyện Kim Dung thể hiện triết lý nhân sinh gần gũi cuộc sống. Nó làm

nên tình yêu, tình bạn, hận thù, sự tha thứ, mối hoài cảm, niềm hối tiếc. Qua

rượu, Kim Dung hé mở cho chúng ta nhìn thấy một khoa học mới: tửu học.

Với một chữ Rượu, Kim Dung đã vượt xa hơn bất kỳ nhà văn nào khác. Rượu

của ông có bài bản, có tính chất triết lý tề chỉnh. Nó góp phần làm nên cái

đẹp cho đời sống con người. Men rượu kết hợp với men tình, men võ khiến ta

không “uống” được tác phẩm mà lòng vẫn say.

 

                       CHUYÊN MỤC: NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT

 

              BQM:

           Trong tiếng Việt có rất nhiều tên cây quả ta nghe ra tưởng xuất xứ từ Trung Quốc nhưng thực ra là thuần Việt như đã đề cập đến như “ Trà ”  茶 chính là chè , là b’lè . Mật hay mít 蜜, cây mít, quả mít  菠 萝 蜜 là thuần Việt.

BQM vừa vào sống trong Nam mới hai năm, nhưng đã gặp vô số tên cây  như “ dương tùng” “ mãng cầu” nếu không kịp thời truy nguyên thì lại cho là tên từ TQ.

Cây dương tùng ở Bắc và Trung nước ta gọi là phi lao. Nó là loại cây do người Pháp di thực sang ta có tên là philaus.

Quả “na” ở trong Nam gọi là mãng cầu. Từ điển Việt Hán của Hà Thành (TQ) dịch là “ phiên lệ chi” 番 荔 枝 (nghĩa quả vải nước ngoài!) . Bản thân chữ “lệ chi”, BQM nghi là một từ thuần Việt được người Hán phiên âm .

Măng cụt cũng là cây di thực mới đây, có tên Pháp là mangustan         

 

                    CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE

 

         LBT: Nhận thấy vui cười thư giãn, sống vui…cũng là những liều thuoc bổ nên chuyên mục này vào thứ bảy sẽ có những mẩu chuyện vui cung cấp cho độc giả .

          Đỗ Cao Đàm ( sưu tầm):

               1.- Bánh mừng sinh nhật

Một ông chồng đến tiệm đặt bánh mừng sinh nhật vợ. Ông nghĩ ra 1 câu để viết lên bánh “Em không già đi mà còn trẻ lại” .
Ông nói với người làm bánh:
– Tôi đặt chiếc bánh có viết dòng chữ để mừng sinh nhật vợ đấy nhé.
– Trình bày thế nào ạ ? Thằng bé con chủ tiệm hỏi (vì chủ tiệm đi vắng)
– Viết thế này: EM KHÔNG GIÀ ĐI, phía trên, MÀ EM CÒN TRẺ LẠI, phía dưới.
Thằng bé lấy bút ghi chép cẩn thận rồi nói :
– Chiều ông ghé lại lấy, con sẽ làm thật đẹp và cẩn thận cho ông.
Buổi tối, khi khách khứa đã ngồi vào bàn đầy đủ, người chồng mang bánh đặt giữa bàn, trịnh trọng mở hộp bánh ra và tất cả mọi người  đều nhìn thấy
dòng chữ “EM KHÔNG GIÀ ĐI PHÍA TRÊN, MÀ EM CÒN TRẺ LẠI PHÍA DƯỚI”

                   2.- MUỐN CÁI GÌ ???
          Có một ông đến phòng mạch Bác sĩ than rằng vợ ông ta bị bệnh lạnh cảm, vợ chồng còn trẻ mà mấy tháng nay vợ không đòi hỏi mà cũng không cho ông gần gũi nữa. Bác sĩ khuyên ông ta nên đem vợ tới để định bệnh, nếu mới bị thì chữa rất dễ.
Hôm sau ông ta dẫn vợ đến gặp Bác sĩ… Bác sĩ hỏi vợ ông ta :
– Cô có thấy triệu chứng gì khác thường trong cơ thể không ? Sao ông
nhà nói là cô bị lạnh cảm, không đòi hỏi, ham muốn sinh lý nữa ?
Cô vợ ngạc nhiên nhìn Bác sĩ:
– Bác sĩ thử nghĩ xem, cả mấy tháng nay, hàng ngày tôi đi làm bằng
TAXI mà đâu có đủ tiền trả, hễ cứ cười trừ là ông tài xế lại hỏi tôi:
“hôm nay cô trả tiền hay trả cái gì ?”. Tui bèn chọn “cái gì” ! Khi
tui vô sở thì bị trễ giờ, ông Boss cũng hỏi: “Cô muốn tui ghi vào sở
cảnh cáo hay muốn “cái gì” ?. Tui lại chọn “cái gì”. Khi tan sở tui
lại về bằng taxi và ông tài xế lại hỏi: “Lần nầy cô trả tiền hay lại
trả “cái gì”? Tôi lại phải chọn “cái gì” lần nữa ! Bác sĩ thấy đó, tôi
về tới nhà là mệt phờ, 3 “cái gì” trong một ngày rồi thì làm sao tôi
còn phục vụ chồng tôi được nữa ! ?
Bác sĩ bèn nhỏ nhẹ hỏi:
– Thế bây giờ cô muốn tôi nói lại chuyện nầy với chồng cô hay là cô
muốn “cái gì” ???

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Docago.wordpress.com số ra thứ 7 ngày 1/10/2011 9 (tức 05 tháng 9 năm Tân Mão)

                
CHUYÊN MỤC: VĂN HÓA ĐÔNG TÂY  
                 Đỗ Anh Thơ ( biên soạn)
          Chương 7: Aurelius Augustinus với thuyết thượng đế thống trị 
   Augustine là triết gia và nhà thần học Kitô giáo, người Bắc Phi. Tên La-tin đầy đủ
 là Aurelius Augustinus, hoặc còn gọi là  Augustinus Hipponensis, thánh Augustine.
 Augustine sinh tại Tagaste, Numidia, phía nam Hippo, nơi hiện nay thuộc Algeria. Từ đó, 
ông bắt đầu cuộc sống phấn đấu của một triết gia hành giả, rồi trở thành vị giáo phụ vĩ đại
 nhất trong bốn giáo phụ La-tin của Kitô giáo và để lại ảnh hưởng lớn lao trong triết học
phương Tây cùng thần học Kitô giáo. Ông đươc mẹ là một tín đồ Kitô giáo dưỡng, nhưng chàng thanh niên Augustine từ bỏ tập quán tín hữu ấy khi sang Carthage du học. Ở đó, ông tinh thông khoa hùng biện. Trong cuốn Confessions (Tự thú), ông kể lại, bằng giọng ăn năn, quãng thời gian tuổi trẻ hoang dại tại Carthage với kết quả có với tình nhân một đứa con trai tên là Adeonatus. Vào một thời điểm 
 
Tranh Augustine ở nhà thờ Lateran thế kỷ thứ 6	 
 Cuộc đối thoại  Augustine (Gozzoli, tk15	 
Lễ rửa tội cho Augustine  (Gozzoli, tk15 	 
Augustine tranh của Simone Martini

nào đó ông cải giáo sang Manichea— thường gọi là đạo Mani, một hệ thống tôn giáo khá
 thịnh hành từ thế kỷ 3 tới thế kỷ 5, chủ trương Satan, cái ác hoặc bóng tối ở trong tình
 trạng xung khắc thường trực và bất tận với Thượng đế, cái thiện hoặc ánh sáng.                                    
         Sau năm 376, Augustine bỏ đi La Mã, dạy khoa hùng biện, rất thành công. Tới năm
 384, các tín đồ Mani thúc giục ông sang Milan dạy học. Milan là khoảng thời gian then
 chốt của đời ông. Không còn tín nhiệm giáo phái Mani, ông tuyên bố từ bỏ đạo ấy sau khi
 nghiên cứu triết học Plato, thuyết tân Plato và thuyết hoài nghi. Khủng hoảng tâm linh,
 Augustine bị lôi cuốn mãnh liệt bởi nhiệt tình hùng biện của thánh Ambrose, giám mục Milan.
Kết thúc hai năm sống với tâm trạng hoài nghi sâu xa và rối rắm tinh thần, Augustine đột 
nhiên đi theo Kitô giáo. Ông làm lễ nhập đạo vào dịp lễ Phục sinh năm 387. Sau đó chẳng
 bao lâu, ông quay về Tagaste, sống đời tu viện với một nhóm bạn. Năm 391, trong khi thăm
 viếng Hippo, ông được chọn — ngoài ý muốn của mình — làm linh mục của hội thánh Kitô ở đó.
 Suốt phần đời còn lại, ông sống ở Hippo, làm giám mục phụ tá năm 395 rồi không lâu sau, 
làm giám mục. Ông qua đời khi thành Hippo bị quân Vandal bao vây.
           Ảnh hưởng của Augustine lên Kitô giáo được nhiều người đánh giá là chỉ đứng
 sau Phaolô, vị tông đồ thời lập đạo. Các nhà thần học, cả giáo hội Công giáo, Chính 
thống giáo lẫn Tin Lành đều xem ông là người thành lập thần học. Cuốn Confessions (Tự thú,
 ra đời khoảng năm 400) được xem là kinh điển của chủ nghĩa thần bí Kitô giáo. Tác phẩm
 này, nguồn thông tin chính về cuộc đời của Augustine, là một biện hộ cho việc tác giả 
cải sang Kitô giáo, và được viết với giọng văn tuyệt vời. 
 
Tranh:: Augustinus đang giảng giáo lý 
              Tác phẩm nổi tiếng kế đó là City of God (Thành đô của Thiên Chúa, sau
 năm 412), một chống trả lớn lao của Kitô giáo trước những lời phê bình nó là tà giáo,
 đặc biệt nổi tiếng vì quan điểm Kitô giáo được tác giả trau chuốt tỉ mỉ xuyên suốt 
từng trang sách. Trong đó, Augustine đánh giá toàn bộ lịch sử như một chuẩn bị có tính
 quan phòng của Thiên Chúa cho hai thành đô bí nhiệm, một của Thiên Chúa và một của quỉ 
dữ; và toàn thể nhân loại sẽ tối hậu thuộc về thành đô này hoặc thành đô kia. Và cái ác 
là do bởi sự thiếu cái thiện.
 
Tranh: Augustinus đang đọc sách
     Tác phẩm đơn thuần giáo điều và vĩ đại nhất của ông là On the Trinity (Bàn về Chúa
 Ba Ngôi), một hệ thống hóa học thuyết Kitô giáo, nhưng phần lớn văn bản ấy có xuất xứ 
từ các bài luận chiến của ông. Các tác phẩm chống giáo phái Mani, đặc biệt Against 
Faustus (Chống Faustus), vị thầy Mani cũ của ông, là quan trọng vì nó chiếu rọi lên tôn
 giáo ấy. Ðể chống giáo phái Donatus ỏ Bắc Phi chủ thương thanh khiết và tái thanh tẩy,
 Augustine viết hai tác phẩm On Baptism (Bàn về phép rửa tội) và On the Correction of
 the Donatists (Bàn về sự sửa chữa của người Donatus) trong đó ông công thức hóa một ý
 tưởng mà kể từ đó, nó trở nên thành phần của học thuyết của Kitô giáo, cho rằng thẩm 
quyền của Giáo hội Công giáo là một bảo đảm cho Ðức tin Kitô do bởi tính chất chắc chắn
 của tông truyền — được truyền thừa trực tiếp từ mười hai Tông đồ của Ðức Kitô, đặc biệt
 Phêrô, giám mục La Mã đầu tiên. 
               Cuộc tranh luận ngoạn mục nhất mà Augustine can dự là trận đánh chống lại
 giáo phái Pelagion. Người Pelagion phủ định tội tổ tông và cuộc sa ngã của con người. Quan 
điểm ấy có hàm ý rằng ân sủng của Thiên Chúa không nhất thiết là bước tiên khởi để hướng 
tới sự cứu độ, và như thế, nó kích động Augustine, kẻ cho rằng loài người bị hư hoại và 
không có khả năng tự lo liệu. Trong cuộc luận chiến này, ông viết nhiều luận văn, và sau đó,
 tiếp tục trau chuốt các ý tưởng ấy.
                 Từ các văn bản của Augustine, cuộc tranh luận vĩ đại về ân sủng cứ thế tiếp
 diễn. Và những người tự cho mình đi theo đúng con đường của Augustine, như nhà cải cách 
Thệ phản người Pháp John Calvin (1509-1564) và những người theo giáo phái Hà Lan Cornelius 
Jansen (1585-1638) triển khai thành các thần học có tính tiền định. Dù vẫn tôn kính Augustine, nhiều nhà thần học không chịu chấp nhận những phát biểu quá cực đoan của ông về ân sủng.
                   Một trong các luận văn quan trọng của Augustine, On the Work of Monks 
(Về công việc của tu sĩ) được dùng rộng rãi trong các tu viện. Ông cũng soạn các tác phẩm
 bình giải Kinh thánh. Một trong những luận văn đáng quan tâm nhất của ông, được gọi là
 Retractions (Xóa bỏ), được biên soạn thời cuối đời, như một cách thức duyệt xét các tác
 phẩm và các quan điểm của mình. Augustine là bậc thầy về bút pháp, các bức thư của ông nhiều về số lượng, rất cởi mở và bộc trực. Ngày nay, mỗi khi các Hội thánh Kitô giáo gặp tranh luận hay khủng hoảng về thần học, người ta có thói quen tìm về các tác phẩm của Augustine và của các giáo phụ thời sơ khai ấy, để tham chiếu cùng tìm sự soi sáng.
 

Giáo lý của Augustinus chi phối tới 1000 năm của cơ đốc giáo



 


       Chương 8.-  Thuyết tồn tại của thượng đế và học thuyết nhà nước của Thomas Aquinas

 

      Thomas Aquinas  là khuôn mặt vĩ đại nhất của triết học kinh viện và nhà thần học 
người Ý. Cũng được gọi là Tiến sĩ Thiên thần (Doctor Angelicus).
            Sinh tại Rocca Secca, gần Naples, trong một gia đình quan quyền, Aquinas theo 
học các thầy dòng Bênêdictô (Biển Ðức) tại Monte Cassino rồi Ðại học Naples. Sau đó, cưỡng
 lại quyết định của gia đình, ông vào dòng Ðôminicô (Ða Minh), làm tu sĩ khất thực (1244).
 Ông bị các anh em bắt cóc và giam trong một lâu đài của cha mẹ hơn một năm. Cuối cùng,
 thoát ra được, ông đi Cologne và trở thành môn sinh của Albertus Magnus. Năm 1248, ông 
cùng thầy đi Cologne, rồi từ đó đi Paris lần nữa và nổi tiếng, trở thành giáo sư thần học
 rất thành công tại Anagni, Orieto, Rome và Vitenbo.
                 Aquinas xuất hiện khi giới thế tục tìm cách giới hạn đặc quyền của giới 
tu sĩ tại các đại học. Sau năm 1259, ông trải qua vài năm ở Ý, làm giáo sư và cố vấn cho 
Tòa thánh Vatican. Việc ông quay lại Paris có lẽ do gấp rút vì nổi giận với Siger De 
Brabant và bài đọc của học giả ấy trình bày quan điểm của triết gia Hồi giáo Tây Ban Nha
 Averroës về Aristotle. Cuộc chiến đấu học thuyết với Siger là biến cố đáng nhớ nhất trong 
đời Aquinas; chiến thắng ấy có nghĩa rằng lập trường của ông đã khải hoàn.
                        Năm 1272, Thomas Aquinas rời Paris đi Naples để tổ chức một viện
 nghiên cứu. Hai năm sau, đang cùng với người bạn lâu năm, Sư huynh Reginald ở Fossanuova,
 trên đường đi dự Công đồng Lyons với tư cách cố vấn cho giáo hoàng, Aquinas qua đời, hưởng 
thọ 49 tuổi.
 
                           Aquinas đang giảng thuyết thượng đế
            Nhân đây, tưởng cũng nên nói đôi chút về vị triết gia Hồi giáo Averroës. Tên 
A Rập của ông là Ibn Rushd (1126-1198), người nổi tiếng nhất trong các triết gia Hồi giáo
 thời trung cổ, còn Averroës là tên gọi theo hình thức La-tin. Là quan tòa và bác sĩ ở 
Córdoba, Seville, nơi ông chào đời, ông sang sống một thời gian tại Marocco, Bắc Phi. Ở đó,
 ông làm bác sĩ ngự y cho vua Hồi Abu Yusuf nhưng rồi bị trục xuất về Tây Ban Nha vì tình 
nghi dị giáo. Sau đó, ông được phục hồi và quay lại sống ở Marrakesh cho tới ngày qua đời. 
                 Tác phẩm vĩ đại nhất của Averroës là Commentaries on Aristotle (Bình luận
 Aristotle). Những thông giải của ông về Aristotle vẫn ảnh hưởng lâu dài sau khi ông qua 
đời và trở thành vấn đề suy tưởng lý tính, góp phần dọn đường cho thời Phục hưng. Ông nỗ 
lực đặt ranh giới tương ứng cho từng lãnh vực đức tin và lí trí, chỉ ra rằng cả hai không 

cần phải hòa giải vì chúng chẳng xung khắc nhau. Averroës tuyên bố triết học là hình thức 
thẩm tra cao nhất. Siêu hình học của ông mang sắc thái tân Plato chủ nghĩa, giống y như 
Avempace, người ông mang nợ trong các ý tưởng về trí thức. 
             Các học thuyết của Averroës về sự bất tử của cá nhân và sự hằng cửu của
 vật chất bị Giáo hội Công giáo lên án. Thomas Aquinas tôn trọng Averroës nhưng tấn công
 cuộc phấn đấu của Averroës khi vị triết gia Hồi giáo người Tây Ban Nha ấy cho rằng chân 
lý triết học bắt nguồn từ lý trí chứ không từ đức tin. Hầu hết tác phẩm của Averroës được
 châu Âu biết tới qua bản dịch bằng tiếng La-tin và Do Thái Híp-ri, về sau có ảnh hưởng lên
 các nhà văn Do Thái giáo, Kitô giáo và cung cấp một tổng hợp từng phần cho hai truyền thống 
triết học A Rập và Hi Lạp.
               Khác với bản tính lầm lì và phong thái chậm chạp, Thomas Aquinas là người
 diễn giảng xuất sắc, rõ ràng với những tư tưởng bén nhạy, như các tác phẩm của ông cho 
thấy, với lối lý luận khúc chiết và sử dụng tiếng La-tin giản dị, chính xác đáng phục. Càng
 khiêm tốn và đức hạnh, ông càng chứng tỏ một cuộc sống tâm linh phong phú và lòng mộ đạo
 sâu xa. Không một tác phẩm nào vén lộ đầy đủ triết học Aquinas. Có thể xếp loại công trình
 trước tác suốt 20 năm của ông theo hình thức và chủ đích của từng tác phẩm.
                      Những cuốn chính là Commentary in the Sentences (Bình luận về các câu,
 1254-1256), tác phẩm vĩ đại và sớm sủa nhất gồm một tập hợp các bài giảng cho công chúng;
 bảy quaestiones disputatae (các vấn đề tranh luận công khai, 1256-1271); những bình luận 
triết học về các tác phẩm của Aristotle như Mỹ học, Siêu hình học, Loài vật, Vật lý học; 
một phần của De interpretatione (Về thông giải), và Posterior Analytics (Phân tích về sau); 
các luận văn về nhiều chủ đề trong đó có Summa theologica contra Gentiles (Tổng luận thần
 học chống người ngoài Công giáo, 1258- 1260), cũng là Summa philosophica (Tổng luận
 triết học); và cuốn quan trọng hơn hết là Summa theologica (Tổng luận thần học, 1267-1273),
 tác phẩm trình bày thần học có tính hệ thống nhưng chưa hoàn tất. Hơn 600 năm sau, năm 1879,
 Giáo hoàng Leo XIII, trong Thông điệp Aetterni Patris, chính thức tuyên bố triết học của
 Aquinas là triết học Kitô giáo.
            Triết học Aquinas được công khai thừa nhận là mang bản sắc Aristotle với 
những phương pháp và những phân biệt của người Hi Lạp được thích nghi theo với mạc khải.
 Thế kỷ 13 là thời kỳ chủ chốt trong tư tưởng Kitô giáo, bị xâu xé giữa những tuyên bố của 
người theo phái Averroës và những người cực đoan theo Augustine. Aquinas chống đối cả hai
 trường phái ấy. Người theo Averroës do Siger de Brabant lãnh đạo, tách riêng đức tin và
 chân lý một cách tuyệt đối, còn người theo Augustine muốn biến chân lý thành vấn đề đức 
tin.
                Aquinas cho rằng lý trí và đức tin lập thành hai cảnh giới hòa điệu trong
 đó các chân lý của đức tin bổ sung cho chân lý của lí trí; cả hai đều là tặng phẩm của
 Thượng đế, nhưng lí trí có sự tự quản của chính nó. Như thế, ông biện hộ cho quyền của
 lí trí chống lại nỗi sợ hãi của những kẻ muốn trấn áp Aristotle, xem ông là tổ phụ của
 Averroës và dị giáo. Theo Aquinas, nguyên lý đệ nhất của triết học là sự khẳng định hữu
 thể. Từ quan điểm ấy, ông tiến hành cuộc xem xét thái độ trong đó trí tuệ hiểu biết hữu thể 
là gì.
                        Ðối với con người, toàn bộ tri thức bắt đầu bằng con đường giác
 quan; qua trung gian đó, hắn nắm bắt cái phổ quát, tức là thế giới chỉ có thể nhận thức 
được bằng trí tuệ. Theo lập trường được cho là duy thực chủ nghĩa vừa phải (moderate
 realism) của Aquinas, một dạng thức hoặc cái phổ quát có thể hiện hữu theo ba cách:
 trong Thượng đế, trong vạn vật và trong tâm trí. Chính qua tri thức về vạn vật mà chúng 
ta đi tới hiểu biết sự hiện hữu của Thượng đế. Trong trật tự thiên nhiên thì chỉ có thể
 biết Thượng đế bằng loại suy và phủ định. 
              Niềm xác tín của Aquinas vào việc lí trí có thể phát hiện sự hiện hữu của
 Thượng đế được chứng minh bằng các chứng cớ của ông về sự hiện hữu của Thượng đế. Phân 
tích của Aquinas về vấn đề này được tiến hành bằng các khái niệm của Aristotle về tính 
hiệu ứng và hành động, vật chất và dạng thức, hữu thể và yếu tính. Một vật đòi hỏi phải 
có vật khác mới trọn vẹn thì được cho là hiện hữu trong hiệu ứng của cái khác; sự nhận ra 
hiệu ứng ấy được gọi là thực tại.
             Vũ trụ được nhận thức như một chuỗi sự vật được sắp xếp theo trật tự
 hướng thượng hoặc hiệu ứng và hành động, trong cùng một lúc được ban thưởng và được tạo
 nên bởi Thượng đế, kẻ một mình ngài là hành động đơn thuần. Thượng đế thì bất biến vì 
biến đổi có nghĩa là đi từ hiệu ứng tới hành động. Và như thế, Thượng đế hiện hữu mà 
không có bắt đầu cũng chẳng có kết thúc, vì cả hai cái đó đòi hỏi sự biến đổi. Vật chất 
và dạng thức đều thiết yếu để am hiểu sự biến đổi, vì biến đổi đòi hỏi đồng nhất tính của
 cái trở thành và cái mà nó trở thành. Vật chất là cái đầu và dạng thức là cái sau. Mọi vật
 có tính vật lý đều được làm thành bởi vật chất và dạng thức. 

 
 
Lâu đài Monte San Giovanni Campano 
. Sự khác biệt giữa cái là dạng thức hoặc đặc tính với sự hiện hữu thật sự của nó được 
biểu hiệu bằng các thuật ngữ yếu tính và hữu thể. Chỉ ở trong Thượng đế mới có sự phân biệt 
giữa vật chất và dạng thức. Từng cặp một: 
 

vật chất và dạng thức, yếu tính và hữu thể, đều là những trùng hợp đặc biệt của hiệu ứng
 và hành động.
            Hệ thống của Aquinas dựa trên ba phân biệt đó. Hữu thể cũng có thể được đặc
 điểm hóa bằng kiểu thức (mode). Kiểu thức không thêm được gì vào ý tưởng về hữu thể 
nhưng nó là phương cách để làm rõ ràng và dứt khoát cái tiềm ẩn bên trong hữu thể. Theo
 ý nghĩa nào đó, kiểu thức có nghĩa là sự phân chia hữu thể thành các phạm trù. Theo ý nghĩa
 khác, nó phô diễn những phân biệt nhất định của hữu thể trong sự chung chia với mọi loại.
 Theo ý nghĩa này, các kiểu thức được biết như là những cái tiên nghiệm; cùng với hữu thể,
 một cách chủ yếu, những cái đó là sự hiệp nhất, chân lý và cái thiện. Những từ ngữ ấy có
 thể hoán đổi cho nhau. Vì cái đối lập của hữu thể không hiện hữu và cái thiện thì đồng 
hóa với hữu thể, nên đối với Aquinas, thật rõ ràng rằng cái ác chỉ là sự vắng mặt cái thiện.
            Suốt một thời gian dài, Aquinas bị lãng quên hoặc bị hiểu sai bởi ngay cả những 
triết gia vĩ đại nhất, nhưng cuoi cùng, những lời giảng của ông đã khải hoàn. Sự kiện chúng
 được công nhận chính thức trong Giáo hội Công giáo La Mã không có nghĩa người Công Giáo có
thể không bám sát các triết học khác, đặc biệt các lời giảng mang bản sắc Scotus, được triển
 khai từ học thuyết của Duns Scotus (k.1270-1308), người sáng lập trường phái dòng thánh
 Phanxicô và mở cuộc tranh luận sôi nổi với Thomas Aquinas. Tổng hợp tuyệt vời của Aquinas
 ngày nay được khái quát công nhận là một trong những công trình vĩ đại nhất của tư tưởng
 loài người,
                    Triết học bao quát của ông được áp dụng vào mọi cảnh giới của cuộc
 sống con người. Thuyết Thomas — Thomist, được gọi cách ấy vì lòng kính trọng thánh vị Aquinô của ông do Giáo hội Công giáo phong — là một cấu trúc toàn vẹn trong chính nó, và không đơn giản là một bộ sưu tập các lý thuyết triết học. Các thuật ngữ tân Thomas và tân kinh viện được dùng để gọi một trường phái triết học trong thế kỷ 20. Các thủ lãnh Công giáo Pháp của trường phái này là Etienne Gilson (1884-1978), sử gia triết học và nhà thần học, và Jacques Maritain (1882-1973), nhà thần học, những kẻ tìm cách áp dụng các nguyên tắc của thuyết Thomas vào các điều kiện xã hội, kinh tế và chính trị hiện đại. Người ngoài Công giáo cũng tìm cách thích nghi các nguyên tắc của thuyết Thomas vào dời sống hiện đại; họ cũng được gọi là những người tân Thomas chủ nghĩa.
(  Nguồn: Lấy từ một phần bài viết  Ba mươi triết gia phương Tây của Nguyễn Ước)
 
Tượng Thomas Aquinas.



 


                CHUYÊN MỤC THƠ VĂN

             Thơ Trần văn Kinh

                     3. Tửu tam bôi.

Mới một ly mà, mới nhấp môi,
Gió đưa hương đến, nhẹ như mời !
Hai ly đã thấy tình xuân lắm
Ly nữa, này xuân mới tuyệt vời...





                    4. Nửa chén quỳnh tương.

Có khoảnh khắc nào, em đấy chăng
Cung thương dìu dặt khúc Tầm dương(*)
Thi nhân với tiếng tơ đàn ấy
Một nỗi nhân tình giữa thế gian

Có khoảnh khắc nào, ta đấy chăng
Tầm dương dạ khúc cứ đa mang
Ngàn năm đâu phải mình ta nhỉ
Nửa chén quỳnh tương, nhấp dở dang...
-------
(*) Bến tầm dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu...
(Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị)


Hoàng Thảo
               Mưa 
- Lại mưa nữa rồi, mưa gì mưa mãi!
- Thì mùa mưa mà em!

Hình như tôi không còn là tôi. Chỉ một cái nhìn cũng khiến tôi rùng mình. Một hơi thở cũng đủ quấn chặt lấy tôi kéo lại gần anh ấy. Mọi lời anh nói dù rất khẽ cũng làm tôi đau. Ngay cả những lúc anh im lặng uống cà phê, tiếng những viên nước đá lanh canh trong lòng cốc cũng khua vào lòng tôi những nhịp đập nghẹn thở. Anh kể toàn những chuyện vui khiến tôi không thể nhịn cười. Nhưng những tiếng cười ấy cũng làm tôi ray rứt mà anh không biết. Giá như anh đừng nói gì. Chỉ cần anh ngồi im thôi cũng đủ làm tôi ấm áp. Tôi lạnh không phải vì những cơn gió đêm mang theo hơi mưa. Những tiếng cười của tôi đang làm tôi tê tái.

Bỗng dưng những lần gặp nhau bình thường ở quán cà phê lại trở thành một niềm mong mỏi, những giây phút khuấy động nhịp sống đơn điệu hàng ngày của tôi, lấp đầy một khoảng trống âm ỉ ngày càng lớn trong đời sống. Tôi bỗng sợ ngày mai, khi anh ra đi, những ngày cũ sẽ lập lại, dài hơn, chậm hơn, trống vắng hơn. Tôi ngồi với anh đã hơn 3 giờ đồng hồ mà anh vẫn không nói điều tôi muốn được nghe. Chỉ cần một lời thôi cũng có thể làm tôi sung sướng thao thức suốt đêm để mơ mộng, để tưởng tượng về cả phần đời còn lại. Có lẽ anh biết điều tôi thầm mong muốn và cố tình đùa cợt tôi chăng?

- Mới tạnh một chút trời lại mưa nữa. Mưa hoài, anh nhỉ?
- Ừ, trời mưa thế này thì đành ngồi tán gẫu cho qua thời gian chứ biết làm gì!

Tôi không muốn biện hộ. Sự thành thật của những rung cảm sẽ làm chứng cho tôi. Em cười rất
 tươi theo những câu chuyện bông đùa của tôi nhưng em không biết tôi đang chết héo trong 
cảm xúc của mình. Những câu chuyện linh tinh ấy là cái phao cuối cùng để tôi bám víu vào 
thực tại. Ngày mai tôi đi rồi. Có nên không để lại một niềm lưu luyến và bao tiếc nuối? 
Em đâu biết rằng tôi muốn vứt bỏ hết màn kịch tôi đang độc diễn để có thể nói lên một lời
 thành thật duy nhất, rất thiết tha, và rất quen thuộc, như đã bao lần tôi đã thốt lên với
 những người con gái đi qua hay ở lại trong đời mình.

Tôi không muốn những cảm xúc vừa êm ái vừa đau đớn này tan biến. Cái cảm xúc khi tim 
chợt sai nhịp đập, khi tâm trí bỗng nhiên mộng du, khi mỗi ánh mắt chạm vào đâu cũng biến
 nơi đó thành vàng ngọc quý giá. Chỉ có sự từng trải của một người đàn ông mới giúp tôi giữ
 được vẻ bình thản cần thiết. Và sự lo sợ nữa! Tôi sợ rằng nếu tôi không đủ tỉnh táo thì 
những giây phút đẹp đẻ này sẽ vỡ tan và trở thành nỗi ân hận khôn nguôi như những mối tình 
đã trót đánh mất. Những mối tình luôn là mối tình đầu.

- Vậy là ngày mai anh đi? 
- Ừ, ngày mai anh đi. 

Sao anh không hiểu rằng em đang chờ chỉ mỗi một lời ấy? Em bồng bột ư? Có thể. Nhưng em 
đang sống thực với chính mình nhất trong sự bồng bột ấy, anh có biết không? Chỉ có anh mới 
có thể cuốn em vào cái dòng lũ mê đắm này. Chưa bao giờ em có cái cảm giác ấy mặc dù không 
ít người đã từng đến với em và mong mỏi ở em nỗi xao xuyến dữ dội như thế. Em đang buông trôi chính mình trong dòng thác ấy, đang chờ đợi những phiêu lưu đầy mê hoặc. Nhưng anh đã neo chặt em lại bên này bờ an toàn. Em nào cần tới sự an toàn ấy đâu anh!

Không, em tin là anh hiểu rõ em. Nhưng anh không thể cho em điều em khao khát. Điều đó
 càng làm em thêm đau, và muốn đau hơn. Cái đau đớn ấy sao mà đầy ma lực bởi vì chính sự 
hóa giải nỗi đau mới là điều kỳ diệu. Anh, chỉ có anh mới có thể cho em điều kỳ diệu ấy. 
Em không cần biết đằng sau điều kỳ diệu lấp lánh ấy những bất trắc gì đang chờ đợi. Em chỉ 
cần một lời của anh thôi cũng đủ thấy mình đã sống bằng muôn cuộc đời. Chẳng lẽ anh muốn 
chính em phải nói ra với anh những điều ấy sao anh? 

- Mình đã ăn hai tô mì và uống mấy ly nước rồi mà vẫn chưa hết mưa, anh nhỉ?
- Chắc sắp tạnh mưa rồi. Mưa đã bớt nặng hạt. 

Em ngồi im lặng đã lâu. Hình như em đang chịu đựng những cơn mưa. Mưa sắp tạnh rồi. Những
 câu chuyện bông đùa của tôi cũng gần khô kiệt. Khách trong quán cà phê đã lần lượt ra về.
 Cuối cùng chỉ còn lại hai người. Tôi sẽ nói lời ấy chứ? Gương mặt em trong bóng tối của
 quán cà phê vắng sao quá gần! Nếu mình nói ra mà bị từ khước, bị hoài nghi thì đau đớn lắm.
 Nhưng nếu được chấp nhận thì có hết đau đớn không? 

Chỉ một lát nữa thôi là mưa sẽ tạnh. Và tôi sẽ không còn cơ hội nào nữa để được thấy mình
 lớn lao hơn chính mình trong niềm ngây ngất được vượt thoát cái thực tại không có thực này.
 Có lẽ những gì không thể cầm giữ trong lòng bàn tay mới là những điều có thực bởi vì ai 
cũng trân trọng và khao khát. Biết là không thể cầm giữ được nhưng vẫn muốn vươn tay ra vồ
 chặt lấy. Điều có thực ấy đang ở ngay cạnh bên tôi. Chỉ cần tôi đưa tay ra... Và nói một
 lời… Tôi đưa tay ra. Bàn tay cầm chiếc thìa khoắng lanh canh trong lòng ly cà phê đã cạn. 
Tôi không nói được điều mình muốn nói.

- Anh ơi, tạnh mưa rồi! 
- Ừ, thôi mình về.

                   CHUYÊN MỤC  CHUYÊN XƯA CHUYỆN NAY


                 Vũ Đức Sao Biển ( do ĐỖ CAO ĐÀM  sưu tầm)



    Rượu trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung

Cũng như nhiều dân tộc khác ở vào vùng khí hậu lạnh, dân tộc Trung
Hoa trường thích rượu. Khái niệm rượu đã được người xưa kết hợp với khái
niệm lễ, không có rượu không thành lễ nghi (vô tửu bất thành lễ). Rượu là
thức uống kích thích niềm sảng khoái, được dùng trong y dược Trung Hoa như
một chất xúc tác. Thời Tam Hoàng, Ngũ Đế đã có những bài thuốc ngâm rượu,
những cách xông hơi rượu ra đời. Trong những tác phẩm võ hiệp tiêu biểu của
Kim Dung, rượu luôn luôn có mặt, dàn trải khắp cả câu chuyện.
Chắc hẳn những bạn đọc tác phẩm Kim Dung đều đồng ý rằng đoạn
tửu luận của Tổ Thiên Thu trong Tiếu ngạo giang hồ là đoạn gây sảng khoái
nhất. Với đoạn văn này, Kim Dung đã nâng nghệ thuật uống rượu lên thành
một thứ đạo: tửu đạo - và với cách diễn đạt tài tình, dàn cảnh oái ăm, Kim
Dung đã thực sự cuốn hút người đọc. Tổ Thiên thu biết được Lệnh Hồ Xung,
người yêu của Thánh cô Nhậm Doanh Doanh, đang bị bệnh mất hết công lực.
Anh ta bèn ăn cắp Tục mệnh bát hoàn (8 viên thuốc duy trì mạng sống) của
một người bạn thân là Lão Đầu Tử, hòa vào rượu để dẫn dụ cho Lệnh Hồ
Xung uống. Nguyên Lão Đầu Tử đã bỏ ra 18 năm để ăn cắp những kỳ trân,
dược vật trên thế gian, chế ra 8 hoàn thuốc thuần âm, chữa trị chứng "Tiên
thiên bất túc" (một dạng suy dinh dưỡng) cho con gái mình là Tiểu Di. Trong
khi đó, bệnh của Lệnh Hồ Xung thuộc trạng thái khí âm hàn. Cho nên, đem
thuốc thuần âm cho kẻ dư khí âm hàn uống khác nào sông Trường Giang nước
đã đầy, lại được tháo nước hồ Bàn Dương, hồ Động Đình đưa vào cho nước
thêm đầy lên, hóa ra càng thêm hại.
Tổ Thiên Thu biết Lệnh Hồ Xung là người khảng khái, không chịu uống
thuốc ăn cắp nên y bày đặt ra chuyện tửu luận, kích thích tinh thần Lệnh Hồ
Xung. Theo y, bậc danh sĩ phải biết uống từng thứ rượu với từng thứ chung
riêng: rượu Bồ đào uống chung Dạ quang; rượu Trúc diệp thanh phải uống
chén Dương chi bạch ngọc mà phải Dương chi bạch ngọc đời Bắc Tống; rượu
trắng phải uống trong sừng trâu, lấy mùi tanh của sừng chế ngự mùi men nồng
của rượu; rượu Bách thảo mỹ tửu được chế với 100 thứ hoa cỏ thơm, phải
được uống với chung bằng trúc để thơm hơn...Y nói một hơi 8 thứ rượu và
móc trong bọc ra 8 thứ chén, rót rượu vào mời Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung
tức khí, nuốt sạch 8 chén rượu; có chén thum thủm mùi cá ươn, có chén cay sè,
có chén rào rạt như ngàn dao đâm vào cổ họng...Thiện ý của Tổ Thiên Thu là
cứu người, vì hắn dốt nát về y lý hóa ra làm hại người.
Trong Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung xây dựng nhân vật Lệnh Hồ
Xung, đại đệ tử phái Hoa Sơn, là một chàng du tử lãng mạn, quý rượu hơn tính
mạng mình. Đoạn buồn cười nhất là đoạn Lệnh Hồ Xung xin rượu Hầu nhi
tửu của lão ăn xin dưới chân thành Hành Dương. Lệnh Hồ Xung chỉ xin uống
một tợp và lão cũng chỉ đồng ý cho uống một tợp mà thôi. Nào ngờ, nghe hơi
rượu ngon, Lệnh Hồ Xung đã vận hỗn nguyên khí công uống sạch bầu rượu.
Lão ăn xin lăn đùng ra khóc vì tiếc bầu rượu. Lệnh Hồ Xung đành phải xin lỗi
và mời lão vào tửu lâu, đãi lão một chầu túy lúy càn khôn.
Trong khi uống rượu, các nhân vật của Kim Dung thường thể hiện phẩm

cách người đối ẩm với mình. Đoạn uống rượu đẹp nhất và khiến cho người
đọc kinh ngạc nhất là đọan Điền Bá Quang mời rượu Lệnh Hồ Xung. Lệnh
Hồ Xung bị sư phụ phạt giam trên đỉnh Ngọc Nữ Phong để ăn năn, sám hối.
Biết bạn rất nhớ rượu, Điền Bá Quang đã vượt 5000 dặm về tới kinh đô Lạc
Dương, vào trong Tuý tiên lâu, hoàng cung của vua Tống, ăn cắp 2 hũ Thiệu
Hưng nữ nhi hồng. Thấy trong hầm rượu của hoàng cung còn đến mấy ngàn
hũ Thiệu Hưng, Điền Bá Quang phóng cước đá bể tất cả để "bọn vua quan
không còn được uống thứ rượu quý này nữa", vì trên đời này "chỉ còn Điền
mỗ với Lệnh Hồ huynh đệ mới xứng đáng được uống nó mà thôi". Tuy nhiên,
gánh 2 hũ rượu lên Ngọc Nữ Phong là chuyện dễ, mà được đối ẩm với Lệnh
Hồ Xung là chuyện cực kỳ khó vì Điền Bá Quang vốn rất sợ sư phụ của Lệnh
Hồ Xung là Nhạc Bất Quần. Hắn bèn nghĩ cách điệu hổ ly sơn làm Nhạc Bất
Quần lầm mưu xuống núi đi tìm Điền Bá Quang. Thế là hắn ung dung lên
Ngọc Nữ Phong đối ẩm với Lệnh Hồ Xung.
Nhà Nho có câu :"Bậc quân tử lấy văn kết bạn" (quân tử dĩ văn hội
hữu). Kim Dung đã mượn chén rượu cho những nhân vật võ lâm của mình giao
kết với nhau. Trong tình bạn hay trong tình yêu, chén rượu vẫn làm vai trò của
cơ duyên hội ngộ.
Đọc Thiên Long bát bộ, ta thấy cuộc hội ngộ giữa Kiều Phong, bang
chúa Cái bang và Đoàn Dự, vương tử nước Đại Lý, là cuộc hội ngộ trong
hương rượu nồng. Thoát ra khỏi cảnh giam cầm ở Thái Hồ, Đoàn Dự tìm đến
một quán rượu ngoài thành Vô Tích thì bắt gặp: "Một đại hán mắt sáng như
điện, trạc ngoài 30, thân thể cao lớn, mặc áo vải màu tro, phục sức sơ sài, mộc
mạc" đang ngồi độc ẩm. Đoàn Dự nhận định: "Đây chắc chắn là hào khách của
Yên, Triệu; Giang Nam quyết không thể có nhân vật thế này". Ngoại hình Kiều
Phong đã khiến Đoàn Dự kính ngưỡng, bèn mời Kiều Phong uống rượu. Kiều
Phong gọi tất cả 30 cân rượu (khoảng 18 lít) và đề nghị Đoàn Dự uống bằng
bát lớn. Đoàn Dự nào biết uống rượu? Cho nên uống xong bát đầu tiên, anh
đã muốn gục xuống tại chỗ; Kiều Phong chỉ nhìn anh mà tủm tỉm cười. Đến
đây thì Kim Dung "cứu" nhân vật của mình. Vốn Đoàn Dự đã học được tuyệt
kỹ Lục mạch thần kiếm, quy khí lực vào huyệt Đan điền rồi vận công phóng
kiếm khí vô hình ra 6 ngón tay. Từ kiếm khí, Kim Dung cho phép nhân vật của
mình phóng ra ...kiếm tửu. Đoàn Dự nạp hết số rượu vừa uống vào huyệt Đại
truy, rồi dẫn rượu đi qua các huyệt Thiên tôn, Kiên chân, Tiểu hải, Chi chính,
Dưỡng lão, Dương cốc, Hậu thoát và "phóng" rượu ra nơi ngón Thiếu trạch
(ngón út). Anh ta cứ gác tay trái lên vách quán rượu, uống bao nhiêu vận nội
lực phóng rượu ra bấy nhiêu khiến Kiều Phong kinh hoàng, tưởng tửu lượng
chàng thư sinh cao không kể xiết! Từ cuộc đấu rượu hi hữu đó, họ nhận ra
phẩm chất của nhau và kết nghĩa anh em. Cuộc đối ẩm giữa Kiều Phong và
Đoàn Dự làm cho người đọc vừa sảng khoái vừa buồn cười.
Rượu nối kết tình bạn và cũng chính rượu tạo ra hào khí. Trong Thiên
Long bát bộ, có đoạn nhà sư Hư Trúc, cung chủ Linh Thứu, bái kết Kiều
Phong làm đại ca trước mặt quần hùng Trung Nguyên khi Kiều Phong đang
bị quần hùng vây hãm. Từ nước Khất Đan, Kiều Phong dẫn 18 tên lính trung
thành gọi là Yên Vân thập bát kỵ, mang theo 36 túi da dê đựng rượu quay về
chùa Thiếu Lâm, tỉnh Hồ Nam. Nơi đây, anh bị quần hùng vây hãm. Trong

cảnh nguy nan, bỗng dưng Đoàn Dự xuất hiện. Hai anh em đang bưng rượu
lên uống thì một nhà sư xấu xí trong đội ngũ chùa Thiếu Lâm chạy ra: "Đại ca
với tam đệ uống rượu sao không gọi ta ?". Nhà sư đó là Hư Trúc. Hư Trúc đã
kết nghĩa với Đoàn Dự nhưng chưa được bái kiến Kiều Phong. Mặc dù quy
luật giới tửu (cấm rượu) của chùa Thiếu Lâm rất khắt khe nhưng khi đã thấy
đại ca và tam đệ uống rượu để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu, Hư Trúc cũng nổi
hào khí, muốn uống rượu trước mặt quần hùng để chia sẻ với hai người anh
em những hoạn nạn sẽ xảy ra.
Và quả nhiên bầu rượu nghĩa tình đó đã làm nên đại sự. Kiều Phong
chế ngự được kẻ đại ác Du Thản Chi, vươn tay xách cổ Cô Tô Mộ Dung Phục
như người ta xách một con gà. Đoàn Dự sử dụng 6 thế Lục mạch thần kiếm
đánh cho Mộ Dung Phục thất điên bát đảo, làm phơi bày toàn bộ âm mưu đen
tối của nhà Mộ Dung. Hư Trúc vận Bắc minh chân khí, biến những giọt rượu
của đại ca thành băng làm một thứ Sinh tử phù cấy vào người gã đại ác Đinh
Xuân Thu, chế ngự và sanh cầm gã. Bọn Yên Vân thập bát kỵ, mỗi người một
túi rượu, phanh cổ áo để lộ ra hình tượng con chó sói được xăm trên ngực của
dân tộc Khất Đan, hú lên những tiếng hoang dã và ngửa cổ uống rượu, thể
hiện quyết tâm cũng liều chết với chủ tướng Kiều Phong. Chưa có một đoạn
nào trong tiểu thuyết cổ kim miêu tả hào khí của con người trước gian nan thử
thách hay hơn đoạn của Kim Dung viết về cuộc hội ngộ của 3 anh em Kiều
Phong – Hư Trúc – Đoàn Dự dưới chân núi Thiếu Thất.
Nhưng rượu trong tác phẩm võ hiệp của Kim Dung không chỉ uống
trong lúc đoàn viên, mà còn được uống trong khi lâm biệt đầy máu và nước
mắt. Như trong trận ác đấu của Kiều Phong tại Tụ hiền trang. Từ khi biết
mình là người Khất Đan, Kiều Phong chỉ mong tìm về bên kia Nhạn môn quan
để suốt đời săn chồn đuổi thỏ, tuyệt không dính dấp đến giới võ lâm Trung
Quốc nữa. Nhưng hoàn cảnh đã bó buộc ông phải cứu lấy cô bé A Châu, và
ông đã bế nàng tới Tụ hiền trang ra mắt Tiết Mộ Hoa, nhờ viên thần y này
giúp đỡ. Hóa ra KIều Phong đã tự dấn thân vào chốn hung hiểm: quần hùng
Trung Nguyên đang họp nhau tại Tụ hiền Trang để bàn kế sách diệt ông, loài
Liêu cẩu man rợ! Kiều Phong nhìn những kẻ đang vây hãm mình. Họ là những
anh em ruột thịt của ông ngày trước ở Cái bang, là những bạn bè tốt của ông
thuộc các võ phái Trung Quốc, là những người mà ông cha bao giờ có ý niệm
thù hằn, căm ghét. Nhưng cục diện ở Tụ hiền trang lúc đó là một mất một còn,
là ta sống thì người chết. Kiều Phong đã đề nghị anh em Du Ký, Du Câu - chủ
nhân Tụ hiền trang - cho xin mấy vò rượu lớn. Ông rót rượu ra bát lớn, mời
anh em Cái bang uống trước để nói lời cuối cùng, dứt tình đoạn nghĩa. Ông
uống rượu với bạn bè các môn phái mỗi người một bát. Có kẻ bưng tô rượu
dứt tình với Kiều Phong mà nước mắt tuôn rơi. Rồi sau đó, Kiều Phong đại
khai sát giới, tìm con đường sống riêng cho mình, chạy về bên kia ải Nhạn
môn quan nghìn trùng xa cách.
Có trường hợp uống rượu tưởng như chia biệt lại hóa ra đoàn viên. Đó
là trường hợp uống rượu kỳ cục của Cẩu Tạp Chủng (Thạch Phá Thiên), một
thiếu niên ngây thơ, trong trắng trước hai ông anh kết nghĩa đầy mưu mô xảo
quyệt là Trương Tam và Lý Tứ. Trương Tam, Lý Tứ thật ra chỉ là tên giả mạo;
họ chính là hai sứ giả Thưởng Thiện và Phạt Ác của đảo Long Mộc ngoài biển

Đông. Trương Tam, Lý Tứ cũng giả vờ kết nghĩa với Thạch Phá Thiên, cũng
thề đồng sinh đồng tử, nhưng trong bụng hai lão chỉ muốn chàng thiếu niên
này chết đi cho khuất mắt. Trương Tam có bầu rượu dương cương, Lý Tứ có
bầu rượu âm nhu, mỗi lão tự uống bầu rượu của mình và lão này rất sợ bầu
rượu của lão kia. Kết nghĩa xong, chàng thiếu niên Thạch Phá Thiên đề nghị...
uống rượu. Thạch Phá Thiên ngây ngô, xin được uống hai thứ rượu trong đủ
hai bầu. Trương Tam, Lý Tứ cả mừng vì đinh ninh thế nào thằng nhỏ này cũng
chết tươi vì hai thứ rượu xung đột nhau. Một lần nữa, Kim Dung lại "cứu”
nhân vật ngây thơ, trong trắng của mình. Thạch Phá Thiên đã từng ngộ kỳ
duyên, con người chàng ta dung hòa được cả hai loại chất độc dương cương
và âm nhu. Cho nên uống rượu xong, chẳng những chàng trai trẻ không chết
mà công lực còn tăng tiến. Trương Tam, Lý Tứ hối hận và xấu hổ vô cùng. Từ
tình bạn giả trá, họ đã đổi ra tình bạn chân thành. Cẩu Tạp Chủng trở thành
người em tốt của Thưởng Thiện và Phạt Ác. Đó là chương uống rượu thú vị
nhất trong toàn bộ bộ truyện Hiệp khách hành.
Rượu trong truyện võ hiệp Kim Dung còn làm nên tình yêu lứa đôi, giàu
chất thơ lãng mạn. Có những lứa đôi gặp gỡ lần đầu tiên qua chén rượu và
tình yêu bắt nguồn từ đó. Trong Ỷ thiên Đồ long ký, Trương Thúy Sơn làm
quen với Hân Tố Tố qua chén rượu trên con thuyền nhỏ đậu giữa lòng Thái
Hồ. Trương Vô Kỵ cũng gặp gỡ và yêu quận chúa Triệu Mẫn qua chén rượu.
Đoạn giàu chất thơ nhất của Ỷ thiên Đồ long ký là đoạn Triệu Mẫn nhớ Vô
Kỵ, tìm lên tửu lâu và ngồi đúng vào cái bàn mà hai người đã từng ngồi đối
ẩm. Thiếu vắng Vô Kỵ, cô cũng gọi bình rượu, thức ăn, hai cái chén, hai đôi
đũa, hai chung rượu. Cô rót rượu ra đủ hai chung, uống một chung và nước
mắt rơi. Đúng lúc đó thì Trương Vô Kỵ xuất hiện. Và họ tìm lại được hơi ấm
tình yêu trong chung rượu đối ẩm.
Trong Tiếu ngạo giang hồ, Lệnh Hồ Xung thường đối ẩm với người yêu
là Doanh Doanh. Một nhân vật khác, Lam Phượng Hoàng, giáo chủ Ngũ độc
giáo Vân Nam, cũng rất say đắm Lệnh Hồ Xung. Cô mang vò rượu Ngũ độc
mỹ tửu, trong đó có ngâm năm thứ trùng độc, từ Vân Nam đến Giang Nam để
chữa bệnh cho Lệnh Hồ Xung. Cảm xúc tấm thịnh tình đó, Lệnh Hồ Xung đã
uống rượu cho cô vui lòng. Tác giả Kim Dung đã để cho Lam Phượng Hoàng
hôn Lệnh Hồ Xung trước mặt mọi người, kể cả sư phụ của Lệnh Hồ Xung là
Nhạc Bất Quần. Trong con mắt của Lam Phượng Hoàng, kẻ biết uống rượu
của cô mới là người tốt.
Trong Thiên Long bát bộ, mỗi khi trở về Nhạn môn quan, Kiều Phong
nhớ A Châu là tìm đến chung rượu giải sầu. Đoạn đẹp nhất trong mối tình
hai người là đoạn Kiều Phong ngồi nghe A Châu tâm sự: "Đại ca ơi, tiểu nữ
nguyện suốt đời đi theo đại ca về Nhạn môn quan săn chồn đuổi thỏ, sống
cuộc đời ung dung khoái lạc". Nghe cô bé tâm sự, Kiều Phong cao hứng. Trong
cái quán nghèo ngoài biên giới không có một giọt rượu, ông cũng giả vờ nâng
cái chén không lên, ngửa cổ ra như đang thực sự thưởng thức men rượu nồng.
Trong Thần điêu hiệp lữ, có cô bé Quách Tương, 16 tuổi, say mê người
huynh trưởng của mình là Thần điêu đại hiệp Duơng Qua. Mặc dù Dương Qua
chạy theo hình bóng của sư phụ là Tiểu Long Nữ, không nghĩ đến mối tình si

của Quách Tương, Quách Tương vẫn vượt ngàn dặm ra đi tìm anh. Trong túi
hành trang của cô bé, luôn luôn có một bầu rượu. Cô chỉ có mỗi ước mong:
cùng Dương Qua đối ẩm. Nhưng ước mong đó không bao giờ thành hiện thực.
Quách Tương lên núi đi tu, trở thành sư tổ phái Nga Mi.
Những lứa đôi yêu nhau của tác phẩm Kim Dung uống rượu như ta uống
cà phê. Họ gặp nhau là mời nhau chén rượu, trang trọng, cung kính. Không có
ai uống rượu đến nỗi quần áo xốc xếch, ong bướm lả lơi. Chén rượu trong tình
yêu của tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung mang theo tính cách đạo đức mặc dù
khung cảnh uống rượu lãng mạn vô kể: uống trong quán khuya vắng người,
uống trong căn phòng chỉ có hai người, giữa đêm mùa dông tuyết rơi lả tả;
uống trên con thuyền nhỏ chơi vơi giữa đêm trăng trên dòng Trường Giang
mông mênh.
Nhân vật Tiêu Tương Dạ Vũ Mạc Đại tiên sinh, chưởng môn phái Hành
Sơn trong Tiếu ngạo giang hồ luôn luôn gắn liền tâm hồn mình với chén rượu.
Kim Dung mô tả Mạc Đại: "Tướng mạo tiên sinh điêu linh cổ quái, lúc nào
cũng như ba phần tỉnh, bảy phần say". Mạc Đại có cây dao cầm rất cũ kỹ,
trong cây dao cầm lại giắt một lưỡi kiếm mỏng như lá lúa. Tiên sinh xuất hiện
dưới chân núi Hành Sơn, trong quán rượu đầy ấn tượng. Quần hùng gồm 7 gã,
uống 7 chung trà, đang ngồi nghị luận rằng võ công Mạc Đại còn kém thua sư
đệ mình là Lưu Chính Phong vì Lưu Chính Phong đánh ra một đường kiếm
là đứt đầu 5 con chim nhạn. Lúc đang nói chuyện cao hứng thì một ông già
gầy gò đi đến, nghẹo cổ nhìn các hán tử và bảo: "Các người nói thúi lắm!".
Rồi bỗng dưng, các gã hán tử chỉ thấy trước mắt hoa lên một cái như có một
luồng ánh sáng lấp lánh. Ông già gầy gò bỏ đi, tiếng đàn tình tang xa dần. Một
cơn gió nhẹ thổi qua trên bàn ruợu, 7 cái miệng chén bị cắt đứt lìa lần lượt rơi
xuống mặt bàn, vỡ tan. Hóa ra kẻ lam lũ ấy là Mạc Đại tiên sinh. Ông già say
ấy rút kiếm khi nào, chém 7 miệng chén khi nào, đút kiếm vào đáy cây dao
cầm khi nào, không ai nhìn rõ được. Chỉ với một đường kiếm tiện đứt 7 miệng
chung thì 7 đầu chim nhạn phỏng có là bao! Rõ ràng, trong đoạn này có hai
thứ: một thứ trà sinh nói bậy của 7 hán tử và một thứ rượu cực kỳ tỉnh táo của
Mạc Đại tiên sinh.
Rượu trong truyện võ hiệp của Kim Dung cũng biến thành một thứ võ
khí. Trong Thiên Long bát bộ, bọn Dư Bà Bà của cung Linh Thứu tung bì rượu
lên thành thế Mãn thiên hoa vũ (mưa hoa đầy trời) cho chủ nhân mình là Hư
Trúc dùng Bắc minh chân khí hóa rượu thành băng, khống chế địch thủ. Rượu
được dùng để pha độc được, trừng trị những anh háo sắc. Vợ của Mã Đại
Nguyên là Ôn Thị tư tình với Đoàn Chính Thuần, em ruột nhà vua nước Đại
Lý. Giận Chính Thuần lòng dạ lang chạ, Ôn Thị đã pha bình Mê xuân tửu dụ
cho Đoàn Chính Thuần uống, rồi trói lại và bắt đầu... cắn từng miếng thịt của
Đoàn Chính Thuần để trả thù. Trong Lộc Đỉnh ký, Vi Tiểu Bảo đã biết dùng
Mê xuân tửu từ thuở bé. Mẹ của y là Vi Xuân Phương, làm điếm trong thành
Dương Châu đã từng pha thuốc mê vào rượu cho bọn làng chơi uống, để trấn
lột tiền tài vật dụng. Đắc thủ được bài học lưu manh đó khi làm quan lớn ở
Bắc Kinh, Vi Tiểu Bảo cũng pha chế những bình Mê xuân tửu để hãm hại, vu
cáo những kẻ thù của mình. Từ rượu độc, Vi Tiểu Bảo nghĩ ra những trò đầu
độc khác tệ hại hơn và tất nhiên mực độ lưu manh hạ cấp cao hơn.

Rượu trợ lực cho những màn tác oai, tác quái của bọn quan lại triều
Thanh. Để hành hạ Trịnh Khắc Sảng, kẻ tình địch ngày trước của mình, Vi
Tiểu Bảo đã cho tiền để bọn thị vệ dưới quyền uống rượu thoải mái. Uống
xong, chúng kéo qua tư dinh Trịnh Khắc Sảng, đòi nợ cho "công tước" Vi Tiểu
Bảo. Chúng đập phá nhà cửa, tài sản, lăng nhục Trịnh Khắc Sảng và vợ con,
bắt cóc, giết người rồi vu cáo...
Đọc tác phẩm Kim Dung, ta biết được người Trung Quốc có nhiều thứ
rượu danh tiếng: Thiệu Hưng Nữ nhi hồng, Thiệu Hưng Trạng nguyên hồng,
Trúc diệp thanh, Mai quế lộ, Bách thảo tửu, Biên tái tửu, Hầu nhi tửu, Bồ đào
tửu, Ngũ gia bì, Kim tước tửu... Đọc Kim Dung, ta mới biết được phong cách
uống rượu của người Trung Quốc: rượu thường được hâm nóng trước khi
uống, nhất là vào mùa đông. Thỉnh thoảng, trong vài tình huống đặc biệt, khi
công nghiệp làm nước đá chưa ra đời, tác giả đã để cho nhân vật mình làm ra
băng để uống rượu. Trong Tiếu ngạo giang hồ, có đoạn Lệnh Hồ Xung cùng
Hướng Vấn Thiên tìm về Cô Mai sơn trang ở Giang Nam gặp gỡ Giang Nam
tứ hữu. Để mời rượu Lệnh Hồ Xung giữa mùa hè nóng bức, Đan Thanh tiên
sinh đã nhờ anh mình là Hắc Bạch Tử dùng Hàn băng chưởng hóa nước thành
ra nước đá ướp lạnh rượu bồ đào Thổ Lỗ Phồn!
Đọc Kim Dung, ta mới biết được những cách uống rượu khác nhau.
Đối ẩm là hai người uống, thường là tình nhân hoặc bạn hữu thân thiết. Độc
ẩm là uống một mình, trong lòng đang lo nghĩ hoặc tưởng nhớ. Cộng ẩm hay
Quần ẩm là một nhóm người cùng uống với nhau. Loạn ẩm là một đám đông
cùng uống. Trong Tiếu ngạo giang hồ, đoạn loạn ẩm hay nhất là đoạn bọn tà
ma ngoại đạo thết tiệc Lệnh Hồ Xung để lấy lòng Thánh cô Doanh Doanh.
Thương nhau, quý nhau, người ta mới tặng rượu. Quần hào Cái bang Trung
Quốc, tuy là đi ăn mày, đáng lẽ chỉ xin cơm, thì người ta còn xin cả rượu nữa.
Chén rượu của Kim Dung đã làm cho những nhân vật của ông nổi tiếng.
Hồng Thất Công nổi tiếng chuyên uống rượu với thịt chó. Kiều Phong nhờ
rượu mới phát huy được thần oai, càng uống càng mạnh, càng tỉnh táo. Hư
Trúc nhờ uống rượu phá giới mà tìm ra được cô vợ sắc nước hương trời: công
chúa Ngân Xuyên của nước Tây Hạ. Thạch Phá Thiên nhờ uống hai thứ rượu
độc mà hóa giải được sự xung đột của âm dương nhị khí, đạt đến mức thượng
thừa trong võ học... ở chừng mực nào đó, Kim Dung đã nghĩ đến câu cổ thi :

Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh
(Xưa nay thánh hiền đều lặng lẽ
Chỉ người uống rượu mới còn danh)
(Lý Bạch)
Tác phẩm của Kim Dung tràn đầy rượu và ruợu. Trừ những nhà sư,
các nhân vật của ông ít nhiều đều biết đến chén rượu. Rượu làm nên sự hưng
phấn cho cuộc đấu tranh chống cái ác, biểu dương cái thiện và lẽ công bằng ở
đời.
Uống rượu nhiều tất có tình trạng say rượu xảy ra. Những người say
trong tác phẩm Kim Dung cũng say một cách tử tế. Trong những hội loạn ẩm,

họ xai quyền thách đố nhau hoặc cãi cọ chửi bới. Duy nhất trong 12 bộ truyện,
có một nhân vật say rượu phạm vào tội đại ác, trở thành một thứ tửu tặc. Nhân
vật đó là Thành Khôn, sư phụ của Tạ Tốn trong Ỷ thiên Đồ long ký. Thành
Khôn say rượu, đã làm nhục và giết hại vợ con của đồ đệ mình. Y lẻn vào
chùa Thiếu Lâm làm một nhà tu giả mạo dưới pháp danh Viên Chân. Kẻ tửu
tặc ấy đã bị tìm ra, bị trừng trị nhưng rồi cuối cùng cũng được tha thứ.
Rượu trong truyện võ hiệp Kim Dung khác xa với rượu ở miền Viễn
Tây Mỹ trong phim cao bồi, khác xa với rượu trong các hộp đêm trên toàn
thế giới và cũng khác xa với "rượu" trong các quán bia ôm. Chính vì thế, tôi
mạnh dạn gọi rượu trong truyện Kim Dung là một loại rượu đạo đức. Rượu
trong truyện Kim Dung thể hiện triết lý nhân sinh gần gũi cuộc sống. Nó làm
nên tình yêu, tình bạn, hận thù, sự tha thứ, mối hoài cảm, niềm hối tiếc. Qua
rượu, Kim Dung hé mở cho chúng ta nhìn thấy một khoa học mới: tửu học.
Với một chữ Rượu, Kim Dung đã vượt xa hơn bất kỳ nhà văn nào khác. Rượu
của ông có bài bản, có tính chất triết lý tề chỉnh. Nó góp phần làm nên cái
đẹp cho đời sống con người. Men rượu kết hợp với men tình, men võ khiến ta
không “uống” được tác phẩm mà lòng vẫn say.

                       CHUYÊN MỤC: NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT

              BQM: 
           Trong tiếng Việt có rất nhiều tên cây quả ta nghe ra tưởng xuất xứ từ Trung Quốc
 nhưng thực ra là thuần Việt như đã đề cập đến như “ Trà ”  茶 chính là chè , là b’lè . Mật
 hay mít 蜜, cây mít, quả mít  菠 萝 蜜 là thuần Việt.
            BQM vừa vào sống trong Nam mới hai năm, nhưng đã gặp vô số tên cây  như 
“ dương tùng” “ mãng cầu” nếu không kịp thời truy nguyên thì lại cho là tên từ TQ.
             Cây dương tùng ở Bắc và Trung nước ta gọi là phi lao. Nó là loại cây do
 người Pháp di thực sang ta có tên là philaus.
             Quả “na” ở trong Nam gọi là mãng cầu. Từ điển Việt Hán của Hà Thành (TQ)
 dịch là “ phiên lệ chi” 番 荔 枝 (nghĩa quả vải nước ngoài!) . Bản thân chữ “lệ chi”,
 BQM nghi là một từ thuần Việt được người Hán phiên âm . 
             Măng cụt cũng là cây di thực mới đây, có tên Pháp là mangustan         

                    CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE

         LBT: Nhận thấy vui cười thư giãn, sống vui…cũng là những liều thuoc bổ nên
 chuyên mục này vào thứ bảy sẽ có những mẩu chuyện vui cung cấp cho độc giả . 
          Đỗ Cao Đàm ( sưu tầm):
               1.- Bánh mừng sinh nhật
Một ông chồng đến tiệm đặt bánh mừng sinh nhật vợ. Ông nghĩ ra 1 câu để viết lên bánh
 "Em không già đi mà còn trẻ lại" .
Ông nói với người làm bánh:
- Tôi đặt chiếc bánh có viết dòng chữ để mừng sinh nhật vợ đấy nhé.
- Trình bày thế nào ạ ? Thằng bé con chủ tiệm hỏi (vì chủ tiệm đi vắng)
- Viết thế này: EM KHÔNG GIÀ ĐI, phía trên, MÀ EM CÒN TRẺ LẠI, phía dưới.
Thằng bé lấy bút ghi chép cẩn thận rồi nói :
- Chiều ông ghé lại lấy, con sẽ làm thật đẹp và cẩn thận cho ông.
Buổi tối, khi khách khứa đã ngồi vào bàn đầy đủ, người chồng mang bánh đặt giữa bàn, trịnh
 trọng mở hộp bánh ra và tất cả mọi người  đều nhìn thấy
dòng chữ "EM KHÔNG GIÀ ĐI PHÍA TRÊN, MÀ EM CÒN TRẺ LẠI PHÍA DƯỚI"
                   2.- MUỐN CÁI GÌ ???
          Có một ông đến phòng mạch Bác sĩ than rằng vợ ông ta bị bệnh lạnh cảm, vợ 
chồng còn trẻ mà mấy tháng nay vợ không đòi hỏi mà cũng không cho ông gần gũi nữa. Bác sĩ
 khuyên ông ta nên đem vợ tới để định bệnh, nếu mới bị thì chữa rất dễ.
Hôm sau ông ta dẫn vợ đến gặp Bác sĩ... Bác sĩ hỏi vợ ông ta :
- Cô có thấy triệu chứng gì khác thường trong cơ thể không ? Sao ông
nhà nói là cô bị lạnh cảm, không đòi hỏi, ham muốn sinh lý nữa ?
Cô vợ ngạc nhiên nhìn Bác sĩ:
- Bác sĩ thử nghĩ xem, cả mấy tháng nay, hàng ngày tôi đi làm bằng
TAXI mà đâu có đủ tiền trả, hễ cứ cười trừ là ông tài xế lại hỏi tôi:
"hôm nay cô trả tiền hay trả cái gì ?". Tui bèn chọn "cái gì" ! Khi
tui vô sở thì bị trễ giờ, ông Boss cũng hỏi: "Cô muốn tui ghi vào sở
cảnh cáo hay muốn "cái gì" ?. Tui lại chọn "cái gì". Khi tan sở tui
lại về bằng taxi và ông tài xế lại hỏi: "Lần nầy cô trả tiền hay lại
trả "cái gì"? Tôi lại phải chọn "cái gì" lần nữa ! Bác sĩ thấy đó, tôi
về tới nhà là mệt phờ, 3 "cái gì" trong một ngày rồi thì làm sao tôi
còn phục vụ chồng tôi được nữa ! ?
Bác sĩ bèn nhỏ nhẹ hỏi:
- Thế bây giờ cô muốn tôi nói lại chuyện nầy với chồng cô hay là cô
muốn "cái gì" ???










Docago.wordpress.com số ra thứ 4 ngày 28/9/2011 9 tức 02 tháng 9 năm Tân Mão)

CHUYÊN MỤC: VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Đỗ Anh Thơ:

Dịch lý thời tiết tháng 9 ( Âm lịch)

Theo chiều âm sinh, tháng 9 âm lịch có hai quẻ đó là quẻ Tỷ và quẻ Bác

1.- Quẻ Tỷ (    000010)

 


           Nguyên văn

卦 曰:   比:吉。原 筮 元 永 貞,旡 咎。不 寧 方 來,後 夫 凶。

彖 曰:          比,吉 也。比,輔 也,下 順 從 也。原 筮 元 永 貞,旡 咎,以 剛 中 也。不 寧 方 來,上 下 應 也。後 夫 凶,其 道 窮 也。

象 曰:          地 上 有 水,比。先 王 以 建 萬 國,親 諸 侯。

 

              Chú giải:

Đây là quẻ thứ 8 trong Thượng kinh.

            Phiên âm

Quái viết:

Tỷ: Cát. Nguyên phệ nguyên vĩnh trinh, vô cữu. Bất ninh phương lai, hậu phu hung.

Thoán viết:

Tỷ, cát dã. Tỷ, phụ dã, hạ thuận tòng dã; Nguyên phệ nguyên vĩnh trinh, vô cữu, dĩ cương trung dã. Bất ninh phương lai, thượng hạ ứng dã. Hậu phu hung, kỳ đạo cùng dã.

Tượng viết:

Địa thượng hữu thủy, Tỷ. Tiên vương dĩ kiến vạn quốc, thân chư hầu.

              Dịch

Quái viết:

Tỷ là đứng gần nhau, nguyên phệ là bói lần đầu tiên, lâu dài, chính bền. Chẳng yên mới bói lại,  đến sau xấu.

Thoán viết:

Tỷ, tốt vậy. Nó đứng so sánh với nhau như hai cái càng xe, dưới thuận theo. Nguyên phệ (bói lần đầu), lâu dài chính bền, không sai lầm vì cứng ở giữa. Không yên đến, trên dưới ứng cứu nhau. Đến sau xấu vì đó là lý đến cùng rồi vậy.

        Tượng viết:

Trên đất có nước là tượng của quẻ Tỷ. Tiên vương dựng muôn nước kết thân với chư hầu.

 

Giảng và bình của Đỗ Anh Thơ

                    Tỷ nghĩa là so sánh, là tính xác suất. Lời của quẻ này hoàn toàn dùng cho bói toán. Bói bao giờ cũng muốn tìm cái tuyệt đối đúng, bởi vì khi băn khoăn điều gì thì ta mới bói. Được quẻ tốt là yên tâm, không bói lại, xem như đó là ý kiến của thần linh. Nhưng logic vấn đề là: có hai trở lên mới có thể so sánh với nhau được. Đây là sự khác nhau giữa bói toán mê tín, cả tin với phân tích thống kê xác suất có tính loại trừ, dự báo và dự phòng.

Ở quẻ Tỷ, âm/dương là 5/1, âm chiếm đa số tuyệt đối, nhưng một hào dương đứng đúng chính vị (thứ 5). Trong tháng chín chỉ có hai quẻ biến dịch, điều đó nói lên rằng: thời tiết ổn định, năm này qua năm khác. Ở nước ta, giai đoạn này chỉ có mưa gió thôi. Nếu không mưa nắng lên thì do hơi nước trong không khí phần lớn đã ngưng tụ thành mưa nên độ ẩm tương đối giảm, trời hanh khô, da dẻ  ngươì và trâu bò đều nứt nẻ.  Gọi ổn định có nghĩa là âm đã áp đảo dương, tuy nhiên, thời tiết (lịch) tính theo chu kỳ tháng mặt trời, mặt trăng vốn đã lệch nhau, hiện nay với xu hướng khí hậu đang nóng lên, sự xuất hiện hiện tượng Elnino, lệch pha càng lớn. Đó là sự bất thường và khi sự bất thường trở thành thường xuyên (tức là tần suất cao) thì biến dịch trở thành bất dịch trong một thời gian dài và đòi hỏi phải có sự biến dịch tiếp theo.

Tiết khí được xác định theo dương lịch. Ngày tiết khí rơi vào hai ngày là 6-7 và 21-22 hàng tháng (dương lịch). Vì vậy chiếu sang lịch mặt trăng, có khi vênh nhau tới gần hai tháng. Theo âm lịch, mỗi tháng cũng có hai tiết khí. Năm nào có hai tháng mà chỉ có ba tiết khí là năm nhuận, tức là năm có 13 tháng. Sự điều chỉnh lịch giữa âm và dương cho khớp với nhau một cách tương đối đó luôn luôn gây xáo trộn so với thời tiết; trong mùa vụ, cây trồng…vì  cuối tháng 10 đã tới tiết đông chí, người làm vườn đã phải chiết cây, bứng đào, chúng mới nở đúng tết. Bởi vậy mà âm lịch thường được gọi là nông lịch và ta không thể cứng nhắc, tuyệt đối theo một thứ lịch nào mà cần có sự dự báo điều chỉnh.

 

 

2.- Quẻ Bác (     000001)

 


        Nguyên văn 卦 曰:    剝:不 利 有 攸 往。

彖 曰: 剝,剝 也,柔 變 剛 也。不 利 有 攸 往,
小 人 長 也。順 而 止 之,觀 象 也。君 子 尚 消 息 盈 虛,天 行 也。

象 曰: 山 附 于 地,剝。君 子 以 厚 下 安 宅。

 

         Chú giải :

Đây là quẻ thứ 23 trong Thượng kinh.

                        Phiên âm:

Quái viết:

Bác: Bất lợi hữu du vãng.

Thoán viết:

Bác, bác dã, nhu biến cương dã. Bất lợi hữu du vãng, tiểu nhân trưởng dã. Thuận nhi chỉ chi, quan tượng dã; quân tử thượng tiêu tức doanh hư, thiên hành dã.

Tượng viết:

Sơn phụ ư địa, Bác. Quân tử dĩ hậu hạ an trạch.

                             Dịch :

Quẻ Bác, không thuận lợi cho việc đi lại đó đây.

Bác nghĩa là bóc, gọt, mềm biến cứng vậy. Không thuận lợi đi đây đó vì bọn tiểu nhân đang lớn mạnh. Thuận mà dừng là biết quan sát hiện tượng. Người quân tử cần nghe ngóng xem xét đầy vơi, ấy là biết thi hành đạo trời.

Tượng quẻ Bác là núi bù cho đất. Người quân tử đối xử hậu với kẻ dưới, yên chỗ ở.

 

 Giảng và bình của Đỗ Anh Thơ

 

                         Bác là quẻ chủ của tháng chín, là khoảng tiệm cận của đường cong âm sinh. Giai đoạn này cây cối và nhiều loài đang chuẩn bị ngủ đông, đang tiết kiệm năng lượng (loài thú là dự trữ mỡ, loài cây là tích nhựa) để chuẩn bị cho sự phát triển, dương sinh.

Quan sát nhiều loài từ loài gấu bắc cực đến giống tằm độc hệ hay lưỡng hệ ta mới thấy sự kỳ diệu của sự thích nghi, của tự nhiên.

Có lẽ với sự gia tăng dân số như hiện nay, loài người cần hiểu sâu về quy luật biến dịch, và cũng cần phải học theo các giải pháp tự nhiên như nghỉ đông của một số loài… từ việc mùa đông ăn uống ít hơn, giảm vận động; trên vùng cao, bãi biển, xây dựng nhà ở nửa sâu dưới đất, trong lòng núi… để tiết kiệm năng lượng, để giảm nguy cơ bão tố. Trong canh tác biết cho đất nghỉ, biển sinh sôi, tạo năng suất hợp lý cho vật nuôi, cây trồng… hơn là tìm những giải pháp cực đoan, duy ý chí như biến tính gene, tìm thức ăn tăng trọng… mà xét ra sẽ có độc hại lâu dài.

Mặt trái của cuộc chạy đua theo sản lượng, theo năng suất mà không tính đến chất lượng để thỏa mãn dân số ngày càng tăng, không theo xu hướng tiết kiệm tiêu dùng, cân bằng biến dịch mà trước hết là tiết kiệm nhu cầu, dục vọng của cá nhân… thì chưa biết ta sẽ đưa xã hội loài người đi đến đâu, phân hóa như thế nào! Đến lúc đó, hạnh phúc của mỗi gia đình có lẽ là một căn nhà lá cọ bên suối mát, có bầu không khí trong lành và khái niệm giàu nghèo sẽ lật ngược, sẽ biến dịch nghịch đảo chăng?

 

CHUYÊN MỤC THƠ VĂN

 

Trần văn Kinh

 

 

Hoa cau.

 

(Cám ơn người tặng hoa cau)

 

Lâu rồi, cau chẳng có hoa

Lấy đâu ra để pha trà hương cau

Thế mà trong cuộc bể dâu

Có người lại biếu hoa cau…diệu kỳ!

 

            Một mảnh hình hài

 

Có nỗi đau gì mà bỗng dưng đầu bạc

Hay bởi ngày xưa sớm khóc Ngũ Viên (*)

Có khát bỏng gì mà khô gầy thân hạc

Hay bởi hình hài nặng kiếp nặng duyên

Có nhớ thương ai mà mắt nhìn xa lắc

Hay chỉ muốn tìm một chỗ để quên

——(*) Ngũ Viên tức Ngũ Tử Tư

thời Đông Chu liệt quốc. 

            T.T.Ch

        Trò chuyện cùng hòn đá mồ côi

 

Hôm nay, còn tiết giữa thu mà nắng thu đã nhuốm vàng nơi nơi, không gian đã giăng giăng hơi thu lạnh. Cảm giác thu mênh mông,rạo rực trong tôi lại nao nao, …như sợ thu đi,…thu đã tàn rồi sao ? ngày đông sớm về thế ư ?

…Đúng cái tiết thu như hôm nay thật không dễ gặp của mỗi độ thu về. Thường nắng thu chỉ vàng khi gió heo may về. Hôm nay đang giữa thu, gió bấc chưa về, do mấy đêm qua, giời cứ mưa sập sùi, mưa lê thê, vào ban đêm, làm nhiệt độ hạ thấp, và ban ngày, trời tạnh, nắng lên, cái nắng lên mong manh, chợt đến, chợt đi, mây trắng thấp bay là là bao phủ bầu trời, mặt trời lúc khuất, lúc ló…nên tạo thành, nắng lạnh, năng vàng hôm nay. Người ít quan sát dễ tưởng, thu chỉ có nắng hanh vàng và da thịt khô cong, trong những ngày tàn thu ? Hà Nôi xưa, vào ngày thu vàng như hôm nay, thày giáo già, ông ký, ông phán,… lớp người trung lưu, con cái đã phương trưởng, họ an nhàn với tuổi già, thế nào họ cũng ra phố đế tận hưởng tiết thu. Đầu đội mũ fléchet, khoác ngoài chiếc manteau mỏng, và không quên thủ trong mình hộp sáp nẻ, lãng đãng dạo quanh Hồ Gươm, rồi dừng chân trong quán cà phê Nhân, nơi phố Cầu Gỗ đầu Tạ Hiện, trong khi chờ phin cà phê nhỏ giọt, là rút hộp thuốc nể, thoa nhẹ lên làn da mặt cho đỡ nẻ để cảm giác dễ chịu hơn..Nhưng hôm nay thì tiết thu vàng đẹp làm sao ! Không thấy khó chịu trên da thịt vì độ hanh khô chưa đến. Đang bâng khuâng với tiết thu vàng xao xác; miên man tôi nghĩ đến hòn đá mồ côi nơi Đồng Mô của người bạn tôi, ông chọn làm nơi cư trú cuối đời ! Chắc hẳn ông muốn trốn chạy nơi nhộn nhao, bụi bậm, ngột ngạt, mà ông đã chán ngán trong suốt cuộc đời cán bộ nơi đô thị. Tôi biết ông mắc cái nghiệp chữ nghĩa, nghiệp viết lách, nên ông về bên hòn đá mồ côi ở xứ Đồng Mô như một dự định cho hành trình cuối đời, không ngưng nghỉ, không buông bút, không hưởng thú an nhàn, mà để viết, để ngẫm suy bên hòn đá mồ côi, phản tư những khát vọng mà một thời ông tôn thờ… Nhưng cũng lạ, hòn đá mồ côi ông phơi trên trang blog của mình, thì nó không phải hòn mà tảng, chỉ có cách duy nhất là thuê 1 chuyến xe cần cẩu, rồi cẩu nó về khu vườn này ? Nhưng cẩu về đây, rồi để nó lăn lóc, nằm tơ hơ giữa vườn, không bờ rào, chẳng cây chẳng cối, chẳng hoa, chắng lá…để rồi ông bỏ nó ra đi! Ông đi biền biệt vào tận Sai gòn, quanh năm nóng bức ! Hẳn cái thế bắt buộc, thương con, nhớ cháu, cám cảnh đàn chó Sophie không người chăm, chứ đâu ông hám cảnh nhà cao cửa rông, chất ngất tiện nghi. Tôi nhớ đến lời tâm sự bên hòn đá mồ côi của ông năm nào, ông than, do ta tự tôn dân tộc vô độ, ta xóa tiếng nước ngoài cấp phổ thông quá sớm, rồi dùng luôn tiếng mẹ đẻ làm văn tự giao dich chính thống, nên đến hôm nay con cháu ngơ ngác khi đất nước đổi mới hòa nhập với thế giơi ! Lòng tôi bỗng dưng

“ …Tôi đã thuộc lòng câu hát “Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời…” và

sau này, lớn lên một chút mới hiểu ra rằng, cái tứ ấy, có gì giống với luận điểm của Nguyễn Văn Vĩnh (Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, mà tiếng ta còn thì nước ta còn cách nói ấy là để biện minh cho việc ôm chân giặc xâm lược của Nguyễn Văn Vĩnh vàbè lũ bán nước)…. Phạm Duy có những tác phẩm làm say đắm lòng người, như ThiênThai, Trương Chi, Nhạc tuổi xanh, Quê nhà em… “Đỉnh cao” sự nghiệp chống Cộng của Phạm Duy là bài Mùa thu chết…”

Ôi,.sao thứ văn hóa lùn như vậy vẫn còn thấy nhan nhản trên các trang báo của

chúng ta ! Đọc mà tôi ngượng thay cho ông, người nhạc sĩ có những lỗ hổng lớn về kiến thức : “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn” là câu của Phạm Quỳnh chứ đâu của ông Nguyễn văn Vĩnh; và ông lên án “Mùa thu chết” là thể hiện đỉnh cao chống cộng của Phạm Duy, thì ông lại lầm 1 lần nữa Phạm Duy dich bài hát “Mùa thu chết“ từ bài thơ L’adieu của thi sĩ Pháp Guillaume Apollinaire 1880. Đặc biệt ông còn dẫn chứng lầm cả Thiên Thai và Trương Chi, 2 bài hát của Văn Cao, chứ đâu phải của Pham Duy ! ông Phạm Duy chỉ có bài “Tiếng sáo Thiên Thai” phổ thơ Thế Lữ và bài “Khối tình Trương Chi” mà thôi….

…Qua song cửa hẹp dãy nhà tập thể công nhân, nắng thu nhuốm vàng những chiếc lồng sắt lô nhô trên các tầng cao, và phiên chợ vồ, họp chảo chớp trong chốc lát của xóm thợ cũng đang vãn dần. Sắc thu vàng với không gian dần yên ả, đang dần đẹp lên trong tôi.Tôi chợt nhận ra mùa thu vẫn đẹp muôn thưở như những ngày ấu thơ, cắp sách đến trường, rảo bước trên thảm lá me vàng rụng đầy dưới chân. Mùa thu vẫn đẹp ! Cái đẹp muôn thưở, vĩnh cửu vẫn ngự trị trên thế gian !

Những khát vọng vu vơ, những thổn thức vô hồi trái tim thơ,…rồi lắng dần… tan trong hư ảo mùa thu !

TTCh

(HN Một ngày thu vàng, 24-9-2011)

CHUYÊN MỤC: CHUYỆN XƯA…CHUYỆN NAY

        Duy Khánh ( do Đỗ Cao Đàm chuyển tiếp)

Tắm Thổ hụt và tắm Thổ với “tiên Nga”

 

“Chúc đi vui vẻ, nhớ đi tắm Thổ nhé.” Chúng tôi nhận được tin nhắn của anh

bạn trước khi lên đường đi Thổ Nhĩ Kỳ.

 

Tắm Thổ (Turkish Bath) hay nói rõ hơn là đi tắm kiểu Thổ Nhĩ Kỳ là

điều đầu tiên trong 10 điều phải làm ở Thổ Nhĩ Kỳ theo nhiều trang website và

sách hướng dẫn du lịch. “Tiếng lành đồn xa” càng làm chúng tôi tò mò. “Sang

tới Thổ, rất khoát phải đi tắm Thổ!”. Chúng tôi đã bàn bạc kỹ với nhau như

vậy. Điểm dừng chân đầu tiên ở Thổ Nhĩ Kỳ là một khu vực có kiến tạo

địa chất bởi núi lửa có tên Cappadocia. Trên con đường quanh co của thị trấn,

Ilknuk, người dẫn chương trình có chỉ cho chúng tôi một tòa nhà mái vòm nhỏ

nhắn và cũ kỹ với tấm biển: “Turkish Bath” ở ngoài. “Đó là một nhà tắm Thổ,

nhưng tôi không chắc về chất lượng, lên Istanbul hãy đi tắm thì tốt hơn” –

Ilknuk nói.

Quá sốt ruột vì tò mò, chúng tôi muốn thử luôn ở Cappadocia. Nhưng

khách sạn chúng tôi ở lại khá xa trung tâm thị trấn nơi có nhà tắm Thổ. Đành

ngậm ngùi chờ khi lên tới Pamukkale, một trung tâm tắm suối nóng ở Thổ

Nhĩ Kỳ, chúng tôi hỏi lễ tân khách sạn xem có thể tắm Thổ ở đâu thì được trả

lời: “Ngay trong khách sạn cũng có tắm Thổ, miễn phí, xin mời các bạn.”

Oa, như bắt được vàng, cả nhóm 4,5 người chúng tôi ùa vào một cánh

cửa nhà tắm Thổ của khách sạn. Một căn phòng bằng đá cẩm thạch cỡ 15 mét

vuông với một chiếc bàn đá cao khoảng chưa tới một mét nằm chềnh ềnh giữa

phòng, chiếm 2/3 diện tích. Xung quanh căn phòng là 4 kệ đá nhỏ chứa nước

và một số xô chậu. Căn phòng đá trắng được thiết kế theo kiểu cổ khá đẹp

nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng người người hướng dẫn.

“Tắm Thổ kiểu gì thế này, tắm như thế nào bây giờ?”. Chúng tôi hỏi

nhau và kéo ra ngoài hỏi ông bạn lễ tân thì nhận được câu trả lời: “Các bạn cứ

vào đó tự tắm. Nếu muốn có người tắm cho thì mất 30 đôla Mỹ. Nhưng hôm

nay cũng hết ca rồi, phải đợi tới ngày mai.”

“Tự tắm! Tắm Thổ là thế này á, hay là vào đó tắm cho nhau”. Đùa chán,

chúng tôi lục tục rời khỏi phòng tắm Thổ để lên phòng “tự” tắm bồn.

Lần tắm hụt thứ nhất làm tăng thêm nỗi tò mò “tắm Thổ” của chúng

tôi. Không đợi lâu hơn nữa, vừa tới khách sạn ven biển ở thành phố Kusadasi,

chúng tôi đã hẹn nhau, 6h30 tập trung ở sảnh để đi tắm Thổ.

Trung tâm tắm, xông hơi và massage kiểu Thổ Nhĩ Kỳ của khách sạn

nằm ngay ở tầng trệt. Sau khi “đóng học phí” 20 đôla mỗi người, chúng tôi

được phát một chiếc khăn tắm để quấn quanh người và bị “lùa vào một phòng

xông hơi tập thể. 2 “bà chị” đi cùng đoàn cũng bị lùa chung vào căn phòng xông

 

hơi lổn nhổn cỡ chục đàn ông đóng mỗi chiếc “khố” nhỏ quanh người như thổ

dân Châu Phi ấy.

 

Nhoằng một cái, không hiểu các cô kéo tấm khăn kiểu gì, một tầng bọt

xà phòng dày tới ba chục phân đã trải lên người…

 

“3 người đầu tiên đi theo tôi”. Người hướng dẫn vào phòng xông hơi

gọi và 3 thằng đàn ông chúng tôi lẽo đẽo theo anh ta vào một phòng tắm. Căn

phòng đá cỡ 20 mét vuông có trang trí y hệt phòng tắm ở khách sạn trước. Một

chiếc bàn đá cẩm thạch hình lục lăng nằm giữa phòng và xung quanh là 4 bể

nước đá. Lần này khác ở chỗ, 2 cô gái xinh xắn, trắng muốt chỉ mặc bikini

đứng chờ sẵn ở đó. Chính xác hơn là các cô cũng quấn ngang hông một lớp

khăn dài hơn gang tay y hệt chúng tôi. Phía bên kia, một gã đàn ông râu quai

nón cao to lực lưỡng cũng quấn ngang hông một mảnh khăn tương tự.

 

A lê hấp!

Mảnh khăn mỏng quanh người chúng tôi nhanh chóng bị hai cô “phù

phép’” biến đi đâu mất. Trong khi chúng tôi còn đang ngượng nghịu lấy tay che

thì các cô đã ra lệnh ngồi xuống và múc nước từ kệ đá đổ ùm ùm lên người

chúng tôi. Chúng tôi còn mải cười như như nắc nẻ với cái cảnh “mẹ tắm cho

con” này thì anh bạn còn lại đang cãi nhau với gã Thổ đô vật cởi trần. Gã

định “đè” anh ra tắm nhưng anh dứt khoát không chịu bởi nhìn sang thấy cảnh

được “em út” tắm cho như chúng tôi sướng hơn. Cuối cùng, gã Thổ đành để

cho bạn tôi ngồi một góc chờ đến lượt hai mỹ nhân kia tắm cho.

Đổ nước chán lên người chúng tôi, hai mỹ nữ một người Thổ, một

người Nga ra lệnh cho hai chúng tôi nằm xuống. Chúng tôi vừa nằm sấp thì

lại được ra hiệu phải nằm ngửa. Hai mỹ nhân lấy chiếc khăn cũ vo vo lại

thành một mảnh bé tí ti rồi đặt lên “điểm cần thiết” trên người chúng tôi. Cả

hai chúng tôi vẫn nằm nhìn nhau cười “như được mùa” làm hai mỹ nhân cũng

cười theo. Hai cô lấy một cái khăn thô như xơ mướp đeo vào bàn tay rồi bắt

đầu kỳ cọ khắp người chúng tôi như người ta đánh giấy ráp cho đồ gỗ.

Chưa hết cơn cười thì cánh cửa phòng tắm lại mở, hai nhân nữa trong

 

đoàn bước vào, một nam một nữ. Chị nữ vội vã hét lên đòi ra khi nhìn thấy

cảnh tượng “tồng ngồng” trong phòng tắm.

“Ủa sao lại tắm chung nam nữ thế này, nữ phải có phòng tắm riêng

chứ.”

“Không có riêng tư gì hết, ở đây là unisex, không đọc biển báo à, không

phân biệt giới tính”. Chúng tôi trả lời.

Gã Thổ to con kiếm được khách thích quá vội vã kéo ngay chị nữ vào

tắm cho. Chị cũng được đặt nằm như xác ướp ngay cạnh chúng tôi, anh chàng

còn lại cũng ra ngồi góc như anh trước để đợi tới lượt “tiên tắm” hay “tắm

tiên” cũng được.

Trong lúc đó, hai cô gái đã lấy đâu ra cái xô trắng như xô nước rửa xe

máy ở Việt Nam. Hai cô vục vào đó một cái khăn vải rất dài và khi rút khăn ra,

toàn bộ tấm khăn đẫm nước xà phòng. Nhoằng một cái, không hiểu các cô kéo

tấm khăn kiểu gì, một tầng bọt xà phòng dày tới ba chục phân đã trải lên người

chúng tôi. Các cô bắt đầu xoa khắp người chúng tôi như massage.

 

“Như rửa xe.”

“Giữ cẩn thận cái nhẫn. Không nó kỳ cọ một hồi ra không thấy nhẫn

 

đâu.”

 

“Hỏi các cô này xem mình tắm cho các cô ý thì hết bao nhiêu tiền.”

Hai ông bạn ở ngoài vừa nhìn chúng tôi “được” tắm vừa châm chọc.

Được thể, chúng tôi tôi cũng kêu la để trêu tức: “Sướng quá, phê quá, tắm Thổ

có khác.” Anh bạn tắm cùng còn vờ nắm tay cô gái và bị cô phát đùa vào tay.

Cả phòng tắm nam nữ lộn xộn, vui như họp chợ, lời qua tiếng lại rôm rả như

đánh tổ tôm.

Khi chúng tôi vẫn chưa dứt được cơn cười thì lại nhận chỉ thị của hai cô

phải nằm sấp, một lớp bong bóng xà phòng nữa lại đổ ụp lên người chúng tôi

và lại là những cơn cười.

“Thế ngày nào em cũng làm ở đây à?”

“Vâng” Cô gái Thổ tắm cho chúng tôi bập bẹ mãi mới trả lời được,

không biết tiếng Anh của cô kém hay cô “giả vờ”kém.

Màn tắm tiếp tục bằng pha gội đầu bằng thứ xà phòng Thổ Nhĩ Kỳ và

kết thúc bằng màn tắm tráng. Thời gian tắm quảng cáo 30 phút sao mà trôi

nhanh thế. Chúng tôi được thay cho một chiếc khăn quấn người mới và mời ra

nằm thư giãn ở một giường xa lông bên ngoài. Không hiểu xà phòng gội đầu

kiểu gì, tóc chúng tôi vẫn bết vào như 3 ngày chưa gội.

“Thôi cũng đã, phê phết, biết thế nào là tắm Thổ.” Chúng tôi bảo nhau.

Hóa ra, cái sự tắm Thổ nó vẫn không đơn giản thế….

 

                      CHUYÊN MỤC NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT

Nguyễn Hy Vọng M.D.

         Cái hệ lụy chữ Hán Việt ( trích)

Hàn Quốc có chữ viết đánh vần từ thế kỷ 15, ta có chữ a b c đánh vần từ 1651. Còn Nhật bản vẫn mang 60% gánh nặng chữ Tàu , nhưng đã trả nợ sòng phẳng và trả lời xứng đáng cho người Tàu; vì trong 150 năm qua, họ văn minh hơn Tàu nhiều, nên đã đặt ra rất nhiều tiếng mới về kỹ thuật cho họ rồi các cụ như Lương khải Siêu và Khang hữu Vi, trong khi lao đao bên Nhật, cùng sau này cụ Hồ Thích chỉ việc khuân về Trung Quốc xài bằng thích, ai cũng tưởng là các cụ ấy đặt ra, mà các cụ nhà ta cũng tưởng thế nên vẫn lẩm cẩm vọng ngoại một cách đáng buồn cười. Nhưng cũng không sao, vì của thiên thì trả địa , đâu có mất đi đâu, bốn bể một nhà mà lị ! Tuy nhiên mấy ông Đại Hán không mấy khi chịu nhận là họ có mượn những dân xung quanh họ khá nhiều về ngôn ngữ và văn hóa, họ khi nào cũng tự cao tự đại là chỉ có cho mà không có mượn của ai cả, theo kiểu quân tử Tàu. Sự thật là họ mượn như điên, sau đây chỉ là vài thí dụ là chính Khổng tử, ông sư tổ của họ cũng nói như sau :

“Ta không biết Tế sạ * là gì, nghe đâu là tên gọi ngày lễ giao mùa đầu năm

của dân Man, họ nhảy múa, dựng nêu, đánh đu, uống rượu say mèm ! Ta không biết trà là gì, nghe đâu là một thứ lá trong rừng mà bọn người Man nấu mà uống cho giải nhiệt . Ta không biết lúa là gì, nghe đâu là một thứ cốc loại  mà bọn người Man trồng trên những cánh đồng ngập nước gọi là ló** ta chỉ biết ăn kê và lõa mạch thôi !

Và nhà Đông phương học nổi tiếng khắp Âu châu là ông Shafer đã nói như

sau:

much of the spiritual and imaginative part of their civilization, much of

what the world now think of as typically “chinese”, was originated among the

proto Thái people south of the Yang tse kiang, among the proto Tibetan people of the west, and, among the proto Mongolian people of their Northern region/ but it was less easy for the Chinese to acknowledge, or even to realize that they do borrow ideas and things made and life style of the foreigners, yes, in fact they did and at length”.

                (*)  Tế sạ chính là phiên âm chữ Tết của Việt

                (**) Ló là của lúa. Hiện nay vùng nghẹ An nhiêu nơi vẫn gọi lúa là ló.  Tàu bắt chước gọi theo y hệt là ló , nhưng Hán Việt đọc là lạc ! [lạc điền].

Ý kiến của Docago : Nhất tri vói tác giả là người Tàu đã mượn rất nhiều tiếng Việt cổ. Tuy nhiên họ dùng chữ  lạc( ló) để chỉ một loại cốc thì docago chưa găp, chưa biết chữ đó viết như thế nào.

                         CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE

                    Cái lạnh mùa đông đi kèm với mưa gió, áp suất động không khí tăng lên trong khi tim đập yếu đi, mạch máu đã xơ vữa sẵn bị co lai… là nguyên nhân vhinhs làm cho những người cao huyết áp khi gặp mưa gió lanh đột ngột bị tai biến mạch máu não ( đột quỵ).

Sau đây là một vài lời khuyên của bác sĩ ThS Phan Hữu Phước( bài đã đăng trên  Người Lao Động)

Theo điều tra của Tổ chức Y tế Thế giới, đột quỵ là một trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Tại 2/3 số quốc gia được khảo sát, tai biến này là 1 trong 3 nguyên nhân gây tử vong cao nhất. Nếu phát hiện và điều trị sớm, bệnh nhân sẽ được cứu sống và tránh những di chứng nặng nề.

Đột quỵ (còn gọi là tai biến mạch máu não, xuất huyết não) là tình trạng rối loạn chức năng thần kinh như hôn mê, liệt nửa người, nói đớ, nuốt bị sặc… Các biểu hiện này xuất hiện nhanh, đột ngột, thường tồn tại trên 24 giờ. Dựa vào tiến triển của bệnh trong 2-3 tuần đầu, giới chuyên môn chia đột quỵ thành 5 loại:

– Cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua: Khỏi hoàn toàn trước 24 giờ. Về sau, bệnh nhân có thể bị tai biến mạch máu não thực sự nếu không quan tâm đến việc điều trị và phòng ngừa.

– Thiếu máu não có hồi phục: Khỏi hoàn toàn sau 24 giờ bị liệt.

– Khỏi một phần và di chứng kéo dài.

– Không hồi phục hoặc nặng lên liên tục.

– Diễn tiến đến tử vong.

Xét nghiệm hình ảnh học là cách tốt nhất để chẩn đoán sớm và theo dõi tiến triển của đột quỵ, bao gồm chụp CT- Scan, MRI, DSA và SPECT. Mục đích của các xét nghiệm này gồm:

– Chẩn đoán sớm dạng đột quỵ (xuất huyết não hay nhũn não) hoặc loại trừ các bệnh khác như khối u, tụ máu dưới màng cứng và viêm não.

– Đánh giá tiến triển của vùng bị tai biến.

– Chỉ ra chỗ tắc nghẽn của động mạch nhằm hướng dẫn điều trị.

Trong vòng vài giờ sau khi tai biến mạch máu não xảy ra, các triệu chứng đột ngột xuất hiện:

– Yếu liệt hoặc tê rần ở vùng mặt, tay hoặc chân, đặc biệt là một bên cơ thể, chỉ một tay hoặc một chân.

– Lú lẫn, rối loạn lời nói hoặc hiểu biết (khó tìm từ hoặc không hiểu từ; nói líu ríu, lắp bắp).

– Không nhìn thấy ở một hay cả hai mắt, hoặc nhìn một hóa hai.

– Khó khăn khi bước đi, mất thăng bằng, chóng mặt hoặc khó phối hợp các động tác.

– Nhức đầu dữ dội mà không biết nguyên nhân. Suy giảm ý thức nhanh chóng. Mất thăng bằng, chóng mặt, nôn, kèm theo nhức đầu.

Trong một số trường hợp, người bệnh vẫn còn tỉnh táo, nhưng đa số bị giảm sút tri giác (như lơ mơ, ngủ gà, có thể hôn mê). Bệnh nhân có thể liệt nửa người, liệt mặt và các cơ hầu họng (gây nuốt khó, sặc khi ăn uống, nói khó), tiêu tiểu không tự chủ.

Khi xuất hiện các triệu chứng đột quỵ, người nhà bệnh nhân nên thực hiện 3 việc:

– Liên hệ với trung tâm cấp cứu hoặc bệnh viện gần nhất, nơi có trang bị phương tiện điều trị tai biến mạch máu não.

– Trấn an bệnh nhân.

– Theo dõi thường xuyên tri giác và tình trạng liệt của bệnh nhân.

Đa số bệnh nhân và gia đình không nhận biết được cơn đột quỵ đang xảy ra, hoặc không biết là cần cấp cứu ngay khi bệnh khởi phát. Do đó, họ mất nhiều thời gian cho những phương pháp dân gian như cạo gió, cắt lể… Những việc này chẳng những không có tác dụng gì mà còn làm giảm cơ hội chữa khỏi cho bệnh nhân.

Khả năng điều trị tai biến mạch máu não rất hạn chế, khó khăn và tốn kém. Các thuốc làm tan cục máu đông có thể khắc phục tình trạng tắc nghẽn mạch máu ở tim và ở não khi cơn đột quỵ mới xuất hiện nhưng giá lại rất đắt (gần 20 triệu đồng /mũi). Bệnh nhân dùng thuốc này phải được theo dõi bằng các kỹ thuật hiện đại và tốn kém như chụp SPECT hoặc MRI có tiêm thuốc cản quang.

Vì vậy, đối với đột quỵ, cách nhất là pPhòng ngừa và tránh tái phát bằng các phương pháp sau:

– Ngừng hút thuốc lá, vì thuốc lá là nguy cơ chính của bệnh mạch máu não. Người hút thuốc lá nhiều có thể bị đột quỵ dù chỉ ở tuổi trung niên.

– Điều trị tốt bệnh huyết áp cao (nguyên nhân chính gây đứt mạch máu não).

– Phòng và điều trị tiểu đường (yếu tố nguy cơ gây mảng xơ vữa động mạch lớn, dẫn đến thiếu máu ở não).

– Khắc phục tình trạng tăng cholesterol máu cùng với triglyceride máu.

– Phòng và trị bệnh đa hồng cầu (có thể gây cơn thiếu máu não hay nhũn não).

Docago.wordpress.com số ra thứ 2 ngày 26/9/2011 tức 29 tháng 8 năm Tân Mão)

                   

CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Đỗ Anh Thơ ( biên soạn)

 

      Hình ảnh văn hóa tư tưởng trên thế giới ( tiếp theo)

                    (Illustration of Thinking culture in the World)

Chương 6: Tư tưởng pháp chính của Aristotle    

Aristotle (384-322 TCN) là một triết gia, nhà khoa học và nhà vật lý Hy Lạp, sinh ở Stagira vì thế đôi khi người ta còn gọi ông là ‘Aristotle người Stagia’. Cùng với Plato, Aristotle được coi là một trong các nhà triết học Hy Lạp quan trọng nhất, có ảnh hưởng trong nhiều thế kỷ về sau.

Aristotle chào đời tại Stagira thuộc miền Thrace năm 384 trước Tây Lịch. Stagira là một tỉnh nhỏ, là thuộc địa của Hy Lạp bên bờ phía bắc biển Aegean mà ngày nay có lẽ là Stavro. Cả hai cha và mẹ của Aristotle đều gốc người Ionien. Cha Aristotle, ông Nichomachus, là một thầy thuốc danh tiếng tại triều đình vua Amyntas II, cha của vua Philip xứ Macedonia. Mẹ của Aristotle vốn người miền Chalcis. Có lẽ trong 17 năm đầu, Aristotle đã sống với cha mẹ và được cha dạy cho về Y Khoa. Năm 17 tuổi, Aristotle tới thành Athens và theo hoc nghề thầy thuốc .

Năm 367, ông tới Athens và gắn bó đời mình vào trường Academy của Plato . Vào thời gian này, Plato đã 61 tuổi và đã liên quan tới nền chính trị của Syracuse. Vì vậy Hàn Lâm Viện Academos đặc biệt chú trọng về Luật Pháp, Chính Trị, thêm vào là Toán Học và Thiên Văn. Ngày nay, người ta chỉ hiểu biết rất mơ hồ về cuộc sống của Aristotle trong 20 năm tại Hàn Lâm Viện. Ông gắn bó với Plato cho đến khi thầy qua đời. Theo như truyền thống, Aristotle phụ trách giảng dạy môn Tu Từ Pháp (Rhetoric). Ông cũng soạn ra vài tập Đối Thoại (Dialogues) theo khuôn mẫu của Thầy Plato. Các tác phẩm này đều trở nên rất nổi danh vì lối hành văn trôi chảy và trong sáng. Có người cho rằng giữa Aristotle và Plato có sự bất đồng ý kiến trầm trọng, nhưng không ai tìm ra được các dẫn chứng đáng tin cậy. Có lẽ đối với Plato, Aristotle đã bất đồng ý về nhiều giáo điều song ông lúc nào cũng kính trọng Thầy và gìn giữ lòng biết ơn. Khi Plato qua đời vào năm 347, Aristotle viết một bài điếu văn trong đó ông đã ca tụng Thầy.

Theo Diogene Laerce, Aristotle mắc tật nói lắp. Ông có đôi mắt nhỏ, đôi chân gầy còm và rất ưa thích quần áo đẹp. Khả năng làm việc của Aristotle rất lớn lao và người ta kết luận như vậy căn cứ vào số tác phẩm do ông đã viết ra. Muốn giảm bớt thời giờ ngủ và tăng thêm số giờ làm việc, Aristotle đã nghĩ ra phương pháp sau: khi đọc sách hay lúc làm việc về khuya, ông cầm nơi tay trái một quả cầu bằng đồng ở phía trên một chiếc chậu. Nếu vì ngủ gật mà quả cầu rơi xuống thì tiếng động sẽ đánh thức ông dậy. Aristotle bị đau dạ dầy và để làm giảm bớt nỗi đau đớn, ông thường đeo ở trước ngực một cái bị đựng dầu đun nóng.

Vào năm 347 khi Plato qua đời, Speusippus trở thành người đứng đầu trường Academos. Aristotle đã cùng với Xenocrates và một vài môn đệ của Plato, rời thành Athens tới Assos, sống với Hermias là một học trò cũ của Plato và cũng là bạo chúa của hai tỉnh Atarneus và Assos trong miền Tiểu Á (Asia Minor). Aristotle có cảm tình rất nhiều với Hermias và đã kết hôn cùng Pithias, người con gái nuôi của bạo chúa. Hermias cũng cảm thấy sung sướng khi được Aristotle sống ở gần mình.

Thời bấy giờ, Hermias đang điều khiển một lực lượng giữa hai xứ hùng mạnh là Macedonia và Ba Tư. Luôn luôn bạo chúa thù nghịch với một trong hai phe kể trên, để rồi rơi vào cạm bẫy của Mentor, đại tướng người Hy Lạp đi theo Ba Tư. Hermias bị trao cho Artaxerxes và bị treo cổ. Cái chết thảm thương của Hermias đã ảnh hưởng rất lớn tới Aristotle.

Vì không cảm thấy an toàn tại Atarneus, Aristotle đã theo lời khuyên của Theophrastus, một môn đệ, dọn tới Mitylene thuộc miền Lebos vào năm 344. Chính tại nơi này, Aristotle đã nghiên cứu trong hai năm trường môn Sinh Học, đặc biệt là ngành Hải Sinh Học (marine biology).

Năm 342, Aristotle được mời tới Macedonia để dạy dỗ Thái Tử Alexander khi đó mới 13 tuổi. Lời mời của Vua Philip II có thể là do lúc tuổi trẻ, Aristotle đã từng sống tại triều đình này, có thể là do danh tiếng của ông nhờ các tập Đối Thoại, nhưng cũng chính vì Aristotle đã từng liên lạc chặt chẽ với Hermias là người đã tỏ ra thiên về Macedonia và chống lại Ba Tư. Aristotle đã ở lại Macedonia trong 7 năm. Theo như thông lệ, nhà Đại Hiền Triết đã dạy cho Thái Tử về Chính Trị và Tu Từ Pháp, và Aristotle cũng Thời bấy giờ, Hermias đang điều khiển một lực lượng giữa hai xứ hùng Thời bấy giờ, Hermias đang điều khiển một lực lượng giữa hai xứ hùng mạnh là Macedonia và Ba Tư. Luôn luôn bạo chúa thù nghịch với một trong hai phe kể trên, để rồi rơi vào cạm bẫy của Mentor, đại tướng người Hy Lạp đi theo Ba Tư. Hermias bị trao cho Artaxerxes và bị treo cổ. Cái chết thảm thương của Hermias đã ảnh hưởng rất lớn tới Aristotle.

Vì không cảm thấy an toàn tại Atarneus, Aristotle đã theo lời khuyên của Theophrastus, một môn đệ, dọn tới Mitylene thuộc miền Lebos vào năm 344. Chính tại nơi này, Aristotle đã nghiên cứu trong hai năm trường môn Sinh Học, đặc biệt là ngành Hải Sinh Học (marine biology).

Năm 342, Aristotle được mời tới Macedonia để dạy dỗ Thái Tử Alexander khi đó mới 13 tuổi. Lời mời của Vua Philip II có thể là do lúc tuổi trẻ, Aristotle đã từng sống tại triều đình này, có thể là do danh tiếng của ông nhờ các tập Đối Thoại, nhưng cũng chính vì Aristotle đã từng liên lạc chặt chẽ với Hermias là người đã tỏ ra thiên về Macedonia và chống lại Ba Tư. Aristotle đã ở lại Macedonia trong 7 năm. Theo như thông lệ, nhà Đại Hiền Triết đã dạy cho Thái Tử về Chính Trị và Tu Từ Pháp, và Aristotle cũng soạn một tác phẩm của Homer để giảng cho Alexander. Aristotle đã cố gắng làm phát triển nơi Thái Tử các đức tính về điều độ và lý trí mà đối với ông, rất cần thiết cho một vương quốc. Có lẽ chính vào dịp này, Aristotle đã soạn ra cuốn “Khảo Sát về Vương Quyền” (Traité de la Royauté) để giáo huấn Thái Tử nhưng tác phẩm này đã bị thất lạc hoàn toàn.

Năm 340 khi vua Philip đi chinh chiến nơi xa, Thái Tử Alexander nắm giữ quyền hành. Vào thời gian này, Aristotle lập ra một ngôi trường và ông cũng giành thời giờ cho riêng mình để học hỏi thêm. Aristotle cũng khuyên Alexander cho kiến thiết lại Stagira, nơi đã bị tàn phá vài năm trước và có lẽ cũng do ông, thành phố này có một hiến pháp.

Alexander rất quyến luyến ông Thầy và khi đã thay cha lên ngôi vua, vẫn lưu giữ Aristotle bên cạnh. Thái Tử luôn luôn tỏ lòng biết ơn đối với Thầy cũ bằng cách biệt đãi nhà Đại Hiền Triết trong mọi công việc. Nhưng nếu Alexander rất mến yêu Thầy thì trái lại, ít khi nghe theo lời khuyên bảo của Thầy vì “một sự di truyền kỳ lạ hình như đã gieo vào tâm hồn Thái Tử tính tự kiêu vô hạn, với một ý chí muốn ngồi ngang hàng cùng các thần linh”.

Vào năm 335 khi Đại Đế Alexander đi chinh phục châu Á thì Aristotle tự thấy rằng nhiệm vụ của mình đã chấm dứt. Ông đề nghị để người cháu tên là Callisthenes thay mình làm cố vấn cho Đại Đế. Alexander đã chấp nhận lời Năm 342, Aristotle được mời tới Macedonia để dạy dỗ Thái Tử Alexander khi đó mới 13 tuổi. Lời mời của Vua Philip II có thể là do lúc tuổi trẻ, Aristotle đã từng sống tại triều đình này, có thể là do danh tiếng của ông nhờ các tập Đối Thoại, nhưng cũng chính vì Aristotle đã từng liên lạc chặt chẽ với Hermias là người đã tỏ ra thiên về Macedonia và chống lại Ba Tư. Aristotle đã ở lại Macedonia trong 7 năm. Theo như thông lệ, nhà Đại Hiền Triết đã dạy cho Thái Tử về Chính Trị và Tu Từ Pháp, và Aristotle cũng soạn một tác phẩm của Homer để giảng cho Alexander. Aristotle đã cố gắng làm phát triển nơi Thái Tử các đức tính về điều độ và lý trí mà đối với ông, rất cần thiết cho một vương quốc. Có lẽ chính vào dịp này, Aristotle đã soạn ra cuốn “Khảo Sát về Vương Quyền” (Traité de la Royauté) để giáo huấn Thái Tử nhưng tác phẩm này đã bị thất lạc hoàn toàn.

Năm 340 khi vua Philip đi chinh chiến nơi xa, Thái Tử Alexander nắm giữ quyền hành. Vào thời gian này, Aristotle lập ra một ngôi trường và ông cũng giành thời giờ cho riêng mình để học hỏi thêm. Aristotle cũng khuyên Alexander cho kiến thiết lại Stagira, nơi đã bị tàn phá vài năm trước và có lẽ cũng do ông, thành phố này có một hiến pháp.

Alexander rất quyến luyến ông Thầy và khi đã thay cha lên ngôi vua, vẫn lưu giữ Aristotle bên cạnh. Thái Tử luôn luôn tỏ lòng biết ơn đối với Thầy cũ bằng cách biệt đãi nhà Đại Hiền Triết trong mọi công việc. Nhưng nếu Alexander rất mến yêu Thầy thì trái lại, ít khi nghe theo lời khuyên bảo của Thầy vì “một sự di truyền kỳ lạ hình như đã gieo vào tâm hồn Thái Tử tính tự kiêu vô hạn, với một ý chí muốn ngồi ngang hàng cùng các thần linh”.

Vào năm 335 khi Đại Đế Alexander đi chinh phục châu Á thì Aristotle tự thấy rằng nhiệm vụ của mình đã chấm dứt. Ông đề nghị để người cháu tên là Callisthenes thay mình làm cố vấn cho Đại Đế. Alexander đã chấp nhận lời đề nghị và còn dùng Callisthenes làm sử gia theo đoàn quân viễn chinh. Aristotle là người hiểu rõ tính tình của nhà vua học trò cũ, ông đã từng nhắc nhở cháu ông phải thận trọng trong lời nói, nhưng Callisthenes đã không cản được tấm lòng bảo vệ đường lối chính trị thuần Hy Lạp trong khi Đại Đế Alexander lại tỏ ra nhượng bộ trước ảnh hưởng của châu Á. Chính vì sự bất cẩn này, Callisthenes đã bị kết án tử hình và theo lời Diogene Laerce, ông ta bị quăng cho thú dữ phân thây.

Sau khi từ biệt Alexander, Aristotle trở lại thành Athens. Tại nơi này, Xenocrates đang điều khiển Hàn Lâm Viện Academos. Aristotle liền lập ra trường Lyceum, gần đền Apollon Lycien, vì vậy ngày nay mới có danh từ “Lycée”. Trường Lyceum là nơi tôn thờ Thần Muse, vị nữ thần chủ về Văn Chương, Nghệ Thuật và Khoa Học. Nhà trường có rất nhiều học cụ, kể cả bản đồ, lại có một thư viện rất đầy đủ. Tại ngôi trường này, Aristotle trình bày các ý tưởng và giảng giải cho học viên trong các cuộc dạo chơi ngoài vườn, vì vậy ngôi trường của Aristotle còn được gọi là “Trường Dạo Chơi” (Peritatetic school) do danh từ Peripatetic (dạo chơi) theo tiếng Hy Lạp.

Nền giáo dục do Aristotle chủ trương gồm hai phần: phần truyền khẩu và phần công khai (exoteric)(phổ biến ra bên ngoài). Nhà Đại Hiền Triết đề cập tới các câu hỏi hoàn toàn lý thuyết cho các học viên mới vào buổi sáng còn buổi chiều, Aristotle giảng dạy những học viên cũ về nhiều điều làm mở mang kiến thức trong đó môn Tu Từ Pháp chiếm phần lớn thời gian. Trong 12 năm liền, Aristotle vừa thuyết giảng, vừa viết sách và phổ biến nhiều tác phẩm đề cập tới hầu hết kiến thức của thời đại. Trong các năm cuối cùng sống tại Lyceum, Aristotle đã thiết lập bảng liệt kê các thế vận kỳ, cũng như lập ra bảng niên biểu kịch nghệ của thành Athens mà về sau, bảng này đã được dùng làm căn bản để ấn định ngày tháng của các vở kịch Hy Lạp.

Aristotle còn biên khảo về Hiến Pháp tuy nhiên, ngày nay chỉ còn lại tác phẩm “Khảo Sát về Hiến Pháp của Thành Athens” (On the Athenian Constitution). Khi Alexander chinh phục xứ Ba Tư, Đại Đế đã cho người đem về tặng Thầy cũ các tài liệu và mẫu hải sinh vật nhờ vậy, Aristotle hoàn thành cuốn sách “Tính Chất của các Sinh Vật” (La Nature des Animaux).

Năm 323 khi Đại Đế Alexander qua đời, cuộc sống của Aristotle cũng bị ảnh hưởng. Mặc dù Aristotle chỉ còn rất ít liên lạc với Alexander, nhất là khi người cháu của ông bị tử hình, nhưng nhà Đại Hiền Triết thường đi lại với Antipater và được viên tổng trấn này che chở. Đảng Quốc Gia thành Athens do Demosthenes lãnh đạo đã nổi dậy chống lại phe Macedonia sau khi Đại Đế Alexander không còn nữa. Aristotle nhận thấy đời sống và tài sản của mình bị đe dọa. Người ta đã tố cáo ông phạm tội bất kính (impiety) vì 20 năm trước, ông đã sáng tác một bài thơ tưởng niệm Hermias trong khi danh dự này phải giành cho Thượng Đế. Aristotle nhớ lại số phận của Socrates rồi không đợi tòa án xét xử, vì chắc chắn ông sẽ bị kết án, Aristotle rời bỏ thành Athens, trốn về quê mẹ là miền Chalcis. Ông tuyên bố “Tôi sẽ không để người Athens vi phạm Triết Học lần thứ hai” (I will not let the Athenians offend twice against Philosophy).

Sống tại Chalcis được vài tháng, Aristotle qua đời vào năm 322 có lẽ do bệnh đau dạ dầy, một căn bệnh đã hành hạ ông trong nhiều năm trường. Ông để lại hai người con, con trai cùng tên với ông nội là Nichomachus và người con gái mang tên mẹ Pithias. Theo như lời yêu cầu, nắm xương tàn của nhà Đại Hiền Triết được chôn cất tại Stagira cùng với hài cốt của Pithias, vợ ông.
2/ Các tác phẩm của Aristotle.

Các tác phẩm của Aristotle được chia làm ba loại: (1) các bài viết phổ thông (popular writings), (2) các sách ghi chép (memoranda) và (3) các sách luận đề (treatises).

Các bài viết phổ thông đa số gồm các tập đối thoại (dialogues) theo mẫu của Plato và được viết ra khi Aristotle còn cư ngụ tại trường Academos. Các công trình sáng tạo này được nhà Đại Hiền Triết gọi là các bài viết phổ biến ngoại (exoteric writings) với ý định dành cho công chúng bên ngoài trường học, hơn là các học viên của trường. Ngoại trừ một số đoạn rời rạc còn sót lại, hầu hết các tập đối thoại này đã bị thất lạc.

Các sách ghi chép là tập hợp nhiều tài liệu khảo cứu và các sử liệu (historical records). Những sách này do Aristotle và các môn đệ của ông thực hiện với chủ đích dùng làm nguồn tư liệu cho các học giả. Giống như các bài viết phổ thông, hầu hết loại sách ghi chép đều bị thất tán. Còn lại cho tới ngày nay là các sách luận đề, được viết ra dùng làm sách giáo khoa hay lời ghi giảng (lecture notes) tại Trường Lyceum, liên quan tới mọi ngành của Kiến Thức và Nghệ Thuật. Không giống như các bài viết phổ thông, các sách luận đề chỉ được dùng cho học viên trong trường, vì vậy được gọi là các công trình phổ biến nội (esoteric works). Danh tiếng của Aristotle được căn cứ vào các công trình này và đây là các tác phẩm mà các nhà biên tập đời sau đã thu thập và xếp đặt.

Công trình khảo cứu của Aristotle về Luận Lý (Logic) được xếp chung vào bộ tác phẩm gọi tên là Organon, có nghĩa là “cách dùng” (instrument) bởi vì đây là phương tiện (the means) để đạt được kiến thức (positive knowledge), là cách để tìm hiểu tư tưởng. Bộ Organon gồm các tác phẩm The Categories (các Loại), The Prior and Posterior Analytics (các Phân Tích trước và sau), The Topics (các Chủ Đề) và On Interpretation (Về cách Diễn Đạt). Aristotle là nhà triết học đầu tiên đã phân tích phương pháp nhờ đó một số định đề (propositions) được suy diễn theo luận lý là đúng, căn cứ vào một số định đề khác đã được công nhận. Ông tin rằng tiến trình suy diễn luận lý này được đặt trên một hình thức tranh luận mà ông gọi là Tam Đoạn Luận (Syllogism). Trong một tam đoạn luận, một định đề được suy diễn từ hai định đề đúng khác. Một thí dụ của lý luận này như sau: (1) mọi người đều sẽ qua đời, (2) Socrates là một con người, vì thế có thể đi tới kết luận rằng (3) Socrates sẽ qua đời.

Tam đoạn luận đã giữ một vài trò quan trọng trong nền Triết Học sau này do tạo nên các hệ thống lý luận phức tạp hơn. Trong phép luận lý, Aristotle đã phân biệt rõ hai thứ, là biện chứng (dialectic) và phân tích (analytic). Theo nhà Đại Hiền Triết, biện chứng chỉ trắc nghiệm các ý kiến (opinions) xét theo tính nhất quán về lý luận (logical consistency), còn các công trình phân tích (analytic works) được suy diễn từ các nguyên tắc dựa trên các kinh nghiệm và quan sát rõ ràng. Đây là sự khác biệt với lập trường của Hàn Lâm Viện của Plato, nơi cho rằng biện chứng là phương pháp duy nhất thích hợp với Khoa Học và Triết Học.

Đối với Aristotle, bản chất của thiên nhiên là thay đổi và ông đã định nghĩa môn triết học của thiên nhiên là sự khảo sát các sự vật đổi thay. Trong tác phẩm Physics (Vật Lý), Aristotle đã phân biệt “hình thể” (form) với “chất liệu” (matter) của một vật, chẳng hạn như khi một nhà điêu khắc tạc ra một bức tượng bán thân bằng đồng, chất liệu là đồng và hình thể là hình nửa người. Aristotle đã nghiên cứu các nguyên nhân (causes) của sự thay đổi và phân biệt bốn loại: (1) nguyên nhân chất liệu (material cause) là thứ mà một vật được làm ra, (2) nguyên nhân hữu hiệu (efficient cause) là hành động của nhà điêu khắc, là nguồn gốc của chuyển động (source of motion), (3) nguyên nhân hình thể (formal cause) là hình dáng bên ngoài, là loại (kind, type) để xếp hạng và (4) nguyên nhân cuối cùng (final cause) là chương trình (plan), là kiểu mẫu (design) hay mục đích của người sáng tạo hay phát minh.

Aristotle cũng nghiên cứu chuyển động của các thiên thể qua tác phẩm On the Heavens (Về Bầu Trời) và tìm hiểu các thay đổi khi một vật được tạo ra
Aristotle là nhà triết học đầu tiên đã phân tích phương pháp nhờ đó một số định đề (propositions) được suy diễn theo luận lý là đúng, căn cứ vào một số định đề khác đã được công nhận. Ông tin rằng tiến trình suy diễn luận lý này được đặt trên một hình thức tranh luận mà ông gọi là Tam Đoạn Luận (Syllogism). Trong một tam đoạn luận, một định đề được suy diễn từ hai định đề đúng khác. Một thí dụ của lý luận này như sau: (1) mọi người đều sẽ qua đời, (2) Socrates là một con người, vì thế có thể đi tới kết luận rằng (3) Socrates sẽ qua đời.

Tam đoạn luận đã giữ một vài trò quan trọng trong nền Triết Học sau này do tạo nên các hệ thống lý luận phức tạp hơn. Trong phép luận lý, Aristotle đã phân biệt rõ hai thứ, là biện chứng (dialectic) và phân tích (analytic). Theo nhà Đại Hiền Triết, biện chứng chỉ trắc nghiệm các ý kiến (opinions) xét theo tính nhất quán về lý luận (logical consistency), còn các công trình phân tích (analytic works) được suy diễn từ các nguyên tắc dựa trên các kinh nghiệm và quan sát rõ ràng. Đây là sự khác biệt với lập trường của Hàn Lâm Viện của Plato, nơi cho rằng biện chứng là phương pháp duy nhất thích hợp với Khoa Học và Triết Học.

Đối với Aristotle, bản chất của thiên nhiên là thay đổi và ông đã định nghĩa môn triết học của thiên nhiên là sự khảo sát các sự vật đổi thay. Trong tác phẩm Physics (Vật Lý), Aristotle đã phân biệt “hình thể” (form) với “chất liệu” (matter) của một vật, chẳng hạn như khi một nhà điêu khắc tạc ra một bức tượng bán thân bằng đồng, chất liệu là đồng và hình thể là hình nửa người. Aristotle đã nghiên cứu các nguyên nhân (causes) của sự thay đổi và phân biệt bốn loại: (1) nguyên nhân chất liệu (material cause) là thứ mà một vật được làm ra, (2) nguyên nhân hữu hiệu (efficient cause) là hành động của nhà điêu khắc, là nguồn gốc của chuyển động (source of motion), (3) nguyên nhân hình thể (formal cause) là hình dáng bên ngoài, là loại (kind, type) để xếp hạng và (4) nguyên nhân cuối cùng (final cause) là chương trình (plan), là kiểu mẫu (design) hay mục đích của người sáng tạo hay phát minh.

Aristotle cũng nghiên cứu chuyển động của các thiên thể qua tác phẩm On the Heavens (Về Bầu Trời) và tìm hiểu các thay đổi khi một vật được tạo ra hay bị hủy diệt. Khoa Vật Lý của Aristotle là khoa học thiên nhiên bao gồm bên trong các bộ môn Thiên Văn, Khí Tượng, Thực Vật Học và Sinh Học. Về Thiên Văn, Aristotle cho rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ, được tạo nên do bốn chất là đất, không khí, lửa và nước. Aristotle là nhà sinh học đầu tiên của thế giới. Trái với Plato chú trọng vào Toán Học, Aristotle đã thu thập rất nhiều mẫu động vật và thực vật, tìm hiểu các đặc tính, yếu tố liên

quan. Về động vật học (zoology), Aristotle cho rằng một chủng loại tiếp tục sinh sản theo cùng một khuôn mẫu và không có cách tiến hóa.
Aristotle tìm kiếm các nguyên tắc căn bản nhất và tổng quát nhất của kiến thức (knowledge) và sự thật (reality). Bởi vì chỉ có Thượng Đế (God) là không thay đổi, nhà Đại Hiền Triết gọi ngành nghiên cứu Thượng Đế là Thần Học (theology). Đối với ông, hai bộ môn Đạo Đức Học (ethics) và Chính Trị Học (politics) đều khảo cứu kiến thức thực tế, đây là sự hiểu biết cho phép con người hành động đúng cách và sống hạnh phúc. Qua tác phẩm đề tặng cho con trai tên là Nichomachus và được gọi tên là Nichomachean Ethics (Đạo Đức Học của Nichomachus), Aristotle đã phân tích cá tính (character) và trí thông minh (intelligence) khi những tính chất này liên quan đến hạnh phúc, và ông cho rằng một cuộc đời hạnh phúc của con người là cuộc đời làm theo lý trí (reason).

Về chính trị, Aristotle khảo sát sự liên quan giữa lý tưởng, luật pháp, tập quán và tài sản trong các trường hợp thực tế. Ông công nhận chế độ nô lệ (slavery) nhưng nhấn mạnh rằng chủ nhân không nên lạm dụng quyền hành bởi vì chủ nhân và người nô lệ có các quyền lợi như nhau. Aristotle đã viết ra cuốn “Hiến Pháp của Thành Athens” (The Constitution of Athens) trong khi bộ sưu tập của Thư Viện Lyceum gồm 158 bản Hiến Pháp của dân Hy Lạp và các quốc gia khác nhau.

Vài tác phẩm quan trọng khác của Aristotle là các cuốn Rhetoric (Tu Từ Pháp), Politics (Chính Trị) và Poetics (Thơ Phú). Qua tác phẩm sau cùng này, Aristotle khảo cứu bản chất của bi kịch (tragedy), lấy dẫn chứng từ bi kịch Oedipus Rex của Sophocles, và tin rằng bi kịch đã ảnh hưởng tới khán giả do gợi lên các cảm xúc như sợ hãi, thương xót, và cách tẩy sạch những xúc động này được ông gọi là “carthasis”.
/ Ảnh hưởng của nhà Đại Hiền Triết Aristotle.

Sau khi nhà Đại Hiền Triết Aristotle qua đời, nền Triết Học của ông được giảng dạy tại Trường Lyceum do các môn đệ thuộc nhiều thế hệ sau. Một trong các nhà triết học này là Critolaus đã qua kinh thành Rome vào năm 155 trước Tây Lịch nhờ đó người La Mã được biết tới nền Triết Học Hy Lạp. Vào năm 50 trước TL, Andronicus người đảo Rhodes, đã ấn hành các tác phẩm của Aristotle nhờ đó nhiều học giả đã học tập và phân tích nền Triết Học kể trên, đặc biệt tại xứ Alexandria.

Sau khi Đế Quốc La Mã suy tàn, kiến thức về nền Triết Học của Aristotle bị hầu như quên lãng, nhất là trong khoảng thời gian từ năm 500 sau TL tới thế kỷ thứ 9. Sang thế kỷ 9 này, các học giả người Ả Rập đã dịch các tác phẩm

Sau khi nhà Đại Hiền Triết Aristotle qua đời, nền Triết Học của ông được giảng dạy tại Trường Lyceum do các môn đệ thuộc nhiều thế hệ sau. Một trong các nhà triết học này là Critolaus đã qua kinh thành Rome vào năm 155 trước Tây Lịch nhờ đó người La Mã được biết tới nền Triết Học Hy Lạp. Vào năm 50 trước TL, Andronicus người đảo Rhodes, đã ấn hành các tác phẩm của Aristotle nhờ đó nhiều học giả đã học tập và phân tích nền Triết Học kể trên, đặc biệt tại xứ Alexandria.

Sau khi Đế Quốc La Mã suy tàn, kiến thức về nền Triết Học của Aristotle bị hầu như quên lãng, nhất là trong khoảng thời gian từ năm 500 sau TL tới thế kỷ thứ 9. Sang thế kỷ 9 này, các học giả người Ả Rập đã dịch các tác phẩm của Aristotle sang ngôn ngữ của họ và đưa chúng vào thế giới Hồi giáo. Nhà triết học người Tây Ban Nha gốc Ả Rập tên là Averroes thuộc thế kỷ 12 là học giả danh tiếng nhất, đã nghiên cứu và nhận xét về Aristotle. Qua thế kỷ 13, các tác phẩm của Aristotle lại được quan tâm do các học giả Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo và Hồi giáo, và Thánh Thomas Aquinas, một trong các nhà triết học gây ảnh hưởng lớn mạnh nhất, đã dùng nền Triết Học của Aristotle làm căn bản cho các tư tưởng Thiên Chúa giáo thời đó. Dante Alighieri, nhà thơ bậc nhất của thời Trung Cổ, đã gọi Aristotle là “Bậc Thầy của những người hiểu biết”.

Lý thuyết về ngành Động Vật Học của Aristotle đã không thay đổi và được giảng dạy tại tất cả các trường học trong nhiều thế kỷ cho tới khi nhà khoa học người Anh Charles Darwin đề cập tới Thuyết Tiến Hóa vào thế kỷ 19. Học thuyết của Aristotle cũng giữ một vai trò quan trọng trong bộ môn Thần Học và trước thế kỷ 20, môn Luận Lý (Logic) được coi là của Aristotle.

Ảnh hưởng của các ý tưởng, học thuyết và triết học của nhà Đại Hiền Triết Aristotle đã tỏa rộng, thấm nhập vào ngôn ngữ Khoa Học và Triết Học của nhân loại, giúp ích vào công cuộc tìm hiểu kiến thức và lương tri lương tri

Tại trường của Platon, ông viết nhiều đối thoại được tán dương là rất hùng hồn. Nhưng nay chỉ tồn tại vài đoạn tản mác. Năm 347, ông sang ở Tiểu Á và Mitilene, Leobos. Năm 342, ông được vua Philip xứ Macedonia mời làm gia sư cho hoàng tử Alexander, người về sau trở thành Ðại đế.

Năm 325, Aristotle quay lại Athens, mở trường Lyceum. Ðược Alexander Ðại đế hỗ trợ, ông lập ra vươn bách đầu tiên của loài người để làm cơ sở học hỏi. Tại hai nơi đó, người ta kể rằng thầy lẫn trò trong các buổi học tập đều đi tới đi lui không ngừng. Sau khi Ðại đế Alexander chết (325 TCN), tại Athens nổi lên phong trào bài xích người Macedonia, Aristotle bị kết tội không sùng bái thần linh. Có lẽ cảm thấy mình sẽ chung số phận với thày thế truyền của mình là Socrates nên ông bỏ trốn tới Chalcis ở Enbea. Qua năm sau,  tự tử lúc ấy ông mới 62 tuổi.

Công trình của Aristotle mà hậu thế có được, phần nhiều là những bài giảng của ông do môn đệ ghi chép và đích thân ông duyệt lại. Tới thế kỷ thứ nhất trước công nguyên, chúng lại được biên tập thêm lần nữa. trong số đó, chủ yếu là cuốn Organum, gồm 6 luận văn về luận lý học;

                                            (Tượng Aristotle lúc còn trẻ)

Physics (vật lý học); Metaphysics (siêu hình học); De Anima (bàn về loài vật); Nichomachean EthicsEudemian (đạo đức học); Rhetoric (khoa hùng biện); và một số tác phẩm về sinh học cùng vật lý học. Tới thế kỷ 19, người ta tìm được cuốn Constitution of Athens (Hiến pháp Athens), trong đó ông tường trình về chính quyền của thành quốc Athens.

Thời gian tại trường Lyceum, Aristotle chú trọng tới sự quan sát trực tiếp thiên nhiên và ông nhấn mạnh: trong khoa học, lý thuyết phải đi đôi với thực tế. Ông đánh giá triết học là môn học thể hiện sự suy xét sâu sắc và thận trọng các nguyên lý số một có tính hiển nhiên và bất biến, hình thành nên toàn bộ tri thức. Ðối với Aristotle, ‘luận lý học là khí cụ cơ bản cho mọi thẩm tra, và tam đoạn luận là chuỗi lập luận mà hết thảy các tư tưởng dựa trên lý tính phải đi theo’. Ông đưa ra khái niệm phạm trù vào sử dụng trong luận lý học, qua đó, ông dạy rằng thực tại có thể được xếp loại theo vài phạm trù như bản thể (phạm trù số một), phẩm tính, lượng tính, tương quan, sự ấn định cụ thể trong thời gian và không gian, hành động, đam mê hoặc thụ động, vai trò và hoàn cảnh.

Aristotle cũng giảng dạy rằng nhận thức về một sự vật —nằm ở phía bên kia sự phân loại và mô tả nó — đòi hỏi lời giải thích lý do hiện hữu của nó. Ông đề ra bốn nguyên nhân, hay bốn nguyên tắc giải thích: nguyên nhân chất liệu (bản chất làm thành vật ấy); nguyên nhân dạng thức (hình thể dự kiến của nó); nguyên nhân hiệu ứng (tác nhân thúc đẩy hoặc dựng lên nó); và nguyên nhân tối hậu (cứu cánh hoặc chức năng của nó).

Trong tư tưởng hiện đại, người ta xem nguyên nhân hiệu ứng là lời giải thích có tính trung tâm nhưng đối với Aristotle thì nguyên nhân tối hậu đứng ở địa vị chủ yếu. Ông dùng phép rút gọn các nguyên nhân để xét tương quan giữa các dạng thức và vật chất và các kết luận của ông khác biệt sắc nét với Plato. Dạng thức (form) của Aristotle hoàn toàn khác với hình thái (form) của thầy mình. Aristotle tin rằng mọi dạng thức đều hiện hữu bất phân ly và nội tại (ở bên trong) chất liệu của nó — trừ Thượng đế hoặc Ðấng Thiêng liêng. Như thế, trong hệ thống của Aristotle, dạng thức và vật chất cùng nhau lập thành một thực tại cá biệt và cụ thể, trong khi hệ thống của Plato cho rằng thực tại cụ thể cùng nhau chia sẻ một hình thái nhưng không là hiện thân của hình thái mà chỉ là chiếc bóng hoặc bản sao bất toàn của nó.

Aristottle tin rằng dạng thức tác động khiến vật chất chuyển động cùng xác định sự chuyển động ấy như một quá trình để tiềm năng vật chất (vật tự thân – thing itself) trở thành cái thật sự của dạng thức (chuyển động tự thân – motion itself). Như hạt bắp trở thành cây bắp rồi trái bắp, chứ không trở thành cây lúa rồi hạt thóc. Ông cho rằng chỉ duy nhất Thượng đế

 

  Lễ hội tôn giáo Hy Lap ( nguồn BKTT Larousse)

là dạng thức đơn thuần, như một ‘chuyển động bất động’, như nguyên nhân tối hậu, ngài là cùng đích của toàn bộ sự chuyển động.

Ðạo đức học Aristototle hoàn toàn phản ánh siêu hình học Aristotle. Theo bước Plato, ông lập luận rằng cái thiện và đức hạnh của vật nằm trong cách thế thể hiện bản tính chuyên biệt của nó. Ðối với con người, cái thiện tối thượng là thực hiện thường xuyên và đầy đủ chức năng làm người, đặc trưng con người, cái hợp lẽ với nó. Hạnh phúc (eudaemonia) không phải là sống theo khoái lạc chủ nghĩa (hedonism) mà là theo đuổi cuộc sống chiêm nghiệm. Aristotle cũng nhấn mạnh khái niệm truyền thống của Hi Lạp xem đức hạnh là trung dung giữa những cực độ.

Cuốn Polictics nghiên cứu con người như một hữu thể chính trị, và quả quyết rằng trong khi chu toàn chức năng công dân, con người nhận ra phần đức hạnh nội tại trong con người của nó. Aristotle đề ra quan điểm mỹ học của ông trong cuốn Poetics. Thí dụ, bi kịch ứng xử với đau khổ cũng như dũng cảm của con người, vì đấng anh hùng thì phải chiến đấu với người khác, với thần linh và số mệnh; một vở kịch tường thuật những bất hạnh được chấp nhận một cách cam chịu, hoàn toàn không có sự lĩnh hội của nhân vật, thì có thể là một thể văn áo nảo hay một vở kịch thống thiết, chứ không phải là bi kịch.

Sau năm 460 SCN, cùng với sự suy tàn của đế quốc La Mã, tác phẩm của Aristotle bị thất lạc ở phương Tây. Mãi tới thế kỷ 9, ông mới được học giả A Rập giới thiệu với người Is-lam, và thần học, triết học, khoa học tự nhiên của người Hồi giáo đều mang sắc thái Aristotle. Thông qua các học giả Hồi giáo và Do Thái giáo, tư tưởng của Aristotle được dẫn nhập trở lại phương Tây trên một qui mô lớn. Người ta phát hiện ở ngay trong những phần còn lại không trọn vẹn của công trình Aristotle sự phi thường về hạng mục, tính độc đáo, tính hệ thống hóa đồng nhất của nó.

                           (  Nguồn: Phạm Văn Tuấn Viét Science.fr)

Các tác phẩm của Aristotle từ lúc đó trở thành nền móng cho triết học kinh viện trung cổ; ảnh hưởng lên phần lớn thần học Công giáo La Mã qua Thomas Aquinas, lên triết học Hồi giáo qua Averroes; và quả thật lên toàn bộ truyền thống khoa học và trí thức phương Tây.

Người ta cũng làm sống lại ảnh hưởng của Aristotle trong triết học thế kỷ 20. Lối tiếp cận mang tính cứu cánh luận của ông tiếp tục là tâm điểm của sinh học, nhưng nó đã bị xua đuổi khỏi vật lý học kể từ cuộc cách mạng khoa học trong thế kỷ 17. Công trình của Aristotle trong thiên văn học từng được Ptolemy trau chuốt và ảnh hưởng lên phương Tây đã bị quyết liệt bác bỏ bởi những kết quả thẩm tra của Copernicus và Galileo.

Ngày nay, các tác phẩm của Aristotle được đọc nhiều nhất gồm Metaphysics; Nichomachean Ethics; Politics; Poetics; De Anima (Bàn về loài vật); và Organon (Bàn về luân lý).

 

 

 

 

 

Sách của Aristotle viết về các loài

 

 

Mực bạch tuộc đang bơi

 

Torpedo fuscomaculata

 

 

Cá mập da báo (Leopard shark)

 

 

 

 

 

 

 

Tranh minh hoa Aristotle trong vuon trường của Platon

 

 

Tranh vẽ Aristotle trong bộ đồ Trung thế kỷ)

 

 

 

CHUYÊN MỤC THƠ VĂN

 

MIÊNG  :

Bóng chân

          Miêng tên thật là Võ Thị Xuân Sương, hiện là Quản Thủ Thư Viện Quốc Gia Pháp (phần Việt Ngữ) và đang cư ngụ ở Paris, Pháp..

Nhà xoay lưng vào bià núi. Con đường nhỏ ngoằn ngoèo bên sườn như cắt mái đá xám làm đôi. Ruộng hoa cải dầu vàng tươi bao quanh nhà và trong sân, những cây mẫu đơn, cây mận cây đào rực hoa bên cạnh hàng rào xanh mượt như tấm thảm Ba Tư đầy màu sắc.
Cô gái như tìm gặp căn nhà trong mơ, đảo mắt chiêm ngưỡng chung quanh một lần nữa trước khi đưa tay nhấn nút chuông nằm ẩn dưới vòm chesứ trắng.Cô hồi hộp vu vơ mặc dù không phải lần đầu tiên đi thuê nhà xứ lạ. Tiếng chim líu lo trên các cây bên đường nghe vui tai và xa xa đâu đó, một con cú cất giọng đùng đục như thể cằn nhằn ngủsuốt mùa đông chưa đẫy giấc. Cô hân hoan ngửa mặt lên đón nắng và khép hờ mi, mỉm cười vô tư với buổi sáng xuân bình an thơm mùi hạnh phúc…
– Bonjour, mademoiselle.
Cô gái giật mình, chào người đàn ông đứng tuổi đang nhoẻn cười và qua lớp kính, ánh mắt thẳng thắn dìu dịu của ông làm cô yên bụng. Màu da sậm với mái tóc muối tiêu hơi bồng bềnh ôm khuôn mặt xương xương khắc khổ. Có cái gì nơi ông gợi lên lòng tin cậy dễ gần. Cô nói ý định mình, ông tự giới thiệu là quản gia và đưa cô vào nhà trên lối đi nở vô số uất kim hương và iris…
– Cô là người Việt Nam ?
Ông quản gia bất chợt hỏi. Rồi không chờ câu trả lời, trỏ tay vào ngực :
– Vợ tôi cũng người Việt. Còn tôi là Chà và.
Thấy vẻ ngỡ ngàng của cô gái, ông cười vui vẻ tiếp :
– Tức là người Ấn Độ, xưa hay bán vải ở Sàigon. Cô còn trẻ quá, chắc không biết.
Bỗng nhớ đến câu hát “Chà và ma ní tí te, Cái bụng chè è con mắt ốc bươu” sao mà khác xa với người trước mặt, cô gật gật đầu nhìn ông, hồn nhiên nở nụ cười thân mật. Bốn bực thềm men đỏ dẫn vào căn phòng khách rộng rãi bày biện kiểu xưa. Cô thầm nhủ nếu có Thu Hà ở đây, chị sẽ nói mình nghe bộ xa lông này, chiếc bàn ăn và tủ sách cao nghệu sát tường kia thuộc thời Louis thứ mấy. Nhưng chắc vẫn không ghê gớm bằng hai tủ cẩm thạch chị đặt mua từ bên Tàu. Lại còn những bức tranh và vô số đồ xưa ! Ồ, một ngày nào mình sẽ cố thuyết phục Thu Hà cùng lên đây để chị ngắm nhìn và đánh giá. Cái gì chớ đồ cổ là chị mê, mình quê mùa nên ngược lại…
– Trên lầu, mời cô…
Ông đưa tay về phía chiếc cầu thang gỗ bóng nhẵn đã bắt đầu hơi lõm. Bước rất khẽ nhưng cũng nghe tiếng gót giày vang dội khắp nhà, cô chợt e ngại mình khuấy động một cái gì đang yên tĩnh lắm…
Cô gái. Tuần thứ nhất.
Nhận phòng sáng chúa nhật, buổi chiều cô dạo phố. Thành phố nhỏ miền núi trông thân mật dễ thương, nhà lên xuống theo triền dốc vàhầu hết là cửa hàng mùa này thưa khách. Khác với các vùng biển hay đồng bằng miền Nam, ở đây các bà không tụm năm tụm ba hay ngồi trước hè nói vọng qua bên kia với hàng xóm, con nít không chơi banh ngoài đường và các ông già không đánh boules trên những khu đất trống. Cô tha thẩn suốt buổi chiều nhìn ngắm mọi điều trước mắt. Một thành phố sống nhờ vào du khách không bao giờ thấy ai là lạ mặt. Cô thầm nghĩ ở trên xứ người mà mình không cảm thấy là ngoại quốc như năm kia về quê hương… Ra khỏi khu phố nhỏ, hai bên đường mọc đầy hoa dại, những loại hoa miền núi chẳng bao giờ biết mùi cửa kiếng. Ánh vàng rực mặt trời buổi chiều hãy còn lưu luyến rong chơi và vài con chim chiều xa xa trên bầu trời trong vắt. Trong lòng thung lũng, hai chiếc deltaplanes đỏ nổi bật giữa màu rừng, đang chao lượn. Cô nghe tiếng sỏi lạo xạo dưới chân như tiếng trẻ con đùa nghịch nghiến răng và tiếng lá rì rào trong gío như to nhỏ tự tình. Cô hít thật sâu bầu không khí trong lành như để chuẩn bị sức lực cho ngày mai bắt đầu làm việc.
Căn nhà chìm trong yên tĩnh hoàn toàn khi cô về sau bữa ăn tối. Chỉ phòng của ông quản gia còn sáng, và âm thanh của đài truyền hình yếu ớt vọng ra. Cô lên cầu thang rất khẽ…
Người đàn ông. Tuần thứ nhất.
Theo lời ông quản gia thì cô ấy có cái đẹp khoẻ mạnh và vui vẻ tự nhiên. Sáng nào cô cũng chạy bộ lên đồi sau nhà rồi về tắm xong là đi mãi tới tối mịt mới về. Cả tuần qua ông thấy cô mỗi sáng nhưng chỉ có dịp trò chuyện vài lần trước khi cô trở lại Paris.
Tôi vào phòng buổi chiều hôm đó, lười biếng ườn người lên giường với chăn gối của cô. Hơi hướm đàn bà hãy còn phảng phất ngập ngừng khiến lòng tôi ngây ngất nao nao. Tôi cố tưởng tượng hình dáng cô nằm : nghiêng, hai chân hơi co lên ôm chiếc gối vào lòng hay thẳng, duỗi dài chân và hai tay đặt hờ lên ngực ? Và mắt cô nhìn đâu, phía cửa sổ trước nhà với xa xa ngọn núi mờ trong mây hay phía cửa sổ bên hông với đỉnh rừng phong đang mùa đơm lá?
Sáng hôm sau nắng mai trườn lên người và đánh thức tôi với giọng ấm áp nhẹ nhàng. Bở ngỡ trong căn phòng này hầu như xa lạ, tôi đảo mắt nhìn quanh. Chiếc mũ đàn bà móc trên tường nhìn tôi đăm đắm như muốn kể niềm vui suốt tuần đã theo cô tới đâu và bảo vệ mái tóc làn da cô thế nào. Tôi mỉm cười với nó, làm quen. Những cộng lát sơn trắng tranh cãi gì đó với những cộng lát màu xanh biển, phải nhờ giải lụa màu trời làm trọng tài đứng giữa. Giải lụa nhu mì, vừa hoà giải những cộng lát đa đoan vừa nháy mắt mỉm cười với tôi trong ánh nắng…
Cô gái. Tuần thứ hai.
Cô trở lại vùng núi chiều chúa nhật tuần thứ ba của tháng. Trên bàn hãy còn vài tờ báo địa phương và quyển “Thằng Gù Nhà Thờ Đức Bà” của Victor Hugo. Trên bệ sưởi, hai bức tượng nhỏ kiểu Hy Lạp đầu người mình thú mà ông quản gia bảo là của người thuê phòng xen kẽ với cô. Quái, nhà này, ngay cả người thuê cũng có “gu” cổ điển !
Cô sắp các thứ ấy vào một góc vì không sính những hình thể bất thường dù là nghệ thuật. Đối với cô người đẹp là người cân đối, không phải một khuôn mặt nhỏ xíu nằm chót vót trên chiếc cổ dài ngoẵng kiểu Modigliani. Cô cũng rút cái đèn đọc sách ở giường dẹp đi. Kiểu cái đầu người méo mó màu đen để ánh sáng toát ra từ miệng và hai hốc mắt làm cô ghê người.Và khi tháo tấm khăn giường và bao gối có hình cá sấu há miệng thật lớn, gớm ghiếc, cô nhún vai mỉm cười…
Cô lại tới sân golf. Tuần này phải nhắm địa thế để làm ít nhất hai cái hồ nhân tạo cho parcours. Parcours ba cây số hai là quá dài, với đường núi lên xuống gập ghềnh chóng mệt. Cô dự định sẽ bắt đầu parcours từ tee thứ hai, chỗ tee thứ nhất sẽ sửa lại thành nơi practice. Như vậy hợp lý hơn, banh sẽ văng ngược lên chỗ dốc và phải phá mấy bụi rậm cho banh không mất. Tiếp theo phải tính farway cần bao nhiêu đất lấp những chỗ lồi lõm đầy sỏi làm bước đi khập khiễng khó chịu. Golf là môn thể thao thư dãn, sau khi đi một vòng parcours người ta phải thấy thoải mái, khỏe ra. Ngoài ra phải đào thêm một bunker và chữa lại cái đã có, vừa nhỏ vừa dốc quá.
Và cô bước đi dưới nắng, giấy bút trên tay, vừa chỉ trỏ cho hai đồng nghiệp đi bên cạnh.
Người đàn ông. Tuần thứ hai.
Tôi không phật lòng khi thấy đồ đạc mình bị gom vào một xó, bơ vơ dưới đất. Vậy mà khi bày ra, tôi chỉ hy vọng chút nghệ thuật sẽ làm vui lòng cô gái thuê nhà. Tôi cũng lịch sự không dẹp bức tượng Đức Mẹ bày trên bệ sưởi. Người có niềm tin vào thánh thần, theo tôi, vẫn là người đạo đức. Tôi nhìn quanh phòng : bình hoa hồng đỏ sẫm vẫn còn tươi trên bàn, đôi giày đi núi màu da bò nằm cạnh chân giường, sọt rác đầy giấy nháp… Có cảm giác như người ăn vụng, tôi hôn mấy đoá hoa và nghĩ đến đôi môi son trẻ của cô. Tôi ôm đôi giày vào lòng như vuốt ve đôi chân xinh đẹp của cô. Và tôi cầm những tờ giấy kéo từ sọt rác đầy hình, mỗi tờ vẽ một mẩu đất với nhiều ghi chú. Tôi ôm chúng vào lòng như ôm lấy nghị lực và sức sống của cô… Bỗng dưng tôi ao ước được gặp cô. Tôi thèm được nhìn thấy cô mặc dù trong thâm tâm, chẳng biết để làm gì. Chưa bao giờ tôi thoải mái khi đối diện với đàn bà. Thực ra là tôi chẳng thích trò chuyện với ai cả. Tôi thường gửi gấm nỗi lòng mình cho mây chiều hờ hững chẳng biết về đâu. Tôi thường tâm sự với sương mù vây quanh đỉnh núi mỗi sáng nắng chưa về hay mỗi chiều nắng đi vội vã. Và xa xa, những mây những sương với hình thù kỳ ảo chập chùng sẽ che dấu nỗi niềm tôi rồi mang đến mở ra cho người nào đọc được cùng ngôn ngữ – thứ ngôn ngữ mà đối với cô hẳn là xa lạ.Và tôi đâm ra thèm muốn thứ tiếng cô dùng…
Buổi chiều, tôi ngồi hằng giờ nhìn mông lung qua cửa sổ. Ráng chiều ửng hồng các bià mây và xa xa, đỉnh núi nhô lên một thân cây nhỏ trơ trọi, cô đơn. Tôi như thân cây kia, lúc nào cũng xa cách mọi người. Nhưng nếu nó trốn chạy, vượt lên cao rồi buồn rầu ngạo nghễ nhìn xuống nhân gian có bao sinh linh đang sống và đang chết – thì tôi, một con người tầm thường vượt lên được tới đâu và nhìn xuống cái gì, ngoài sự cô đơn vừa cao khiết vừa quằn quại của mình ? Bởi tôi sống mà một nửa đã chết rồi, niềm vui nỗi buồn chẳng ảnh hưởng gì tới mình nữa. Mọi thứ tình cảm đều như mơ hồ không thật. Vậy mà tôi lại mong gặp người con gái thuê phòng, dù chẳng biết để làm gì ! Chắc tại ý nghĩ ra vào cùng một cửa, nằm cùng trên một giường – còn có sự đụng chạm nào gần gũi thân mật hơn thế nữa ?
Cô gái. Tuần thứ ba.
Vừa bước vào phòng, cô ngạc nhiên đầy thú vị khi thấy bình hoa hồng tươi thắm trên bàn (mà sáng hôm sau được cám ơn, ông quản gia tỏ vẻ bối rối nói không phải của mình). Đống đồ «nghệ thuật» vẫn nằm lặng lẽ ở góc nhà và thêm vào căn phòng là cái máy truyền hình và đầu máy vidéo với cuốn phim “Cái Trống” theo tiểu thuyết của Gunter Grass. Vở “Con mèo cái trên mái tôn cháy bỏng” của Tennessee Williams nằm ngơ ngáo trên mặt bàn đêm. Máy nghe nhạc của cô được đặt cẩn thận trên chiếc tủ nhỏ cạnh giường.
Cô lại tới sân golf. Tuần này phải nhắm địa thế gần cổng ra vào để nới rộng căn phòng vừa cho thuê dụng cụ, vừa thu tiền. Căn phòng hiện tại nhỏ như cái hộp chỉ vừa đủ chỗ cho một cái bàn con với khoảng chục bộ đồ golf. Ngộ nhỡ trời mưa thình lình thì khách nấp vào đâu ? Khách khát nước phải tìm chỗ nào ? Khách cần điện thoại ? Và cần phải có một máy cho thuê banh…
Cô dạo một vòng xuống Saint Martin, ngôi làng e ấp nằm lọt trong thung lũng đẹp nên thơ. Đường vòng khu phố râm bóng mát, nhà cửa khang trang và các loại hoa muôn màu nằm ngoan ngoãn như con nhà lành trong vườn rào thấp. Con đường phố chính hẹp dốc theo triền núi, giữa lòng đường có rãnh, nước suối chảy xuống trong veo mát rượi. Nhà hai bên thường là cửa hàng cho du khách, trông kín đáo, trang nhã và thân tình. Nhưng suốt làng chỉ có một bảng quảng cáo sân golf !
Người đàn ông. Tuần thứ ba.
Tôi sung sướng săm soi mẫu giấy nhỏ trong tay, tim tưởng muốn nứt ra. Cô viết cho tôi ! Nét chữ cô mềm mại mà mạnh mẽ, đầy cá tính. Chỉ mấy chữ thôi, gọn quá, mà tôi như thấy cả một rừng văn học. Văn chương là nơi tôi ẩn mình tìm lãng quên, an tịnh. Mỗi tác phẩm, tôi tìm kiếm hình ảnh một nhân vật có cái gì chung với mình rồi chuyện trò bắt đầu bằng tâm sự mà họ đã bày ra trên giấy. Nhưng chẳng bao giờ ai tỏ ra lưu tâm tới sự ân cần đầy thiện cảm của tôi. Ngay cả trong sách, con người cũng lạnh lùng cách biệt. Và như một cái bóng, tôi theo dõi họ âm thầm mà dai dẵng.
Nhưng bây giờ đã có người lưu ý sự hiện diện của tôi ! Tôi sung sướng đến hổn hển và choáng ngợp niềm hạnh phúc. Tôi ấp mảnh giấy nhỏ lên môi, cảm giác như chạm vào đôi môi cô – trinh nữ. Tôi nhắm mắt tưởng tượng giờ này cô đang làm gì, ở một nơi chưa bao giờ chân tôi đặt đến ? Những chữ viết cho tôi có làm cô bối rối – hay biết đâu, biết đâu cô cũng chẳng còn nhớ gì đến mẩu giấy con con này nữa? Cùng lúc tôi thấy giận dỗi và ghen tị vu vơ. Tôi muốn biết cô đang làm gì nơi ấy ?
Tôi lại lôi trong giỏ rác, những tờ giấy vẽ căn nhà nhỏ cạnh cổng ra vào, mấy ngọn đồi lên xuống với nhiều chú thích chuyên môn tôi không hiểu hết. Cùng với những tờ tuần trước, tôi cất chúng cẩn trọng như những lá thư đầy kỷ niệm. Một ngày nào có dịp, tôi sẽ trải dài chúng ra, từng tờ cho cô xem, gợi cô nhớ lại những ngày đầu thuê chung phòng với một người khác phái, xa lạ. Và chúng tôi sẽ nói cho nhau nghe những gì đã nghĩ về nhau trong thời gian thuê cùng căn phòng như chơi trò cút bắt.
Tôi nâng chiếc gạt đầy tàn thuốc gần như thành kính, và run rẩy vụng dại nhặt một mẫu có dấu môi son màu hồng nhạt, châm lửa. Tôi hít khói thuốc vào như hít hơi thở đầy sinh lực của cô. Rồi tôi ho, sặc sụa, bị cô trừng phạt. Tôi mím chặt môi trên đầu thuốc, tôi cắn, răng môi xé nát đầu lọc nhỏ tội nghiệp, như môi ai…
Tôi mở tủ áo, những váy ngắn váy dài làm tôi băn khoăn tội lỗi. Ông quản gia nói ngay cả đầm, ít ai có cặp giò đẹp như cô. Tôi đặt chiếc váy ngắn với chiếc áo cánh mỏng của cô lên giường. Rồi tôi nằm bên cạnh. Và chúng tôi bắt đầu trò chuyện. Tôi kể cô nghe những gì tôi làm trong ngày, không nhiều nhặng gì, bởi tôi cũng dấu nhẹm những bài thơ vụng về dù rút tận cùng xương tủy của lòng chân thật. Và tôi chờ đợi nghe kể những việc cô làm, hẳn là lý thú…
Chúng tôi hẹn nhau trên ngọn đồi thấp sau nhà. Tôi mang theo giá vẽ, nhẩn nha ngồi nhìn mây bông gòn đùa nghịch đuổi bắt nhau trong gió chiều, chờ cô đến. Không gian yên ắng đến nỗi nhịp tim tôi dồn dập như quá ồn ào. Gió vi vu nhè nhẹ và cây lá xạc xào hỏi tôi đang làm gì ở đây, đơn chiếc. Tôi vội vàng phơi trải lòng mình với thiên nhiên, bảo rằng tôi chờ đợi như chưa từng chờ đợi, tôi nôn nao như chưa từng nôn nao. Và tôi pha màu, một màu hồng rực rỡ để tô lên đôi má xuân thì, một màu đen huyền nhiệm để tô lên mái tóc trẻ trung và một màu xanh biêng biếc như bầu trời cho chiếc áo mỏng lộ hai cánh tay trần…
Chợt hoa lá reo vui như đón mời bước chân ai đang đến, hơi ngập ngừng rồi dừng lại. Tôi hối hả quay nhìn trên lối đi : cô bước nhún nhẩy bất an như con sóc nhỏ, tay kéo cao váy tránh những bụi gai rừng… Bỗng tất cả lặng im, hoa tái nhợt cui đầu như muốn xỉu và lá đỏ mặt, không còn ba hoa nữa.Và tôi nhìn… và tôi nhìn… trời ơi, đôi chân cô …
Cô gái. Tuần thứ tư.
Cô nhìn bức tranh nằm ơ hờ trên tường, ngọn núi xa xa với một thân cây trơ trọi, cô đơn. Và trên tường bên kia là bức tranh có bình hoa hồng nhung sẫm, tách trà bên cạnh, bốc hơi. Màu sơn còn mới. Biết rồi, anh chàng vẽ ngọn núi trước nhà chứ gì ! Cô lắc đầu mỉm cười, không thích tranh tĩnh vật, và phong cảnh thì không thể vẽ cái gì tươi tắn hơn sao ? Màu sắc gì mà u ám !
Cô muốn viết vài giòng nói về hai bức tranh, nhưng suốt tuần bận quá, cô còn khối việc phải làm và buổi tối về nhà quá trễ, mệt nhoài tắm xong là ngủ vùi rồi sáng hôm sau lại bắt đầu một ngày mới đầy bận bịu. Cô làm việc cật lực, tối đa ba tuần nữa phải xong. Chưa chi mà cô đã được đề nghị cho một dự án khác. Đôi chân dài bước nhanh trên đường sự nghiệp.
Người đàn ông. Tuần thứ tư.
Tôi hơi buồn khi thấy trên bàn, mấy CD nhạc vẫn chưa bóc giấy. Cầm mẩu giấy nhỏ cô viết cho mình trên tay, tôi mang cảm giác kẻ thất bại. Giỏ rác đầy giấy nháp, tràn lan ra ngoài. Tôi gom hết lại, nhìn ngắm từng tờ và cẩn trọng vuốt thẳng từng nếp, xếp cất như nhặt nhạnh linh hồn đau đớn của mình. Căn phòng hơi bừa bộn, vài món đồ dùng vương vãi và trong phòng tắm hãy còn mấy món riêng tư… Tôi thu dọn, âu yếm như một người chồng giúp vợ trong nhiều bận bịu hằng ngày.
Gần chín giờ tối cô mới về nhà. Tôi biết là khoảng năm ba phút sau cô sẽ tắm…Tôi hồi hộp nhìn vào lỗ khoá, cô đang trần truồng dưới vòi sen, mờ ảo qua lớp kiếng và ánh sáng đèn màu hồng. Cô ngửa mặt lên, nước chảy dạt dào lên tóc cô, nước chảy dạt dào lên bóng của mái tóc cô ép sát da đầu… Nước tràn lan lên mặt cô sáng trưng, nước tràn lan lên bóng khuôn mặt cô nhạt nhoà bồng bềnh trong nước… Nước xối xả xuống tấm thân cô nõn nà màu sữa đặc, nước xối xả lên bóng thân hình cô đu đưa như liễu… Đôi gò ngực thanh tân cao vút núm vú nhỏ màu hồng, từng luồng nước lăn tăn vội vã đuổi bắt nhau như tranh giành độc quyền ve vuốt. Và nước chảy xuống, chảy xuống khu rừng nhỏ rộn rã niềm hoan lạc. Và nước chảy xuống, chảy xuống len lách vào khe rạch như người đi săn tìm kiếm con mồi. Và nước như thác tuôn ào ạt, ào ạt, xuống đôi chân, trời ơi, trời ơi, xuống đôi chân mỗi lúc mỗi cong queo, khẳng khiu, xấu xí đến nao lòng !
Tôi nín thở, nhìn. Tôi nghẹn ngào, nhìn. Tôi sung sướng, nhìn. Tôi thấy bị ngộp thở. Có cái gì cắt ngang cổ họng, đau điếng. Tôi nuốt nước bọt ở đâu dâng trào như suối ngàn mùa lũ lụt. Tôi cắn môi đến bật máu rồi nuốt ực những giọt tanh tanh mằn mặn hoà cùng nước mắt… Tôi thương cô quá đỗi. Tôi mãn nguyện quá đỗi. Và tôi ung dung mở cửa bước vào phòng tắm, ôm chầm lấy tấm thân cô tràn trề sinh lực. Nước trên cao đổ xuống hai chúng tôi da thịt chạm vào da thịt, mềm mại, gợi cảm. Mắt hai đứa nuốt trững nhau, môi hai đứa cắn xé nhau, tranh giành với nước từng ly từng phân thân xác. Tôi lơi vòng tay để nhìn xuống vùng núi đồi ngạo nghễ, vùng đồng bằng như những đụn cát mịn màng và bãi cỏ non e ấp thẹn thùng. Tôi quấn đôi chân mình vào đôi chân tàn tật của cô, hoàn toàn hả dạ… tôi kêu lên sung sướng và giật mình vì chính tiếng mình kêu, bước ra khỏi phòng tắm người ướt đẫm vì mồ hôi trong cơn bàng hoàng tỉnh giấc…
Lòng chùng xuống, tôi trằn trọc thâu đêm. Thật lâu, rồi tôi rũ rượi khập khiễng bước vào giấc ngủ đầy mộng mị. Đang đêm, tôi chợt thức giấc vì tiếng mèo gào tìm đực. Tiếng gào nghe sao mà dữ dội, bức thiết và buồn như ai khóc. Tiếng gào như xuyên thủng núi rừng, xuyên suốt trăng miền núi vằng vặc trên cao. Tiếng gào như kêu cứu, như van xin, như cùng đường, như gây hấn, như đe doạ… Con mèo cái bên ngoài và người đàn ông bên trong cùng một nỗi niềm. Chỉ khác là người đàn ông gào thét âm ỉ trong lòng và trong phòng. Còn con mèo cái thì gào lên thành lời, giữa trời không dấu diếm. Tôi muốn bước ra xua đuổi như xua đuổi lòng mình, nhưng chân tay bỗng nhiên bủn rủn. Một luồng điện chạy qua làm tôi tê liệt rồi chạy ngược về thiêu đốt tôi hực hở. Toàn thân tôi run rẩy, quờ quạng trong đêm. Chị Hằng lấp ló nhìn trộm từ cửa sổ, rồi bỗng trêu ngươi rực rỡ lách người vào, khoan thai mà trần tục, tươi thắm đĩ thỏa trườn lên người tôi, trườn lên, trườn lên… Tôi bật dậy như lò xo rồi lại nằm vật xuống. Mắt chị sáng trưng, nồng nàn ham muốn, như thể gần gũi tôi chị sẽ được hoá thân. Một phần thân thể tôi đau đớn , nhức nhối, hoảng loạn… Tôi tự cào cấu lên tay, lên ngực. Tôi vò đầu, giựt từng chùm tóc. Tôi úp mặt xuống gối, trăn trở. Rồi tôi ghì chặt gối vào lòng, chặt hơn, chặt hơn nữa. Và tôi lăn lộn như một con thú bị thương. Tôi lên cơn sốt. Tôi lên cơn đồng thiếp. Tôi kêu rên. Tôi bập bẹ những lời không đầu không đuôi. Tôi hổn hển đứt hơi. Tôi cuống quýt vụng về … Tôi giúp mình qua cơn đau đớn…Tôi phải giúp mình qua cơn đau đớn… Tôi và cô gái… Tôi và chị Hằng… Cô gái và chị Hằng… Tôi với cô gái và chị Hằng… Ba chúng tôi quấn vào nhau như những sớ dừa bện sợi. Ba chúng tôi siết vào nhau như những lọn tóc dài thắt bín. Ba chúng tôi vật vã, rên siết, quay cuồng…Và tôi rú lên như con thú hoang, như con mèo cái…
… Tôi đưa bàn tay nhớp nhúa lên ôm mặt, xấu hổ, tủi nhục, lặng lẽ khóc như bao lần…
Cô gái. Tuần thứ năm.
Cô hơi khựng nhìn đóa hồng nhung nằm trên gối. Bình hoa, đĩa nhạc hay hộp kẹo chỉ khiến cô mỉm cười vu vơ, biết là có người quan tâm tới mình nhưng chỉ là một cảm giác hời hợt thoáng qua. Nhưng đóa hồng nằm đây, nó biểu hiện một cái gì khác hơn là sự chỉ quan tâm tới một người không hề quen biết. Cảm giác đó làm cô hơi ngẩn ngơ, vừa thắc mắc thú vị vừa thấy bâng khuâng nhè nhẹ.
Cô cầm đóa hoa lên, phản ứng là đưa lên mũi, không, cô đưa lên môi, một sự động chạm khe khẽ khiến cô bối rối. Bỗng dưng cô thở dài. Có thể như bạn bè thường nói là cô hơi lạnh nhạt, nhiều tham vọng, chỉ biết lưu tâm đến công việc và những thành công trong đời. Cô chưa hề để tâm tới một người đàn ông nào nếu không nói là sự tán tỉnh làm cô khó chịu. Có người còn nói cô bị chứng lãnh cảm hoặc con tim ngoài nhiệm vụ hô hấp chẳng dùng được vào việc gì. Nhưng bây giờ, cầm đoá hồng của một người xa lạ, bỗng dưng lòng cô hơi chùng xuống, rộn ràng.
Đoá hoa vẫn trong tay, cô bước tới cửa sổ nhìn mông lung ra ngoài như thể bất chợt sẽ nhận ra người ấy. Suy nghĩ đó khiến cô nhìn sững một người đàn ông đảo mắt nhìn căn nhà rồi dừng lại nơi cửa sổ có người con gái đang áp đoá hồng lên môi. Bốn mắt gặp nhau. Một cái nhìn trong tích tắc xui khiến cô lao xuống thang lầu, chạy băng ra đường dáo dác kiếm tìm. Nhưng trong bóng chiều, người đàn ông không để dấu tích gì trên con đường làng…
Cô trở về phòng, cẩn trọng đặt đoá hồng lên bàn rồi thay tấm trải giường. Bỗng cô giật bắn người khi dời chiếc gối : chiếc xi-líp nhỏ màu hồng mà tuần trước đó vội vàng bận bịu, cô đã bỏ đâu đó trong phòng tắm… Cô nhìn sững. Có phải của mình không ? Đúng là của mình ! Có phải mình bỏ quên trên giường không ? Không ! Một cảm giác như ghê tởm làm cô lợm giọng. Cô tức tối như bị sỉ nhục. Thế là suốt cả tuần, người đàn ông kia đã ôm ấp một phần thân thể của cô ! Chỉ một người bịnh hoạn mới có thể làm điều đó. Chỉ là một thằng đàn ông không ra gì, ngu xuẩn, bẩn thỉu, vô lại… Cô nghẹn và uất, không biết tìm từ ngừ nào nữa. Cô vẫn nhìn sững, bàng hoàng đến nỗi e như không phải đồ dùng của mình, như thể sợ phải nhặt nó lên. Cô chợt rùng mình nhìn quanh, cảm tưởng như có người đang ở bên cạnh, đang theo dõi từng cử động. Vô thức, cô quàng hai tay trước ngực và bấu chặt vai, mắt vẫn dán vào chiếc xi-líp vô tội màu hồng…
Cô hậm hực, khinh bỉ, điện thoại tâm sự với bạn rất lâu xong xuống phố, thành phố đã lên đèn. Và cô lang thang tìm kiếm, bất mãn vì thấy như người đàn ông nào cũng mang dáng dấp của người đã nhìn cô trên cửa sổ. Cô không hiểu nếu gặp, mình sẽ phản ứng ra sao, sẽ nói cái gì, sẽ có tình cảm như thế nào. Nhưng cô muốn gặp, cứ gặp rồi hẵng tính. Đi suốt dãy phố vắng vẻ, vào hết mấy tiệm ăn, quán cà phê, cô nhìn từng người. Chợt trong quán cà phê cuối phố, một người đàn ông đang đứng ở quầy có cái nhìn làm cô giật mình. Chỉ một cái nhìn rất nhanh, rồi người ấy bỏ đi, phía cửa sau. Cô vội bước theo nhưng không kịp nữa. Cô có cảm tưởng hắn biết và tránh mặt mình. Cô uể oải ăn tối, uể oải ra về và cuối cùng, uể oải vất chiếc xi-líp hồng vào giỏ, uể oải thay ra trải giường…
Nhìn lên hai bức tranh buồn thiu cô đơn, cô nhớ tới lời bạn nói khi chiều và suy nghĩ. Ờ, Quyên có lý phần nào (dù có kèm theo tiếng cười chọc phá) khi bảo nếu hắn bịnh hoạn thì chắc đã vẽ theo bức tranh “Nguồn gốc nhân loại” của Gustave Courbet rồi ! Đây chỉ là người kín đáo, cô độc, buồn và thiếu dạn dĩ tự tin. Bất chợt cô thở dài. Một thứ tình cảm là lạ khó định nghĩa nhen lên làm cô xốn xang – lần thứ nhất trong đời.
Nhìn qua cửa sổ, vầng trăng khuyết treo lửng lơ trên bầu trời đêm trong vắt sậm màu như ngả tím, đỉnh cây thông nổi lồ lộ màu đen, song cửa sổ khắc hình một người đang đọc sách … mọi cái đều mang hình ảnh nghiêm trang và thanh tịnh làm cô chột dạ. Cô vùng dậy xới tung đống sách đặt bên lò sưởi : toàn về cuộc đời ẩn cư của tu sĩ, về những người cô độc và những kẻ tài hoa nhưng bất hạnh…
Thở dài, cô nhìn lại lòng mình, một cảm giác êm đềm gần như lòng trắc ẩn dấy lên làm cô khó ngủ… Sáng thứ sáu, cô điện thoại về sở ở Paris, nói chuyện rất lâu.
Người đàn ông. Tuần thứ năm.
Tôi chờ cô trên đồi. Vẫn nắng chiều vùng núi êm ả vắng người và mây thì lang thang vô định. Tôi ngồi bên gốc cây thông già tróc vỏ sần sùi như mụt ghẻ, như linh hồn tôi trầy trụa. Những trái thông khô nằm nghiêng ngả hớ hênh rải rác trên bờ đường đầy sỏi, bất trắc như con tim tôi yếu đuối. Tôi muốn gom góp các trái thông khô, nhóm lửa. Ngọn lửa thông sẽ thiêu đốt những gì đang chất chứa trong tôi. Khói thông sẽ mang đến cô lời tạ tội thành kính của tôi. Và tro thông sẽ làm chất keo dán hai tôi gần lại. Ô, lẽ ra, lẽ ra tôi phải cẩn trọng hơn. Lẽ ra tôi không được bỏ quên một phần đời mình trên gối…
Tôi vẫn chờ, lòng như muôn ngàn tổ kiến. Một tiếng chim kêu cũng làm tôi rùng mình và một chiếc lá rơi cũng làm tôi thấy hụt. Gió nhè nhẹ đùa nghịch từng nhóm tóc trên đầu bốc lửa, tôi dáo dác nôn nao. Từng giọt rồi từng giọt lệ âm thầm chảy ngược vào tim. Từng tiếng rồi từng tiếng nấc rưng rức ngập hồn. Tôi chắp hai tay thành khẩn nguyện cầu. Lời nguyện cầu thổn thức quặt què…
Chẳng biết bao lâu, tôi không còn khái niệm gì về thời gian nữa, cuối cùng thì cô đến, như hào quang từ trời hiện xuống. Tôi chói vì nước mắt long lanh trước cô rực rỡ. Tôý nghẹn vì muôn nghìn tiếng tranh nhau muốn trào ra cùng lúc. Tôi đau đớn khó thở vì không gian như chỉ quanh quẩn bên cô. Tôi muốn chạy đến ôm đôi chân khẳng khiu, cong queo xấu xí đến nao lòng của cô, nhưng hai chân tôi như có gì vướng víu, bận bịu gỡ không ra khỏi đất. Tôi loay hoay cuống quýt.
Còn cô, lạnh lùng dửng dưng, sải dài từng bước về hướng đâu đâu. Tôi muốn kêu lên, muốn khóc to cho cô nghe, nhưng cái gì chận ngay ở cổ… Tôi chới với đưa tay về phía cô… Chẳng thèm đoái hoài, cô cứ sải dài bước chân, rồi từ đỉnh núi này bước tới đỉnh núi kia nhẹ nhàng khoan thai như đi dạo, cô hơi chồm người về phía trước nhổ thân cây nhỏ trơ trọi cô đơn… Tôi kêu lên như chính linh hồn mình bật gốc. Đá ở bià núi vỡ ra ào ào đổ xuống tung bụi mịt mù … Đất trời như trải qua cơn cuồng nộ, sâm sét, tiếng cây cối , tiếng đá đổ ầm ầm vang rền nghe đến rợn người… Ông quản gia quýnh quáng mang nhầm dép. Vùng núi chẳng ai gọi cửa giờ này, và nếu là cảnh sát… nhưng việc gì mà cảnh sát tới tìm? Ông chạy xuống thang lầu, bật đèn khắp nơi rồi vừa lật bật mở cửa vừa lên tiếng bảo chờ một chút. Khi cánh cổng mở ra, ông hốt hoảng như gặp ma : cũng nơi này, vào một buổi sáng cách đây mấy tuần, ông đã đón tiếp một cô gái tươi cười hồn nhiên rất thánh thiện. Giờ thì cũng cô gái ấy nhưng trong đêm, sắc mặt có vẻ khẩn trương, hổn hển :
– Cho tôi lên. Tôi muốn gặp người thuê cùng phòng.
Ông quản gia lúng túng khép cổng :
– Không được đâu cô… chắc ông ấy ngủ rồi !
– Mặc kệ, tôi sẽ xin lỗi.
– Không ! không được…
Xô mạnh ông quản gia qua một bên, cô vụt chạy lên lầu. Ông quản gia già đáng thương chạy theo, hốt hoảng, rụng rời… Cô mở cửa phòng như một cơn lốc, bật đèn :
– Đâu ? Người nào thuê phòng này ?
Nhìn chăn nệm có vẻ như có người nằm, cô sờ thấy còn hơi ấm. Cô bước nhanh tới phòng tắm bật đèn, hoàn toàn trống vắng. Ông quản gia bối rối tránh ánh mắt giận dữ của cô, im lặng. Cô bước qua phòng bên cạnh :
– Và phòng này là một bà nhân viên kế toán thuê ? Và phòng này là cô tiếp viên hàng không thuê ? (Cô gào lên như hụt hơi) Ông nói dối ! Mà tại sao ông nói dối ? (Cô cắn môi) Ông trả lời đi chứ ? Tôi không về Paris, tôi ở khách sạn góc đường kia để nhìn : ba ngày nay không một bóng người nào ra vô ngoài ông thôi !
Cô hổn hển vì tuyệt vọng, vì căm tức. Mặt cô đỏ gay, mắt long lanh như người lên cơn sốt, hai tay bấu chặt cầu thang. Té ra người đàn ông này đã ôm ấp chiếc xi-líp của mình ! Cô đã đem lòng tin cậy một người tưởng như đồng hương. Nhưng giờ thì cô nhìn, thấy đôi mắt như con thú bị thương kia đang hăm hở lật từng trang sách Kamasutra. Cô ngồi bệt xuống thang lầu như người bị ngất. Một cảm giác kỳ lạ làm cô nghẹn. Nước mắt bỗng trào ra. Cô không biết mình đang ghê tởm hay thương hại người đàn ông này, hay thương hại chính thân mình. Ông quản gia bở ngỡ lấm lét nhìn cô, mắt ươn ướt.. Ông ngần ngại bước tới đưa tay ra, môi run run như muốn nói cái gì. Nhưng cô vùng đứng lên, không, không thể để cho người ta thấy mình yếu đuối. Cô chạy vào phòng quơ nhanh áo quần hãy còn treo trong tủ và một số vật dụng cá nhân, nhét vội vào xách. Cô lao xuống cầu thang như mũi tên. Ông quản gia buồn rầu gọi với theo, tuyệt vọng… Ông chạy theo sau như con chó lạc đường, luống cuống, vụng về… Cô gái xẹt như tia chớp, xuống nhà, ra cửa, ra vườn, ra khỏi cổng. Không một tiếng cửa nào đóng sầm lại: không phải cô tức giận, mà cô trốn chạy, như thể ở thêm một giây phút nào ông cũng có thể làm hại đời mình…
Ông quản gia bước ngược lộ trình, từ cổng lên lầu. Trông ông thiểu não như vừa đánh mất cái gì ghê gớm lắm. Ông thở nặng nề. Trong phút chốc, ông như già sụm hẳn đi. Ông vào căn phòng tối om, bật đèn. Ánh đèn vàng vọt cho thấy một người đàn ông ngồi ở bàn, quay lưng lại. Ông quản gia nói như rên :
– Cô ấy…
Một bàn tay đưa ra ngăn ông nói tiếp. Ông bước tới sau lưng ghế, im lặng. Người đàn ông quay mặt nhìn phía cửa sổ. Hiểu ý, ông quản gia đẩy chiếc ghế bành – không, đó là chiếc xe lăn – về phía ấy và vén màn. Từ cao nhìn xuống làm ông đau lòng : mái tóc rậm đen mượt hơi quắn, đỉnh mũi cao, thẳng… E dè một lát rồi ông nói như xưng tội :
– Con nghe hết cổ nói không ? Cổ tưởng ba có ý gì mờ ám, cổ sợ. (Thở ra) Thôi, con đừng buồn…
Con trai ông không trả lời. Ông nhìn qua vai, nhìn xa xuống chút nữa, hai ống quần cột lại đong đưa, đong đưa… và nhớ ngày con trai vừa lên tám, một hôm đã chạy băng qua đường gọi Tí ơi, hàng về, hàng về, ba tao lột vải ra nhiều lắm, qua lượm hình… Hình mấy cô đầm tươi cười trong cây vải bỗng nhăn mặt khi con trai ông chạy trở về vẫn kích động réo Tí ơi, quên không nhìn trước nhìn sau như ông dặn. Một chiếc xe thắng gấp. Một tiếng rú, nhiều tiếng rú nổi lên. Ông chạy ra điên dại ôm con, một thằng con lên tám không còn hai chân nữa… Và ông cũng đã gọi thất thanh, mẹ nó đã gọi thất thanh, nó như chết rồi, không trả lời… Người cha chép miệng ngập ngừng :
– Chẳng mấy thuở gặp người cùng quê…
Người con trai vẫn im lặng.
-May là tuần rồi cổ nhờ ba đem hình đi rửa, ít nhứt mình cũng còn kỷ niệm …
Nhưng con ông bỗng bẵn gắt chua chát ngắt lời:
-Không! Mấy tấm hình đó không thật, không thật!
Dưới đường, phố đêm miền núi vắng teo. Ở góc ngã ba con đường nhỏ, ánh đèn yếu ớt rọi lên phần dưới đôi chân dài di động vội vàng. Người con trai xốn xang nhìn theo đôi chân càng lúc càng nhạt nhoà xa – một đôi chân khẳng khiu, cong queo, xấu xí đến nao lòng đang khua gót nhỏ trên đường phố vắng…

 

            CHUYÊN MỤC:  CHUYỆN XƯA ….CHUYỆN NAY

Nguyễn Đình Chú:       Nguyễn Đức Vân – Một người xứ Nghệ

Tôi muốn có hai cách viết về ba từ “Người Xứ Nghệ”. Một là viết theo lối thông thường để chỉ bất cứ ai đã sinh ra, lớn lên, có gốc gác, hoặc đã định cư lâu năm trên đất Nghệ. Còn một nữa viết hoa đặt trong ngoặc kép: “Người xứ Nghệ” thì dành riêng cho những người – dĩ nhiên cũng của xứ Nghệ – nhưng có những phẩm chất cao đẹp và đa dạng được chưng cất, được thăng hoa từ những gì là tinh tuý trong cốt cách người Nghệ đã thành truyền thống để người Nghệ tự hào và cả nước kính nể. Còn tôi thì đã chịu ơn dù là gián tiếp, vô hình hay hữu hình. Nhớ lại, ngày mới lên năm, lên sáu, bắt đầu đi học chứ Hán, tập tô mấy chữ ” Thiên tích thông minh/Thánh phù công dụng” (Trời cho thông minh/Thánh giúp nên công) thì tôi đã lần lượt được cha và một vị tú tài khoa Mậu Ngọ (1894), thầy học, thêm một anh rể tú tài, một anh rể tam trường kế cho nghe nhiều chuyện về cụ Thượng Cao (Cao Xuân Dục), cụ Tế Nho Lâm (Đặng Văn Thuỵ) đều quê Diễn Châu; cụ Thám Giao (Nguyễn Văn Giao) (Phan Bội Châu) đều quê Nam Đàn; cụ Sơn (Nguyễn Thức Tự) (1), cụ Tuần Đinh (Đinh Văn Chấp), cụ Nghè Nhu (Nguyễn Huy Nhu), ông Nguyễn Cảnh Đậu, đều quê Nghi Lộc… Lên 10 tuổi đi học trường Pháp – Việt, tôi lại được các thầy giáo kể cho nghe chuyện về các tên tuổi thời Tây học như Cao Xuân Huy, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Nguyễn Đức Bính, Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Lê Thiệu Huy… Đúng là những “người xứ Nghệ” này ít nhiều đã trở thành môi trường tâm thức, đã ám ảnh tôi, dìu tôi đi từ tuổi thơi và cho cả đến nay, đã ở tuổi bát tuần. Quý vị đã gây cho tôi nỗi thèm khát, chỉ mong sao được đôi chút như quý vị. Và đến đây, nhìn lại cuộc đời của mình, tự thấy phần nào không đến nỗi phải xấu hổ lắm với tổ tiên, với quê hương, với quý vị là nhờ có chút thèm khát đó từ thủa ấu thơ. Rồi cũng từ vốn tâm thức quý báu này, tôi đã thích thú đón đọc mục Người Xứ Nghệsách Người Xứ Nghệ của Tạp chí Văn hoá Nghệ An mà chính tôi cũng đã có đôi chút góp phần. Và hôm nay, tôi lại xin tiếp tục với một nhân vật, không ai khác, chính là nhạc phụ của tôi. Mọng được bạn đọc không cho là cha hát con khen, mặc dù tôi vẫn nghĩ: con không khen cha thì khen ai. dĩ nhiên phải là ra cha. Xin nói ngay, nhạc phụ của tôi không là giáo sư, tiến sĩ, kể cả cử nhân, tú tài gì cả. Chỉ là người nghỉ hưu, cán sự ba. Nhưng trong nhận thức, trong ấn tượng của tôi Cụ đáng được coi là một “người xứ Nghệ” viết hoa, đặt trong ngoặc kép, như tôi từng quan niệm, cảm phục, chịu ơn. Còn ở mức độ nào thì tuỳ công luận.

Cụ tên là Nguyễn Đức Vân, sinh năm 1900, mất năm 1974. Quê làng Cẩm Trường, nay là xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc. Xuất thân dòng họ Nguyễn Đức là một dòng họ nổi tiếng có truyền thống yêu nước, hiếu học, có nhiều khoa bảng cả trước lẫn nay, đặc biệt là rất giàu năng khiếu văn chương (2). Ông nội là Nguyễn Đức Tân, đậu cử nhân, làm quan chức Hàn Tẩu, từng tích cực hưởng ứng Cần Vương, có công lao lớn với dân làng, được dân làng lập đền thờ sống (sinh từ). Cha là Nguyễn Đức Công (tự Hoàng Trọng Mậu) có tài “văn chương trác lạc” (Lời khen của Phan Bội Châu), từng đậu đầu xứ (do đó có tên là Đầu Xứ Công), nhưng đã bỏ chốn khoa trường, dấn thân cứu nước, trở thành một nhà cách mạng rạng danh trong phong trào Đông du, Việt Nam Quang Phục Hội, được vua Duy Tân trong khi âm mưu khởi nghĩa mật phong Tổng Tư Lệnh nghĩa quân. Bị thực dân Anh bắt giao cho thực dân Pháp đem về nước kết án xử bắn cùng một lúc và chôn chung một hố với người đống hương, đống chí là Nguyễn Thức Đường (tức Trần Hữu Lực). Đã để lại bài thơ Cảm tác và câu đối tuyệt mệnh vào loại hay nhất trong văn chương yêu nước Việt Nam cổ kim:

Từ biệt quê nhà chẳng nhớ năm

Ngổn ngang tâm sự rối tơ tằm

Đoái trông Kiếm Nhị (3) buồn tanh sắc,

Mơ tưởng Hồng Lam (4) lạnh ngắt tăm.

Chết quách đã đành không đất sạch,

Sống về cũng chỉ một trời căm.

Đêm đêm mộng hoá thành thân cuốc,

Ngậm máu đi về khóc cõi Nam

(Cảm Tác – Nguyên văn chứ Hán)

“ái quốc hà cô, duy hữu tinh thần lưu bất tử

Xuất sự vị tiệp, thả tương tâm sự ký lai sinh”

(Yêu nước tội gì? duy có tinh thần là chẳng chết

Ra quân chưa thắng, xin đem tâm sự gửi mai sau)

Cụ Nguyễn Đức Công có bốn con trai. Nguyễn Đức Vân là con thứ hai. Thủa nhỏ, Nguyễn Đức Vân học chữ Hán và trường tiểu học. Nhưng rồi gặp gia cảnh: cha bỏ nhà đi cứu nước và bị bắn, mẹ bị bắt giam, anh trai cũng qua đời trong phong trào Đội Quyên – Đội Phấn, gia sản bị tịch thu lần này lượt khác, nên phải nghỉ học, ở nhà làm ruộng, nhường phần học cho em út. Làm ruộng và tự học Hán văn, Pháp văn. Riêng Pháp văn, đã thuộc trầm Từ điển Pháp – Việt của Trương Vĩnh Ký và về sau đã có lúc viết báo tiếng Pháp ít nhiều. Nguyễn Đức Vân là người có trí nhớ cao vào loại hiếm. Năm 1925, lãnh tụ cách mạng Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt về giam lỏng ở Huế sau khi định thủ tiêu kín không xong, kết án chung thân cũng không xong, Nguyễn Đức Vân với tinh thần “cừu gia tử đệ” (con em gia đình có thù với giặc) đã vào sống hầu Cụ Phan một thời gian ở Bến Ngự (5) – Khoảng 1937, cùng hai em trai: Nguyễn Đức Tịnh (6) từng là Bí thư Tỉnh uỷ Thanh niên cách mạng đồng chí hội của Thừa Thiên – Huế (1926) sau 7 năm đi tù về và em út là Nguyễn Đức Bính (7) từng tham gia đảng Tân Việt, ra Hà Nội làm báo Thời Vụ cùng Ngô Tất Tố. Năm 1944, phong trào Việt Minh phát triển vào đất Nghệ, Nguyễn Đức Vân cùng Nguyễn Đức Tịnh đều có mặt trong phong trào. Do đó, cách mạng tháng Tám 1945 thành công, em là Tỉnh uỷ viên kiêm Uỷ viên Uỷ ban nhân dân tỉnh. Còn anh là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Phúc Lộc bấy giờ còn bao gồm 4 xa Nghi Trung, Nghi Liên, Nghi Diên, Nghi Vạn của huyện Nghi Lộc hiện nay. Sau vài năm lại được điều lên làm Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính huyện Nghi Lộc, đến cuối năm 1959 thì chuyển ra công tác tại bộ phận Hán Nôm của Ban Cổ, Cận thuộc Viện Văn học vừa được thành lập. Năm 1965, nghỉ hưu. Lý lịch trích ngang của nhạc phụ tôi khiêm nhường là vậy. Tại tổ Hán Nôm của Viện Văn học, bên cạnh những vị đại khoa, cụ Nghè Triển, các phó bảng: Phan Võ, Hà Văn Mạo và các học giả là những ông trùm văn hoá như Cao Xuân Huy, Đặng Thai Mai, nhạc phụ tôi luôn nhận là người thiểu học, khiếm học. Nhưng thực tế, nếu tôi không lầm thì cụ lại là người có thành tích sưu tầm, dịch thuật Hán Nôm nhiều nhất. Bấy giờ, có nhóm dịch thuật Hồng Lâu Mộng do cụ phó bảng Bùi Kỷ làm trưởng nhóm, nhưng vừa khởi công chút ít thì cụ Bùi Kỷ qua đời. Công việc do đó gặp khó khăn bởi các vị khoa bảng tham gia dịch thuật tuy là bậc thầy về kinh truyện, nhưng lại không mấy thông thạo ngoại thư (8), nhất là với ngôn ngữ của tiểu thuyết đồ sộ Hồng Lâu Mộng. Cụ Vân đã hầu đỡ các cụ trong việc khắc phục khó khăn ngoài phần dịch riêng của mình. Khi đem in, nhà xuất bản có ý định ghi tên cụ Vân là người hiệu đính. Nhưng Cụ nhất định từ chối với lời lẽ: tôi chỉ là phận học trò các cụ, đâu dám, làm thế là hỗn. Cụ Vân đã cùng cùng Nguyễn Khắc Hạnh dịch Kim vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, cùng ông Kiều Thu Hoạch dịch Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô Gia Văn Phái. Ngoài ra, Cụ đã dịch Tuỳ Viên Thi Thoại của Viên Mai, Dân ca Trung Quốc, Trung Quốc Tư Tưởng Sử của Dương Vinh Quốc, Vân Nang Tiểu Sử của Phạm Đình Dục, Quốc Triều Đình Đối Sách, Cấn Trai Thi Tập của Trịnh Hoài Đức, Thơ văn Nguyễn Trung Ngạn, Thơ văn Tự Đức, Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn… có loại đã in, có loại chưa in. Cùng cụ Nguyễn Sĩ Lâm và ông Nguyễn Văn Hoàn chú giải Truyện Kiều. Phương Lựu (tức GS.TSKT Bùi Văn Ba) trong sách “Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam” đã khẳng định vai trò của Cụ Vân là người “dẫn đầu” việc sưu tầm, dịch thuật, giới thiệu quan niệm văn chương của Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Địch Cát, Lý Văn Phức, Phan Thanh Giản, Nhữ Bã Sĩ, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Vũ Phạm Khải, Nguyễn Miên Thẩm, Phạm Phú Thứ, Bùi Văn Dị, Ngô Dưỡng Hạo, Lê Hữu Kiều, Lý Tử Tấn, Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Vịnh…

Riêng đối với thơ văn Lý Trần thì quả thật nhạc phụ Nguyễn Đức Vân của tôi đã có vai trò chủ công mà bạn đọc hôm nay dễ thường không biết. Bộ sách thơ văn Lý Trần do Nhà xuất bản Khoa học xã hội in ấn, phát hành hiện đã có ba tập với khổ trang lớn. Tập I dày 631 trang trong đó có 136 đơn vị văn bản được sưu tầm dịch thuật. Tập II (Quyển thượng) dày 968 trang, trong đó có 363 đơn vị văn bản được sưu tầm, dịch thuật. Tập III dày 822 trang trong đó có 415 đơn vị tác phẩm được sưu tầm, dịch thuật. “lời nói đầu” bộ sách Thơ Văn Lý Trần – tập I, xuất bản năm 1977 đã ghi rõ:

“Hơn 10 năm qua, kể từ sau ngày thành lập, Viện Văn học đã để ý, tìm hiểu văn học của thời đại Lý Trần, năm 1960, tổ Hán Nôm của Viện được giao nhiệm vụ sưu tập và phiên dịch ra tiếng Việt toàn bộ thơ văn từ đời Hồ trở về trước trong các sách vở chữ Hán còn lưu trữ tại các thư viện và trong một số tài liệu bi ký còn nằm rải rác ở các đình chùa trên miền bắc. Các đồng chí Nguyễn Đức Vân, Đào Phương Bình, cán bộ trong tổ đã trực tiếp tiến hành công việc đó. Nhờ nỗ lực tìm tòi, nghiên cứu, lại có sự giúp đỡ tận tình của những anh em khác trong tổ, nên công việc đã tiến hành tương đối thuận lợi, mỗi năm, khối lượng thơ văn tập hợp được ngày một phong phú dần. Đến năm 1965 việc sưu tầm cũng như việc phiên dịch bước đầu đã hoàn thành”.

Vậy mà trong bộ sách đồ sộ 3 tập, dày 2421 trang in khổ lớn, bao gồm 914 đơn vị văn bản này, phần cụ Vân chỉ là 034 đơn vị rưỡi trong đó tập I là 09 rưỡi trên 136, tập II (Quyển thượng) là 06 trên 363, tập III là 19 trên 415. Trong 3 tập , hai tập I và III in trước thì còn có tên cụ Vân trong nhóm biên soạn. Nhưng đến tập II (Quyển thượng) in sau vào năm 1989 (lúc này cụ Vân đã qua đời 15 năm) thì không còn tên trong nhóm biên soạn nữa.

Hiện tượng này là gĩ giữa cõi đời này? Để bạn đọc biết rõ có công bằng với cụ Vân, tôi xin nói thêm đôi điều. Trong thời gian từ 1960 đến 1965, cùng với người cộng sự của mình là bác Đào Phương Bình “hoàn thành bước đầu” việc sưu tầm cũng như việc phiên dịch ra tiếng Việt ” toàn bộ thơ văn từ đời Hồ trở về trước”, riêng về cụ Vân thì trong mấy năm đó, ngoài chuyện gắn bó với các thư viện, đặc biệt là Thư viện khoa học (vỗn là thư viện Viễn Đông bác cổ), với một chiếc xe đạp cọ cạch, đã đi hết chùa này đình khác ở nhiều nơi trên miền Bắc để sưu tầm, sao chép những gì liên quan đến thơ văn Lý Trần. Và nhiều ngày Chủ nhật, đã từ nội thành ra nhà tôi lúc này còn thuộc ngoại thành, để vừa thăm con cháu vừa tranh thủ làm việc dịch thuật. Ngày cụ nghỉ hưu, tôi hỏi thì Cụ cho biết với công trình thơ văn Lý Trần, phần cụ làm được là khoảng 600 đơn vị văn bản. Cả hai con số này cộng lại, đúng là tương ứng với mấy chữ “bước đầu đã là hoàn thành” của “Lời nói đầu” bộ sách đã dẫn ra trên đây. Trong gia đình Cụ chúng tôi, con trai trưởng là nhà văn Nguyễn Đức Đàn (nay đã quá cố), từng là Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật, Hiệu trưởng trường viết văn Nguyễn Du của Hội Nhà văn Việt nam, một nhà nghiên cứu văn học Việt Nam và thế giới có nhiều thành tựu, “một nhà văn hoá xuất sắc” (lời của nguyên Bộ trưởng Bộ Văn hoá – Thông tin Nguyễn Khoa Điềm ghi trong sổ tay), là thành viên từ ngày đầu thành lập Viện Văn học, từng là Bí thư chi bộ của Viện Văn học; con trai út là nhà thơ Anh Ngọc, từng giúp cha chữa chính tả trong nhiều bản dịch chữ Hán (10); và tôi con rể , vốn găn bó gần một đời với văn học trung cận đại Việt Nam trong đó có Hán Nôm…) chúng tôi không phải không biết những gì đã xẩy ra với người thân của mình chung quanh công trình văn thơ Lý trần. Nhưng nghĩ đến ông Cụ là người hiền lành, độ lượng đến mức suốt đời chưa biết nói năng với ai                         là gì, kể cả với con cháu trong nhà, nên chúng tôi chỉ nhếch mép cười và nói vui với nhau: trò đời là thế, và người xưa chẳng đã nói chuyện “Vua nước Sở mất cung, người nước Sở được” đó sao! Riêng tôi, còn có sự ám ảnh lời sách Nho mà thân phụ tôi từng truyền dạy cho từ thủa lên năm lên sáu: ” lấy ân báo oán” kể cả câu châm ngôn của người Pháp mà nhà trường Pháp Việt cùng truyền dạy: “Rendre le bien powr le mal” (lấy cái tôi đổi lại với cái xấu). Dĩ nhiên, trong chuyện này, tôi đã bị một vài bạn biết chuyện khuyên không nghe đã chê trách, thậm chí còn mằng là hèn, là nhu nhược, không giám đấu tranh. Biết vậy, nhưng đến nay, vẫn chưa làm được.

Cuối cùng, tôi lại một lần nữa muốn nói rằng: nhạc phụ của tôi – cụ Nguyễn Đức Vân – chẳng có chức danh gì. Chỉ là một cán sự bậc ba nghỉ hưu. Còn phải mấy chục năm nữa mới qua bậc 4, bậc 5, bậc 6, chuyên viên 1,2,3… để may gì sánh được ai đó. Tuy thế, đương thời, khi Cụ tôi còn là cán bộ của Viện Văn học thì chính Viện trưởng – Học giả Đặng Thai Mai, sư phụ của tôi, đã nói với tôi: “Ông Vân của chú là người trung hậu, làm việc nghiêm túc và giỏi”. Còn học giả Cao Xuân Huy (hồi ở cùng nhà với tôi) thì cũng hai lần nói với tôi: “anh có một nhạc phụ tuyệt vời”. Chẳng bằng cấp gì cả mà xem ra cử tú cũng khó bằng”. Tiếp nữa, sau này Cụ tôi qua đời, sách Văn hoá tổng hợp do tướng Trần Độ lúc này là Trưởng ban Văn hoá văn nghệ Trung ương làm chủ biên xuất bản năm 1989, tập I sách Tác gia Nghệ Tĩnh, nhà xuất bản Nghệ Tĩnh – 1990 đều viết về nhà Hán học Nguyễn Đức Vân. Đài truyền hình Hà Nội ngày 24/7/1995 ở mục “Ngày này năm xưa” cũng nói đến ngày mất của “nhà Hán học Nguyễn Đức Vân”. Gần đây nhất, năm 2003, Đài truyền hình Việt Nam cũng dựng phim chân dung “Dịch giả Nguyễn Đức Vân” khá đầy đặn.

Thì ra cuộc đời vẫn có luật bù trừ!

Riêng tôi thì trước sau, còn muốn được xếp nhạc phục của mình vào danh sách “Người xứ Nghệ” viết hoa, đặt trong ngoặc kép. Bởi cái rốn của Cụ tôi vẫn để lại trên đất Nghệ – Bởi Cụ là một học trò trong những học trò xứ Nghệ đã có quyết tâm vượt nghèo, vượt khó, say mê tự học để trở thành một người có ích cho đời. Bởi cụ là một bậc chân Nho trong những bậc chân Nho của xứ Nghệ. Tôi còn muốn nói Cụ là một người quân tử trong những người quân tử của xứ Nghệ. Đã hơn một lần, tôi viết đây đó rằng: đời tôi có một hạnh phúc lớn là có hai người cha: thân phụ và nhạc phụ có nhân cách tuyệt trần đã dắt tôi đi giữa cõi hồng trần. Riêng với vị nhạc phụ tôi đã thay mặt con cháu trong gia đình viết đôi câu đối bằng chứ Hán khắc vào bia đá tại mộ Cụ số 10 khu D10 thuộc nghĩa trang Yên Kỳ – Bát Bạt – Hà Tây là:

Đạo đức thanh cao tôn tử niệm

Văn chương uyên bác thế nhân tôn

(Tạm dịch: Đạo đức thanh cao con cháu nhớ, Văn chương uyên bác mọi người tôn UU). Và nữa, những dòng chữ giữa xuân Mậu Tý (2008) này xin được coi là nén nhang thơm dâng lên vị nhạc phụ trăm quý ngàn yêu trong tiết thanh minh.

 

(1) Cha tôi (1866 – 1954) là học trò cụ Sơn và sau đó lại thông gia với Cụ. Chị cả tôi là con dâu Cụ, chị út tôi là cháu dâu (nội) Cụ. Hai chị là con mẹ cả của tôi.

(2) Xem: Văn thơ họ Nguyễn Đức – NXB Văn hoá Thông tin 2000

(3) Hồ Hoàn Kiến, Sông Nhị Hà: biểu tượng của Thăng Long – Hà Nôi.

(4) Hồng Lam: Núi Hồng Lĩnh, Sông Lam: biểu tưởng của Xứ Nghệ, quê hương của tác giả.

(5) Xem: Ông già Bến Ngự. NXB Thuận Hoá – 1987.

(6) Nguyễn Đức Tịnh là tác giả của sách Lão Tử (nhờ Ngô Tất Tố của đứng tên) và sách Luận Lý. Cũng thuộc loại trầm Tự điển Pháp Việt của Trương Vĩnh Kỹ. Sau cách mạng tháng Tám, là chiến sỹ thi đua toàn quốc I (1951).

(7) Nguyễn Đức Bính: Một nhà giáo, một nhà báo nổi tiếng và có tài văn chường. Có sách văn học sử liệt ông vào hàng những người viết tiếng Pháp hay nhất Đông Dương thời Pháp thuộc.

(8) Ngoại thư: thuật ngữ chỉ loại văn chương ngoài kinh điển Nho gia như văn tiểu thuyết, văn báo chí.

(10) Cụ Vân quê Nghi Lộc – Nghệ An – là nơi ” cà có đuôi cà có cuống”, phát âm không phân biệt “sắc”, “hỏi” và “ngã”, “nặng”

         

            CHUYÊN MỤC:

         SƯU TẦM NGỮ NGHĨA TIÊNG VIÊT

BQM.-

 

1.- Chữ  trong hai câu chữ Nôm thứ 47- 48 của truyện Kiều
Dập dìu tài tử giai nhân,

Ngựa xe như nước áo quần như nen.
đã ám ảnh rất nhiều thế hệ những nhà nghiên cứu, bởi lẽ :

-Nguyễn Du đã lấy nó để đối với chữ nước .

–                                                                 –   Diễn tả sự chen chúc

 Phiên nó là nen hoặc nên là đúng với quy luật cấu tạo chữ Nôm, nhất là vì nó gồm chữ thủ( tay gâỵ) với niên là năm, cũng như chữ nền ( chùa Nền ) được viết một bên chữ thổ với một bên chữ niên. Nhưng nghĩa nen là gì ? là chen lấn nhau chăng? Cụ Lê văn Hòe phiên là năn ( cỏ năn) có vẻ như hợp lý vì nó đối được với nước, nhưng lại không đúng cấu tạo chữ Nôm. Nếu là năn thì Nguyễn Du phải viêt một bên chữ mộc mới phải.  Còn nhiều sách khác thì phiên là nêm

BQM cho rằng ở đây Nguyễn Du muốn ta đọc là niên, là niềng ( buộc ) của vùng Nghệ Tĩnh, mà cụ đã bỏ dấu huyền đi cho hợp vận. Ta còn liên tưởng tới cây niềng hay niễng được trồng ở bờ ao, cho củ xào với thịt bò ăn rất ngon ! Niên cũng có nghĩa như nêm, như chêm vậy. Nhưng như vậy lại không đối được với chữ nước. Vậy chữ gì đây hở cụ Tố Như ?

2.- Áo quần    . Ta gặp ở đây hai chữ của Việt hay ít nhất    là của Bách Việt. Người phương Bắc không dùng hai chữ này ( xem thêm những luận cứ trong các sách của Đỗ Anh Thơ.

 

 

 

 

 

 

 

CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE

 

   Đỗ Cao Đàm ( sưu tầm)

Bất ngờ công nghệ nhuộm màu xanh non cho cốm làng Vòng

Thương hiệu cốm làng Vòng thủ đô Hà Nội vốn nổi tiếng từ lâu, đến độ chỉ cần nhắc đến cốm, người sành ăn sẽ nghĩ ngay đến làng Vòng.

Vị ngầy ngậy, thanh ngọt, thoảng hương lúa mới của nắm cốm dẹp xanh non, gói trong lá sen… đã trở thành thứ quà quen thuộc của người dân thủ đô mỗi độ thu về và với những vị khách phương xa, nó là thứ đặc sản khiến họ nao nức tìm mua.

Thế nhưng, mới đây, trong một lần dẫn người thân từ miền Nam ra thủ đô đến tận làng Vòng (quận Cầu Giấy, Hà Nội) mua cốm, phóng viên báo điện tử Giáo Dục Việt Nam không khỏi “đỏ mặt” với khách về công nghệ làm cốm thời hiện đại với công đoạn tạo màu cho cốm bằng “chất lạ” được người dân làm cốm làng Vòng thực hiện công khai, không cần giấu giếm.

Ít ai biết rằng, màu xanh bắt mắt của chỗ cốm này là do phẩm màu công nghiệp tạo thành.

Tận mắt mục sở thị việc làm cốm mới biết cốm không sạch như chúng ta thường vẫn nghĩ.

Theo đó, sau khi cốm được rang chín, xát vỏ, hạt cốm vốn chưa có màu xanh và để cốm nhanh chuyển thành màu bắt mắt, người sản xuất “vô tư” sử dụng một thứ phẩm phun lên món đặc sản này.

Tại nhiều xưởng sản xuất cốm quy mô, công đoạn nhuộm cốm được thực hiện bằng máy phun sơn để cốm được đều màu. Còn ở những cơ sở nhỏ hơn, người làm dùng…. chổi để vẩy nước phẩm màu lên cốm.

Chính vì điều này mà hiện tại, tất cả các cơ sở sản xuất cốm tại làng Vòng thường không muốn cho du khách đến thăm chụp ảnh, ghi lại những nét đẹp của một làng nghề truyền thống.

Một bà chủ cơ sở sản xuất cốm đã thẳng thắn nói rằng: “Không được chụp, chụp ảnh này lên báo thì ai người ta còn dám ăn cốm nữa”. Điều đó cho thấy, chính những người sản xuất cốm ở đây cũng biết được mình đang sử dụng những chất không có lợi cho sức khỏe để làm cốm.

Công đoạn công khai nhuộm màu cho cốm…

Không những thế, cốm còn được sản xuất ở… nền nhà nhem nhuốc bẩn thỉu, để gom cốm vương vãi trên nền đất khi giã cốm, người ta phải dùng đến… chổi để quét.

Phẩm nhuộm cốm: bán tràn lan trên phố Hàng Buồm

Cùng người thân rời làng cốm với tậm trạng khá thất vọng về làng Vòng, pv làm cuộc khảo sát trên phố Hàng Buồm… nơi được mệnh danh là con phố phụ gia của Hà Nội và thật bất ngờ, khi hỏi mua hóa chất về nhuộm màu cho cốm, các chủ cửa hàng tại đây đều đon đả giới thiệu sản phẩm.

Tại cửa hàng K.N, chị chủ cửa hàng cho biết: phẩm nhuộm để làm cốm dạng khô và tinh dầu cốm dạng nước. Tinh dầu cốm giúp cốm thơm, ngon. Những gia đình không có gạo nếp làm cốm có thể chế gạo tẻ làm cốm và ướp nước tinh dầu.

Còn đối với các loại phẩm màu để làm cốm, người bán hàng giới thiệu phẩm có màu xanh cốm, nhìn rất bắt mắt, giá bán 15 nghìn đồng/lạng. Đối với loại phẩm này, khi về dùng người làm hàng chỉ cần pha với nước và quét hoặc phun trực tiếp lên cốm. Mỗi bịch phẩm có khối lượng 1kg có thể dùng cho cả một vụ làm cốm. Mỗi lần pha chỉ cần cho vài thìa nhỏ là giúp cốm đạt màu mong muốn.

Băn khoăn về nguồn gốc của loại phẩm màu này. Người bán hàng trấn an: “Cửa hàng thường xuyên bán cho các hộ làm cốm trong Hà Nội, không chỉ làm cốm mà còn làm cả bánh cốm, bánh xu xê…, các loại bánh cần có màu xanh, bột chỉ có bột trắng, làm gì có bột nào màu xanh đâu em”.

Hóa chất nhuộm cốm thế này được bán tràn lan trên phố Hàng Buồm…

Trong khi đó, tại một cửa hàng khác trên phố Hàng Buồm, phẩm nhuộm thực phẩm màu cốm được bán với giá 450 nghìn đồng/kg. Bà chủ cửa hàng “bật mí”: “Sản phẩm này là phẩm màu thực phẩm được phép dùng nên đắt mà hiệu quả lại không cao nên ít người hỏi mua về. Chỉ khi nào có khách bà mới đặt hàng. Còn loại phẩm màu giá 15 đến 20 nghìn đồng/lạng là phẩm màu công nghiệp. Ưu điểm của phẩm màu công nghiệp vừa rẻ, hiệu quả lại cao. Nếu dùng phẩm màu thực phẩm thì 1 lạng phẩm màu chỉ nhuộm được khoảng 6-8 kg cốm, bánh cũng tương tự. Giá thành cao nên nhiều người không mặn mà”.

Trao đổi với PGS, TS Nguyễn Duy Thịnh (Viện công nghệ thực phẩm – Đại học Bách Khoa Hà Nội) về nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe nếu dùng phải phẩm màu không an toàn, PGS Thịnh lo lắng nếu phẩm màu ngoài danh mục cho phép với những dư lượng kim loại nặng tồn đọng có thể gây hậu quả di truyền, biến dị xấu về gen cho những thế hệ sau. Nếu ăn phải thực phẩm có phẩm màu công nghiệp có thể gây độc thực phẩm cấp tính, ung thư, gây tổn thương gan, thận cho người sử dụng.

Tận mắt chứng kiến cảnh tạo màu cho cốm Vòng được sản xuất tại những cơ sở sản xuất cốm ở làng Vòng, pv báo Giáo Dục Việt Nam đã  để ghi lại những hình ảnh đầy ấn tượng để cho ra lò những hạt cốm mà mọi người vẫn thường mua làm quà.

Cốm làng Vòng được sản xuất vào hai mùa lúa trong năm. Nguyên liệu của cốm chủ yếu được làm từ lúa nếp non “bánh tẻ” và màu sắc của cốm được tạo lên bởi… phẩm màu được bày bán với giá 150 nghìn đồng/1kg trên thị trường.
Phẩm màu được pha với nước lã, sau đó phun hoặc vẩy đều lên những mẻ cốm rồi để cho ráo.

 

 

Có nhà thì dùng máy phun dạng sương mù để vừa thổi trấu, vừa phun màu cho được đều.

 

 

Có nhà thì dùng…. chổi rơm để thấm màu rồi “nhuộm” cốm…

 

 

Ảnh của Nam Phong

                       

Docago,wordpress.com thứ bảy ngày 24/9/2011 tức 27/8 năm Tân Mão

Docago.wordpress.com số ra thứ 7 ngày  24/9/2011 9 tức 27 thang8 năm Tân Mão)

CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY\                                   

           Đỗ Anh Thơ:

           Hình ảnh văn hoa tư tưởng trên thế giới ( tiếp theo)

Chương thứ 4

Triết học luân lý của Socrates

                              

Socrates (tiếng Hy Lạp: Σωκράτης Sōkrátēs) là một triết gia Hy Lạp cổ đại, người được mệnh danh là bậc thầy về truy vấn. Về năm sinh của ông hiện vẫn chưa có sự thống nhất giữa năm 469 hay 470. (469399 TCN), (470399 TCN). Ông sinh ra tại Athena, tức Hy lạp, và đã sống vào một giai đoạn thường được gọi là hoàng kim của thành phố này. Thời trẻ, ông nghiên cứu các loại triết học thịnh hành lúc bấy giờ của các “triết học gia trước Socrates”, đó là nền triết học nỗ lực tìm hiểu vũ trụ thiên nhiên chung quanh

                                Socrate  và vợ ( tranh cua David)

 

chúng ta.  Socrates được coi là nhà hiền triết, một công dân mẫu mực của thành Athènes, Hellade cổ đại. Ông là nhà tư tưởng nằm giữa giai đoạn bóng tối và giai đoạn ánh sáng của nền triết học Hy Lạp cổ đại. Socrates còn được coi là người đặt nền móng cho thuật hùng biện dựa trên hệ thống những câu hỏi đối thoại. Ông có tư tưởng tiến bộ, nổi tiếng về đức hạnh với quan điểm: “Hãy tự biết lấy chính mình”, “Tôi chỉ biết mỗi một điều duy nhất là tôi không biết gì cả”. Ông bị chính quyền khi đó kết tội làm bại hoại tư tưởng của thanh niên do không thừa nhận hệ thống các vị thần cũ được thành Athènes thừa nhận và bảo hộ và truyền bá các vị thần mới. Vì thế ông bị tuyên phạt tự tử bằng thuốc độc, mặc dù vậy ông vẫn có thể thoát khỏi án tử hình này nếu như ông công nhận những cáo trạng và sai lầm của mình, hoặc là rời bỏ Athen. Nhưng với quan điểm “Thà rằng chịu lỗi, hơn là lại gây ra tội lỗi.”, ông kiên quyết ở lại, đối diện với cái chết 1 cách hiên ngang. Theo ông sự thật còn quan trọng hơn với cả sự sống.

Sinh thời ông không mở trường dạy học, mà thường coi mình là có sứ mệnh của thần linh, nên phải đi dạy bảo mọi người và không làm nghề nào khác. Socrates thường nói chuyện với mọi người tại các nơi công cộng, tại các agora và không lấy tiền, nên ông chấp nhận sống một cuộc sống nghèo. Học trò xuất sắc của ông là đại hiền triết Platon từng theo học trong 8 năm dòng.

“Vấn đề Socrates”

Phác hoạ một hình ảnh chính xác về tiểu sử của Socrates và quan điểm triết học của ông là một nhiệm vụ vô cùng gian nan.

Socrates không viết các tác phẩm triết học. Hiểu biết của chúng ta về ông, cuộc đời và sự nghiệp của ông dựa trên ghi chép của các học trò và người cùng thời. Đầu tiên trong số đó là Plato; tuy nhiên, tác phẩm của Xenophon, Aristotle, và Aristophanes cũng cung cấp những hiểu biết sâu sắc. Tìm kiếm một hình ảnh Socrates “thật sự” là một điều rất khó khăn bởi những tác phẩm đó thường mang tính triết lý hay là kịch hơn là sự thật lịch sử. Ngoài ra từ Thucydides (người không đề cập đến Socrates hay các triết gia nói chung), thật sự không có một tiểu sử thực thụ của những người cùng thời với Plato. Kết quả tất yếu của điều đó là những nguồn đó đã không mâu thuẫn với sự chính xác lịch sử. Các nhà sử học trước kia phải đối mặt với việc làm hòa hợp rất nhiều tài liệu để tạo nên sự miêu tả chính xác về cuộc đời và công việc. Kết quả của những nỗ lực như thế là sự tất yếu mang tính hiện thực, là sự thống nhất đơn thuần.

Về tổng quan, Plato được xem như là nguồn thông tin chắc chắn về cuộc đời và tác phẩm của Socrates. Tuy nhiên, điều đó cũng được làm sáng tỏ trong các tài liệu và các tác phẩm lịch sử tằng Socrates không đơn giản chỉ là nhân vật, hay phát minh của Plato. Sự chứng nhận của XenophonAristole, theo như một số tác phẩm của Aristophane trong The Clouds, có thể hữu dụng trong việc liên kết nhận thức về một Socrates bằng xương bằng thịt bên cạnh các tác phẩm của Plato Chi tiết về Socrates có nguồn gốc từ ba tác phẩm của những người cùng thời: the dialogues của PlatoXenophon (đều là người say mê Socrates), và các vở kịch của Aristophanes. Ông cũng được miêu tả bởi một vài học giả, kể cả Eric HavelockWalter Ong, quán quân của việc kể truyền miệng, đứng sừng sững vào buổi bình minh của văn viết chống lại sự truyền bá bừa bãi. Vở kịch The Clouds của Aristophane miêu tả Socrates như là một chú hề dạy dỗ học trò của mình cách thức lừa bịp để thoát nợ. Dĩ nhiên hầu hết tác phẩm của Aristophane đều mang tính chất châm biếm. Vì lẽ đó nó được cho là sự thành công trong việc xây dựng nhân vật tiểu thuyết hơn là miêu tả chân thực. Theo Plato, cha của Socrates là Sophroniscus và mẹ là Phaenarete, một bà đỡ. Dù được miêu tả như một mẫu người thiếu sức hấp dẫn bề ngoài và có vóc người nhỏ bé nhưng Socrates vẫn cưới Xanthippe, một cô gái trẻ hơn ông ta rất nhiều. Cô ấy sinh cho ông ba đứa con trai Lamprocles, SophroniscusMenexenus. Bạn của ông là Crito của Alopece chỉ trích ông về việc bỏ rơi những đứa con trai của ông khi ông từ chối việc cố gắng trốn thoát khỏi việc thi hành án tử hình. ¬Không rõ Socrates kiếm sống bằng cách nào. Các văn bản cổ dường như chỉ ra rằng Socrates không làm việc. Trong Symposium của Xenophon, Socrates đã nói rằng ông nguyện hiến thân mình cho những những gì ông coi là nghệ thuật hay công việc quan trọng nhất: những cuộc tranh luận về triết học. Trong The Clouds Aristophanes miêu tả Socrates sẵn sàng chấp nhận trả công cho Chaerephon vì việc điều hành một trường hùng biện, trong khi ở ApologySymposium của Plato và sổ sách kể toán của Xenophon, Socrates dứt khoát từ chối việc chỉ trả cho giảng viên. Để chính xác hơn, trong Apology Socrates đã viện dẫn rằng cảnh nghèo nàn của ông ấy là chứng cớ cho việc ông ấy không phải là một giáo viên. Theo Timon của Phlius và các nguồn sau này, Socrates đảm nhận việc trông coi xưởng đá từ người cha. Có một lời truyền tụng cổ xưa, chưa được kiểm chứng bởi sự các học giả, rằng Socrates đã tạo nên bức tượng Three Grace ở gần Acropolis, tồn tại cho đến tận thế kỉ thứ 2 sau Công nguyên. Một số đoạn đối thoại của Plato quy cho việc Socrates phục vụ trong quân đội. Socrates nói ông phục vụ trong quân đội Athen trong suốt ba chiến dịch: tại Potidaea, Amphipolis, và Delium. Trong Symposium Alcibiades mô tả sự dũng cảm của Socrates trong trận Polidaea và Delium, kể lại chi tiết việc Socrates cứu mạng ông ta như thế nào tại cuộc chiến trước (219e – 221b). Sự phục vụ bất thường của Socrates ở Delium cũng được đề cập đến trong tác phẩm Laches với vị tướng cùng tên với đoạn đối thoại (181b). Trong Apology, Socrates so sánh sự phục vụ trong quân đội với việc ông bị rắc rối ở phòng xử án, và nói với tất cả bồi thẩm đoàn nghĩ rằng việc ông nên từ bỏ triết học cũng phải nghĩ rằng những người lính nên chạy trốn mỗi khi họ thấy họ có thể bị giết trong chiến trận.

Cuộc xử án và cái chết

Hình: Cái chết của Socrates (La Mort de Socrate, 1787), tranh của Jacques-Louis David, hiện được trưng bày ở bảo tàng mỹ thuật Metropolitan

Socrates đã sống trong thời kỳ thịnh vượng của thành bang Athena cho đến lúc nó suy tàn bởi người Spartaliên minh của nó trong cuộc chiến tranh Peloponnesus. Trong lúc Athena tìm kiếm sự ổn định và phục hồi từ thất bại ê chề, nền cộng hòa dân chủ chủ nô của Athen bị nghi ngờ là làm suy yếu sự lãnh đạo của nhà nước. Socrates xuất hiện để chỉ trích thể chế dân chủ, và một vài học giả giải thích rằng việc xét xử ông là biểu hiện của sự đấu tranh chính trị.

Mặc dù luôn thể hiện sự trung thành đến chết với thành bang, song việc Socrates theo đuổi đến cùng lẽ phải và đức hạnh của ông đã mâu thuẫn với chiều hướng chính trị và xã hội đương thời của Athena. Ông ca ngợi Sparta, chê bai Athena, trực tiếp và gián tiếp trong nhiều cuộc đối thoại. Nhưng có lẽ hầu hết các sử liệu xác thực đều cho thấy sự đối lập của Socrates với thành bang là ở quan điểm chỉ trích xã hội và luân lý của ông. Thích bảo vệ sự nguyên trạng hơn là chấp nhận phát triển sự phi đạo đức. Trong lĩnh vực của mình Socrates cố gắng phá vỡ quan niệm lâu đời “chân lý thuộc về kẻ mạnh” rất thông dụng ở Hy Lạp lúc bấy giờ. Plato cho Socrate là “ruồi trâu” của nhà nước (như một con ruồi châm chích con trâu, Socrates châm chọc Athen]]. Quá đà hơn ông chọc giận các nhà quản lý với ý kiến đòi xem xét các phán quyết toà án và các quyết định. Cố gắng của ông để tăng cường ý thức của tòa án Athena có lẽ là nguồn cơn cho việc hành hình ông.
Theo Apology của Plato, cuộc đời như “ruồi trâu” của Athen bắt đầu khi bạn của ông Chaerephon hỏi nhà tiên triDelphi rằng có thể có ai khôn ngoan hơn Socrates; nhà tiên tri trả lời rằng không có ai. Socrates tin rằng nhà tiên tri đã nói đến một nghịch lý, bởi vì ông tin ông không thể chiếm giữ sự khôn ngoan mãi mãi. Ông cố gắng để kiểm tra bằng cách đố những người cho là khôn ngoan ở Athena, như là chính khách, thi sĩ hay thợ thủ công nhằm bác bỏ những lời nhà tiên tri nói. Nhưng khi hỏi họ Socrates đi đến kết luận, khi một người cho rằng anh ta biết rất nhiều thì thực ra anh ta biết rất ít và không khôn ngoan cho lắm. Socrates nhận ra rằng nhà tiên tri đã đúng, một người được gọi là khôn ngoan khi họ nghĩ rằng họ không như thế, ông cũng tự biết rằng ông không khôn ngoan hoàn toàn, nghịch lý là ở chỗ ông là người khôn ngoan duy nhất kể từ khi ông biết những điều ông không biết. Nghịch lý sự khôn ngoan của Socrates đã khiến những người đứng đầu ở Athena mà ông từng đố công khai cảm thấy mình trở nên ngốc nghếch, nên họ đã quay lại chống lại ông và dẫn tới việc buộc tội đó hành vi sai trái. Socrates bảo vệ vai trò của ông như ruồi trâu đến cùng; trong tù, khi ông được hỏi về đề xuất với hình phạt của chính ông, ông đề nghị được chính phủ trả lương tuần và bữa tối miễn phí để bù vào khoảng thời gian ông phải nghỉ , cung cấp tiền cho thời gian ông ấy dùng để làm ân nhân của thành Athena. Tuy thế ông vẫn bị khép vào tội làm hư hỏng đầu óc của thanh niên Athena và bị kết án tử hình bằng việc uống một loại độc dược bào chế từ cây độc cần. Theo như sử liệu của Xenophon, Socrates có chủ đích thách thức bồi thẩm đoàn vì “ông ấy tin rằng ông ấy nên tự tử thì hơn”. Xenophon tiếp tục mô tả sự kháng cự Socrates như là giải thích sự nghiêm khắc của người già và Socrates vui mừng như thế nào khi lừa được họ kết án ông tử hình. Điều đó giúp ta hiểu ra rằng Socrates cũng ước muốn được chết bởi ông “thật sự tin cuộc đời thực của ông sẽ đến khi ông chết” Xenophon và Plato đồng ý rằng Socrates có một cơ hội giải thoát và những người tin theo ông có thể đút lót lính coi ngục. Ông chọn ở lại bởi mấy lý do sau

1. Ông tin rằng sự trốn chạy là biểu hiện của sự sợ hãi cái chết, bở ông tin không triết gia nào làm thế

2. Nếu ông trốn khỏi Athena sự dạy dỗ của ông không thể ổn thỏa hơn ở bất cứ nước nào khác như ông đã từng truy vấn mọi người ông gặp và không phải chịu trách nhiệm về sự không vừa ý của họ

3. Bằng sự chấp thuận sống trong khuôn khổ luật của thành bang, ông hoàn toàn khuất phục chính bản thân ông để có thể bị tố cáo như tội phạm bởi các công dân khác và bị tòa án của nó phán là có tội. Mặt khác có thể ông bị kết tội vì phá vỡ sự “liên hệ cộng đồng” với Nhà nước, và gây tộn hại đến Nhà nước, một sự trái ngược so với nguyên lý của Socrates. Lý do đầy đủ ẩn chứa sau lời từ chối trốn chạy của ông là chủ đề chính của vở kịch Crito

      Cụm phế tích thành Athens

                    

                                                    CổngPropylea

Điện Parthenon

Tượng nữ thần Hy Lạp ở  Đền Erechtheion

           

Đền Nike Apteros

                                              

Di tích kịch trường lộ thiên tửu tinh( thần rượu)Dionysos (Hy lạp)

Cái chết của Socrates được diễn tả ở phần cuối của cuốn Phaedo của Plato. Socrates bác bỏ lời cầu xin của Crito để cố gắng thử trốn khỏi tù. Sau khi uống độc dược, ông vẫn được dẫn đi dạo cho đến khi bước chân ông trở nên nặng nề. Sau khi ông gục xuống, người quản lý độc dược véo thử vào chân ông. Socrates không còn cảm giác ở chân nữa. Sự tê liệt dần dần lan khắp cơ thể ông cho đến khi nó chạy vào tim ông. Không lâu trước khi ông chết, Socrates trăn trối với Crito “Crito, chúng ta nợ một con gà trống với Asclepius. Làm ơn đừng quên trả món nợ đó”. Asclepius là thần chữa bệnh của người Hy Lạp, và những lời cuối cùng của Socrates nghĩa là cái chết là cách chữa bệnh và sự tự do là việc tâm hồn thoát ra khỏi thể xác. Nhà triết học La Mã Secena đã thử bắt chước cái chết của Socrates khi bị ép tự tử bởi Hoàng đế Nero.

Triết học: Phương pháp Socrates

Có lẽ đóng góp quan trọng nhất của ông cho tư tưởng phương Tây là phương pháp truy vấn biện chứng, được biết đến dưới tên gọi “phương pháp Socrates” hay phương pháp “bác bỏ bằng logic” (elenchus). Ông đã áp dụng phương pháp này chủ yếu cho việc kiểm nghiệm các khái niệm quan trọng về mặt đạo đức như Tốt đẹp và Công bằng. Plato là người đầu tiên miêu tả phương pháp này tác phẩm “Các cuộc hội thoại của Socrates”. Để giải quyết một vấn đề, người ta chia nhỏ nó thành một hệ thống các câu hỏi, các câu trả lời sẽ dần dần kết tinh ra lời giải mà ta tìm kiếm. Ngày nay, ảnh hưởng của cách tiếp cận này có thể thấy rõ nhất ở việc sử dụng phương pháp khoa học, mà bước đầu tiên là đặt ra giả thuyết. Sự phát triển và sử dụng phương pháp này là một trong những đóng góp bền vững nhất của Socrates, đó là thành tố chính trong việc đánh giá ông là cha đẻ của triết học chính trị, luân lý học, và là người khởi đầu của các xu hướng chính trong triết học phương Tây.

Phương pháp Socrates có thể được diễn tả như sau; một loạt câu hỏi được đặt ra để giúp một người hay một nhóm người xác định được niềm tin cơ bản và giới hạn của kiến thức họ. Phương pháp Socrates là phương pháp loại bỏ các giả thuyết, theo đó người ta tìm ra các giả thuyết tốt hơn bằng cách từng bước xác định và loại bỏ các giả thuyết dẫn tới mâu thuẫn. Nó được thiết kế để người ta buộc phải xem xét lại các niềm tin của chính mình và tính đúng đắn của các niềm tin đó. Thực tế, Socrates từng nói, “Tôi biết anh sẽ không tin tôi, nhưng hình thức cao nhất của tinh túy con người là tự hỏi và hỏi người khác”

Niềm tin triết học

Người ta khó phân biệt giữa các niềm tin triết học của Socrates và của Plato. Có rất ít các căn cứ cụ thể cho việc tách biệt quan điểm của hai ông. Các lý thuyết dài biểu đạt trong đa số các đoạn hội thoại là của Plato, và một số học giả cho rằng Plato đã tiếp nhận phong cách Socrates đến mức lảm cho nhân vật văn học và chính nhà triết học trở nên không thể phân biệt được. Một số khác phản đối rằng ông cũng có những học thuyết và niềm tin riêng. Nhưng do khó khăn trong việc tách biệt Socrates ra khỏi Plato và khó khăn của việc diễn giải ngay cả những tác phẩm kịch liên quan đến Socrates, nên đã có rất nhiều tranh cãi xung quanh việc Plato đã có những học thuyết và niềm tin riêng nào. Vấn đề này còn phức tạp hơn nữa bởi thực tế rằng nhân vật Socrates trong lịch sử có vẻ như nổi tiếng là người chỉ hỏi mà không trả lời với lý do mà ông đưa ra là: mình không đủ kiến thức về chủ đề mà ông hỏi người khác.[4]

Nếu có một nhận xét tổng quát về niềm tin triết học của Socrates, thì có thể nói rằng về mặt đạo đức, tri thức, và chính trị, ông đi ngược lại những nguời đồng hương Athena. Khi bị xử vì tội dị giáo và làm lũng đoạn tâm thức của giới trẻ Athena, ông dùng phương pháp phản bác bằng lôgic của mình để chứng minh cho bồi thẩm đoàn rằng giá trị đạo đức của họ đã lạc đường. Ông nói với họ rằng chúng liên quan đến gia đình, nghề nghiệp và trách nhiệm chính trị của họ trong khi đáng ra họ cần lo lắng về “hạnh phúc của tâm hồn họ”. Niềm tin của Socrates về sự bất tử của linh hồn và sự tin tưởng chắc chắn rằng thần linh đã chọn ông làm một phái viên có vẻ như đã làm những người khác tức giận, nếu không phải là buồn cười hay ít ra là khó chịu. Socrates còn chất vấn học thuyết của các học giả đương thời rằng người ta có thể trở nên đức hạnh nhờ giáo dục. Ông thích quan sát những ông bố thành công (chẳng hạn vị tướng tài Pericles) nhưng không sinh ra những đứa con giỏi giang như mình. Socrates lập luận rằng sự ưu tú về đạo đức là một di sản thần thánh hơn là do sự giáo dục của cha mẹ. Niềm tin đó có thể đã có phần trong việc ông không lo lắng về tương lai các con trai của mình.

Socrates thường xuyên nói rằng tư tưởng của ông không phải là của ông mà là của các thầy ông. Ông đề cập đến một vài người có ảnh hưởng đến ông: nhà hùng biện Prodicus và nhà khoa học Anaxagoras. Người ta có thể ngạc nhiên về tuyên bố của Socrates rằng ông chịu ảnh hưởng sâu sắc của hai người phụ nữ ngoài mẹ ông. Ông nói rằng Diotima, một phù thủy và nữ tu xứ Mantinea dạy ông tất cả những gì ông biết về tình yêu, và Aspasia, tình nhân của Pericles, đã dạy ông nghệ thuật viết điếu văn. John Burnet cho rằng người thầy chính của ông là Archelaus (người chịu ảnh hưởng của Anaxagoras), nhưng tư tưởng của ông thì như Plato miêu tả. Còn Eric A. Havelock thì coi mối quan hệ của Socrates với những người theo thuyết Anaxagoras là căn cứ phân biệt giữa triết học Plato và Socrates

Nghịch lý Socrates

Nhiều niềm tin triết học cổ xưa cho rằng tiểu sử của Socrates đã được biểu thị như một « nghịch lý » bởi chúng có vẻ như mâu thuẫn với nhận thức thông thường. Những câu sau nằm trong số những nghịch lý được cho là của Socrates

– Không ai muốn làm điều ác và Không ai làm điều ác hay sai trái có chủ ý

– Đạo đức – tất cả mọi đạo đức là kiến thức và Đạo đức là đủ cho hạnh phúc

 

                                

                              Phế tích tương truyền là nhà ngục giam  Socrate

Nhận thức

Socrates thường nói sự khôn ngoan của ông ấy rất hạn chế để có thể nhận thức được sự ngu ngốc của ông. Socrates tin rằng những việc làm sai là kết quả của sự ngu ngốc và những nguời đó thường không biết cách làm tốt hơn. Một điều mà Socrates luôn một mực cho rằng kiến thức vốn là “nghệ thuật của sự ham thích” điều mà ông liên kết tới quan niệm về “Ham thích sự thông thái”,. Ông ấy không bao giờ thực sự tự nhận rằng mình khôn ngoan, dù chỉ là để hiểu cách thức mà người ham chuộng sự khôn ngoan nên làm để theo đuổi được điều đó. Điều đó gây nên tranh lụân khi mà Socrates tin rằng con người (với sự chống đối các vị thần như Apollo) có thể thật sự trở nên khôn ngoan. Mặt khác, ông cố gắng vạch ra một đường phân biệt giữa sự ngu ngốc của con người và kiến thức lý tưởng; hơn nữa, Symposium của Plato (Phát biểu của Diotima) và Republic (Ngụ ngôn về Cái hang) diễn tả một phương pháp để tiến đến sự khôn ngoan.

Trong Theaetus của Plato (150a) Socrates so sánh bản thân với một người làm mối đúng đắn như là sự phân biệt với một tên ma cô. Sự phân bịêt này lặp lại trong Symposium của Xenophon (3.20), khi Socrates bỡn cợt về một điều chắc chắn để có thể tạo một gia tài, nếu ông chọn để thực hành nghệ thuật ma cô. Với vai trò là một nhà truy vấn triết học, ông dẫn dắt người đối thọai tới một nhận thức sáng rõ khôn ngoan, dù cho ông không bao giờ thừa nhận mình là một thầy giáo (Apology). Theo ông thì vai trò của ông có thể hiểu đúng đắn hơn là một bà đỡ. Socrates giải thích rằng bản thân ông là một thứ lý thuyết khô khan, nhưng ông biết cách để làm cho thuyết của người khác có thể ra đời và quyết định khi nào họ xứng đáng hoặc chỉ là “trứng thiếu”. Có lẽ theo một cách diễn đạt đặc biệt, ông ấy chỉ ra rằng những bà đỡ thường hiếm muộn do tuổi tác, và phụ nữ không bao giờ sinh thì không thể trở thành bà đỡ; một người phụ nữ hiếm muộn đúng nghĩa nhưng không có kinh nghiệm hay kiến thức về sinh sản và không thể tách đứa trẻ sơ sinh với những gì nên bỏ lại để đứa bé có thể chào đời. Để phán đóan đuợc điều đó, bà đỡ cần phải có kinh nghiệm và kiến thức về việc mà bà đang làm.

Phương pháp giảng dạy:  Các bài dạy của ông thường được chia làm hai phần dựa trên sự đối thoại:

  • Phần thứ nhất: Phần hỏi và trả lời cho đến khi người đối thoại nhận thức là mình sai.
  • Phần thứ hai: Đây là phần lập luận: Ông giúp cho người đối thoại hiểu và tự tìm lấy câu trả lời. Ông nói: “Mẹ tôi đỡ đẻ cho sản phụ, còn tôi đỡ đẻ cho những bộ óc”

Những câu nói bất hủ của ông:  “Hãy tự biết lấy chính mình.”

-“Con người không hề muốn hung ác tàn bạo.”

-“Việc gọi là tốt khi nó có ích.”

-“Đạo đức là khoa học là lối sống.”

“Hạnh phúc có được khi nó dung hòa với đạo đức.”

-“Điều bị bắt buộc phải làm cũng là điều hữu ích.”

          Chương 5.- Học thuyết quốc gia của và

 lý niệm chủ nghĩa duy tâm cua Platon

              Platon (tiếng Hy Lạp: Πλάτων, Platōn, “Vai Rộng”), sống khoảng 427347 TCN, là một nhà triết học cổ đại Hy Lạp được xem là thiên tài trên nhiều lĩnh vực, có nhiều người coi ông cùng với Socrates (Σωκράτης) là thầy ông.là hai triết gia vĩ đại nhất mọi thời đại..

Sinh ra ở Athena, ông được hấp thụ một nền giáo dục tuyệt vời từ gia đình, ông tỏ ra nổi bật trên mọi lĩnh vực nghệ thuật và đặc biệt là triết học, ngành học mà ông chuyên tâm theo đuổi từ khi gặp Socrates.

Ông đã từng bị bán làm nô lệ và được giải thoát bởi một người bạn, sau đó, ông đã trở về Athena khoảng năm 387 TCN và sáng lập ra Viện hàn lâm – (tên lấy theo khu vườn nơi ông ở). Đây có thể được coi là trường đại học đầu tiên trong lịch sử nhân loại, nơi dành cho nghiên cứu, giảng dạy khoa học và triết học. Aristoteles (Αριστοτέλης) đã theo học tại đây khi 20 tuổi và sau này lập ra một trường khác là Lyceum.

Khi Socrates chết vào năm 399 TCN thì Platon mới khoảng 31 tuổi. Trong suốt phiên tòa xử thầy mình, ông ngồi dự ở phòng xử án. Toàn bộ chuỗi biến cố đó dường như đã ăn sâu vào tâm hồn ông thành một kinh nghiệm chấn động, vì ông đánh giá Socrates là người giỏi nhất, minh triết nhất và chính trực nhất trong tất cả mọi người.

Từ đó Platon bắt đầu cho phổ biến một loạt các đối thoại triết học trong đó nhân vật chính luôn luôn là Socrates, căn vặn những kẻ đối thoại của ông về những khái niệm căn bản về đạo đứcchính trị, làm cho họ mắc mâu thuẫn trước những câu hỏi của ông.

Có lẽ Platon có hai động cơ chính để làm việc này. Một là để thách thức và tái khẳng định những lời giáo huấn của Socrates bất chấp chúng đã bị kết án một cách công khai; hai là để phục hồi danh dự người thầy yêu quí của mình, cho mọi người thấy ông không phải là một kẻ hủy hoại giới trẻ mà là một bậc thầy danh giá nhất của họ.

 Triết học Platon

Platon là nhà triết học duy tâm khách quan. Điểm nổi bật trong hệ thống triết học duy tâm của Platon là học thuyết về ý niệm. Trong học thuyết này ông đưa ra hai quan niệm về thế giới các sự vật cảm biết và thế giới các ý niệm. Trong đó thế giới các sự vật cảm biết là không chân thực, không đúng đắn vì các sự vật không ngừng sinh ra và mất đi, thay đổi và vận động, không ổn định, bền vững, hoàn thiện; còn thế giới ý niệm là thế giới phi cảm tính phi vật thể, là thế giới đúng đắn, chân thực, các sự vật cảm biết chỉ là cái bóng của ý niệm. Nhận thức của con người không phải là phản ánh các sự vật cảm biết của thế giới khách quan mà là nhận thức về ý niệm. Thế giới ý niệm có trước thế giới cảm biết, sinh ra thế giới cảm biết. Từ quan niệm trên Platon đã đưa ra khái niệm “tồn tại” và “không tồn tại”. “Tồn tại” theo ông là cái phi vật chất, cái nhận biết được bằng trí tuệ siêu tự nhiên là cái có tính thứ nhất. Còn “không tồn tại” là vật chất, cái có tính thứ hai so với cái tồn tại phi vật chất. Về mặt nhận thức luận Platon cũng mang tính duy tâm. Theo ông tri thức là cái có trước các sự vật chứ không phải là sự khái quát kinh nghiệm trong quá trình nhận thức các sự vật đó. Nhận thức con người không phản ánh các sự vật của thế giới khách quan mà chỉ là nhớ lại, hồi tưởng lại của linh hồn những cái đã quên trong quá khứ. Theo Platon tri thức đuợc phân làm hai loại: Tri thức hoàn toàn đúng đắn và tri thức mờ nhạt. Loại thứ nhất là tri thức ý niệm có đựơc nhờ hồi tưởng. Loại thứ hai là tri thức nhận được nhờ vào nhận thức cảm tính, lẫn lộn đúng sai không có chân lí. Về xã hội, Platon đưa ra quan niệm về nhà nước lí tưởng trong đó sự tồn tại và phát triển của nhà nước lí tưởng dựa trên sự phát triển của sản xuất vật chất, sự phân công hài hoà các ngành nghề và giải quyết các mâu thuẫn xã hội.

 Những môn đệ của Platon

Nổi tiếng nhất trong số những người môn đệ của ông là Aristoteles. Ngoài ra, sau này có Plotinus (Πλωτίνος), một triết học gia người Ai Cập (với cái tên La Mã) có thể được coi là một triết gia Hy Lạp vĩ đại cuối cùng cũng là một người chịu ảnh hưởng của Platon. Tư tưởng của ông phát triển khuynh hướng thần bí của Platon và sau đó được biết tới như học thuyết Tân Platon (Neo-Platonism).

  ( Xin mời các bạn đọc thêm bài The Story of Philosophy – Will Durant (do do Trí Hải Bửu Đích dịch )

Nếu bạn nhìn vào một bản đồ của Âu châu, bạn sẽ thấy rằng Hy Lạp giống như một bàn tay chìa các ngón ra biển Địa trung hải. Phía nam là hòn đảo Crète hình như nằm gọn trong các ngón tay, ngàn năm trướcTâylịch (tTL) đó là nơi khởi đầu của văn minh nhân loại. Về phía đông là lãnh thổ thuộc về Á châu tuy ngày nay có vẻ lạc hậu nhưng dưới thời Platon là một lãnh thổ rất trù phú với một nền thương mãi, kỹ nghệ cực thịnh và một nền văn hoá phong phú. Về phía tây là nước Ý giống như một toà lâu đài ở giữa biển, các đảo Sicile và nước Y-pha-nho (Tây Ban Nha). Tại những nơi đó có những nhóm người Hy lạp sinh sống; cuối cùng là xứGibraltar, nơi đầy nguy hiểm cho các thuỷ thủ mỗi khi muốn vượt eo biển này. Về phía bắc là những xứ man rợ như Thessaly, Epirus và Macédonie. Từ những xứ ấy nhiều bộ lạc xuất phát và mở những cuộc tấn công về phía nam, những trận đánh do những văn nhân Hy lạp như Homère kể lại mà những chiến sĩ như Périclès chỉ huy. Hãy nhìn một lần thứ hai vào bản đồ, bạn sẽ thấy nhiều chỗ lồi lõm ở bờ biển và núi đồi trong đất liền, đâu đâu cũng có những vịnh nhỏ và những mỏm đá trồi ra biển. Nước Hy lạp bị chia cắt và cô lập bởi những chướng ngại thiên nhiên đó. Sự đi lại và liên lạc ngày xưa khó khăn hơn bây giờ rất nhiều. Do đó mỗi vùng tự phát triển lấy nền kinh tế, tự thành lập lấy nền hành chánh chính trị, tự phát huy tôn giáo, văn hoá và ngôn ngữ của mình. Những quốc gia như Locris, Etolia, Phocis, Béothia v.v.

Hãy nhìn vào bản đồ một lần thứ ba và quan sát vị trí của tiểu quốc Athènes: đó là một tiểu quốc nằm về phía cực đông của Hy lạp. Đó là cửa ngõ của Hy lạp để giao thiệp với các quốc gia thuộc vùng Á châu, đó là cửa ngõ để Hy lạp thu nhận những sản phẩm và ánh sáng văn hoá từ bên ngoài. Ở đây có một hải cảng rất tiện lợi, hải cảng Pirus, rất nhiều tàu bè đến trú ẩn để tránh những lúc sóng to gió lớn. Ngoài ra Pirus còn là nơi xuất phát một hạm đội chiến tranh hùng mạnh.

Vào khoảng năm 490 trước Tây lịch, hai tiểu quốc Sparte và Athènes quên mối hận thù để hợp lực cùng nhau đánh đuổi quân xâm lăng Ba Tư lăm le biến Hy lạp thành một thuộc địa của mình. Trong cuộc chiến tranh này, Sparte cung cấp lục quân và Athènes cung cấp thuỷ quân. Khi chiến tranh chấm dứt, Sparte giải ngũ quân đội và chịu sự khủng hoảng kinh tế do sự giải ngũ này sinh ra. Trong khi đó thì Athènes khôn ngoan hơn, biến hạm đội tàu chiến thành một hạm đội tàu buôn và trở nên một nước buôn bán giàu mạnh nhất thời thượng cổ. Sparte điêu tàn trong nghề canh nông và bị cô lập với thế giới bên ngoài, trong khi Athènes trở nên thịnh vượng và là một nơi giao điểm của nhiều chủng tộc, nhiều nguồn tư tưởng, văn hoá, sự chung đụng nảy sinh sự so sánh, phân tích và suy nghiệm.

Những truyền thống, lý thuyết gặp gỡ nhau, chống đối nhau, tự đào thải nhau và được cô đọng lại. Trong khi có hàng ngàn tư tưởng chống đối nhau, người ta có khuynh hướng hoài nghi tất cả những tư tưởng ấy. Có lẽ những thương gia là những người nhiều hoài nghi nhất vì họ thấy quá nhiều, bị tuyên truyền quá nhiều, họ có khuynh hướng coi người khác nếu không phải là những người ngu thì cũng là những người lưu manh, họ hoài nghi tất cả những nguồn tư tưởng. Theo với thời gian họ phát triển khoa học; toán học nảy sinh nhờ sự giao hoán, thiên văn học nảy sinh với nhu cầu hàng hải. Với sự phát triển nền kinh tế, con người có nhiều thì giờ nhàn rỗi, được hưởng nhiều tiện nghi trong một không khí trật tự và an ninh. Đó là những điều kiện tiên quyết để nghiên cứu và suy tư. Người ta nhìn vào các ngôi sao trên trời không những để tìm phương hướng cho chiếc tàu đang lênh đênh trên mặt biển mà còn để tìm bí mật của vũ trụ: những triết gia Ha lạp đầu tiên là những nhà thiên văn. Aristote nói rằng sau khi thắng cuộc chiến tranh, các người Hy lạp tìm cách phát huy chiến quả và mở rộng nỗ lực vào nhiều lãnh vực khác. Người ta cố tìm những lời giải đáp cho những bài toán trước kia được giao phó cho các thần linh quản trị, những tế lễ tà thuyết nhường bước cho khoa học, triết lý bắt đầu từ đó.

Khởi đầu triết lý là một môn học có tính cách vật lý, người ta quan sát thế giới hữu hình với hy vọng tìm thấy yếu tố khởi thuỷ của tất cả vạn vật. Một lối giải đáp tự nhiên là thuyết duy vật của Démocrite (460 – 360 tTL). Démocrite nói rằng: “trong vũ trụ chỉ có nguyên tử và hư không”, đó là nguồn tư tưởng chính của Hy lạp, người ta lãng quên nó trong một thời gian nhưng nó lại được sống dậy với tư tưởng của Epicure (342-279 tTL) và Lucrèce (98-55 tTL). Tuy nhiên khía cạnh quan trọng nhất và đặc sắc nhất của nền triết học Hy lạp được thể hiện trong tư tưởng của những nguỵ luận gia đó là những người đi lang thang rày đây mai đó để tuyên truyền cho chủ nghĩa của mình, họ gắn bó với tư tưởng của mình hơn tất cả mọi vật trên đời. Phần đông họ là những người rất thông minh hoặc rất thâm thuý, họ bàn cãi về tất cả những vấn đề mà người đương thời thắc mắc, họ đặt câu hỏi cho tất cả các vấn đề, họ không sợ đụng chạm đến các tôn giáo hoặc các tư tưởng chính trị của các vua chúa, họ mạnh dạn chỉ trích tất cả các định chế xã hội hoặc lý thuyết chính trị trước công luận. Về mặt chính trị họ được chia làm hai phái. Một phái giống như Rousseau cho rằng thiên nhiên là tốt, văn minh xã hội là xấu, trong thiên nhiên tất cả mọi người đều bình đẳng và con người trở nên bất bình đẳng với các định chế xã hội, luật lệ là những phát minh của những kẻ mạnh để trói buộc và thống trị kẻ yếu. Một nhóm khác giống như Nietzsche cho rằng thiên nhiên vượt ra ngoài phạm vi của cái xấu và cái tốt, trong thiên nhiên con người đã mất bình đẳng, luân lý là một phát minh của kẻ yếu để giới hạn và doạ nạt kẻ mạnh, sức mạnh là nền đạo đức tối thượng và sự ao ước tối thượng của con người, và chế độ chính trị cao đẹp nhất hợp thiên nhiên nhất là chế độ quý tộc.

Sự tấn công tư tưởng dân chủ là phản ảnh của sự thịnh vượng của một nhóm người giàu có ở Athènes họ tự lập một đảng gọi là lực lượng những người ưu tú. Đảng này chỉ trích tư tưởng dân chủ là vô hiệu lực. Thật ra cái dân chủ mà họ chỉ trích khác xa cái dân chủ mà chúng ta quan niệm ngày hôm nay. Trong số 400 ngàn dân của Athènes, đã có 250 ngàn thuộc vào hạng nô lệ bị tước đoạt tất cả quyền chính trị, trong số 150 ngàn người còn lại chỉ có một thiểu số được đại diện tại quốc hội để bàn cãi và quyết định về các vấn đề của quốc gia. Tuy nhiên cái nền dân chủ còn lại đó là một nền dân chủ có thể nói là hoàn hảo nhất từ xưa đến nay. Quốc hội có quyền tối thượng và là cơ quan tối cao của quốc gia, tối cao pháp viện gồm trên 1000 thẩm phán (để làm nản lòng những kẻ hối lộ), số thẩm phán này được tuyển chọn theo thứ tự ABC trong danh sách của toàn thể công dân. Không một chế độ chính trị nào dám thực hành tư tưởng dân chủ đi xa đến mức độ ấy.

Trong cuộc chiến tranh giữa Sparte và Athènes (430 – 400 tTL) lực lượng các người ưu tú của Athènes do Critias lãnh đạo, chủ trương nên bãi bỏ chế độ dân chủ vì cho đó là mầm mống của cuộc chiến bại và thành lập một chính thể giống như chính thể quý tộc của thành Sparte. Kết quả là nhiều lãnh tụ của lực lượng bị lưu đày. Sau khi chiến tranh chấm dứt với sự đầu hàng của Athènes, một trong các điều kiện đình chiến là phải đại xá cho những người trong lực lượng bị lưu đày. Những người này tôn Critias làm minh chủ và lăm le đảo chánh để thành lập một chính phủ của lực lượng ưu tú. Cuộc đảo chánh thất bại, Critias tử trận. Critias là môn đệ của Socrate và có họ hàng với Platon.

 

                                  Minh họa : Plato đang dạy con học

                                               Võ sĩ ba cấp của Plato

                                               Plato và học tròcủa ông là Aristokles

 

Hạt nhân của học thuyết  Plato là lý niệm  nên triết học của ông còn được gọi là lý niệm luận.Bản nghĩa chữ lý niệm của Plato là cái sự vật mà mình nhìn thấy, tức hình thái , chuyển nghĩa là  cái linh hồn mà mình tháy

( Học viẹn Athene- tranh của Raphael

                                  Học viện Plato

( Còn nữa )

CHUYÊN MỤC THƠ VĂN

Thơ Trần Trọng Chiêm

 Mùa thu đi đâu

@

Nuối tiếc mà chi, mùa thu đã phai,

Đắm đuối mà chi, mùa thu sẽ tắt,

Lá úa còn rơi, còn rơi, còn trút rơi…

Trôi theo mùa thu đi,

Tuổi xuân, sắc dần phai.

Sương thu mờ xa xăm,

Chìm dần vào thương nhớ hình bóng ai

Thu ra đi,

Để chiều nay rượu đắng lệ tràn !

Thu ra đi,

Để chiều nay sầu nhớ băng khuâng.

Mây Trúc Bạch,

đã thâm nâu mầu cổ tích

Nhưng chân trời,

Vẫn tím ngắt phía sau lưng.

Mùa thu đi ! là hoang vắng tràn về,

Mùa thu đi ! là thôi hết nắng vàng.

Sưởi ấm tâm hồn giá băng

Ngập trời thương nhớ trĩu nặng lòng ta.

T.T.Ch

    Lamartine (Alphonse Marie Louis de Prat de Lamartine 21/10/1790- 28/21869) nhà thơ Pháp nổi tiếng với bài  Le lac                                                    

Ainsi toujours poussés vers de nouveaux rivages,

Dans la nuit éternelle emportés sans retour,

Ne pourrons-nous jamais sur l’océan des âges,

Jeter l’ancre un seul jour ?

Cái hồ

Cứ đẩy mãi xuôi vào bến mới

Trong đêm trường đưa tới chẳng về

Thời-gian, bể cả rộng ghê

Nhân-sinh chiếc bách, bến mê không ngừng?

O lac ! l’année à peine a finis a carrière,

Et près des flots chéris qu’elle devait revoir

Regarde ! Je viens seul m’asseoir sur cette pierre

Où tu la vis s’asseoir !

Nầy hồ hỡi ! Năm dài vừa mãn,

Bên sóng yêu nàng  hẳn đến nhìn,

Xem ! Ta trên đá một mình,

Mà ngươi đã thấy bạn tình khi xưa.

Tu mugissais ainsi sous ces roches profondes

Ainsi tu te brisais sur leurs flancs déchirés,

Ainsi le vent jetait l’écume de tes ondes

Sur ses pieds adorés.

Rền-rĩ thế dưới gầm động thạch,

Sóng bủa sườn, ngươi rách tả-tơi,

Gió tung bọt sóng tơi-bời,

Gót son trắng điểm, tuyệt-vời yêu-đương.

Un soir, t’en souvient-il ? nous voguions en silence,

On n’entendait au loin, sur l’onde et sous les cieux

Que le bruit des rameurs qui frappaient en cadence

Tes flots harmonieux.

Một chiều nọ, trên gương hồ phẳng,

Còn nhớ chăng? thuyền lẵng lặng trôi,

Xa xa, mặt nước, bầu trời,

Chỉ nghe rơi mái chèo…rơi nhịp nhàng.

Tout à coup des accents inconnus à la terre

Du rivage charmé frappèrent les échos,

Le flot fut attentif, et la voix qui m’est chère

Laissa tomber ces mots :

Thình lình cất tiếng nhân-gian lạ,

Bến say mê, lay cả vang-âm

Lắng nghe sóng bạc âm-thầm,

Tiếng ai yêu-dấu, bổng, trầm hữu-duyên :

O temps, suspends ton vol ! et vous, heures propices

Suspendez votre cours !

Laissez-nous savourer les rapides délices

Des plus beaux de nos jours !

Hãy dừng lại, giờ hên, phút tốt,

Khoan trôi đi ! dừng cất cánh bay !

Để ta tận hưởng vui say

Chóng qua của những chuổi ngày xuân tươi !

Assez de malheureux ici-bas vous implorent :

Coulez, coulez pour eux :

Prenez avec leurs jours les soins qui les dévorent

Oubliez les heureux !

Biết bao kẻ chơi-vơi bể khổ,

Cầu thời gian giúp họ qua mau

Nghiệp trần với khổ lo âu :

Riêng ai hạnh-phúc xin cầu ngươi quên.

Mais je demande en vain quelques moments encore,

Le temps m’échappe et fuit.

Je dis à cette nuit : « Sois plus lente », et l’aurore

Va dissiper la nuit.

Nhưng khẩn-khoản gia thêm ít khắc,

Thời-gian đành thoăn-thoắt lướt bay,

Cầu xin chậm bớt đêm nay,

Rồi vừng đông sẽ xóa ngay đêm tàn.

Aimons donc, aìmons donc, de l’heure fugitive,

Hâtons-nous, jouissons !

L’homme n’a point de port le temps n’a point de rive

Il coule et nous passons !

Hãy yêu, yêu mãi, yêu vô-lượng,

Mau vui say giờ cuộn cuộn sang :

Giờ qua đời cũng chóng tàn

Kiếp trần không bến, thời-gian không bờ !

Temps jaloux ! se peut-il que ces moments d’ivresse

Où l’amour à longs flots nous verse le bonheur,

S’envolent loin de nous de la même vitesse

Que les jours de malheur ?

Ganh chi bấy thời gian, những lúc,

Thú yêu-đương hạnh phúc tràn tuôn,

Bay đi vun-vút biệt luôn,

Cũng đồng như lúc đau, buồn, thế chăng ?

Hé quoi ! n’en pourrons-nous fixer au moins la trace

Quoi ! passés pour jamais ? quoi ! tout entier perdus ?

Ce temps qui les donna, ce temps qui les efface,

Ne nous les rendra plus ?

Ít ra cũng lưu chi dấu vết

Kìa ! qua luôn, kìa ! mất hết sao ?

Đã ban hạnh-phúc dồi-dào,

Rồi nay lại xóa chẳng bao thuở hồi ?

Éternité, néant, passé, sombres abîmes !

Que faites-vous des jours que vous engloutissez ?

Parlez : nous rendrez -vous ces extases sublimes

Que vous nous ravissez ?

Hỡi trường-cữu, hư-vô, dĩ-vãng,

Mịt-mù xa vô-hạn, vực sâu !

Ngày vui ngây-ngất chôn sao,

Thời-gian cướp đoạt có hầu trả chăng ?

O lac ! rochers muets, grottes, forêt obscure !

Vous que le temps épargne ou qu’il peut rajeunir,

Gardez de cette nuit, gardez, belle nature,

Au moins le souvenir !

Hỡi hồ đá, hang sâu, rừng tối,

Được thời-gian thấm gội trẻ xinh,

Ít ra kỷ-niệm đêm tình,

Lưu dùm, tạ-vật đượm nghìn sắc-hương !

Qu’il soit dans ton repos, qu’il soit dans tes orages,

Beau lac, et dans l’aspect de tes riants coteaux,

Et dans ces noirs sapins, et dans ces rocs sauvages

Qui pendent sur tes eaux !

Dầu bảo táp hay cơn yên-tĩnh,

Và đồi con trong cảnh sởn-sơ,

Trong rừng thông bóng âm-u,

Hay trong khóm đá hoang-vu soi hình.

Qu’il soit  dans le zéphyr qui frémit et qui passe,

Dans les bruits de tes bords par tes bords répétés,

Dans l’astre au front d’argent qui blanchit ta surface

De ses molles clartés !

Dầu trong gió rùn mình nhẹ lướt,

Trong sóng đưa vỗ nước bên hồ,

Hay trong trăng bạc nhấp-nhô,

Lồng soi ngấn nước, ánh mơ dịu-dàng.

Que le vent qui gémit, le Roseau qui soupire,

Que les parfums légers de ton air embaumé,

Que tout ce qu’on entend, l’on voit ou l’on respire,

Tout dise : «Ils ont aimé ! »

Gió  hiu hắt, sậy lau than vãn,

Hương thoảng xông quanh quẩn từng không !

Bao nhiêu cảnh vật cảm-thông,

Xin đồng nhắc-nhở « Tình chung nơi hồ »

Lamartine (Méditations poétiques)

VITA dịch (Trầm-tư-lục)

CHUYỆN XƯA CHUYỆN NAY

Trần văn Kinh: Triết lý trong câu chuyện cải cách giáo dục

 (Bài đã đăng lần đầu trên Tạp chí Công nghiệp VN-

Vietnam Industrial Review số 1+2 / 2003)

 

So với bản in lần trước, lần này có vài chỗ lược bỏ. Trước hết là phần nói về những thành tựu của ngành giáo dục trong nhiều chục năm qua. Mặc dù thành tựu đó rất lớn nhưng thiết tưởng không cần phải nhắc đến trong một bài viết nhỏ mà sự tỉnh táo và nhìn xa lại cần thiết hơn. Thứ hai là những kiến nghị về cải cách giáo dục trong nội dung và phương pháp dạy và học. Phần này cũng lược bỏ vì nó quá rộng lớn, không thể đề cập đến trong một một vài trang báo. Như vậy, bài báo sẽ dành chỗ để làm rõ hơn triết lý của câu chuyện, như nhan đề bài báo đã nêu.

1. Tư duy theo lối mòn.

Lịch sử đã bước sang giai đoạn mới. Chúng ta đang ở trong một thế giới mà cuộc sống đang tiến lên bằng những bước nhảy vọt, đột biến, những sáng tạo không ngừng, mà chúng ta thì đang đi bộ, đang tư duy theo lối mòn và tập quán của người đi bộ, cả về nội dung lẫn phương pháp dạy và học. Những đổi mới tiến bộ trong việc dạy và học chỉ mới diễn ra ở một số bộ môn, một số trường Đại học, có tính tiên phong, nhưng không nhiều, trong khi cả hệ thống giáo dục và đào tạo, từ giáo dục phổ thông dến giáo dục đại học, vẫn ì ạch loay hoay theo một tư duy khuôn phép đã hình thành hơn nửa thế kỷ. Sự cách tân có chăng cũng mới chỉ bề ngoài, không theo kịp ngay cả tư duy đổi mới trong phát triển kinh tế.

Nói như vậy có phải là thừa nhận chúng ta đã có nhảy vọt trong phát triển kinh tế? Không! Còn lâu mới đạt được.

Trên thế giới, không có một quốc gia hay vùng lãnh thổ nào trở thành con rồng, con hổ hay cường quốc kinh tế mà lại không có một thời kỳ nhảy vọt về kinh tế, liên tục trong vòng trên dưới 30 năm. với tốc độ tăng trưởng trên dưới 10%/ năm (như Nhật bản những năm 50-80 hay Hàn Quốc, Đài loan, Singapore, Hồng công những năm 60-90 của thế kỷ 20, Trung Quốc đầu thế kỷ 21, Liên xô những năm trước và sau thế giới chiên tranh lần thứ hai, nước Nga thời Pi-e đại đế thế kỷ thứ 17, nước Nhật thời Minh trị thiên hoàng cuối thế kỷ thứ 19…) .

Chúng ta đã đổi mới 25 năm , nhưng tốc độ bình quân cả thời kỳ mới chỉ đạt 5%/ năm. Chúng ta có muốn làm mạnh hơn nữa cũng khó, bởi vì cơ sở hạ tầng quá kém. Cơ sở hạ tầng về kinh tế thì  có thể hiện đại hóa trong vòng một thế hệ, nhưng cơ sở hạ tầng về xã hội (giáo dục, y tế, văn hóa,tập quán, phong cách, nguồn nhân lực…) thì phải mất nhiều thế hệ. Một ngôi nhà có thể trang bị đủ tiện nghi ( hiện đại), những cuộc sống bên trong ngôi nhà chưa chắc đã có văn hóa cao (phát triển). Kinh tế muốn phát triển nhảy vọt, đột biến, cần phải đi song song với một xã hội phát triển, dựa trên một nền văn hóa, giáo dục hiện đại và phát triển hơn nhiều. Tổ chức quản lý một xã hội phát triển cũng khác xa với một xã hội kém cỏi, manh mún và lạc hậu.

Từ đó mà nhìn lại mình thì thấy rõ: Nội dung giáo dục quá nặng nề và nhiều thứ vô bổ vẫn ngự trị hàng mấy chục năm nay, cách học thụ động thầy giảng gì trò ghi và thi nấy…làm kìm hãm năng lực tiếp nhận cái mới (qua nhiều con đường, ví dụ đọc ở thư viện, ở sách báo…) và tư duy sáng tạo của từng cá nhân .

2

Học nhồi nhét hay học thông minh? Tiếp nhận thụ động hay chủ động khám phá? Công nhận một chiều hay phải có kiểm nghiệm và thông tin phản hồi? Tư duy quản lý hành chính hay tư duy dạyhọc và nghiên cứu? (Không phải cứ Chủ tịch tỉnh thì lúc nào và chỗ nào cũng dạy được Chủ tịch huyện hay Chủ tịch xã. Không phải cứ Bộ trưởng hay Hiệu trưởng thì lúc nào cũng dạy được các thày v.v…). Cái nào thì có thể đánh giá theo số đông, còn cái nào phải coi trọng ý kiến của số it, thậm chí rất it? Nội dung hay phương pháp, cái nào quan trọng hơn? Chắc rằng ai cũng thấy được một điều: Dù học nhiều đến mấy thì kiến thức trong thời gian học ở trường cũng không thể đủ.

Kho tàng kiến thức là mênh mông, lại còn có thứ đang hình thành chưa đưa vào sách, nhưng sẽ tiếp tục được bổ sung khi học sinh vào đời. Hơn nữa, nội dung kiến thức là thứ mà người học có thể tiếp nhận được bằng nhiều con đường khác nhau (với ý thức và thói quen tự học, chủ động), trong khi phương pháp học thì “không thầy đố mày làm nên”. Dấu ấn của người thầy sâu đậm nhất là ở cách học, cách nghiên cứu và tìm tòi, cách tự luận và nắm bắt vấn đề, cách phát hiện cái sai và kiểm tra tính đúng đắn của luận điểm… chứ không phải là ở chỗ thầy đã nói nhiều , nói như sách, nhắc đi nhắc lại mãi, nói đến quá giờ và người nghe ù cả hai tai!

2. Cuộc sống cần những con người như thế nào?

Chúng ta đã nói nhiều đến mục tiêu giáo dục và đào tạo, và thời gian cũng đã làm lãng quên đi nhiều điều. Chẳng hạn như là học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, giáo dục phải vừa hồng vừa chuyên… Những cái đó tuy đúng nhưng hơi trừu tượng. Nói như cha ông ta ngày xưa đã nói, có lẽ dễ hiểu hơn: Học để nâng cao dân trí. Một dân tộc có học thì mới có nguồn nhân lực chất lượng cao. Từ trong nguồn nhân lực đó mà phát hiện và trọng dụng nhân tài, bởi như người xưa đã nói: nhân tài là nguyên khí của quốc gia.

Vậy nguồn nhân lực đó phải gồm những người như thế nào?

Đó phải là những người có năng lực thực sự và tinh thần trách nhiệm cá nhân cao.

Tôi cho rằng đó là cũng là hai tiêu chí để đánh giá và trọng dụng nhân tài. Có lẽ từ xưa đến nay đều như vậy.

Đã là người có năng lực thực sự (trí tuệ) và có tinh thần trách nhiệm cao thì sẽ không bao giờ đùn đẩy trách nhiệm, không trốn tránh khó khăn, không dây dưa công việc. Người tài tìm việc khó, giải quyết việc khó chứ không phải tìm việc dễ, tìm “đề tài ngon ăn” ! Trân trọng với trước tác của người khác, học tập họ nhưng không đạo văn! Việc gì không biết thì lắng nghe, không làm ra vẻ ta đây cũng biết, thậm chí còn lên mặt dạy người khác. (Màu xanh thật sống ngoài trời/ Nghe màu xanh giả dạy đời cách xanh- Thơ Trần Văn Kinh: Chiếc máy tạo khuôn- NXB VHDT- Hà Nội 2005).

GS Đàm Trung Đồn có lần nói: Nhân tài là không thể đào tạo được. Nhân tài phải tự đào tạo. Điềuđó hết sức đúng. Ngày xưa cũng vậy. Trong một đám học trò, hay nhiều đám học trò, đông đến mấy chục người, mấy trăm người, từ đầu đến cuối chỉ học cùng một ông thầy đồ, nhưng trong số đó chỉ có một, hai người trở thành nhân tài, do thiên tư, do sôi kinh nấu sử, do biết cách tự học. .

Nhưng những nhân tài đó cũng đừng quên cánh cửa đầu tiên mở ra là ở nhà ông thầy đồ. Ông thầy đồ nào biết dạy cho học trò cách đọc sách, cách nghiên cứu, cách luận (học nhi thời tập chi…) , thì ở đó học trò đã được nâng cánh từ rất sớm. Nhân tài và bằng cấp là hai việc khác nhau Nhân đây xin cho phép tôi được liên hệ một câu chuyện cũ.

Trong quyển sách “GS Hà Văn Tấn: 40 năm giảng dạy và nghiên cứu khoa học…” (NXB DHQG Hà Nội 1998 ), GS có nhắc lại câu chuyện của Thầy Trần Quốc Nghệ (thầy dạy Văn của chúng tôi hồi học cấp ba ), đại ý như sau: Cụ Khổng dạy : “Tri chi vi tri chi, bất tri chi vi bất tri, thị tri dã !”: Biết thì làm (theo cách) biết, không biết thì làm (theo cách) không biết, đó là biết vậy!

Nhưng thầy Nghệ bảo bây giờ (cách đây đã hơn 50 năm) nên sửa lại câu nói đó của cụ Khổng

thành: “Tri chi vi bất tri, thị tri dã!”: Biết mà làm (như) không biết. Đó là biết vậy!

Thế rồi đến một ngày, Trường cũ của chúng tôi (Trường cấp ba Phan Đình Phùng Hà Tĩnh) kỷ niệm 60 năm ngày thành lập, có ấn hành một cuốn sách (NXB Chính trị Quốc gia – Hà nội 2005) ghi lại những kỷ niệm và lời tâm tình của các thầy và trò cũ. Trong cuốn sách đó, tôi, học trò cũ Trần Văn Kinh, đã mạo muội đề nghị bổ sung vào câu chuyện của thầy Nghệ vế thứ ba như sau: “Bất tri chi vi tri chi, thị tri dã!”: Không biết mà làm (như) biết, đó là biết vậy! Không hiểu sao bây giờ lại lắm người như vậy cơ chứ! Thế thì làm sao mà nói đến năng lực thực sự được?

Đúng là thực giả khó phân?

Nói đến hai tiêu chí năng lực thực sự và tinh thần trách nhiệm cá nhân cao thì lại liên quan đến một điều mà xã hội thường quan tâm: pháp trị và đức trị.

Xã hội bây giờ lộn xộn quá. Báo chí ngày nào cũng đầy rẫy những chuyện làm ăn phi pháp, gian lận, những hành động hung hãn, côn đồ, cả những thói hư tật xấu của không ít người có quyền chức, xảy ra ở nhiều nơi, nhiều cấp khác nhau. Vì thế mà phải đưa lên hàng đầu khẩu hiệu: sống theo pháp luật. Ai cũng phải tuân thủ pháp luật. Đó là thời đại của pháp trị.

Nhưng pháp trị không đủ. Pháp trị cấm người ta không được làm cái gì, nhưng không mách bảo người ta nên làm cái gì. Đấy là lĩnh vực của đạo đức. Con người có đạo đức, xã hội có đạo đức thì sẽ tự tìm thấy những hành động lương thiện phải làm, không cần có ai ra lệnh. Người lương thiện và có trách nhiệm sẽ ở thế thượng phong. Hiệp sĩ sẽ được tôn trọng, kính nể, được bảo vệ.

Kẻ gian, kẻ xấu sẽ không có chỗ tác oai tác quái. Đó là thời đại của đức trị.

Có lẽ nào thời đại của chúng ta laị không phải là thời đại của pháp trị và đức trị ?

Và ngành giáo dục của thời đại pháp trị và đức trị đòi hỏi phải có người thầy như thế nào, có nộidung (sách giáo khoa) và phương pháp dạy học như thế nào, có các ông “Đốc học” (các cấp quản lý giáo dục), có “Bộ Học” như thế nào…cuối cùng là có ngân sách như thế nào…, đó chẳng phải là những điều chủ yếu cho một chiến lược cải cách giáo dục hay sao?

3. Bắt đầu như thế nào?

Câu chuyện cải cách giáo dục có muôn ngàn việc. Việc nào cũng khó. Nhưng có làm được không ?

Ai làm và làm như thế nào? Thiết nghĩ nếu cứ để làm theo đường mòn, và vẫn những con người ấy, bộ máy ấy, vừa chỉ đạo và thực hiện công việc của ngày hôm nay lại vừa nghĩ cách thay thế nó đi thì sẽ chẳng bao giờ có thể thành công được.

Phải có một hệ thống khác, gồm nhiều vụ, nhiều ban chuyên môn, có nhiều chuyên gia giáo dục

ngoài biên chế của ngành giáo dục hiện nay, kể cả nhiều nhà giáo , nhiều giáo sư nổi tiếng là đầu

ngành và có nhiều tâm huyết, dù đã về hưu, cùng làm việc tập trung, cùng vạch ra một chiến lược

tối ưu trong vòng 2-3 năm, và tiếp tục thực hiện nó trong vòng 15- 20 năm về cải cách giáo dục.

Lực lượng này hiện nay không phải là quá ít. Hy vọng là đến lúc đó, hay là sau đó, nước ta mới có

thể phấn đấu trở thành một nước phát triển . TVK

CHUYÊN MỤC SƯU TẦM NGỮ NGHĨA TIẾNG VIÊT

Sưu tầm ngữ nghìa tiếng Việt có lẽ là một công việc lý thú nhất của BQM.

Đang ngồi nghĩ hôm nay ta viết gì thì nhìn thấy tách trà mình vừa ướp hóa nhài để trước mặt.

Dụng cụ để uống nước, uống rượu, uống bia …của ta to nhỏ khác nhau, chất liệu khác nhau và tên gọi theo miền cũng khá nhau.

Trước hết nói từ chén.

Theo tôi đây là một từ thuần Việt ( Bách Việt ) đã bị Hán hóa thành trản (zhan 盏 ). Chén trà (盏茶  zhrản zhá) chữ trà là chè B’lè thuần Việt . Có nghĩa là những chữ như “trản” “trà” là dongười Hán phiên âm tiếng Việt, cũng như rất nhiều chữ khác, như áo quần, mít… Nguời TQ phương Bắc gọi dụng cụ uống rượu là bôi 杯 (bei) như “ Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi”. Sau này tiêng Việt đã tiếp thu them các tiếng khác làm phong phú thêm như cốc ( tiếng Anh-> cup, Pháp ->coupe, tasse) tạo

nên tư láy như “cốc chén”  “tách chén”va cũng theo xu hướng như các nước, khác, căn cứ vào hình của giải thưởng mà họ gọi trệch đi thành cúp thể thao

CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE

Bài  của Lê Quang Thọ do Ongbale chuyển

Tập Thở Và Vận Động Để Trị Bệnh Đau Nhức
Đau nhức: nhiều người cảm thấy “khốn khổ khi bị các cơn đau hành hạ

Một tờ báo Mỹ có kể một câu chuyện về một người đi ăn trộm, đang mò mẫm trong bóng tối bỗng đụng chạm làm rơi một món đồ gì đó, khiến ông chủ nhà thức giấc. Anh ăn trộm hoảng quá, đứng chết trân tại chỗ, chờ chủ nhà kêu 911. Nhưng bất ngờ, ông chủ nhà chỉ rên rẩm và nói:
-Ăn trộm hả? Muốn lấy gì thì lấy đi. Nhưng, trước khi đi, đưa giùm tôi lọ thuốc phong thấp ở trên bàn đó và một ly nước nữa. Tôi đang đau quá, không dậy nổi.

Anh trộm chưng hửng một lúc, nhưng rồi cũng đưa lọ thuốc và nước cho chủ nhà xong, rồi chậm rãi nói:
-Ông bị đau nhức đầu gối phải không? Tôi cũng bị.. Nhưng uống thuốc này không hết đâu. Tôi dùng thuốc khác.
Chủ nhà vừa rên vừa hỏi:
-Thuốc gì vậy? Viết tên thuốc được không?
Anh trộm viết tên thuốc rồi vừa đưa cho ông chủ vừa nói:
-Tôi dùng thuốc này mới hết. Nhưng vì trước đây, đau quá, mất ngủ ban đêm quen rồi, nên bây giờ, hết bệnh, không biết làm gì cho hết đêm, đành đi ăn trộm ….Ông tha cho tôi. Tôi đi về nhé!

Nói xong, anh trộm ra mở cửa, đi về. Ông chủ nhà gọi với theo:
-Cám ơn nghe. Đêm nào mất ngủ, cứ tới đây, nói chuyện chơi.
Bài báo nói lên được một thực trạng về bệnh tật mà bao người Mỹ đang mắc phải: bệnh Đau nhức các khớp xương, hay còn gọi là Phong thấp, mà tiếng Mỹ gọi là Arthritis. Có hai loại Đau nhức: Osteoarthristis, tạm gọi là loại Một (cho các vị cao niên dễ nhớ) và Rheumatoid Arthritis mà ta tạm gọi là loại Hai.

Loại Một gây ra những đau nhức ở cổ, vai, bàn tay, ngón tay, đầu gối, xương chậu… Nguyên nhân thường là do tuổi tác (phụ nữ trên 45 tuổi có thể mắc bệnh này), thoái hóa xương, di truyền, bệnh mập phì, hay do những động tác không ngay ngắn được lập đi lập lại lâu ngày như ngồi ghế cong lưng, ngồi lái xe mà thắt lưng bị bẻ cong, nghiêng đầu sang một bên, tay đánh máy suốt ngày không thư dãn, đứng một vị thế cong trong nhiều giờ, nhiều ngày…. Trên nước Mỹ có tới 21 triệu người bị đau loại Một.

Loại Hai cũng đau ở các đốt xương, có thể sưng lên, làm biến dạng xương, khó đi đứng, cử động. Loại này có trên 2 triệu nguời mắc bệnh. Nguyên nhân có thể do hệ thống miễn nhiễm không làm việc tốt, bị di truyền, hay vì thời tiết thay đổi đột ngột.

Nói chung cả hai loại đều gây đau nhức, nhiều người cảm thấy “khốn khổ, khốn nạn” khi bị các cơn đau hành hạ. Hoặc đi một lúc thì cảm thấy nhức chân, rồi đi lệch lạc. Hoặc ngủ không nổi vì khớp xương đầu gối buốt quá. Hoặc ngồi lâu thì tê hai bả vai…

Thường thì có ba (3) cách điều trị các bệnh đau nhức : Thuốc uống (Medication), giải phẫu (Surgery) và Không dùng thuốc (Non-medication). Hai phương pháp đầu tiên, dĩ nhiên, là phải qua Bác sĩ.
Phương pháp thứ Ba: Không dùng thuốc lại gồm ba cách: châm cứu, vật lý trị liệu, và tập luyện (exercise). Trong ba cách này, Tập Luyện (Exercise) dễ hơn cả và tác dụng lâu bền hơn cả. Châm cứu có tác dụng tức khắc, nhưng cũng hết tác dụng nhanh lắm. Vật Lý trị liệu cũng thế. Khi được Mát xa, thì thấy rất “đã”, nhưng chỉ một ngày sau là lại đau như cũ. Vậy chỉ còn các TẬP LUYỆN lấy một mình, không tốn tiền, không phải giải phẫu, cũng không phiền ai, nhưng chỉ cần Ý CHÍ tự thắng mà thôi.

Người viết bài này, chỉ còn một ít chỗ khớp xương nào còn nguyên vẹn mà chưa lần …gẫy. Tuổi trẻ, đi tập đủ loại võ nghệ: Nhu Đạo, Thái cực Đạo, Hapkido, Aikido, Thiếu Lâm.. không môn nào mà không mang cho thân thể một lần trật xương, gẫy vỡ. Đấu vật thì cắm đầu xuống đất, lọi cổ tưởng chết. Rồi chống tay xuống đất, vỡ xương cổ tay, lọi cùi chỏ.. Nhẩy qua chướng ngại vật: gẫy vai (2 lần). Đá người thì bị lọi ngón chân. Vật người thì bị gẫy thắt lưng… Bó bột liên miên, hết tay lại chân. Vào nhà thương chích thuốc rồi qua Thầy Cự Thất bó gà, qua Thầy Tầu điểm huyệt, có lần nhờ thầy Cao Miên thổi bùa cho lành vai… Tất cả những lần gẫy vỡ ấy, tuổi thanh niên sung sức chẳng coi nhằm nhò gì, giờ này, mới thấy thấm thía: đau nhức khắp người. Muốn hết đau nhức mà không muốn uống thuốc, không chích Cortisone, không đi Bác sĩ chỉnh xương, thì phải tập luyện hoài hoài, ngưng tập là .. đau! Cho nên, viết bài này để chia xẻ những ai đau đớn vì bệnh phong thấp, nhức xương, mong mọi nguời cùng khỏe.

Nguyên lý:

Hệ thống thần kinh của con người chạy cùng khắp thân thể, chỗ nào cũng có, từ đầu cho tới ngón tay, ngón chân. Tuy nhiên, theo hình vẽ về hệ thần kinh được treo tại các phòng mạch Tây, Đông Y, ta thấy chùm dây thần kinh đi từ sau ót tỏa ra cánh tay, xuống lưng, qua xương sống, tới hông, đùi, rồi chân (trông như một bó dây điện) là chùm quan trọng nhất. Nếu bị “kẹt” đâu đó, thì đau. “Kẹt” trên cổ có thể gây đau ra cánh tay, bàn tay. “Kẹt” thấp xuống dưới thì đau bắp thịt lưng, đau thắt lưng, “kẹt” ở chỗ thắt lưng lại gây đau ở đùi, chân… Cho nên, khi bị đau quá vì xương thoái hóa hay vì đụng xe, mà phải giải phẫu, bác sĩ sẽ cân nhắc rất kỹ. Mổ ở thắt lưng, nếu “xui”chạm giây thần kinh, có thể bị liệt chân mà thôi, nếu mổ ở cổ mà bị “xui”, có thể liệt cả người! Vì thế, chỉ những trường hợp đau cổ chịu hết nổi, bắt buộc phải giải phẫu thì phải ký giấy chấp nhận 50/50, một là khỏi, hai làđời xe lăn. Hên thì cũng có thể phải ghép một cây sắt vào trong cổ. Đôi khi phải mổ lại.. Chỉ còn cách Tập Luyện, cho thư giãn thần kinh chỗ gây đau, cho mạnh bắp thịt chỗ đau, cho khớp xương được chuyển động dịu dàng trở lại, kích thích chất nhờn đầu khớp xương phục hoạt, điều chỉnh lại những chỗ lệch lạc xương cốt, thì sẽ .. bớt đau (không phải HẾT đau, vì hễ ngưng tập một thời gian, có thể đau lại).

A-CHỮA ĐAU CỔ, ĐAU VAI, ĐAU TAY:

1-Xoay cổ trái phải: nhìn thẳng trước mặt, xoay cổ từ trái sang phải chầm chậm, mắt vẫn nhìn ra đằng trước, từ từ hít vào. Từ từ trả cổ trở lại phía trước, rồi xoay sang bên phải, mắt vẫn nhìn ra đằng trước, thở ra. Nhớ xoay cho hết cỡ, tới khi không xoay được nữa thì thôi. Làm 10 lần.

2-Gập cổ: ngửa cổ lên chầm chậm cho tới hết cỡ, từ từ hít vào. Chầm chậm gập cổ xuống ngực, hết cỡ, thở ra. Làm 10 lần.

3-Bẻ cổ: Mắt nhìn thẳng đằng trước, bẻ cổ nghiêng xuống đầu vai trái, hít vào. Từ từ thở ra, bẻ cổ qua đầu vai bên kia. (Khác với xoay cổ trái phải: ở đây, khi bẻ đầu xuống vai thì đầu vai có hơi nhô lên cho chạm với đầu, còn xoay cổ trái phải thì chỉ quay đầu vào khoảng trống sau vai mà thôi). Làm 10 lần.

4-Xoay cổ vòng tròn: Dùng điểm tựa là cổ, xoay vòng đầu chung quanh cổ, từ phải sang trái 10 lần rồi từ trái qua mặt 10 lần.

B-CHỮA ĐAU CÁNH TAY, BÀN TAY:

1-Xoay vai: hai tay buông thỏng, dùng đầu vai làm điểm tựa, xoay vai theo một vòng tròn chạy chung quanh đầu vai ( không phải nhô lên, hụp xuống) từ sau ra trước, rồi từ trước ra sau. 10 lần. Trong khi xoay vai, vẫn hít thở đều đặn.

2-Lắc bàn tay: giơ cánh tay ra trước mặt, cùi chỏ ép hai bên thân mình, giữ nguyên cổ tay và cánh tay, hai bàn tay để trước mặt, lòng bàn tay hướng vào phía ngực. Lắc từ trên xuống dưới (như giũ giũ bàn tay) thật mạnh 10 lần. Đổi hướng, cho mu bàn tay lên trên, lòng bàn tay hướng về mặt đất, giũ mạnh bàn tay từ trên xuống dưới. 10 lần. Đổi hướng, hai lòng bàn tay quay vào nhau, giũ mạnh bàn tay từ trái qua phải, từ phải qua trái. Những người thư ký đánh máy, làm “neo”, thợ may…. phải tập bàn tay thường xuyên, nếu không, có thể bị mổ cổ tay vì khớp xương cổ tay bị cứng khô lại.

3-Vẽ vòng trên đất: đứng rộng chân ra, một tay vịn vào mặt bàn, nguời nghiêng xuống cho song song với mặt đất, cánh tay buông thỏng, tưởng tượng như đang cầm một cái que, vẽ một vòng tròn tưởng tượng thật to trên mặt đất . Vẽ nhanh 10 lần rồi đổi tay. Hít thở đều hòa.

C-CHỮA ĐAU THẮT LƯNG, ĐÙI, CHÂN:

1-Xoay thắt lưng theo vòng tròn: hai tay chống hông, ngón tay để ra sau lưng, ngón cái phía trước, các ngón tay ấn mạnh vào thắt lưng, dùng thắt lưng làm điểm tựa, xoay vòng bụng ra trước rồi vòng qua bên phải (bên trái) ra sau, rồi vòng tới trước. Làm liên tục không ngừng, khi ra tới trước, thì bụng phải ưỡn ra hết cỡ. Khi ra sau thì thắt lưng cong lại cũng hết cỡ. Hít thở chầm chậm theo vòng.

2-Gập lưng: cũng như gập cổ, ngửa lưng ra, hít vào, gập thắt lưng xuống, thở ra. Khi ngửa lên, ngửa hết cỡ, khi gập xuống, cũng gập hết cỡ.

3-Xoay hông: hai tay buông thõng bên sườn, vặn người qua bên trái thì hai cánh tay cũng “văng” theo bên trái, nghĩa là không dùng sức tay, chỉ để cho hai cánh tay “văng” theo mà thôi. Xong, vặn người qua bên phải. Hai cánh tay lại “văng” theo bên phải. Nhớ khi xoay sang bên nào thì xoay gót chân bên đó, và bàn chân bên đó nhấc lên, nghĩa là xoay trên gót chân mà thôi. Mục đích làm cho vòng xoay rộng thêm, nếu giữ nguyên bàn chân trên mặt đất, vòng xoay sẽ ngắn lại. Hít thở chầm chậm.

D-CHỮA ĐAU ĐẦU GỐI:

1-Xoay gối trái phải: đứng vừa phải, hai bàn tay đặt trên đầu gối, thấp người xuống, xoay đầu gối theo một vòng tròn về phía phải (theo vòng kim đồng hồ) 10 lần rồi đổi hướng quay theo bên trái.

2-Xoay gối trong ngoài: đứng rộng chân ra, hai tay đặt trên đầu gối, thấp người xuống, xoay đầu gối từ ngoài vào trong rồi từ trong ra ngoài.
Các thế đầu gối này, mới đầu thì chỉ thấp người xuống một chút, sau đó, mỗi ngày càng thấp người xuống hơn, công lực sẽ mạnh hơn. Chỉ cần làm 10 phút, là đã thở mạnh, toát mồ hôi rồi. Người nhức đầu gối ban đêm phải tập trước khi lên giường ngủ.

Lưu ý:

-Những thế tập này chỉ được áp dụng với người chưa giải phẫu xương lần nào. Nếu đã giải phẫu cổ thì không được tập cổ. Nếu giải phẫu lưng rồi mà muốn tập lưng, phải hỏi bác sĩ, xem phim X-ray có trở ngại gì không..
-Phối hợp vừa châm cứu, vừa mát xa, vừa tập luyện thì rất tốt.
-Trường hợp đau kinh niên vì xương rồi, có thể uống thêm Glucosamine có bán tại các tiệm thuốc Tây để kích thích chất nhờn đầu xương và xương.
-Mua một cái máy mát-xa nhỏ cầm tay để chà xát chung quanh chỗ bắp thịt đau sẽ hiệu nghiệm nhanh hơn.

Vài hàng trao đổi những kinh nghiệm trong suốt mấy chục năm qua, nếu có chi sai sót, mong cao nhân chỉ điểm thêm. Chúc quý vị sống lâu, sống khỏe mạnh, và hạnh phúc.
Lê Quang Thọ 

 

Đỗ Cao Đàm :

Mới đây Giới y tế Trung Quốc (TQ) thực sự sốc khi có thông tin bệnh viện ở tỉnh Cát Lâm mua trẻ sơ sinh chết non và nhau thai để chế tạo thuốc bổ. Cùng với hàng loạt công nghệ chế biến thực phẩm bẩn bị phát hiện, phanh phui trong thời gian qua, khi nói đến thực phẩm TQ, không ít người hoang mang, rùng mình.

Xin điểm lại một số sự vụ nổi cộm suốt thời gian qua khiến người dân Trung Quốc bất bình, các cơ quan chức trách phải vào cuộc điều tra và hàng vạn người tiêu dùng thế giới lên tiếng “tẩy chay”.

Công nghệ chế thuốc bổ từ xác trẻ sơ sinh

Từ câu chuyện phong phanh về việc mua bán thai nhi, với mong muốn tìm ra cách bào chế thuốc bổ từ xác trẻ sơ sinh, nhóm phóng viên đài truyền hình SBS TV của Hàn Quốc đã đi sâu tìm hiểu quy trình để làm ra những viên ‘thuốc bổ’ từ thịt trẻ em chết này. Từ đó, phát hiện ra một sự thật kinh hoàng: Xác những đứa trẻ được lưu giữ trong tủ lạnh, khi cần chế thuốc thì cho vào lò vi sóng sấy khô.

Giai đoạn đầu của cuộc điều tra, phóng viên tìm đến một bệnh viện lớn chuyên bán di hài cho các công ty dược phẩm. Tại đây họ phát hiện ra một luật ngầm, nếu có ca sơ sinh nào tử vong, công ty dược sẽ được gọi đến để giải quyết. Nhóm SBS TV cũng tìm thấy nhiều bằng chứng của việc sản xuất “thần dược” này.

Xác những đứa trẻ được lưu giữ trong tủ lạnh, khi cần chế thuốc thì cho vào lò vi sóng sấy khô (Hình minh họa)

Sau khi sấy khô, xác được nghiền ra và trộn với thuốc bột trước khi đóng vào con nhộng.

Theo Deng Haihua, phát ngôn viên Bộ Y tế Trung Quốc, Trung Quốc quản lý chặt chẽ việc vứt bỏ trẻ em, bào thai và nhau thai. “Bất cứ hành động nào nhằm giữ lại những thứ trên như rác thải y tế đều bị nghiêm cấm”.

Theo quy định của TQ, các tổ chức y tế và nhân viên bị cấm buôn bán xác chết. Còn theo ông Jia Qian, người đứng đầu dự án nghiên cứu chiến lược của Viện y học cổ truyền Trung Quốc thì “nhau thai từ lâu được sử dụng để bào chế thuốc trong Trung y nhưng Trung y chưa bao giờ dùng bào thai hay trẻ sơ sinh chết non để bào chế thuốc”.

Thuốc bổ dành cho nam giới làm từ… thức ăn cho gà

Trước khi cả thế giới sửng sốt với thông tin thuốc nhộng được chế từ xác trẻ sơ sinh, Công an thành phố Tây An (tỉnh Thiểm Tây, TQ) cũng đã triệt phá đường dây sản xuất các loại thuốc bổ, thuốc cảm… từ nguyên liệu chính là thức ăn nuôi gà và các thức ăn chăn nuôi khác.

Nguyên liệu SX thuốc chủ yếu là thức ăn cho gà và vài loại thức ăn chăn nuôi khác.

Vụ kiểm tra bất ngờ diễn ra hôm 8/8/2011, tại một con phố của thành phố Tây An và bất ngờ khi “nhà máy” sản xuất thuốc tây chỉ là căn phòng rộng, xây gạch thô sơ cùng với máy móc cũ kỹ, lạc hậu.

Các trang mạng TQ thông tin, khi lực lượng công an xông vào thì tại hiện trường vương vãi khá nhiều bao bì rất nhiều loại thuốc khác nhau, chủ yếu là thuốc bổ, thuốc hạ huyết áp, thuốc giảm béo, thuốc cho bệnh nhân tiểu đường, thuốc bổ dành cho nam giới… Tất cả đều chưa được dập ngày sản xuất cũng như các thành phần bên trong.

Tuy nhiên lực lượng kiểm tra phát hiện, thành phần chính của các loại thuốc tây đóng vỉ này chỉ là từ… thức ăn cho gà và vài loại thức ăn chăn nuôi khác, sau đó được pha trộn với hóa chất để tạo mùi. Được biết số thuốc bị thu giữ tại hiện trường có trị giá khoảng 5 triệu nhân dân tệ.

 

 

Docago.wordpress.com số ra thứ 6 ngày 23/9/2011( tức 26 tháng 8 năm Tân Mão)

                              Docago.wordpress.com số ra thứ 6 ngày 23/9/2011 (tức 26 tháng 8 năm Tân Mão)

 

                 CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY             

 

  Đỗ Anh Thơ:

                  Hình ảnh văn hóa tư tưởng trên thế giới

           (Illustration of Thinking culture in the World)

 

                            

                                                        Tượng Cicero

 

 

                                      

 

 

      

 

  

 

               Quyển sách này có mục đích một phần  tiếp nối quyển “Những kiến giải vè triết học khoa học” của soạn giả . Tự mình xác định   là người làm công tác thông tin tư  liêu, như kẻ đọc, tóm tắt , tường thuật giản lược….các luồng tư tưởng, những ngả sông suối chằng chịt từ trên cao đổ về xuôi,  suy ngẫm và luôn luôn  trăn trở phản tư các cách suy nghĩ, nên soạn giả hồi cố lại các nhà tư tưởng cổ đại để cuối cùng đưa bạn đọc suy ngẫm sang thế giới hiện đại. Như có lần soạn giả đã viêt trên mạng về Triết học học đường như sau:

 

     “Đề cập tới hai chữ “triết học”, các em học sinh sinh viên đều có một cách nhìn giống nhau, cho rằng đây là một môn học khô khan, trừu tượng , khó hiểu. Do đó phần lớn thời gian khi ngồi trên ghế nhà trường các em đều học một cách đối phó, bị động, học thuộc lòng, không hề có chút nào động não. Do đó nên đến lúc ra trường công tác, làm những lao động ngành nghề khác nhau trong xã hội, các em hầu như đều biến thành những công cụ, những cỗ máy bị điều khiển, làm theo lệnh chỉ huy từ trên xuống, không bao gìơ biết phản tư, phê phán, lật ngược vấn đề mà tìm ra những ý tưởng mới, sáng tạo mới. Đây là hậu quả của việc học tập rập khuôn theo sách vở thánh hiền kéo dài hàng nghìn năm nay ở đất nước ta, mà đến nay chúng ta vẫn đang theo. Lối mòn đó là xem lời của Khổng, Mạnh (nay thì lời của thầy, sách của Bộ do những nhóm “chuyên gia” già cả, không được cập nhật hóa soạn thảo) là chân lý tuyệt đối, buộc phải noi theo.

          Bước sang thế kỷ 21, một trong những cải cách đầu tiên của ngành giáo dục là vấn đề rèn luyện cho các em có được cái tư duy “biết phủ định”. Ta không nên gọi đó là “nếp” suy nghĩ như lâu nay vẫn quen dùng mà phải gọi là “phương pháp”. Bởi vì đã là “nếp” nhăn trong bộ não là ngày càng hằn sâu, nó khác với phương pháp là phải luôn luôn thay đổi. Và chỉ có trên cơ sở biết phủ định, biết phản tư (criticism), biết tìm tòi những sai lầm trong nhận thức của bản thân mình và của người khác, thì ta mới có khả năng có giả tưởng, có sáng tạo và tìm ra được những ý tưởng mới.

           Truy nguyên từ chữ Hy Lạp cổ, “philosophia” gồm có hai thành tố: “philo” có nghĩa là ham thích, “sophia” là tranh biện. Còn chữ triết học (哲學) thì tuy là chữ Hán nhưng được các học giả Nhật Bản sử dụng đầu tiên để dịch chữ “philosophia”. Sau đó Hoàng Đạo Quang, Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi… mới dùng nó để dịch hàng loạt sách triết học phương Tây, trở nên phổ biến rộng rãi như ngày nay. Đem chiết tự chữ “triết” ta cũng có hai thành tố là “chiết” và “khẩu”, nghĩa là dùng lời lẽ để bắt bẻ.

           Bản thân danh từ philosophia có hàm nghĩa rất rộng. Đó là sự ham hiểu biết, yêu trí tuệ (love of wisdom). Bởi vậy, đề cập đến triết học còn có nghĩa là ta say mê tìm hiểu, nhận thức về ta, về thế giới xung quanh. Nó đồng nghĩa với khái niệm tìm hiểu “tính” (giống loài, trong đó có ta, có con người) và “thiên đạo” (vũ trụ) của triết học phương Đông.

            Tìm hiểu cái gì? Như nhà triết học vĩ đại người Đức là Kant đã nói, đó là bốn vấn đề: ta biết và chưa biết cái gì, ta cần phải làm gì, ta có kỳ vọng gì, và con người ta là gì. Sự truy tìm đó là khôn cùng, bằng lý niệm và kinh nghiệm, bằng duy tâm và duy vật, bằng thực chứng và giả chứng (giả thiết), bằng phương pháp quy nạp và diễn dịch, v.v… Từ đó mà trên thế giới, trong lịch sử đã có hàng mấy chục học phái khác nhau, chống đối nhau, kế thừa nhau, hưng khởi rồi lụi tàn. Mỗi học phái đều có cái đúng cái sai khác nhau, và không có cái nào là chân lý, đúng tuyệt đối. Có thể nói “chân lý” là cái mà con người, từ thế hệ này sang thế hệ khác, truy cầu nhưng không bao giờ nắm bắt được. Đứng trên quan điểm đó nên Einstein, Whitehead… mới có thể tìm ra thuyết tương đối, cơ học lượng tử, chứng minh được những cái sai, cái bất cập của cơ học cổ điển của Newton, từng ngự trị gần ba trăm năm cho đến khi con người bước ra khỏi sức hút của quả đất thì mới lộ rõ cái sai. Với lý thuyết mới, ta giải thích được tại sao không gian lại cong đi mà thời gian thì co lại, mới có thể chứng minh được tiên đề song song là sai hoặc định luật tổng góc trong của hình tam giác có thể lớn hơn hoặc bé hơn 180 độ tuỳ theo mặt không gian lồi hay lõm, v.v…

       Tất cả những điều đó đều nhờ có những bộ não luôn luôn biết lật đi lật lại vấn đề. Thế kỷ trước đã như vậy, bước sang thế kỷ 21, khi các ngành khoa học ngày càng giao thoa, giao diện (interdisciplinary, interface), tuỳ thuộc lẫn nhau mãnh liệt hơn bao giờ hết, thì con người lại cần phải có cách suy nghĩ như vậy. Hầu như mọi phát minh khoa học đều nẩy sinh trong miền giao thoa này. Triết học là môn khoa học lý luận về tư duy, càng có sự giao thoa, giao diện mạnh hơn rất nhiều lần. Ngày nay, người ta không còn bàn đến vấn đề là phải kết luận dứt khoát vật chất có trước hay tinh thần có trước, không còn phải phân định rạch ròi giữa duy vật và duy tâm… Người ta đã đi sâu hơn về mặt bản thể luận, về mặt ngoại vật lý (metaphysic) mà trước nay ta quen dùng theo thuật ngữ của giáo sư Hoàng Xuân Hãn là “siêu hình”. Trong khi đó ở Trung Quốc, họ lại mượn thuật ngữ của Kinh Dịch là “hình nhi thượng” để diễn đạt khái niệm metaphysic, tức là những cái có trước vật chất, tồn tại trước sự sống, ví dụ như gien có trước khi em bé chào đời. Bởi thế, hiện nay không chỉ phương Tây mà ở Nhật, Trung Quốc cũng đang chú trọng nâng cao tu dưỡng triết học, nhất là phần meta, là cái gốc của nhận thức (Trung Quốc dùng chữ nguyên cũng lại là một thuật ngữ của Kinh Dịch, chỉ quẻ Càn) cho học sinh sinh viên. Triết học đây không còn bó hẹp trong triết học chính trị mà đã mở rộng ra tới triết học khoa học, triết học toán, triết học sinh vật, triết học môi trường (không chỉ là môi trường sống của con người mà còn cả quyền sống của muôn loài khác), triết học đạo đức, thậm chí cả triết học nữ quyền (feminism)… Thật vậy, với đà phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, không có cái gì mà con người không làm được, kể cả nhân bản vô tính, phục chế con người (human cloning, human reproductive cloning), nhưng đồng thời, nếu như không có triết học luân lý, đạo đức, nghĩa là không có tư duy đúng, nguyên lý luận đúng, thì con người cũng có thể đánh mất tất cả và sẽ đi đến chỗ diệt vong. Tư duy đúng ở đây không phải là lặp lại cái khuôn mẫu có sẵn, sáo rỗng, giáo điều, bảo thủ mà bản thân thuật ngữ của nó (dogmatism) đã nói lên tất cả. Tư duy đúng là tư duy mở, có tính tranh luận, ham hiểu biết, dám phủ định… như đã nói ở trên .

           Cái hồ nước cho dù rộng mấy nhưng không có dòng chảy, không có sông suối, không thông ra biển cả… thì trước sau cũng trở thành cái hồ chết mà thôi. Đến đây, sẽ có rất nhiều học giả bảo thủ nêu lên các lý do nào là “hoà nhập” mà không “hoà tan”, v.v… để cho rằng những dòng triết học khoa học phương Tây, triết học hiện đại mang tính hiện sinh, thực dụng là tư bản suy đồi… Đó là những lời ngụy biện. Thật ra, lâu nay những nhà nghiên cứu triết học, kể cả các bậc có học vị cao, do thiếu cái nền học vấn khoa học cơ bản sâu (toán, lý, hoá trên đại học), thiếu hiểu biết kỹ thuật, nên luận đề của họ đưa ra đầy rẫy mâu thuẫn. Chỉ nói riêng mệnh đề nêu trên, lấy thí nghiệm Bernoulli, là thí nghiệm bơm một giọt mực vào một bình nước, để dẫn chứng. Quan sát hiện tượng, ta sẽ thấy nếu để yên, dòng mực thành một tia rồi tan dần, nhưng nếu đem bình lắc mạnh thì nó hòa lẫn ngay với nước. Điều đó chứng tỏ, dòng mực nếu không đủ nhiều, đủ mạnh, đủ đậm đặc… thì sự hoà tan không để lại chút dấu vết gì là điều tất yếu. Do vậy, trong một xã hội mở, muốn bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, chúng ta không thể lập hàng rào.
         Giống như trong bình nước, ta chỉ có thể tìm những lối tư duy mới, cơ chế miễn dịch mới. Đó là phương pháp giảng dạy, đào tạo mới, trước hết là phương pháp tư duy (triết học) mới. Ta có thể lấy câu nói của George Polya (1888-1985), nhà toán học Mỹ gốc Hungary, bàn về phương pháp dạy toán, là phải “dạy cho học sinh suy nghĩ” (teach to think). Ban đầu là “làm thế nào để giải đề” (How to solve it) sau tiến lên một mức cao hơn là “khám phá con đường logic phát hiện toán học” (the logic of mathematical discovery) để cải tiến cách dạy và học các môn khoa học nói chung, triết học nói riêng. Ở nước ta, đây có lẽ là nội dung triết học học đường mà trước hết các bậc giáo sư phải được học và cập nhật để lột xác – cho dù có phần đã muộn.”

         Như vậy soạn giả xin nhắc lại cách viết đa chiều của mình, khẳng định tư duy loài người xuất phát như là những mạch nước đầu nguồn hình thành rồi hợp lai, rồi thành sông đổ ra hòa  cùng biển cả. Tư tưởng hay tư duy vốn là một phạm trù tự do chủ quan, không ai có thể áp dặt dược ai, mà những tư tưởng siêu việt của thời đai, cũng chỉ như là con sếu đầu đàn, suy nghĩ dẫn hướng cho bầy đàn bay tới chân trời mới ấm no. Khi nó mỏi cánh, tụt hậu  thì con khác phải  thay.  Có nghĩa là phải biết nuôi dưỡng, không bị áp dặt. Lúc còn non, sếu mới tâp bay, chim bố dã rèn tư duy định hương cho chúng. Cũng như con nguời được cha mẹ nuôi dưỡng về sức khỏe, phát triển tư duy, lớn lên là tu dưỡng từ học đường, xã hôi. Tư duy cá nhân của một con người có tính độc lập cao, đúng đắn thì tự nhiên sẽ trở thành tư duy dẫn dường, trong từng thời gian nhất định, hợp với trào lưu mới của thời đại. Nói cách khác đó là tư duy triết học lịch sư, là tương đối và biến đổi …không phải bất biến như lời dạy của thánh hiền. Tư duy luôn biết phá vỡ khung khái niệm ( paradigm) cũ, xác lập những khung khái niêm mới, thì lịch sử  một dân tộc sẽ đi lên. Nếu không thì sẽ chìm dắm trong u tối hàng trăm năm thậm chí hàng nghìn năm mặc dù có lúc nó phát triển rực rỡ.

      Tư duy hồi cố, tìm về văn minh cổ xưa là để tìm ra con đường đúng để tiếp tục đi, chứ không phải nằm ngủ trên đống phế tich… mà tự hào.Vì suy cho cùng, một đời người chỉ rút ra được bài học bản thân, cha anh mình mà thôi. Nếu không có hàng trăm giả thiết hành động cho một mục đích mai hậu thì sai lầm sau chất chồng lên sai lầm trước. Như vậy cái chính là ta phải có phản tư, học phái,  tranh cãi  Văn hóa tư tương khác với văn hóa tôn giáo chính ở chỗ này.

         Soạn giả học theo cách trình bày có ảnh minh họa  của quyển  Đồ thuyết thế giới tư tương văn hóa (图说世界思想文化)  của Tả Ngoc Hà (玉河) Trung quốc,  đi từ dòng tư tưởng cổ đai đến hiện đại và kết thúc ở một dòng sông tư tưởng thân thiện với môi trường, lấy giáo sư Võ Qúy của Việt Nam làm đại diên, như là một cách  để soạn giả được trở về tắm lại trên con sông qưê hương..

                Bạn đọc sẽ thấy còn thiếu rất  nhiều dòng tư tưởng khác. Nhưng có lẽ  cũng như Tả Ngọc Hà, soạn giả không muốn nhắc lại những gương mặt đã quen thuộc, xuất hiện nhiều trên sách báo và truyền thông đa phương tiện.  Bạn đọc có thể thắc mắc là tại sao? Đó chẳng qua cũng giống như trên dòng sông, ta phải chú ý tới những khúc ngoặt quyết định ,không gây phản cảm chủ quan.  Ở đây ta chỉ nhắc tới những dòng tư tưởng lớn, có ảnh huởng  tích cực đến số phận của nhân loại mà thôi.

 

                Với kho tư liệu đồ sộ như vậy, ngoài quyển “Đồ thuyết thế giới tư tưởng văn hóa”, soạn giả không thể không dựa vào các từ điển bách khoa nổi tiếng như Encyclopedie Larousse, mạng từ điển bách khoa mở Wikipedia cùng các mạng khác từ tiếng Anh, Pháp, Hoa …để đối chiếu, hiệu đính, chỉnh sửa và scan ảnh.

               Cuối cùng, xin bạn đọc thứ lỗi cho những sai sót.

 

                                                                               Soạn giả    

 

 

                                                   

 

                     ( Ba thiên thần ngồi cùng bàn-Tranh của Andrei Roubilov( Nga)   

 

                          Chương 1.-

               Thuyết bản thể luận tự nhiên của Thales

 

 

                       Thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, lịch sử tư tưởng Phương Tây đều bắt đầu từ học phái  Miletos, lấy tên theo quê hương

của Thales .Ông người HyLap ( tiêng Hy lạp là Θαλῆς,;)  sinh khoảng 624 TCN –  546 TCN), tại Miletos  thuôc thành phó Ioni môt thành phố cổ trên bờ biển gần cửa sôngMaeander (( nay là tỉnh Aydin, Thổ Nhĩ Kỳ )

Thales là một triết gia, một nhà toán học người Hy Lạp sống trước Socrates, thuộc trường  phái triets học Ioni (Ionian Philosophy), Milesi( Milesian school) ,Tự nhiên( Naturalism). Thales nghiên cứu về :Đạo đức, Siêu hình, Toán học, Thiên văn học. Tư tưởng chính đáng lưu ý của ông là: nước là vật lý ,là nguồn gốc của tự nhiên(Water is the physis). Ông là người đứng đầu trong bẩy nhà hiền triết cổ Hy Lạp gồm Biass, Chilon, Kleoboulos, Periandros, Pittakos. Ông cũng được xem là một  triết gia đầu tiên trong nền triết học Hy Lạp cổ đại, là “cha đẻ của khoa học” Công trình nổi tiếng nhất của ông là về một  định lý hình học. Tên của ông được dùng để đặt cho một định lý này: Định lý Thales được phát biểu như sau : Hai đường thẳng song song định ra trên hai đường thẳng giao nhau những đoạn thẳng tỷ lệ

-Góc chắn nửa đường tròn thì bằng một vuông

-Đường kính chia đôi đường tròn thành hai phần bằng nhau

-Hai góc đáy của tam giác cân thì bằng nhau

-Hai tam giác nếu có hai cặp góc đối và cặp cạnh tương ứng bằng nhau thì bằng nhau

-Hai góc đối đỉnh thì bằng nhau

 

 

 

  •  

              Tuổi thọ của ông không được biết một cách chính xác. Có hai giả nguồn tư  liệu: một  cho là ông sống tới 90 tuổi, còn một nguồn khác cho là ông sống khoảng 80 tuổi.

           Trước Thales, người Hy Lạp giải thích nguồn gốc tự nhiên của thế giới, vạn vật qua các câu truyện thần thoại của chúa trời, của các vị thần và các anh hùng. Các hiện tượng như sấm, sét hay động đất được cho là do các hành động của chúa trời gây ra.

           Nhưng đến ông, ông  quan niệm toàn bộ thế giới của chúng ta được khởi nguồn từ nước. Nước là bản chất chung của tất cả mọi vật, mọi hiện tượng trong thế giới. Mọi cái trên thế gian đều khởi nguồn từ nước và khi bị phân hủy lại biến thành nước.

Với quan niệm nước là khởi nguyên của thế giới, của mọi sự vật, hiện tượng. Ông đã đưa yếu tố duy vật vào trong quan niệm triết học giải thích về thế giới. Thế giới được hình thành từ một dạng vật chất cụ thể là nước chứ không phải do chúa trời hay các vị thần.

  

               Hình minh họa:   Nuơc  là nguồn gôc(bản nguyên) cua van vat

Và vạn vật đều có linh hồn:

 

 

                  Hình minh họa: Đá cũng có sinh mệnh

 

              Thales là người đầu tiên nghiên cứu về thiên văn học, hiểu biết về hiện tượng nhật thực diễn ra do mặt trăng che khuất mặt trời.

 

 

 

Hình minh họa: cảnh nhật thưc toàn phần mà Thales quan sát đươc.

 

               Ông cũng nghĩ ra phương pháp đo chiều cao của các kim tự tháp Ai Cập căn cứ vào bóng của chúng.

Thales được coi là người đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu về Sự sống ngoài Trái Đất. Theo truyền thuyết, ông là người xác định được ngày đông chí, hạ chí ( ngày đêm dài bằng nhau) , là người đầu tiên tuyên bố đường kính quỹ đạo vận động mặt trăng bằng 1/7200 quỹ đạo mặt trời, là người đâu tiên dự đoán đươc nhật thực và cũng là người đầu tiên dự báo được thời tiết. Vì vậy ông được tôn vinh là nhà triết học, nhà thiên văn học, nhà vật lý đầu tiên của Hy lạp.        

           Vùng ông sống xưa nổi tiếng về nghề buôn bán dầu Olive  giữa Hy lạp và Trung cận đông.

 

 

 

                           Hình : Một con thuyền buôn olive thời cổ

 

 

 

 

 

 

 

 

                     Hình: Khu bảo tồn Ioni trên đường Tưởng niệm  ở Miletus

 

 

 

 

 

 

 

 

         Hình: Quảng trường diễn thuyết của phái triết học Miletus

 ( thời kỳ trước Socrate)      

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                   

 

 

 

                   Chương 2

             Phép biện chứng chủ nghĩa duy vật sơ khai của Heraclitus

 

        Heraclitus ( tiếng Hy LạpἩράκλειτος) sống  vào năm 540-480 TCN là triết gia, người sáng lập ra pháiFez love

        Sinh ở Ephesi trong một gia đình quý tộc, tính tình ủy mị, được mệnh danh là nhà triết học hay khóc.Văn chương của ông chỉ còn lại mấy đoạn, thích dùng ẩn dụ, nghịch lý(Paradox) làm cho đời sau rất phân vân khi giải thích.

           Ông đã nhường vương vị quý tộc cho anh em mà đi ẩn cư ở một nơi gần đền nữ thần Artemis .Quốc vương  Darius đã  từng viết thư mời ông sang triều đình Ba tư để giảng văn hóa Hy Lap, nhưng ông từ chối mà nói rằng “ Tôi vì có một sự khiếp sợ hiện rõ nên không thể đi Ba tư. Tôi thỏa mãn với cái tâm linh nho nhỏ của mình mà thôi.”. Đồn răng ông suốt ngày chơi với trẻ con và nói với mọi người hiếu kỳ xung quanh rằng:” có gì lạ lắm mà các ông các bà xúm lại xem đông như vậy?Đây không phải là một hoạt động càng có ý nghĩa hơn công việc chính trị của các ông hay sao ?

        Có vẻ như ông không còn màng gì đến thế sự, nhưng khi quân thành Fezphá lâu đài bạn ông là Dorodjatun, ông đã tức giận nói: “ Tấtt cả mỗi người lớn thành Fez đáng lý ra  nên tự treo cổ chết đi mà chi để lại lũ nhóc ngây thơ này mới đúng. “

               Ông thường kêu gọi dân chúng bảo vệ luật pháp, loại trừ bạo ngược. Thời gian ẩn cư ông thường lấy rễ cây, thực vật …ăn để sống qua ngay nên bị bệnh phù, phải về thành phố tìm thày thuốc. Ông giả câm ngọng để ra hiệu hỏi thày thuốc rằng có thể biến ngày trời mưa âm u thành khô ráo được không. Thày thuốc không hiểu ý, ông liền chạy vào chuồng bò định dùng sức nóng của phân bò trát lên người để hút hết nước phù trong cơ thể. Không được, ông chết. Lúc đó khoảng 60 tuổi.     

 

 

 

 

                 Heraclitus đang suy tư( Tranh của Henry Boracon- Hà Lan)

     Văn của Heraclitus rất khó đọc, đầy ẩn dụ. Ông từng viết một bộ sách “Bàn về tư nhiên”, nội dung có ba phần : bàn về vạn vật, bàn về chính tri và bàn về thần linh.。Nhưng tiếc rằng nó không còn, hiện ta chỉ có khoảng 130 thiên đã rách nát. Ngôn ngữ biện chứng pháp đầy huyền bí và hình tượng, bởi thế mà người ta gọi ông là nhà triết hoc bí ẩn

 

 

 

 

 

 

 

 

,

Lửa là nguồn gốc của vạn vật

            Trong khi Thales cho rằng bản nguyên của thế giới là nước thì trái lại, Heraclitus cho rằng lửa là nguồn gốc sinh ra tất thảy mọi vật: “Mọi cái biến đổi thành lửa và lửa biến thành mọi cái tựa như trao đổi vàng thành hàng hóa và hàng hóa thành vàng”. “ Lửa sống nhờ đất chết, không khí sống nhờ lửa chết, nước sống nhờ không khí chết, đất sống nhờ nước chết

       Heraclitus cho rằng, vũ trụ không do ai sáng tạo ra, luôn luôn là lửa, sống động, vĩnh cửu, bùng cháy theo những quy luật của mình: “Thế giới này chỉ là một đối với mọi cái. Không do một thần thánh hay một người nào đó sáng tạo ra nó, nhưng nó mãi mãi đã, đang và sẽ là ngọn lửa vĩnh cửu, như là độ đo của những cái đang rực cháy, và mức độ của những cái đang lụi tàn”.

Theo Heraclitus, sự phát sinh ra vũ trụ từ lửa là con “đường đi xuống”, đồng thời cũng là sự “thiếu hụt lửa”. Và, vũ trụ xét về tổng thể là cái đơn nhất nhưng cái đơn nhất đó là tổng thể của sự thống nhất của vạn vật, trong vũ trụ đơn lẻ này những sự vật hiện tượng nội tại nó tự biến đổi đa dạng, vận động chuyển hóa sang mức độ khác nhau, mà tất cả cơ sở của sự biến đổi ấy là lửa.

 “Lửa bao quát tất cả và phân xử tất cả”. Hỏa hoạn của vũ trụ cũng đồng thời là tòa án của vũ trụ. Theo đó, hỏa hoạn vũ trụ không chỉ là một sự kiện vật lý đơn thuần mà còn là một hành vi “đạo đức”. Bản thân vũ trụ không phải do chúa trời hay một lực lượng siêu nhiên nào tạo ra mà chính là lửa.

Ngọn lửa trong quan niệm của Heraclitus mang tính vật chất là sự so sánh trực quan cảm tính và logos trừu tượng – cái được dùng để chỉ bản chất lôgic – lý tính của tồn tại và quy định trật tự, như là “độ” của mọi quá trình. Do vậy, ngọn lửa mang tính vật chất của Heraclitus là “có lý tính” có liên quan tới logos là “ngọn lửa có lý tính”. Ngọn lửa của Hêraclitus thể hiện tính cơ động và tính tích cực của tồn tại, đồng thời cũng thể hiện bản chất ổn định và trật tự bất biến của thế giới, bản chất mang tính vật chất.

        Thales coi nước là khởi nguyên của thế giới với tư cách là một thực thể sinh ra mọi vật thì Heraclitus đã hiểu khởi nguyên theo nghĩa độ cao hơn, coi lửa không chỉ là thực thể sản sinh ra mọi vật, mà còn là khởi tổ thống trị toàn thế giới. Lửa đó sản sinh ra không chỉ các sự vật  chất, mà cả những hiện tượng tinh thần, kể cả linh hồn con người.

Với quan niệm coi toàn bộ vũ trụ như một ngọn lửa bất diệt, thế giới này là lửa thì ông đã tiếp cận được những quan niệm duy vật và nhấn mạnh tính bất diệt và vĩnh viễn của thế giới. Ông đã thể hiện những tư tưởng đầu tiên về sự thống nhất vật chất của thế giới khi coi lửa là bản nguyên của tất thảy mọi vật.

                                                    

 

                                                     Heraclitus –tranh của Raphael, 1510

 

Đánh giá quan niệm này của Hêraclitus, Lênin coi đó là “một sự trình bày rất hay những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng”.

Tuy nhiên, có thể thấy rằng quan niệm duy vật của ông còn rất mộc mạc, thô sơ. Bởi nó xuất phát từ việc ông chỉ dựa vào quan sát thực nghiệm để kết luận, khi quan sát Heraclitus đã nhận thấy vai trò rất to lớn của lửa đối với đời sống của con người và cũng do ảnh hưởng của thần thoại Hy Lạp ,nhưng ông có cách giải thích ngược lại với thần thoại.

Tuy vậy thì quan niệm đó đã góp phần chống lại những tư tưởng mang tính chất tôn giáo thời bấy giờ. Nó cũng khẳng định quá trình nghiên cứu tư tưởng không thể không dựa vào việc tìm hiểu nguyên nhân từ thực tiễn cũng như cơ sở và nguồn gốc của tư tưởng từ thực tiễn.

       Dưới con mắt của Heraclitus, mọi sự vật trong thế giới của chúng ta luôn luôn thay đổi, vận động, phát triển không ngừng. Thế giới như một dòng chảy, cứ trôi đi mãi. Từ đó, ông đưa ra luận điểm nổi tiếng: “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”. Không có gì thường xuyên biến đổi như một dòng sông nhưng cũng không có gì ổn định như dòng sông. Bởi khi nó vận động cũng là khi nó đứng im. Nói cách khác, tính biến đổi của dòng sông không loại trừ sự đứng im, tức là cái mà nhờ đó dòng sông là xác định, ổn định và bất biến.

Ở Heraclitus, không những sông mà cả mặt trời cũng thường xuyên và liên tục đổi mới, cũng như dòng sông, ông cho rằng không có gì ổn định và bất biến hơn mặt trời luôn chiếu sáng.

Heraclitus đã tiếp cận được với những tư tưởng rất cơ bản của phép biện chứng. Ông nói: “trong cùng một dòng sông ấy chúng ta lội xuống và không lội xuống, chúng ta có và không có”. Đó chính là những tư tưởng về mối liên hệ phổ biến tất yếu của qui luật thống nhấtđấu tranh giữa các mặt đối lập.

 Logos:không những sông mà cả mặt trời cũng thường xuyên và liên tục đổi mới, cũng như dòng sông, ông cho rằng không có gì ổn định và bất biến hơn mặt trời luôn chiếu sáng đưa ra chuẩn mực của mọi sự vật đó là logos. Đó là cái chung phổ biến, tính bền vững một mối liên hệ mang tính xuyên suốt của tiến trình thế giới.

Tính khách quan của logos thể hiện ở chỗ, logos được hiểu như là những quy luật bất biến, vĩnh hằng của vũ trụ, là cái mang tính quy luật, là giới hạn hay độ mà các sự vật đang biến đổi phải tuân theo: “logos là cái vĩnh viễn tồn tại…vạn vật ra đời đều dựa vào logos của nó”. Heraclitus khẳng định logos là quy luật biến đổi phổ biến của vạn vật trong vũ trụ: sự chuyển của Lửa là đầu tiên thành biển, biển thành đất và thành gió xoáy…đất lại hóa thành biển và tuân theo logos mà trước kia, biển hóa thành đất đã tuân theo.

Bản thân logos là sự thống nhất của những mặt đối lập. Vũ trụ là một thể thống nhất nhưng trong lòng nó luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật, lực lượng đối lập nhau. Những cuộc đấu tranh đó luôn luôn diễn ra trong một sự hài hòa nhất định và bị quy định bởi logos.

Còn khi hiểu logos với tư cách là lời nói, học thuyết thì logos trong quan niệm của Heraclitus mang tính chủ quan. Cái logos nằm ngay trong lời nói, trong công việc, trong hiện tượng cảm nhận. Nó là yếu tố hợp lý tồn tại, là lời nói hợp lý của tự nhiên: “Tuy rằng logos tồn tại vĩnh viễn, ta không hiểu được nó trước lúc nghe thấy nó cũng như lần đầu tiên nghe thấy nó. Nhưng tất cả đều xảy ra theo cái lý ấy và người ta thì giống như những người không biết gì khi phải nói những lời và làm những việc như những lời và việc mà tôi trình bày lúc phân chia mỗi vật theo bản chất và giải thích theo thực chất của vật ấy. Còn những người khác thì họ không biết cái mà họ làm lúc tỉnh, ý như là họ quên cái mà họ làm trong những giấc mơ”.

Khi hiểu logos với nghĩa chủ quan, tức là Heraclitus coi logos là chuẩn mực của mọi hoạt động suy nghĩ của con người. Và theo ông, ai tiếp cận được với logos thì người đó càng thông thái.

Logos của tâm hồn con người và logos của thế giới sự vật, là một logos được xem xét trên hai phương diện: thế giới nội tâm của con người, tính chủ quan của nó và cấu trúc bên ngoài của các sự vật. Nếu chúng giống nhau và trùng hợp với nhau, nếu logos chủ quan của “người tốt nhât” một cách nào đó là đồng nhất với logos khách quan của sự vật, thì từ đó suy ra rằng việc nhận thức logos của thế giới bên ngoài là có thể có được bằng con đường tự nhận thức bằng các lỗ lực của bản thân là cái duy nhất tạo thành phẩm giá cá nhân, công lao cá nhân.

Quan niệm của Heraclitus về logos chủ quan một cách cơ động, tức là ông coi một cái sinh động và phát triển nội tại luôn có mối liên hệ khăng khít với logos khách quan, chứ không phải một cách đứng im.

Heraclitus đã tiếp cận được những quan niệm đúng đắn khi cho rằng về nguyên tắc thì logos chủ quan phải phù hợp với logos khách quan. Tức là, những quy luật vận động khách quan của thế giới (là logos) được coi là tiêu chuẩn đánh giá hoạt động tư tưởng, suy nghĩ của con người.

 Quan điểm về nhận thức con người: Heraclitus đánh giá cao vai trò của các giác quan trong nhận thức các sự vật đơn lẻ – tức là nhận thức cảm tính. Theo ông, nhận thức cảm tính cho phép con người tìm được cái lý. Heraclitus cho rằng nhận thức nghiên cứu vũ trụ, logos phải dựa trên cơ sở của cái nhìn và nghe thấy: “tôi thích cái gì mà có thể nhìn thấy được và nghe thấy được” – ông nói. Tuy vậy, nhận thức đó mới chỉ dừng lại ở nhận thức cái bề ngoài và có nhiều hạn chế.

Vì vậy, theo Heraclitus để nhận thức được đầy đủ về sự vật – nhận thức được chân lý cần phải phải có lý trí – tức là nhận thức bằng lý tính. Đó chính là chìa khóa giúp con người nhận thức được về logos. Ông viết: “tư duy có một ý nghĩa vĩ đại và sự thông thái chính là ở chỗ nói lên chân lý, ở chỗ lắng nghe tự nhiên rồi hành động thích hợp với tự nhiên”.

Và theo ông, không phải ai cũng hiểu được chân lý – tức là nhận thức được logos ngoại trừ những nhà thông thái. Và những nhà thông thái đó là do họ sống tuân theo logos.

Ông cho rằng linh hồn của mỗi con người là trạng thái quá khứ của lửa. Linh hồn con người gồm hai mặt đó là phần ẩm ướt – tức là thiếu sự hiện diện của lửa thì đó là những người xấu. Còn những người mà linh hồn có nhiều lửa thì đó là người tốt.

Như vậy, theo Heraclitus thì linh hồn mỗi con người đã bao gồm sự thống nhất của hai mặt đối lập – cái ẩm ướt và lửa. Ở người nào càng nhiều yếu tố lửa tức là tâm hồn được khô ráo thì đó là người tốt. Lửa trong tâm hồn là logos của tâm hồn, phần lớn loài người sống theo ý của riêng mình không tuân theo logos vì vậy họ là những người tầm thường.

Khi coi linh hồn của con người cũng là cái được sinh ra từ một thực thể vật lý là lửa và cũng là vạn vật trong vũ trụ, trong nó không có một đặc trưng nào của cái siêu tự nhiên mà chỉ mối quan hệ với các yếu tố vật chất, nó là sản phẩm biến đổi huyền diệu của lửa và do vậy là cái quy định mọi hành vi của thể xác và luôn có khát vọng vượt ra khỏi thể xác.

 


 

 

                                   

 

                         

 

 

                             Chương 3

                 Duy vật luận nguyên tử của

                             Demokritus

 

          Democritus (tiếng Hy Lạp: Δημόκριτος ), là một triết gia người Hy Lạp nghiên cứu về Siêu hình học / Vật lý. Ông là người đề ra thuyết nguyên tử sơ khai, về Viễn Tinh , ảnh hưởng bởi Leucippus, Melissus của Samos , ảnh hưởng tới Epicurus, Lucretius, sống trước thời kỳ Socrates. Ông sinh ra vào khoảng 460 TCN ở thành phố Abdera, một địa điểm trên bờ biển thuộc xứ Thrace (phần đất thuộc Hy LạpThổ Nhĩ Kỳ ngày nay). Democritus là học trò của Leucippus và cùng với Leucippus tạo ra thuyết nguyên tử thô sơ. Theo thuyết nguyên tử của ông, mọi vật chất được tạo thành từ các dạng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                 Demokritus (tiếng Hy Lạp: Δημόκριτος ), là một triết gia người Hy Lạp nghiên cứu về Siêu hình học / Vật lý. Ông là người đề ra thuyết nguyên tử sơ khai, về Viễn Tinh , ảnh hưởng bởi Leucippus, Melissus của Samos , ảnh hưởng tới Epicurus, Lucretius, sống trước thời kỳ Socrates. Ông sinh ra vào khoảng 460 TCN ở thành phố Abdera, một địa điểm trên bờ biển thuộc xứ Thrace (phần đất thuộc Hy LạpThổ Nhĩ Kỳ ngày nay). Democritus là học trò của Leucippus và cùng với Leucippus tạo ra thuyết nguyên tử thô sơ. Theo thuyết nguyên tử của ông, mọi vật chất được tạo thành từ các dạng khác nhau của các phần tử không chia nhỏ được, không nhìn thấy được, cái mà ông gọi là atoma (nguyên tử). Đó là ý tưởng độc nhất vô nhị của Democritus, chính vì thế mà từ khi Democritus đưa ra khái niệm đó cho đến tận sau này khi khoa học đã phát triển người ta mới có những bằng chứng cụ thể về sự tồn tại của nguyên tử và tiếp tục phát triển lý thuyết về nguyên tử.

            Thời trẻ. để truy cầu chân lý, trí tuệ, ông  quyết định chia gia tài với hai em, do cha ông để lại và ông nhận phần ít nhất là 100 taront ( đơn vị trọng lượng cổ Hy Lạp, khoảng 26 kg) vàng rồi đi các vùng đất Hy Lạp qua Địa Trung hải tới Ai Cập, đến Hồng Hải ,Babylon nam xuống tận Ethiopia –

đông tới Ấn Độ, học hỏi đươc rất nhiều điều bổ ích.

              Trước Demokritos tức trức thời đại Socrate (Pre-Socratic), triết học và mỹ học đều nghiên cứu trên phương diện tự nhiên. Tới ông mới chuyển một bước dài sang xã hội và con người.

                Căn cứ theo ghi chép của Diogenes thì ông ( Demokritos) thông hiểu mọi nhánh triết học. Đối với vật lý học, luân lý học,toán học,giáo dục học… không có môn nào ông không biết. Đồng thời ông còn là nhà âm nhạc, hội họa, điêu khắc và nhà thơ xuất sắc.

           Tuy nhiên, Demokritos đi khắp các nước, khi nhẵn túi. trở lại Abdera thì bị một án quyết. Nguyên do là thành phố thương mại lớn này, pháp luật không cho phép ai lãng phí tài sản tổ tiên. Người như vậy sau khi chết không được làm tang lễ ở quê. Vì vậy, ông phải sống nhờ em và bị ghép vào tội lãng phí của cải tổ tiên này

Tại  tòa án, ông đã tự biện hộ như sau :
         Trong số những người trong thế hệ của tôi, tôi là người được đi chu du phần lớn các nước trên trái đất, tôi khám phá ra được nhiều điều xa xôi nhất; trong  những người cùng thế hệ của tôi, tôi được thấy phần lớn lãnh thổ và quốc gia, tôi được nghe nhiều người có học vấn giảng giải nhiều nhất; trong những người cùng thế hệ của tôi, không có ngừoi nào vẽ bản đồ và minh chứng chúng vượt được tôi, ngay cả ở Ai Cập, những  người được cho là có đất đai giàu có cũng chưa chắc vượt đươc tôi …

 Và trước công chúng của tòa án, ông đọc quyển sách Hệ đại vũ tru của mình . Học thức và tài hùng biện của ông giúp ông thắng lợi, chinh phục đươc công chúng cả vùng Abdera, phá bỏ luật lệ cũ. Tòa án không những tuyên bố ông vô tội mà còn quyết định thưởng cho ông gấp năm lần số tiền mà ông đã “vung phí của cha ông ”,tức là 500 taront. Ông trở thành vĩ nhân, được đúc tượng đồng. Lúc còn sống, ông đươc mệnh danh là triết học gia  hay cười ,sống chan hòa với mọi người.  Luc chết cả nước làm tang lễ.

 

 

 

Demokritus ngồi thiền trên vị trí các linh hồn

Tượngcủa  Léon-Alexandre Delhomme, 1868

 

 

Mô hình nguyên tử của Demokritus:

Một vòng tròn hình nón  bên phải và một hình nón xiên

 

 

Tượng Epicurus, người hoàn thiện học thuyết nguyên tử cua  Demokritos

 

 

 

             Mô hình nguyên tử của Demokritus

 

Thời đại của  Pericles , trường phái Athenes…

 

                                           

 

 

Minh họa: Các triết gia cổ Hi Lạp (Tranh của David- Pháp)

 Theo Demokritus ,bản nguyên của vạn vật là nguyên tử và hư không. Nguyên tử là hạt vật chất cuối cùng không thể phân chia được nữa. Tất cả mọi sự vụ của vũ trụ đều là do nguyên tử đang vận đông trong hư không cấu  thành.Cái gọi là sự  sản sinh ra sự vật chính là sự kết hợp nguyên tử. Nguyên tử nằm trong vận động vĩnh hằng, tức sự vận động là cái vốn có của bản thân nguyên tử. Hư không là cái không tuyệt đối, là bắt nguồn ở trường vận động. Nguyên tử goi là tồn tại, hư không gọi là phi tồn tại , nhưng phi tồn tại không ngang bằng với không tồn tại, chỉ là nói tương đối do nguyên tử vơi dầy. Hư không là tính chất không đầy. Do vậy phi tồn tậi với tồn tại tại đều là thực tại .Thế giới là do nguyên tử vận động khi hoạt mà sinh ra. Trong vũ trụ có vô số thế giới mà con người sống mà không phải là một cái đang biến thái.Con người là một tiểu vũ trụ ( tiểu thế giới)

Tác phẩm của ông có :Hệ đại vũ trụ (The big Systems)

Hệ tiểu vũ trụ (The universe of small systems).

Bàn về âm nhạc.  

Cái đẹp của thi ca….

                                       ( kỳ sau đăng tiếp)

 

                           CHUYÊN MỤC THƠ VĂN

  

 

     BQM :  Sưu tầm

 

1.- Cù Huy Cận – Người suốt đời gắn bó với cách mạng và thơ

 

Nhà thơ Cù Huy Cận

Huy Cận sinh ra và gắn bó tuổi thơ với vùng quê Ân Phú, cạnh dòng sông La, nằm ở chân núi Mồng Gà, cảnh núi sông đẹp nhưng vắng vẻ hiu hắt. Huy Cận đã từng tâm sự:

“Tôi sinh ra ở miền sơn cước

Có núi làm xương cốt tháng ngày

Đất bãi tơi làm ra thịt mát

Gió sông như những mảng hồn bay…”

(Tôi nằm nghe đất)

Tuy sống ở quê hương Ân Phú chưa đến 10 năm, nhưng vẻ đẹp buồn bã của thiên nhiên đất nước nơi đây đã góp phần quan trọng tạo nên một hồn thơ độc đáo. Từ giã quê nhà từ thuở hoa niên, Huy Cận được người cậu đưa vào Huế học hết tú tài. Nơi xứ sở đẹp và thơ mộng này, cái duyên đời và duyên thơ của Huy Cận đã bén cùng Xuân Diệu để tạo nên một “trái đôi” hiếm thấy giữa đời. Cuộc tao phùng Huy – Xuân là sự gặp gỡ của hai tâm hồn “đồng thanh tương ứng”. Ngay từ buổi tựu trường năm 1936, vừa gặp lần đầu mà hai người cảm thấy gần gũi thân thiết (“gặp hôm nay nhưng hẹn đã ngàn xưa”) và đôi bạn tri âm tri kỷ này đã gắn bó với nhau hơn nửa thế kỷ trên dương thế. Năm 1937, Xuân Diệu ra Hà Nội học Cao đẳng Luật và viết báo “Ngày nay”. Tết Mậu Dần (1938) bài thơ “Chiều xưa” của Huy Cận và bài “Cảm xúc” của Xuân Diệu cùng được đăng trên báo “Ngày nay”. Tháng 10.1939, Huy Cận ra Hà Nội học Cao đẳng Nông Lâm và hai người cùng sống với nhau ở căn gác nhà số 40, Hàng Than. Hai người vừa học tập vừa say mê sáng tác văn chương và trở thành những nhà thơ hàng đầu của phong trào Thơ mới. Năm 1940, “Lửa thiêng“, tập thơ đầu tay của Huy Cận, với lời Tựa của Xuân Diệu, ra mắt bạn đọc tạo được tiếng vang lớn trên thi đàn. Có thể nói đây là tập thơ hay toàn bích, nhuần nhị, đằm thắm, hài hoà Đông – Tây, kim – cổ, kết tinh nhiều giá trị văn hoá truyền thống, là tập thơ hay nhất của Thơ mới.

Lửa thiêng” man mác, dằng dặc nỗi buồn. Trong lịch sử thơ ca dân tộc có nhiều tác phẩm thể hiện nỗi buồn nhưng không có tập thơ nào nỗi buồn được nói lên một cách đa dạng, lắm cung bậc và nhiều sắc thái như “Lửa thiêng của Huy Cận. Lúc nghe lòng mình hay ngắm nhìn ngoại cảnh, nhà thơ đều dễ gặp nỗi buồn. Nỗi buồn tưởng như vô cớ, như nghiệp dĩ nhưng thực chất có cuội nguồn từ đặc điểm tâm hồn thi nhân và đời sống xã hội. Nỗi buồn của Huy Cận thời “Lửa thiêng” là nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn của người dân mất nước ý thức sâu sắc về cảnh ngộ non sông và thân phận con người. Nhà thơ buồn vì kiếp người nô lệ đau khổ và khao khát biết bao cuộc sống tự do, hạnh phúc. Tình cảm yêu đời, yêu người, yêu nước tha thiết của thi nhân trong xã hội cũ đã biểu hiện một phần trong nỗi đau đời quằn quại. Yêu đời và đau đời như là âm bản và dương bản trong tâm hồn Huy Cận. “Lửa thiêng” không chỉ có nỗi buồn mà còn có những niềm vui. Trong tâm hồn Huy Cận có một mảng rất hồn nhiên, tươi trẻ thường hướng về những gì non tơ, trong trắng, thơ mộng. Nhờ thế mà nhà thơ có rất nhiều bài thơ hay về tuổi thiếu niên, tuổi áo trắng học trò. Những bài thơ “Tựu trường”, “Học sinh”, “Áo trắng” mãi mãi là bạn tâm giao của nhiều thế hệ học sinh, sinh viên và tất cả những ai còn giữ được “trái tim run run trăm tình cảm rụt rè“. Thơ Huy Cận rất nhiều không gian. Tâm hồn nhà thơ lúc nào cũng hướng tới sông dài trời rộng để thoát khỏi không gian chật chội tù túng của xã hội đương thời và cũng để trở về cuội nguồn thiên nhiên, cuội nguồn dân tộc. Thơ đối với Huy Cận là phương tiện màu nhiệm để giao hoà, giao cảm với đất trời, với lòng người, là chiếc võng tâm tình giữa tâm hồn mình với bao tâm hồn khác. Nhưng trong cuộc đời cũ, nhà thơ khó tìm được niềm đồng cảm nên dễ rơi vào tâm trạng cô đơn. Sau năm 1940, thơ Huy Cận càng có khuynh hướng siêu thoát vào vũ trụ vời xa. Đó là cuộc hành trình của một tâm hồn chối bỏ thực tại để tìm đến miền thanh cao, trong sạch. Khi đang bế tắc về tinh thần thì may mắn thay, năm 1942, Huy Cận đã gặp ánh sáng cách mạng soi đường. Yêu thơ và say mê lý tưởng cách mạng, Huy Cận đã trở thành một trong những người hoạt động sôi nổi trong phong trào học sinh, sinh viên.

Tháng 7.1945, Huy Cận tham dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào và được bầu vào Uỷ ban Dân tộc giải phóng toàn quốc. Khi Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập, Huy Cận được vinh dự đảm nhận trọng trách Bộ trưởng Bộ Canh nông, kiêm Thanh tra đặc biệt của Chính phủ. Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ hồi ấy chỉ có hai người: cụ Bùi Bằng Đoàn (nguyên Thượng thư Bộ Hình của triều đình Huế) và Cù Huy Cận. Nhiệm vụ chủ yếu của Thanh tra đặc biệt là chấn chỉnh kịp thời những biểu hiện tiêu cực trong đội ngũ cán bộ nhằm đề cao kỷ cương phép nước, tạo dựng niềm tin của nhân dân đối với chính quyền cách mạng. Đoàn Thanh tra đã đến nhiều địa phương nắm bắt tình hình, xử lý kiên quyết và khôn khéo những cán bộ mắc khuyết điểm, sai lầm. Những việc làm của Thanh tra đã được nhân dân nhiệt tình ủng hộ vì họ thấy Chính phủ Cụ Hồ luôn bênh vực bảo vệ dân. Tháng 3.1946, trước những diễn biến phức tạp của tình hình chính trị, Đảng ta chủ trương thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến với sự tham gia của nhiều lực lượng khác nhau. Một hôm, Bác Hồ cho gọi Huy Cận đến và bảo: “Từ mai chú thôi làm Bộ trưởng nhé!“. Huy Cận đáp: “Thưa Cụ! Cụ và cách mạng bảo làm gì thì con xin làm nấy“. Sau đó, Bác thân mật giao nhiệm vụ: “Chú vẫn công tác ở Bộ Canh nông, chỉ không làm Bộ trưởng nữa, nhưng mọi việc chú vẫn làm hết. Chỉ nhớ khi nào cần ký thì chú đưa cho ông Bồ Xuân Luật ký. Ông ấy được mời làm Bộ trưởng thay cho chú“. Từ đó, suốt bốn thập kỷ, Huy Cận sẵn sàng thực hiện bất kỳ nhiệm vụ gì do Cách mạng giao phó, trong đó có nhiều việc “xa lạ” với một nhà thơ: Thứ trưởng Bộ Canh nông, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Thứ trưởng Bộ Kinh tế, Thứ trưởng Tổng thư ký Hội đồng Chính phủ, Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Bộ trưởng đặc trách công tác văn hoá – nghệ thuật tại Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, kiêm Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam.

Ngoài những hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá trong nước, Huy Cận còn là nhà hoạt động quốc tế năng động, có nhiều đóng góp tích cực trên lĩnh vực văn hoá nghệ thuật. Ông là đồng Chủ tịch Đại hội nhà văn Á – Phi họp ở Ai Cập (2.1962), đồng Chủ tịch Đại hội văn hoá thế giới họp ở Cu Ba (1.1968), là Uỷ viên Hội đồng UNESCO (1978 – 1983), là Phó chủ tịch Tổ chức Hợp tác Văn hoá – Kỹ thuật của 49 nước (ACCT) (1981 – 1987), là Uỷ viên Hội đồng cao cấp tiếng Pháp (1985 – 2005). Trong những lần chủ trì hoặc tham gia các hội nghị quốc tế, Huy Cận đã thể hiện được bản lĩnh vững vàng của nhà hoạt động chính trị và kiến thức uyên bác của nhà hoạt động văn hoá tài ba. Ông được nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà chính trị quý mến kính trọng. Trên dưới 50 lần làm việc, công tác tại nhiều nước trên thế giới, Huy Cận đã góp phần đưa văn hoá Việt Nam đến với bè bạn năm châu và trân trọng đón nhận tinh hoa văn hoá của nhân loại để làm phong phú thêm văn hoá dân tộc. Ông am hiểu nhiều nền văn minh, văn hoá và tiếp nhận nhiều nguồn ảnh hưởng nhưng cái gốc tâm hồn, cái gốc hồn thơ Huy Cận là ngọn nguồn văn hoá dân tộc Việt Nam.

Là cán bộ cao cấp của Chính phủ, phải dành nhiều tâm sức cho công tác quản lý nhưng Huy Cận vẫn say mê, bền bỉ sáng tạo thơ ca. Sự nghiệp chính trị của Huy Cận thật đáng trân trọng, trước sau nhất quán, Huy Cận vẫn là một nhà thơ. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Huy Cận có thêm gần hai chục tập thơ, trong đó có nhiều bài thơ hay, đạt tầm cao dân tộc và thời đại. Tiếp nối mạch thơ tình đời, tình người sâu nặng từ thời “Lửa thiêng“, thơ Huy Cận sau Cách mạng tháng Tám có sự thay đổi cơ bản về cách nhìn nhận con người và cuộc đời. Nếu trước đây nhà thơ nhìn con người trong vũ trụ, con người giữa thiên nhiên thì giờ đây ông nhìn con người giữa cuộc đời, con người gắn bó trong các mối quan hệ xã hội hoà hợp tin yêu. Thơ Huy Cận vừa giàu cảm xúc tươi mới của cuộc đời vừa mang đậm nội dung triết lý về sự sống bất diệt, về tình yêu đất nước, về sức mạnh nhân dân và vẻ đẹp tâm hồn dân tộc Việt Nam.

Huy Cận tha thiết gắn bó với thiên nhiên đất nước Việt Nam, tâm hồn ông vươn lên những khoảng rộng xa vũ trụ nhưng tấm lòng nặng trĩu với đời. Hành trình thơ ca của Huy Cận đi từ “Trời mỗi ngày lại sáng”đến “Đất nở hoa”, từ “Bài thơ cuộc đời” đến “Ngôi nhà giữa nắng”, rồi từ “Hạt lại gieo” đến “Ta về với biển”, lúc nào tâm hồn ông cũng chịu sức hấp dẫn của hai cực: vũ trụ và cuộc đời. Sức hấp dẫn ấy đã góp phần tạo nên một cá tính nghệ thuật độc đáo của Huy Cận trong vườn thơ dân tộc.

Thơ Huy Cận kết hợp hài hoà giữa hai nền văn hoá Đông – Tây, vừa có sức sống mạnh mẽ của truyền thống vừa mang hơi thở của thời đại. Ông tiếp nhận ảnh hưởng văn hoá phương Tây từ những ngày học ở Huế và qua sách báo đương thời nhưng cái gốc sâu xa làm nên gương mặt thơ Huy Cận là tiếng thơ dân tộc. Huy Cận yêu thiết tha tiếng nói dân tộc và luôn luôn có ý thức về nguồn mạch thơ ca mà mình tận hưởng.

Tình yêu đất nước, tình yêu thiên nhiên, tình yêu văn hoá dân tộc đã nâng cánh thơ ông và nhờ thế ông gặp gỡ vẻ đẹp nhân bản của thơ ca nhân loại. Khi thơ ông đạt tầm cao dân tộc cũng là khi những thi phẩm ấy trở thành tài sản nhân loại. Vinh dự thay ông được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Thơ thế giới. Danh hiệu cao quý ấy không chỉ minh chứng cho một tài năng văn chương cái thế mà điều quan trọng hơn là vẻ đẹp thơ ca dân tộc Việt Nam được nhân loại thừa nhận và tôn vinh.

Huy Cận là nhà thơ lớn của dân tộc, là cán bộ cao cấp của Chính phủ và cũng là con người của đời thường bình dị. Ở Huy Cận có sự thống nhất hài hoà của nhiều phẩm chất, năng lực như là đối cực. Ông có tầm nhìn chiến lược và tính cẩn trọng của một nhà lãnh đạo nhưng cũng rất tinh tế, đa cảm, lãng mạn và đam mê của một thi sĩ tài hoa. Ông là người uyên bác, hiểu biết sâu sắc nhiều lĩnh vực: Triết học, tôn giáo, chính trị, kinh tế, văn hoá nhưng vẫn không quên những việc đời thường. Ông quan tâm tới những người thân đến từng việc nhỏ, ngoài 80 tuổi vẫn nhớ được vài chục số điện thoại của cơ quan, bạn bè, đồng nghiệp, không bao giờ lỡ hẹn với ai dù chỉ vài phút. Trong túi áo ngực của ông luôn luôn có một bọc nhỏ có đầy đủ các loại thuốc đề phòng bất trắc, lúc khoá cửa xong bao giờ ông cũng cầm ống khoá lắc lắc 2 – 3 lần xem đã chắc chưa, lúc ăn một món ăn lạ miệng ông muốn được chia sẻ với vợ con. Huy Cận là người làm việc rất nghiêm túc nhưng ăn mặc mộc mạc đến xuềnh xoàng, cởi mở chân thành đến mức hồn nhiên khi tiếp xúc với anh em, bè bạn. Huy Cận là người rất yêu đời, say mê sống, tha thiết sống. Cách đây mấy năm, tôi đến chúc Tết nhà thơ Huy Cận, ông đưa bàn tay trước mặt tôi và hỏi: “Ông xem tôi sống được bao lâu nữa?“. Tôi liếc qua bàn tay của ông rồi dò hỏi: “Thế ngày tháng năm sinh chính xác của bác như thế nào?” – “Tuổi khai sinh của tôi hiện nay là do ông cậu khai khi vào học ở Huế, còn ngày sinh chính xác là ngày 29 tháng Chạp năm Bính Thìn (dương lịch là ngày 22.1.1917). Tôi có thể sống đến lúc kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long – Hà Nội không?“. Trân trọng niềm khát vọng tốt đẹp của ông, tôi trả lời một cách tự tin: “Chắc là được bác ạ! Bác còn rất khoẻ mà“. Đúng vào buổi chiều ngày 29 tháng Chạp năm Giáp Thân, theo lời hẹn trước, tôi và GS. Hà Minh Đức đến để cùng nhà thơ Huy Cận làm bữa tất niên. Nhưng đến nhà Lệ Duyên mới hay, ông vừa phải vào bệnh viện. Lúc ấy, tôi cảm thấy công hoàng và chột dạ vì hôm nay là sinh nhật của ông. Ông đã chạm tới tuổi 90 rồi! Tôi không tin ông sẽ ra đi trong mùa xuân Ất Dậu, tôi vẫn nghĩ rằng nhà thơ Huy Cận kính yêu sẽ còn sống khoẻ để dự lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long – Hà Nội của chúng ta./.

Trần Khánh Thành [100 Years-VietNam National University,HaNoi]

 

 

       2.-          Nguyện Cầu

 

                   Thơ của Vũ Hoàng Chương

Ta còn để lại gì không?
Kìa non đá lở, này sông cát bồi.
Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước xa xôi dặm về.

Trông ra bến hoặc bờ mê
Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương
Ta van cát bụi bên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này.

Ðể ta tròn một kiếp say
Cao xanh liều một cánh tay níu trời.
Nói chi thua được với đời
Quản chi những tiếng ma cười đêm sâu.

Tâm hương đốt nén linh sầu
Nhớ quê dằng dặc, ta cầu đó thôi!
Ðêm nào ta trở về ngôi
Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian.

Một phen đã nín cung đàn
Nghĩ chi còn mất hơi tàn thanh âm

 

 

                       CHUYÊN MỤC : CHUYỆN XƯA…CHUYỆN NAY

An Lộc( sưu tầm )

            Tượngđài vô cảm

                    bài của Liêu Thái

 

QUẢNG NAM – Bốn trăm mười tỉ đồng bỏ ra xây ‘tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng’, con số đó hoàn toàn không nhỏ, và nó lớn gấp bội khi mà đời sống người dân hiện tại vẫn còn nhiều bà mẹ già mỗi ngày chỉ kiếm được chưa đến 10 ngàn đồng để sống qua ngày!

 

Ở một đất nước có quá nhiều người nghèo, mang tiền ra xây tượng đài bằng chính mồ hôi, nước mắt, xương máu lẫn trong tiền thuế của nhân dân là một câu chuyện hết sức phi lý. Nhưng chuyện đó đã xảy ra!

Một vài thông tin chung mà các báo trong nước đã đưa tin:

“Ngày 14 tháng 7, chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Phước Thanh đã ký quyết định bổ sung 330 tỉ đồng cho dự án xây dựng tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng, lấy nguyên mẫu mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ, tại khu vực núi Cấm (xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam), nâng tổng số tiền đầu tư từ ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh lên hơn 410 tỉ đồng, gấp 5 lần số tiền được phê duyệt ban đầu là 81 tỉ đồng (vào tháng 8 năm 2007).”

 
 

“Toàn khối tượng đài có hình dáng của một ngọn núi nhô cao ở giữa và thoải dần ở hai bên. Chính giữa khối tượng đài là chân dung bán thân mẹ Việt Nam anh hùng, lấy nguyên mẫu là mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ, hai bên vách đá thể hiện gương mặt những người con…”

“Theo ông Ðinh Gia Thắng, tác giả thiết kế, chịu trách nhiệm thi công tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng, sau khi hoàn thành, tượng đài không chỉ lớn nhất Việt Nam mà còn lớn nhất Ðông Nam Á.”

“Nói về bản thiết kế và thi công mẫu tượng theo tỉ lệ 1/1, tác giả công trình cho biết: Nơi cao nhất của khối tượng là 18m, chiều thấp nhất tại hai đầu vách là 6.8m, chiều rộng theo đường cong là 120m, độ dày nhất tại chân dung là 21.6m, độ mỏng nhất tại hai đầu vách là 8m bằng chất liệu granit…”

***

Nếu chịu khó đi dạo các chợ ở tỉnh Quảng Nam, nơi xây dựng tượng đài, có ít nhất không dưới ba chục bà mẹ nghèo, tuổi trên 70, ngồi bán từng bó rau heo, từng lọn trầu, miếng cau, cái trứng cút để sống qua ngày… Tiền lãi chẳng là bao nhiêu, hầu hết là dưới 10 ngàn đồng/ngày.

Nếu đem chia con số 410 tỉ đồng cho 10 ngàn, đáp số của nó là 41 triệu đồng, đem chia tiếp cho 10 nữa, còn được 4 triệu một trăm ngàn đồng. Một con số rất lớn đối với cụ thể là một trăm ngàn bà mẹ quê nghèo khổ, không có nơi nương tựa, không có chỗ che mưa che nắng, không còn sức lao động…

Trong khi đó, đi khắp từ Bắc chí Nam, từ Lạng Sơn cho đến Cà Mau, đâu đâu cũng thấy những người già tội nghiệp, nghèo khổ, hằng ngày phải lo bươn chải kiếm cái ăn, cái mặc, đói lạnh và buồn tủi, không có ngày mai.

Lúc này, câu hỏi được đặt ra là nhân dân đóng thuế để làm gì? Không ai mong muốn hằng ngày phải cong lưng đóng thuế để xây dựng hình tượng một bà mẹ to như quả núi đá vô tri vô giác đứng thách thức nỗi thống khổ, đói rách của cộng đồng, của dân tộc và rộng hơn là của đồng loại.

Ðiều này cho thấy gì? Nó phát biểu rõ nét một thứ chủ nghĩa hình thức và vô cảm.

Nói nó hình thức bởi nó phục vụ cho một loại hình tuyên truyền, “ghi công”, “nhớ ơn” quá đà (mà cái đà ở đây chính là mức sống, an sinh của nhân dân), thậm chí đi đến lố bịch bởi thứ mặc cảm về cái “to nhất”, “vĩ đại nhất”, “hoành tráng nhất”…

Những thứ hình thức đó chỉ hợp với những tham vọng độc tài, khoa trương và có xu hướng nhốt kín cái nhìn cộng đồng vào bốn bức tường tư duy, định hướng của một phe nhóm, đảng phái nắm quyền.

Và để thỏa mãn cái hình thức đó, người trả giá, chịu trận lớn nhất không ai khác chính là nhân dân, kẻ bị bóc lột một cách khéo léo và lạnh lùng bởi phe nhóm và đảng phái nói trên.

Nếu đặt ngược vấn đề, bảo rằng đây là một công trình nhân bản, tính hình thức là thứ yếu, vấn đề chính yếu vẫn là khái quát hình tượng người mẹ trong lòng con dân một dân tộc, thể hiện lòng tri ân và tôn trọng lịch sử chẳng hạn… thì lại rơi vào chỗ xảo trá và lừa bịp.

 
 

Bởi không thể có bất kỳ hình tượng nào tồn tại trên mồ hôi, xương máu của nhân dân trong lúc cái nghèo, cái đói còn là nỗi ám ảnh khôn nguôi!

Thử hỏi có một công trình nào ở Việt Nam mà không có sự “chấm mút” của các bên liên quan, từ chính quyền địa phương cho đến nhà thầu xây dựng, người phác họa ý tưởng…

Nói cho sang là sáng tạo hình tượng, phác họa ý tưởng nghệ thuật, nhưng thực chất bên trong là kiếm cơm bằng cách vẽ vời tung hê, tung càng cao cơm càng nhiều, rượu càng ngon, thịt càng lạ, gái càng đẹp và nhà càng rộng!

Ðiều này gọi là gì nếu không phải là vô cảm là trí trá trên sức cần lao của nhân dân?! (LT)

                             CHUYÊN MỤC SƯU TẦM NGỮ NGHĨA TIÊNG VIÊT

   Quả mai ba bảy đường vừa

        Cũng lời khuyên của Vân xin Kim Trọng và Thuý Kiều tái hợp kết duyên xưa, có câu:

Còn duyên này lại còn người
Còn vầng trăng bạn còn lời nguyền xưa
Quả mai ba bảy đường vừa
Ðào non sớm liệu xe tơ kịp thì

(câu 3073 đến 3076)

        “Quả mai ba bảy đường vừa” nguyên lấy chữ thơ “Phiếu mai” “Mai rụng” ( ) trong Kinh Thi, gồm có 3 chương như sau

1. Phiếu hữu mai
Kỳ thực nhất hề
Cầu ngã thứ sĩ
Ðãi kỳ cát hề

2. Phiếu hữu mai
Kỳ thực tam hề
Cầu ngã thứ sĩ
Ðãi kỳ kim hề

3. Phiếu hữu mai
Khuynh khuông kỳ chi
Cầu ngã thứ sĩ
Ðại kỳ vị chi

Lược dịch:

1. Quả mơ rụng
Mười phần còn bảy
Ai cầu ta
Hãy kíp chọn ngày

2. Quả mơ rụng
Mười phần còn ba
Ai cầu ta
Kíp rước ngay về

3. Quả mơ rụng
Nghiêng sọt lượm mơ
Ai cầu ta
Kíp ngỏ lời ra
(Bản dịch của Lê văn Hoè)

 

                               CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE

            Đỗ Cao Đàm (sưu tầm)

 

               14.-Căng thẳng là nguyên nhân gây ra bệnh viêm ruột?

 

Căng thẳng là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh nhưng cũng không

đủ cơ sở để chứng minh nó là nguyên nhân gây ra bệnh viêm ruột. Viêm

 

ruột là căn bệnh có liên quan đến bệnh Crohn và viêm loét đại tràng, bệnh

này làm xuất hiện các vết viêm loét trong ruột non hoặc ruột già, đôi khi

là cả hai. Bệnh này làm thay đổi hệ miễn dịch của cơ thể do một loại vi

khuẩn hoặc vi rút gây ra.

 

                   15.-Bệnh Celiac ở ruột non nếu không được chữa trị có thể gây nên các vấn đề về dạ dày?

 

Bệnh Celiac xuất hiện ở những người bị dị ứng với protein gluten,

bệnh này thường khó phát hiện nếu bác sĩ chỉ dựa vào những triệu chứng

thông thường như đầy bụng, ợ chua hoặc tiêu chảy. Các triệu chứng khác

của bệnh này là: thiếu máu, loãng xương, trầm cảm, phát ban hay còn gọi

là viêm da herpetiformis.

 

 

 

 

 

 

     

 

 

 

 

 

 

                        

 

Docago.wordpress.com số ra ngày thứ tư 21/9/2011 ( 24 thang8 tân mão)

CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Đỗ Anh Thơ:

Cha ông chúng ta lúc tóc còn để chỏm đã bò lê bò toài học từ vựng Hán ( tam thiên tự, ngũ thiên tự). Đến lúc có đủ 3- 5 ngàn từ vựng thì bước sang học Luận ngữ rồi Kinh Thi, Tả truyện… Bởi vậy, không thể hiểu cha ông chúng ta hàng nghìn năm nay đã xây dựng đất nước, chống ngoại xâm như thế nào mà lại bỏ qua mặt trận văn hóa, chống sự nô dịch, để tiếp thu có chọn lọc văn hóa phương Bắc và quá trình giành lại bản quyền văn hóa mà mình đã bị tước đoạt.

Vậy đây là những bài học vỡ lòng xưa của các cụ để cho chúng ta phản tư:

           1.-    關  關  雎  鳩 ﹐在   河  之  洲 。

                     窈 窕  淑  女 , 君 子 好 逑 。

參 差 荇 菜, 左 右 流 之 ,

窈 窕 淑 女 ,  寤 寐 求 之。

求 之 不 得, 寤 寐 思 服。

悠 哉 悠 哉 , 輾 轉 反 側。

參 差 荇 菜 , 左 右 采 之。

窈 窕 淑 女, 琴 瑟 友 之。

參 差 荇 菜, 左 右 芼 之.,

窈 窕 淑 女 , 鐘 鼓 樂 之。

                         Phiên âm

Quan quan sư cưu, tại hà chi châu. Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu. Sâm si hạnh thái, tả hữu lưu chi, yểu điệu thục nữ, ngụ mị cầu chi. Cầu chi bất đắc, ngụ mị tư phục. Du tai du tai, triển chuyển phản trắc, sâm si hành thái, tả hữu thái chi. Yểu điệu thục nữ, cầm sắt hữu chi. Sâm si hạnh thái, tả hữu mao chi, yểu điệu thục nữ, chung cổ lạc chi.

                               

                          Chú giải: Câu này ở trong chương Quan cưu, Chu nam, Quốc phong của kinh Thi.

– Quan quan (guan quan): Tiếng chim kêu “quang quác”.

– Sư cưu (ju jiu): có từ điển phiên là “thư cưu”, một loài chim két, chim mòng (ospreys), ăn cá, hung dữ, có tập tính chỉ sống đôi với nhau.

– Hà (hé): sông.

– Châu (zhou): bãi cù lao.

– Yểu điệu (yào tiáo): dáng vẻ mảnh mai.

– Thục nữ (shu nủ): con gái nết na.

– Cầu (qiú): tỏ tình, dạm hỏi, cầu hôn.

– Tham sai (can cha): còn đọc là “sâm si” mọc rậm rạp lô nhô không đều.

– Hạnh thái (xing cai): rau hạnh.

– Tả hữu (zuỏ yòu): hai bên trái phải.

– Lưu (líu): chảy.

– Ngụ mị (wú mèi): thức ngủ.

– Đắc (dé): được.

– Tư (si) phục: tơ tưởng.

– Du (you): dài dằng dặc.

– Triển chuyển (zhản zhuan): trằn trọc, trăn trở.

– Phản trắc (fản cè): trở mình.

– Cầm sắt (qín sè): Đàn cầm đàn sắt. Hai loại đàn này thường hòa âm với nhau, ví như tình nghĩa vợ chồng luôn luôn có nhau.

– Mao (mào): rau, sự chọn lựa.

– Chung cổ (zhong gủ): chuông trống.

                         Dịch:

                          Đôi chim két kêu ở ngoài bãi sông. Ở đó có một cô gái nết na mà ta – người quân tử muốn cầu hôn. Ngoài bãi rau hạnh mọc lô xô, hai bên có dòng nước chảy, người con gái nhu mì đó đang hái rau, ta ngày đêm thao thức muốn cầu hôn. Muốn lấy nàng mà không được, ngày đêm trằn trọc mơ tưởng. Thời gian sao mà dài lê thê. Cô gái hái rau, hái bên này bên nọ, ta muốn cùng cô nàng nết na ấy kết bạn trăm năm. Rau hạnh sum suê mọc đôi bờ… ôi ta muốn gióng trống chiêng để đón cô ấy về làm vợ xiết bao!

                           Bình:

Kinh Thi sưu tầm được trên 300 bài ca dao gồm phong (phong dao), nhã (nhã nhạc), tụng (tụng ca) trước thời Chu của các tộc người sống ở vùng nam sông Hoàng Hà và bắc nam sông Dương Tử. Trong đó có nhiều bài ca dao tỏ tình đôi lứa như bài “Quan cưu” này. Kinh Thi là một trong năm kinh cùng với Tứ thư mà các nhà nho phải học. Từ Khổng Tử về sau, người ta cứ khiên cưỡng gò bó nó vào trong khuôn khổ sách kinh điển, nghĩa là “sợi dọc” (kinh) dệt nên tư tưởng Nho học, là sách khuôn vàng thước ngọc, không được phép bàn, sửa đổi.  Nhưng gần đây trong các cuộc hội thảo, người ta đã bác bỏ tính kinh điển lễ giáo của nó (xem tham luận của giáo sư Phí Chấn Cương – Trung Quốc trên www.cciv.edu.com) mà suy tôn nó về mặt mỹ học, văn học. Nó đã đặt nền móng cho các lối diễn đạt văn chương như hứng, tỉ, phú …trong ca dao và đặc biệt là thơ Đường sau này.

Mặt khác, các sách nghiên cứu trước kia cho chữ Hán là thứ ngôn ngữ đơn âm tiết thuộc ngôn ngữ Hán Tạng. Nhưng thực ra, qua kinh Thi ta có rất nhiều chứng cứ mà nói rằng, nó đã tiếp thu một phần tính chất đa âm tiết dòng ngôn ngữ Việt – Môn Khơ me, nhất là tính chất láy.

Đối với các bộ tộc phía Nam (trong đó có Lạc Việt) chúng ta có thể tìm thấy dấu vết của những từ cổ trong kinh Thi. Tuy rằng theo giáo sư Haudricourt thì tiếng Việt đã mất dần âm vận vĩ (rhyme) theo vùng, do âm hầu họng phát triển. Nhưng ta vẫn còn có thể phát hiện tính đa âm tiết của thổ ngữ ở một số vùng và tiếng láy là thuần Việt. Nhiều nhà nghiên cứu thường thấy chữ Hán (công cụ ghi âm Hán ngữ) đồ sộ quá nên không thấy tính giao thoa của nó, không thấy đó là di sản của đa chủng tộc, trong đó có tộc Việt, mà chỉ tìm hiểu theo một chiều, nghĩa là cho rằng tất cả những từ gần như thuần Việt ấy đều là xuất phát từ chữ Hán. Chữ Nôm rõ ràng là mượn bộ của chữ Hán. Nhưng còn vấn đề chữ Hán ở bản địa vùng Bắc bộ Việt Nam thì sao? Vì hơn một nghìn năm bị đô hộ, lệ thuộc rất hà khắc (thời Tần, Hán, Đường…) rồi đến 10 năm bị nhà Minh xâm chiếm, tộc Việt đã mất hết sách vở, công trình của trí thức ưu tú của riêng mình và của cả quan lại phương Bắc sang, đã ly khai với Hán triều (như Triệu Đà chẳng hạn). Họ đã dùng các con chữ (bộ) của Hán tự để ghi âm tiếng Việt. Ví dụ từ “chè” (Việt) chính là từ “b’lè” (tiếng vùng Cổ Đam – Nghệ  An hiện nay vẫn còn) chứ không phải là từ “trà” (茶 ). Trà là từ có sau. Từ “cổ” trong hầu hết tên các địa phương ở nước ta hiện nay là từ “kẻ”, chính xác hơn là âm tiết “kl” cũng như từ “sâm si” (sum suê) “triển chuyển” (trằn trọc, trăn trở), “thiết tha” “áo quần” trong kinh Thi là từ Việt – Hán. Các nước châu Âu cũng đã dùng chữ La tinh để tạo ra chữ viết của riêng mình. Tại sao các bộ tộc Việt lại không thể dùng chữ Hán (như Nhật Bản) mà mình có phần bản quyền? Đó là do chính sách đồng hóa và do tính chất phục tùng “thiên triều” của đa số trí thức Việt, còn thiểu số thì tìm cách vay mượn kiểu chữ Nôm nhưng chưa có hệ thống. Hiện nay lại có người muốn tìm một thứ chữ không hề tồn tại: chữ con nòng nọc. Ta có thể phân loại chữ Hán có yếu tố Hán Việt, <=> Việt Hán theo các hướng sau đây:

– Về ngữ pháp: định ngữ để trứơc hay sau sau.

– Từ nguyên (yếu tố totem, các yếu tố đa âm tiết của ngôn ngữ Việt – Môn, vận bộ (vần, âm sắc)…

– Tính đặc trưng của từ (láy hoặc từ ở phương Bắc không phổ biến, ví dụ: quần và khố tử …)

– Tính giao thoa, nghĩa là tồn tại cả hai hoặc nhiều nước mà không xác định được trước sau. Ví dụ: 木 mộc (Trung Quốc), cây (Việt Nam), ki , mu (ツリーの-Nhật Bản) … đã nói ở trên.

Vậy giá trị của kinh Thi đối với nền văn học Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên… vẫn còn đó, chưa được khám phá hết.

 

2.-     子 曰 ﹕“[ 關  雎 ] 樂 而 不  淫 ﹐哀 而 不 傷  ”.

Phiên âm :Tử viết: “ [Quan thư], lạc nhi bất dâm, ai nhi bất thương.”

 

                        Chú giải: Câu này là câu thứ 20 ở trong chương 3 (Bát dật) của Luận ngữ.

– Quan thư (guan ju): Tên bài phong dao trong thiên Chu nam (ca dao vùng nam đất Tây Chu – tức là nam Lạc Dương, Hà Nam, Trung Quốc bây giờ) của kinh Thi.

– Lạc (lè): vui.

– Dâm (yín): vui quá độ, không đoan chính, dâm dật.

– Ai (ai): bi ai .

– Thương (shàng): thương tâm.

                            Dịch:

Khổng Tử nói: “Bài thơ Quan cưu vui mà không dâm dật, tuy bi ai mà không đến nỗi quá thương tâm.”

 

                                         CHUYÊN MỤC THƠ VĂN

 

   An Lộc (chuyển tiếp từ Nguyễn Bảo Hưng

        (Nguồn: Thư viện Sáng tạo)

              Lời giới thiệu: Liệu tiếng Việt có thể là công cụ đắc dụng cho nỗ lực sáng tạo văn học hay không? Ðó là vấn đề cấp thiết mà chúng tôi cho rằng đã đến lúc cần đặt ra và mong được sự tham gia góp ý đông đảo. Tên người viết dường như còn xa lạ; nhưng xa lạ chưa hẳn đồng nghĩa với non kém vì tác giả, trước 1975, đã từng cộng tác với Ðài Tiếng Nói Tự Do tại Sài Gòn và, mới đây, với Ban Việt Ngữ Ðài RFI ở Pháp. Bên cạnh những lập luận vững vàng có giải thích, có phân tích, có chứng minh; và chỉ thuần dựa trên văn bản, bạn đọc cũng nên để ý tới cách dùng câu chữ của tác giả. Hình thức văn phong ở đây cũng có thể là một biểu hiện cho… ngôn ngữ Việt: hàm súc, hóm hỉnh, ý vị trong cách diễn tả, nhưng cũng có thể rất trí tuệ khi cần diễn ý.

Ðỗ Bình

 

Tiếng Việt thường được coi thuộc loại ngôn ngữ thiên về biểu cảm hơn là diễn ý. Sự đánh giá này có lẽ do đặc tính của tiếng Việt là cụ thể, đầy đủ âm sắc, rất thuận lợi cho việc sử dụng hình tượng, thanh âm để diễn tả cảm tình cảm nghĩ với âm hưởng sắc thái đặc biệt (avec nuances et resonnances particulières).

Quan họ – Tranh Bùi Xuân Phái

  Nếu đặc điểm này có đáng kể cho nghệ thuật thi ca, thì trái lại, trong trao đổi hàng ngày nó thường được sử dụng dưới hình thức ám chỉ, ví von để gợi ý, tỏ tình, khen tặng một cách tế nhị kín đáo, hoặc để nói bóng nói gió, với ngụ ý chê bai nhưng không gây mất lòng . Ðặc điểm này có thể được coi là sở trường riêng của tiếng Việt và làm nên điều mà ta có thể coi như thuộc về thiên tài ngôn ngữ (le génie de la langue) của tiếng Việt. Nhưng tiếc thay cái yếu tố thiên tài ngôn ngữ ấy, thay vì nên khai thác làm sở trường, người ta lại biến nó thành sở đoản, chỉ đem ra vận dụng trong các giao tiếp hàng ngày, đặc biệt trong cách nói trào lộng hài hước nhằm chê bai nhạo báng, hoặc nói bóng nói gió, nói xỏ nói xiên để khích bác châm chọc. Hậu quả là tiếng Việt bị đánh giá thấp, cho là thiếu khả năng để trình bày mạch lạc hay diễn tả ý tưởng thâm trầm sâu sắc. Thành kiến này là do thói quen sử dụng chữ nghĩa cẩu thả bừa bãi mà ta có thể nhận ra dễ dàng trên một số trang mạng hay các trang báo hàng ngày.

Trong sinh hoạt văn nghệ, tiếng Việt lại thường được khai thác tiêu cực như là thứ ngôn ngữ châm biếm hài hước để chọc cười thiên hạ (Thí dụ như cặp bài trùng M. C Nguyễn Ngọc Ngạn – Cao Kỳ Duyên với những mẩu chuyện đàn bà ghen tuông trong các băng video Thúy Nga, hay cặp Hoài Linh – Vân Sơn nhái lai giọng Quảng, giọng Bắc trong các cuộn băng Asia… để, mỗi lần, lại đánh thức nơi khán giả tới dự buổi thâu băng những tràng cười phản xạ dễ dãi). Thành kiến này, chẳng những không bị phản bác, lại còn được một vài học giả uyên bác tỏ ý tán đồng. Trong một bài mang tựa đề “Văn học trong một nước mù chữ” đăng trên tạp chí Hợp Lưu số 38, tháng 12/97&1/98, nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc có nhận định về tình trạng nhếch nhác, kém phát triển của văn học Việt Nam. Theo ông nguyên nhân chính là do văn học Việt nam mang đặc tính truyền khẩu hơn là thành văn. “Khuynh hướng truyền khẩu này, (nếu) một mặt làm phát triển tính chất cụ tượng trong tiếng Việt, (thì) mặt khác, lại làm giảm bớt tính chất duy lý trừu tượng của nó… Ðiều này khiến chúng ta không những không có một nền triết học hoàn chỉnh mà cũng không có, hoặc có rất ít, những thể loại văn học thiên về tư duy trừu tượng như văn chính luận, biên khảo, lý luận và phê bình văn học.” (Bdd, HL số 38, tr. 74). Tiếp theo đó, ông Nguyễn Hưng Quốc còn tìm cách giải thích nguyên nhân của tình trạng kém cỏi này trong một bài viết chung với Hoàng Ngọc Tuấn mang tựa đề “Viết, giữa truyền thống và nhu cầu sáng tạo” đăng trên tạp chí VĂN số 37&38, Tháng Giêng & Hai, 2000 (tr. 13-30).

Theo nhận định của hai vị học giả, văn học nước ta sở dĩ trì trệ, không phát triển được trước hết là do tiếng Việt là thứ ngôn ngữ thực dụng chỉ thích hợp cho thói quen “nói bóng nói gió, nói cạnh nói khóe; ngay cả khi chửi nhau thì cũng thích xỏ xiên hơn là đốp vào mặt.” (Bdd, Văn số 37 & 38 tr. 14). Tệ hại hơn nữa, hai ông Quốc và Tuấn còn cho rằng “tiếng Việt đã được giữ gìn và phát triển với tư cách là ngôn ngữ của một dân tộc nô lệ” (Bdd, tr. 17) Và, với một ngôn ngữ nô lệ như thế, ta khó mà xây dựng được một nền văn học có tầm vóc quốc tế; bởi vì, theo hai ông, “… ở một phương diện nào đó, trước khi viết ra một bài thơ hay một bài văn, chúng ta đã bị viết bởi chính cái ngôn ngữ mà chúng ta đang sử dụng. Chúng ta là tác phẩm của ngôn ngữ trước khi và trong khi là tác giả. Ðiều này giải thích tại sao phong cách của một người viết thường khác nhau khi họ sử dụng hai ngôn ngữ khác nhau: sự khác nhau ở đây không xuất phát từ cá tính hay trình độ của người viết mà chính yếu xuất phát từ ngôn ngữ.” (Bdd, tr. 26).

Nhận định này, tôi e rằng có phần chủ quan và hơi vội vã. Rất có thể hai ông Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc Tuấn đã bị chi phối ít nhiều bởi phát biểu của một sinh viên mà hai ông đã trích dẫn trong phần mở đầu cho bài viết: “Viết văn bằng tiếng Việt mà viết rõ ràng như tiếng Anh thì… dở lắm thầy ơi!” (Bdd, Văn số 37 & 38 tr. 14). Tôi cho rằng đây là một ngộ nhận đáng tiếc dễ dẫn đến sự rẻ rúng tiếng Việt, coi nó không phải là thứ ngôn ngữ có khả năng đáp ứng được nhu cầu sáng tạo. Hậu quả là các thế hệ con cháu người Việt ở hải ngoại ngày càng lơ là, bỏ rơi tiếng mẹ đẻ. Riêng với các em muốn theo đuổi sự nghiệp văn chương, dường như đang manh nha một phong trào khuyến khích các em nên viết thẳng bằng thứ tiếng quốc gia nơi các em trưởng thành, làm như chỉ sáng tác bằng tiếng nước người các em mới phát triển được tài năng của mình. (1) Ngôn ngữ là công cụ của nhà văn, cũng như búa, đục, cây đinh chạm trổ với nhà điêu khắc. Nhà điêu khắc dẫu thiên tài, nếu thiếu dụng cụ tinh vi, cũng không thể hiện được hết tài năng sáng tạo của mình. Ngược lại, một nghệ sĩ nghiệp dư, cho dù có sắm được bộ đồ nghề tinh xảo nhất, cũng chỉ làm ra những tác phẩm tầm tầm mà thôi. Nhà văn Cao Hành Kiện nay mang quốc tịch Pháp, hiện sống tại Pháp và có những tác phẩm viết bằng tiếng Pháp. Nhưng, nếu tôi nhớ không lầm, tác phẩm “Linh Sơn” đem lại cho ông giải thưởng văn hoc Nobel dường như được viết ra bằng tiếng Hoa rồi sau đó mới được dịch ra đủ thứ tiếng trên thế giới thì phải (2). Ngày nay tiếng Pháp được coi là ngôn ngữ của một nền văn hóa cao. Nhưng trong suốt thời kỳ Trung cổ tiếng Pháp bị hàng giáo phẩm và giới viện sĩ rẻ rúng, coi là ngôn ngữ tầm thường, dung tục chỉ dành cho giới bình dân thất học. Khi cần soạn bài giảng hay viết sách, các giới này đều thảo bằng tiếng La Tinh. Phải chờ tới thời Phục Hưng (la Renaissance) khi Du Bellay đại diện cho thi đoàn La Pleiade soạn ra bản “Défense et Illustration de la langue française” (1549) để bênh vực và minh sáng cho tiếng Pháp, tiếng Pháp mới được đưa vào trước tác, và từ đó công hiến cho kho tàng văn học thế giới không ít tác phẩm có giá trị.

Qua gương nhóm La Pleiade, ta có nên đặt câu hỏi: tiếng Việt liệu có là công cụ hữu hiệu cho phép nhà văn, nhà thơ phát huy được tài năng sáng tạo của mình hay không? Hay, để làm nên những tác phẩm có tầm vóc quốc tế, ta phải “cầu viện” đến các lý thuyết văn học ngoại lai hoặc phải viết bằng một thứ tiếng nước ngoài? Theo nhận xét của tôi, tiếng Việt không phải chỉ có giỏi về ăn nói ngụ ý hàm súc (hay chua ngoa móc méo) đâu. Trái lại, nếu ta chịu khó suy nghĩ đắn đo, cân nhắc thận trọng trong cách sử dụng câu chữ, ta sẽ thấy tiếng Việt có thừa khả năng đáp ứng cho yêu cầu phân tích chính xác hay diễn đạt tư duy trừu tượng chắc gì các ngôn ngữ được coi thuộc loại trí tuệ nhất đã qua mặt nổi. Cách đây khá lâu tôi có người quen đi thăm Việt Nam về mua tặng cuốn “Nguyễn Bính, thơ và đời,” của Nhà xuất bản Văn Học Hà Nội – 1998. Tôi hoan hỉ đón nhận xong lại đem xếp ngay vào tủ sách ở một vị trí khá ưu đãi, có lẽ do ấn tượng tốt đẹp về những vần thơ lục bát đã đọc hồi còn ở lứa tuổi mười sáu đôi mươi. Mãi tuần qua, gặp dịp mấy ngày nghỉ lễ bắc cầu, tôi mở tủ sách định chọn một cuốn để đọc giải trí. Không hiểu sao bàn tay tôi như được ai hướng dẫn tự động mò tới hàng kệ có xếp cuốn “Nguyễn Bính” và tôi cũng ngoan ngoãn cầm lấy. Tôi cho rằng đây là một phản xạ thuộc về chức năng nhằm đáp ứng một nhu cầu ngấm ngầm của cơ thể. Có lẽ thời gian gần đây tôi phải suy nghĩ quá nhiều để tìm cách giải mã các vần điệu mang hình thức phá thể cách tân, nào là những khoảng ngắt không gian bằng gạch chéo slash, những con chữ bị tách lìa, những câu bị đứt đoạn xuống hàng bất ngờ để, hoặc làm mới ngữ nghĩa hay gây hiệu quả xốc, hoặc tạo ra hơi thở khi lên xuống nhịp nhàng lúc dồn dập hổn hển cho đúng với mạch điệu của mốt sống văn minh dậm dật đua đòi…, thành thử đầu óc mệt phờ. Chắc vì thế tôi đâm hoài niệm đôi ba vần thơ trong sáng bình dị để tâm thần được phần nào thư giãn (cũng như cái bao tử của ta, có lúc anh ách do thừa mứa những món chiên xào béo bổ, bỗng dưng thèm được một bữa rau muống luộc chấm tương bần, lại có thêm bát nước rau vắt chanh tươi để khi húp vào, khiếp, mới thấy nó mát cái ruột làm sao!)

Tình cờ mở sách rơi đúng trang 34-35, gặp bài thơ mang tựa đề “Chân quê” thấy có vẻ gần gũi thân quen nên quyết định thử đọc chơi. Vì chỉ có ý đọc chơi nên tôi sẽ không đọc với cặp mắt hau háu của nhà phê bình để phân tích, phẩm bình giá trị thi tính của bài thơ. Trái lại tôi sẽ đọc rất buông thả, để mặc cho trí tưởng tượng nương theo lời chữ, vần điệu à ới mà tự do bay bổng. Như cái thuở là thằng cu tí còn mặc quần thủng đít tóc để chỏm trái đào, những lúc nằm rúc nách mẹ tôi một tay ngón cái đút miệng tay kia rờ tí mẹ, cặp mắt riu riu theo tiếng võng đu đưa kẽo kẹt và, tùy theo lời ru của mẹ: khi thì “cái ngủ mày ngủ cho ngoan,” khi thì “trăm năm trong cõi người ta,” khi thì “em ơi! em ở lại nhà,” lang bang nhớ tới các mẩu chuyện lúc thì Thạch Sanh, lúc thì Cô gái quàng khăn đỏ, lúc thì Công chúa ngủ trong rừng… để rồi ngủ quên lúc nào không hay. Vậy là tôi đã chọn đọc bài thơ này không phải như là một bài thơ, mà như là nghe kể một câu chuyện bằng văn vần theo truyền thống một dân tộc mà thực chất, theo nhận định của Nguyễn Hưng Quốc ký tên Nguyễn Ngọc Tuấn, không phải là một dân tộc thi sĩ mà chỉ được tiếng huyền thoại về một nước thơ (Nguyễn Ngọc Tuấn: Huyền thoại về một nước thơ – Hợp Lưu số 18 tháng 8 & 9 năm 1994, tr. 64-75):

 

Hôm qua em đi tỉnh về

Ðợi em ở mãi con đê đầu làng

 

A, ra đây là lời kể lể của một chàng trai nông thôn đi đón người yêu thăm tỉnh về. Anh không chỉ ra đầu làng nơi hai người vẫn thường hẹn hò, mà leo len tận bờ đê để có thể thấy nàng từ xa. Anh hồi hộp mong ngóng lắm, phần nhớ nàng, phần thấp thỏm về chuyến di của nàng. Thời nay, người ta từ Mỹ từ Pháp về Việt Nam cứ xoành xoạch như đi chợ ấy ; nhưng vào thời Nguyễn Bính chỉ đầu thôn với cuối thôn cũng cho là xa rồi. Vậy mà nàng lại ra tận tỉnh cơ, là nơi anh nghe nói có nhiều cám dỗ lắm, làm sao anh không bồn chồn cho được. Thế rồi bóng ai thấp thoáng chân đê. Nhìn vào dáng đi, đúng là nàng. Nhưng bóng người càng tiến gần, anh đâm ngờ ngợ. Qua dáng đi thì đúng là nàng, nhưng sao cách ăn vận lại không phải là nàng. Rồi khi nhận ra đúng là nàng, anh bật miệng than:

 

Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng

Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi

Quan sát nàng từ đầu tới chân anh tự hỏi:

Nào đâu cái yếm lụa sồi?

 

Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân? Nào đâu cái áo tứ thân? Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen? Trời đất ơi, thế này có khổ thân tôi không cơ chứ! Em mới ra tỉnh có một ngày mà đã vội đua đòi cách ăn mặc dân thành thị. Em mà đi về thêm vài lượt nữa tránh sao khỏi bị mấy thằng bẻm mép láu tôm láu cá trổ tài tán tỉnh dụ khị em, tìm cách cuỗm em đi để hại đời em. Khi đó chắc là anh chỉ biết ngước mắt lên trời mà than: “Mất em rồi, xa em rồi! Chiều hôm nay trên đê vắng, anh đi về chỉ có anh!” Và, cho dù một buổi chiều cuối đông mưa dầm gió bấc, nàng có khăn gói quả mướp quay về thì người đẹp mà anh vẫn trăm nhớ ngàn thương, khi ấy, chắc cũng chỉ như bông hoa đã tàn nhụy đã phai mà thôi. Ý nghĩ này làm anh quíu quá nên anh vội nài nỉ bằng lời lẽ bộc trực của một tâm hồn cục mịch:

 

Nói ra sợ mất lòng em

Van em em hãy giữ nguyên quê mùa

Như hôm em đi lễ chùa

Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.

 

Và để được vừa “lòng” nàng hơn nữa, anh không ngần ngại cầu viện tới bố mẹ; rồi còn dùng lối nói vè dân gian tính mượn “sức mạnh quần chúng” gây áp lực:

 

Hoa chanh nở giữa vườn chanh

Thầy u mình với chúng mình chân quê.

 

Nhưng vừa đọc tới hai chữ “chân quê” tôi giật mình đánh thót một cái: Thôi hỏng rồi! Cái kịch bản tôi đang dàn dựng theo trí tưởng tượng, thế là không đứng vững được! Phải chi Nguyễn Bính viết câu thơ đó như sau: “Thày u mình với chúng mình nhà quê” thì câu chuyện được xuôi buồm thuận gió biết mấy. Ðằng này ông lại chơi khăm, ông định xỏ tôi, ông đi dùng hai chữ “chân quê” mới đâm ra rắc rối cái sự đời. Ðành rằng nhà quê hay chân quê đều nói lên bản sắc đồng quê, nhưng chúng lại không đồng nghĩa vì hai từ ghép này bộc lộ hai tâm trạng phản ánh hai trình độ nhận thức khác nhau. Nhà quê có thể coi như đồng nghĩa với quê mùa: chúng cùng mang âm hưởng của một sự đánh giá thấp, một ngụ ý chê bai dè bỉu; đồng thời chúng còn biểu lộ một thái độ an phận thủ phần. Chân quê, trái lại, là sự kết hợp của chữ “chân” gốc Hán với chữ “quê” gốc Việt. Mà chữ “chân” khi ghép với một chữ nào đó thường đem lại cho chữ được ghép chung với nó một phẩm tính, một giá trị làm cho chữ đó trở nên sáng giá, thí dụ như chân lý, chân chính, chân phương, chân thực, chân chất, chân thiện mỹ.

Bởi vậy tôi không tin là từ ngữ chân quê có thể được thốt ra từ một nông dân cục mịch như trong kịch bản tôi đang dàn dựng. Thế là mặc dầu đã định bụng nghỉ chơi với trí tuệ một bữa, nhận thức này buộc tôi phải đọc lại chăm chú hơn để tìm hiểu ý nghĩa bài thơ cho đúng với quan niệm sáng tạo của Nguyên Bính. Nhờ sẵn chủ ý đọc lại với tinh thần cảnh giác nên vừa gặp chữ “mãi” trong câu: Ðợi em ở mãi con đê đầu làng, tôi hửi ngay ra có cái mùi khang khác. Bình thường ta hay dùng chữ mãi làm trạng tự thời gian và chữ tận làm trạng từ nơi chốn, như lời thỏ thẻ sau đây của cô gái với người tình (nghe đâu là một việt kiều cao cờ cũng yêu nước lắm thì phải) mà có lần tôi nghe lóm được: “Anh hứa đi, anh hứa yêu em mãi mãi đi (và mua tặng em chiếc nhẫn hột xoàn mười li đi), rồi em nguyện sẽ theo anh tới tận góc bể chân trời.” Vậy mà trong câu thơ Nguyễn Bính lại viết: Ðợi em ở mãi con đê đầu làng. Như vậy nhân vật là tác giả câu này đã chọn chữ mãi với dụng ý hẳn hoi, nhằm nhấn mạnh tới yếu tố thời gian. Không phải thời gian vật lý mà là thời gian tâm lý: chữ mãi gợi ý cho ta về một sự chờ đợi lâu dài, lâu thiệt là lâu. Nhưng thế nào mới gọi là lâu? Nửa giờ? Một giờ hay nửa ngày? Ðiều này không quan trọng. Khi người ta nôn nóng trông đợi một điều gì thì chỉ cần khoảnh khắc cũng đã thấy lâu rồi. Bằng chữ mãi để bộc lộ sự sốt sắng nhiệt tình của mình đồng thời cũng là hình thức kể công, tác giả câu nói, nếu không là con cháu ông đồ, ít ra phải có lui tới sân Trình cửa Khổng nên cũng võ vẽ ăn mày được đôi ba chữ nghĩa thánh hiền. Sự kiện này có thể kiểm chứng nếu ta để ý tới hai chữ rộn ràng ở câu thơ kế tiếp:Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng. Trước hết là cách dùng chữ táo bạo có thể coi như phá thể cách tân của nó: Thông thường ta quen dùng hai chữ rộn ràng như tính từ đi kèm một danh từ chỉ hành động (bước chân rộn ràng) hay với một danh từ chỉ tâm trạng (lời ca rộn ràng), hầu như chẳng bao giờ với một danh từ chỉ sự vật (tấm áo rộn ràng). Vậy mà trong câu thơ Nguyễn Bính lại có ý sử dụng hai chữ rộn ràng làm động từ chứ không phải tính từ. Cách sử dụng làm thay đổi bản chất và chức năng của loại từ (từ tính từ sang động từ) có hai tác dụng:một là, khiến cho câu chuyện đang ở trạng thái tĩnh chuyển sang trạng thái động, đang ở thể kể chuyện và mô tả biến sang hoạt cảnh; hai là, bộc lộ được tâm trạng của cô gái khiến ta nắm bắt được hai phản ứng tâm lý khác nhau giữa nhân vật nông dân cục mịch trong kịch bản một và nhà nho nông dân trong lịch bản hai. Trong câu thơ khăn nhung quần lĩnh rộn ràng, bốn chữ khăn nhung quần lĩnh được nêu lên trước tiên biểu hiện cho cái gì đập ngay vào mắt người đứng đợi. Bởi vậy anh nông dân chất phác mới tá hỏa tam tinh khi thấy người yêu thay đổi hẳn cách trang phục và, sẵn mang mặc cảm thua kém, anh vội van xin nàng hãy giữ nguyên quê mùa để chịu cho anh cưới hỏi mà về ăn ở với anh. Nhà nho nông dân trái lại, nhờ có kiến thức hơn nên sáng suốt hơn, rành tâm lý hơn, bình tĩnh hơn. Anh không chỉ dò xét người yêu qua cách ăn vận mà còn qua dáng đi bộ tịch của nàng. Giả dụ cô gái đã ăn phải bả xa hoa thành phố rồi, khi nhìn thấy bộ mặt đưa đám của anh nông dân thế nào cô cũng làm bộ ngúng nguẩy và nguýt xéo một cái ra điều mắng vốn: Nỡm chưa! Ðây có bảo đấy đi đón đây đâu mà đấy đến đứng đây làm gì? Trường hợp cô nàng dại dột chẳng may đã lỡ bị với ai mất rồi, thì khi giáp mặt người tình chắc cô sẽ không tránh khỏi lúng túng trong một vài cử chỉ che giấu ngượng ngùng. Ðằng này hai chữ rộn ràng cho ta thấy cô gái không chỉ chân bước le te mà hai má còn ửng hồng, khuôn mặt tươi rói. Nàng như vừa muốn làm cho chàng trai phải lé mắt với bộ trang phục tỉnh thành của mình vừa muốn nói rằng: Ngó em đi nè! Em ăn bận đẹp dzầy là dzì anh đó, là muốn được anh thương em nhiều hơn, anh có biết hông! Vậy là những bước chân rộn ràng của cô gái đủ trấn an chàng trai nông thôn về mối tình chung thủy của nàng rồi. Ấy thế mà anh nông nho vẫn than: Em làm khổ tôi! Tại sao vậy? Tuy cùng một câu than, nhưng lời than của anh nông dân và của anh nông nho lại không cùng một nội dung nên phản ánh hai tâm trạng khác nhau. Anh nông dân sẵn có mặc cảm quê mùa nên khi thấy người yêu xúng xính trong bộ áo tỉnh thành, anh ta chỉ lo đến chuyện mất nàng. Lời than của anh nông nho trái lại biểu lộ một tâm trạng vừa giận vừa thương: Nhìn khuôn mặt hân hoan rạng rỡ của người yêu anh hiểu rằng nàng học cách ăn mặc tỉnh thành chỉ vì muốn làm đẹp để được anh yêu nhiều hơn. Vì vậy anh mới thương nàng, và càng thương nàng anh lại đâm ra giận nàng, hay đúng ra buồn phiền vì nàng: Em yêu! Anh biết rằng con tim em không hề lỗi nhịp với anh nhưng nó lại trật nhịp với tim anh mất rồi! Khổ quá! Hai đứa mình đã bao lần hẹn hò tâm tình với nhau bên bờ giếng cuối thôn hay bụi tre đầu ngõ mà em vẫn chưa hiểu được lòng anh. Anh thương em là thương ở cái nội dung cái nết hay làm chứ đâu chỉ ở cái hình thức nhan sắc của em. Ai đẹp bằng em là anh đã hết biết rồi, em còn bày đặt đua đòi bắt chước làm chi!Vả lại mấy cổ có gì hơn em đâu mà em phải bắt chước.

Xí…, đời thuở nhà ai con gái con đứa gì mà lười như hủi ấy. Thêu thùa bếp núc chẳng chịu học, chỉ thích ăn cơm tháng thôi. Bao nhiêu thì giờ đều dành cho việc sửa mắt sửa mũi với lại shopping. Ai mà dám rước mấy của nợ ấy về, rồi sẽ có ngày phải đem thóc giống đi bán lấy tiền để ăn cho mà coi. Bởi vậy tuy thốt ra cùng một lòi kêu gọi:

 

Nói ra sợ mất lòng em

Van em em hãy giữ nguyên quê mùa

Như hôm em đi lễ chùa

Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.

 

Nhưng hai chữ quê mùa lại có một ý nghĩa khác. Chúng cần được hiểu như một kêu gọi thách đố, một biểu hiện của tự tin tự hào về phẩm chất của mình: Không việc gì em phải mang mặc cảm quê mùa với mấy cô gái tỉnh thành ấy cả. Mấy cổ lên mặt chê bai em chứ sức mấy họ bằng em được. Em phải biết: cái ngày hội đầu Xuân em di lễ chùa ấy mà, em còn nhớ không? Lần đầu gặp em xinh xắn trong bộ áo tứ thân với chiếc khăn mỏ quạ và tấm yếm lụa sồi là anh đã phải lòng em ngay rồi đấy! Và, tuy cũng ngần ấy lời nhắn nhủ như anh nông dân:

 

Hoa chanh nở giữa vườn chanh

Thầy u mình với chúng mình chân quê

Hôm qua em đi tỉnh về

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

 

Nhưng với anh nho sinh, hai chữ chân quê đã khiến câu hoa chanh nở giữa vườn chanh không còn là một câu vần vè ví von thường tình nữa. Nó biến bốn câu thơ kết nay thành một lời nhắn nhủ đậm đà thi tính, giàu màu sắc, ánh sánh và hương vị như muốn nhắc nhở cô gái quê rằng chỉ có trong bộ y phục nông thôn mộc mạc nàng mới bộc lộ trọn vẹn cái đẹp tự nhiên thôn dã. Nhờ vậy mà hai câu cuối:

 

Hôm qua em đi tỉnh về

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

 

Một lần nữa cho phép ta xác nhận rằng tác giả câu chuyện bằng văn vần này đúng là một anh đồ nông dân bắc bộ phủ. Sau khi tâm sự và nhắn nhủ người yêu rồi, anh còn tập làm Cao Bá Quát, trầm ngâm triết lý ba xu theo kiểu “thế sự thăng trầm quân mạc vấn”: Nếu người yêu của anh có đua đòi lối ăn mặc thành thị, xét cho cùng, chẳng có gì đáng trách cả. Nàng cũng chỉ ứng xử theo phương châm sống “người sao ta vậy” thường tình ở đời mà thôi. Nhưng cũng vì thế anh mới ngậm ngùi luyến tiếc cho nàng đã thiếu tự tin không biết tự hào với vẻ đẹp thuần khiết đồng nội của mình, làm hư hao phần nào hình ảnh người yêu lý tưởng trong trái tim anh. Kết quả là ở hai câu kết, câu thơ lục không chỉ có là một lập lại truyền thống vần vè: ý của nó được quyện với ý của trạng từ ít nhiều trong trong câu bát để tạo ra một âm hưởng buồn khơi dậy nơi người đọc một cảm xúc mênh manh diệu vợi. Và cũng bởi có một cảm xúc buồn diệu vợi còn đọng lại nơi tôi nên, tuy có biết tác giả Nguyễn Bính đã chết, nay đã chết rồi và mặc dù có được nghe nhiều người nhắc đến tên các ông nào là Michel Foucault, nào là Roland Barthes, nào là Jacques Derrida, v.v… tôi vẫn không sao ngắt nổi một cành hoa thạch thảo để bắt nhà thơ Nguyễn Bính phải chết theo. Và sở dĩ tôi không đành lòng đi ngắt một cành hoa thạch thảo bởi vì nếu không có Nguyễn Bính thì làm sao có bài thơ Chân quê, và nếu không co bài thơ Chân quê làm sao tôi lại có được cảm xúc mênh mang buồn diệu bữa nay. Bởi vậy càng đọc bài Chân quê và suy ngẫm về cái từ được chọn làm tựa đề, tôi càng thấy tác giả quả là một nhà thơ sáng tạo. Chỉ với hai chữ Chân quê thôi, Nguyễn Bính đã thay đổi hẳn diện mạo bản văn: Thay vì chỉ là một câu chuyện kể theo truyền thống dân gian bằng những vần điệu du dương à ới để ru em, tôi lại tìm thấy ở Chân quê một bài thơ đúng với nghĩa “’thơ’ trong nhiều ngôn ngữ Tây phương (poetry, poésie, poesía, Poesia, poesia) hàm ý hành động sáng tạo gắn liền với tri thức và kỹ thuật tinh luyện chuyên biệt trong phạm vi ngôn từ “theo quan điểm của Nguyễn Hưng Quốc & Hoàng Ngọc Tuấn trong bài viết đã dẫn (Viết, giữa truyền thống và nhu cầu sáng tạo -Văn số 37&38, tr. 23).” Tôi sẽ không đề cập tới vần điệu hay nhạc điệu là những yếu tố sẵn có trong thể lục bát. Ở đây tôi chỉ đề cập tới sự cách tân và tính sáng tạo trong kỹ thuật vận dụng ngôn ngữ để làm mới ngữ nghĩa. Trên đây tôi đã có dịp phân tích ý nghĩa đặc biệt của các từ mãi, rộn ràng, quê mùa để minh chứng về kỹ thuật vận dụng ngôn ngữ của Nguyễn Bính. Nay tôi chỉ muốn nhấn mạnh thêm về tính sáng tạo của hai chữ “chân quê” khiến tôi phải đọc lại bài thơ từ đầu và, nhờ đó phát hiện ra cách sử dụng đặc biệt mấy từ trên giúp tôi diễn dịch bài thơ theo một hướng mới làm thay đổi hẳn nội dung, ý nghĩa, giá trị bản văn. Nếu tôi hiểu không sai lắm, thì dường như do đặc tính này, ta cũng có thể tìm thấy ở “Chân quê” một ti tí tân hình thức, một ti tí hủy cấu trúc hay một ti tí hậu hiện đại gì đó thì phải. Trước hết ta không thể phủ nhận từ này là một sáng tạo của Nguyên Bính, bởi lẽ nó không chỉ mới lạ ở thời Nguyễn Bính, mà ngay cả bây giờ cũng ít thấy trường hợp sử dụng nó trong những bài thơ hay truyện viết về đồng quê. Tuy chỉ cần thay thế chữ nhà (quê) bằng chữ chân (quê) là ý nghĩa và giá trị bài thơ thay đổi hẳn, nhưng việc làm không dễ dàng như ta tưởng. Trái lại nó đòi hỏi người thực hiện công việc đó phải có vừa một kiến thức tầm vóc vừa một kỹ thuật tinh luyện trong phạm vi ngôn từ mới biết kết hợp chữ chân với chữ quê thành từ chân quê khiến bài thơ bỗng trở nên sáng giá. Bởi vậy ta có thể nói hai chữ chân quê trong trường hợp sử dụng này phải là thành quả tư duy của cả một quá trình phân tích và tổng hợp nên mới đạt được mức trừu tượng hóa cao đến thế.

Tôi không rành tiếng Anh, tiếng Ðức, tiếng Nga hay tiếng Nhật nên không biết các ngôn ngữ này có một hay hai từ nào tương xứng để dịch được trọn ý từ chân quê trong câu thơ của Nguyễn Bính hay không? Riêng về phần tôi sẽ vô cùng lúng túng nếu có ai nhờ tôi dịch câu thơ này ra tiếng Pháp. Phải chi Nguyễn Bính dùng hai chữ nhà quê như mọi người, tôi sẽ dịch dễ dàng câu thơ: “Thầy u mình với chúng mình nhà quê ra: “Nos parents et nous deux, nous sommes tous des campagnards.” Nhưng để dịch hai chữ chân quê của Nguyễn Bính lúc đầu tôi có ý sửa câu dịch thành: “Nos parents et nous deux, on est paysans de souche” và nghĩ rằng cụm từ paysans de souche nói lên được cái ý nguồn gốc trong nghĩa hán của từ chân, đồng thời từ paysans để đánh dấu sự khác biệt với từ campagnards thường dược dùng với ngụ ý dè bỉu (sens péjoratif). Nhưng khi đọc lại câu vừa sửa, tôi thấy cần phải thêm một vài chữ nữa để bổ nghĩa như sau: “Nos parents et nous deux, on est paysans de souche et on en est fiers,” có thế một người Pháp chính gốc mới nhìn ra được cái ý của niềm tự hào về nguồn gốc nông dân tiềm ẩn trong chữ chân. Nhưng tự hào về cái gì cơ chứ? Thế là tôi lại thấy có thêm vào mấy chữ “…et on en est fiers” vẫn chưa đủ, vì trong từ chân còn có ý nói lên cái đẹp, cái khía cạnh tích cực, ở đây là phẩm chất con người và đời sống thuần thôn dã: siêng năng, bình dị, lương thiện, sống hòa hợp với thiên nhiên… Mà muốn câu dịch diễn tả trọn vẹn ý nghĩa cái hay cái đẹp nằm trong câu thơ của Nguyễn Bính chắc là tôi còn phải thêm lời giải thích. Nhưng dịch câu thơ có tám chữ mà phải lời lẽ lòng thòng đến thế thì nó đâm ra là thẩn mất rồi, đâu còn là thơ được nữa. Bởi vậy tôi rất mong có những vị thuộc thành phần học thức uyên bác rành ngoại ngữ, bất cứ ngoại ngữ nào dù là tiếng Anh, tiếng Ðức, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Nhật hay tiếng Congo cũng được, xin mấy vị hãy làm ơn làm phúc cũng như làm giàu (đẻ con không sợ trọc đầu) dịch giùm tôi câu thơ trên của Nguyễn Bính ra một thứ tiếng nước ngoài. Nhưng phải dịch cho ra thơ mới được cơ; còn dịch để biến nó thành thẩn là tôi hổng có chịu đâu… Ứ… Ừ… ! Nếu chỉ với đôi ba từ quí vị dịch lột được ý hai chữ chân quê của Nguyễn Bính, tôi sẵn sàng mua cặp gà mái dầu (gà lành thứ thiệt nuôi tại chuồng nhà chứ không phải thứ gà mắc dịch cúng gia cầm đâu nhá) để xin tôn vinh làm sư phụ.

Bài “Chân quê” của Nguyễn Bính được viết ra vào năm 1936, tức là vào thời điểm nhân dân ta vừa thoát khỏi họa một ngàn năm nô lệ giặc Tầu lại rơi ngay vào vòng kiềm tỏa của một trăm năm đô hộ giặc Tây (nhưng may quá còn chưa lâm vào cảnh ba mươi năm nội chiến từng ngày). Dưới ánh sáng của các lý thuyết cách tân văn học hiên đại, “Chân quê” chỉ đáng coi thuộc loại văn học truyền khẩu trong một nước mù chữ mà trình độ dân trí, ở thời điểm này, đa số chỉ tới mức bình dân học vụ là cùng. Có lẽ vì vậy Nguyễn Bính đã chọn hầu như toàn những lời lẽ trong sáng giản dị nhất để bài thơ có thể phổ biến rộng rãi trong dân gian. Lời lẽ giản dị trong sáng đến độ Hoàng Tấn có lần trước mặt Nguyễn Bính đã phải thốt lên: “Bài thơ trần trụi tới mức như con nhộng, ai mà chẳng hiểu” (Nguyễn Bính – Một vì sao – trích hồi ký Hoàng Tấn, trong cuốn Nguyễn Bính -Thơ và Ðời, tr. 152). Ðáp lại, Nguyễn Bính đã nhân dịp bày tỏ quan niệm sáng tác thơ của mình: “Tôi chủ trương thơ Việt viết cho người Việt, trước hết phải mang sắc thái và phong cách Việt, do đó giản dị là một điều cốt lõi. (Giản dị đây không đồng nghĩa với dễ dãi tầm thường…)” – [Bdd, tr. 153 ].

Về quan niệm sáng tác này, Hoàng Tấn đã có cơ hội kiểm chứng sau một thời gian được chung sống với nhà thơ: “Nếu với thơ, Bính đắn đo suy nghĩ có khi đến quên ăn quên ngủ vì một từ, viết nháp nhiều lần, sửa chữa kỹ lưỡng từng câu từng chữ, trước khi đưa in viết sạch sẽ nắn nót bao nhiêu, thì trong cuộc sống Bính bạt mạng buông thả bấy nhiêu.” (Bdd, tr. 160) Các sự kiện trên đây đều do Hoàng Tấn thuật lại trong hồi ký, nên tôi không dám chắc phát biểu của Nguyễn Bính có đúng là nguyên văn hay không. Riêng về phần câu: Giản dị đây không đồng nghĩa với dễ dãi tầm thường, trong trích đoạn hồi ký được in lại, không có chỉ dấu nào cho biết phần phát biểu của Nguyễn Bính tới đâu là chấm dứt nên, mặc dù đọc đi đọc lại tới ba bốn lần, tôi vẫn không dám quyết đoán câu này là lời giải thích thêm của Nguyễn Bính hay là một nhận xét riêng của tác giả hồi ký. Dầu vậy dựa trên bài “Chân quê” và một số bài thơ khác của Nguyễn Bính, tôi cho rằng những điều Hoàng Tấn ghi nhận về Nguyễn Bính là khả tín và phản ánh được trung thực quan niệm sáng tác của nhà thơ. Từ đó tôi rút ra hai hệ luận như sau: Một là, văn chương Việt Nam cho tới thời Nguyễn Bính nói chung, nếu quả đúng chỉ thuộc loại văn chương truyền khẩu gồm những bài hát vè, những chuyện kể vần điệu du dương à ới để ru em mà thôi, thì với những bài hát vè như bài “Chân quê” dân tộc ta, may mắn thay, tuy không phải là một dân tộc thi sĩ, nhưng ít ra cũng có một vài người thuộc loại Nguyễn Bính có mang chút ít tâm hồn thơ; hai là, vào thời điểm của Nguyễn Bính nhân dân ta phải sống dưới sự kìm kẹp của thực dân Pháp nghĩa la còn là một dân tộc nô lệ nên chỉ có thể nói thứ tiếng nô lệ mà thôi, theo đánh giá của Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc Tuấn (bdd). Nhưng với cách vận dụng đầy sáng tạo của Nguyễn Bính qua bài “Chân quê,” tôi tin rằng bất cứ nhà bác học thực dân phú lang xa mũi lõ mắt xanh tóc hung nào là thànhviên của Viễn Ðông Học Viện (Ecole de l’Extreme -Orient) nếu có đọc bài thơ này và nắm được ý nghĩa của hai chữ chân quê trong câu thơ Nguyễn Bính thì, dù tự cho mình có sứ mạng đến khai hóa cho đám dân ngu cu thâm bản xứ, ông ta với tinh thần phục thiện, chắc cũng phải ngả nón cúi đầu xin chào thua mà thôi. Bởi vậy tôi không tin có thứ ngôn ngữ nô lệ của một dân tộc nô lệ và thứ ngôn ngữ tự do dành cho các dân tộc tự do, mà chỉ có những đầu óc nô lệ với quán tính tư duy nô lệ nên bắt chữ nghĩa phải mang thân phận nô lệ do cung cách phát biểu mang tinh thần nô lệ hay do căn bệnh làm biếng suy nghĩ tìm tòi của mình mà ra. Cũng vì vậy, ai muốn nói gì thì nói, tôi vẫn cứ yêu tiếng nước tôi như thường. Tiếng nước tôi? Vâng tiếng nước tôi là thứ tiếng mà tôi trót yêu từ khi mới ra đời (người ơi!). Còn cái được gọi là nước tôi í à, thì nay nó lại nằm tại Pháp, tại, Ðức, tại Mỹ, tại Nga, tại Úc… nghĩa là ở tận đẩu đâu, tại một nơi nào đó trên địa cầu, chứ không còn thuộc về mảnh đất mang hình chữ S bên bờ Thái Binh Dương nữa. Và cũng bởi nước tôi nay không còn là mảnh đất mang hình chữ S nằm bên bờ Thái Bình Dương nên tôi lại càng thèm được nhận (vơ) tiếng Việt là tiếng nước tôi hơn bao giờ hết…

Nguyễn Bảo Hưng

(Nguồn: Thư viện Sáng tạo)

 

.

 

 

         CHUYÊN MỤC : CHUYỆN XƯA…CHUYỆN NAY

Huy Nguyên (giới thiệu, sưu tầm, tổng hợp)

 

Quan thanh liêm thì ở thời nào, đất nước nào chẳng có, nhưng chắc là thiểu số so với số lượng quan tham nhũng. Các bài học về đạo làm quan tốt, “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” lúc nào chả có, từ trong trường lớp đến ngoài đời, từ các bậc thánh hiền ngày xưa đến các vị thức giả ngày nay. Biết cho vui vậy thôi, chứ khi làm không vậy, ít nghĩ đến lợi ích của người dân mà nghĩ nhiều đến chuyện vơ vét cho thỏa lòng tham. Nhưng mà túi tham không đáy, làm sao cho đầy được đây? Chuyện đó nhỡn tiền, ai chẳng thấy! Thôi thì cùng ôn lại những tấm gương sáng quan thanh liêm để mong sao mình và người được tốt hơn, mà cùng vui sống trong thời đại “thái bình thịnh trị” vẫn là cái đích  xa vời trên con đường phía trước!  HN

 

1. Gương xưa:

Tham là một bệnh lớn nhất trong thiên hạ và dễ mắc hơn tấc cả các bệnh, cho nên Thanh Liêm là một đức quí nhất và cũng khó rèn luyện nhất trong các Đức.
Tuy vậy, người vẫn còn để lại nhiều gương sáng cho đời soi. Như Công Nghi Hưu thời Chiến Quốc, là một.
Công Nghi Hưu làm tướng nước Lỗ, tánh rất thích ăn cá. Nhưng, một hôm, có người đêm cá đến biếu. Ông lại không nhận. Người em ngạc nhiên hỏi, ông đáp:
– Người ta đem cá cho chắc có ý muốn cầu ta việc gì. Nếu ta nhận thì ta phải giúp việc cho người. Giúp việc cho người, lỡ trái phép nước thì đến mất quan. Mà mất quan, thì chẳng những không có cá biếu, đến cả cá mua cũng không có nữa. Không nhận cá chính ta muốn có cá ăn hoài vậy.
Như thế là Thanh Liêm. Nhưng bằng theo lời nói trên đây xét thì lòng Thanh Liêm của Công Nghi Hựu không tuyệt đối, vì còn sự cân nhắt lợi hại, thiệt hơn. Chưa bằng Dương Chấn đời Hậu Hán.
Dương Chấn tiến cử Vương Mật ra làm quan. Sau đó Dương công được bổ đi làm Thái Thú Đông Lai, đi ngang qua đất Xương Ấp là nơi Vương Mật cai trị. Nhớ ơn đề bạt ngày xưa, Vương Mật xin đến yết kiến rồi đêm khuya đem vàng đến dâng Dương công. Công từ chối và bảo:
– Trước kia biết ông là người khá, tôi mới tiến cử ông. Thế mà ông vẫn chưa rõ bụng, còn đem vàng cho tôi ?
Vương Mật cố này ép, thưa:
– Xin Ngài nhận cho. Đêm khuya không ai biết.
Công liễm dung đáp:
– Trời biết, đất biết, ông biết, tôi biết. Sao gọi rằng không ai biết?
Vương Mật nghe nói xấu hổ bưng vàng lui ra.
Tấm lòng của Dương Chấn thật sáng tỏ như mặt trời ban trưa. Nhưng chưa bằng lòng Tư Hãn đời Xuân Thu.
Tư Hãn làm quan giữ thành nước Tống. Có người được viên ngọc đem biếu, Tư Hãn không nhận. Người biếu ngọc thưa:
– Ngọc này tôi đã đem cho thợ ngọc xem. Quả là thứ ngọc báo mới dám đem dâng Ngài. Xin Ngày nhận cho tôi được vui lòng.
Tư Hãn đáp:
– Nhà ngươi cho ngọc là của báo, ta cho tánh không tham là của báu. Ngươi đem ngọc cho ta, nếu ta nhận, thì hai bên điều mất của báu. Âu là ngươi cứ đem về. Của báu ai nấy giữ. Như thế cả hai đều còn của báu, thì chẳng hơn sao ?
Người biếu ngọc cúi đầu thưa:
– Chúng tôi là thường dân mà giữ ngọc báu thì e không tránh khỏi trộm cướp, mà có khi còn bị hại đến thân.
Tư Hãn bèn lưu người biếu ngọc ở lại. Đoạn tìm thợ đến dũa ngọc rồi đem bán lấy tiền trao cho người chủ ngọc mang về.
Tấm lòng của Tư Hãn vừa liêm khuyết vừa nhân hậu và cách xử sự kia cao đẹp không chi bằng!
Làm quan mà được như Công Nghi Hựu, như Dương Chấn, trên đời kể không được nhiều lắm. Đến như Tư Hãn thì xưa nay e chưa có người thứ hai.
Mà xưa nay nhiều người lầm tưởng rằng đức Liêm chỉ cần cho người có quyền có thế. Cho nên chỉ nghe nói đến quan Thanh Liêm chứ không nghe nói đến dân Thanh Liêm. Thật ra Thanh Liêm là thu liễm lòng tham lại để cho phẩm hạnh được trong sạch, thì riêng gì người làm quan, người có quyền có thế mới có đức Liêm. Và người Liêm chẳng những không tham lợi, mà đến danh cũng không tham. Gặp phú quí mà không phải đạo thì người Liêm nhất định không nhận. Như người bán thịt dê ở nước Sở thời Xuân Thu.
Người bán thịt dê ấy tên là Duyệt. Vua nước Sở là Chiêu Vương bị giặc đánh phải bỏ nước chạy, người bán thịt dê cũng chạy theo. Sau vua Chiêu Vương lấy lại được nước, bèn thưởng cho những kẻ tòng vong. Người bán thịt dê cũng ở trong đám được thưởng. Ai nấy đều nhận, chỉ có người bán thịt dê từ chối, nói rằng:
– Trước nhà vua mất nước, tôi mất nghề bán thịt dê. Nay nhà vua lấy lại được nước, tôi được trở lại nghề bán thịt dê. Thế là tôi giữ được nghiệp cũ, đủ ăn rồi, còn đâu dám mong thưởng nữa.
Nhà vua cố ép. Người bán thịt dê thưa:
– Nhà Vua mất nước không phải là tội tôi, nên tôi không dám liều chết. Nhà Vua lấy lại nước không phải là công tôi, nên tôi không dám lãnh thưởng.
Nhà Vua bảo:
– Để rồi ta đến nhà của ngươi chơi vậy.
Người bán thịt dê đáp:
– Theo phép nước Sở, người nào có công to, được trọng thưởng thì Vua mới đến nhà. Nay tôi xét bản thân tôi, mưu trí không đủ giữ được nước, dũng cảm không đủ giết được giặc. Quân giặc vào nước, tôi lánh nạn, phải theo nhà Vua, chớ có phải cốt theo giúp nhà Vua đâu. Nay nhà Vua bỏ phép nước, đến chơi nhà tôi, e thiên hạ nghe thấy chê cười vậy.
Vua Chiêu Vương nghe nói quay lai bảo quan Tư Mã Tử Kỳ rằng:
– Người hàng thịt dê này tuy làm nghề vi tiện mà giãi bày nghĩa lý rất cao xa. Nhà ngươi làm thế nào mời ra nhận chức Tam Công cho ta.
Người hàng thịt dê nói:
– Tôi biết chức Tam Công quí hơn nghề bán thịt dê, bổng lộc nghìn vạn, giàu hơn tiền lãi bán thịt dê. Nhưng tôi đâu dám ham tước lộc mà để Vua mang tiếng là gia ơn không phải nghĩa. Tôi thực không dám nhận. Xin cho tôi về giữ lấy nghề bán thịt dê của tôi.
Nói đoạn lui ra ngay.
Người bán thịt dê không nhận thưởng vì biết mình không có công cán gì, không nhận chức vì biết mình không có tài cán hơn người. Như thế thật là Liêm. Và đó là một tấm gương ” dân liêm ” vậy.
Lòng liêm khiết của các nhân vật nói trên là không tham danh, không tham lợi do người khác đem đến. Cũng đã thật cao, nhưng chưa tuyệt cao. Lòng liêm của Duyên Lăng Quí Tử đời Xuân Thu mới thật là tuyệt.
Duyên Lăng Quí Tử ở nước Ngô sang sứ nước Tấn, ghé qua chơi với Vua nước Từ. Vua nước Từ thấy Quí Tử mang thanh bảo kiếm, có ý muốn xin mà không muốn nói ra. Quí Tử đoán biết, định bung sẽ dâng kiếm cho nhà vua sau khi lo xong sứ mệnh. Nhưng khi về qua nước Từ thì Vua Từ đã mất. Quí Tử toan trao cho tự quân. Kẻ tùy tùng ngăn lại, nói:
– Thanh kiếm này là vật báo của nước Ngô, không phải thứ để tặng.
Quí Tử đáp:
– Không phải là ta tặng. Độ trước ta ghé lại đây, Vua Từ xem kiếm ta, tuy ý muốn, nhưng không nói ra. Vì ta còn phải đi sứ thượng quốc nên chưa dâng được. Tuy vậy bụng đã định cho. Nay Vua Từ mất mà ta không hiến thanh kiếm, thì ta tự dối lòng ta. Tiếc kiếm mà dối tâm người Liêm không chịu làm.
Nói đoạn tháo kiếm trao cho tự quân. Tự quân nói:
– Tiên quân không dặn việc ấy nên tôi không dám nhận kiếm.
Quí Tử bèn đem kiếm treo nơi mộ Vua Từ rồi đi.
Chao ôi! Liêm đến mức ấy thì thật quá đỗi cao, người đời không thể nào với tới. Chúng ta có thể theo kiệp chăng, hoạ may theo kịp Công Nghi Hựu, Dương Chấn là hết sức …Đã biết rằng không phải ai ai cũng có thể thành hiền, thành thánh, nhưng ai nấy đều có thể lấy hiền thánh mà tự kỳ.
Tây triết có câu ” Vouloir c’ est pouvoir” nghĩa là ” muốn thì được “. Chúng ta thử rủ nhau ” muốn Liêm ” xem sao.

(Quách Tấn)

 

          2. Những vị quan thanh liêm trong thời trước ở nước ta:

 

Chắc là  nhiều, nhưng không có điều kiện tra cứu đầy đủ, nên chỉ xin dựa vào báo chí, nói qua vài người trong triều Nguyễn, như:

Phạm Thận Duật, hiệu Vọng Sơn, sinh năm 1825 trong một gia đình trí thức nho học nghèo ở Yên Mô Thượng, xã Yên Mạc, huyện Yên Mô, Ninh Bình. Từ nhỏ, ông chủ yếu học các ông giáo làng và tự đi thi ra làm quan. Năm 1850, ông thi đỗ cử nhân ở trường Nam và năm 1851 ra làm quan  dưới triều Nguyễn thời Tự Đức. Gần 20 năm liên tục làm quan tỉnh Bắc Ninh, ông lần lượt giữ các chức Tri châu Quế Dương, Tri phủ Lạng Giang, Bang biện tỉnh vụ kiêm Đồn điền sứ, Án sát sứ rồi Bố chính Bắc Ninh. Sau đó giữ chức Tuần phủ Hà Nội, Bắc Ninh, Hộ lý Tổng đốc Bắc Ninh – Thái Nguyên..Phạm Thận Duật là vị quan yêu nước, ông luôn quan  tâm đến vận mệnh Tổ quốc trước tình hình thực dân Pháp xâm lược nước ta.
Bên cạnh những cống hiến trong phong trào chống Pháp, cuộc đời và sự nghiệp của Phạm Thận Duật còn là tấm gương sáng về đức tính thanh liêm, chính trực đối với dân, với nước.

               – Lê Trung Lượng (thân phụ của Lê Trung Đình – một nhân vật lịch sử nổi tiếng ở Quảng Ngãi) sinh vào khoảng những năm 20 của thế kỷ XIX. Ông đậu cử nhân khoa Nhâm Tý (1852) tại trường thi Bình Định. Một thời gian sau, Lê Trung Lượng được bổ giữ chức Tri huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ở cương vị này ông có điều kiện thi thố tài năng, thực hiện trách nhiệm dân chi phụ mẫu ( cha mẹ của dân). Ông đóng góp một phần đáng kể vào công cuộc khẩn hoang nhằm mở rộng diện tích canh tác, thiết lập những ngôi làng mới được dân chúng sở tại tôn làm phước hiền.
Là một người nổi tiếng thanh liêm như Tự Đức đã từng ban khen “Thanh như Lượng”, và mang trong mình khí tiết cao quý của một kẻ sĩ.
– Phạm Văn Toán: Tổng đốc Nam Định Phạm Văn Toán được triều Nguyễn phong cho hàm Thái tử Thiếu bảo năm 1909. Là quan thanh liêm, tận tụy với việc triều chính, hết lòng thương dân, lại giỏi thơ phú, cụ đã có nhiều đóng góp đáng kể cho đất nước và được thờ ở đền Mây (Phố Hiến), đền Cố Trạch (Nam Định), miếu ở Đồ Sơn (Hải Phòng). Hiện cụ được con cháu dòng họ Phạm thờ cúng trọng vọng ở  ngõ 56, phố Pháo Đài Láng (Đống Đa, Hà Nội).

 

CHUYÊN MỤC SƯU TẦM NGỮ NGHĨA TIÊNG VIÊT

                      Tiếng Việt cổ ( Môn- Khmer) qua hang nghìn năm nay biến đổi rất phức tap do giao thoa văn hóa, trước hết với cộng đồng Hán ( thời Bắc thuộc) đến cộng đồng Hoa sang tị nạn, tiếng Chăm… Sang thế kỷ 19-20 tiếng Việt lại tiếp xúc với tiếng Pháp, Bồ Đào Nha và nay là Anh…làm cho vốn từ càng ngày càng phong phú thêm. Gần nửa Mấy Docago mở chuyên mục này nhằm trao đổi ngữ nghia của tiếng Viêt:

         Trong giao tiếp, nói chuyện hoặc trong viết lách gần như thường xuyên do quen miệng, ta vấp phải hai từ do. Đó là

Yếu điểm và điểm yếu . Ta cứ tưởng “yếu điểm”  là từ Hán Việt còn “:điểm yếu” là thuần Việt và chúng cùng một khái niệm.

       Yếu điểm: (chữ Hán :要 点)  tiếng Pháp : point fondamental, point essential nghĩa là điểm quan trọng, chủ chốt.

          Còn khi ta đảo lại theo cấu trúc Việt, “ điểm yếu”, thì nghĩa lại khác là nhược điểm ( 弱点 )tiếng Pháp: côte’faible, défaut hoặc lacune.

       Chữ 幻 đọc là Huyễn hay Ảo? Trong từ điển Từ Hải và từ điển tiếng của Thiều Chửu, chữ 幻 chỉ có một âm huyễn ( huan) như trong huyễn hoặc (Tiếng Pháp= illussoire).  Vậy các cụ ta đọc nhầm chữ này rồi lâu  quen thành ảo chăng? Nhưng qua từ điển Đào Duy Anh, từ điển  Việt Hán của Hà Thành TQ lại có. Tiếc rằng Docago chưa mang vào quyển Từ Nguyên xuất bản thời đầu Trung Hoa Dân Quốc  để tra cứu them phiên thiết xưa. Từ đó ta có ảo tượng (幻 象-huan xiang-vision) tức là hiện tượng, hình ảnh không thật. Tiếp theo sản sinh ra một loạt từ đi kèm với ảo như :ảo mộng(幻梦- huan meng- chimère),ảo thuật (幻术- huan shu- magie), ảo giác ( 幻觉- hallucination, ảo ảnh( 幻 影-ombre, fantôme), ảo  tưởng(幻想- fantaisie, illusion) ảo đăng (幻 灯-lampe à projection)… Cần chú ý là từ điển Hán Pháp  đều phiên âm là huan= huyễn)

CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE

Đỗ Cao Đàm ( Sưu tầm tiếp theo)

           11.-Nội soi ruột già rất đau có phải không ?

Mọi người thường cho rằng việc soi ruột già rất đau đớn nhưng thực tế không phải vậy. Nội soi ruột già là một phương pháp đơn giản và không gây đau đớn. Quá trình thực hiện chỉ kéo dài khoảng 30-60 phút và bệnh nhân được tiêm thuốc gây tê. Tuy vậy, việc chuẩn bị cho quá trình này có thể khiến bệnh nhân bồn chồn, do ruột già phải được làm sạch. Người bệnh phải sử dụng một loại thức ăn lỏng và thuốc nhuận tràng một, hai ngày trước khi tiến hành nội soi. Hãy nói chuyện với bác sĩ để biết các bước chuẩn bị của mình.

             12.-Ngủ ngồi ngăn ợ chua?

Không có chứng minh khoa học nào công nhận rằng ngủ ngồi sẽ

tránh được hiện tượng ợ chua vào sáng hôm sau. Phương pháp này chỉ có tác dụng tinh thần, khiến bạn an tâm hơn.

           13.-Hội chứng rối loạn tiêu hóa có thể kiểm soát bằng ăn kiêng?

Mặc dù nhiều loại thức ăn có thể khiến bạn bị rối loạn tiêu hóa

nhưng chỉ với phương pháp ăn kiêng là không đủ để kiểm soát. Rối loạn tiêu hóa gây nên hiện tượng đau dạ dày, đầy hơi, tiêu chảy hoặc táo bón.

Nguyên nhân chính của rối loạn tiêu hóa là do căng thẳng và quá lo lắng.