Đính chính, bổ sung “ Kinh Dịch vớ cuộc sống con người”- Về tháng 8 âm lịch

Như đã nói, sự sắp xếp theo thứ tự tháng âm lịch chỉ có ý nghĩa tương đối vì theo âm lịch có năm nhuận tới một tháng. Thời tiết, tranh chấp gió mùa nóng ẩm do đó có khi chênh lêch nhau, năm này so với năm khác , không cố định. Bởi thế, tác giả đã có sai sót trong sắp xếp các quẻ theo tháng âm lịch. Ngoài ra trong lần tái bản này ở trang 59 có sai về can hình, gốc tọa độ 0 ở vị trí số 2 nghĩa là cần đánh số lại từ dưới lên. Xích đạo trời bỏ sót mất chữ trời. Ở trang 352 sót mất đề mục Những nhà Dịch học nổi tiếng nằm trên dòng 1.- Ở Trung Quốc Thành thật xin lỗi bạn đọc và qua mạng xin đính chính và có thê còn một vài hạt sạn nữa sẽ bổ sung sau theo từng tháng.
Đỗ Anh Thơ

Tháng 7 âm lịch chỉ có một quẻ Bĩ.
Tháng 8 có 4 quẻ là Quan , Dự, Tấn, Tụy.
Tháng 9 có 2 quẻ là Bác và Tỷ.
Bài đăng trên mạng vừa rồi ta đã đề cập đến quẻ Quan(8-1), còn lại là :
8-2 Quẻ Dự
000100
雷 地 豫
卦 曰 : 豫:利 建 (*)侯 行 師。
彖 曰:豫,剛 應 而 志 行,順 以 動,豫。豫,順 以 動,故 天 地 如 之,而 況 建 侯 行 師 乎?天 地 以 順 動,故 日 月 不 過,而 四 時 不 忒。聖 人 以 順 動,則 刑 罰 清 而 民 服。豫 之 時 義 大矣 哉!
象 曰 : 雷 出 地 奮,豫。 先 王 以 作 樂 崇 德,殷 荐 (**)之 上 帝,以 配 祖 考。
Chú giải
Quẻ này xếp thứ 16 trong thuong kinh .
(*) Chữ “kiến” ( 建 ) nghĩa là xây dựng bản Nguyễn Hiến Lê viết kiến ( 見 ) là thấy nhưng cũng dịch là dựng .
(**)Chữ “ tiến ” ( 荐 -> jian )nghĩa là nhiều lần ,trong sách Ngô Tất Tố viết là tiến ( 薦 -> jian ) nghĩa là tiến cử .

Phiên âm :
Quái viết :
Dự : lợi kiến hầu hành sư .
Thoán viết :
Dự ,cương ứng nhi chí hành ,thuận dĩ động , Dự .Dự ,thuận dĩ động ,cố thiên địa như chi ,nhi huống kiến hầu hành sư hồ ? Thiên địa dĩ thuận động ,cố nhật nguyệt bất quá ,nhi tứ thời bất thắc .Thánh nhân dĩ thuận động ,tắc hình phạt thanh nhi dân phục .Dự chi thờI nghĩa đạI hĩ tai !
Tượng viết :
Lôi xuất địa phấn ,Dự .Tiên vương dĩ tác nhạc tông đức ,ân tiến chi thượng đế ,dĩ phối tổ khảo .

Dịch :
Quẻ Dự ,thuận lợi cho việc dựng nước chư hầu ,xuất quân .
Dự cứng hưởng ứng với chí để thực hiện ,thuận mà động .Nói Dự thuận mà động là nói trời đất cũng giống như vậy ,theo từng tình huống mà dựng nước chư hầu ,trẩy quân .Nói trời đất dựa vào thuận mà động tức là nói mặt trời ,mặt trăng không gay gắt quá ,bốn mùa không sai lệch ; thánh nhân dựa vào thuận động thì dùng hình phạt nhẹ mà dân chúng phục tùng .Nghĩa chữ thời của quẻ Dự lớn vậy thay !
Dự là sấm ra mà đất phấn chấn ,tiên vương xem hình tượng của quẻ Dự mà làm nhạc , tấn đức lên trời mà phối thờ cha ông .
Giảng :
Dự là vui vẻ .Trong quẻ này tỷ lệ âm /dương là 5/1 ,âm đã vượt trội ,thời tiết lúc này không có gì khác biệt lắm so vớ các quẻ trước trong tháng bảy ,nghĩa là mưa rả rích suốt ngày ,dân gian ta quen gọi là mưa ngâu .

8-3 Quẻ Tấn
000101
火 地 晉
卦 曰 :晉:康 侯 用 錫 馬 蕃 庶,晝 日 三 接。
彖 曰:晉,進 也。明 出 地 上,順 而 麗 乎 大 明,柔 進 而 上 行。是 以 康 侯 用 錫 馬 蕃 庶,晝 日 三 接 也。
象 曰:明 出 地 上,晉。君 子 以 自 昭 明 德。
Chú giải :
Câu này xếp thứ 35 trong hạ kinh .
Phiên âm :
Quái từ :
Tấn :Khang hầu dụng tích mã phồn thứ ,trú nhật tam tiếp .
Thoán viết :
Tấn ,tiến dã ,minh xuất dịa thượng ,nhi lệ hồ đại minh .Nhu tiến nhi thượng hành ,thị dĩ khang hầu dụng tích mã phồn thứ ,trú nhật tam tiếp dã .
Tượng viết :
Hỏa tại địa thượng ,Tấn ,quân tử dĩ tự chiếu minh đức .

Dịch :

Quẻ Tấn ,như bàn đạp yên ngựa thường được dùng luôn , như chư hầu có đức ,một ngày được tiếp kiến nhiều lần .

Tấn nghĩa là tiến ,sáng sủa hiện ra trên đất nên rất rạng rỡ ,mềm tiến mà đi lên cho nên ví như chư hầu có đức ,như bàn đạp yên ngựa ;ngày tiếp xúc nhiều ví như được gặp vua nhiều lần .

Tượng của quẻ Tấn là lửa trên đất ,người quân tử xem đó mà tự soi sáng đức độ của mình .

Giảng :
Tam ( ba ) ở đây là từ phiếm chỉ ,có nghĩa là nhiều .
Quái từ rất súc tích ,tối nghĩa , là của Văn vương .Về sau ,Khổng tử rồi đến các tiên nho như Trình Di giảng thêm thắt vào .Kinh Dịch vốn là những đúc kết ,hiểu biết về thời tiết ,hiện tượng vũ trụ của người xưa .Các ông vua nhà Chu ,sau đó là các tiên Nho đã biến nó thành sách bói ,bàn về quân tử tiểu nhân …nên càng trở nên huyền bí .
Quẻ Tấn , vẫn ở thế âm /dương là 4/2 , hai hào dương không chính vị ,tiếp tục biến dịch ,nhường chỗ cho hào âm tiến vào vị trí bền thứ tư để định hình nên quẻ Quan ( 000011 ) .Tần suất biến đổi trong tháng chỉ còn bốn lần ,giảm tới ba phần tư so với tháng tranh chấp mạnh nhất ( 16 lần ) .Cũng như những dao động khác ,tần số thấp rung mạnh ,tần số cao rung yếu hơn ,cường độ dao động tần số thấp , cộng hưởng với các dao động khác có độ dài lớn hơn nên dễ thấy hơn .
Gọi Tấn là tiến , có ý nói hào âm đang tiến dần vào trong .Hiện tượng đó không liên quan gì tới sự thăng quan tiến chức mà chủ yếu là liên quan tới sức khỏe ,tới tâm sinh lý con người và muôn loài , tới giông bão ,địa từ ,tai nạn xe cộ …

8-4 Quẻ Tụy
000110
澤 地 萃
卦 曰
萃:亨。王 假 有 廟,利 見 大 人,亨,利 貞。用 大 牲 吉,利 有 攸 往。
彖 曰:萃,聚 也。順 以 說,剛 中 而 應,故 聚 也。王 假 有 廟,致 孝 享 也。利 見 大 人 亨,聚 以 正 也。用 大 牲 吉,利 有 攸 往,順 天 命 也。觀 其 所 聚,而 天 地 萬 物 之 情 可 見 矣。
象 曰:澤 上 於 地,萃。君 子 以 除 戎 器,戒 不 虞。

Chú giải :
Đây là quẻ thứ 45 trong hạ kinh .
(*) Chữ “giả ” sách của Nguyễn Hiến Lê viết là “cách ” ( 搿 – nghĩa là chắp tay lại ) và dịch là đến .Ngô Tất Tố viết là 假 (giả ) cũng dịch là đến .

Phiên âm :
Quái viết :
Tụy : hanh .Vương giả hữu miếu ,lợi kiến đại nhân ,hanh ,lợi trinh .Dụng đại sinh cát ,lợi hữu du vãng .
Thoán viết :
Tụy tụ dã ,thuận dĩ duyệt ,cương trung nhi ứng ,cố tụ dã .Vương giả hữu miếu ,trí hiếu hưởng dã .Lợi kiến đại nhân hanh ,tụ dĩ chính dã .Dụng đại sinh cát ,lợi hữu du vãng ,thuận thiên mệnh dã .Quan kỳ sở tụ ,nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hĩ .
Tượng viết :
Trạch thượng ư địa ,Tụy ,quân tử dĩ trừ nhung khí ,giới bất ngu .

Dịch :
Quẻ Tụy hanh thông .Vua đến nhà Thái Miếu ,thuận lợi việc gặp người tài ,hanh thông , trinh chính . Dùng vật tế to để cúng , thuận lợi cho việc đi lại .
Tụy là tụ ,thuận và vui ,cứng ở trong được ngoài hưởng ứng nên mới quy họp .Vua đến Thái miếu , thờ phụng hết sức có hiếu . Dễ thấy người tài ,tốt , tụ họp chính đáng .Dùng con vật tế to ,tốt ,lợi cho việc đi đây đó ,thuận với mệnh trời .Xem xét sự tụ họp mà biết tình vạn vật trong trời đất vậy .
Hình tượng của quẻ Tụy là đầm trên đất .Người quân tử bỏ binh nhung ,đề phòng thiếu lường trước.
Giảng :
Tụy có nghĩa là tụ tập .Âm ,mưa mây chứa đầy hơi nước đang quần tụ lại . Ở quẻ này hào âm /dương là 4/2 .Âm bao trùm lên dương ,nó đang tiến dần vào vị trí thứ 4 bền vững ,để lập nên quẻ – Quan (000011 ) ,tháng mưa bão của miền Trung .
Tại sao miền Trung thường phải gánh chịu nhiều cơn bão nhất ? Bởi vì ở đây dãy, Trường Sơn đã áp sát biển tạo thành bức trường thành từ Tây vòng qua Nam tạo thành đèo Hải Vân .Núi sát biển ,có chỗ chỉ cách có 60 km ,địa hình đất lại dốc nên khối không khí nóng ẩm ở biển thổi vào bị chặn lại ,bốc lên cao , gặp lạnh gây mưa như trút nước .
Người Bắc ,người Nam bộ nước ta thường nghĩ là dân miền Trung quá cần kiệm , không thông thoáng .Tác giả xa quê đã lâu ,càng xa nghĩ đến đồng bào quê nhà càng thấy họ không chắt lót không thể được .Vì sao vây? vì từ Nghệ An – Hà Tĩnh trở vào đến hết dải miền Trung, đất cát do biển bào mòn núi đá , tạo thành là chính .Nó chiếm tới 2/3 .Ở đây chỉ có cỏ may ,một vài loại cây trồng có khả năng thích nghi ,như khoai lang , đậu tương ,cà ,lạc ,vừng .Gần núi là mít ,bưởi ,tre nứa . Trên mâm cơm của người nông dân xưa kia cũng như hiện nay vẫn còn hiện hữu ,khoai ,cà ,nhút …
Do thiếu vốn ,tư duy kinh tế hạn chế lâu đời bởi địa lý , thiếu rộng mở ,nay lại thêm tham nhũng , ma túy ,buôn lậu …hoành hành ,nên nghèo vẫn hoàn nghèo . Ai đã từng tiếp xúc với người Đức và Pháp cũng thấy yếu tố địa lý quyết định tính cách con người của một dân tộc rất rõ ,ngay khi họ đã giàu có rồi .Dân Đức cần kiệm bao nhiêu thì dân Pháp xài sang bấy nhiêu .
Dân tộc Việt ,tụ tập ( tụy ) trên một dải đất hẹp cong cong hình chữ S ,như phơi lưng ra biển ,độ phì đất rất thấp do thiếu phù sa ,thời tiết khắc nhiệt …nên nhìn chung dân miền Trung vất vả nhất nước . Họ đi vào Nam ra ngoài Bắc …xưa cũng như nay vẫn thế .Tổ tiên người Quảng Nam chủ yếu là ở Nghệ An di cư vào thời Trịnh Nguyễn phân tranh .Nay vùng ngoại ô Sài Gòn ,sống trong những quán trọ chật hẹp vẫn lại là người xứ Thanh Nghệ Tĩnh Bình … nhóm tụ ,cái nghèo đeo đẳng theo . Đó là ý nghĩa chính của mấy chữ “trừ nhung khí ,giới bất ngu” vậy .
Tác giả trước khi thoái lui về nghiên cứu cổ văn , đã viết rất nhiều bài dự báo trên các báo ( kể cả báo Nhân Dân ) về sự cân bằng giữa núi và biển , đề nghị tập trung vốn , làm đường hành lang nối liền núi và biển trước ,tạo thành các tụ điểm dân cư ,sau đó đường Trường Sơn chỉ là sự kết nối .Bên việc mở hành lang gó đông tây là mở và nối dài kênh đào vua Lê ,tớI miền nam Trung bộ để điều hòa nước Bắc – Nam ,hạn chế lượng nước tháo ra biển ,mở rộng đường quốc lộ 1A ,đường sắt hai chiều ,tránh để dân tập vào các thành phố lớn ,tránh sự thắt nút ( tight knot ),bằng cách mở thành phố vệ tinh …
Khi đề xuất không được hưởng ứng , tác giả đã tự trào bằng mấy câu thơ như sau :
“ Thày đồ cắp tráp ra về ,
Giang sơn nửa gánh bộn bề ở trong .
Hỏi thày cá gỗ còn không ?
Sao thày lận đận long đong thế này ! ”.
Có người ác ý ,đã thay câu 3 thành : Hỏi thày chiến lược còn không ?
Nay đọc đến quẻ Tụy lại băn khoăn tự hỏi một lần nữa !.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s