Trương Quang Đệ: HOÀNG HÔN (Au crépuscule).

HOÀNG HÔN

Khi chiều buông xuống trên thành phố – cố đô Huế, cảnh tượng thật tráng lệ biết bao! Hoàng hôn chỉ diễn ra chưa đầy nửa tiếng đồng hồ, từ lúc mặt trời chạm vào đỉnh ngọn núi cao nhất trên dãy Trường sơn đến lúc khuất hẳn phía sau ngọn núi này và chiếu vào không tring những tia sáng đủ màu sặc sỡ. Trong khoảnh khắc hoàng hôn ấy, cảnh vật biến hoá như có phép màu. Thời gian như ngừng lại trong cái yên ắng tột cùng, người ta có cảm giác đang xem một cuốn phim câm.Những kẻ đi đường hoặc dừng chân hoặc đi chậm lại trên cầu hay trên đường phố chạy dọc sông Hương,, mắt ngước nhìn về mặt trời lặn.
Hầu hết các thành phố trên thế giới đều có không khí ô nhiễm, chứa đầy bụi bặm và thoảng mùi phố xá. Ở đây không khí khá trong lành, nhưng người ta cảm thấy có cái gì đó lơ lửng trong không trung: những lời thơ nhớ về quá khứ, những lời ca khóc than một vương triều đã mất, những tiếng kêu than xé lòng trước biến cố thất thủ kinh đô cách đây đã hơn trăm năm….Đối với mọi người dân Huế, khoảnh khắc nào trong ngày cũng vậy, đặc biệt vào lúc hoàng hôn, từ cõi hư vô vọng về bài ca về số phận bi thảm của vị hoàng đế bị lưu đày biệt xứ và những trung thần của người .

Chiều chiều trước bến Văn Lâu
Ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm
Ai thương ai cảm ai nhớ ai trông

Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non…..

Nhưng vẻ đẹp mê hồn của Huế không vì thế mà ngăn cản tôi từ giã đô thành ra đi và định cư tại Hà nội, nơi cần tôi cho một công việc hấp dẫn. Xí nghiệp bố trí cho tôi ở một căn phòng nhỏ dưới tầng trệt của một biệt thự cổ mà chủ là một nhân sĩ văn hoá nổi tiếng, ông T.H.K., tác giả nhiều công trình lớn về khoa học nhân văn, nay đã về hưu. Ông ta ơ trọn lầu một, còn tầng trệt cho thuê. Các cửa sổ phòng tôi mở ra một khoảnh vườn nhỏ, cửa lớn thì trông sang phòng làm việc. Ngày ngày tôi làm việc ở ngay phòng bên đó cùng vài đồng nghiệp, dưới sự chỉ huy của một kỹ sư trưởng.Buổi tối chỉ còn tôi ở lại trong phòng ngủ của mình, những người khác về nhà riêng của họ vì họ đều là dân của thành phố này. Biệt thự nằm trong một khu phố yên tĩnh, ngày xưa là nơi cư ngụ của đám quan chức thuộc địa cao cấp, , thương gia và những người hành nghề tự do. Dưới chính thể mới, các biệt thự của đám khá giả ngày xưa phần lớn được sắp xếp cho cánh ngoại giao và những chuyên gia nước ngoài. Nhân sĩ văn hoá chủ nhà của tôi được biệt đãi nên mới giữ được biệt thự của mình, mặc cho chính sách cách mạng đang đảo lộn hết thảy.
Nhân sĩ văn hoá sống một cuộc sống lẻ loi đơn độc. Người ta đồn rằng vợ con ông vẫn lưu lại bên Pháp. Trước khi về hưu, ông thường đi công tác nước ngoài mỗi năm vài kỳ và tranh thủ ghé thăm gia đình trong vài tuần lễ. Hiếm khi người ta thấy vợ con ông đến biệt thự này. Một phụ nữ giúp việc hàng ngày đem cơm đến cho ông và lo quét dọn nhà cửa. xong việc thì về nhà lúc bảy giờ rưỡi tối sau bữa ăn chiều của ông chủ. Những người thạo tin nói rằng vào thời gian ông chưa nghỉ hưu, lịch làm việc hàng ngày của ông chật kín chỗ. Ông tham gia đủ thứ hội nghị, dự khong biết bao nhiêu buổi gặp mặt, gần như ngày nào cũng có tiệc chiêu đãi, còn các cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế thì không thiếu. Ông còn đảm đương nhiều buổi diễn thuyết về những chủ đề mang tính thời sự nóng hổi như việc Toà Thánh tôn vinh những người Việt tử vì đạo thế kỉ trước. . Lịch hoat động càng dày đặc khi các chức vụ mà ông đảm nhiệm càng tăng.. Buồn thay từ ngày ông về hưu, biệt thự thình lình vắng vẻ như một ngôi đền và nhân sĩ trở thành lặng lẽ như kẻ tu hành.
Trong những ngày đầu của “cuộc sống chung”, tôi chỉ nhìn thấy ông từ xa, ít khi thấy ông lúc ban ngày. Nhưng tôi cảm thấy ông làm việc khá muộn về đêm, những bước chân nhẹ vọng lại từ tầng trên. Thỉnh thoảng vào buổi tối tôi gặp ông ngoài sân. Tôi kính cẩn chào, còn ông khẽ gật đầu đáp lại.
Một buổi tối mưa phùn gió bấc khiến tôi phải nằm co ở nhà, tôi cố đọc các tài liệu liên quan đến công việc ngày hôm sau. Nhưng chẳng mấy chốc tôi phải ngừng đọc những thứ khô khan đó để đưa tay tìm hú họa một cuốn tiểu thuyết trên kệ sách. Tôi rút được một câu chuyện tình lãng mạn của Proust. Đọc Proust vào lúc này có mà điên khùng chắc? Tôi đứng dậy bật chiếc đầu vidéo và cũng hú hoạ cho vào một băng ca nhạc. Thế là tôi nghe lại bài ca hoàng hôn……

Chiều chiều trước bến Văn Lâu
Ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm
Ai thương ai cảm ai nhớ ai trông

Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non….

Tôi cho quay đi quay lại mấy lần bài ca và cố tìm xem tự đáy lòng mình tác động của những âm hưởng do những lời ca huyền ảo và u buồn kia tạo nên. Bỗng tôi cảm thấy có ai đó đang đứng trước cánh cửa ra vào thường không khép kín được vì quá cũ kĩ. Tôi thấy hơi ớn lạnh nhưng vẫn nhẹ nhàng đi về phía cửa : nhân sĩ văn hoá đứng đó, tay chỉ về cái đầu vidéo, nói lời xin lỗi:
-Thưa anh, bài ca này dẫn dắt tôi đến đây. Anh tha lỗi nếu bị quấy rầy….Cứ nghe đến điệu ca này là tôi không còn là tôi nữa!
Tôi mời nhân sĩ ngồi xuống chiếc ghế duy nhất hơi khập khiểng của phòng tôi và ông ta vui vẻ ra mặt.
-Xin Thầy cứ tư nhiên. Em vinh hạnh đuợc Thầy xuống chơi.
Rồi tôi nói bâng quơ cho có chuyện:
-Em đang cố tìm hiểu ý nghĩa của ca khúc ấy.
-Anh người Huế à?
-Vâng.
Nhân sĩ mơ màng như đang nhớ lại một kỉ niệm xa xưa :
-Thời nhỏ tôi sống nhiều năm ơ Huế. Cha tôi làm quan trong triều đình An Nam. Vừa rồi anh nói là đang tìm ý nghĩa….
-Vâng, đúng thế ạ.
-Anh tìm đã ra chưa?
-Chưa đâu Thầy ạ. Buồn thật. nếu tiện thì xin Thầy chỉ cho em nghe…
-Anh biết người ta làm ra bài ca này để tưởng nhớ ai chứ?
-Để tưởng nhớ hoàng tử VS bị phế truất rồi lưu đày năm 1916.
-Trước khi thành hoàng tử bị lưu đày người là hoàng đế. Rồi sao nữa?
-Em chả biết gì lắm, tôi lúng túng nói, em chỉ biết vua bị đày đến Đảo Réunion cho đến khi chiến tranh thứ hai kết thúc năm 1945.Người ta đồn rằng vua xung vào quân đội Pháp với hàm thiếu tá. Trên đường từ Pháp trở về Réunion máy bay của vua gặp nạn trên không phận nước Trung Phi và vua không còn nữa. Em biết chỉ có thế.
Nhân sĩ không nghe tôi nói gì, hình như đầu óc ông vướng vào những suy nghĩ rối ren nào đó. Tôi chủ động dò hỏi, hy vọng biết thêm điều gì đó mới mẻ:
-Em chẳng biết đầu đuôi làm sao, chỉ thấy sự việc diễn ra ở ta đối với ông hoàng này hơi kỳ khôi. Chẳng thấy ai nói gì một cách chính thức, nhưng thoắt một cái chẳng còn đướng nào mang tên vua nữa, Sài gòn ,Huế, Hà nội đâu cũng không….Kể ra cũng có vài cơ sở địa phương hay tư nhân mang tên vua, đó là những sáng kiến tự phát. Liệu vua có phạm điều gì nghiêm trọng đối với lịch sử chăng?
Nhân sĩ THK không nói gì. Cái im lặng thật kinh người, nặng như đá tảng. Rồi ông đứng dậy, khẽ chào tôi trước khi bước ra cửa. Đi được vài bước ông ngoái lại nói thầm chỉ đủ cho tôi nghe:
-Hoàng tử VS, tôi đã gặp người ở Paris năm 45, tháng chạp. Lần nữa xin tạm biệt, chúc ngủ ngon.
Nhiều tuần lễ trôi qua, hầu như tối nào tôi cũng giáp mặt với học giả THK nhưng quan hệ chúng tôi không vì thế mà tiến triển hơn. Ông vẫn đáp lại lời chào của tôi bằng cái gật đầu rất khẽ và dường như ông không còn nhận ra tôi nữa. Tiếp đó tôi đi công tác một tháng liền ở phía Nam, và kỳ thực tôi không còn nhớ tí gì đến vị nhân sĩ chủ nhà sống trong cảnh cô đơn nữa. Vừa mới chân ướt chân ráo về lại Hà nội, bà giúp việc bảo tôi đến gặp chủ nhà ngay trong phòng riêng. Đã mấy hôm rồi ông ngã bệnh nhưng không chịu đi bệnh viện, lấy cớ rằng ông chờ gặp tôi. Chờ gặp tôi? Điều đó làm tôi đâm hoảng. Tôi có cảm giác vô tình rơi vào một tình huống rắc rối. Tôi bước chầm chậm vào phòng, một căn phòng mênh mông như một giảng đường đại học và lạnh lẽo như nhà thờ. Ông THK nhìn tôi dịu dàng và ra hiệu cho tôi đến gần:
-Anh ngồi xuống đi, ông nói, tôi chờ anh về để nhờ anh giúp một việc. Tôi tin rằng chỉ có anh mới làm được cho tôi việc ấy, chứ không ai khác. Anh còn nhớ tôi nói gì với anh hôm trước chứ?
-Vâng, em tin là có nhớ, tôi nói một cách yếu ớt.
-Phiền anh nhắc lại tôi nghe?
-Thầy nói là Thầy nhìn thấy cựu hoàng năm 45, vào tháng chạp.
Nhân sĩ tỏ vẻ hài lòng và tiếp tục nói, giọng mệt mỏi:
-Chưa chính xác lắm nhưng không sao. Tôi không chỉ nhìn thấy người mà tôi còn gặp người. Tôi nói chuyện với người hơn một tiếng đồng hồ trong tiệm cà phê trước Vườn hoa Luxembourg. Chuyện đó xẩy ra chỉ vài ngày trước khi người chết một cách bi thảm..
-Thầy muốn em làm gì cho Thầy đây?
-Tôi thấy trong người bất ổn và tôi nghĩ có thể qua đời nay mai thôi. Cũng có thể bình phục cũng có thể không. Tốt nhất là dự phòng chu đáo.
Ông THK ngừng một lúc , hít thở khó khăn như đang đi lên cần thang vậy.
-Thầy có điều gì muốn cho em biết phải không? Tôi nói khi tôi tin rằng nhân sĩ đã đủ sức tiếp tục câu chuyện.
-Chuyện cựu hoàng, hay như anh biết đấy, chuyên ông hoàng bị lưu đày…
Nhân sĩ lại ngừng nói và im lặng một hồi lâu. Tôi không dám hỏi gì nữa, tôi cảm thấy có điều gì thật hệ trọng sẽ được hé mở. Thực ra tôi chẳng đoán được điều gì. Bỗng tôi thấy ông THK cố hết sức để tiếp tục:
-Anh nghe đây, anh bạn…Từ lâu, không hiểu tại sao tôi không có can đảm nói lên sự thực về cựu hoàng. Tôi cứ mặc cho ai nói gì thì nói, mặc cho người ta nhận định này nọ hoàn toàn thiên lệch với chân lí lịch sử…..
-.Thưa Thầy, Thầy nói là người ta hiểu sai về cựu hoàng?
-Chỉ có một số điều hiểu sai hoặc giải thích thiên lệch, nhưng thế cũng đủ làm lòng tôi cắn rứt.
Tôi cố vắt óc suy nghĩ trong khi vị nhân sĩ gắng sắp xếp lại kí ức.
-Có đúng là Hoàng tử VS tham gia quân đội Pháp với hàm thiếu tá năm 45 không? Tôi hỏi một cách dè dặt.
-Anh đề cập đến điểm tế nhị nhất trong đời cựu hoàng đó. Thực tế thì người được phong hàm thiếu tá nhưng chính thức người không ở trong quân ngũ. . Người tham gia kháng chiến ngay từ những ngày đầu tiên theo lời kêu gọi của tướng De Gaulle. Anh cũng như tôi đều biết người có lòng nhiệt thành, trẻ trung và đôi chút mơ mộng. người tưởng rằng kẻ đã giải phóng chính quốc thì đương nhiên giải phóng cho các dân tộc thuộc địa. Về điểm này người đã nhầm. Nhưng ta hãy trở lại mối quan hệ giữa người và quân đội. Người theo kháng chiến trên đảo Réunion, Một hôm người ta đưa người lên một chiếc tàu chiến, sử dụng người làm hiệu thính viên vì người có chuyên môn về vô tuyến điện. Khi người ta phát hiện ra người là một vị vua bị lưu đày thì lập tức đưa ngay người lên bờ. Trong trường hợp như thế, làm sao bảo người gia nhập quân đội được? Người chỉ muốn tham gia vào công cuộc giải phóng các dân tộc, dầu đó là người Pháp, người Anh, người Phi hay người Việt, khỏi ách phát xít. Cái hàm thiếu tá kia chẳng qua là một sự vinh danh người ta làm cho có sau chiến tranh. Khi tôi gặp người ở Paris, người có mặc quân phục đâu, vả lại người không có quân phục gì hết.
-Người ta nói rằng cựu hoàng cấu kết với tướng De Gaullle để quay về Đông Dương. Vậy người muốn làm gì?
-Người muốn Pháp trả lại độc lập hoàn toàn cho Việt Nam. Người muốn nước ta độc lập trong khối Liên hiệp Pháp.
-Thế còn tướng De Gaulle, ông ta muốn gì ngoài cái diễn văn kỳ cục ở Brazzaville?
-Đối với ông tướng, vua xứ An Nam thời bấy giờ chỉ là một kẻ “collabo”, tức là kẻ hợp tác với phát xít, và đã là “collabo” thì đừng hòng lọt mắt ông ta. Ông tướng muốn một ông vua khác, vừa phục tùng ông ta mà về chính trị lại không có tỳ vết gì. Nhưng đìều này khó mà có được, vì cựu hoàng nhất mực đòi cho đuợc độc lập hoàn toàn chứ không khoan nhượng. Đang nhùng nhằng như thế thì…..
-Thì sao ạ? Tôi sốt ruột hỏi.
-Thì tin tức từ Đông dương dồn dập tới, ông tướng càng nghe càng bối rối. Người ta báo tin một nền công hoà vừa được ban bố và một chính phủ Việt Nam do một nhà cách mạng danh tiếng cầm đầu hiện đang làm chủ toà lâu đài của viên toàn quyền trước đây. Điều hoàn toàn bất ngờ là ông vua “colabo” đã tự nguyện thoái vị và còn đứng về phe chính thể công hoà nữa. Những tin như vậy làm cả ông tướng lẫn cựu hoàng ngơ ngác. Mọi cuộc thương thảo cần cù, chi tiết giũa các vị này bỗng tan thành mây khói. Tuy nhiên cựu hoàng, vẫn nuôi hy vọng làm điều gì đó có ích cho đất nước, một đất nước bỗng nhiên trở thành ảo ảnh như chiếc bóng thoáng qua. Còn ông tướng, ông chẳng biết phải làm gì cho người được ông che chở, hay trước đó chốc lát là kẻ kình địch. Hoạ chăng chỉ có Chúa mới biết phải làm gì.
Im lặng một lát, nhân sĩ nói tiếp:
-Lúc chuyện trò với tôi ở Paris, người chỉ đề cập đến việc trở về Réunion. Người chờ đợi tiếng gọi của số phận theo ý muốn của Chúa. Người không còn việc gì phải làm ở Pháp nữa. Việc người có được về nước không, chẳng ai trả lời được cả, đến ông tướng cũng chịu.
-Cựu hoàng có biết Thầy là ai không?
-Biết chút ít thôi. Tôi hoạt động cho phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa nên người ta biết tên tôi. Hơn nữa tôi thường đăng thơ và truyện trên một số tạp chí. Có thể nói tôi hoạt dộng văn học và báo chí. Tôi cũng là kẻ quen biết trong nhiều tầng lớp xã hội Pháp và nước ngoài ở Paris.
-Chính xác ra cựu hoàng nói với Thầy điều gì hôm đó?
-Khi biết tôi sắp về nước, người yêu cầu tôi nói toàn bộ sự thật , tức là những gì tôi biết về người, cho ai đó có thẩm quyền ở Việt Nam.Người chờ đợi chính phủ cách mạng triệu về đóng góp cho sự nghiệp dân tộc.
-Thầy đã làm như cựu hoàng mong muốn chứ?
Tôi nhận ra ngay rằng câu hỏi của tôi không thiện chí lắm. Nhưng làm sao được? Trong cuộc sống, người ta thường phạm sai lầm, thứ thì sửa chữa được, thứ thì buồn thay không cách nào cứu vãn.Nhân sĩ nói tiếp:
-Tôi sắp tử giã cõi đời rồi…..Tôi muốn lương tâm được yên ổn. Bây giờ xin thú thực với anh rằng mỗi lần tôi định hé lộ cho các vị lãnh đạo cao cấp của ta sự thực, sự thực đơn giản hết sức về cựu hoàng thì có một lực bí ẩn ghìm tôi lại. Mỗi lần định mở miệng nói thì những định kiến nghe và thấy thường ngày làm cho tôi câm lặng. Nói sự thực quả là khó biết bao!
-Em hiểu chứ! Tôi nói bâng quơ để nói, chẳng ra ý nghĩa gì.
Một lát sau tôi cố phá tan yên lặng:
-Cựu hoàng chết trong một vụ tai nạn máy bay trên không phận Trung Phi phải không Thầy?
-Vâng, đúng thế.
-Thầy có biết do ai gây ra không? Người ta đồn rằng tay chân của ông tướng…..
-Khoan đã! Đó là một thứ lô gich dễ sợ đã dằn vặt tôi suốt đời.
-Thầy muốn nói rằng….
-Vâng, thế đó. Rằng tay chân ông tướng không dính dáng gì đến vụ này cả, một vụ tai nạn xẩy ra vào một thời điểm tế nhị của lịch sử. Anh thử nghĩ xem, họ có ích lợi gì trong việc ám hại đó ?
-Thầy tin chắc thế à ?
Nhân sĩ chuyển động người mạnh như muốn ngồi dậy :
-Hai hay ba ngày trước khi tôi rời Paris về nước, tôi được mời đến họp mặt tại một câu lạc bộ văn chương đô thành. Một kẻ thân cận với ông tướng kéo tôi ra một góc và khẩn khoản yêu cầu tôi lắng nghe ông ta. Bọn họ vô tội trong việc cựu hoàng bị nạn. Họ sợ dư luận quốc tế lên án chuyện có vẻ ám muội này. Họ như bị tê liệt, không biết phải làm gì. Thế đó, anh có tin hay không thì tuỳ, nhưng trực giác bảo tôi nên tin. Chỉ nhìn bộ mặt khổ sở của người tiếp cận tôi hôm đó, tôi cho rằng họ đúng là vô can.
-Em cũng tin như Thầy, tôi nói, thấy lời lẽ của Thầy có tính thuyết phục..
-Kẻ thân cận của ông tướng, nhân sĩ nói tiếp, biết rằng tôi sẽ có ảnh hưởng nào đó đối với các vị lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, yêu cầu tôi nói lại nguyên si những lời của ông ta nói với tôi. Nguyên si ! Ông ta hy vọng có thế mới xoá tan được vĩnh viễn sự hiểu lầm vô cùng đáng tiếc.
-Thế Thầy có báo cáo lại nguyên si như vậy không ?
Một lần nữa tôi phạm sai lầm nghiêm trọng. Tim tôi se lại vì ân hận..
-Không, tôi tưởng là anh đã thấu hiểu vấn đề.
Tôi vội vàng kiếm cách làm nhân sĩ yên lòng:
-Em hiểu chứ ! Em đã hiểu Thầy rồi và bây giờ em càng hiểu.
-Tôi kể cho anh nghe những chuyện ấy và ao ước làm sao một ngày nào đó anh thuật lại cho các nhà chức trách có thẩm quyền nước ta. Buồn thay tôi không đủ can đảm để nói cho họ biết. Nhưng anh, những người thuộc cùng thế hệ với anh, …có lẽ các anh dũng cảm hơn bọn chúng tôi bây giờ nhiều…Tôi mệt lắm, anh có thể về được rồi….Chào anh !

Người ta đưa nhân sĩ vào bệnh viện ngay ngày hôm đó. Trong ba tuần liền tôi đều đặn ghé thăm ông. Rồi ông chết và tôi tiễn ông đến nghĩa trang. Tôi còn nhớ mang máng những lời ca tụng ông trong bài điếu văn. Trong những năm ba mươi ông là một nhà thơ nổi tiếng. Ông làm thơ ca ngợi lòng dũng cảm và chiến công của các vị anh hùng thuở trước, đôi khi khóc han số phận nghiệt ngã của thân gái chốn cung cấm. Rồi ông từ giã thơ ca để nhận học bổng do một tổ chức yêu nước cấp cho ông du học ở Pháp ngay trước thế chiến thứ hai. Ông hăng hái lên đường và có cảm gíac mơ hồ sẽ làm được điểu gì đó cho quê hương ngày mai. Sau khi đạt được nhiều bằng cấp giá trị : thạc sĩ sử-địa, tiến sĩ văn học cổ điển, ông tham gia họat động trong các phong trào cánh tả ở Pháp. Rồi ông về nước, quá cảnh nước Nga xô viết và nước Trung Hoa vừa tuyên bố cộng hoà nhân dân. Ông lập tức ra bưng biền tham gia kháng chiến. Đó là một vị trí thức yêu nước có tầm cỡ được chế độ mới chân thành quí trọng.
Hiện giờ tôi đã thành một nhà khoa học có vị trí ưu đãi trong xã hội. Tôi thường xuyên viết bài cho các báo, đề cập đến mọi vấn đề khoa học tự nhiên và nhân văn. Tôi quan tâm đến giáo dục thế hệ trẻ, đến phát triển nông nghiệp, đến bảo vệ môi trường, đến việc xây dựng một nhà nước sống theo luật pháp, đến sự hội nhập của nước ta vào công đồng quốc tế.. Tôi cứ thế không còn nhớ đến vị nhân sĩ đã để lại cho tôi một lời giối giăng cực kì gai góc. Niềm tin của ông đã đặt nhầm chỗ, bị lãng quân không chút nuối tiếc. Nhưng biết làm sao được ? Cuộc đời là vậy !

Tác giả : Trương Quang Đệ
Nguyên tác tiếng Pháp : Au crépuscule.

Cái tình trong câu chuyện Hoàng hôn của Trương quang Đệ.

“Chiều chiều trước bến Văn lâu…
Ai ngồi ai câu, ai sầu ai thảm…
Trong khoảnh khắc hoàng hôn ấy, cảnh vật biến hóa như có phép mầu…” (TQĐ).
Tác giả nói với ta cái hoàng hôn của Huế đẹp lung linh và kỳ ảo như vậy. Đó là một nét riêng của Huế, không phải nơi nào cũng có, ít ra là những nơi mà tôi và TQĐ đã từng sống và làm việc khi còn trẻ.
Nhưng còn một nét riêng khác đáng nhắc đến là, với những ai đã nặng tình với Huế thì không thể nào không thấy một chút lòng mình đã hòa vào trong cái hoàng hôn ấy, và vừa nghe nói đến thì đã thấy lòng nao nao…
Chẳng thế mà vị nhân sĩ đáng kính THK (mà thế hệ chúng tôi gọi bằng thầy), vốn rất bận rộn và thận trọng lại tự tìm đến cái nơi đang ngân vang câu hát Chiều chiều trước bến Văn lâu, ai ngồi ai câu, ai sầu ai thảm…, dù chưa biết nơi đó thế nào.
Và từ đó, câu hát dẫn chúng ta ngược thời gian về trước. Đúng là một nét tinh tế và thâm thúy trong nghệ thuật kể chuyện của TQĐ . Cả một câu chuyện dài, chuyện của một vị hoàng đế đã trở thành phế đế rồi bị lưu đày (cũng như vị vua cha của ngài), chuyện của lịch sử một vương triều, và phảng phất những nét đậm nhạt một thời đã qua của lịch sử dân tộc. Từ đâu đó bỗng vang lên:
Chồng hỡi chồng, con hỡi con
Cùng nhau xa cách mấy năm tròn… (?)
Vào lúc hoàng hôn của đời mình, vị nhân sĩ THK lo lắng liệu hậu thế sẽ có hiểu công bằng về buổi hoàng hôn của vị cựu hoàng không, và thấy ân hận vì đã không đủ dũng cảm để nói điều ủy thác của cựu hoàng với những người sống cùng thời với ông nhưng có vai trò quyết định đối với lịch sử . Sự thật đúng là khó nói. (La verité n’est pas vrais à dire ?).
Và ông đành ủy thác điều này cho thế hệ sau mà TQĐ- người lúc ấy đang sở hữu những câu hát Chiều chiều trước bến Văn lâu…- đã xứng đáng được ông tín nhiệm.
Cái tình xuyên suốt trong câu chuyện ở đây là tình non nước, tình của những đấng trượng phu, những đấng quân vương, cũng như của những học giả, những nhân sĩ, dù có nhiều hoàn cảnh khác nhau nhưng đều cao thượng, đã suốt đời nặng lòng vì đất nước.
Thế còn bạn tôi, tác giả bài viết Hoàng hôn (Hay là Vào lúc hoàng hôn?) thì sao?
Sau bao nhiêu năm cống hiến cho sự nghiệp giáo dục, ở miền Bắc, ở miền Trung, ở cả nước ngoài, và với những trước tác phong phú bằng tiếng Việt và bằng tiếng Pháp trong nhiều lĩnh vực…, anh đã xứng đáng là một nhân sĩ , một nhà văn hóa có tên tuổi rồi. Và câu chuyện Hoàng hôn tự nó cũng đã có tầm cỡ ấy.
Cũng như tôi, anh đã về hưu trên một thập niên. Nhưng anh hơn tôi là đã viết ra được nhiều điều mà cuộc đời chúng tôi đã chứng kiến, hơn thế nữa, đã trực tiếp tham gia, và đôi khi cũng có vai trò quan trọng. Tôi tin rằng sẽ có một ngày, sẽ có những người, có thể là thuộc thế hệ sau chúng tôi, khi đọc những dòng anh đã viết ra, sẽ đặt một dấu nối vào tên bài Hoàng hôn, và cái chuỗi: Chiều vàng cố đô- Cựu hoàng DT- Nhân sĩ TKH – Tác giả TQĐ – Và các thế hệ độc giả yêu quý…sẽ nối tiếp nhau như là những viên ngọc lấp lánh trong ánh chiều mờ ảo của Hoàng hôn.
Trần Văn Kinh
Hà nội mùa thu 2010

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s