DOCAGO.wordpress.com-Số ra ngày thứ 7 (17/9/2011)

CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

 

Đỗ Anh Thơ:

Bàn về thuyết “ Giữ cho lòng trống rỗng của Lão Tử ”

Nguyên văn:

圣 人 之 治: 虚 其 心, 实 其 腹, 弱 其 志, 强 其 骨。 常 使 人 无 知  无 欲, 使 夫 智 者 不 敢 为 也.

Phiên âm:

Thánh nhân chi trị: hư kỳ tâm, thực kỳ phúc, nhược kỳ chí, cường kỳ cốt. Thường sử nhân vô tri vô dục, sử phù trí giả bất cảm vi dã.

Chú giải:

Phần câu này ở chương 3 của Đạo đức kinh.

– Hư kỳ tâm (xu qí xin): làm cho lòng trống rỗng.

– Thực (shí): chắc, đầy.

– Phúc (fù): bụng

– Nhược (rùo): yếu

– Chí (zhì): ý chí

– Cường (qiáng): mạnh

– Cốt (gủ): xương

– Vô tri (wú zhi): không biết.

– Vô dục (wú yu): không ham muốn.

– Chữ: 夫(phu) ở đây đọc là phù, là hư từ.

– Trí giả: người thông minh

Dich:

Đạo của thánh nhân là: làm cho cái tâm rỗng, cái bụng người ta thì đầy, chí mềm, xương rắn. Khiến cho con người không biết, không ham muốn, khiến cho kẻ hiểu biết không dám làm.

Bình

Đây là một câu rất khó truy nguyên ý của Lão tử, bởi vì vỏ ngoài ngữ nghĩa của nó là chính sách ngu dân. Vô tri vô dục được Vương Bật chú là “thủ kỳ chân” (nghĩa là giữ cái chân thực), còn câu “hư kỳ tâm, thực kỳ phúc” ông chú là: “Tâm hoài trí nhi phúc hoài thực; hư hữu trí nhi thực vô tri dã” tức là tâm thì mong kiến thức, mà bụng thì mong cơm nên làm rỗng cái có (trí thức) mà đầy cái không (vô tri) vậy.

Suzuki dịch là “ …empties the people’s hearts but fills their stomachs ”, nghĩa là: làm rỗng con tim nhưng làm đầy dạ dày của người ta.

            Lão tử dịch văn chú giải là: làm cho dân luôn luôn ở trạng thái không cầu hiểu biết, không ham muốn thì khiến cho bọn bán trí khôn cũng không làm dối được.

人 人 们 常  常 处 于 不 求  知 、无 所 欲 的 状 态 , 那 么 , 即 使 有 卖 弄 智 慧 的 人 , 也 不 能 胡 作 非 为 了 。

             Phái Nho Mặc đều chủ trương trọng hiền, đề cử nhân tài, còn Lão tử ngược lại, cho rằng dân có trí thức sẽ dẫn đến hám lợi, là đầu mối của loạn. Tức là ông chủ trương dân chúng chỉ cần ăn no vác nặng là được!

Người ta giữ cho lòng mình rỗng, ít tạp niệm là đúng, vì tâm trí loạn thì hành động dễ sai lầm. Vì vậy hư kỳ tâm của Lão tử là giữ cho lòng mình không tham dục, còn thực kỳ phúc là làm bụng người no ấm, vì thế mà không tranh giành. Trang tử có nói: “thủy tĩnh do minh, hà huống tinh thần” nghĩa là làm cho tinh thần sáng như nước trong tĩnh lặng.

Trong chương này, điều đáng bàn là ở câu Bất thượng hiền sử dân bất tranh và: Sử dân vô tri vô dục. Chính sách của “bậc thánh nhân” (người cầm quyền) mà không sử dụng người tài, xem nhẹ mở mang dân trí để dân khỏi tranh giành nhau hoặc khiến cho cuộc sống tinh thần của dân chúng giản đơn, nghèo nàn đi, chỉ chú trọng đến cái bụng, tức là kìm hãm tri thức, thi hành chính sách ngu dân, hạn chế nhu cầu hiểu biết của con người, là ngược với nhu cầu thời đại văn minh. Thời đại ngày nay là xã hội kinh tế tri thức, xã hội tiêu dùng, có xu hướng toàn cầu hóa. Nhu cầu ăn uống giảm xuống một cách tương đối, nhu cầu sản phẩm văn hóa ngày càng tăng lên. Nhưng nếu như không có tri thức hướng dẫn, không có cái đầu của chính mình phân biệt trắng đen thì phần lớn sẽ sa vào vòng văn hóa đồi trụy. Do vậy, không thể chủ trương như Lão tử được. Nó sẽ làm cho cuộc sống tinh thần của xã hội thấp kém đi, dẫn tới càng suy đồi về đạo đức, người với người ít thương yêu nhau hơn, đối xử với thiên nhiên càng thêm tàn bạo. Mọi tệ nạn từ đó sẽ phát sinh không kiểm soát được và loài người sẽ đứng trước nguy cơ bị diệt vong nhanh chóng.

Học thuyết của Lão tử tán dương cuộc sống thuần phác là vì ông chỉ thấy mặt trái của cuộc sống văn minh. Cũng giống như ngày nay nhiều nhà khoa học phản đối công nghiệp hóa, điện hạt nhân, phát triển các giống lai v.v…, cổ súy mọi người trở lại với phương thức canh tác xưa. Họ không thấy bài toán nan giải về sức ép dân số, nhu cầu năng lượng gia tăng, cân bằng thiên nhiên với năng suất cây trồng, vật nuôi đang đặt ra ngày càng cấp bách trước nhân loại. Trong xã hội loài người, cũng như các giống loài khác, ưu thế trội chỉ chiếm khoảng 1/1000. Đó là sự cạnh tranh sinh tồn, phát triển. Chủ trương đánh đồng, “dại bầy hơn khôn một”, coi thường trí thức, khoa học tiến bộ… là xu hướng tệ hại của kẻ cầm quyền, nhuốm màu sắc nông dân của xã hội phong kiến phương Đông.

Đây là một nhầm lẫn của bộ óc triết gia lớn như Lão tử. Câu này cũng giống như câu “Dân khả sử do chi, bất khả sử tri chi” (dân có thể khiến theo cái lý đương nhiên phải làm mà không thể khiến cho họ hiểu biết vì sao phải làm) của Khổng tử. Quan niệm này đã kéo dài và ngự trị trong đầu các chính trị gia Trung Quốc và các nước phương Đông theo Nho – Lão đến mãi thời Tôn Dật Tiên và Mao Trạch Đông.

Xã hội mở ưu việt hơn xã hội đóng bởi vì nó đòi hỏi con người tự xử lý, chọn lọc thông tin theo mô hình tự động điều chỉnh tức là cần có tri thức không bị áp đặt.

              CHUYÊN MỤC THƠ VĂN

Trần Trọng Chiêm:    Mùa thu tạ từ

Đã  mấy mùa thu đi về,

Sao trong lòng thơ lặng tiếng !

Trên con đê tôi đang đi,

Hương thu vương ngập đường quê.

Bầu trời cao,

không thắm, sao vàng úa ?

Áng mây trôi,

sao đẫm nước u sầu?

Làn gió, lao xao,

trên đồng lúa loang loang mầu nắng.

Để ai còn đứng,

bên hồ vắng, đăm đăm ngóng tìm.

Nào biết ai sang chuyến đò cuối ?

còn đâu tri âm rượu bẽ bàng !

Vẫn biết rằng, sẽ có ngày,

nơi tôi về thu quạnh vắng,

Hương thu phai ! Sương thu tan !

còn màu nắng lạnh, mênh mông !

Ơi ! Mùa thu ! Cuộc đời !

Để lại trong tôi,

một bài ca: “Mùa thu tạ từ”

ướt đẫm,

sương thu !

T.T.Ch

Trương Quang Đệ : Người Hà Nôi (kỳ 2)

Bác sỹ -Phó Giám đốc phụ trách đời sống.

Khoảng cuối năm 49 đầu năm 50 của thế kỉ trước, bác sỹ Đoàn Chuyên, một bác sỹ ngoại khoa có tiếng, nâng cấp phòng mạch tư của mình thành một bệnh viện tư có tầm cỡ. Thoạt tiên chỉ có khoa ngoại do chính bác sỹ Chuyên phụ trách với chừng hai mươi giường bệnh. Sau đó, con đầu của bác sĩ Chuyên là Đoàn Tuấn, tốt nghiệp y khoa ở Thuỵ Sỹ ngành tim mạch giúp cha mở khoa tim mạch. Chẳng bao lâu sau, Tuấn rủ bạn cùng tốt nghiệp ở Thuỵ sỹ mở khoa da liễu. Bà Đoàn Chuyên, tuy chỉ là dược sỹ nhưng cũng xoay xở mở một khoa sản từ thiện, do Nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế tài trợ. Tất cả bệnh viện có khoảng trăm giường bệnh. Vốn liếng xây dựng bệnh viện trước hết là của tích luỹ qua bao năm mở phòng mạch của bác sỹ Chuyên. Ngoài ra còn có cổ phần của ba bốn người Hoa, bạn gần gũi của gia đình. Những khoản tiền đóng góp của thân hữu hay tổ chức hội đoàn thường chỉ dùng cho việc chữa bệnh từ thiện. Bệnh viện nổi tiếng trước hết là nhờ những việc làm từ thiện không những trong phạm vi thành phố mà còn lan đến các tỉnh lân cận, thậm chí đến cả các xứ Nghệ Tĩnh. Ngoài ra, nguyên tắc hoạt dộng nghiêm khắc do bác sỹ Chuyên đề xướng là thầy thuốc chỉ biết đến chất lượng chữa trị, không nghĩ đến tiền bạc, không suy nghĩ về tiền bạc. Thực ra nguyên tắc nghiêm ngặt đó chỉ cho phép bệnh viện sống được vài năm là cùng. Nhưng bà Đoàn Chuyên vốn con nhà doanh nghiệp, biết cách điều hoà các mâu thuẫn tưởng như không điều hoà được mà giữ cho bệnh viện vừa sống khoẻ vừa có tiếng tăm.

Khi nghe tin quân Pháp sắp rút khỏi Hà nội và quân cách mạng vào tiếp quản thành phố, ý nghĩ đầu tiên của bác sỹ Chuyên là sẽ ở lại với cách mạng. Những thấy thuốc danh tiếng của cả Đông Dương, vốn là bạn bè thân mật của ông, đều tham gia kháng chiến. Nay họ trở về chắc việc hợp tác sẽ vô cùng thuận lợi. Nghe tên Đoàn Chuyên, thậm chí một anh bộ đội tầm thường cũng kính nể huống chi cấp chỉ huy của họ? Một sự việc bất ngờ xẩy ra làm hoàn cảnh đột nhiên thay đổi. Sau khi hiệp định Genève được kí kết, một số người Hoa ở Hà nội không biết xoay xở cách nào mà về thăm được Bắc Kinh, Thượng Hải, Hàng Châu bên Trung Quốc. Họ quan sát cuộc sống bên đó dưới chế độ mới, tìm hiểu tâm tư tình cảm bạn bè, người thân và đi đến kết luận là không thể tuếp tục cuộc sống bình thường của họ trong chế độ mới, dầu ở Trung Hoa hay ở ViệtNam. Bạn bè, người thân  của họ đều khuyên họ di cư vàoNam, trong đó có đến một triệu người Hoa làm ăn thịnh vượng bao đời nay. Trước ngày họ vàoNam, họ đến chào bác sỹ Chuyên và cũng thành thực khuyên nên suy nghĩ cho kỹ trước tình hình mới.

-Các vị nói là không làm ăn được gì hết à? –Bác sỹ Chuyên nửa tin nửa ngờ hỏi.

-Không.

-Hiệu thuốc, phòng mạch…dẹp hết cả à?

-Đúng thế.

-Vậy người dân lấy gì mà sống? Bác sỹ Chuyên vẫn cố gặng hỏi cho ra lẽ.

-Họ vẫn sống chứ sao? Thậm chí sống tốt hơn xưa nếu họ thuộc tầng lớp dưới.

-Lấy gì mà sống?

-Mọi người làm việc cho nhà nước, thế thôi. Trước đây anh có hiệu thuốc tư, nay vẫn hiệu thuốc đó nhưng anh là nhân viên. Trước đây anh cắt tóc ngoài phố, nay anh vẫn cắt tóc, có điều anh phải ngồi một chỗ do hợp tác xã qui định, khách trả tiền cho một thu ngân, buổi chiều anh về người ta phát cho anh  tiền công trong ngày.

-Có lẽ tôi suy nghĩ thêm. Chúc các vị thượng lộ bình an.

Sau đó vài hôm, cả gia đình bác sỹ Chuyên di cư vàoNam, riêng bác sỹ Tuấn còm độc thân muốn ở lại xem thời cuộc ra sao.

Tuấn giải thích quyết địng của mình cho bạn bè nghe:

-Mình vốn thích phiêu lưu, nay có dịp may làm sao lại bỏ lỡ?

Cuộc phiêu lưu của bác sĩ Tuấn không xấy ra li kì như anh tưởng tượng. Vì tình hình chưa ổn định, bệnh viện tư Đoàn Chuyên đóng cửa chờ đợi. Tuấn tranh thủ đi đây đó về các tỉnh lẻ thăm bạn bè, quan sát đất nước hoà bình. Khoảng tháng giêng năm 1955, Tuấn được ban cải tạo công thương của thành phố mời đến làm việc. Họ giải thích cho anh rõ qui chế mới của bệnh viện:

-Bây giờ là bệnh viện công tư hợp doanh, cán bộ tiếp bác sỹ Tuấn nói. Lẽ ra trong chế độ mới không tồn tại bệnh viện tư cũng như trường học tư. Những thứ này thuộc địa hạt cực kỳ quan trọng. Mà đã cực kỳ quan trọng thì phải do nhà nước nắm giữ. Tuy vậy, cấp trên muốn duy trì danh tiếng của bệnh viện cũ nên không quốc hữu hoá hoàn toàn mà cho công tư hợp doanh. Đã có quyết định cử ông làm phó giám đốc bệnh viện, còn giám đốc là người của Bộ Y tế. Đội ngũ nhân viên vẫn lưu dụng như thường.

-Hình như họ di cư hết rồi, bác sỹ Tuấn nói.

-Thế thì giám đốc mới sẽ tuyển dụng người khác. Việc ấy bác sỹ không phải lo.

-Tôi chỉ muốn làm chuyên môn thôi, trên nên cử phó giám đốc khác.

-Đâu được! Văn bản qui định rõ: chủ nhân cũ của xí nghọêp làm phó giám đốc, các chức danh trưởng cũ thành chức danh phó. Chẳng hạn nếu còn khoa trưởng nào ở lại thì sẽ là phó khoa. Vậy nhé!

Từ đó Tuấn làm phó giám đốc của bệnh viện mình, được chia một phòng nhỏ tầng trệt vừa là nơi làm việc, vừa là nơi ăn ngủ, có cửa sổ trông ra một cái vườn khá rộng. Văn phòng của bác sỹ Chuyên nay là văn phòng của giám đốc mới, một người Tuấn chưa hế quen biết nhưng cũng nhả nhặn, đôi khi rụt rè mặc cảm cho rằng mình ngồi vào chỗ của người khác. Giám đốc mới muốn hợp tác chặt chẽ với Tuấn về chuyên môn, nghiệp vụ nhưng có lẽ qui chế ngăn cấm nên phải lảng tránh. Tuấn cũng biết thân phận dành cho mình nên không làm gì ngoài “phó giám đốc đời sống”, nghĩa là chỉ lo chuyện giao dịch mua lương thưc, thực phẩm cho bệnh viện, cuốc đất trồng rau xanh trong vườn, nuôi lợn, gà, thỏ trong các chuồng xây tạm dọc bờ rào. Nghe nói đâu có nguồn thực phẩm gì là Tuấn đến quan sát, thương thảo, mua bán, đổi chác. Anh cũng không biết mình thành một thương lái tự lúc nào.

Một hôm Tuấn tình cờ gặp bác Thức ở chợ Đồng Xuân khi Tuấn đang thương lượng mua một chục kí  đậu tương về làm sữa đậu nành cho bệnh nhân. Bác sỹ Đoàn Chuyên, cha của Tuấn vốn là bạn thân của ông bà Văn Thành. Khi ông bà Văn Thành hay con cái trong nhà  đau ốm, ông Chuyên tự tay chữa cho họ. Tuấn vẫn lui tới chơi nhà và thân với chị Hồng Hà, người cùng tuổi và học trung học cùng nhau. Nghe chuyện bác Thức kể về Anh Đào và Thiên Tân, Tuấn nghĩ ngay đến chuyện sắp xếp công việc để đi thăm hai chị em vào ngày chủ nhật tới.

Chuyến thăm của Tuấn đem lại những kết quả không ngờ.  Trước hết là nông trường và bệnh viện của Tuấn sẽ kết nghĩa, hợp tác nhiều mặt. bệnh viện sẽ cử những đoàn công tác thường xuyên đến nông trường chăm lo sức khoẻ cho công nhân. Nông trường sẽ cung cấp lương thực , thực phẩm cần thiết cho bệnh viện và cùng nghiên cứu, sản xuất  một số dược liệu thông dụng. Nhưng điều đáng kể nhất là Tuấn và Anh Đào, chưa ai nói điều gì, nhưng hiểu ngầm là họ sẽ thành bạn trăm năm. Khi Tuấn hỏi đùa sao Anh Đào quá kén chọn mà chưa chịu sống với ai thì Anh Đào cười thực thà:

-Em vì lí lịch quá tồi nên ai cũng lảng tránh. Biết làm sao được?

Về nhà được vài hôm, Tuấn gửi cho Anh Đào bức thư ngắn: “Anh cảm thấy số phận dành cho chúng ta cơ hội trở nên đôi lứa. Nếu em cũng thấy như vậy thì viết cho anh vài chữ. Một điều làm anh băn khoăn là anh hơn em những mười tuổi…”.. Anh Đào trả lời ngay ;” Đồng ý”. Mấy tháng sau, họ làm lễ cưới tại nông trường, trong không khí cực kì vui vẻ đầm ấm. Anh Đào vẫn tiếp tục công việc của mình ở nông trường, Tuấn vẫn làm phó giám đốc đời sống ở bệnh viện. Điều mới là chủ nhật nào Tuấn cũng về nông trường, khi có việc công thì ở lại lâu hơn. Họ được nông trường làm cho một ngôi nhà nhỏ bé nhưng xinh xắn gần bờ suối. Ôi hai quả tim vàng bên bờ suối! Ai đến thăm họ đều thốt lên như vậy.

Người phụ nữ tốt bụng vàí thuyết tân-định mệnh con vua – con sãi

Thấm thoắt cuộc sống của Anh Đào và Thiên Tân ở nông trường đã bảy tám năm. Hai chị em đóng góp cho nông trường những thành tích đáng kể khiến cho nông trường   vượt qua được nhiều khó khăn và đứng vững trong khi những nông trường khác làm ăn thua lỗ, phải sống nhờ chế độ bao cấp tốn kém. Những thành tích không thuộc phạm vi sản xuất rất nhiều như bổ túc văn hoá cho toàn thể công nhân, tổ chức tốt đời sống cho công nhân (nhà trẻ, câu lạc bộ….), chăm lo sức khoẻ …thậm chí còn cả việc bắn rơi máy bay Mỹ trong đêm. Nhân việc bắn rơi máy bay, Anh Đào được bộ chỉ huy quân sự địa phương khen thưởng vì cô là đội trưởng nữ dân quân, đội đã nổ súng hôm đó  nhưng không biết mình lập thành tích lớn. Thành tích về mặt sản xuất xuất sắc nhất là sáng kiến của Anh Đào được giám đốc Trực ủng hộ về phát động công nhân hành động theo suy nghĩ của riêng họ. Mỗi công nhân làm việc cho nông trường năm ngày một tuần theo kế hoạch chung. Hai ngày còn lại họ làm việc cho họ như nuôi ong, nuôi cá, trồng cây, làm mạch nha, kẹo bánh…Anh Đào còn thuyết phục thương nghiệp địa phương mở chợ nông trường, để người ta buôn bán tự do những mặt hàng không cấm và nộp một phần lợi tức  cho cả nông trường lẫn địa phương. May sao sáng kiến đó chưa phổ biến rộng thì một hôm giám đốc Trực hớt hơ hớt hải chạy một mạch từ một cuộc họp của huyện uỷ về báo cho mọi người biết rằng ông bí thư tỉnh uý một tỉnh phía Bắc, vì làm ăn ná ná như vậy mà bị kỉ luật nặng. Anh Đào bình tĩnh suy nghĩ rồi nói:

-Không việc gì phải lo. Ta thay đổi biển hiệu thôi. Từ nay hộ nuôi ong sẽ thành đội nuôi ong. Hộ nuối cá thành đội nuôi cá vv. Còn chợ nông trường thì cứ duy trì vì đó là của thương nghiệp địa phương. Cuối cùng, trước những thành tích không ai chối cãi, nông trường được nhà nước phopng tặng danh hiệu lá cờ đầu của ngành còn giám đốc Trực, Anh Đào, Thiên Tân và một vài cán bộ công nhân được danh hiệu chiến sĩ thi đua toàn quốc.

Vào khoảng cuối những năm sáu mươi của thế kì 20, một buổi sáng Anh Đào được người ta nhắn lên văn phòng gặp một người từ Hà nội đến thăm. Đó là một phụ nữ khoảng gần năm mươi tuổi, nét mặt hiền lành chất phác. Người phụ nữ tự giới thiệu :

-Tôi tên là Tâm, vợ ông Cầm trước đây làm việc ở vùng Ba vì nay được điều về Hà nội làm việc cho khu phố Hai Bà…(khu phố thời đó tương đương với quận ngày nay). Ông nhà tôi được khu phố phân về ở cùng nhiều gia đình khác trong ngôi nhà của chị Anh Đào. Họ nói vì các cụ điNam, chị và chú em đi làm việc ở nông trường, nhà bỏ không nên nhà nước trưng dụng. Tôi ghé qua nhà xem thì thấy nhà cửa đàng hoáng quá, đẹp quá, tươm tất quá, không phải nơi chúng tôi ở được. Ông nhà tôi thì bảo phải phục tùng cấp trên, họ nói sao mình nghe vậy, chứ làm sao được. Tôi nghĩ mình như sãi ở chùa, đẻ con quét lá đa, làm sao vào ở nơi khuê các được. Các cấp lãnh đạo, chồng tôi mắng tôi là ăn nói như phản động, không biết thời cuộc đã đổi thay cho người nghèo hèn ngày xưa. Tôi e ngại mãi không chịu đến ở. Ông nhà tôi nom thế mà biết điều ra phết. Ông bảo tôi đi mà gặp chị đây và chú em chị, Nếu họ cho ở mình mới ở. Nếu chị và chú em không cho thì không dám đến. Chúng tôi không muốn làm chuyện vô phúc. Xưa nay ông bà cha mẹ chúng tôi vẫn răn dạy như vậy.

Anh Đào cho gọi Thiên Tân đến rồi giải thích cho cậu em lí do người phụ nữ đến thăm. Ngoảnh mặt về phía bà Tâm, Anh Đào nói:

-Chị  tên là Tâm thật xứng đáng quá. Chúng tôi cảm động khi nghe chuyện tâm sự của chị. Chị là cả một tấm lòng cao cả. Nhưng lí thuyết của chị về con vua, con sãi thì lạc hậu rồi. Các vị cấp trên nhắc nhở chị như vậy là đúng. Nhà nước sử dụng nhà chúng tôi là đúng. Chị và chồng chị yên tâm về đó mà sống. Chị biết đó, chúng tôi sẽ gắn bó với nông trường suốt đời, không về lại Hà nội đâu. Đúng thế không bác Trực?-Anh Đào hỏi giám đốc khi ông này thấy lạ đến nghe xem có gì xẩy ra.

-Tôi nghĩ là nên làm cho đúng thủ tục. Anh Đào và khu phố nên có bản hợp đồng cho mượn nhà trong thời gian một năm, hai năm chẳng hạn. Biết đâu ít lâu nữa nước nhà hòa bình thống nhất các cụ, các anh chị lại về. Hơn nữa Anh Đào và Thiên Tân đâu phải sống mãi ở đây? Hết thời gian học tập lao động như ông trưởng phòng tổ chức nói, Anh Đào và Thiên Tân sẽ làm việc khác quan trọng hơn cho đất nước, phải thế không?

Anh Đào trả lời dứt khoát:

-Bác Trực gần gũi chúng tôi bấy lâu nay mà còn nghĩ thế sao? Chúng tôi ở lại miền Bắc đâu phải vì phải giữ nhà cho các cụ và các anh chị? Đâu phải chúng tôi muốn làm gì quan trọng hơn? Chúng tôi ở lại, thế thôi. Vì nuốn sống trong một miề  không có ngioại bang, còn ở miềnNamthì hết Pháp lại Mỹ tồ tồ ra đó. Muốn sống như vậy thì phải thay đổi như chúng tơi đã thay đổi. Thôi chị về đi, yên tâm mà ở nhà ấy. Tôi sẽ viết ngay cho chị giấy xác nhận chúng tôi từ bỏ chủ quyền nhà, đơn giản thế thôi. Mà khoan đã, chị ở lại ăn cơm với chúng tôi cho vui. Chiều nay có xe nông trường về Hà Đông. Chị có thể đi xe đó mà về đỡ vất vả ra tìm xe khách ở bến xe. Được chứ?

Thế rồi năm năm trôi qua kể từ ngày ông Cầm, bà Tâm và nhiều gia đình khác về chia nhau ngôi biệt thự đường Đồn Thuỷ còn Anh Đào và bác sĩ Tuấn sống trong túp lều tranh với hai quả tim vàng bên bờ suối ở Tân Sở. Hội nghị bàn tròn bốn bên ở phố Kléber, Paris cũng diễn ra đã ba năm, chậm chạp, ì ạch vì lập trường mỗi bên khó ai lay chuyển. Người phát ngôn phái đoàn miền Bắc ngày ngày họp báo, thông tin những diễn biến ít lạc quan của hội nghị. Ông trở thành khuôn mặt quen thuộc trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Dạo ấy Hồng Hà đã có hai bằng tiến sĩ một về xã hội học ở Pháp và một về khoa kinh tế chính trị ở Anh. Chị được tuyển làm trợ lý cho Tổng giám đốc UNESCO đã được hai năm. Chị sống với chồng và một đứa con trong một căn hộ xinh xắn ở Saint-Cloud. Hai vợ chồng còn có một nhà nghỉ cuối tuần ở Evry nữa. Tình cờ một hôm Hồng Hà gặp người phát ngôn miền Bắc trong một siêu thị của người Việt ở Belle-ville. Hồng Hà mời người phát ngôn về nhà nghỉ chơi vào cuối tuần đó và ông ta vui vẻ nhận lời. Tiệc đứng diễn ra trong vườn cây rậm rạp của nhà nghỉ tập họp được nhiều người: Vĩnh Chân, Hươing Giang, Hồng Hà, người phát ngôn và một số bạn thân của ba chị em Văn Thành. Tiếc là ông bà Văn Thành đi chơi phíaNamkhông  về kịp. Hồng Hà nói với người phát ngôn khi mọi người bắt đầu bữa tiệc:

-Gặp anh  ở đây chúng tôi mừng lắm, bởi lẽ trước nay chúng tôi có nhiều tâm sự không biết ngỏ cùng ai. Chắc anh chưa biết chúng tôi rời Hà nội ra đi một cách miễn cưỡng, bởi vì chúng tôi đinh ninh mình sẽ ở lại với chế độ mới. Nhưng ông cụ thân sinh chúng tôi cảm thấy phía cách mạng không tin cậy lắm nên đành ra đi. Chúng tôi lúc đó học dở dang  các ngành mà phía cách mạng chưa có, thành ra cũng theo ông bà cụ mà đi. Chỉ có hai em tôi, một trai một gái ở lại và chúng tôi chẳng biết hiện giờ chúng nó làm gì, ở đâu. Liên lạc với bên nhà quả là khó.

-Chị cho tôi biết tên cô chú đó rồi tôi về nước sẽ tìm cho chị. Cả địa chỉ nhà nữa. Tôi sẽ đi dò hỏi xem sao. Nhưng tôi hy vọng mọi thứ đều ổn -người phát ngôn nói.

-Chúng tôi mong có dịp về thăm quê -Hồng Hà nói tiếp- và nếu được thì xin được làm việc bên đó. Nghe nói cách mạnng cũng cần những người như chúng tôi.

-Tôi thành thật xúc động nghe chị nói như vậy – người phát ngôn nói – Có điều….

-Điều gì ạ? Hương Giang chen vào.

-Bên nhà khổ lắm . Vì chiến tranh như các anh chị đã biết  và nhiều nguyên nhân khác nữa. Tôi nghĩ là các anh chị chưa sống được trong hoàn cảnh như vậy.

Hồng Hà mỉm cười:

-Xin tranh luận với anh một tí, được không?

-Sẵn sàng, miễn là …

-Không, tôi sẽ không đả động gì đến ý thức hệ cả đâu mà anh lo. Tôi chỉ hỏi anh một câu thôi: Thời bọn Pháp mới sang xâm lấn nước mình, cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, đời sống nước ta thế nào?

-Dĩ nhiên là rất kém, không có tiện nghi gì hết, không có phương tiện gì hết, không tàu, không xe…

-Vậy sao bọn Tây sống được? Mà sống khá giả nữa?

-Cái đó thì có lẽ họ biết tạo nên cuộc sống thoải mái mà không cần điều kiện khách quan gì to lớn đáng kể…Có lẽ…

-Vậy anh đồng ý với tôi là một khi người ta quyết tâm thì người ta tìm ra giảo pháp, đúng không?

-Đúng -người phát ngôn nói dứt khoát, không đắn đo gì.

Hồng Hà phát triển ý của mình:

-Chúng tôi, những người gốc ViệtNam, tại sao không thể sống trên đất nước mình một cách thoải mái, khi bọn Tây từ xa đến lại sống được và còn cai trị cả ta nữa?

-Nhưng…

-Anh thấy chưa, cái khó là liệu chúng tôi có được tự mình tạo ra cuộc sống thích hợp hay không. Nói cách khác, các anh có tin cậy chúng tôi không? Hay như ông cụ tôi, chúng tôi đành ngậm ngùi bỏ cuộc?

Buổi gặp gỡ khiến người phát ngôn suy nghĩ rất nhiều. Lần nào về nước có việc là anh tranh thủ gặp những người có thẩm quyền để báo cáo lại buổi gặp gỡ chị em Hồng Hà ởParis. Các vị có thẩm quyền cũng suy nghĩ, trao đổi ý kiến với nhau về vấn đề ứng xử với những nguyện vọng chính đáng kia. Dạo đó, chất xám của miền Bắc chủ yếu từ nguồn đào tạo ở các nước xã hội chủ nghĩa. Người ta nhanh chóng nhận thấy đội ngũ này thường thiên về lí thuyết mà ít gắn bó với công việc thực tế. Họ là những học giả, nhà nghiên cứu, nhà lãnh đạo nhưng ít ai làm công trình sư, tổng công trình sư, nhà điều hành vĩ mô về tài chính, ngân hàng vv. Việc cải thiện cuộc sống thường ngày cho dân chúng không ai chú ý. Trong lúc đó những người được đào tạo ở phương Tây biết xoay xở, biết tự mình định liệu công việc không chờ ai nhắc nhở.  Người ta kể chuyện một trí thức Việt kiều, ông Biên, giáo sư kinh tế ở một đại học Thuỵ sỹ về Hà nội thăm mẹ già. Thấy mẹ vất vả hàng ngay giặt một đống quần áo chỉ bằng tay, ông nghĩ đến chuyện mua cho mẹ một máy giặt. Nhưng mua ở đâu được? Dạo đó những mặt hàng điện gia dụng không tìm đâu thấy. Ông bèn ra chợ trời mua góp nhặt đồ phế liệu, chế tạo ra chiếc máy giặt “quay bằng tay” cho mẹ. Đương nhiên bà cụ phải mất sức quây máy, dầu sao cũng tiện hơn nhiều so với giặt tay. Ông Biên còn chế tạo hai bếp nấu ăn cho mẹ, một dùng củi, một dùng dầu hoả nhưng cái nào cũng có nút bấm và đặc biệt là không có khói. Chưa hết, ông Biên còn làm một máy quạt thông hơi tự động làm mát cho ngôi nhà suốt ngày đêm. Khi ra đi, ông còn hẹn sẽ về chế tạo thêm một số máy khác nữa. Người phát ngôn phái đoàn miền Bắc cuối cùng thuyết phục được các vị lãnh đạo ra hai chủ trương về trí thức Việt ở nước ngoài. Chủ trương thứ nhất là tổ chức đón tiếp chu đáo những trí thức muốn về thăm miền Bắc, điều tra hoàn cảnh thân nhâ của họ để sửa chữa những việc làm cực đoan trước đây như tịch thu nhà cửa, sung công cơ sở sản xuất vv. Chủ trương thứ hai là một khi Việt kiều đã ở lại làm việc cho đất nước thì phải tạo điều kiện thích hợp để họ yên tâm và phát huy tài năng.

Chính vỉ vậy mà một hôm Anh Đào và Thiên Tân được gọi khẩn cấp lên văn phòng có người cần gặp. Đó là một cán bộ của Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc. Vị khách nói:

-Tôi có nhiệm vụ thông báo lại cho chị Anh Đào và anh Thiên Tân biết là cấp trên quyết định trả lại nhà cho hai chị em. Một tuần nữa sẽ giải toả xong và yêu cầu hai chị em về ngay Hà nội.  Một điều nữa là  chị Anh Đào cũng như anh Thiên tân cho biết có nguyện vọng làm gì khi về thủ đô. Nguyện vọng thế nào cấp tên cũng giải quyết được hết. Muốn đi học đại học trong nước hay du học nước ngoài, muốn làm nghề nghiệp gì mình thích cũng sẽ được giải quyết. Tôi nói vậy chị Anh Đài và anh Thiên Tân nắm được chưa?

-Thành thật mà nói là chưa –Anh Đào thẳng thắn đáp lại – Trước hết xin ông cho biết tại sao lại có quyết định như vậy đối với chúng tôi. Hai là nếu chúng tôi không muốn về Hà nội thì sao?

Phái viên của Mặt trận nói dứt khoát:

-Quyết định là quyết định, không ai được làm trái, không ai từ chối được cả. Còn lí do tại sao  thì phải chờ cán bộ ngoại giao giải thích sau. Ông ấy hẹn tuần nữa về đến Hà nội và sẽ gặp ngay hai chị em. Mong chị Anh Đào và anh Thiên Tân yên tâm chấp hành quyết định. Bây giờ tôi phải đi đây. Xin chào!

Cán bộ Mặt trận vừa mới đi xong, chị em Anh Đào còn bán tín bán nghi thì Tuấn dắt xe đạp vào văn phòng tìm vợ và  em rể.

-Anh phải dùng xe đạp đi cho kịp, chờ xe đò sợ quá lâu sẽ làm hai chị em lo lắng. Cán bộ Mặt trận nói chuyện với hai chị em rồi chứ?

-Rồi – Thiên Tân nói –nhưng chúng em chả hiểu gì cả. Hỏi thì ông ấy bảo chờ tuần sau có người sẽ giải đáp.

-Đúng vậy đó -Tuấn dắt xe theo hai chị em về “túp lều tranh” vừa kể chuyện – Ở Hà nội cách đây một tuần họ thông báo cho các gia đình ở nhà ngả bảy Đồn Thuỷ phải chuyển đi ngay về chỗ ở mới nghe đâu ở khu Thành công. Chỉ có ông Cầm, bà Tâm chấp hành nghiêm chỉnh vì thực ra họ ở đó không thích thú lắm, tự coi là làm trái lương tâm. Họ dọn đi ngay, không cần nhờ ai giúp. Còn những hộ khác thì rất ngoan cố. Khi họ nghe phong phanh nhà nước trả lại nhà cho dân trí thức tư sản, họ coi là có sự nhầm lẫn. Họ nói chẳng bao giờ chính quyền ta lại làm một điều trái cựa như vậy. Họ nghĩ khu phố hay khối phố ăn đút lót của bọn tư sản để làm bậy. Đến hạn chót, họ vẫn cứ trơ ra như không. Thậm chí họ còn chiếm luôn căn hộ trước đó thuộc ông bà Cầm.  Cảnh tượng thật là hỗn loạn. Chuồng trại heo gà nuôi trong vường vẫn nghêng ngang tồn tại. Những hộ bán nước chè, nước mía vẫn chiếm cứ sân nhà, vườn trước nhà và hết cả các vỉa hè quanh nhà. Công an khu vực, tổ trưởng dân phố đến nói gì họ cũng không chịu nghe. Đến phút cuối đùng đùng một đoàn công an đông đảo cùng xe ca, xe tải ầm ầm đỗ trước nhà, loa phóng thanh gọi mọi người khuân đồ đạc ra xe. Ai không chịu nghe thì có người khác bốc hết đồ đạc quẳng ra đưởng phố. Thế mà vẫn có người giả vờ ốm nặng, không chịu đi. Công an phải gọi xe cứu thương tới, cứ thế khuân họ lên cáng chạy thẳng đến bệnh viện Bạch Mai. Nửa đường nghe đâu họ nhảy xe chuồn thẳng. Chỉ một buổi sáng, nhà được giải toả. Trông như cảnh chiến tranh tàn phá ở các tỉnh miềnNam. Nhưng Tuấn cho biết trước khi đến nông trường, Tuấn có ghé lại nhà ở Đồn Thuỷ xem sao thì thấy rất nhiều công nhân khôi phục khu vườn Nhật bản. Họ cào hết chuồng lợn, chuồng gà thời ăn ở lộn xộn và trồng lại cây cảnh giống ngày xưa theo sự chỉ dẫn của bac Thức. Trong nhà thì mọi thứ, cũng theo sự cố vấn của bác Thức, được đặt lại chỗ cũ như bộ sưu tập tranh, đàn piano, chậu cảnh, quạt trần vv. Bàn ghế giường tủ thì họ khuân đồ mới tới thay cho đồ cũ đã bị hư hỏng không dùng được nữa. Trong bếp họ trang bị tủ lạnh, bếp điện hiện đại, máy rửa bát, đủ loại máy gia dụng, những thứ trong thời ông bà Văn Thành chưa từng có. Ngoài phòng khách thì có vô tuyến truyền hình, dàn nhạc hi-fi….Trong gian nhà kho lịch kịch những máy hút bụi , máy giặt…Trên gác xép thì đặt những máy tập luyện thể dục đời mới, thời ông Văn Thành cũng không hề có. Tóm lại người ta khôi phục hoàn toàn biệt thự cũ từ nhà ra đến sân, vườn và người ta “hiện đại hoá biệt thự bằng nhiều đồ dùng tân kì khác mà chỉ những vị có đặc quyền trong xã hội mới có, còn dân thường thì chỉ biết mơ ước. Nghe Tuấn kể chuyện, Anh Đào và Thiên Tân cười chảy nước mắt. Không ngờ trong đời họ lại có những thăng trầm kì lạ như vậy. Họ thấy chua chát trong lòng pha lẫn một chút an ủi khi nghĩ đến chuyện  cha mẹ họ có ngày thấy được ngôi nhà không suy xuyển gì qua bao nhiêu bão tố.

Đúng thời điểm qui định, Tuấn từ Hà nội đi theo xe của Mặt trận tổ quốc đến đón chị em Anh Đào về nhà cũ. Buổi chia tay với nông trường thật lưu luyến, đầy cảm xúc. Nhiều công nhân khóc nức nở như nhà có tang. Giám đốc Trực thì cứ chốc chốc lại thở dài: Không biết rồi nông trường sẽ ra sao đây?

-Bác chớ lo, mọi thứ tốt đẹp cho đến ngày nay là do bác cả chứ chúng tôi chỉ là những trợ lí tận tình thôi. Rồi mọi việc sẽ tốt đẹp hơn trước mà! –Anh Đào nói.

-Nhưng rồi người tận tận tình như cô Đào và chú Tân đây moi ở đâu ra? Bác Trực vẫn lẩm nhẩm than thở.

Khi Anh Đào và Thiên Tân bước vào nhà họ ở phố nhà thương Đồn Thuỷ, họ thấy người cán bộ mặt trận thăm họ hôm trước ở nông trường đang ngồi chuyện trò với một vị cán bộ khác, ăn vận sang trọng chứ không như cán bộ trong nước.

-Đây là anh Khôi, cán bộ ngoại giao, phát ngôn viên phái đoàn miền Bắc ở hội nghịParis–cán bộ măt trận giới thiệu người khách mói.- Anh Khôi sẽ cho các anh chị biết nhiều điều mà các anh chị hỏi tôi hôm trước.

Quay lại phía Tuấn và chị em Anh Đào, viên cán bộ nói với Khôi:

-Đây là chị Anh Đào, cán bộ nông trường Tân Sở, chiến sĩ thi đua toàn quốc, dũng sĩ bắn máy bay. Đây là anh Thiên Tân, cũng là cán bộ nông trường, chiến sĩ thi đua toàn quốc, còn đây là anh Tuấn, chồng chị Anh Đào, bác sĩ phó giám đốc bệnh viện Đoàn Chuyên….

Nhà ngoại giao ngắt lời cán bộ măt trận, cười nói:

-Bây giờ là giám đốc rồi. Tôi có cầm theo gíây quyết định của Bộ Y tế cho anh đây.

Mọi người ngơ ngác không hiểu đầu đuôi ra sao.

-Nhưng tôi thấy làm phó giám đốc nhưn hiện nay tiện lợi đôi bề, vừa dễ cho tôi mà cũng không phiền hà gì đến các anh – Bác sỹ Tuấn nói giọng thành khẩn.

-Không được đâu – nhà ngoại giao Khôi khoát tay – Trên đã quyết như vậy rồi. Đã cho khắc biển hiệu “Bệnh viện tư nhân Đoàn Chuyên”. Có lẽ công nhân đang gắn biể lúc này trước cửa bệnh viện đó. Bệnh viện từ nay trở đi là của anh , nếu chưa được trăm phần trăm thì cũng hơn năm mươi phần trăm. Anh quyết định lấy mọi việc, không ai ngăn cản.

Tuấn vẫn chưa thấy ra vấn đề:

-Sao thế được nhỉ? Tôi muốn bệnh viện trở lại như thời ông cụ tôi cũng được à?

-Chứ sao? Không ai ngăn cản anh mà.

-Tôi sẽ lấy chất lượng chữa bệnh làm chính, tiền nong là chuyện phụ cũng được à?

-Được tất.

-Nhưng đó là điều không tưởng như mơ ước của các nhà cách mạng không tưởng thế kỉ trước.

-Sao vậy? Khôi hỏi.

-Hiển nhiên là không tưởng rồi! – Tuấn hăng hái biện luận – Này nhé, ông bà cụ tôi trước nhờ vào các quỹ từ thiện của nhà thờ, nay lấy đâu ra? Nhà nước thì chỉ bao cấp một số mặt thôi, không gánh được hết thảy. Mặt khác, tôi đâu có quyền định lương hay tiền thưởng cho đội ngũ nhân sự? Có anh bạn tôi làm việc cho sứ quán nước ngoài, họ trả 2000 đồng một tháng nhưng nhà nước chỉ cho nhận 300 đồng. Một anh bạn khác dạy Albert Sarraut, người ta trả lương 2000 quan Pháp một tháng nhưng chỉ được nhận 300 quan mà thôi. Tôi có vượt được những qui định như vậy không?

Nhà ngoại giao bỗng thấy lúng túng:

-Quả thật tôi chưa lường hết những chuyện như anh nói. Tôi sẽ tìm hiểu và trả lời chu đáo sau. Nay các anh chị cho phép nói về chuyện tại sao mời các anh chị về ở Hà nội, làm công việc mới và tại sao anh Tuấn làm giám đốc bệnh viện tư nhân của anh. À quên, chị Anh Đào sẽ có quyết định làm chuyên viên Bộ Y tế, phụ trách dạy các ngoại ngữ Anh, Pháp cho các bác sỹ trong Bộ và cả cho trường Đại học Y dược. Còn anh Thiên Tân, theo điều tra của chúng tôi thì có năng khiếu nghệ thuật tạo hình. Anh đã có bằng tốt nghiệp trung học, vậy anh được nhận vào trường Mỹ thuật. Chúng tôi đã thương lượng được rồi. Từ ngày mai anh Tân cứ đến trường. Mọi giấy tờ họ có sẵn, không cần cầm gì theo cả.

-Không ngờ các anh làm việc sắc sảo hơn cả Tiên cả Phật. Có điều …-Anh Đào ngập ngừng nói – các anh chưa hề hỏi ý kiến chúng tôi.

Khôi thoáng có vẻ lúng túng nhưng lấy lại bình tĩnh nhanh chóng:

-Các anh chị thông cảm, tình hình cấp bách nên cứ làm đi rồi hỏi ý kiến sau. Dầu sao cũng toàn những chuyện vui chứ đâu có chuyện phiền hà gì. ỞParistôi gặp được chị Hồng Hà, anh Vĩnh Chân và chị Hương Giang nhiều lần. Chị Hồng Hà hiện là trợ lý cho Tổng giám đốc UNESCO, anh Vĩnh Chân là công trình sư cảng hàng không, chị Hương Giang đang làm luận văn về báo chí ở Đại học Lille III.

-Họ có khoẻ mạnh không? Anh có gặp các cụ thân sinh chúng tôi không? –Thiên Tân  mừng rỡ reo lên.

-Tiếc là chưa gặp được các cụ vì các cụ ở hơi xaParis. Các chị Hồng Hà, Hương Giang và anh Vĩnh Chân tỏ ý muốn về thăm quê vào một ngày gần đây. Nếu họ thấy có điều kiện thích hợp thì họ sẽ ở lại quê làm việc.

-Thế ư? – Tuấn ngạc nhiên hỏi nhưng vội làm vẻ mặt bình thản.

-Tuyệt vời quá! Anh Đào nói vẻ mơ màng.

-Chị Hồng Hà, chị Hương Giang và anh Vĩnh Chân nhiệt tình lắm, giúp cho phái đoàn ta nhiều việc hệ trọng. Họ rất sắc sảo.

-Chuyện đó thì khỏi nói –Anh Đào buột miệng nói ra ý nghĩ ẩn giấ  từ lâu trong lòng – Thời nhỏ, chúng tôi, tôi và Thiên Tân đây hay tìm cách bịp các anh chị ấy để trêu chọc cho vui. Không lần nào bịp được họ cả, kể cả những chuyện mà chúng tôi tính toán kĩ lưỡng, không sơ hở vào đâu được. Thế đó.

Khôi đồng tình với nhận xét đó:

-Tôi cũng có cảm giác như vậy. Nói chuyện với họ về mọi thứ trên đời, thấy họ rành lắm, kể cả những chuyện trong nước. Tuy vậy họ không có tin gì về hai người em ở lại miền Bắc.

Anh Đào mơ màng:

-Tôi hỏi thật anh Khôi nhé? Tại sao các vị có thẩm quyền và cả anh nữa sắp xếp công việc theo kiểu này khi biết anh chị chúng tôi là những người nhạy bén và sắc sảo? Tôi muốn nói tại sao phải gọi chúng tôi về Hà nội? Tại sao lại phải trả bệnh viện về cho anh Tuấn? Các anh chị đó chỉ cần liếc qua môt tí là họ biết đầu đuôi câu chuyện ngay….

-Nhưng….-Khôi lần này lúng túng rõ rệt.

Anh Đào nói tiếp:

-Tôi hiểu. Các anh không có phương án nào hay hơn phương án này cả. Nhưng nói thật, đây là hạ sách. Bởi vì, cũng giống như các cụ tôi ngày trước, các anh chị tôi sẽ thấy không có sự tin cậy, thể hiện qua những sự bố trí quá lộ liễu. Đúng thế không?

Anh Đào ngừng một lúc rồi nói tiếp, thầm thì như nói cho riêng mình nghe:

-Điều kiện mà các anh chị đó cần thấy là sự tin cậy, là môi trường làm việc thân thiện, không quan liêu, không giả dối, không nghi thức bày vẽ. Tôi nghĩ như thế. Tôi hỏi anh Khôi một câu và mong anh trả lời thẳng thắn: những người trong nước như chúng tôi muốn đóng góp có được tạo điều kiện không?

-Tôi cho rằng còn nhiều vướng mắc, thật vậy.

-Như anh Tuấn đây –Anh Đào tiếp – một bác sỹ giỏi…

-Đừng nói thế-Tuấn phản đối – Tôi chưa làm gì có ích ngoài việc đi mua thực phẩm…

-Để em nói tiếp –Anh Đào cắt ngang lời Tuấn -Nếu anh ấy được làm theo ý mình thì bệnh viện sẽ khác hẳn. Nhưng đó là việc của anh Tuấn, để anh ấy phát biểu. Tôi chỉ nói chuyện tôi. Anh nên tin là tôi sẽ làm đựoc gì cho nông trường nếu không bị bó tay? Nhiều việc lắm, mà việc nào cũng có ý nghĩa. Có điều, tôi không thể làm được gì một cách công khai, chỉ làm vụng lén mà thôi.

-Gay thế cơ à? –Khôi hỏi.

-Tôi kể cho anh nghe một trường hợp nhỏ nhưng tiêu biểu: Nông trường làm ra sản phẩm chỉ được bán cho thương nghiệp nhà nước. Chúng tôi bán chẳng hạn một ký hồ tiêu khô  cho ngoại thương. Giá thành một ký là mười đồng, họ chỉ thu mua theo giá qui định của nhà nước là chín đồng. Họ bán lại cho ngoại thương Liên xô với giá tám đồng. Ngoại thương Liên xô bán lại cho dân chúng với giá bảy đồng. Thật là kỳ dị nhưng sự thực là vậy. Tôi tra cứu sách vở trong các thư viện mà tôi biết đến, thậm chí đọc kỹ tác phẩm “Bàn về ngoại thương” của Staline nữa, nhưng không thấy những luật lệ như vậy ghi ở đâu cả. Có lẽ là những luật bất thành văn. Anh Khôi thử nghĩ xem. Làm sao mà tồn tại được với những qui định không ai hiểu nổi như vậy? Có hai hướng. Một là khi mình bán hồ tiêu cho ngoại thương, mình được họ bán lại cho mình một vài mặt hàng phân phối đặc quyền như sữa, vải, đường, lốp xe đạp ….Mình bán lại theo giá cao và bù lỗ. Mặt khác chúng tôi sáng kiến lập ra chợ nông trường, được địa phương hưởng ứng và thương nghiệp nhà nước dính vào ăn phần trăm lợi tức. Sản phẩm lưu thông trong chợ nông trường thuộc loại tư do, không bị cấm. Thí dụ như khoai lang, sắn, các loại rau, ngô, kê, thịt thỏ, ngan vịt ngỗngvv. Các mặt hàng cấm là gạo, đường trắng, thịt lợn, thịt bò, thịt gà vv. Thế đó. Không có thị trường tự do thì gần như sản xuất ngừng trệ. Ai cũng biết như vậy nhưng không ai dám đi chệch khỏi qui định vì hậu quả nghiêm trọng khôn lường. Anh thấy trong trường hợp đó, tôi xoay xở là liều mạng lắm. Anh có cách nào phản ánh cho các vị trên …Mà tôi nghĩ là các vị cũng đến chịu.

Khôi định trả lời thì Tuấn xin bổ sung vài ý kiến:

-Tôi cũng nghĩ như Anh Đào là các anh chị bênParissẽ nhận thấy ngay những cơ chế khiến ta bị bó tay. Việc bố trí như thế này không hay bằng cứ để nguyên trạng cho họ nhận xét và rút ra kết luận. Nhưng tôi cũng nghĩ rằng cấp trên khó tìm ra cách nào tốt hơn. Vậy ta cứ chờ xem.

Khôi nói:

-Các anh chị nói rất đúng. Tôi thành thực nhờ phân tích của anh chị mà thấy vấn đề hơn. Đúng là với cách làm hiện nay thì khó sử dụng tốt con người trong nước cũng như hải ngoại. Tôi sẽ bàn thêm với những người có thẩm quyền. Nhưng tôi thành thực mong chị Anh Đào, anh Tuấn và anh Thiên Tân tạm thời chấp hành quyết định mà tôi vừa nêu. Và nhận những trách nhiệm mới bắt đầu từ tuần tới..

Trước khi chia tay khách, Anh Đào mời mọi người ra vườn ngắm cảnh, uống nước chanh tươi và nói đến những việc đời thường khác của người Hà nội.

Bước ngoặt bất ngờ

Anh Đào, Tuấn và Thiên Tân nghiêm chỉnh chấp hành quyết định về cuộc sống mới của họ và chờ đợi ngày gặp lại các anh chị phiêu bạt bao năm nay ở hải ngoại. Tuấn ngồi vào ghế giám đốc, không hứng khởi lắm nhưng được người ta nể trọng nên công việc cũng chạy, không đến nỗi nan giải. Anh Đào trở thành người có vị thế trọng yếu của Bộ Y tế về đối ngoại và chẳng bao lâu được cử làm phái viên của Việt Nam bên cạnh WHO khu vực Tây Thái Bình Dương. Anh Đào nhiều lần trở lại nơi mình sinh ra, tức là Nhật bản và cũng đi nhiều quốc gia khác như Hàn quốc, Trung Quốc, Thuỵ Sỹ. Thiên Tân thì say sưa với mgành học mới và tình nguyện đi phục vụ chiến trường sau hơn một năm học. Thiên Tân vừa đi được mấy tháng thì chị Hồng Hà và anh Vĩnh Chân về thăm quê nhà. Hương Giang vướng bảo vệ luận văn tiến sĩ quốc gia ở Lille III nên hẹn sẽ về sau. Như mọi người dự đóan, hai chị em Hồng Hà và Vĩnh Chân được Bộ Ngoại giao đón tiếp nồng hậu, bố trí cho họ khách sạn, xe hơi, đủ thứ tiện nghi trong những ngày thăm miền Bắc. Nhưng hai chị em thích ở nhà cũ hơn để trò chuyện với Anh Đào và Tuấn. Hồng Hà hay Vĩnh Chân hỏi gì, Tuấn cũng như Anh Đào chỉ cười, bảo:

-Chúng em để cho anh chị tìm hiểu lấy, chúng em không có ý kiến vì chúng em suy nghĩ phiến diện chứ không bao giờ sắc sảo như anh chị.

Anh Đào nói thêm:

-Thời nhỏ không bao giờ anh chị thèm hỏi ý kiến bọn em, nay hỏi làm gì!

-A con bé này hỗn láo thật -Hồng Hà kêu lên – Mày thù dai quá. Thời trước mày bé xíu ai thèm hỏi ý kiến mày? Nay mày đã lớn, nghe nói còn là chiến sĩ gì đó, lại bắn rơi máy bay Mỹ nữa, lại là công chức quốc tế cao cấp, đúng không?

Tuy nói vậy nhưng Hồng Hà và Vĩnh Chân biết rõ vị thế tế nhị của các em mình và của Tuấn. Họ có đi xem “bệnh viện tư” của Tuấn và chỉ hỏi qua loa, không đi vao chi tiết. Trước khi trở lại Pháp, Hồng Hà có gọi riêng Anh Đào vào phòng và nói nhỏ:

-Em cũng biết là anh chị phải xem xét thêm nhiều thời gian nữa mới có quyết định dứt khoát về nước phục vụ hay không. Các em liên lạc thường xuyên cho anh chị và ba me biết tình hình.

-Vâng, – Anh Đào buồn bã nói – em cũng nghĩ như thế. Không phải ruêng anh chị mà cả ba me nữa, phải lâu nữa mới về chứ hiện nay chưa ổn đâu.

Một tháng sau khi Hồng Hà và Vĩnh Chân rời ViệtNam, người ta cho công nhân đến nhà phố Đồn Thuỷ của Anh Đào khuân đi tủ lạnh, máy giặt và nhiề thứ khác. May mà họ vẫn cho Anh Đào sử dụng nhà trọn vẹn, hkông ai lấn chiếm như trước. Đám hàng rong cũng không chiếm vỉa hè như xưa. Tuấn vẫn làm giám đốc bệnh viện “tư nhân” Đoàn Chuyên, nhưng thực chất đó là bệnh viện công nhu các bệnh viện khác. Số phận của nhân vật ở miền Bắc ổn định như vậy cho đến ngày đất nước thống nhất. Có một chi tiết đáng chú ý là Thiên Tân đi chiến trường lập được nhiều công lao trong lĩnh vực dùng nghệ thuật động viên quân đội chiến đấu . Mặt khác do giỏi ngoại ngữ (anh biết các thứ tiếng Pháp, Anh, Hoa ) nên giúp được bộ chỉ huy chiến trường theo dõi đài đối phương, tránh được nhiều cuộc đột kích bất ngờ và ngược lại gây cho đối phương nhiều phen hoảng loạn. Thiên Tân sau khi đất nước thống nhất có nhiều tác phẩm hội hoạ trưng bày ở Hà nội và Sài Gòn. Anh cũng đứng đầu một trường phái trẻ về hội hoạ “hậu hiện đại”.

Anh Thư, bạn học thời trẻ của Anh Đào, sau khi tốt nghiệp Nhạc viện Paris, trở về Sài Gòn làm phụ giảng ở Nhạc viện Sài Gòn, chuyên ngành lịch sử âm nhạc. Cô lấy chồng là bác sĩ quân y và có hai con, một gái một trai. Sau năm 1975, Anh Thư thất nghiệp, chồng đi trại cải tạo hai năm. Anh Thư theo lời khuyên của bạn bè mở một quầy bán sữa chua và kem trước nhà. Công việc khá bấp bênh nhưng cũng sống được qua ngày và nuôi hai con tiếp tục đi học. Khi chồng Anh Thư, tên là Nguyễn Quốc Vinh, gốc Hà nội, xong hạn cải tạo, phường gọi vợ chồng anh đến nói cho họ biết họ được bố trí đi xây dựng vùng kinh tế mới ở một tỉnh Tây Nguyên, gần biên giới Lào-Việt. Họ không hoảng hốt buồn phiền gì, vì hai hôm trước đó họ nhận được thư của Anh Đào động viên họ rất nhiều. Anh Đào vì quá bận việc nên chưa vào thăm họ được, nhưng sẽ vào sớm khi có điều kiện. Trước khi lên đường, Anh Thư ra buưu đện liên lạc với Anh Đào qua điện thoại. Anh Thư nói lời chia tay và nghe tiếng Anh Đào khóc nức nở. Một tuần sau, Tuấn và Anh Đào lên tận vùng kinh tế mới thăm bạn. Gặp nhau họ mừng rỡ khôn xiết, nhưng Anh Đào không che giấu được nỗ thất vọng cay đắng khi thấy bạn rơi vào hoàn cảnh khốn quẫn. Anh Thư nhìn Anh Đào nói đùa:

-Bọn mình cũng giống như các cậu cách đây hơn hai mươi năm thôi, có gì đâu mà lo. Mình tin có ngày mình cũng sẽ hoành tráng như cậu bây giờ, đúng không?

-Giờ này mà cậu còn đùa được sao? –Anh Đào nổi cáu – Ta bàn chuyện phải tính thế nào cho ổn đi. Tuấn và mình định vào đây đưa các cậu ra Hà nội, các cậu và hai cháu. Các cậu thì cũng nên thử thách cho biết cách mạng là gì…nhưng các cháu thì khác. Chúng phải được đi học nghiêm chỉnh, được ăn uống no đủ nếu không thì đã muộn. Đúng thế không?

Họ bàn đi bàn lại mấy ngày liền, không ai chịu ai. Cuối cùng vợ chồng Anh Thư  xin Anh Đào thư thả cho họ một năm, sau sẽ tính tuỳ theo thời cuộc diễn biến ra sao. Các cháu thì theo Anh Đào về Hà nội. Tuy nhiên đến phút cuối, Quỳnh Như, cô con gái, lăn ra khóc như mưa, không muốn bỏ lại cha mẹ ở chốn rừng sâu nước độc. Thế là chỉ có Hoài Bắc, cậu con trai, đi theo hai bác. Họ chia tay nhau buồn bã  và có linh tính là khó bề gặp nhau lần nữa.

Hoài Bắc về Hà nội được học hành tử tế, rồi Anh Đào chạy cho cậu ta được vào học ở Nhạc viện. Sau một thời gian được giải quốc gia về piano, rồi điViennedự thi giải quốc tế và cũng được giải nhì.

Trong khi Anh Đào và Tuấn về Hà nội rồi, Anh Thư cùng chồng và Quỳnh Như bắt đầu cuộc sống mới với quyết tâm cao nhất. Họ nghĩ là không thể chịu thua trong cuộc thử thách lớn này. Nếy Anh Đào, Thiên Tân rồi Tuấn, gốc gác như họ mà trụ được gian khổ rồi vươn lên khá cao, họ sao lại bó tay được? Tuy làm việc cả ngày lam lũ, tuy sống thiếu thốn mọi bề nhưng họ giữ được vẻ ung dung của người hiểu biết thời thế. Về sinh hoạt tinh thần, họ bằng lòng với vốn liếng ít ỏi mà họ mang theo: Một cuốn “Dế mèn phiêu kưu kí” của Tô Hoài cho Quuỳnh Như và cuốn “Chân trời cũ” của Hồ Dzếnh cho cả hai vợ chồng.  Hàng ngày Quốc Vinh vừa lao động vừa ngâm bài thơ “Phong Kiều dạ bạc” của Trương Kế:

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

            Giang phong ngư  hoả đối sẩu miên

            Cô Tô thành ngoại Hàn sơn tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền….

Quỳnh Như không có chỗ đi học. Ngày ngày lúc nào rỗi Anh Thư hay Quốc Vinh dạy cho con về Toán, Văn, Tiếng Pháp, Tiếng Anh. Sách vở không tìm đâu ra. Có hôm Anh Thư kiếm đâu đó cho con một xếp giấy đã viết một mặt và Quốc Vinh cho con một cái bút chì, Quỳnh Như mừng như bắt được vàng. Mừng đến nỗi đêm không ngủ được, mong sao trời sáng để viết, vẽ gì đó. Thấy con như vậy, vợ chống Anh Thư không còn kiên gan được nữa, họ vượt biên sang Lào và từ đó sang tị nạn một thời gian ở Thái Lan rồi được  nhận sang định cư ở Pháp. Hai vợ chồng cảm thấy xấu hổ với chị em Anh Đào nên không dám liên lạc gì.  Quỳnh Như học xong trung học thì thi đỗ vào Trường Bách Khoa nổi tiếng sau một thởi gian theo các lớp dự bị. Anh Thư được tuyển vào UNESCO làm việc trong bộ phận nghiên cứu âm nhạc các dân tộc. Quốc Vinh được tuyển vào tổ chức “Bác sĩ không biên gới”, đi nhiều nơi ở châu Phi và Tung Cận Đông. Cuộc đời như vậy cũng xem như tạm ổn.

( còn nữa)

                        CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE

Đỗ Cao Đàm ( sưu tầm)

Có những suy nghĩ, phán đoán về tình trạng sức khoẻ qua triệu chứng nào đó

mà chúng ta vẫn đinh ninh rằng đúng, nhưng thật ra đó lại chỉ là những tưởng

tượng hoang đường.

1.- Nếu bạn nuốt một mẩu kẹo cao su, dạ dày bạn sẽ phải mất tới 7 năm để tiêu hóa nó?

Giả thiết này cũng phần nào có lý vì kẹo cao su không thể bị phân rã

bởi men tiêu hóa của dạ dày. Mặc dù vậy, các nhà khoa học đã chứng minh

điều này hoàn toàn không thể xảy ra, bởi vì kẹo cao su không thể dính vào

thành dạ dày và khi dạ dày co bóp, mẩu kẹo này cũng sẽ phải đi xuống

ruột rồi ra khỏi cơ thể như những loại thức ăn khác.

2.-Gia vị cay gây ra bệnh viêm loét dạ dày?

Trước đây, mọi người thường cho rằng thức ăn có vị cay chính là

nguyên nhân gây ra những vết loét trong dạ dày. Những nghiên cứu khoa

học gần đây cho thấy điều này hoàn toàn không đúng. Phần lớn các vết loét

dạ dày là do một loại vi khuẩn có tên là Helicobater pylori (H. pyori), gây

ra hoặc do việc sử dụng quá nhiều các loại thuốc giảm đau như aspirin,

ibuprofen hoặc naproxen. Gia vị có thể làm tăng kích thước các vết loét

nhưng nó không phải là nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm loét dạ dày.

3.- Nâng vác các vật nặng gây ra thoát vị đĩa đệm?

Mặc dù hầu hết mọi người đều bị thoát vị đĩa đệm sau khi nâng một

vật gì đó nặng nhưng đây không phải là nguyên nhân chính. Thoát vị địa

đệm là kết quả của sự hao mòn cột sống mỗi ngày làm cho đĩa đệm dần

lệch ra khỏi vị trí ban đầu. Việc nâng vật nặng chỉ là nguyên nhân cuối

cùng làm cho đĩa đệm bị lệch ra hoàn toàn và chèn ép vào dây thần kinh.

4.- Nghiện rượu là nguyên nhân chính gây ra bệnh xơ gan?

Bệnh xơ gan là hiện tượng những tế bào khỏe mạnh bị phá hủy và

thay vào đó là những vết sẹo. Trước đây, chúng ta thường cho rằng những

người nghiện rượu rồi sẽ bị mắc bệnh xơ gan nhưng theo ước tính, số

người nghiện rượu chỉ chiếm một nửa số trường hợp mắc bệnh xơ gan.

Rượu làm phá hủy các tế bào khỏe mạnh nhưng viêm gan B và C mới là

nguyên nhân chính gây ra bệnh xơ gan.

5.- Quả hạch làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm chi nang?

Viêm chi nang là hiện tượng xuất hiện những bọc nhỏ trong ruột

già, gây sưng tấy và viêm nhiễm. Trước đây, những người mắc căn bệnh

này thường được hướng dẫn tránh xa những loại hạt như quả hạch, ngô và

bỏng ngô. Mọi người cho rằng những hạt này sẽ chèn vào các bọc và gây

ra đau đớn cho người bệnh. Nhưng một nghiên cứu năm 2008 đã chứng

minh theo hướng hoàn toàn ngược lại, ăn nhiều ngô, quả hạch và bỏng ngô

thực chất lại làm giảm nguy cơ mắc bệnh viêm chi nang.

6.- Hạt đậu gây ra tình trạng đầy hơi?

Mặc dù có rất nhiều câu chuyện hài hước về hạt đậu và hiện tượng

đầy hơi nhưng thực phẩm chế biến từ sữa mới là thủ phạm số một của

hiện tượng này. Khi về càng già, cơ thể chúng ta càng khó hấp thụ lượng

latoza trong sữa. Vì vậy, bạn không phải là người duy nhất cảm thấy đầy

hơi sau khi ăn những loại thực phẩm từ sữa. Hãy chuyển sang các loại

thực phẩm không đường hoặc tăng cường lactazy ezym trước khi ăn các

loại thực phẩm từ sữa.

(còn nữa )

Mục đính chính hoặc phản hồi các bài kỳ trước:

Thơ Trần văn Kinh số trước :

Hoàng hôn xào xạc cũng xa rồi! Không phải là xao  xác.
Để Bá Nha ru khúc biệt  hành. Không phải là rũ

Thành thật xin lỗi bạn đọc

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s