DOCAGO.wordpress.com Số ra ngày thứ 2 (19/9-2011)

CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

 

Đỗ Anh Thơ ( Bình giảng)

          Có thể nói: Xã hội hiện nay của chúng ta đang đứng trước sự tan vỡ không thể cưỡng lại nổi của nền tảng triết học Khổng Tử về gia đình- xã hội , những sợi dây, trật tự lien kết như quan niệm về tam cương, ngũ thường, trung hiếu…nhưng đồng thời chúng ta cũng chưa bao giờ tìm ra được cho gia đình xã hội trong tương lai một hướng đi có sức kết dính cao, tiếp thu nhưng luạt tự do cá nhân trong xã hội  phương Tây với cái “lề” (lệ giáo) tiến bộ đã thử thách qua nghìn đời nay của phương Đông.

Bởi vậy chuyên mục văn hóa ĐÔNG TÂY này chủ yếu nhằm xới lên những vấn đề là để bạn đọc tham khảo và thảo luận. Muốn đi sâu hơn, bạn đọc có thể tìm đọc “ Những câu nói bất hủ của Khổng Tử” hay Trí tuệ Khổng tử vùa xuất bản.

Khổng tử nói:   Mềm mỏng trước sai lầm của cha mẹ

Nguyên văn: Sự phụ mẫu kỷ gián, kiến chí bất tòng, hựu kính bất vi, lao nhi bất oán.

         ﹐見       ﹐又       ,      .

CHÚ GIẢI: Câu này ở trong Chương Lý nhân.

– Sự (shi): phụng sự.

– Gián (jian): khuyên can.

– Chí (zhi): chí hướng, tâm ý. Dưới sĩ có chữ tâm có ý là kẻ sĩ mà có tâm tức là có chí vậy.

– Tòng (cóng): theo. Chữ tòng gồm bộ nhân đứng với hai chữ nhân, chữ tẩu biểu thị đi, chạy theo.

– Vi (wéi): vi phạm.

– Lao (勞-láo): lo lắng, âu sầu. Lao gồm chữ lực đứng dưới chữ hỏa, có ý nói làm việc vất vả dưới trời nắng gắt.

– Oán (怨.-yùan): oán giận. Oán: dưới noãn (tượng thanh) có chữ tâm, biểu thị sự uất ức trong lòng.

DỊCH:

            Đạo thờ bố mẹ là: khi họ có sai lầm thì nhẹ nhàng khuyên can. Cha mẹ mà không nghe theo thì vẫn phải kính trọng, không được tỏ thái độ vô lễ, tuy trong lòng buồn phiền đó nhưng không nên oán giận.

BÌNH:

                       Cha mẹ không phải lúc nào cũng đúng. Càng về già càng khó tính, càng lộ rõ tính chất gia trưởng, bảo thủ. Trung Quốc có câu:

Thiên hạ vô bất thị phụ mẫu” nghĩa là trong thiên hạ không có ai không đúng ( sai) như bố mẹ. Trong hoàn cảnh gia đình lục đục, thế hệ con cái ở nước ta cũng đã thốt lên:

Muốn nói ngoa thì làm cha mà nói!

Nhưng con cái trước sai lầm, khắt khe của bố mẹ phải có thái độ như thế nào?

Phương Tây, con nhỏ đã có quyền kiện bố mẹ. Đúng 18 tuổi là có quyền quyết định tuyệt đối. Nghiên cứu về quan hệ tình cảm cha mẹ với con cái, ta thấy có đường biến thiên rõ rệt. Trẻ thơ, con cái là vũ trụ của bố mẹ và ngược lại. Đó là tình yêu thương có quan hệ hai chiều ngang bằng nhau chứa nhiều phần cảm tính. Tới tuổi trưởng thành là quan hệ nhiều chiều, thường là ba chiều vì có thêm vợ hoặc chồng và con cái. Tình cảm đã san sẻ đi một phần cùng với quyền độc lập về kinh tế. Lúc này, nếu chúng ta không có đủ tri thức, đạo đức luân lý thì xử lý cực kỳ khó khăn. Vì đến lúc này quan hệ cha mẹ với con đã có nhiều yếu tố lý tính hơn. Đối với hôn nhân của chúng, ta góp ý như thế nào? Ta tôn trọng hạnh phúc lứa đôi của chúng ra sao? Con cái trong gia đình bé nhỏ đang ở chung hoặc đã tách ra phải có trách nhiệm với bố mẹ đến đâu, để có thể làm gương cho con cháu học tập? Lời khuyên của Khổng Tử có giá trị cho ta tham khảo để xây dựng cho được môt nèn văn minh gia đình theo truyền thống phương Đông mà nhiều nhà đạo đức học phương Tây thấy rằng, xã hội bên đó đã đánh mất đi khi chủ nghĩa cá nhân phát triển đến mức tuyệt đối.

 

                                         CHUYÊN MỤC THƠ VĂN

 

Trương Quang Đệ:

           Người Hà Nọi (Kỳ 3)-Đại đoàn viên

 

Năm 2006, nhân kỷ niệm 70 năm thành lập Bảo tàng nghệ thuật Phương Đông, người ta tổ chức một hội thảo lớn tại Hà nội, tập hợp nhiều học giả Việt Nam, Trung Hoa, Nhật bản và Pháp. Hội thảo cũng là dịp tôn vinh người sáng lập, ông André lévy và một tượng bán thân của ông được đặt ngay sân trước bảo tàng. Người ta cũng tôn vinh ông bà Văn Thành là những người có nhiều đóng góp vào việc giữ gìn và phát huy văn hoá dân tộc Thiên Tân là một trong các vị chủ trì hội thảo.

Sau hội thảo, Anh Đào và Tuấn cùng anh chị em, bạn bè khai trương nhà bảo tàng Văn Thành-Đoàn Chuyên tại nhà ngả bảy, phố nhà thương Đồn Thuỷ. Bảo tàng là nhà trưng bày những đồ vật lưu niệm của  ông bà Văn Thành và của bác sỹ Đào Chuyên. Ông bà Văn Thành đóng góp nhiều cho di sản văn hoá dân tộc, còn Bác sỹ Chuyên là hiện thân cho đạo đức nghề nghiệp, chỉ biết chăm lo cho người bệnh mà không tính toán hơn thiệt trong nghề.

Vợ chồng Anh Đào đã có nhà riêng sang trọng tại Hà nội, Thiên Tân thì ở gác xép của nhà cũ, coi sóc bảo tàng luôn thể. Ông bà Văn Thành về thăm quê vài lần rồi mất tại Pháp nhưng có nguyện vọng đem tro về gửi tại một ngôi chùa ở ngoại thành. Nguyện vọng đó dược con cháu thực hiện chu đáo.

Sau buổi khai trương Anh Đào tổ chức một tiệc đứng lớn trong vườn nhà bảo tàng có rất nhiều bạn bè tham dự nhưng nhóm hạt nhân vẫn là con cái gia đình ông Văn Thành, gia đình bác sĩ Đoàn Chuyên, Anh Thư cùng chồng và hai con. Khi tiệc buffet gần tàn thì bà Tâm, vợ ông Cầm, người phụ nữ tốt bụng hồi xưa gánh một gánh kĩu kịt đi vào cửa. Anh Đào, Tuấn và Thiên Tân hết sức mừng rỡ, giới thiệu bà Tâm với khách. Bà Tâm thổ lộ:

-Ông nhà tôi phái tôi đến mừng các anh chị sum họp. Chúng tôi có gánh quà làng quê mong các anh chị đừng cười mà dùng cho vui.

Bà mở khăn phủ các thúng đồ ra thì mọi người reo lên khi thấy nào khoai lang, sắn, xôi gà, xôi gấc….toàn những thứ mà họ thích thời thơ ấu.

Vĩnh Chân nói:

-Tôi nghe các em tôi kể nhiều về ông bà. Ngày mai khi chúng tôi đi thăm nông trường Tân Sở để xem túp lề tranh và hai quả tim vàng của Tuấn và Anh Đào, chúng tôi sẽ tiện đường lên Ba Vì thăm hai bác.

-Thế thì còn gì bằng! – Bà Tâm nói, nét mặt rạng rỡ.

-Trên đó nghe nói có đường lên Trời phải không? -Quốc Vinh hỏi làm mọi người cười rộ lên thích thú.

Bà Tâm không lúng túng chút nào:

-Có đấy. Leo lên được trên đỉnh Non Tản là có đường lên Trời. Mà cạu định đi gặp ai trên đó?

-Cũng muốn hỏi xem mấy việc đời cho đến nay chưa được ai giảng giải rành mạch. Mà thôi, nếu có ngôi chùa nào thì vào đó hỏi các vị sư cũng được.

Anh Thư đề nghị mọi người bỏ chút thì gìơ nghe các cháu hát vài bài cho vui. Cử toạ  tán thưởng ngay. Ai cũng biết Hoài Bắc là một cây piano sắc sảo, tầm cỡ quốc tế và Quỳnh Như có giọng hát dịu dàng hiếm có. Mọi người nhao nhao đề nghị chọn bài hát mình thích. Có người đề nghị các bào “Diễm xưa” và “Một cõi đi về của Trịnh Công Sơn, có người đề nghị “Tình nghệ sĩ của Đoàn Chuẩ, có người xướng lên bài “Mùa xuân đã về” của Văn Cao. Nhưng khong hiểu sao quyết định cuối cùng rơi vào bài “Lá rụng”, nhạc phổ thơ J. Prévert.

          “Ôi, anh tha thiết mong em hồi tưởng lại

          Những ngày vui trong tình bạn sum vầy

          Thuở ấy  cuộc đời sao mà đẹp mà êm ái

          Đến mặt trời cũng nón bỏng hơn ngày nay…..”

Tiếng hát và tiếng đàn vang ra tận đường phố. Một số người đi đường dừng lại nghe. Họ cảm thấy như đang sống trong không gian mờ ảo với tiếng nhạc từ cõi thần tiên nào vọng lại.

 

 

Trương Quang Đệ

2009.

 

              Trần văn Kinh : Người Hà nội như tôi biết.

(Nhân đọc truyện ngắn Người Hà nội  của Trương Quang Đệ )

————————–

 

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng an

 

Chẳng biết từ bao giờ, hai câu thơ ấy về người Hà Nội cứ luẩn quẩn trong tâm trí của tôi. Dần dà theo thời gian, tích cách và phong thái người Hà Nội lại như nhắc nhở tôi rằng hai câu thơ ấy đáng lẽ phải sửa lại, phải “chuẩn” hơn một chút. Chẳng hạn như là :

 

Không thơm,chẳng phải hoa nhài

Không thanh lịch, chẳng phải người Tràng an.

 

Ý tưởng đó cứ bám dai dẳng trong đầu óc tôi. Nhiều lần tôi muốn ghi lại những mẩu chuyện mà tôi đã gặp trong nhiều năm tháng, những mẩu chuyện về người Hà nội thực sự, lâu đời, người Hà nội trung lưu, bình dân…, nhất là trong những giai đoạn chuyển tiếp thời cuộc, để nói lên cái phong thái người Hà nội. Nhưng vì nhiều lý do khác nhau, việc đó cứ để chần chừ mãi. Đặc biệt là mỗi khi nghĩ đến các truyện ngắn đặc sắc viết về Hà nội như của các vị tiền bối Thạch Lam, Nguyễn Tuân…thì ôi thôi! Khiếu văn chương cỡ mình thì…thôi dẹp, dẹp.

Bỗng nhiên một ngày, tôi nhận được bài viết ” Người Hà Nội” của bạn tôi Trương quang Đệ gửi tặng. Thì đây! Người Hà nội đây! Người Hà nội như tôi biết đây! Đúng thế. Cám ơn Đệ . Vậy là Đệ đã viết ra, và như thế đã “lôi cuốn” tôi cùng tham gia, dù chỉ vài điều, để hưởng ứng với Đệ. Vì sao thế? Vì Đệ viết chuyện “Người Hà nội” cũng tế nhị như người Hà nội. Đệ chỉ thuật lại sự việc chứ không hề nói một câu, người Hà nội như thế nào, là xanh, hay đỏ, hay vàng, hay nhờ nhờ…Còn tôi, là độc giả, thì tôi bình luận, góp chuyện… được chứ?

 

 

Người Hà nội tế nhị và nhạy cảm.

 

Chỉ cần một thoáng nhìn, một cách bày tỏ ý kiến, người Hà nội đã biết mình ở vào vị trí như thế nào trong con mắt người đối thoại. Ông Văn Thành là một người như thế. Đang ôm ấp ý định ở lại (như bao nhân sĩ trong vở kịch “Những người ở lại” của Nguyễn Huy Tưởng), ông ta bỗng thay đổi ý kiến ngay sau khi tiếp xúc với Nhật Tín. Thế, còn Nhật Tín? Nhật Tín vốn cũng là một người Hà nội, nhưng trong câu chuyện này, Nhật Tín đã ở vị trí khác, và đang làm nhiệm vụ cấp trên giao, việc của ông ấy là như thế! Có thể là trong thâm tâm của Nhật Tín vẫn còn cái chất nhạy cảm của người Hà nội, nhưng sẽ phải ở một hoàn cảnh khác, biết đâu đó sau này. Cái nhạy cảm cũng cần sự nâng đỡ của tự do.

Còn với gia đình ông Văn Thành, dù khi ông bà ấy đã qua đời, thì con cái ông bà ấy vẫn cứ là những người tế nhị và nhạy cảm. Việc người ta sắp xếp nhanh chóng công việc mới cho Anh Đào và Thiên Tân, cho BS Đoàn Tuấn, việc vội vàng tu sửa để trả lại ngôi nhà với tiện nghi nhiều hơn trước… không qua được con mắt của những con người nhạy cảm ấy. “Các anh chị ấy chỉ cần liếc qua một tí là họ hiểu đầu đuôi câu chuyện ngay…”,  “Các anh chị tôi sẽ thấy không có sự tin cậy”  (Lời của anh Đào).

Tôi cũng như Trương quang Đệ, vốn không sinh ra ở Hà nội, nhưng nhờ sự biến chuyển mau lẹ và tích cực của thời cuộc, chúng tôi đã trở thành lớp người đầu tiên có mặt ở Hà nội sau ngày Thủ đô giải phóng 10/10/1954. Học Đại học khoa học (lớp MPC rồi sau đó là khoa Toán) ngay sau khi vừa tiếp quản thủ đô, vinh dự được làm học trò của những người thầy nổi tiếng như các giáo sư Lê Văn Thiêm, Vũ như Canh, Nguyễn Thúc Hào, Nguyễn Cảnh Toàn, Ngô Thúc Lanh, các gíao sư triết học và văn chương Trần Văn Giàu, Cao Xuân Huy, Hoàng Xuân Nhị …mà những thế hệ sau không dễ gì có được. Tốt nghiệp rồi ra công tác ở Hà nội (có thời gian ngắn là gần Hà nội) cho đến tận bây giờ nghỉ hưu giữa lòng Hà nội. Trương Quang Đệ thì sau ngày giải phóng miền Nam ít lâu đã chuyển vào dạy ở ĐHSP Huế , rồi sau đó nghỉ hưu ở TPHCM. Nhưng hơn 20 năm , vào buổi bình minh của nhận thức, vào lúc sung sức nhất và lòng khao khát hiểu biết nhất, cuộc đời chúng tôi đều đã trải ra ở Hà nội.  Dường như cứ một hai tuần, lâu lắm là hàng tháng, chúng tôi lại gặp nhau trong các lớp chuyên đề mà nhiều nhất là của giáo sư Tạ Quang Bửu (Về Cấu trúc của Bourbaki, về Thuyết tương đối, hẹp và rộng của Einstein, về Logic Toán, về  Không gian tôpô, về lý thuyết các Tai biến…), các buổi nói chuyện khoa học của Giáo sư Trần Đại Nghĩa (về Lý thuyết thông tin, về Cơ sở khoa học của Quản lý…) các buổi nói chuyện văn chương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Hoài Thanh, Xuân Diệu… Vì thế mà  ấn tương về những ngày tháng sống ở Hà nội hồi ấy trong chúng tôi là hết sức phong phú và sâu đậm. Ngay cả những việc rất nhỏ tưởng như dễ qua đi, nhưng bất chợt lại hiện ra rành rọt như in, đôi khi với cái xuýt xoa đầy thú vị.

Hồi những năm còn bao cấp, tôi được cơ quan phân nhà ở một phòng trên gác ba của một gia đình ở phố Hàng Bạc. Gia đình này trước có cửa hàng riêng và có cổ phần ở xí nghiệp Dệt Cự Gioanh, phố Hàng Quạt. Sau khi được đưa  vào công tư hợp doanh một thời gian rôì sáp nhập vào nhà máy Dệt 19/5 ở phố Hàng Chuối, cả hai ông bà và con cái gia đình này cũng trở thành người của xí nghiệp ấy, chẳng khác chuyện của BS Đoàn Tuấn là mấy. Nhà của ông bà ấy có 3 tầng, 6 phòng, nhưng chỉ có các phòng ở tầng một và tầng hai là rộng (khoảng 30-35 m2), còn hai phòng ở tầng ba thì nhỏ hơn, chỉ chừng 15- 20 m2. Nhà nước lấy 4 phòng của họ, một phòng ở tầng một làm cửa hàng bán gạo, còn một phòng tầng hai và hai phòng tầng ba thì phân cho cán bộ nhà nước đến ở. Chả biết có phải là may mắn hay không mà tôi đã trở thành một trong ba người này. Các hộ ở chung trong nhà này tuy có nguồn gốc khác nhau như vậy, thậm chí có thể coi như đó là kẻ đi ước đoạt và người bị tước đoạt, nhưng cả ba hộ cán bộ cùng với ông bà chủ nhà cũ hết sức thân mật và sống dễ chịu. Hai đứa con tôi, một đứa sinh ra ở nơi khác nhưng đến Hàng Bạc mới bắt đầu đi học lớp một, một đứa thì sinh ra ở Hàng Bạc và chúng đều lớn lên từ đấy. Tuổi thơ của chúng nó đầy ắp kỷ niệm. Sau này khi chúng tôi đã chuyển nhà đi nơi khác rồi, mối liên hệ vẫn không bị gián đoạn, dù có thưa thớt đi, đương nhiên.  Hồi đó, thỉnh thoảng mấy người chúng tôi ngồi uống trà với nhau, nhất là sau những buổi làm vệ sinh hay thau bể nước chung…, đàm luận về thế sự và văn chương, nhắc đến những nhân vật trong truyện ngắn  “Đôi mắt” hay “Một lần đến thủ đô” của Nam Cao, nhân vật Tào Tháo trong Tam Quốc…, nhắc lại những mẩu chuyện về Bác Hồ mà mình may mắn được trực tiếp chứng kiến hoặc nghe người chứng kiến thuật lại, với lòng khâm phục. Đôi khi cao hứng thì nhắc lại một câu ngạn ngữ Pháp hay một câu thơ cũ trong Thi nhân Việt Nam mà tất cả đều thấy sảng khoái . (Cũng xin mở ngoặc rằng nhà thơ , nhà khảo cổ học, nhà văn hóa Phạm Huy Thông vốn là con rể của gia đình họ Trịnh này, có nhà cùng phố và chỉ cách nhau độ vài chục mét, còn anh Phạm Huy Cường, em trai nhà thơ Phạm Huy thông , hồi ấy đang là bạn cùng viết sách giáo khoa ở Bộ Đại học và THCN với tôi}. Cuộc đời đạm bạc, bần hàn như thế kể cũng êm đềm và “đài các” thật.

Thế mà một hôm, cũng có một chuyện xảy ra. Nhà hàng xóm ở sát tường nhà chúng tôi, làm một cái máng nước mưa, hơi chìa sang một tí, như thế khi mưa to nước sẽ bắn sang tường nhà chúng tôi. Hồi ấy sửa nhà , dù chỉ một chút, cũng khó lắm, vì lấy xi măng và vật liệu ở đâu ra? Chúng tôi nhìn ngó, chỉ chỉ trỏ trỏ, nhưng chẳng đưa ra được ý kiến gì. Mà nhà hàng xóm này lại cũng là bà con với chủ nhà nữa. Cuối cùng chúng tôi làm theo kế sách của chị chủ nhà: Cả 5 người (anh chị chủ nhà và ba cán bộ chúng tôi) kéo sang chơi rồi nói chuyện với họ. Sau khi hai bên chào hỏi xong, khen nhau vài câu thân thiết theo thông lệ, bà hàng xóm mời ngồi, phân ngôi chủ khách (bốn người chúng tôi ngồi lên một cái sập gụ), rồi mới nhẹ nhàng ướm hỏi: “Hôm nay các cô, chú bên nhà qua chơi vui hay là có gì không đấy?” Bốn người đàn ông chúng tôi liếc nhìn nhau rồi người thì giả vờ ngoảnh nhìn ra ngõ, người thì bưng chén nước lên nhấp môi… chỉ nghe thấy có tiếng đằng hắng :”E hèm, e hèm, dạ dạ…” nhưng chẳng có ai nói câu gì!

Thấy vậy, chị chủ nhà chúng tôi bèn thưa: ” Dạ, chúng em muốn thưa với hai bác về cái máng nước bác mới làm, nó hơi nghiêng sang bên nhà em một chút, sợ hôm mưa to thì nó chảy vào tường bác ạ! “. “Thế ạ. Chết chết ! Tôi vô ý quá. Để tôi cho sửa lại ngay. Các cô chú yên tâm. Mà sao cô không bảo tôi, một tiếng là xong, chứ làm gì mà phải phiền hà đến các ông thế!” Nghe bà hàng xóm nói thế, cả bốn chúng tôi tranh  nhau: ” Dạ không! có gì phiền hà đâu ạ. Hôm nay nghỉ chủ nhật, rủ nhau sang thăm hai bác thôi mà!”.Rồi câu chuyện chuyển ngay sang bình luận thời tiết năm nay thất thường, chuyện rau muống ở cửa hàng mậu dịch sáng nay ngon lắm…Sau chuyện này, tôi lại càng thấy rõ các cụ ngày xưa dạy là rất đúng: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”. Ở đời, đâu phải cái gì mình cũng biết! Cụ Khổng chẳng đã dạy: “Tri chi vi tri, bất tri chi vi bất tri, thị tri dã” đó sao ? Biết thì làm (theo cách) biết, không biết thì làm (theo cách) không biết, ấy là biết vậy!

 

Người Hà nội đặt niềm tin vào lý trí và đặt lý trí vào niềm tin. Họ không bao giờ là người vô ơn.

 

Ông Văn Thành tin ông Lévy, hai chị em Anh Đào và Thiên Tân tin vào những người cách mạng và kháng chiến, Đặng Tiến tin vào hai chị em Anh Đào và Thiên Tân…Đó là những niềm tin của lý trí và cũng là lý trí của niềm tin. Những niềm tin ấy là không bao giờ thay đổi

 

Khi người Hà nội, dù ở tầng lớp nào, nhận sự giúp đỡ của ai, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn, họ mãi mãi biết ơn người đó. Và nếu có được djp đền ơn, họ sẽ cố làm cho bằng được, không cần quan tâm đến hậu quả. Đặng Tiến tìm ông Trưởng phòng tổ chức Trương Đại học Y khoa, đến nông trường gặp hai chị em anh Đào và Thiên Tân. Ông bà Thức nhận lời ủy thác của ông Văn Thành trông nom con cái và nhà cửa cho họ, và sau này trả nhà cho Anh Đào. Ông Cầm bà Tâm vượt mấy chục cây số, tìm gặp Anh Đào và Thiên Tân để xin phép ở nhờ nhà ông bà Văn Thành mặc dù trong tay họ có giấy tờ của các cấp phân nhà cho họ. Và còn hơn thế nữa, bà Tâm mang tặng cả một “gánh hàng nhà quê” mà thưở nhỏ con cái ông bà Văn Thành rất ưa thích . Ngay cả ông giám đốc Trực, khi phải chia tay Anh Đào và Thiên Tân, cũng đã nói lên lòng biết ơn hai bạn trẻ này. “Những người tận tình như Anh Đào và Thiên Tân moi ở đâu ra?”  Hay như anh Khôi, người phát ngôn của Phái đoàn ta tại Hội nghị Paris nói về các anh chị của Anh Đào: “Chị  Hồng Hà, chị Hương Giang và anh Vĩnh Chân nhiệt tình lắm, giúp cho Phái đoàn ta nhiều việc hệ trọng, họ rất sắc sảo” ….Những tình tiết đó khắc họa những gì mà người Hà nội tin cậy và biết ơn.

Trong lịch sử cũng từng có những trường hợp như vậy. Vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ 19, sau khi đã chiếm xong Nam Kỳ, quân Pháp nhiều lần đánh ra Hà nội. Trong khi phe chủ hòa (thực chất là hàng giặc) thắng thế ở triều đình nhà Nguyễn, thì ở đất Hà thành, quân và dân vẫn dốc lòng chống ngoại xâm, bảo về đất nước, dưới sự lãnh đạo lần lượt của hai vị Tổng đốc Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu. Hai vị đó không phải người Hà nội, nhưng đều là con dân đất Việt, đã hy sinh oanh liệt vì Hà nội, để lại trong lòng nhân dân niềm kính trọng và biết ơn sâu sắc. Lời viếng vị Tổng đốc Hoàng Diệu (1883) của các sĩ phu Hà nội vẫn như còn dư âm đến mãi sau này:

Người người như tiên sinh

Hà thành đâu nỗi thế

Người người khác tiên sinh

Hà thành đành thế nhỉ!

Những người lãnh đạo mà yêu nước, yêu dân thì nhân dân cũng yêu mến họ.

 

Người Hà nội có chừng mực, không thái quá, không cực đoan.

 

Nếu nói là họ không đấu tranh, e chỉ đúng có một phần.  Thực ra là họ có chừng mực, biết thế nào là đủ để dừng lại (tri túc, tri chỉ ). Đặng Tiến đấu tranh với ông Trưởng phòng tổ chức rồi cũng phải dừng lại, vì biết là không thể khác được. Tổng cục trưởng nghe chuyện xong cũng chỉ buông một câu: “Hóa ra trong Đảng có những phần tử ghê gớm như vậy. May mà hắn không làm thủ trưởng của mình”. BS Đoàn Tuấn chấp nhận làm cái chân PGĐ phụ trách đời sống, lo chuyện thực phẩm cho công nhân, thì cũng thế. Đến mức về sau cũng không thấy cần phải thay đổi làm gì, ” cứ làm như hiện nay….vừa dễ cho tôi mà cũng không phiền hà gì đến các anh”.

Các du khách ngày nay đến Hà nội lần đầu khó mà biết được điều này: Người Hà nội không lợi dụng cơ hội cho lợi ích riêng nhỏ nhen, không bóp chẹt ai, không tham lam, ăn lãi quá đáng. Hãy đến các phố cổ, tiếp xúc với người Hà nội cũ mà xem. Bát mỳ mằn thắn hay bát phở, đĩa bánh cuốn hay chiếc bánh cốm, chén trà hay tách cà phê…tất tất đều tinh khiết, sạch sẽ, ngon lành, chu đáo, và giá cả vừa phải. Dân bắt chẹt khách chỉ là số ít, và là dân từ đâu mới đến, như chưa được thuần hóa! Cả những cái khoản nói ngọng (Hà lội…), mở mồm ra là nói tục chửi bậy, cởi trần trùng trục đi ngoài đường, ăn mặc lố lăng…đích thị không phải là dân Hà nội cũ. Họ không đại diện cho người Hà nội như tôi biết.

Nhân đây tôi lại xin nói một điều về hai từ “tứ chiếng”. Hà nội từ xưa (1010) đã là kinh đô Thăng long. Gần xung quanh có bốn trấn (tứ trấn), đó là Sơn đông (vùng Hải dương, Hưng yên…), Sơn tây (vùng Sơn tây, Phúc thọ…), Sơn nam (Hà đông, Hà nam, Nam định…) và Kinh Bắc (Bắc ninh, Bắc giang), Xa nữa là các châu, lộ….”Dân tứ trấn” là từ chỉ dân xung quanh mới về Hà nội. Dần dà đọc chệch đi thành “dân tứ chiếng”. Còn bảo “Thăng long tứ trấn” là bốn ngôi đền Quán Thánh, Voi phục, Bạch Mã và Kim Liên thì tôi mới được nghe sau này.

Tôi hân hạnh đã có trên nửa thế kỷ cùng sống và làm việc với người Hà nội lâu đời. Không những trong công việc mà cả trong cuộc sống hằng ngày. Ngay mới gần đây, khi đi chữa cây đàn óc- gan cho cháu ngoại tôi, tôi may mắn lại gặp được người chủ cửa hàng là dân Hà nội cũ, và họ đã làm tôi thật dễ chịu!

Người chữa đàn ooc-gan ở phố Lý Quốc Sư tuổi cỡ trung niên, chữa xong goi điện thoại tôi đến lấy đàn. Anh vừa buộc đàn lên xe cho tôi vừa nói: -Đàn của bác tốt lắm, chẳng hỏng cái gì, nhưng bác để lâu không dùng, cái adaptor bị chảy, cháu đã thay rồi. –Cám ơn, vậy bao nhiêu tiền tất cả? -Bác đến quầy thu ngân kia trả tiền cái adaptor, còn tiền công thì cháu tặng bác. -Sao cơ? – Cháu thấy một người ông như bác chăm sóc cho cháu mình như vậy, cháu xin góp chút công tặng cháu bé ở nhà!….Những lời nói và cử chỉ đẹp đẽ tương tự như thế tôi cũng được nhận từ ông già ban khóa càng xe  ở Phố Huế mà giá chỉ bằng hơn một nửa ở đường Phủ Doãn, hay là bác bán thắt lưng da ở phố chợ Ngọc Hà chiều ý khách, đã thay cho tôi đến ba bốn lượt khóa tôi mới vừa ý mà không hề khó chịu, cũng không hề lấy tiền công khi tôi ngỏ ý trả thêm. Tôi luôn luôn nghĩ rằng những người như thế thật xứng đáng với lời khen văn minh và thanh lịch.

 

Người Hà nội ưa chuộng thứ nghệ thuật thanh tao.

 

Trong hoàn cảnh nào cũng thế, họ vẫn giữ cho mình một chút riêng về thưởng thức văn chương, nghệ thuật. Vất vả như vợ chồng Anh Thư, vẫn đọc “Chân trời cũ”, vẫn ngâm ” Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên…”. Còn như trong buổi “Đại đoàn viên” của Người Hà nội, người ta nhắc đến “Diễm xưa”, “Tình ngệ sĩ”, “Mùa xuân đã về” hay là “Lá rụng” phổ thơ J. Prévert….

Cả đến bây giờ cũng thế thôi. Mới hai ba năm trước, AB bank của Ánh Tuyết ra Hà nội, người xem chen nhau mua vé (trong đó có vợ chồng tôi), vì mê giọng hát của Ánh Tuyết và vì chương trình của Ánh Tuyết là nhạc của Văn Cao, Đoàn chuẩn-Từ Linh, Trịnh công Sơn…

Nhạc cách mạng và nhạc trẻ cũng thế. Vấn đề là ở bài hát, ở chính nhạc sĩ và ca sĩ. Nói đến Nguyễn văn Thương, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Văn Tý, Huy Thục, Huy Toàn, Nguyễn Đức Toàn … hay gần đây hơn như  Phú quang, cả Trọng Đài, Nguyễn Xuân Phương, Giáng Hương….  thì dân Hà nội cung “mê lắm”.

Bây giờ thì nhiều nhạc sĩ giỏi, ca sĩ hay, cả nhiều trí thức tài ba ở nhiều lĩnh vực khác nhau (trong đó có những người thấy của chúng tôi) đã chuyển vào sống ở TP HCM. Nghĩ đến họ, tôi càng thấy tin tưởng: rồi TP HCM chẳng những là đầu tàu về kinh tế, mà còn cả trong nhiều lĩnh vực khác về văn hóa nữa.

Một lần vào khoảng gần tết năm 2005, tình cờ tôi ghé vào một quán băng nhạc ở phố Đội Cấn, gần đối diện với nhà trưng bày B52, bỗng bắt gặp dĩa nhạc với tít đề là “Hà nội ngày tháng cũ” của ca sĩ trẻ Ngọc Hạ, đoàn Thúy Nga – Paris by night . Tết ấy, hình như hễ rảnh lúc nào là nghe Ngọc Hạ lúc ấy, chẳng riêng tôi, mà cả gia đình tôi cũng thế.. Rồi không biết cảm xúc đến lúc nào, cảm xúc khi được nghe những bài hát hay về Hà nội, về sông Hồng, về đất nước từ những ca sĩ ở xa mà lắng trong Hà nội, tôi đã làm bài thơ đề tặng Ngọc Hạ (đã in trong nhiều ấn phẩm về thơ ở Hà nội, trong đó có tập Dấu ấn mùa thu của tôi , NXB Văn học xuất bản năm 2010 ). Bài thơ nhan đề là Chiều sâu đôi mắt, trong đó có đoạn:

 

Bình yên, bình yên gió sóng

Cho ta lắng khúc nhạc hường

Cho ta chớp hồn tia nắng

Chiều sâu đôi mắt em thương

 

Ở đâu dòng sông Hồng chảy

Em nang hồn việt hòa ca

Ở đâu mắt em nhấn phím

Mà rung nơi trái tim ta !

 

Đọc đến đây chắc  có bạn sẽ bảo : Thì có gì là lạ? Người ở đâu mà chả vậy ! Vâng! Tôi cũng nghĩ thế hay là cũng mong thế. Nhưng tôi chỉ nói về Hà nội là vì tôi đã sống ở đây hơn nửa thế kỷ rồi. Mà cũng chỉ nói những điều liên hệ thấy sau khi đọc truyện ngắn của Trương Quang Đệ mà thôi. Chứ nói đầy đủ về Hà nội thì đâu dám. Mà nói về địa phương khác, lại càng không dám !

 

Hà nội mùa hè 2011.

Trần Văn Kinh.

 

 

 

CHUYÊN MỤC : CHUYỆN XƯA…CHUYỆN NAY

Hiếu Bình:

Số phận má hồng của 3 kiều nữ ‘nức tiếng’ Hà thành

Cô Tư Hồng, Ba Tý và Thị Phượng đều là những nàng Kiều mang kiếp “hồng nhan mệnh bạc”, khiến người ta chỉ cần nghe tên, phải ngậm ngùi xót thương…

 

Ba ngôi mộ của họ từng vô tình ở vào ba góc nhọn của một hình tam giác ở quận Hai Bà Trưng; nhưng nay, do Hà Nội thay đổi nhiều, không ai rõ họ đã lưu lạc về đâu.

Cô Tư Hồng: Đôi mắt khiến đàn ông nhìn vào là tự nguyện khuất phục

Theo nhiều tư liệu, cô Tư Hồng tên thật là Trần Thị Lan, quê ở Phủ Lý (Hà Nam), có nhan sắc và thông minh. Đồn rằng, đôi mắt cô “nhãn trung hữu thuỷ” (trong mắt có nước) làm cho đàn ông nhìn vào là tự nguyện khuất phục.

17 tuổi, Thị Lan bị ép làm hầu một tên chánh tổng trong làng. Do chênh lệch tuổi tác, cô bỏ trốn sang Nam Định. Ở đây một thời gian, cô ra Hải Phòng đi ở và sau đó, lấy chủ hiệu buôn người Hoa, tên Hồng nên người ta gọi là thím Hồng. Ít lâu sau ông chủ Hồng vỡ nợ, phải trốn về Trung Quốc, Thị Lan trở nên bơ vơ, đã gặp một bạn gái làm me Tây khuyên lấy chồng Tây…

Nguyễn Thị Lan lên Hà Nội giao du với đám me Tây và hành nghề tú bà. Trong một bữa tiệc nhà quan, cô quen biết với quan tư Croibier Huguet, một cố đạo phá giới và nhanh chóng tiến tới hôn nhân. Theo tục của người Việt, phải gọi cô là Tư Lan mới đúng nhưng cô đã ghép tên chồng cũ với chức quan tư của chồng mới… thành Tư Hồng (xuất xứ tên gọi này là thế).

Dựa vào bóng của ông quan Tư, cô đã thầu vật liệu xây dựng, cơm tù cho các trại giam, nhà tù. Cô kinh doanh xây dựng nhà ở, dinh thự, cầu cống, mở các hãng buôn lớn. Thời đó, thành phố Hà Nội được lập nên thành nhượng địa Pháp theo đạo dụ ngày 1/10/1888, vì thế các quy định của nhà Nguyễn không có giá trị với thành phố này. Để xóa dấu ấn văn hóa Trung Hoa và văn hóa Việt ở Hà Nội nhưng núp dưới chiêu bài mở mang và xây dựng, Hội đồng thị chính đã họp và đi đến quyết định đập bỏ Bắc thành để xây trại lính. Ngày 28/7/1893, Hội đồng thị chính đã ra quyết định chính thức. Việc phá dỡ thành được mang ra đấu thầu và dù nhiều thầu khoán có tiềm lực lại quen việc tham gia nhưng không thắng nổi mẹo bỏ giá thấp nhất của cô Tư Hồng và cô cũng giàu sổi và quyền lực nhờ gói thầu này. Người ta kể lại rằng, những viên gạch cô Tư Hồng có do phá thành, được mang về xây những dãy nhà để cho thuê…

Vì có lòng thương đối với những người bị tù tội, cô Tư Hồng luôn can thiệp để làm cho các bản án của họ được giảm nhẹ. Với những người mang án từ 10 năm đến 15 năm tù, cô cũng xin được tha bổng như không. Bất cứ ở nơi nào trong toàn quốc bị mất mùa, bão lụt, cô đều cho chở gạo, ngô đến phát cứu tế cho các nạn nhân với số lượng rất lớn. Thỉnh thoảng, cô lại đi xe ngựa, rải những gói thịt bò chừng một lạng với những gói lạc tới những người dân nghèo ở hai bên đường. Với những lần phát chẩn như vậy, cô đã giết hàng chục con bò lớn. Cô phát cho mọi người nhưng không bao giờ cao ngạo mà thường cúi xuống với nét mặt trầm tư…

Cô được vua nhà Nguyễn tặng cho bốn chữ “Tiết hạnh khả phong” với hàm ý rộng của chúng. Nhưng về sau, cô can thiệp nhiều vào việc giảm án cho cả những người tù, nên bị nhà chức trách cho là nguy hiểm, có tinh thần dân tộc nên cô bị liệt vào “thành phần nguy hiểm”. Từ đó, cô bị nhà nước bảo hộ không cho liên lạc gì với các cơ quan, họ tẩy chay cô, không cho lập các hãng buôn và cản trở những hoạt động của cô. Thế là cô đành phải rút lui về nhà sống những ngày còn lại quạnh hiu…

Không rõ cô Tư Hồng mất năm nào, trong hoàn cảnh nào; mà chỉ nghe kể, mộ cô cách cổng chùa Hai Bà Trưng 150 bước chân, khoảng đất Trường PTCS Bạch Mai. Bia mộ vẻn vẹn có 3 chữ “Cô Tư Hồng”.

Cô Ba Tý: Sở hữu một cơ thể “lên tiếng gọi”

Cô Ba Tý tên thật là Vũ Thị Tý; không đẹp rực rỡ nhưng thân hình khoẻ mạnh. Theo người cùng thời, thân thể cô là một cơ thể “lên tiếng gọi”.

Cuộc đời Ba Tý là cả một huyền thoại đánh đấu bởi những cuộc phiêu lưu đầy kịch tính. Cô là gái nhà quê, con út trong một gia đình 3 con; nhưng sau bị thất lạc năm 13 tuổi, cô được ba má nuôi là vợ chồng công sứ Hưng Yên cưu mang, cho học tiếng Pháp nên 5,6 năm sau, đã rất thông thạo. Các quan thầy coi cô như con chim lạ miền Bắc vì hồi đó, hiếm có gái An Nam nào vừa thạo tiếng Pháp vừa đẹp, thông minh như người đẹp. Vì thế, họ bị cô Ba Tý chinh phục hơn là họ chinh phục Ba Tý. Không những trẻ, đẹp, giai nhân còn khéo o bế, chiều chuộng nên không người tình nào thất vọng vì cô.

Với tất cả 28 ông chồng trong suốt 36 năm vang bóng, Ba Tý đã vận dụng nhiều tiểu xảo gây ảo tưởng cho họ rằng, cô là người chung tình, chỉ yêu có họ mà thôi. Và nếu họ chợt thấy một đàn ông nào khác trong nhà cô thì đó là ….bạn chồng rất thân đến chơi lúc cô đi vắng. Cô từng tâm sự với Tư Hồng rằng, bận tâm lớn nhất mỗi ngày là việc “canh giờ” để các người tình khỏi chạm mặt nhau.

Từ 1910, cô Ba Tý đã trở thành bà chúa Hàng Bạc, có hẳn một cái động bà chúa nay ở khoảng gần rạp Chuông Vàng. Đó là một ngôi nhà rộng lớn, lộng lẫy bày đặt nhiều đồ vật đẹp và lạ kỳ, mở cửa rộng cho mọi khách thập phương xa gần đến xem. Nơi đây có đủ những đồ quý hiếm, những cổ vật vô giá như: đỉnh, bầu rượu, đôi ngà voi của vua Hàm Nghi, nhiều lọ độc bình, sập gụ chạm trổ đủ 100 con phượng… Lại có cả những con vật hiếm như gà ba chân, rùa hai đuôi, cá vừa là chép vừa là trắm, chó huyền đề, sóc bay, ỉ bạc má, phượng hoàng đất…

Giàu lớn rồi, Ba Tý cũng như lắm bà đang nghèo hoá giàu, đua nhau nhập tịch giới khăn chầu áo ngự. Cô nổi tiếng là đồng bóng lẫm liệt. Từ Bắc vào Trung, không đền to phủ lớn nào cô không đến hành hương. Các bà đồng quan đàn chị đều quí nể vì cô khéo xử và hào phóng. Cô có 4 rương lớn bằng gỗ bạch đàn mặt ngoài sơn vẽ tứ linh, mặt trong để mộc thơm phức đựng đầy khăn chầu áo ngự thượng hảo hạng, mà ít bà bóng đương thời, kể cả các bà đồng quan có nổi 2 chiếc… Ngoài ra, một giá gương bằng vàng 18k cao hơn 2 gang nguyên của một nữ hầu tước Pháp do một ông chồng Tây mua tặng, cô trong một tiệm đồ cũ ở Mạc Xây.

Cô Tư Hồng từng nói về ba Tý: “Tôi giàu thấm đâu so với con bé Tý. Nó có dư cả trăm cây vàng rồng do các chồng và nhân ngãi Tây cho. Nhưng nó kín lắm, không dám gửi nhà băng, cũng chẳng dám giấu trong tủ trong rương vì sợ bị cướp. Nó nghĩ ra một mẹo thật hay để đánh lạc hướng kẻ gian. Nó sai gia nhân đi mướn hai toán thợ đúc ở hai làng xa nhau hai bức tượng: 1 đúc bằng vàng thật,1 bằng đồng…”

Thế nhưng, ở đời mấy ai học được chữ ngờ, hậu vận của cô Ba Tý cực xấu. Cô đã bị người ta bày mưu tính kế, chiếm hết gia sản. Sau khi qua đời, mô cô được chôn ở quận Hai Bà Trưng, trên bia đá có dòng chữ Madame Becty (vì người chồng Pháp của cô tên là Becty), hàng chữ dưới đề: “Cô Vũ Thị Tý”…

Thị Phượng: “Tây Thi khiếp vía, Hằng Nga giật mình”

Vương Thị Phượng là thiếu nữ Hàng Đào, được liệt vào nhóm Hà Thành tứ mỹ. Người Hoa kiều ở Hàng Ngang nói rằng, cặp lông mày của cô “yên my“ (lông mày như mây khói), cặp mắt là “bán thụy phượng hoàng“ (con phượng hoàng nửa thức nửa ngủ, nghĩa là mắt mơ màng say đắm. Đối tượng nhìn vào đôi mắt ấy tự thấy mình như một chiếc lá vàng rơi…

Cô Phượng ăn mặc rất nền, khi thì chít khăn nhiễu tam giang, khi thì chít khăn nhung đen, đuôi gà vắt qua mái tóc. Cô hay mặc yếm hoa hiên, quần lĩnh tía cạp điều thắt lưng quan lục. Tất cả những màu sắc ấy ánh lên qua chiếc áo dài vải phin trắng may sát vào thân hình nở nang”. Và đã có không ít văn nhân – ký giả đương thời khi được diện kiến cô Phượng đã phải thốt lên: “Tây Thi khiếp vía, Hằng Nga giật mình”. Nhiều thanh niên, nhà ngay sát chỗ làm, nhưng hàng ngày vẫn bốn lần đi về theo đường vòng để qua phố Hàng Ngang, để được ngắm cô Phượng từ xa. Nếu hôm nào không một lần được thấy cô, họ thấy bồn chồn, bứt rứt, đứng ngồi không yên. Khi tàu điện chạy qua phố Hàng Ngang, không ai bảo ai, tất cả hành khách đều hướng mắt về phía dãy nhà mang số chẵn, nơi có một mỹ nhân góp phần làm cho vẻ đẹp Hà Nội thêm rực rỡ.

Nhiều người “thèm” muốn như vậy, nhưng Thị Phượng lại lấy chồng – hạng công tử “tốt mã giẻ cùi” ở Hàng Ngang. Chồng cô suốt ngày rong chơi, chỉ coi vợ như một thứ đồ đắt tiền, xinh xinh, chỉ để ngắm nghía, canh chừng, chứ không phải để tâm tình, cùng nhau vươn tới những khát vọng xa xôi. Thậm chí, vì nghiện cờ bạc rượu chè và có tính ghen tuông, chồng thường đánh cô và đòi ly dị. Cô sớm hiểu ra thân phận người phụ nữ lúc đó nên đã phản kháng bằng cách bỏ chồng đi theo tiếng gọi của một anh chàng nhà báo trẻ đầy tài hoa, tên là Hoàng Hồ, bút danh Hoàng Tich Chu, con trai một ông Huyện ở Bắc Ninh. Hai người yêu nhau say đắm, thực là một đôi trai tài gái sắc!

Vào khoảng cuối năm 1927, cả Hà Nội chấn động trước tin cô Phượng mất tích. Mãi sau này, mọi người mới biết cô Phượng đã theo Hoàng Tích Chu vào Sài Gòn. Cô đâu có biết rằng đó là một chuyến đi định mệnh. Hoàng Tích Chu đã quyết chí sang Pháp học nghề làm báo và hoàn cảnh không cho phép Chu đem theo người tình. Lúc đó, Chu bảo với Phượng về Bắc gặp cha, đem theo một bức thư cầu khẩn rất cảm động để ông nhận Phượng làm con dâu trong khi đợi Chu du học về.

Vốn là người có quan niệm cổ về lễ giáo, ông Huyện cho là gia đình Phượng không môn đăng hộ đối với gia đình ông, nên sai người đưa Phượng về xin lỗi chồng để trở lại, nhưng bị từ chối. Thế là cô Phượng đành phải làm nghề buôn bán nuôi thân.

Sau nhiều lần vào Nam ra Bắc, đôi khi cô phải nương tựa vào người khác để tồn tại. Có người bạn giới thiệu Phượng cho một người tên Lưu – cũng là người phong nhã lịch thiệp. Nhưng Lưu đã có vợ nên phải thuê một căn nhà nhỏ bên Gia Lâm cho Phượng ở. Lưu đã vạch kế hoạch để hai người trốn sang Hồng Công nhưng kế hoạch không thành. Phượng phải về nương náu tại một ngôi chùa ở Hưng Yên ý muốn đi tu, nhưng vì nghiệp trần vẫn nặng, cô vẫn phải chịu đựng kiếp hồng nhan.

Một hôm, có người đàn ông tên Bách làm Tham tán ở tòa Sứ đến vãn cảnh chùa gặp Phượng. Bách mê mẩn vẻ đẹp mặt hoa da phấn của Phượng bèn mượn người đến đánh tiếng với Phượng và xin với sư bà cho Phượng về làm vợ lẽ. Vợ cả của Bách đến đón Phượng về làm chị làm em rất quý hóa ngọt ngào. Ít lâu sau, Tham tán Bách được chuyển đi Lai Châu; vợ cả lại cho Bách và Phượng đi trước, còn mình sẽ lên sau. Ai ngờ bà cả đã ngầm sai người đầu độc Phượng bằng một loại thuốc gì đó làm cho cô hóa điên lúc tỉnh lúc mê, lúc cười lúc khóc, gầy rộc đi. Tham tán Bách đành sai người đưa cô về Chợ Bờ (Hòa Bình), nhưng sau đó Phượng về lại Gia Lâm tìm đến bà hàng xóm cũ, trong người chỉ còn có 15 đồng bạc. Bà hàng xóm tốt bụng nhưng nhà quá nghèo trông nom cô như con đẻ. Bệnh ngày một nặng, bà đành phải đưa cô vào nhà thương làm phúc. Một tuần sau, cô Phượng qua đời.

Đám tang Phượng chỉ có một người tình cũ rủ lòng thương, khắc cho cô một tấm bia đề: “Mộ người bạc mệnh Vương Thị Phượng”. Mộ của cô đối diện với cổng chính Bệnh viện Bạch Mai. Đường thẳng từ ngôi mộ đến cổng Bệnh viện chừng 150 mét.

 

 

                        CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE

 

       Đỗ Cao Đàm ( sưu tầm  theo WebMD)

( Tiếp theo

7.- Hút thuốc lá sẽ làm bớt ợ chua?

 

Trái ngược với những tác hại của thuốc lá được cảnh báo trên các

phương tiện thông tin đại chúng hàng ngày, thuốc lá thực sự làm giảm hiện

tượng ợ chua. Nicotin có tác dụng thả lỏng vùng cơ vòng dưới của thực

quản, đây là vùng cơ nằm giữa thực quản và dạ dày, vùng cơ này có tác

dụng đẩy axit từ dạ dày lên trên thực quản. Đây là nguyên nhân chính gây

ra hiện tượng ợ chua.

 

8.-Con người khi về già mắc bệnh táo bón thường xuyên hơn?

 

Nhiều người cảm thấy khi về già họ thường bị táo bón thường xuyên

hơn. Nhưng thực ra tuổi tác không phải là nguyên nhân chính gây ra điều

này. Người già thường phải sử dụng nhiều loại thuốc để chữa bệnh và đây

chính là nguyên nhân gây ra bệnh táo bón. Thêm vào đó, việc ít tập luyện,

ăn uống không điều độ và ít tiết men tiêu hóa cũng là những nguyên nhân

gây ra căn bệnh này.

 

9.- Chất xơ chỉ có thể chữa táo bón, còn tiêu chảy thì không?

 

Khi nghe qua, khó ai có thể tin rằng chất xơ lại có tác dụng chữa trị

 

bệnh tiêu chảy, căn bệnh ngược với bệnh táo bón. Nhưng điều này hoàn

toàn đúng. Ăn nhiều thực phẩm giàu chất xơ sẽ giúp cho việc đi ngoài dễ

dàng hơn. Chất xơ hoạt động trong cơ thể như là một chiếc bơm có tác

dụng hút bớt nước trong dạ dày nếu quá nhiều (bệnh tiêu chảy) hoặc bơm

thêm nước nếu dạ dày quá ít nước (bệnh táo bón).

 

10.-Bạn cảm thấy ruột mình hoạt động khỏe mạnh tức là bạn không

có nguy cơ mắc bệnh ung thư ruột già?

 

Ung thư ruột già chỉ xuất hiện triệu chứng khi ở giai đoạn cuối. Vì

vậy, việc phát hiện sớm là rất quan trọng. Sau 50 tuổi, bạn nên đi khám

sức khỏe và thử máu hàng năm, xét nghiệm nội soi trực tràng 5 năm một

lần và nội soi ruột già 10 năm một lần.

 

 

 

One thought on “DOCAGO.wordpress.com Số ra ngày thứ 2 (19/9-2011)

  1. Rằng hồng nhan tự thưở xưa
    Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu (Kiều)
    Cả 3 kiều nữ Hà thành thuở ấy cũng thế thôi, phải không bác Hiếu Bình

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s