Docago.wordpress.com số ra ngày thứ tư 21/9/2011 ( 24 thang8 tân mão)

CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Đỗ Anh Thơ:

Cha ông chúng ta lúc tóc còn để chỏm đã bò lê bò toài học từ vựng Hán ( tam thiên tự, ngũ thiên tự). Đến lúc có đủ 3- 5 ngàn từ vựng thì bước sang học Luận ngữ rồi Kinh Thi, Tả truyện… Bởi vậy, không thể hiểu cha ông chúng ta hàng nghìn năm nay đã xây dựng đất nước, chống ngoại xâm như thế nào mà lại bỏ qua mặt trận văn hóa, chống sự nô dịch, để tiếp thu có chọn lọc văn hóa phương Bắc và quá trình giành lại bản quyền văn hóa mà mình đã bị tước đoạt.

Vậy đây là những bài học vỡ lòng xưa của các cụ để cho chúng ta phản tư:

           1.-    關  關  雎  鳩 ﹐在   河  之  洲 。

                     窈 窕  淑  女 , 君 子 好 逑 。

參 差 荇 菜, 左 右 流 之 ,

窈 窕 淑 女 ,  寤 寐 求 之。

求 之 不 得, 寤 寐 思 服。

悠 哉 悠 哉 , 輾 轉 反 側。

參 差 荇 菜 , 左 右 采 之。

窈 窕 淑 女, 琴 瑟 友 之。

參 差 荇 菜, 左 右 芼 之.,

窈 窕 淑 女 , 鐘 鼓 樂 之。

                         Phiên âm

Quan quan sư cưu, tại hà chi châu. Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu. Sâm si hạnh thái, tả hữu lưu chi, yểu điệu thục nữ, ngụ mị cầu chi. Cầu chi bất đắc, ngụ mị tư phục. Du tai du tai, triển chuyển phản trắc, sâm si hành thái, tả hữu thái chi. Yểu điệu thục nữ, cầm sắt hữu chi. Sâm si hạnh thái, tả hữu mao chi, yểu điệu thục nữ, chung cổ lạc chi.

                               

                          Chú giải: Câu này ở trong chương Quan cưu, Chu nam, Quốc phong của kinh Thi.

– Quan quan (guan quan): Tiếng chim kêu “quang quác”.

– Sư cưu (ju jiu): có từ điển phiên là “thư cưu”, một loài chim két, chim mòng (ospreys), ăn cá, hung dữ, có tập tính chỉ sống đôi với nhau.

– Hà (hé): sông.

– Châu (zhou): bãi cù lao.

– Yểu điệu (yào tiáo): dáng vẻ mảnh mai.

– Thục nữ (shu nủ): con gái nết na.

– Cầu (qiú): tỏ tình, dạm hỏi, cầu hôn.

– Tham sai (can cha): còn đọc là “sâm si” mọc rậm rạp lô nhô không đều.

– Hạnh thái (xing cai): rau hạnh.

– Tả hữu (zuỏ yòu): hai bên trái phải.

– Lưu (líu): chảy.

– Ngụ mị (wú mèi): thức ngủ.

– Đắc (dé): được.

– Tư (si) phục: tơ tưởng.

– Du (you): dài dằng dặc.

– Triển chuyển (zhản zhuan): trằn trọc, trăn trở.

– Phản trắc (fản cè): trở mình.

– Cầm sắt (qín sè): Đàn cầm đàn sắt. Hai loại đàn này thường hòa âm với nhau, ví như tình nghĩa vợ chồng luôn luôn có nhau.

– Mao (mào): rau, sự chọn lựa.

– Chung cổ (zhong gủ): chuông trống.

                         Dịch:

                          Đôi chim két kêu ở ngoài bãi sông. Ở đó có một cô gái nết na mà ta – người quân tử muốn cầu hôn. Ngoài bãi rau hạnh mọc lô xô, hai bên có dòng nước chảy, người con gái nhu mì đó đang hái rau, ta ngày đêm thao thức muốn cầu hôn. Muốn lấy nàng mà không được, ngày đêm trằn trọc mơ tưởng. Thời gian sao mà dài lê thê. Cô gái hái rau, hái bên này bên nọ, ta muốn cùng cô nàng nết na ấy kết bạn trăm năm. Rau hạnh sum suê mọc đôi bờ… ôi ta muốn gióng trống chiêng để đón cô ấy về làm vợ xiết bao!

                           Bình:

Kinh Thi sưu tầm được trên 300 bài ca dao gồm phong (phong dao), nhã (nhã nhạc), tụng (tụng ca) trước thời Chu của các tộc người sống ở vùng nam sông Hoàng Hà và bắc nam sông Dương Tử. Trong đó có nhiều bài ca dao tỏ tình đôi lứa như bài “Quan cưu” này. Kinh Thi là một trong năm kinh cùng với Tứ thư mà các nhà nho phải học. Từ Khổng Tử về sau, người ta cứ khiên cưỡng gò bó nó vào trong khuôn khổ sách kinh điển, nghĩa là “sợi dọc” (kinh) dệt nên tư tưởng Nho học, là sách khuôn vàng thước ngọc, không được phép bàn, sửa đổi.  Nhưng gần đây trong các cuộc hội thảo, người ta đã bác bỏ tính kinh điển lễ giáo của nó (xem tham luận của giáo sư Phí Chấn Cương – Trung Quốc trên www.cciv.edu.com) mà suy tôn nó về mặt mỹ học, văn học. Nó đã đặt nền móng cho các lối diễn đạt văn chương như hứng, tỉ, phú …trong ca dao và đặc biệt là thơ Đường sau này.

Mặt khác, các sách nghiên cứu trước kia cho chữ Hán là thứ ngôn ngữ đơn âm tiết thuộc ngôn ngữ Hán Tạng. Nhưng thực ra, qua kinh Thi ta có rất nhiều chứng cứ mà nói rằng, nó đã tiếp thu một phần tính chất đa âm tiết dòng ngôn ngữ Việt – Môn Khơ me, nhất là tính chất láy.

Đối với các bộ tộc phía Nam (trong đó có Lạc Việt) chúng ta có thể tìm thấy dấu vết của những từ cổ trong kinh Thi. Tuy rằng theo giáo sư Haudricourt thì tiếng Việt đã mất dần âm vận vĩ (rhyme) theo vùng, do âm hầu họng phát triển. Nhưng ta vẫn còn có thể phát hiện tính đa âm tiết của thổ ngữ ở một số vùng và tiếng láy là thuần Việt. Nhiều nhà nghiên cứu thường thấy chữ Hán (công cụ ghi âm Hán ngữ) đồ sộ quá nên không thấy tính giao thoa của nó, không thấy đó là di sản của đa chủng tộc, trong đó có tộc Việt, mà chỉ tìm hiểu theo một chiều, nghĩa là cho rằng tất cả những từ gần như thuần Việt ấy đều là xuất phát từ chữ Hán. Chữ Nôm rõ ràng là mượn bộ của chữ Hán. Nhưng còn vấn đề chữ Hán ở bản địa vùng Bắc bộ Việt Nam thì sao? Vì hơn một nghìn năm bị đô hộ, lệ thuộc rất hà khắc (thời Tần, Hán, Đường…) rồi đến 10 năm bị nhà Minh xâm chiếm, tộc Việt đã mất hết sách vở, công trình của trí thức ưu tú của riêng mình và của cả quan lại phương Bắc sang, đã ly khai với Hán triều (như Triệu Đà chẳng hạn). Họ đã dùng các con chữ (bộ) của Hán tự để ghi âm tiếng Việt. Ví dụ từ “chè” (Việt) chính là từ “b’lè” (tiếng vùng Cổ Đam – Nghệ  An hiện nay vẫn còn) chứ không phải là từ “trà” (茶 ). Trà là từ có sau. Từ “cổ” trong hầu hết tên các địa phương ở nước ta hiện nay là từ “kẻ”, chính xác hơn là âm tiết “kl” cũng như từ “sâm si” (sum suê) “triển chuyển” (trằn trọc, trăn trở), “thiết tha” “áo quần” trong kinh Thi là từ Việt – Hán. Các nước châu Âu cũng đã dùng chữ La tinh để tạo ra chữ viết của riêng mình. Tại sao các bộ tộc Việt lại không thể dùng chữ Hán (như Nhật Bản) mà mình có phần bản quyền? Đó là do chính sách đồng hóa và do tính chất phục tùng “thiên triều” của đa số trí thức Việt, còn thiểu số thì tìm cách vay mượn kiểu chữ Nôm nhưng chưa có hệ thống. Hiện nay lại có người muốn tìm một thứ chữ không hề tồn tại: chữ con nòng nọc. Ta có thể phân loại chữ Hán có yếu tố Hán Việt, <=> Việt Hán theo các hướng sau đây:

– Về ngữ pháp: định ngữ để trứơc hay sau sau.

– Từ nguyên (yếu tố totem, các yếu tố đa âm tiết của ngôn ngữ Việt – Môn, vận bộ (vần, âm sắc)…

– Tính đặc trưng của từ (láy hoặc từ ở phương Bắc không phổ biến, ví dụ: quần và khố tử …)

– Tính giao thoa, nghĩa là tồn tại cả hai hoặc nhiều nước mà không xác định được trước sau. Ví dụ: 木 mộc (Trung Quốc), cây (Việt Nam), ki , mu (ツリーの-Nhật Bản) … đã nói ở trên.

Vậy giá trị của kinh Thi đối với nền văn học Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên… vẫn còn đó, chưa được khám phá hết.

 

2.-     子 曰 ﹕“[ 關  雎 ] 樂 而 不  淫 ﹐哀 而 不 傷  ”.

Phiên âm :Tử viết: “ [Quan thư], lạc nhi bất dâm, ai nhi bất thương.”

 

                        Chú giải: Câu này là câu thứ 20 ở trong chương 3 (Bát dật) của Luận ngữ.

– Quan thư (guan ju): Tên bài phong dao trong thiên Chu nam (ca dao vùng nam đất Tây Chu – tức là nam Lạc Dương, Hà Nam, Trung Quốc bây giờ) của kinh Thi.

– Lạc (lè): vui.

– Dâm (yín): vui quá độ, không đoan chính, dâm dật.

– Ai (ai): bi ai .

– Thương (shàng): thương tâm.

                            Dịch:

Khổng Tử nói: “Bài thơ Quan cưu vui mà không dâm dật, tuy bi ai mà không đến nỗi quá thương tâm.”

 

                                         CHUYÊN MỤC THƠ VĂN

 

   An Lộc (chuyển tiếp từ Nguyễn Bảo Hưng

        (Nguồn: Thư viện Sáng tạo)

              Lời giới thiệu: Liệu tiếng Việt có thể là công cụ đắc dụng cho nỗ lực sáng tạo văn học hay không? Ðó là vấn đề cấp thiết mà chúng tôi cho rằng đã đến lúc cần đặt ra và mong được sự tham gia góp ý đông đảo. Tên người viết dường như còn xa lạ; nhưng xa lạ chưa hẳn đồng nghĩa với non kém vì tác giả, trước 1975, đã từng cộng tác với Ðài Tiếng Nói Tự Do tại Sài Gòn và, mới đây, với Ban Việt Ngữ Ðài RFI ở Pháp. Bên cạnh những lập luận vững vàng có giải thích, có phân tích, có chứng minh; và chỉ thuần dựa trên văn bản, bạn đọc cũng nên để ý tới cách dùng câu chữ của tác giả. Hình thức văn phong ở đây cũng có thể là một biểu hiện cho… ngôn ngữ Việt: hàm súc, hóm hỉnh, ý vị trong cách diễn tả, nhưng cũng có thể rất trí tuệ khi cần diễn ý.

Ðỗ Bình

 

Tiếng Việt thường được coi thuộc loại ngôn ngữ thiên về biểu cảm hơn là diễn ý. Sự đánh giá này có lẽ do đặc tính của tiếng Việt là cụ thể, đầy đủ âm sắc, rất thuận lợi cho việc sử dụng hình tượng, thanh âm để diễn tả cảm tình cảm nghĩ với âm hưởng sắc thái đặc biệt (avec nuances et resonnances particulières).

Quan họ – Tranh Bùi Xuân Phái

  Nếu đặc điểm này có đáng kể cho nghệ thuật thi ca, thì trái lại, trong trao đổi hàng ngày nó thường được sử dụng dưới hình thức ám chỉ, ví von để gợi ý, tỏ tình, khen tặng một cách tế nhị kín đáo, hoặc để nói bóng nói gió, với ngụ ý chê bai nhưng không gây mất lòng . Ðặc điểm này có thể được coi là sở trường riêng của tiếng Việt và làm nên điều mà ta có thể coi như thuộc về thiên tài ngôn ngữ (le génie de la langue) của tiếng Việt. Nhưng tiếc thay cái yếu tố thiên tài ngôn ngữ ấy, thay vì nên khai thác làm sở trường, người ta lại biến nó thành sở đoản, chỉ đem ra vận dụng trong các giao tiếp hàng ngày, đặc biệt trong cách nói trào lộng hài hước nhằm chê bai nhạo báng, hoặc nói bóng nói gió, nói xỏ nói xiên để khích bác châm chọc. Hậu quả là tiếng Việt bị đánh giá thấp, cho là thiếu khả năng để trình bày mạch lạc hay diễn tả ý tưởng thâm trầm sâu sắc. Thành kiến này là do thói quen sử dụng chữ nghĩa cẩu thả bừa bãi mà ta có thể nhận ra dễ dàng trên một số trang mạng hay các trang báo hàng ngày.

Trong sinh hoạt văn nghệ, tiếng Việt lại thường được khai thác tiêu cực như là thứ ngôn ngữ châm biếm hài hước để chọc cười thiên hạ (Thí dụ như cặp bài trùng M. C Nguyễn Ngọc Ngạn – Cao Kỳ Duyên với những mẩu chuyện đàn bà ghen tuông trong các băng video Thúy Nga, hay cặp Hoài Linh – Vân Sơn nhái lai giọng Quảng, giọng Bắc trong các cuộn băng Asia… để, mỗi lần, lại đánh thức nơi khán giả tới dự buổi thâu băng những tràng cười phản xạ dễ dãi). Thành kiến này, chẳng những không bị phản bác, lại còn được một vài học giả uyên bác tỏ ý tán đồng. Trong một bài mang tựa đề “Văn học trong một nước mù chữ” đăng trên tạp chí Hợp Lưu số 38, tháng 12/97&1/98, nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc có nhận định về tình trạng nhếch nhác, kém phát triển của văn học Việt Nam. Theo ông nguyên nhân chính là do văn học Việt nam mang đặc tính truyền khẩu hơn là thành văn. “Khuynh hướng truyền khẩu này, (nếu) một mặt làm phát triển tính chất cụ tượng trong tiếng Việt, (thì) mặt khác, lại làm giảm bớt tính chất duy lý trừu tượng của nó… Ðiều này khiến chúng ta không những không có một nền triết học hoàn chỉnh mà cũng không có, hoặc có rất ít, những thể loại văn học thiên về tư duy trừu tượng như văn chính luận, biên khảo, lý luận và phê bình văn học.” (Bdd, HL số 38, tr. 74). Tiếp theo đó, ông Nguyễn Hưng Quốc còn tìm cách giải thích nguyên nhân của tình trạng kém cỏi này trong một bài viết chung với Hoàng Ngọc Tuấn mang tựa đề “Viết, giữa truyền thống và nhu cầu sáng tạo” đăng trên tạp chí VĂN số 37&38, Tháng Giêng & Hai, 2000 (tr. 13-30).

Theo nhận định của hai vị học giả, văn học nước ta sở dĩ trì trệ, không phát triển được trước hết là do tiếng Việt là thứ ngôn ngữ thực dụng chỉ thích hợp cho thói quen “nói bóng nói gió, nói cạnh nói khóe; ngay cả khi chửi nhau thì cũng thích xỏ xiên hơn là đốp vào mặt.” (Bdd, Văn số 37 & 38 tr. 14). Tệ hại hơn nữa, hai ông Quốc và Tuấn còn cho rằng “tiếng Việt đã được giữ gìn và phát triển với tư cách là ngôn ngữ của một dân tộc nô lệ” (Bdd, tr. 17) Và, với một ngôn ngữ nô lệ như thế, ta khó mà xây dựng được một nền văn học có tầm vóc quốc tế; bởi vì, theo hai ông, “… ở một phương diện nào đó, trước khi viết ra một bài thơ hay một bài văn, chúng ta đã bị viết bởi chính cái ngôn ngữ mà chúng ta đang sử dụng. Chúng ta là tác phẩm của ngôn ngữ trước khi và trong khi là tác giả. Ðiều này giải thích tại sao phong cách của một người viết thường khác nhau khi họ sử dụng hai ngôn ngữ khác nhau: sự khác nhau ở đây không xuất phát từ cá tính hay trình độ của người viết mà chính yếu xuất phát từ ngôn ngữ.” (Bdd, tr. 26).

Nhận định này, tôi e rằng có phần chủ quan và hơi vội vã. Rất có thể hai ông Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc Tuấn đã bị chi phối ít nhiều bởi phát biểu của một sinh viên mà hai ông đã trích dẫn trong phần mở đầu cho bài viết: “Viết văn bằng tiếng Việt mà viết rõ ràng như tiếng Anh thì… dở lắm thầy ơi!” (Bdd, Văn số 37 & 38 tr. 14). Tôi cho rằng đây là một ngộ nhận đáng tiếc dễ dẫn đến sự rẻ rúng tiếng Việt, coi nó không phải là thứ ngôn ngữ có khả năng đáp ứng được nhu cầu sáng tạo. Hậu quả là các thế hệ con cháu người Việt ở hải ngoại ngày càng lơ là, bỏ rơi tiếng mẹ đẻ. Riêng với các em muốn theo đuổi sự nghiệp văn chương, dường như đang manh nha một phong trào khuyến khích các em nên viết thẳng bằng thứ tiếng quốc gia nơi các em trưởng thành, làm như chỉ sáng tác bằng tiếng nước người các em mới phát triển được tài năng của mình. (1) Ngôn ngữ là công cụ của nhà văn, cũng như búa, đục, cây đinh chạm trổ với nhà điêu khắc. Nhà điêu khắc dẫu thiên tài, nếu thiếu dụng cụ tinh vi, cũng không thể hiện được hết tài năng sáng tạo của mình. Ngược lại, một nghệ sĩ nghiệp dư, cho dù có sắm được bộ đồ nghề tinh xảo nhất, cũng chỉ làm ra những tác phẩm tầm tầm mà thôi. Nhà văn Cao Hành Kiện nay mang quốc tịch Pháp, hiện sống tại Pháp và có những tác phẩm viết bằng tiếng Pháp. Nhưng, nếu tôi nhớ không lầm, tác phẩm “Linh Sơn” đem lại cho ông giải thưởng văn hoc Nobel dường như được viết ra bằng tiếng Hoa rồi sau đó mới được dịch ra đủ thứ tiếng trên thế giới thì phải (2). Ngày nay tiếng Pháp được coi là ngôn ngữ của một nền văn hóa cao. Nhưng trong suốt thời kỳ Trung cổ tiếng Pháp bị hàng giáo phẩm và giới viện sĩ rẻ rúng, coi là ngôn ngữ tầm thường, dung tục chỉ dành cho giới bình dân thất học. Khi cần soạn bài giảng hay viết sách, các giới này đều thảo bằng tiếng La Tinh. Phải chờ tới thời Phục Hưng (la Renaissance) khi Du Bellay đại diện cho thi đoàn La Pleiade soạn ra bản “Défense et Illustration de la langue française” (1549) để bênh vực và minh sáng cho tiếng Pháp, tiếng Pháp mới được đưa vào trước tác, và từ đó công hiến cho kho tàng văn học thế giới không ít tác phẩm có giá trị.

Qua gương nhóm La Pleiade, ta có nên đặt câu hỏi: tiếng Việt liệu có là công cụ hữu hiệu cho phép nhà văn, nhà thơ phát huy được tài năng sáng tạo của mình hay không? Hay, để làm nên những tác phẩm có tầm vóc quốc tế, ta phải “cầu viện” đến các lý thuyết văn học ngoại lai hoặc phải viết bằng một thứ tiếng nước ngoài? Theo nhận xét của tôi, tiếng Việt không phải chỉ có giỏi về ăn nói ngụ ý hàm súc (hay chua ngoa móc méo) đâu. Trái lại, nếu ta chịu khó suy nghĩ đắn đo, cân nhắc thận trọng trong cách sử dụng câu chữ, ta sẽ thấy tiếng Việt có thừa khả năng đáp ứng cho yêu cầu phân tích chính xác hay diễn đạt tư duy trừu tượng chắc gì các ngôn ngữ được coi thuộc loại trí tuệ nhất đã qua mặt nổi. Cách đây khá lâu tôi có người quen đi thăm Việt Nam về mua tặng cuốn “Nguyễn Bính, thơ và đời,” của Nhà xuất bản Văn Học Hà Nội – 1998. Tôi hoan hỉ đón nhận xong lại đem xếp ngay vào tủ sách ở một vị trí khá ưu đãi, có lẽ do ấn tượng tốt đẹp về những vần thơ lục bát đã đọc hồi còn ở lứa tuổi mười sáu đôi mươi. Mãi tuần qua, gặp dịp mấy ngày nghỉ lễ bắc cầu, tôi mở tủ sách định chọn một cuốn để đọc giải trí. Không hiểu sao bàn tay tôi như được ai hướng dẫn tự động mò tới hàng kệ có xếp cuốn “Nguyễn Bính” và tôi cũng ngoan ngoãn cầm lấy. Tôi cho rằng đây là một phản xạ thuộc về chức năng nhằm đáp ứng một nhu cầu ngấm ngầm của cơ thể. Có lẽ thời gian gần đây tôi phải suy nghĩ quá nhiều để tìm cách giải mã các vần điệu mang hình thức phá thể cách tân, nào là những khoảng ngắt không gian bằng gạch chéo slash, những con chữ bị tách lìa, những câu bị đứt đoạn xuống hàng bất ngờ để, hoặc làm mới ngữ nghĩa hay gây hiệu quả xốc, hoặc tạo ra hơi thở khi lên xuống nhịp nhàng lúc dồn dập hổn hển cho đúng với mạch điệu của mốt sống văn minh dậm dật đua đòi…, thành thử đầu óc mệt phờ. Chắc vì thế tôi đâm hoài niệm đôi ba vần thơ trong sáng bình dị để tâm thần được phần nào thư giãn (cũng như cái bao tử của ta, có lúc anh ách do thừa mứa những món chiên xào béo bổ, bỗng dưng thèm được một bữa rau muống luộc chấm tương bần, lại có thêm bát nước rau vắt chanh tươi để khi húp vào, khiếp, mới thấy nó mát cái ruột làm sao!)

Tình cờ mở sách rơi đúng trang 34-35, gặp bài thơ mang tựa đề “Chân quê” thấy có vẻ gần gũi thân quen nên quyết định thử đọc chơi. Vì chỉ có ý đọc chơi nên tôi sẽ không đọc với cặp mắt hau háu của nhà phê bình để phân tích, phẩm bình giá trị thi tính của bài thơ. Trái lại tôi sẽ đọc rất buông thả, để mặc cho trí tưởng tượng nương theo lời chữ, vần điệu à ới mà tự do bay bổng. Như cái thuở là thằng cu tí còn mặc quần thủng đít tóc để chỏm trái đào, những lúc nằm rúc nách mẹ tôi một tay ngón cái đút miệng tay kia rờ tí mẹ, cặp mắt riu riu theo tiếng võng đu đưa kẽo kẹt và, tùy theo lời ru của mẹ: khi thì “cái ngủ mày ngủ cho ngoan,” khi thì “trăm năm trong cõi người ta,” khi thì “em ơi! em ở lại nhà,” lang bang nhớ tới các mẩu chuyện lúc thì Thạch Sanh, lúc thì Cô gái quàng khăn đỏ, lúc thì Công chúa ngủ trong rừng… để rồi ngủ quên lúc nào không hay. Vậy là tôi đã chọn đọc bài thơ này không phải như là một bài thơ, mà như là nghe kể một câu chuyện bằng văn vần theo truyền thống một dân tộc mà thực chất, theo nhận định của Nguyễn Hưng Quốc ký tên Nguyễn Ngọc Tuấn, không phải là một dân tộc thi sĩ mà chỉ được tiếng huyền thoại về một nước thơ (Nguyễn Ngọc Tuấn: Huyền thoại về một nước thơ – Hợp Lưu số 18 tháng 8 & 9 năm 1994, tr. 64-75):

 

Hôm qua em đi tỉnh về

Ðợi em ở mãi con đê đầu làng

 

A, ra đây là lời kể lể của một chàng trai nông thôn đi đón người yêu thăm tỉnh về. Anh không chỉ ra đầu làng nơi hai người vẫn thường hẹn hò, mà leo len tận bờ đê để có thể thấy nàng từ xa. Anh hồi hộp mong ngóng lắm, phần nhớ nàng, phần thấp thỏm về chuyến di của nàng. Thời nay, người ta từ Mỹ từ Pháp về Việt Nam cứ xoành xoạch như đi chợ ấy ; nhưng vào thời Nguyễn Bính chỉ đầu thôn với cuối thôn cũng cho là xa rồi. Vậy mà nàng lại ra tận tỉnh cơ, là nơi anh nghe nói có nhiều cám dỗ lắm, làm sao anh không bồn chồn cho được. Thế rồi bóng ai thấp thoáng chân đê. Nhìn vào dáng đi, đúng là nàng. Nhưng bóng người càng tiến gần, anh đâm ngờ ngợ. Qua dáng đi thì đúng là nàng, nhưng sao cách ăn vận lại không phải là nàng. Rồi khi nhận ra đúng là nàng, anh bật miệng than:

 

Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng

Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi

Quan sát nàng từ đầu tới chân anh tự hỏi:

Nào đâu cái yếm lụa sồi?

 

Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân? Nào đâu cái áo tứ thân? Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen? Trời đất ơi, thế này có khổ thân tôi không cơ chứ! Em mới ra tỉnh có một ngày mà đã vội đua đòi cách ăn mặc dân thành thị. Em mà đi về thêm vài lượt nữa tránh sao khỏi bị mấy thằng bẻm mép láu tôm láu cá trổ tài tán tỉnh dụ khị em, tìm cách cuỗm em đi để hại đời em. Khi đó chắc là anh chỉ biết ngước mắt lên trời mà than: “Mất em rồi, xa em rồi! Chiều hôm nay trên đê vắng, anh đi về chỉ có anh!” Và, cho dù một buổi chiều cuối đông mưa dầm gió bấc, nàng có khăn gói quả mướp quay về thì người đẹp mà anh vẫn trăm nhớ ngàn thương, khi ấy, chắc cũng chỉ như bông hoa đã tàn nhụy đã phai mà thôi. Ý nghĩ này làm anh quíu quá nên anh vội nài nỉ bằng lời lẽ bộc trực của một tâm hồn cục mịch:

 

Nói ra sợ mất lòng em

Van em em hãy giữ nguyên quê mùa

Như hôm em đi lễ chùa

Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.

 

Và để được vừa “lòng” nàng hơn nữa, anh không ngần ngại cầu viện tới bố mẹ; rồi còn dùng lối nói vè dân gian tính mượn “sức mạnh quần chúng” gây áp lực:

 

Hoa chanh nở giữa vườn chanh

Thầy u mình với chúng mình chân quê.

 

Nhưng vừa đọc tới hai chữ “chân quê” tôi giật mình đánh thót một cái: Thôi hỏng rồi! Cái kịch bản tôi đang dàn dựng theo trí tưởng tượng, thế là không đứng vững được! Phải chi Nguyễn Bính viết câu thơ đó như sau: “Thày u mình với chúng mình nhà quê” thì câu chuyện được xuôi buồm thuận gió biết mấy. Ðằng này ông lại chơi khăm, ông định xỏ tôi, ông đi dùng hai chữ “chân quê” mới đâm ra rắc rối cái sự đời. Ðành rằng nhà quê hay chân quê đều nói lên bản sắc đồng quê, nhưng chúng lại không đồng nghĩa vì hai từ ghép này bộc lộ hai tâm trạng phản ánh hai trình độ nhận thức khác nhau. Nhà quê có thể coi như đồng nghĩa với quê mùa: chúng cùng mang âm hưởng của một sự đánh giá thấp, một ngụ ý chê bai dè bỉu; đồng thời chúng còn biểu lộ một thái độ an phận thủ phần. Chân quê, trái lại, là sự kết hợp của chữ “chân” gốc Hán với chữ “quê” gốc Việt. Mà chữ “chân” khi ghép với một chữ nào đó thường đem lại cho chữ được ghép chung với nó một phẩm tính, một giá trị làm cho chữ đó trở nên sáng giá, thí dụ như chân lý, chân chính, chân phương, chân thực, chân chất, chân thiện mỹ.

Bởi vậy tôi không tin là từ ngữ chân quê có thể được thốt ra từ một nông dân cục mịch như trong kịch bản tôi đang dàn dựng. Thế là mặc dầu đã định bụng nghỉ chơi với trí tuệ một bữa, nhận thức này buộc tôi phải đọc lại chăm chú hơn để tìm hiểu ý nghĩa bài thơ cho đúng với quan niệm sáng tạo của Nguyên Bính. Nhờ sẵn chủ ý đọc lại với tinh thần cảnh giác nên vừa gặp chữ “mãi” trong câu: Ðợi em ở mãi con đê đầu làng, tôi hửi ngay ra có cái mùi khang khác. Bình thường ta hay dùng chữ mãi làm trạng tự thời gian và chữ tận làm trạng từ nơi chốn, như lời thỏ thẻ sau đây của cô gái với người tình (nghe đâu là một việt kiều cao cờ cũng yêu nước lắm thì phải) mà có lần tôi nghe lóm được: “Anh hứa đi, anh hứa yêu em mãi mãi đi (và mua tặng em chiếc nhẫn hột xoàn mười li đi), rồi em nguyện sẽ theo anh tới tận góc bể chân trời.” Vậy mà trong câu thơ Nguyễn Bính lại viết: Ðợi em ở mãi con đê đầu làng. Như vậy nhân vật là tác giả câu này đã chọn chữ mãi với dụng ý hẳn hoi, nhằm nhấn mạnh tới yếu tố thời gian. Không phải thời gian vật lý mà là thời gian tâm lý: chữ mãi gợi ý cho ta về một sự chờ đợi lâu dài, lâu thiệt là lâu. Nhưng thế nào mới gọi là lâu? Nửa giờ? Một giờ hay nửa ngày? Ðiều này không quan trọng. Khi người ta nôn nóng trông đợi một điều gì thì chỉ cần khoảnh khắc cũng đã thấy lâu rồi. Bằng chữ mãi để bộc lộ sự sốt sắng nhiệt tình của mình đồng thời cũng là hình thức kể công, tác giả câu nói, nếu không là con cháu ông đồ, ít ra phải có lui tới sân Trình cửa Khổng nên cũng võ vẽ ăn mày được đôi ba chữ nghĩa thánh hiền. Sự kiện này có thể kiểm chứng nếu ta để ý tới hai chữ rộn ràng ở câu thơ kế tiếp:Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng. Trước hết là cách dùng chữ táo bạo có thể coi như phá thể cách tân của nó: Thông thường ta quen dùng hai chữ rộn ràng như tính từ đi kèm một danh từ chỉ hành động (bước chân rộn ràng) hay với một danh từ chỉ tâm trạng (lời ca rộn ràng), hầu như chẳng bao giờ với một danh từ chỉ sự vật (tấm áo rộn ràng). Vậy mà trong câu thơ Nguyễn Bính lại có ý sử dụng hai chữ rộn ràng làm động từ chứ không phải tính từ. Cách sử dụng làm thay đổi bản chất và chức năng của loại từ (từ tính từ sang động từ) có hai tác dụng:một là, khiến cho câu chuyện đang ở trạng thái tĩnh chuyển sang trạng thái động, đang ở thể kể chuyện và mô tả biến sang hoạt cảnh; hai là, bộc lộ được tâm trạng của cô gái khiến ta nắm bắt được hai phản ứng tâm lý khác nhau giữa nhân vật nông dân cục mịch trong kịch bản một và nhà nho nông dân trong lịch bản hai. Trong câu thơ khăn nhung quần lĩnh rộn ràng, bốn chữ khăn nhung quần lĩnh được nêu lên trước tiên biểu hiện cho cái gì đập ngay vào mắt người đứng đợi. Bởi vậy anh nông dân chất phác mới tá hỏa tam tinh khi thấy người yêu thay đổi hẳn cách trang phục và, sẵn mang mặc cảm thua kém, anh vội van xin nàng hãy giữ nguyên quê mùa để chịu cho anh cưới hỏi mà về ăn ở với anh. Nhà nho nông dân trái lại, nhờ có kiến thức hơn nên sáng suốt hơn, rành tâm lý hơn, bình tĩnh hơn. Anh không chỉ dò xét người yêu qua cách ăn vận mà còn qua dáng đi bộ tịch của nàng. Giả dụ cô gái đã ăn phải bả xa hoa thành phố rồi, khi nhìn thấy bộ mặt đưa đám của anh nông dân thế nào cô cũng làm bộ ngúng nguẩy và nguýt xéo một cái ra điều mắng vốn: Nỡm chưa! Ðây có bảo đấy đi đón đây đâu mà đấy đến đứng đây làm gì? Trường hợp cô nàng dại dột chẳng may đã lỡ bị với ai mất rồi, thì khi giáp mặt người tình chắc cô sẽ không tránh khỏi lúng túng trong một vài cử chỉ che giấu ngượng ngùng. Ðằng này hai chữ rộn ràng cho ta thấy cô gái không chỉ chân bước le te mà hai má còn ửng hồng, khuôn mặt tươi rói. Nàng như vừa muốn làm cho chàng trai phải lé mắt với bộ trang phục tỉnh thành của mình vừa muốn nói rằng: Ngó em đi nè! Em ăn bận đẹp dzầy là dzì anh đó, là muốn được anh thương em nhiều hơn, anh có biết hông! Vậy là những bước chân rộn ràng của cô gái đủ trấn an chàng trai nông thôn về mối tình chung thủy của nàng rồi. Ấy thế mà anh nông nho vẫn than: Em làm khổ tôi! Tại sao vậy? Tuy cùng một câu than, nhưng lời than của anh nông dân và của anh nông nho lại không cùng một nội dung nên phản ánh hai tâm trạng khác nhau. Anh nông dân sẵn có mặc cảm quê mùa nên khi thấy người yêu xúng xính trong bộ áo tỉnh thành, anh ta chỉ lo đến chuyện mất nàng. Lời than của anh nông nho trái lại biểu lộ một tâm trạng vừa giận vừa thương: Nhìn khuôn mặt hân hoan rạng rỡ của người yêu anh hiểu rằng nàng học cách ăn mặc tỉnh thành chỉ vì muốn làm đẹp để được anh yêu nhiều hơn. Vì vậy anh mới thương nàng, và càng thương nàng anh lại đâm ra giận nàng, hay đúng ra buồn phiền vì nàng: Em yêu! Anh biết rằng con tim em không hề lỗi nhịp với anh nhưng nó lại trật nhịp với tim anh mất rồi! Khổ quá! Hai đứa mình đã bao lần hẹn hò tâm tình với nhau bên bờ giếng cuối thôn hay bụi tre đầu ngõ mà em vẫn chưa hiểu được lòng anh. Anh thương em là thương ở cái nội dung cái nết hay làm chứ đâu chỉ ở cái hình thức nhan sắc của em. Ai đẹp bằng em là anh đã hết biết rồi, em còn bày đặt đua đòi bắt chước làm chi!Vả lại mấy cổ có gì hơn em đâu mà em phải bắt chước.

Xí…, đời thuở nhà ai con gái con đứa gì mà lười như hủi ấy. Thêu thùa bếp núc chẳng chịu học, chỉ thích ăn cơm tháng thôi. Bao nhiêu thì giờ đều dành cho việc sửa mắt sửa mũi với lại shopping. Ai mà dám rước mấy của nợ ấy về, rồi sẽ có ngày phải đem thóc giống đi bán lấy tiền để ăn cho mà coi. Bởi vậy tuy thốt ra cùng một lòi kêu gọi:

 

Nói ra sợ mất lòng em

Van em em hãy giữ nguyên quê mùa

Như hôm em đi lễ chùa

Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.

 

Nhưng hai chữ quê mùa lại có một ý nghĩa khác. Chúng cần được hiểu như một kêu gọi thách đố, một biểu hiện của tự tin tự hào về phẩm chất của mình: Không việc gì em phải mang mặc cảm quê mùa với mấy cô gái tỉnh thành ấy cả. Mấy cổ lên mặt chê bai em chứ sức mấy họ bằng em được. Em phải biết: cái ngày hội đầu Xuân em di lễ chùa ấy mà, em còn nhớ không? Lần đầu gặp em xinh xắn trong bộ áo tứ thân với chiếc khăn mỏ quạ và tấm yếm lụa sồi là anh đã phải lòng em ngay rồi đấy! Và, tuy cũng ngần ấy lời nhắn nhủ như anh nông dân:

 

Hoa chanh nở giữa vườn chanh

Thầy u mình với chúng mình chân quê

Hôm qua em đi tỉnh về

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

 

Nhưng với anh nho sinh, hai chữ chân quê đã khiến câu hoa chanh nở giữa vườn chanh không còn là một câu vần vè ví von thường tình nữa. Nó biến bốn câu thơ kết nay thành một lời nhắn nhủ đậm đà thi tính, giàu màu sắc, ánh sánh và hương vị như muốn nhắc nhở cô gái quê rằng chỉ có trong bộ y phục nông thôn mộc mạc nàng mới bộc lộ trọn vẹn cái đẹp tự nhiên thôn dã. Nhờ vậy mà hai câu cuối:

 

Hôm qua em đi tỉnh về

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

 

Một lần nữa cho phép ta xác nhận rằng tác giả câu chuyện bằng văn vần này đúng là một anh đồ nông dân bắc bộ phủ. Sau khi tâm sự và nhắn nhủ người yêu rồi, anh còn tập làm Cao Bá Quát, trầm ngâm triết lý ba xu theo kiểu “thế sự thăng trầm quân mạc vấn”: Nếu người yêu của anh có đua đòi lối ăn mặc thành thị, xét cho cùng, chẳng có gì đáng trách cả. Nàng cũng chỉ ứng xử theo phương châm sống “người sao ta vậy” thường tình ở đời mà thôi. Nhưng cũng vì thế anh mới ngậm ngùi luyến tiếc cho nàng đã thiếu tự tin không biết tự hào với vẻ đẹp thuần khiết đồng nội của mình, làm hư hao phần nào hình ảnh người yêu lý tưởng trong trái tim anh. Kết quả là ở hai câu kết, câu thơ lục không chỉ có là một lập lại truyền thống vần vè: ý của nó được quyện với ý của trạng từ ít nhiều trong trong câu bát để tạo ra một âm hưởng buồn khơi dậy nơi người đọc một cảm xúc mênh manh diệu vợi. Và cũng bởi có một cảm xúc buồn diệu vợi còn đọng lại nơi tôi nên, tuy có biết tác giả Nguyễn Bính đã chết, nay đã chết rồi và mặc dù có được nghe nhiều người nhắc đến tên các ông nào là Michel Foucault, nào là Roland Barthes, nào là Jacques Derrida, v.v… tôi vẫn không sao ngắt nổi một cành hoa thạch thảo để bắt nhà thơ Nguyễn Bính phải chết theo. Và sở dĩ tôi không đành lòng đi ngắt một cành hoa thạch thảo bởi vì nếu không có Nguyễn Bính thì làm sao có bài thơ Chân quê, và nếu không co bài thơ Chân quê làm sao tôi lại có được cảm xúc mênh mang buồn diệu bữa nay. Bởi vậy càng đọc bài Chân quê và suy ngẫm về cái từ được chọn làm tựa đề, tôi càng thấy tác giả quả là một nhà thơ sáng tạo. Chỉ với hai chữ Chân quê thôi, Nguyễn Bính đã thay đổi hẳn diện mạo bản văn: Thay vì chỉ là một câu chuyện kể theo truyền thống dân gian bằng những vần điệu du dương à ới để ru em, tôi lại tìm thấy ở Chân quê một bài thơ đúng với nghĩa “’thơ’ trong nhiều ngôn ngữ Tây phương (poetry, poésie, poesía, Poesia, poesia) hàm ý hành động sáng tạo gắn liền với tri thức và kỹ thuật tinh luyện chuyên biệt trong phạm vi ngôn từ “theo quan điểm của Nguyễn Hưng Quốc & Hoàng Ngọc Tuấn trong bài viết đã dẫn (Viết, giữa truyền thống và nhu cầu sáng tạo -Văn số 37&38, tr. 23).” Tôi sẽ không đề cập tới vần điệu hay nhạc điệu là những yếu tố sẵn có trong thể lục bát. Ở đây tôi chỉ đề cập tới sự cách tân và tính sáng tạo trong kỹ thuật vận dụng ngôn ngữ để làm mới ngữ nghĩa. Trên đây tôi đã có dịp phân tích ý nghĩa đặc biệt của các từ mãi, rộn ràng, quê mùa để minh chứng về kỹ thuật vận dụng ngôn ngữ của Nguyễn Bính. Nay tôi chỉ muốn nhấn mạnh thêm về tính sáng tạo của hai chữ “chân quê” khiến tôi phải đọc lại bài thơ từ đầu và, nhờ đó phát hiện ra cách sử dụng đặc biệt mấy từ trên giúp tôi diễn dịch bài thơ theo một hướng mới làm thay đổi hẳn nội dung, ý nghĩa, giá trị bản văn. Nếu tôi hiểu không sai lắm, thì dường như do đặc tính này, ta cũng có thể tìm thấy ở “Chân quê” một ti tí tân hình thức, một ti tí hủy cấu trúc hay một ti tí hậu hiện đại gì đó thì phải. Trước hết ta không thể phủ nhận từ này là một sáng tạo của Nguyên Bính, bởi lẽ nó không chỉ mới lạ ở thời Nguyễn Bính, mà ngay cả bây giờ cũng ít thấy trường hợp sử dụng nó trong những bài thơ hay truyện viết về đồng quê. Tuy chỉ cần thay thế chữ nhà (quê) bằng chữ chân (quê) là ý nghĩa và giá trị bài thơ thay đổi hẳn, nhưng việc làm không dễ dàng như ta tưởng. Trái lại nó đòi hỏi người thực hiện công việc đó phải có vừa một kiến thức tầm vóc vừa một kỹ thuật tinh luyện trong phạm vi ngôn từ mới biết kết hợp chữ chân với chữ quê thành từ chân quê khiến bài thơ bỗng trở nên sáng giá. Bởi vậy ta có thể nói hai chữ chân quê trong trường hợp sử dụng này phải là thành quả tư duy của cả một quá trình phân tích và tổng hợp nên mới đạt được mức trừu tượng hóa cao đến thế.

Tôi không rành tiếng Anh, tiếng Ðức, tiếng Nga hay tiếng Nhật nên không biết các ngôn ngữ này có một hay hai từ nào tương xứng để dịch được trọn ý từ chân quê trong câu thơ của Nguyễn Bính hay không? Riêng về phần tôi sẽ vô cùng lúng túng nếu có ai nhờ tôi dịch câu thơ này ra tiếng Pháp. Phải chi Nguyễn Bính dùng hai chữ nhà quê như mọi người, tôi sẽ dịch dễ dàng câu thơ: “Thầy u mình với chúng mình nhà quê ra: “Nos parents et nous deux, nous sommes tous des campagnards.” Nhưng để dịch hai chữ chân quê của Nguyễn Bính lúc đầu tôi có ý sửa câu dịch thành: “Nos parents et nous deux, on est paysans de souche” và nghĩ rằng cụm từ paysans de souche nói lên được cái ý nguồn gốc trong nghĩa hán của từ chân, đồng thời từ paysans để đánh dấu sự khác biệt với từ campagnards thường dược dùng với ngụ ý dè bỉu (sens péjoratif). Nhưng khi đọc lại câu vừa sửa, tôi thấy cần phải thêm một vài chữ nữa để bổ nghĩa như sau: “Nos parents et nous deux, on est paysans de souche et on en est fiers,” có thế một người Pháp chính gốc mới nhìn ra được cái ý của niềm tự hào về nguồn gốc nông dân tiềm ẩn trong chữ chân. Nhưng tự hào về cái gì cơ chứ? Thế là tôi lại thấy có thêm vào mấy chữ “…et on en est fiers” vẫn chưa đủ, vì trong từ chân còn có ý nói lên cái đẹp, cái khía cạnh tích cực, ở đây là phẩm chất con người và đời sống thuần thôn dã: siêng năng, bình dị, lương thiện, sống hòa hợp với thiên nhiên… Mà muốn câu dịch diễn tả trọn vẹn ý nghĩa cái hay cái đẹp nằm trong câu thơ của Nguyễn Bính chắc là tôi còn phải thêm lời giải thích. Nhưng dịch câu thơ có tám chữ mà phải lời lẽ lòng thòng đến thế thì nó đâm ra là thẩn mất rồi, đâu còn là thơ được nữa. Bởi vậy tôi rất mong có những vị thuộc thành phần học thức uyên bác rành ngoại ngữ, bất cứ ngoại ngữ nào dù là tiếng Anh, tiếng Ðức, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Nhật hay tiếng Congo cũng được, xin mấy vị hãy làm ơn làm phúc cũng như làm giàu (đẻ con không sợ trọc đầu) dịch giùm tôi câu thơ trên của Nguyễn Bính ra một thứ tiếng nước ngoài. Nhưng phải dịch cho ra thơ mới được cơ; còn dịch để biến nó thành thẩn là tôi hổng có chịu đâu… Ứ… Ừ… ! Nếu chỉ với đôi ba từ quí vị dịch lột được ý hai chữ chân quê của Nguyễn Bính, tôi sẵn sàng mua cặp gà mái dầu (gà lành thứ thiệt nuôi tại chuồng nhà chứ không phải thứ gà mắc dịch cúng gia cầm đâu nhá) để xin tôn vinh làm sư phụ.

Bài “Chân quê” của Nguyễn Bính được viết ra vào năm 1936, tức là vào thời điểm nhân dân ta vừa thoát khỏi họa một ngàn năm nô lệ giặc Tầu lại rơi ngay vào vòng kiềm tỏa của một trăm năm đô hộ giặc Tây (nhưng may quá còn chưa lâm vào cảnh ba mươi năm nội chiến từng ngày). Dưới ánh sáng của các lý thuyết cách tân văn học hiên đại, “Chân quê” chỉ đáng coi thuộc loại văn học truyền khẩu trong một nước mù chữ mà trình độ dân trí, ở thời điểm này, đa số chỉ tới mức bình dân học vụ là cùng. Có lẽ vì vậy Nguyễn Bính đã chọn hầu như toàn những lời lẽ trong sáng giản dị nhất để bài thơ có thể phổ biến rộng rãi trong dân gian. Lời lẽ giản dị trong sáng đến độ Hoàng Tấn có lần trước mặt Nguyễn Bính đã phải thốt lên: “Bài thơ trần trụi tới mức như con nhộng, ai mà chẳng hiểu” (Nguyễn Bính – Một vì sao – trích hồi ký Hoàng Tấn, trong cuốn Nguyễn Bính -Thơ và Ðời, tr. 152). Ðáp lại, Nguyễn Bính đã nhân dịp bày tỏ quan niệm sáng tác thơ của mình: “Tôi chủ trương thơ Việt viết cho người Việt, trước hết phải mang sắc thái và phong cách Việt, do đó giản dị là một điều cốt lõi. (Giản dị đây không đồng nghĩa với dễ dãi tầm thường…)” – [Bdd, tr. 153 ].

Về quan niệm sáng tác này, Hoàng Tấn đã có cơ hội kiểm chứng sau một thời gian được chung sống với nhà thơ: “Nếu với thơ, Bính đắn đo suy nghĩ có khi đến quên ăn quên ngủ vì một từ, viết nháp nhiều lần, sửa chữa kỹ lưỡng từng câu từng chữ, trước khi đưa in viết sạch sẽ nắn nót bao nhiêu, thì trong cuộc sống Bính bạt mạng buông thả bấy nhiêu.” (Bdd, tr. 160) Các sự kiện trên đây đều do Hoàng Tấn thuật lại trong hồi ký, nên tôi không dám chắc phát biểu của Nguyễn Bính có đúng là nguyên văn hay không. Riêng về phần câu: Giản dị đây không đồng nghĩa với dễ dãi tầm thường, trong trích đoạn hồi ký được in lại, không có chỉ dấu nào cho biết phần phát biểu của Nguyễn Bính tới đâu là chấm dứt nên, mặc dù đọc đi đọc lại tới ba bốn lần, tôi vẫn không dám quyết đoán câu này là lời giải thích thêm của Nguyễn Bính hay là một nhận xét riêng của tác giả hồi ký. Dầu vậy dựa trên bài “Chân quê” và một số bài thơ khác của Nguyễn Bính, tôi cho rằng những điều Hoàng Tấn ghi nhận về Nguyễn Bính là khả tín và phản ánh được trung thực quan niệm sáng tác của nhà thơ. Từ đó tôi rút ra hai hệ luận như sau: Một là, văn chương Việt Nam cho tới thời Nguyễn Bính nói chung, nếu quả đúng chỉ thuộc loại văn chương truyền khẩu gồm những bài hát vè, những chuyện kể vần điệu du dương à ới để ru em mà thôi, thì với những bài hát vè như bài “Chân quê” dân tộc ta, may mắn thay, tuy không phải là một dân tộc thi sĩ, nhưng ít ra cũng có một vài người thuộc loại Nguyễn Bính có mang chút ít tâm hồn thơ; hai là, vào thời điểm của Nguyễn Bính nhân dân ta phải sống dưới sự kìm kẹp của thực dân Pháp nghĩa la còn là một dân tộc nô lệ nên chỉ có thể nói thứ tiếng nô lệ mà thôi, theo đánh giá của Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc Tuấn (bdd). Nhưng với cách vận dụng đầy sáng tạo của Nguyễn Bính qua bài “Chân quê,” tôi tin rằng bất cứ nhà bác học thực dân phú lang xa mũi lõ mắt xanh tóc hung nào là thànhviên của Viễn Ðông Học Viện (Ecole de l’Extreme -Orient) nếu có đọc bài thơ này và nắm được ý nghĩa của hai chữ chân quê trong câu thơ Nguyễn Bính thì, dù tự cho mình có sứ mạng đến khai hóa cho đám dân ngu cu thâm bản xứ, ông ta với tinh thần phục thiện, chắc cũng phải ngả nón cúi đầu xin chào thua mà thôi. Bởi vậy tôi không tin có thứ ngôn ngữ nô lệ của một dân tộc nô lệ và thứ ngôn ngữ tự do dành cho các dân tộc tự do, mà chỉ có những đầu óc nô lệ với quán tính tư duy nô lệ nên bắt chữ nghĩa phải mang thân phận nô lệ do cung cách phát biểu mang tinh thần nô lệ hay do căn bệnh làm biếng suy nghĩ tìm tòi của mình mà ra. Cũng vì vậy, ai muốn nói gì thì nói, tôi vẫn cứ yêu tiếng nước tôi như thường. Tiếng nước tôi? Vâng tiếng nước tôi là thứ tiếng mà tôi trót yêu từ khi mới ra đời (người ơi!). Còn cái được gọi là nước tôi í à, thì nay nó lại nằm tại Pháp, tại, Ðức, tại Mỹ, tại Nga, tại Úc… nghĩa là ở tận đẩu đâu, tại một nơi nào đó trên địa cầu, chứ không còn thuộc về mảnh đất mang hình chữ S bên bờ Thái Binh Dương nữa. Và cũng bởi nước tôi nay không còn là mảnh đất mang hình chữ S nằm bên bờ Thái Bình Dương nên tôi lại càng thèm được nhận (vơ) tiếng Việt là tiếng nước tôi hơn bao giờ hết…

Nguyễn Bảo Hưng

(Nguồn: Thư viện Sáng tạo)

 

.

 

 

         CHUYÊN MỤC : CHUYỆN XƯA…CHUYỆN NAY

Huy Nguyên (giới thiệu, sưu tầm, tổng hợp)

 

Quan thanh liêm thì ở thời nào, đất nước nào chẳng có, nhưng chắc là thiểu số so với số lượng quan tham nhũng. Các bài học về đạo làm quan tốt, “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” lúc nào chả có, từ trong trường lớp đến ngoài đời, từ các bậc thánh hiền ngày xưa đến các vị thức giả ngày nay. Biết cho vui vậy thôi, chứ khi làm không vậy, ít nghĩ đến lợi ích của người dân mà nghĩ nhiều đến chuyện vơ vét cho thỏa lòng tham. Nhưng mà túi tham không đáy, làm sao cho đầy được đây? Chuyện đó nhỡn tiền, ai chẳng thấy! Thôi thì cùng ôn lại những tấm gương sáng quan thanh liêm để mong sao mình và người được tốt hơn, mà cùng vui sống trong thời đại “thái bình thịnh trị” vẫn là cái đích  xa vời trên con đường phía trước!  HN

 

1. Gương xưa:

Tham là một bệnh lớn nhất trong thiên hạ và dễ mắc hơn tấc cả các bệnh, cho nên Thanh Liêm là một đức quí nhất và cũng khó rèn luyện nhất trong các Đức.
Tuy vậy, người vẫn còn để lại nhiều gương sáng cho đời soi. Như Công Nghi Hưu thời Chiến Quốc, là một.
Công Nghi Hưu làm tướng nước Lỗ, tánh rất thích ăn cá. Nhưng, một hôm, có người đêm cá đến biếu. Ông lại không nhận. Người em ngạc nhiên hỏi, ông đáp:
– Người ta đem cá cho chắc có ý muốn cầu ta việc gì. Nếu ta nhận thì ta phải giúp việc cho người. Giúp việc cho người, lỡ trái phép nước thì đến mất quan. Mà mất quan, thì chẳng những không có cá biếu, đến cả cá mua cũng không có nữa. Không nhận cá chính ta muốn có cá ăn hoài vậy.
Như thế là Thanh Liêm. Nhưng bằng theo lời nói trên đây xét thì lòng Thanh Liêm của Công Nghi Hựu không tuyệt đối, vì còn sự cân nhắt lợi hại, thiệt hơn. Chưa bằng Dương Chấn đời Hậu Hán.
Dương Chấn tiến cử Vương Mật ra làm quan. Sau đó Dương công được bổ đi làm Thái Thú Đông Lai, đi ngang qua đất Xương Ấp là nơi Vương Mật cai trị. Nhớ ơn đề bạt ngày xưa, Vương Mật xin đến yết kiến rồi đêm khuya đem vàng đến dâng Dương công. Công từ chối và bảo:
– Trước kia biết ông là người khá, tôi mới tiến cử ông. Thế mà ông vẫn chưa rõ bụng, còn đem vàng cho tôi ?
Vương Mật cố này ép, thưa:
– Xin Ngài nhận cho. Đêm khuya không ai biết.
Công liễm dung đáp:
– Trời biết, đất biết, ông biết, tôi biết. Sao gọi rằng không ai biết?
Vương Mật nghe nói xấu hổ bưng vàng lui ra.
Tấm lòng của Dương Chấn thật sáng tỏ như mặt trời ban trưa. Nhưng chưa bằng lòng Tư Hãn đời Xuân Thu.
Tư Hãn làm quan giữ thành nước Tống. Có người được viên ngọc đem biếu, Tư Hãn không nhận. Người biếu ngọc thưa:
– Ngọc này tôi đã đem cho thợ ngọc xem. Quả là thứ ngọc báo mới dám đem dâng Ngài. Xin Ngày nhận cho tôi được vui lòng.
Tư Hãn đáp:
– Nhà ngươi cho ngọc là của báo, ta cho tánh không tham là của báu. Ngươi đem ngọc cho ta, nếu ta nhận, thì hai bên điều mất của báu. Âu là ngươi cứ đem về. Của báu ai nấy giữ. Như thế cả hai đều còn của báu, thì chẳng hơn sao ?
Người biếu ngọc cúi đầu thưa:
– Chúng tôi là thường dân mà giữ ngọc báu thì e không tránh khỏi trộm cướp, mà có khi còn bị hại đến thân.
Tư Hãn bèn lưu người biếu ngọc ở lại. Đoạn tìm thợ đến dũa ngọc rồi đem bán lấy tiền trao cho người chủ ngọc mang về.
Tấm lòng của Tư Hãn vừa liêm khuyết vừa nhân hậu và cách xử sự kia cao đẹp không chi bằng!
Làm quan mà được như Công Nghi Hựu, như Dương Chấn, trên đời kể không được nhiều lắm. Đến như Tư Hãn thì xưa nay e chưa có người thứ hai.
Mà xưa nay nhiều người lầm tưởng rằng đức Liêm chỉ cần cho người có quyền có thế. Cho nên chỉ nghe nói đến quan Thanh Liêm chứ không nghe nói đến dân Thanh Liêm. Thật ra Thanh Liêm là thu liễm lòng tham lại để cho phẩm hạnh được trong sạch, thì riêng gì người làm quan, người có quyền có thế mới có đức Liêm. Và người Liêm chẳng những không tham lợi, mà đến danh cũng không tham. Gặp phú quí mà không phải đạo thì người Liêm nhất định không nhận. Như người bán thịt dê ở nước Sở thời Xuân Thu.
Người bán thịt dê ấy tên là Duyệt. Vua nước Sở là Chiêu Vương bị giặc đánh phải bỏ nước chạy, người bán thịt dê cũng chạy theo. Sau vua Chiêu Vương lấy lại được nước, bèn thưởng cho những kẻ tòng vong. Người bán thịt dê cũng ở trong đám được thưởng. Ai nấy đều nhận, chỉ có người bán thịt dê từ chối, nói rằng:
– Trước nhà vua mất nước, tôi mất nghề bán thịt dê. Nay nhà vua lấy lại được nước, tôi được trở lại nghề bán thịt dê. Thế là tôi giữ được nghiệp cũ, đủ ăn rồi, còn đâu dám mong thưởng nữa.
Nhà vua cố ép. Người bán thịt dê thưa:
– Nhà Vua mất nước không phải là tội tôi, nên tôi không dám liều chết. Nhà Vua lấy lại nước không phải là công tôi, nên tôi không dám lãnh thưởng.
Nhà Vua bảo:
– Để rồi ta đến nhà của ngươi chơi vậy.
Người bán thịt dê đáp:
– Theo phép nước Sở, người nào có công to, được trọng thưởng thì Vua mới đến nhà. Nay tôi xét bản thân tôi, mưu trí không đủ giữ được nước, dũng cảm không đủ giết được giặc. Quân giặc vào nước, tôi lánh nạn, phải theo nhà Vua, chớ có phải cốt theo giúp nhà Vua đâu. Nay nhà Vua bỏ phép nước, đến chơi nhà tôi, e thiên hạ nghe thấy chê cười vậy.
Vua Chiêu Vương nghe nói quay lai bảo quan Tư Mã Tử Kỳ rằng:
– Người hàng thịt dê này tuy làm nghề vi tiện mà giãi bày nghĩa lý rất cao xa. Nhà ngươi làm thế nào mời ra nhận chức Tam Công cho ta.
Người hàng thịt dê nói:
– Tôi biết chức Tam Công quí hơn nghề bán thịt dê, bổng lộc nghìn vạn, giàu hơn tiền lãi bán thịt dê. Nhưng tôi đâu dám ham tước lộc mà để Vua mang tiếng là gia ơn không phải nghĩa. Tôi thực không dám nhận. Xin cho tôi về giữ lấy nghề bán thịt dê của tôi.
Nói đoạn lui ra ngay.
Người bán thịt dê không nhận thưởng vì biết mình không có công cán gì, không nhận chức vì biết mình không có tài cán hơn người. Như thế thật là Liêm. Và đó là một tấm gương ” dân liêm ” vậy.
Lòng liêm khiết của các nhân vật nói trên là không tham danh, không tham lợi do người khác đem đến. Cũng đã thật cao, nhưng chưa tuyệt cao. Lòng liêm của Duyên Lăng Quí Tử đời Xuân Thu mới thật là tuyệt.
Duyên Lăng Quí Tử ở nước Ngô sang sứ nước Tấn, ghé qua chơi với Vua nước Từ. Vua nước Từ thấy Quí Tử mang thanh bảo kiếm, có ý muốn xin mà không muốn nói ra. Quí Tử đoán biết, định bung sẽ dâng kiếm cho nhà vua sau khi lo xong sứ mệnh. Nhưng khi về qua nước Từ thì Vua Từ đã mất. Quí Tử toan trao cho tự quân. Kẻ tùy tùng ngăn lại, nói:
– Thanh kiếm này là vật báo của nước Ngô, không phải thứ để tặng.
Quí Tử đáp:
– Không phải là ta tặng. Độ trước ta ghé lại đây, Vua Từ xem kiếm ta, tuy ý muốn, nhưng không nói ra. Vì ta còn phải đi sứ thượng quốc nên chưa dâng được. Tuy vậy bụng đã định cho. Nay Vua Từ mất mà ta không hiến thanh kiếm, thì ta tự dối lòng ta. Tiếc kiếm mà dối tâm người Liêm không chịu làm.
Nói đoạn tháo kiếm trao cho tự quân. Tự quân nói:
– Tiên quân không dặn việc ấy nên tôi không dám nhận kiếm.
Quí Tử bèn đem kiếm treo nơi mộ Vua Từ rồi đi.
Chao ôi! Liêm đến mức ấy thì thật quá đỗi cao, người đời không thể nào với tới. Chúng ta có thể theo kiệp chăng, hoạ may theo kịp Công Nghi Hựu, Dương Chấn là hết sức …Đã biết rằng không phải ai ai cũng có thể thành hiền, thành thánh, nhưng ai nấy đều có thể lấy hiền thánh mà tự kỳ.
Tây triết có câu ” Vouloir c’ est pouvoir” nghĩa là ” muốn thì được “. Chúng ta thử rủ nhau ” muốn Liêm ” xem sao.

(Quách Tấn)

 

          2. Những vị quan thanh liêm trong thời trước ở nước ta:

 

Chắc là  nhiều, nhưng không có điều kiện tra cứu đầy đủ, nên chỉ xin dựa vào báo chí, nói qua vài người trong triều Nguyễn, như:

Phạm Thận Duật, hiệu Vọng Sơn, sinh năm 1825 trong một gia đình trí thức nho học nghèo ở Yên Mô Thượng, xã Yên Mạc, huyện Yên Mô, Ninh Bình. Từ nhỏ, ông chủ yếu học các ông giáo làng và tự đi thi ra làm quan. Năm 1850, ông thi đỗ cử nhân ở trường Nam và năm 1851 ra làm quan  dưới triều Nguyễn thời Tự Đức. Gần 20 năm liên tục làm quan tỉnh Bắc Ninh, ông lần lượt giữ các chức Tri châu Quế Dương, Tri phủ Lạng Giang, Bang biện tỉnh vụ kiêm Đồn điền sứ, Án sát sứ rồi Bố chính Bắc Ninh. Sau đó giữ chức Tuần phủ Hà Nội, Bắc Ninh, Hộ lý Tổng đốc Bắc Ninh – Thái Nguyên..Phạm Thận Duật là vị quan yêu nước, ông luôn quan  tâm đến vận mệnh Tổ quốc trước tình hình thực dân Pháp xâm lược nước ta.
Bên cạnh những cống hiến trong phong trào chống Pháp, cuộc đời và sự nghiệp của Phạm Thận Duật còn là tấm gương sáng về đức tính thanh liêm, chính trực đối với dân, với nước.

               – Lê Trung Lượng (thân phụ của Lê Trung Đình – một nhân vật lịch sử nổi tiếng ở Quảng Ngãi) sinh vào khoảng những năm 20 của thế kỷ XIX. Ông đậu cử nhân khoa Nhâm Tý (1852) tại trường thi Bình Định. Một thời gian sau, Lê Trung Lượng được bổ giữ chức Tri huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ở cương vị này ông có điều kiện thi thố tài năng, thực hiện trách nhiệm dân chi phụ mẫu ( cha mẹ của dân). Ông đóng góp một phần đáng kể vào công cuộc khẩn hoang nhằm mở rộng diện tích canh tác, thiết lập những ngôi làng mới được dân chúng sở tại tôn làm phước hiền.
Là một người nổi tiếng thanh liêm như Tự Đức đã từng ban khen “Thanh như Lượng”, và mang trong mình khí tiết cao quý của một kẻ sĩ.
– Phạm Văn Toán: Tổng đốc Nam Định Phạm Văn Toán được triều Nguyễn phong cho hàm Thái tử Thiếu bảo năm 1909. Là quan thanh liêm, tận tụy với việc triều chính, hết lòng thương dân, lại giỏi thơ phú, cụ đã có nhiều đóng góp đáng kể cho đất nước và được thờ ở đền Mây (Phố Hiến), đền Cố Trạch (Nam Định), miếu ở Đồ Sơn (Hải Phòng). Hiện cụ được con cháu dòng họ Phạm thờ cúng trọng vọng ở  ngõ 56, phố Pháo Đài Láng (Đống Đa, Hà Nội).

 

CHUYÊN MỤC SƯU TẦM NGỮ NGHĨA TIÊNG VIÊT

                      Tiếng Việt cổ ( Môn- Khmer) qua hang nghìn năm nay biến đổi rất phức tap do giao thoa văn hóa, trước hết với cộng đồng Hán ( thời Bắc thuộc) đến cộng đồng Hoa sang tị nạn, tiếng Chăm… Sang thế kỷ 19-20 tiếng Việt lại tiếp xúc với tiếng Pháp, Bồ Đào Nha và nay là Anh…làm cho vốn từ càng ngày càng phong phú thêm. Gần nửa Mấy Docago mở chuyên mục này nhằm trao đổi ngữ nghia của tiếng Viêt:

         Trong giao tiếp, nói chuyện hoặc trong viết lách gần như thường xuyên do quen miệng, ta vấp phải hai từ do. Đó là

Yếu điểm và điểm yếu . Ta cứ tưởng “yếu điểm”  là từ Hán Việt còn “:điểm yếu” là thuần Việt và chúng cùng một khái niệm.

       Yếu điểm: (chữ Hán :要 点)  tiếng Pháp : point fondamental, point essential nghĩa là điểm quan trọng, chủ chốt.

          Còn khi ta đảo lại theo cấu trúc Việt, “ điểm yếu”, thì nghĩa lại khác là nhược điểm ( 弱点 )tiếng Pháp: côte’faible, défaut hoặc lacune.

       Chữ 幻 đọc là Huyễn hay Ảo? Trong từ điển Từ Hải và từ điển tiếng của Thiều Chửu, chữ 幻 chỉ có một âm huyễn ( huan) như trong huyễn hoặc (Tiếng Pháp= illussoire).  Vậy các cụ ta đọc nhầm chữ này rồi lâu  quen thành ảo chăng? Nhưng qua từ điển Đào Duy Anh, từ điển  Việt Hán của Hà Thành TQ lại có. Tiếc rằng Docago chưa mang vào quyển Từ Nguyên xuất bản thời đầu Trung Hoa Dân Quốc  để tra cứu them phiên thiết xưa. Từ đó ta có ảo tượng (幻 象-huan xiang-vision) tức là hiện tượng, hình ảnh không thật. Tiếp theo sản sinh ra một loạt từ đi kèm với ảo như :ảo mộng(幻梦- huan meng- chimère),ảo thuật (幻术- huan shu- magie), ảo giác ( 幻觉- hallucination, ảo ảnh( 幻 影-ombre, fantôme), ảo  tưởng(幻想- fantaisie, illusion) ảo đăng (幻 灯-lampe à projection)… Cần chú ý là từ điển Hán Pháp  đều phiên âm là huan= huyễn)

CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE

Đỗ Cao Đàm ( Sưu tầm tiếp theo)

           11.-Nội soi ruột già rất đau có phải không ?

Mọi người thường cho rằng việc soi ruột già rất đau đớn nhưng thực tế không phải vậy. Nội soi ruột già là một phương pháp đơn giản và không gây đau đớn. Quá trình thực hiện chỉ kéo dài khoảng 30-60 phút và bệnh nhân được tiêm thuốc gây tê. Tuy vậy, việc chuẩn bị cho quá trình này có thể khiến bệnh nhân bồn chồn, do ruột già phải được làm sạch. Người bệnh phải sử dụng một loại thức ăn lỏng và thuốc nhuận tràng một, hai ngày trước khi tiến hành nội soi. Hãy nói chuyện với bác sĩ để biết các bước chuẩn bị của mình.

             12.-Ngủ ngồi ngăn ợ chua?

Không có chứng minh khoa học nào công nhận rằng ngủ ngồi sẽ

tránh được hiện tượng ợ chua vào sáng hôm sau. Phương pháp này chỉ có tác dụng tinh thần, khiến bạn an tâm hơn.

           13.-Hội chứng rối loạn tiêu hóa có thể kiểm soát bằng ăn kiêng?

Mặc dù nhiều loại thức ăn có thể khiến bạn bị rối loạn tiêu hóa

nhưng chỉ với phương pháp ăn kiêng là không đủ để kiểm soát. Rối loạn tiêu hóa gây nên hiện tượng đau dạ dày, đầy hơi, tiêu chảy hoặc táo bón.

Nguyên nhân chính của rối loạn tiêu hóa là do căng thẳng và quá lo lắng.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s