Docago.wordpress.com số ra thứ 6 ngày 23/9/2011( tức 26 tháng 8 năm Tân Mão)

                              Docago.wordpress.com số ra thứ 6 ngày 23/9/2011 (tức 26 tháng 8 năm Tân Mão)

 

                 CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY             

 

  Đỗ Anh Thơ:

                  Hình ảnh văn hóa tư tưởng trên thế giới

           (Illustration of Thinking culture in the World)

 

                            

                                                        Tượng Cicero

 

 

                                      

 

 

      

 

  

 

               Quyển sách này có mục đích một phần  tiếp nối quyển “Những kiến giải vè triết học khoa học” của soạn giả . Tự mình xác định   là người làm công tác thông tin tư  liêu, như kẻ đọc, tóm tắt , tường thuật giản lược….các luồng tư tưởng, những ngả sông suối chằng chịt từ trên cao đổ về xuôi,  suy ngẫm và luôn luôn  trăn trở phản tư các cách suy nghĩ, nên soạn giả hồi cố lại các nhà tư tưởng cổ đại để cuối cùng đưa bạn đọc suy ngẫm sang thế giới hiện đại. Như có lần soạn giả đã viêt trên mạng về Triết học học đường như sau:

 

     “Đề cập tới hai chữ “triết học”, các em học sinh sinh viên đều có một cách nhìn giống nhau, cho rằng đây là một môn học khô khan, trừu tượng , khó hiểu. Do đó phần lớn thời gian khi ngồi trên ghế nhà trường các em đều học một cách đối phó, bị động, học thuộc lòng, không hề có chút nào động não. Do đó nên đến lúc ra trường công tác, làm những lao động ngành nghề khác nhau trong xã hội, các em hầu như đều biến thành những công cụ, những cỗ máy bị điều khiển, làm theo lệnh chỉ huy từ trên xuống, không bao gìơ biết phản tư, phê phán, lật ngược vấn đề mà tìm ra những ý tưởng mới, sáng tạo mới. Đây là hậu quả của việc học tập rập khuôn theo sách vở thánh hiền kéo dài hàng nghìn năm nay ở đất nước ta, mà đến nay chúng ta vẫn đang theo. Lối mòn đó là xem lời của Khổng, Mạnh (nay thì lời của thầy, sách của Bộ do những nhóm “chuyên gia” già cả, không được cập nhật hóa soạn thảo) là chân lý tuyệt đối, buộc phải noi theo.

          Bước sang thế kỷ 21, một trong những cải cách đầu tiên của ngành giáo dục là vấn đề rèn luyện cho các em có được cái tư duy “biết phủ định”. Ta không nên gọi đó là “nếp” suy nghĩ như lâu nay vẫn quen dùng mà phải gọi là “phương pháp”. Bởi vì đã là “nếp” nhăn trong bộ não là ngày càng hằn sâu, nó khác với phương pháp là phải luôn luôn thay đổi. Và chỉ có trên cơ sở biết phủ định, biết phản tư (criticism), biết tìm tòi những sai lầm trong nhận thức của bản thân mình và của người khác, thì ta mới có khả năng có giả tưởng, có sáng tạo và tìm ra được những ý tưởng mới.

           Truy nguyên từ chữ Hy Lạp cổ, “philosophia” gồm có hai thành tố: “philo” có nghĩa là ham thích, “sophia” là tranh biện. Còn chữ triết học (哲學) thì tuy là chữ Hán nhưng được các học giả Nhật Bản sử dụng đầu tiên để dịch chữ “philosophia”. Sau đó Hoàng Đạo Quang, Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi… mới dùng nó để dịch hàng loạt sách triết học phương Tây, trở nên phổ biến rộng rãi như ngày nay. Đem chiết tự chữ “triết” ta cũng có hai thành tố là “chiết” và “khẩu”, nghĩa là dùng lời lẽ để bắt bẻ.

           Bản thân danh từ philosophia có hàm nghĩa rất rộng. Đó là sự ham hiểu biết, yêu trí tuệ (love of wisdom). Bởi vậy, đề cập đến triết học còn có nghĩa là ta say mê tìm hiểu, nhận thức về ta, về thế giới xung quanh. Nó đồng nghĩa với khái niệm tìm hiểu “tính” (giống loài, trong đó có ta, có con người) và “thiên đạo” (vũ trụ) của triết học phương Đông.

            Tìm hiểu cái gì? Như nhà triết học vĩ đại người Đức là Kant đã nói, đó là bốn vấn đề: ta biết và chưa biết cái gì, ta cần phải làm gì, ta có kỳ vọng gì, và con người ta là gì. Sự truy tìm đó là khôn cùng, bằng lý niệm và kinh nghiệm, bằng duy tâm và duy vật, bằng thực chứng và giả chứng (giả thiết), bằng phương pháp quy nạp và diễn dịch, v.v… Từ đó mà trên thế giới, trong lịch sử đã có hàng mấy chục học phái khác nhau, chống đối nhau, kế thừa nhau, hưng khởi rồi lụi tàn. Mỗi học phái đều có cái đúng cái sai khác nhau, và không có cái nào là chân lý, đúng tuyệt đối. Có thể nói “chân lý” là cái mà con người, từ thế hệ này sang thế hệ khác, truy cầu nhưng không bao giờ nắm bắt được. Đứng trên quan điểm đó nên Einstein, Whitehead… mới có thể tìm ra thuyết tương đối, cơ học lượng tử, chứng minh được những cái sai, cái bất cập của cơ học cổ điển của Newton, từng ngự trị gần ba trăm năm cho đến khi con người bước ra khỏi sức hút của quả đất thì mới lộ rõ cái sai. Với lý thuyết mới, ta giải thích được tại sao không gian lại cong đi mà thời gian thì co lại, mới có thể chứng minh được tiên đề song song là sai hoặc định luật tổng góc trong của hình tam giác có thể lớn hơn hoặc bé hơn 180 độ tuỳ theo mặt không gian lồi hay lõm, v.v…

       Tất cả những điều đó đều nhờ có những bộ não luôn luôn biết lật đi lật lại vấn đề. Thế kỷ trước đã như vậy, bước sang thế kỷ 21, khi các ngành khoa học ngày càng giao thoa, giao diện (interdisciplinary, interface), tuỳ thuộc lẫn nhau mãnh liệt hơn bao giờ hết, thì con người lại cần phải có cách suy nghĩ như vậy. Hầu như mọi phát minh khoa học đều nẩy sinh trong miền giao thoa này. Triết học là môn khoa học lý luận về tư duy, càng có sự giao thoa, giao diện mạnh hơn rất nhiều lần. Ngày nay, người ta không còn bàn đến vấn đề là phải kết luận dứt khoát vật chất có trước hay tinh thần có trước, không còn phải phân định rạch ròi giữa duy vật và duy tâm… Người ta đã đi sâu hơn về mặt bản thể luận, về mặt ngoại vật lý (metaphysic) mà trước nay ta quen dùng theo thuật ngữ của giáo sư Hoàng Xuân Hãn là “siêu hình”. Trong khi đó ở Trung Quốc, họ lại mượn thuật ngữ của Kinh Dịch là “hình nhi thượng” để diễn đạt khái niệm metaphysic, tức là những cái có trước vật chất, tồn tại trước sự sống, ví dụ như gien có trước khi em bé chào đời. Bởi thế, hiện nay không chỉ phương Tây mà ở Nhật, Trung Quốc cũng đang chú trọng nâng cao tu dưỡng triết học, nhất là phần meta, là cái gốc của nhận thức (Trung Quốc dùng chữ nguyên cũng lại là một thuật ngữ của Kinh Dịch, chỉ quẻ Càn) cho học sinh sinh viên. Triết học đây không còn bó hẹp trong triết học chính trị mà đã mở rộng ra tới triết học khoa học, triết học toán, triết học sinh vật, triết học môi trường (không chỉ là môi trường sống của con người mà còn cả quyền sống của muôn loài khác), triết học đạo đức, thậm chí cả triết học nữ quyền (feminism)… Thật vậy, với đà phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, không có cái gì mà con người không làm được, kể cả nhân bản vô tính, phục chế con người (human cloning, human reproductive cloning), nhưng đồng thời, nếu như không có triết học luân lý, đạo đức, nghĩa là không có tư duy đúng, nguyên lý luận đúng, thì con người cũng có thể đánh mất tất cả và sẽ đi đến chỗ diệt vong. Tư duy đúng ở đây không phải là lặp lại cái khuôn mẫu có sẵn, sáo rỗng, giáo điều, bảo thủ mà bản thân thuật ngữ của nó (dogmatism) đã nói lên tất cả. Tư duy đúng là tư duy mở, có tính tranh luận, ham hiểu biết, dám phủ định… như đã nói ở trên .

           Cái hồ nước cho dù rộng mấy nhưng không có dòng chảy, không có sông suối, không thông ra biển cả… thì trước sau cũng trở thành cái hồ chết mà thôi. Đến đây, sẽ có rất nhiều học giả bảo thủ nêu lên các lý do nào là “hoà nhập” mà không “hoà tan”, v.v… để cho rằng những dòng triết học khoa học phương Tây, triết học hiện đại mang tính hiện sinh, thực dụng là tư bản suy đồi… Đó là những lời ngụy biện. Thật ra, lâu nay những nhà nghiên cứu triết học, kể cả các bậc có học vị cao, do thiếu cái nền học vấn khoa học cơ bản sâu (toán, lý, hoá trên đại học), thiếu hiểu biết kỹ thuật, nên luận đề của họ đưa ra đầy rẫy mâu thuẫn. Chỉ nói riêng mệnh đề nêu trên, lấy thí nghiệm Bernoulli, là thí nghiệm bơm một giọt mực vào một bình nước, để dẫn chứng. Quan sát hiện tượng, ta sẽ thấy nếu để yên, dòng mực thành một tia rồi tan dần, nhưng nếu đem bình lắc mạnh thì nó hòa lẫn ngay với nước. Điều đó chứng tỏ, dòng mực nếu không đủ nhiều, đủ mạnh, đủ đậm đặc… thì sự hoà tan không để lại chút dấu vết gì là điều tất yếu. Do vậy, trong một xã hội mở, muốn bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, chúng ta không thể lập hàng rào.
         Giống như trong bình nước, ta chỉ có thể tìm những lối tư duy mới, cơ chế miễn dịch mới. Đó là phương pháp giảng dạy, đào tạo mới, trước hết là phương pháp tư duy (triết học) mới. Ta có thể lấy câu nói của George Polya (1888-1985), nhà toán học Mỹ gốc Hungary, bàn về phương pháp dạy toán, là phải “dạy cho học sinh suy nghĩ” (teach to think). Ban đầu là “làm thế nào để giải đề” (How to solve it) sau tiến lên một mức cao hơn là “khám phá con đường logic phát hiện toán học” (the logic of mathematical discovery) để cải tiến cách dạy và học các môn khoa học nói chung, triết học nói riêng. Ở nước ta, đây có lẽ là nội dung triết học học đường mà trước hết các bậc giáo sư phải được học và cập nhật để lột xác – cho dù có phần đã muộn.”

         Như vậy soạn giả xin nhắc lại cách viết đa chiều của mình, khẳng định tư duy loài người xuất phát như là những mạch nước đầu nguồn hình thành rồi hợp lai, rồi thành sông đổ ra hòa  cùng biển cả. Tư tưởng hay tư duy vốn là một phạm trù tự do chủ quan, không ai có thể áp dặt dược ai, mà những tư tưởng siêu việt của thời đai, cũng chỉ như là con sếu đầu đàn, suy nghĩ dẫn hướng cho bầy đàn bay tới chân trời mới ấm no. Khi nó mỏi cánh, tụt hậu  thì con khác phải  thay.  Có nghĩa là phải biết nuôi dưỡng, không bị áp dặt. Lúc còn non, sếu mới tâp bay, chim bố dã rèn tư duy định hương cho chúng. Cũng như con nguời được cha mẹ nuôi dưỡng về sức khỏe, phát triển tư duy, lớn lên là tu dưỡng từ học đường, xã hôi. Tư duy cá nhân của một con người có tính độc lập cao, đúng đắn thì tự nhiên sẽ trở thành tư duy dẫn dường, trong từng thời gian nhất định, hợp với trào lưu mới của thời đại. Nói cách khác đó là tư duy triết học lịch sư, là tương đối và biến đổi …không phải bất biến như lời dạy của thánh hiền. Tư duy luôn biết phá vỡ khung khái niệm ( paradigm) cũ, xác lập những khung khái niêm mới, thì lịch sử  một dân tộc sẽ đi lên. Nếu không thì sẽ chìm dắm trong u tối hàng trăm năm thậm chí hàng nghìn năm mặc dù có lúc nó phát triển rực rỡ.

      Tư duy hồi cố, tìm về văn minh cổ xưa là để tìm ra con đường đúng để tiếp tục đi, chứ không phải nằm ngủ trên đống phế tich… mà tự hào.Vì suy cho cùng, một đời người chỉ rút ra được bài học bản thân, cha anh mình mà thôi. Nếu không có hàng trăm giả thiết hành động cho một mục đích mai hậu thì sai lầm sau chất chồng lên sai lầm trước. Như vậy cái chính là ta phải có phản tư, học phái,  tranh cãi  Văn hóa tư tương khác với văn hóa tôn giáo chính ở chỗ này.

         Soạn giả học theo cách trình bày có ảnh minh họa  của quyển  Đồ thuyết thế giới tư tương văn hóa (图说世界思想文化)  của Tả Ngoc Hà (玉河) Trung quốc,  đi từ dòng tư tưởng cổ đai đến hiện đại và kết thúc ở một dòng sông tư tưởng thân thiện với môi trường, lấy giáo sư Võ Qúy của Việt Nam làm đại diên, như là một cách  để soạn giả được trở về tắm lại trên con sông qưê hương..

                Bạn đọc sẽ thấy còn thiếu rất  nhiều dòng tư tưởng khác. Nhưng có lẽ  cũng như Tả Ngọc Hà, soạn giả không muốn nhắc lại những gương mặt đã quen thuộc, xuất hiện nhiều trên sách báo và truyền thông đa phương tiện.  Bạn đọc có thể thắc mắc là tại sao? Đó chẳng qua cũng giống như trên dòng sông, ta phải chú ý tới những khúc ngoặt quyết định ,không gây phản cảm chủ quan.  Ở đây ta chỉ nhắc tới những dòng tư tưởng lớn, có ảnh huởng  tích cực đến số phận của nhân loại mà thôi.

 

                Với kho tư liệu đồ sộ như vậy, ngoài quyển “Đồ thuyết thế giới tư tưởng văn hóa”, soạn giả không thể không dựa vào các từ điển bách khoa nổi tiếng như Encyclopedie Larousse, mạng từ điển bách khoa mở Wikipedia cùng các mạng khác từ tiếng Anh, Pháp, Hoa …để đối chiếu, hiệu đính, chỉnh sửa và scan ảnh.

               Cuối cùng, xin bạn đọc thứ lỗi cho những sai sót.

 

                                                                               Soạn giả    

 

 

                                                   

 

                     ( Ba thiên thần ngồi cùng bàn-Tranh của Andrei Roubilov( Nga)   

 

                          Chương 1.-

               Thuyết bản thể luận tự nhiên của Thales

 

 

                       Thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, lịch sử tư tưởng Phương Tây đều bắt đầu từ học phái  Miletos, lấy tên theo quê hương

của Thales .Ông người HyLap ( tiêng Hy lạp là Θαλῆς,;)  sinh khoảng 624 TCN –  546 TCN), tại Miletos  thuôc thành phó Ioni môt thành phố cổ trên bờ biển gần cửa sôngMaeander (( nay là tỉnh Aydin, Thổ Nhĩ Kỳ )

Thales là một triết gia, một nhà toán học người Hy Lạp sống trước Socrates, thuộc trường  phái triets học Ioni (Ionian Philosophy), Milesi( Milesian school) ,Tự nhiên( Naturalism). Thales nghiên cứu về :Đạo đức, Siêu hình, Toán học, Thiên văn học. Tư tưởng chính đáng lưu ý của ông là: nước là vật lý ,là nguồn gốc của tự nhiên(Water is the physis). Ông là người đứng đầu trong bẩy nhà hiền triết cổ Hy Lạp gồm Biass, Chilon, Kleoboulos, Periandros, Pittakos. Ông cũng được xem là một  triết gia đầu tiên trong nền triết học Hy Lạp cổ đại, là “cha đẻ của khoa học” Công trình nổi tiếng nhất của ông là về một  định lý hình học. Tên của ông được dùng để đặt cho một định lý này: Định lý Thales được phát biểu như sau : Hai đường thẳng song song định ra trên hai đường thẳng giao nhau những đoạn thẳng tỷ lệ

-Góc chắn nửa đường tròn thì bằng một vuông

-Đường kính chia đôi đường tròn thành hai phần bằng nhau

-Hai góc đáy của tam giác cân thì bằng nhau

-Hai tam giác nếu có hai cặp góc đối và cặp cạnh tương ứng bằng nhau thì bằng nhau

-Hai góc đối đỉnh thì bằng nhau

 

 

 

  •  

              Tuổi thọ của ông không được biết một cách chính xác. Có hai giả nguồn tư  liệu: một  cho là ông sống tới 90 tuổi, còn một nguồn khác cho là ông sống khoảng 80 tuổi.

           Trước Thales, người Hy Lạp giải thích nguồn gốc tự nhiên của thế giới, vạn vật qua các câu truyện thần thoại của chúa trời, của các vị thần và các anh hùng. Các hiện tượng như sấm, sét hay động đất được cho là do các hành động của chúa trời gây ra.

           Nhưng đến ông, ông  quan niệm toàn bộ thế giới của chúng ta được khởi nguồn từ nước. Nước là bản chất chung của tất cả mọi vật, mọi hiện tượng trong thế giới. Mọi cái trên thế gian đều khởi nguồn từ nước và khi bị phân hủy lại biến thành nước.

Với quan niệm nước là khởi nguyên của thế giới, của mọi sự vật, hiện tượng. Ông đã đưa yếu tố duy vật vào trong quan niệm triết học giải thích về thế giới. Thế giới được hình thành từ một dạng vật chất cụ thể là nước chứ không phải do chúa trời hay các vị thần.

  

               Hình minh họa:   Nuơc  là nguồn gôc(bản nguyên) cua van vat

Và vạn vật đều có linh hồn:

 

 

                  Hình minh họa: Đá cũng có sinh mệnh

 

              Thales là người đầu tiên nghiên cứu về thiên văn học, hiểu biết về hiện tượng nhật thực diễn ra do mặt trăng che khuất mặt trời.

 

 

 

Hình minh họa: cảnh nhật thưc toàn phần mà Thales quan sát đươc.

 

               Ông cũng nghĩ ra phương pháp đo chiều cao của các kim tự tháp Ai Cập căn cứ vào bóng của chúng.

Thales được coi là người đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu về Sự sống ngoài Trái Đất. Theo truyền thuyết, ông là người xác định được ngày đông chí, hạ chí ( ngày đêm dài bằng nhau) , là người đầu tiên tuyên bố đường kính quỹ đạo vận động mặt trăng bằng 1/7200 quỹ đạo mặt trời, là người đâu tiên dự đoán đươc nhật thực và cũng là người đầu tiên dự báo được thời tiết. Vì vậy ông được tôn vinh là nhà triết học, nhà thiên văn học, nhà vật lý đầu tiên của Hy lạp.        

           Vùng ông sống xưa nổi tiếng về nghề buôn bán dầu Olive  giữa Hy lạp và Trung cận đông.

 

 

 

                           Hình : Một con thuyền buôn olive thời cổ

 

 

 

 

 

 

 

 

                     Hình: Khu bảo tồn Ioni trên đường Tưởng niệm  ở Miletus

 

 

 

 

 

 

 

 

         Hình: Quảng trường diễn thuyết của phái triết học Miletus

 ( thời kỳ trước Socrate)      

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                   

 

 

 

                   Chương 2

             Phép biện chứng chủ nghĩa duy vật sơ khai của Heraclitus

 

        Heraclitus ( tiếng Hy LạpἩράκλειτος) sống  vào năm 540-480 TCN là triết gia, người sáng lập ra pháiFez love

        Sinh ở Ephesi trong một gia đình quý tộc, tính tình ủy mị, được mệnh danh là nhà triết học hay khóc.Văn chương của ông chỉ còn lại mấy đoạn, thích dùng ẩn dụ, nghịch lý(Paradox) làm cho đời sau rất phân vân khi giải thích.

           Ông đã nhường vương vị quý tộc cho anh em mà đi ẩn cư ở một nơi gần đền nữ thần Artemis .Quốc vương  Darius đã  từng viết thư mời ông sang triều đình Ba tư để giảng văn hóa Hy Lap, nhưng ông từ chối mà nói rằng “ Tôi vì có một sự khiếp sợ hiện rõ nên không thể đi Ba tư. Tôi thỏa mãn với cái tâm linh nho nhỏ của mình mà thôi.”. Đồn răng ông suốt ngày chơi với trẻ con và nói với mọi người hiếu kỳ xung quanh rằng:” có gì lạ lắm mà các ông các bà xúm lại xem đông như vậy?Đây không phải là một hoạt động càng có ý nghĩa hơn công việc chính trị của các ông hay sao ?

        Có vẻ như ông không còn màng gì đến thế sự, nhưng khi quân thành Fezphá lâu đài bạn ông là Dorodjatun, ông đã tức giận nói: “ Tấtt cả mỗi người lớn thành Fez đáng lý ra  nên tự treo cổ chết đi mà chi để lại lũ nhóc ngây thơ này mới đúng. “

               Ông thường kêu gọi dân chúng bảo vệ luật pháp, loại trừ bạo ngược. Thời gian ẩn cư ông thường lấy rễ cây, thực vật …ăn để sống qua ngay nên bị bệnh phù, phải về thành phố tìm thày thuốc. Ông giả câm ngọng để ra hiệu hỏi thày thuốc rằng có thể biến ngày trời mưa âm u thành khô ráo được không. Thày thuốc không hiểu ý, ông liền chạy vào chuồng bò định dùng sức nóng của phân bò trát lên người để hút hết nước phù trong cơ thể. Không được, ông chết. Lúc đó khoảng 60 tuổi.     

 

 

 

 

                 Heraclitus đang suy tư( Tranh của Henry Boracon- Hà Lan)

     Văn của Heraclitus rất khó đọc, đầy ẩn dụ. Ông từng viết một bộ sách “Bàn về tư nhiên”, nội dung có ba phần : bàn về vạn vật, bàn về chính tri và bàn về thần linh.。Nhưng tiếc rằng nó không còn, hiện ta chỉ có khoảng 130 thiên đã rách nát. Ngôn ngữ biện chứng pháp đầy huyền bí và hình tượng, bởi thế mà người ta gọi ông là nhà triết hoc bí ẩn

 

 

 

 

 

 

 

 

,

Lửa là nguồn gốc của vạn vật

            Trong khi Thales cho rằng bản nguyên của thế giới là nước thì trái lại, Heraclitus cho rằng lửa là nguồn gốc sinh ra tất thảy mọi vật: “Mọi cái biến đổi thành lửa và lửa biến thành mọi cái tựa như trao đổi vàng thành hàng hóa và hàng hóa thành vàng”. “ Lửa sống nhờ đất chết, không khí sống nhờ lửa chết, nước sống nhờ không khí chết, đất sống nhờ nước chết

       Heraclitus cho rằng, vũ trụ không do ai sáng tạo ra, luôn luôn là lửa, sống động, vĩnh cửu, bùng cháy theo những quy luật của mình: “Thế giới này chỉ là một đối với mọi cái. Không do một thần thánh hay một người nào đó sáng tạo ra nó, nhưng nó mãi mãi đã, đang và sẽ là ngọn lửa vĩnh cửu, như là độ đo của những cái đang rực cháy, và mức độ của những cái đang lụi tàn”.

Theo Heraclitus, sự phát sinh ra vũ trụ từ lửa là con “đường đi xuống”, đồng thời cũng là sự “thiếu hụt lửa”. Và, vũ trụ xét về tổng thể là cái đơn nhất nhưng cái đơn nhất đó là tổng thể của sự thống nhất của vạn vật, trong vũ trụ đơn lẻ này những sự vật hiện tượng nội tại nó tự biến đổi đa dạng, vận động chuyển hóa sang mức độ khác nhau, mà tất cả cơ sở của sự biến đổi ấy là lửa.

 “Lửa bao quát tất cả và phân xử tất cả”. Hỏa hoạn của vũ trụ cũng đồng thời là tòa án của vũ trụ. Theo đó, hỏa hoạn vũ trụ không chỉ là một sự kiện vật lý đơn thuần mà còn là một hành vi “đạo đức”. Bản thân vũ trụ không phải do chúa trời hay một lực lượng siêu nhiên nào tạo ra mà chính là lửa.

Ngọn lửa trong quan niệm của Heraclitus mang tính vật chất là sự so sánh trực quan cảm tính và logos trừu tượng – cái được dùng để chỉ bản chất lôgic – lý tính của tồn tại và quy định trật tự, như là “độ” của mọi quá trình. Do vậy, ngọn lửa mang tính vật chất của Heraclitus là “có lý tính” có liên quan tới logos là “ngọn lửa có lý tính”. Ngọn lửa của Hêraclitus thể hiện tính cơ động và tính tích cực của tồn tại, đồng thời cũng thể hiện bản chất ổn định và trật tự bất biến của thế giới, bản chất mang tính vật chất.

        Thales coi nước là khởi nguyên của thế giới với tư cách là một thực thể sinh ra mọi vật thì Heraclitus đã hiểu khởi nguyên theo nghĩa độ cao hơn, coi lửa không chỉ là thực thể sản sinh ra mọi vật, mà còn là khởi tổ thống trị toàn thế giới. Lửa đó sản sinh ra không chỉ các sự vật  chất, mà cả những hiện tượng tinh thần, kể cả linh hồn con người.

Với quan niệm coi toàn bộ vũ trụ như một ngọn lửa bất diệt, thế giới này là lửa thì ông đã tiếp cận được những quan niệm duy vật và nhấn mạnh tính bất diệt và vĩnh viễn của thế giới. Ông đã thể hiện những tư tưởng đầu tiên về sự thống nhất vật chất của thế giới khi coi lửa là bản nguyên của tất thảy mọi vật.

                                                    

 

                                                     Heraclitus –tranh của Raphael, 1510

 

Đánh giá quan niệm này của Hêraclitus, Lênin coi đó là “một sự trình bày rất hay những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng”.

Tuy nhiên, có thể thấy rằng quan niệm duy vật của ông còn rất mộc mạc, thô sơ. Bởi nó xuất phát từ việc ông chỉ dựa vào quan sát thực nghiệm để kết luận, khi quan sát Heraclitus đã nhận thấy vai trò rất to lớn của lửa đối với đời sống của con người và cũng do ảnh hưởng của thần thoại Hy Lạp ,nhưng ông có cách giải thích ngược lại với thần thoại.

Tuy vậy thì quan niệm đó đã góp phần chống lại những tư tưởng mang tính chất tôn giáo thời bấy giờ. Nó cũng khẳng định quá trình nghiên cứu tư tưởng không thể không dựa vào việc tìm hiểu nguyên nhân từ thực tiễn cũng như cơ sở và nguồn gốc của tư tưởng từ thực tiễn.

       Dưới con mắt của Heraclitus, mọi sự vật trong thế giới của chúng ta luôn luôn thay đổi, vận động, phát triển không ngừng. Thế giới như một dòng chảy, cứ trôi đi mãi. Từ đó, ông đưa ra luận điểm nổi tiếng: “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”. Không có gì thường xuyên biến đổi như một dòng sông nhưng cũng không có gì ổn định như dòng sông. Bởi khi nó vận động cũng là khi nó đứng im. Nói cách khác, tính biến đổi của dòng sông không loại trừ sự đứng im, tức là cái mà nhờ đó dòng sông là xác định, ổn định và bất biến.

Ở Heraclitus, không những sông mà cả mặt trời cũng thường xuyên và liên tục đổi mới, cũng như dòng sông, ông cho rằng không có gì ổn định và bất biến hơn mặt trời luôn chiếu sáng.

Heraclitus đã tiếp cận được với những tư tưởng rất cơ bản của phép biện chứng. Ông nói: “trong cùng một dòng sông ấy chúng ta lội xuống và không lội xuống, chúng ta có và không có”. Đó chính là những tư tưởng về mối liên hệ phổ biến tất yếu của qui luật thống nhấtđấu tranh giữa các mặt đối lập.

 Logos:không những sông mà cả mặt trời cũng thường xuyên và liên tục đổi mới, cũng như dòng sông, ông cho rằng không có gì ổn định và bất biến hơn mặt trời luôn chiếu sáng đưa ra chuẩn mực của mọi sự vật đó là logos. Đó là cái chung phổ biến, tính bền vững một mối liên hệ mang tính xuyên suốt của tiến trình thế giới.

Tính khách quan của logos thể hiện ở chỗ, logos được hiểu như là những quy luật bất biến, vĩnh hằng của vũ trụ, là cái mang tính quy luật, là giới hạn hay độ mà các sự vật đang biến đổi phải tuân theo: “logos là cái vĩnh viễn tồn tại…vạn vật ra đời đều dựa vào logos của nó”. Heraclitus khẳng định logos là quy luật biến đổi phổ biến của vạn vật trong vũ trụ: sự chuyển của Lửa là đầu tiên thành biển, biển thành đất và thành gió xoáy…đất lại hóa thành biển và tuân theo logos mà trước kia, biển hóa thành đất đã tuân theo.

Bản thân logos là sự thống nhất của những mặt đối lập. Vũ trụ là một thể thống nhất nhưng trong lòng nó luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật, lực lượng đối lập nhau. Những cuộc đấu tranh đó luôn luôn diễn ra trong một sự hài hòa nhất định và bị quy định bởi logos.

Còn khi hiểu logos với tư cách là lời nói, học thuyết thì logos trong quan niệm của Heraclitus mang tính chủ quan. Cái logos nằm ngay trong lời nói, trong công việc, trong hiện tượng cảm nhận. Nó là yếu tố hợp lý tồn tại, là lời nói hợp lý của tự nhiên: “Tuy rằng logos tồn tại vĩnh viễn, ta không hiểu được nó trước lúc nghe thấy nó cũng như lần đầu tiên nghe thấy nó. Nhưng tất cả đều xảy ra theo cái lý ấy và người ta thì giống như những người không biết gì khi phải nói những lời và làm những việc như những lời và việc mà tôi trình bày lúc phân chia mỗi vật theo bản chất và giải thích theo thực chất của vật ấy. Còn những người khác thì họ không biết cái mà họ làm lúc tỉnh, ý như là họ quên cái mà họ làm trong những giấc mơ”.

Khi hiểu logos với nghĩa chủ quan, tức là Heraclitus coi logos là chuẩn mực của mọi hoạt động suy nghĩ của con người. Và theo ông, ai tiếp cận được với logos thì người đó càng thông thái.

Logos của tâm hồn con người và logos của thế giới sự vật, là một logos được xem xét trên hai phương diện: thế giới nội tâm của con người, tính chủ quan của nó và cấu trúc bên ngoài của các sự vật. Nếu chúng giống nhau và trùng hợp với nhau, nếu logos chủ quan của “người tốt nhât” một cách nào đó là đồng nhất với logos khách quan của sự vật, thì từ đó suy ra rằng việc nhận thức logos của thế giới bên ngoài là có thể có được bằng con đường tự nhận thức bằng các lỗ lực của bản thân là cái duy nhất tạo thành phẩm giá cá nhân, công lao cá nhân.

Quan niệm của Heraclitus về logos chủ quan một cách cơ động, tức là ông coi một cái sinh động và phát triển nội tại luôn có mối liên hệ khăng khít với logos khách quan, chứ không phải một cách đứng im.

Heraclitus đã tiếp cận được những quan niệm đúng đắn khi cho rằng về nguyên tắc thì logos chủ quan phải phù hợp với logos khách quan. Tức là, những quy luật vận động khách quan của thế giới (là logos) được coi là tiêu chuẩn đánh giá hoạt động tư tưởng, suy nghĩ của con người.

 Quan điểm về nhận thức con người: Heraclitus đánh giá cao vai trò của các giác quan trong nhận thức các sự vật đơn lẻ – tức là nhận thức cảm tính. Theo ông, nhận thức cảm tính cho phép con người tìm được cái lý. Heraclitus cho rằng nhận thức nghiên cứu vũ trụ, logos phải dựa trên cơ sở của cái nhìn và nghe thấy: “tôi thích cái gì mà có thể nhìn thấy được và nghe thấy được” – ông nói. Tuy vậy, nhận thức đó mới chỉ dừng lại ở nhận thức cái bề ngoài và có nhiều hạn chế.

Vì vậy, theo Heraclitus để nhận thức được đầy đủ về sự vật – nhận thức được chân lý cần phải phải có lý trí – tức là nhận thức bằng lý tính. Đó chính là chìa khóa giúp con người nhận thức được về logos. Ông viết: “tư duy có một ý nghĩa vĩ đại và sự thông thái chính là ở chỗ nói lên chân lý, ở chỗ lắng nghe tự nhiên rồi hành động thích hợp với tự nhiên”.

Và theo ông, không phải ai cũng hiểu được chân lý – tức là nhận thức được logos ngoại trừ những nhà thông thái. Và những nhà thông thái đó là do họ sống tuân theo logos.

Ông cho rằng linh hồn của mỗi con người là trạng thái quá khứ của lửa. Linh hồn con người gồm hai mặt đó là phần ẩm ướt – tức là thiếu sự hiện diện của lửa thì đó là những người xấu. Còn những người mà linh hồn có nhiều lửa thì đó là người tốt.

Như vậy, theo Heraclitus thì linh hồn mỗi con người đã bao gồm sự thống nhất của hai mặt đối lập – cái ẩm ướt và lửa. Ở người nào càng nhiều yếu tố lửa tức là tâm hồn được khô ráo thì đó là người tốt. Lửa trong tâm hồn là logos của tâm hồn, phần lớn loài người sống theo ý của riêng mình không tuân theo logos vì vậy họ là những người tầm thường.

Khi coi linh hồn của con người cũng là cái được sinh ra từ một thực thể vật lý là lửa và cũng là vạn vật trong vũ trụ, trong nó không có một đặc trưng nào của cái siêu tự nhiên mà chỉ mối quan hệ với các yếu tố vật chất, nó là sản phẩm biến đổi huyền diệu của lửa và do vậy là cái quy định mọi hành vi của thể xác và luôn có khát vọng vượt ra khỏi thể xác.

 


 

 

                                   

 

                         

 

 

                             Chương 3

                 Duy vật luận nguyên tử của

                             Demokritus

 

          Democritus (tiếng Hy Lạp: Δημόκριτος ), là một triết gia người Hy Lạp nghiên cứu về Siêu hình học / Vật lý. Ông là người đề ra thuyết nguyên tử sơ khai, về Viễn Tinh , ảnh hưởng bởi Leucippus, Melissus của Samos , ảnh hưởng tới Epicurus, Lucretius, sống trước thời kỳ Socrates. Ông sinh ra vào khoảng 460 TCN ở thành phố Abdera, một địa điểm trên bờ biển thuộc xứ Thrace (phần đất thuộc Hy LạpThổ Nhĩ Kỳ ngày nay). Democritus là học trò của Leucippus và cùng với Leucippus tạo ra thuyết nguyên tử thô sơ. Theo thuyết nguyên tử của ông, mọi vật chất được tạo thành từ các dạng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                 Demokritus (tiếng Hy Lạp: Δημόκριτος ), là một triết gia người Hy Lạp nghiên cứu về Siêu hình học / Vật lý. Ông là người đề ra thuyết nguyên tử sơ khai, về Viễn Tinh , ảnh hưởng bởi Leucippus, Melissus của Samos , ảnh hưởng tới Epicurus, Lucretius, sống trước thời kỳ Socrates. Ông sinh ra vào khoảng 460 TCN ở thành phố Abdera, một địa điểm trên bờ biển thuộc xứ Thrace (phần đất thuộc Hy LạpThổ Nhĩ Kỳ ngày nay). Democritus là học trò của Leucippus và cùng với Leucippus tạo ra thuyết nguyên tử thô sơ. Theo thuyết nguyên tử của ông, mọi vật chất được tạo thành từ các dạng khác nhau của các phần tử không chia nhỏ được, không nhìn thấy được, cái mà ông gọi là atoma (nguyên tử). Đó là ý tưởng độc nhất vô nhị của Democritus, chính vì thế mà từ khi Democritus đưa ra khái niệm đó cho đến tận sau này khi khoa học đã phát triển người ta mới có những bằng chứng cụ thể về sự tồn tại của nguyên tử và tiếp tục phát triển lý thuyết về nguyên tử.

            Thời trẻ. để truy cầu chân lý, trí tuệ, ông  quyết định chia gia tài với hai em, do cha ông để lại và ông nhận phần ít nhất là 100 taront ( đơn vị trọng lượng cổ Hy Lạp, khoảng 26 kg) vàng rồi đi các vùng đất Hy Lạp qua Địa Trung hải tới Ai Cập, đến Hồng Hải ,Babylon nam xuống tận Ethiopia –

đông tới Ấn Độ, học hỏi đươc rất nhiều điều bổ ích.

              Trước Demokritos tức trức thời đại Socrate (Pre-Socratic), triết học và mỹ học đều nghiên cứu trên phương diện tự nhiên. Tới ông mới chuyển một bước dài sang xã hội và con người.

                Căn cứ theo ghi chép của Diogenes thì ông ( Demokritos) thông hiểu mọi nhánh triết học. Đối với vật lý học, luân lý học,toán học,giáo dục học… không có môn nào ông không biết. Đồng thời ông còn là nhà âm nhạc, hội họa, điêu khắc và nhà thơ xuất sắc.

           Tuy nhiên, Demokritos đi khắp các nước, khi nhẵn túi. trở lại Abdera thì bị một án quyết. Nguyên do là thành phố thương mại lớn này, pháp luật không cho phép ai lãng phí tài sản tổ tiên. Người như vậy sau khi chết không được làm tang lễ ở quê. Vì vậy, ông phải sống nhờ em và bị ghép vào tội lãng phí của cải tổ tiên này

Tại  tòa án, ông đã tự biện hộ như sau :
         Trong số những người trong thế hệ của tôi, tôi là người được đi chu du phần lớn các nước trên trái đất, tôi khám phá ra được nhiều điều xa xôi nhất; trong  những người cùng thế hệ của tôi, tôi được thấy phần lớn lãnh thổ và quốc gia, tôi được nghe nhiều người có học vấn giảng giải nhiều nhất; trong những người cùng thế hệ của tôi, không có ngừoi nào vẽ bản đồ và minh chứng chúng vượt được tôi, ngay cả ở Ai Cập, những  người được cho là có đất đai giàu có cũng chưa chắc vượt đươc tôi …

 Và trước công chúng của tòa án, ông đọc quyển sách Hệ đại vũ tru của mình . Học thức và tài hùng biện của ông giúp ông thắng lợi, chinh phục đươc công chúng cả vùng Abdera, phá bỏ luật lệ cũ. Tòa án không những tuyên bố ông vô tội mà còn quyết định thưởng cho ông gấp năm lần số tiền mà ông đã “vung phí của cha ông ”,tức là 500 taront. Ông trở thành vĩ nhân, được đúc tượng đồng. Lúc còn sống, ông đươc mệnh danh là triết học gia  hay cười ,sống chan hòa với mọi người.  Luc chết cả nước làm tang lễ.

 

 

 

Demokritus ngồi thiền trên vị trí các linh hồn

Tượngcủa  Léon-Alexandre Delhomme, 1868

 

 

Mô hình nguyên tử của Demokritus:

Một vòng tròn hình nón  bên phải và một hình nón xiên

 

 

Tượng Epicurus, người hoàn thiện học thuyết nguyên tử cua  Demokritos

 

 

 

             Mô hình nguyên tử của Demokritus

 

Thời đại của  Pericles , trường phái Athenes…

 

                                           

 

 

Minh họa: Các triết gia cổ Hi Lạp (Tranh của David- Pháp)

 Theo Demokritus ,bản nguyên của vạn vật là nguyên tử và hư không. Nguyên tử là hạt vật chất cuối cùng không thể phân chia được nữa. Tất cả mọi sự vụ của vũ trụ đều là do nguyên tử đang vận đông trong hư không cấu  thành.Cái gọi là sự  sản sinh ra sự vật chính là sự kết hợp nguyên tử. Nguyên tử nằm trong vận động vĩnh hằng, tức sự vận động là cái vốn có của bản thân nguyên tử. Hư không là cái không tuyệt đối, là bắt nguồn ở trường vận động. Nguyên tử goi là tồn tại, hư không gọi là phi tồn tại , nhưng phi tồn tại không ngang bằng với không tồn tại, chỉ là nói tương đối do nguyên tử vơi dầy. Hư không là tính chất không đầy. Do vậy phi tồn tậi với tồn tại tại đều là thực tại .Thế giới là do nguyên tử vận động khi hoạt mà sinh ra. Trong vũ trụ có vô số thế giới mà con người sống mà không phải là một cái đang biến thái.Con người là một tiểu vũ trụ ( tiểu thế giới)

Tác phẩm của ông có :Hệ đại vũ trụ (The big Systems)

Hệ tiểu vũ trụ (The universe of small systems).

Bàn về âm nhạc.  

Cái đẹp của thi ca….

                                       ( kỳ sau đăng tiếp)

 

                           CHUYÊN MỤC THƠ VĂN

  

 

     BQM :  Sưu tầm

 

1.- Cù Huy Cận – Người suốt đời gắn bó với cách mạng và thơ

 

Nhà thơ Cù Huy Cận

Huy Cận sinh ra và gắn bó tuổi thơ với vùng quê Ân Phú, cạnh dòng sông La, nằm ở chân núi Mồng Gà, cảnh núi sông đẹp nhưng vắng vẻ hiu hắt. Huy Cận đã từng tâm sự:

“Tôi sinh ra ở miền sơn cước

Có núi làm xương cốt tháng ngày

Đất bãi tơi làm ra thịt mát

Gió sông như những mảng hồn bay…”

(Tôi nằm nghe đất)

Tuy sống ở quê hương Ân Phú chưa đến 10 năm, nhưng vẻ đẹp buồn bã của thiên nhiên đất nước nơi đây đã góp phần quan trọng tạo nên một hồn thơ độc đáo. Từ giã quê nhà từ thuở hoa niên, Huy Cận được người cậu đưa vào Huế học hết tú tài. Nơi xứ sở đẹp và thơ mộng này, cái duyên đời và duyên thơ của Huy Cận đã bén cùng Xuân Diệu để tạo nên một “trái đôi” hiếm thấy giữa đời. Cuộc tao phùng Huy – Xuân là sự gặp gỡ của hai tâm hồn “đồng thanh tương ứng”. Ngay từ buổi tựu trường năm 1936, vừa gặp lần đầu mà hai người cảm thấy gần gũi thân thiết (“gặp hôm nay nhưng hẹn đã ngàn xưa”) và đôi bạn tri âm tri kỷ này đã gắn bó với nhau hơn nửa thế kỷ trên dương thế. Năm 1937, Xuân Diệu ra Hà Nội học Cao đẳng Luật và viết báo “Ngày nay”. Tết Mậu Dần (1938) bài thơ “Chiều xưa” của Huy Cận và bài “Cảm xúc” của Xuân Diệu cùng được đăng trên báo “Ngày nay”. Tháng 10.1939, Huy Cận ra Hà Nội học Cao đẳng Nông Lâm và hai người cùng sống với nhau ở căn gác nhà số 40, Hàng Than. Hai người vừa học tập vừa say mê sáng tác văn chương và trở thành những nhà thơ hàng đầu của phong trào Thơ mới. Năm 1940, “Lửa thiêng“, tập thơ đầu tay của Huy Cận, với lời Tựa của Xuân Diệu, ra mắt bạn đọc tạo được tiếng vang lớn trên thi đàn. Có thể nói đây là tập thơ hay toàn bích, nhuần nhị, đằm thắm, hài hoà Đông – Tây, kim – cổ, kết tinh nhiều giá trị văn hoá truyền thống, là tập thơ hay nhất của Thơ mới.

Lửa thiêng” man mác, dằng dặc nỗi buồn. Trong lịch sử thơ ca dân tộc có nhiều tác phẩm thể hiện nỗi buồn nhưng không có tập thơ nào nỗi buồn được nói lên một cách đa dạng, lắm cung bậc và nhiều sắc thái như “Lửa thiêng của Huy Cận. Lúc nghe lòng mình hay ngắm nhìn ngoại cảnh, nhà thơ đều dễ gặp nỗi buồn. Nỗi buồn tưởng như vô cớ, như nghiệp dĩ nhưng thực chất có cuội nguồn từ đặc điểm tâm hồn thi nhân và đời sống xã hội. Nỗi buồn của Huy Cận thời “Lửa thiêng” là nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn của người dân mất nước ý thức sâu sắc về cảnh ngộ non sông và thân phận con người. Nhà thơ buồn vì kiếp người nô lệ đau khổ và khao khát biết bao cuộc sống tự do, hạnh phúc. Tình cảm yêu đời, yêu người, yêu nước tha thiết của thi nhân trong xã hội cũ đã biểu hiện một phần trong nỗi đau đời quằn quại. Yêu đời và đau đời như là âm bản và dương bản trong tâm hồn Huy Cận. “Lửa thiêng” không chỉ có nỗi buồn mà còn có những niềm vui. Trong tâm hồn Huy Cận có một mảng rất hồn nhiên, tươi trẻ thường hướng về những gì non tơ, trong trắng, thơ mộng. Nhờ thế mà nhà thơ có rất nhiều bài thơ hay về tuổi thiếu niên, tuổi áo trắng học trò. Những bài thơ “Tựu trường”, “Học sinh”, “Áo trắng” mãi mãi là bạn tâm giao của nhiều thế hệ học sinh, sinh viên và tất cả những ai còn giữ được “trái tim run run trăm tình cảm rụt rè“. Thơ Huy Cận rất nhiều không gian. Tâm hồn nhà thơ lúc nào cũng hướng tới sông dài trời rộng để thoát khỏi không gian chật chội tù túng của xã hội đương thời và cũng để trở về cuội nguồn thiên nhiên, cuội nguồn dân tộc. Thơ đối với Huy Cận là phương tiện màu nhiệm để giao hoà, giao cảm với đất trời, với lòng người, là chiếc võng tâm tình giữa tâm hồn mình với bao tâm hồn khác. Nhưng trong cuộc đời cũ, nhà thơ khó tìm được niềm đồng cảm nên dễ rơi vào tâm trạng cô đơn. Sau năm 1940, thơ Huy Cận càng có khuynh hướng siêu thoát vào vũ trụ vời xa. Đó là cuộc hành trình của một tâm hồn chối bỏ thực tại để tìm đến miền thanh cao, trong sạch. Khi đang bế tắc về tinh thần thì may mắn thay, năm 1942, Huy Cận đã gặp ánh sáng cách mạng soi đường. Yêu thơ và say mê lý tưởng cách mạng, Huy Cận đã trở thành một trong những người hoạt động sôi nổi trong phong trào học sinh, sinh viên.

Tháng 7.1945, Huy Cận tham dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào và được bầu vào Uỷ ban Dân tộc giải phóng toàn quốc. Khi Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập, Huy Cận được vinh dự đảm nhận trọng trách Bộ trưởng Bộ Canh nông, kiêm Thanh tra đặc biệt của Chính phủ. Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ hồi ấy chỉ có hai người: cụ Bùi Bằng Đoàn (nguyên Thượng thư Bộ Hình của triều đình Huế) và Cù Huy Cận. Nhiệm vụ chủ yếu của Thanh tra đặc biệt là chấn chỉnh kịp thời những biểu hiện tiêu cực trong đội ngũ cán bộ nhằm đề cao kỷ cương phép nước, tạo dựng niềm tin của nhân dân đối với chính quyền cách mạng. Đoàn Thanh tra đã đến nhiều địa phương nắm bắt tình hình, xử lý kiên quyết và khôn khéo những cán bộ mắc khuyết điểm, sai lầm. Những việc làm của Thanh tra đã được nhân dân nhiệt tình ủng hộ vì họ thấy Chính phủ Cụ Hồ luôn bênh vực bảo vệ dân. Tháng 3.1946, trước những diễn biến phức tạp của tình hình chính trị, Đảng ta chủ trương thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến với sự tham gia của nhiều lực lượng khác nhau. Một hôm, Bác Hồ cho gọi Huy Cận đến và bảo: “Từ mai chú thôi làm Bộ trưởng nhé!“. Huy Cận đáp: “Thưa Cụ! Cụ và cách mạng bảo làm gì thì con xin làm nấy“. Sau đó, Bác thân mật giao nhiệm vụ: “Chú vẫn công tác ở Bộ Canh nông, chỉ không làm Bộ trưởng nữa, nhưng mọi việc chú vẫn làm hết. Chỉ nhớ khi nào cần ký thì chú đưa cho ông Bồ Xuân Luật ký. Ông ấy được mời làm Bộ trưởng thay cho chú“. Từ đó, suốt bốn thập kỷ, Huy Cận sẵn sàng thực hiện bất kỳ nhiệm vụ gì do Cách mạng giao phó, trong đó có nhiều việc “xa lạ” với một nhà thơ: Thứ trưởng Bộ Canh nông, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Thứ trưởng Bộ Kinh tế, Thứ trưởng Tổng thư ký Hội đồng Chính phủ, Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Bộ trưởng đặc trách công tác văn hoá – nghệ thuật tại Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, kiêm Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam.

Ngoài những hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá trong nước, Huy Cận còn là nhà hoạt động quốc tế năng động, có nhiều đóng góp tích cực trên lĩnh vực văn hoá nghệ thuật. Ông là đồng Chủ tịch Đại hội nhà văn Á – Phi họp ở Ai Cập (2.1962), đồng Chủ tịch Đại hội văn hoá thế giới họp ở Cu Ba (1.1968), là Uỷ viên Hội đồng UNESCO (1978 – 1983), là Phó chủ tịch Tổ chức Hợp tác Văn hoá – Kỹ thuật của 49 nước (ACCT) (1981 – 1987), là Uỷ viên Hội đồng cao cấp tiếng Pháp (1985 – 2005). Trong những lần chủ trì hoặc tham gia các hội nghị quốc tế, Huy Cận đã thể hiện được bản lĩnh vững vàng của nhà hoạt động chính trị và kiến thức uyên bác của nhà hoạt động văn hoá tài ba. Ông được nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà chính trị quý mến kính trọng. Trên dưới 50 lần làm việc, công tác tại nhiều nước trên thế giới, Huy Cận đã góp phần đưa văn hoá Việt Nam đến với bè bạn năm châu và trân trọng đón nhận tinh hoa văn hoá của nhân loại để làm phong phú thêm văn hoá dân tộc. Ông am hiểu nhiều nền văn minh, văn hoá và tiếp nhận nhiều nguồn ảnh hưởng nhưng cái gốc tâm hồn, cái gốc hồn thơ Huy Cận là ngọn nguồn văn hoá dân tộc Việt Nam.

Là cán bộ cao cấp của Chính phủ, phải dành nhiều tâm sức cho công tác quản lý nhưng Huy Cận vẫn say mê, bền bỉ sáng tạo thơ ca. Sự nghiệp chính trị của Huy Cận thật đáng trân trọng, trước sau nhất quán, Huy Cận vẫn là một nhà thơ. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Huy Cận có thêm gần hai chục tập thơ, trong đó có nhiều bài thơ hay, đạt tầm cao dân tộc và thời đại. Tiếp nối mạch thơ tình đời, tình người sâu nặng từ thời “Lửa thiêng“, thơ Huy Cận sau Cách mạng tháng Tám có sự thay đổi cơ bản về cách nhìn nhận con người và cuộc đời. Nếu trước đây nhà thơ nhìn con người trong vũ trụ, con người giữa thiên nhiên thì giờ đây ông nhìn con người giữa cuộc đời, con người gắn bó trong các mối quan hệ xã hội hoà hợp tin yêu. Thơ Huy Cận vừa giàu cảm xúc tươi mới của cuộc đời vừa mang đậm nội dung triết lý về sự sống bất diệt, về tình yêu đất nước, về sức mạnh nhân dân và vẻ đẹp tâm hồn dân tộc Việt Nam.

Huy Cận tha thiết gắn bó với thiên nhiên đất nước Việt Nam, tâm hồn ông vươn lên những khoảng rộng xa vũ trụ nhưng tấm lòng nặng trĩu với đời. Hành trình thơ ca của Huy Cận đi từ “Trời mỗi ngày lại sáng”đến “Đất nở hoa”, từ “Bài thơ cuộc đời” đến “Ngôi nhà giữa nắng”, rồi từ “Hạt lại gieo” đến “Ta về với biển”, lúc nào tâm hồn ông cũng chịu sức hấp dẫn của hai cực: vũ trụ và cuộc đời. Sức hấp dẫn ấy đã góp phần tạo nên một cá tính nghệ thuật độc đáo của Huy Cận trong vườn thơ dân tộc.

Thơ Huy Cận kết hợp hài hoà giữa hai nền văn hoá Đông – Tây, vừa có sức sống mạnh mẽ của truyền thống vừa mang hơi thở của thời đại. Ông tiếp nhận ảnh hưởng văn hoá phương Tây từ những ngày học ở Huế và qua sách báo đương thời nhưng cái gốc sâu xa làm nên gương mặt thơ Huy Cận là tiếng thơ dân tộc. Huy Cận yêu thiết tha tiếng nói dân tộc và luôn luôn có ý thức về nguồn mạch thơ ca mà mình tận hưởng.

Tình yêu đất nước, tình yêu thiên nhiên, tình yêu văn hoá dân tộc đã nâng cánh thơ ông và nhờ thế ông gặp gỡ vẻ đẹp nhân bản của thơ ca nhân loại. Khi thơ ông đạt tầm cao dân tộc cũng là khi những thi phẩm ấy trở thành tài sản nhân loại. Vinh dự thay ông được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Thơ thế giới. Danh hiệu cao quý ấy không chỉ minh chứng cho một tài năng văn chương cái thế mà điều quan trọng hơn là vẻ đẹp thơ ca dân tộc Việt Nam được nhân loại thừa nhận và tôn vinh.

Huy Cận là nhà thơ lớn của dân tộc, là cán bộ cao cấp của Chính phủ và cũng là con người của đời thường bình dị. Ở Huy Cận có sự thống nhất hài hoà của nhiều phẩm chất, năng lực như là đối cực. Ông có tầm nhìn chiến lược và tính cẩn trọng của một nhà lãnh đạo nhưng cũng rất tinh tế, đa cảm, lãng mạn và đam mê của một thi sĩ tài hoa. Ông là người uyên bác, hiểu biết sâu sắc nhiều lĩnh vực: Triết học, tôn giáo, chính trị, kinh tế, văn hoá nhưng vẫn không quên những việc đời thường. Ông quan tâm tới những người thân đến từng việc nhỏ, ngoài 80 tuổi vẫn nhớ được vài chục số điện thoại của cơ quan, bạn bè, đồng nghiệp, không bao giờ lỡ hẹn với ai dù chỉ vài phút. Trong túi áo ngực của ông luôn luôn có một bọc nhỏ có đầy đủ các loại thuốc đề phòng bất trắc, lúc khoá cửa xong bao giờ ông cũng cầm ống khoá lắc lắc 2 – 3 lần xem đã chắc chưa, lúc ăn một món ăn lạ miệng ông muốn được chia sẻ với vợ con. Huy Cận là người làm việc rất nghiêm túc nhưng ăn mặc mộc mạc đến xuềnh xoàng, cởi mở chân thành đến mức hồn nhiên khi tiếp xúc với anh em, bè bạn. Huy Cận là người rất yêu đời, say mê sống, tha thiết sống. Cách đây mấy năm, tôi đến chúc Tết nhà thơ Huy Cận, ông đưa bàn tay trước mặt tôi và hỏi: “Ông xem tôi sống được bao lâu nữa?“. Tôi liếc qua bàn tay của ông rồi dò hỏi: “Thế ngày tháng năm sinh chính xác của bác như thế nào?” – “Tuổi khai sinh của tôi hiện nay là do ông cậu khai khi vào học ở Huế, còn ngày sinh chính xác là ngày 29 tháng Chạp năm Bính Thìn (dương lịch là ngày 22.1.1917). Tôi có thể sống đến lúc kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long – Hà Nội không?“. Trân trọng niềm khát vọng tốt đẹp của ông, tôi trả lời một cách tự tin: “Chắc là được bác ạ! Bác còn rất khoẻ mà“. Đúng vào buổi chiều ngày 29 tháng Chạp năm Giáp Thân, theo lời hẹn trước, tôi và GS. Hà Minh Đức đến để cùng nhà thơ Huy Cận làm bữa tất niên. Nhưng đến nhà Lệ Duyên mới hay, ông vừa phải vào bệnh viện. Lúc ấy, tôi cảm thấy công hoàng và chột dạ vì hôm nay là sinh nhật của ông. Ông đã chạm tới tuổi 90 rồi! Tôi không tin ông sẽ ra đi trong mùa xuân Ất Dậu, tôi vẫn nghĩ rằng nhà thơ Huy Cận kính yêu sẽ còn sống khoẻ để dự lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long – Hà Nội của chúng ta./.

Trần Khánh Thành [100 Years-VietNam National University,HaNoi]

 

 

       2.-          Nguyện Cầu

 

                   Thơ của Vũ Hoàng Chương

Ta còn để lại gì không?
Kìa non đá lở, này sông cát bồi.
Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước xa xôi dặm về.

Trông ra bến hoặc bờ mê
Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương
Ta van cát bụi bên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này.

Ðể ta tròn một kiếp say
Cao xanh liều một cánh tay níu trời.
Nói chi thua được với đời
Quản chi những tiếng ma cười đêm sâu.

Tâm hương đốt nén linh sầu
Nhớ quê dằng dặc, ta cầu đó thôi!
Ðêm nào ta trở về ngôi
Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian.

Một phen đã nín cung đàn
Nghĩ chi còn mất hơi tàn thanh âm

 

 

                       CHUYÊN MỤC : CHUYỆN XƯA…CHUYỆN NAY

An Lộc( sưu tầm )

            Tượngđài vô cảm

                    bài của Liêu Thái

 

QUẢNG NAM – Bốn trăm mười tỉ đồng bỏ ra xây ‘tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng’, con số đó hoàn toàn không nhỏ, và nó lớn gấp bội khi mà đời sống người dân hiện tại vẫn còn nhiều bà mẹ già mỗi ngày chỉ kiếm được chưa đến 10 ngàn đồng để sống qua ngày!

 

Ở một đất nước có quá nhiều người nghèo, mang tiền ra xây tượng đài bằng chính mồ hôi, nước mắt, xương máu lẫn trong tiền thuế của nhân dân là một câu chuyện hết sức phi lý. Nhưng chuyện đó đã xảy ra!

Một vài thông tin chung mà các báo trong nước đã đưa tin:

“Ngày 14 tháng 7, chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Phước Thanh đã ký quyết định bổ sung 330 tỉ đồng cho dự án xây dựng tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng, lấy nguyên mẫu mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ, tại khu vực núi Cấm (xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam), nâng tổng số tiền đầu tư từ ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh lên hơn 410 tỉ đồng, gấp 5 lần số tiền được phê duyệt ban đầu là 81 tỉ đồng (vào tháng 8 năm 2007).”

 
 

“Toàn khối tượng đài có hình dáng của một ngọn núi nhô cao ở giữa và thoải dần ở hai bên. Chính giữa khối tượng đài là chân dung bán thân mẹ Việt Nam anh hùng, lấy nguyên mẫu là mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ, hai bên vách đá thể hiện gương mặt những người con…”

“Theo ông Ðinh Gia Thắng, tác giả thiết kế, chịu trách nhiệm thi công tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng, sau khi hoàn thành, tượng đài không chỉ lớn nhất Việt Nam mà còn lớn nhất Ðông Nam Á.”

“Nói về bản thiết kế và thi công mẫu tượng theo tỉ lệ 1/1, tác giả công trình cho biết: Nơi cao nhất của khối tượng là 18m, chiều thấp nhất tại hai đầu vách là 6.8m, chiều rộng theo đường cong là 120m, độ dày nhất tại chân dung là 21.6m, độ mỏng nhất tại hai đầu vách là 8m bằng chất liệu granit…”

***

Nếu chịu khó đi dạo các chợ ở tỉnh Quảng Nam, nơi xây dựng tượng đài, có ít nhất không dưới ba chục bà mẹ nghèo, tuổi trên 70, ngồi bán từng bó rau heo, từng lọn trầu, miếng cau, cái trứng cút để sống qua ngày… Tiền lãi chẳng là bao nhiêu, hầu hết là dưới 10 ngàn đồng/ngày.

Nếu đem chia con số 410 tỉ đồng cho 10 ngàn, đáp số của nó là 41 triệu đồng, đem chia tiếp cho 10 nữa, còn được 4 triệu một trăm ngàn đồng. Một con số rất lớn đối với cụ thể là một trăm ngàn bà mẹ quê nghèo khổ, không có nơi nương tựa, không có chỗ che mưa che nắng, không còn sức lao động…

Trong khi đó, đi khắp từ Bắc chí Nam, từ Lạng Sơn cho đến Cà Mau, đâu đâu cũng thấy những người già tội nghiệp, nghèo khổ, hằng ngày phải lo bươn chải kiếm cái ăn, cái mặc, đói lạnh và buồn tủi, không có ngày mai.

Lúc này, câu hỏi được đặt ra là nhân dân đóng thuế để làm gì? Không ai mong muốn hằng ngày phải cong lưng đóng thuế để xây dựng hình tượng một bà mẹ to như quả núi đá vô tri vô giác đứng thách thức nỗi thống khổ, đói rách của cộng đồng, của dân tộc và rộng hơn là của đồng loại.

Ðiều này cho thấy gì? Nó phát biểu rõ nét một thứ chủ nghĩa hình thức và vô cảm.

Nói nó hình thức bởi nó phục vụ cho một loại hình tuyên truyền, “ghi công”, “nhớ ơn” quá đà (mà cái đà ở đây chính là mức sống, an sinh của nhân dân), thậm chí đi đến lố bịch bởi thứ mặc cảm về cái “to nhất”, “vĩ đại nhất”, “hoành tráng nhất”…

Những thứ hình thức đó chỉ hợp với những tham vọng độc tài, khoa trương và có xu hướng nhốt kín cái nhìn cộng đồng vào bốn bức tường tư duy, định hướng của một phe nhóm, đảng phái nắm quyền.

Và để thỏa mãn cái hình thức đó, người trả giá, chịu trận lớn nhất không ai khác chính là nhân dân, kẻ bị bóc lột một cách khéo léo và lạnh lùng bởi phe nhóm và đảng phái nói trên.

Nếu đặt ngược vấn đề, bảo rằng đây là một công trình nhân bản, tính hình thức là thứ yếu, vấn đề chính yếu vẫn là khái quát hình tượng người mẹ trong lòng con dân một dân tộc, thể hiện lòng tri ân và tôn trọng lịch sử chẳng hạn… thì lại rơi vào chỗ xảo trá và lừa bịp.

 
 

Bởi không thể có bất kỳ hình tượng nào tồn tại trên mồ hôi, xương máu của nhân dân trong lúc cái nghèo, cái đói còn là nỗi ám ảnh khôn nguôi!

Thử hỏi có một công trình nào ở Việt Nam mà không có sự “chấm mút” của các bên liên quan, từ chính quyền địa phương cho đến nhà thầu xây dựng, người phác họa ý tưởng…

Nói cho sang là sáng tạo hình tượng, phác họa ý tưởng nghệ thuật, nhưng thực chất bên trong là kiếm cơm bằng cách vẽ vời tung hê, tung càng cao cơm càng nhiều, rượu càng ngon, thịt càng lạ, gái càng đẹp và nhà càng rộng!

Ðiều này gọi là gì nếu không phải là vô cảm là trí trá trên sức cần lao của nhân dân?! (LT)

                             CHUYÊN MỤC SƯU TẦM NGỮ NGHĨA TIÊNG VIÊT

   Quả mai ba bảy đường vừa

        Cũng lời khuyên của Vân xin Kim Trọng và Thuý Kiều tái hợp kết duyên xưa, có câu:

Còn duyên này lại còn người
Còn vầng trăng bạn còn lời nguyền xưa
Quả mai ba bảy đường vừa
Ðào non sớm liệu xe tơ kịp thì

(câu 3073 đến 3076)

        “Quả mai ba bảy đường vừa” nguyên lấy chữ thơ “Phiếu mai” “Mai rụng” ( ) trong Kinh Thi, gồm có 3 chương như sau

1. Phiếu hữu mai
Kỳ thực nhất hề
Cầu ngã thứ sĩ
Ðãi kỳ cát hề

2. Phiếu hữu mai
Kỳ thực tam hề
Cầu ngã thứ sĩ
Ðãi kỳ kim hề

3. Phiếu hữu mai
Khuynh khuông kỳ chi
Cầu ngã thứ sĩ
Ðại kỳ vị chi

Lược dịch:

1. Quả mơ rụng
Mười phần còn bảy
Ai cầu ta
Hãy kíp chọn ngày

2. Quả mơ rụng
Mười phần còn ba
Ai cầu ta
Kíp rước ngay về

3. Quả mơ rụng
Nghiêng sọt lượm mơ
Ai cầu ta
Kíp ngỏ lời ra
(Bản dịch của Lê văn Hoè)

 

                               CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE

            Đỗ Cao Đàm (sưu tầm)

 

               14.-Căng thẳng là nguyên nhân gây ra bệnh viêm ruột?

 

Căng thẳng là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh nhưng cũng không

đủ cơ sở để chứng minh nó là nguyên nhân gây ra bệnh viêm ruột. Viêm

 

ruột là căn bệnh có liên quan đến bệnh Crohn và viêm loét đại tràng, bệnh

này làm xuất hiện các vết viêm loét trong ruột non hoặc ruột già, đôi khi

là cả hai. Bệnh này làm thay đổi hệ miễn dịch của cơ thể do một loại vi

khuẩn hoặc vi rút gây ra.

 

                   15.-Bệnh Celiac ở ruột non nếu không được chữa trị có thể gây nên các vấn đề về dạ dày?

 

Bệnh Celiac xuất hiện ở những người bị dị ứng với protein gluten,

bệnh này thường khó phát hiện nếu bác sĩ chỉ dựa vào những triệu chứng

thông thường như đầy bụng, ợ chua hoặc tiêu chảy. Các triệu chứng khác

của bệnh này là: thiếu máu, loãng xương, trầm cảm, phát ban hay còn gọi

là viêm da herpetiformis.

 

 

 

 

 

 

     

 

 

 

 

 

 

                        

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s