Docago,wordpress.com thứ bảy ngày 24/9/2011 tức 27/8 năm Tân Mão

Docago.wordpress.com số ra thứ 7 ngày  24/9/2011 9 tức 27 thang8 năm Tân Mão)

CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY\                                   

           Đỗ Anh Thơ:

           Hình ảnh văn hoa tư tưởng trên thế giới ( tiếp theo)

Chương thứ 4

Triết học luân lý của Socrates

                              

Socrates (tiếng Hy Lạp: Σωκράτης Sōkrátēs) là một triết gia Hy Lạp cổ đại, người được mệnh danh là bậc thầy về truy vấn. Về năm sinh của ông hiện vẫn chưa có sự thống nhất giữa năm 469 hay 470. (469399 TCN), (470399 TCN). Ông sinh ra tại Athena, tức Hy lạp, và đã sống vào một giai đoạn thường được gọi là hoàng kim của thành phố này. Thời trẻ, ông nghiên cứu các loại triết học thịnh hành lúc bấy giờ của các “triết học gia trước Socrates”, đó là nền triết học nỗ lực tìm hiểu vũ trụ thiên nhiên chung quanh

                                Socrate  và vợ ( tranh cua David)

 

chúng ta.  Socrates được coi là nhà hiền triết, một công dân mẫu mực của thành Athènes, Hellade cổ đại. Ông là nhà tư tưởng nằm giữa giai đoạn bóng tối và giai đoạn ánh sáng của nền triết học Hy Lạp cổ đại. Socrates còn được coi là người đặt nền móng cho thuật hùng biện dựa trên hệ thống những câu hỏi đối thoại. Ông có tư tưởng tiến bộ, nổi tiếng về đức hạnh với quan điểm: “Hãy tự biết lấy chính mình”, “Tôi chỉ biết mỗi một điều duy nhất là tôi không biết gì cả”. Ông bị chính quyền khi đó kết tội làm bại hoại tư tưởng của thanh niên do không thừa nhận hệ thống các vị thần cũ được thành Athènes thừa nhận và bảo hộ và truyền bá các vị thần mới. Vì thế ông bị tuyên phạt tự tử bằng thuốc độc, mặc dù vậy ông vẫn có thể thoát khỏi án tử hình này nếu như ông công nhận những cáo trạng và sai lầm của mình, hoặc là rời bỏ Athen. Nhưng với quan điểm “Thà rằng chịu lỗi, hơn là lại gây ra tội lỗi.”, ông kiên quyết ở lại, đối diện với cái chết 1 cách hiên ngang. Theo ông sự thật còn quan trọng hơn với cả sự sống.

Sinh thời ông không mở trường dạy học, mà thường coi mình là có sứ mệnh của thần linh, nên phải đi dạy bảo mọi người và không làm nghề nào khác. Socrates thường nói chuyện với mọi người tại các nơi công cộng, tại các agora và không lấy tiền, nên ông chấp nhận sống một cuộc sống nghèo. Học trò xuất sắc của ông là đại hiền triết Platon từng theo học trong 8 năm dòng.

“Vấn đề Socrates”

Phác hoạ một hình ảnh chính xác về tiểu sử của Socrates và quan điểm triết học của ông là một nhiệm vụ vô cùng gian nan.

Socrates không viết các tác phẩm triết học. Hiểu biết của chúng ta về ông, cuộc đời và sự nghiệp của ông dựa trên ghi chép của các học trò và người cùng thời. Đầu tiên trong số đó là Plato; tuy nhiên, tác phẩm của Xenophon, Aristotle, và Aristophanes cũng cung cấp những hiểu biết sâu sắc. Tìm kiếm một hình ảnh Socrates “thật sự” là một điều rất khó khăn bởi những tác phẩm đó thường mang tính triết lý hay là kịch hơn là sự thật lịch sử. Ngoài ra từ Thucydides (người không đề cập đến Socrates hay các triết gia nói chung), thật sự không có một tiểu sử thực thụ của những người cùng thời với Plato. Kết quả tất yếu của điều đó là những nguồn đó đã không mâu thuẫn với sự chính xác lịch sử. Các nhà sử học trước kia phải đối mặt với việc làm hòa hợp rất nhiều tài liệu để tạo nên sự miêu tả chính xác về cuộc đời và công việc. Kết quả của những nỗ lực như thế là sự tất yếu mang tính hiện thực, là sự thống nhất đơn thuần.

Về tổng quan, Plato được xem như là nguồn thông tin chắc chắn về cuộc đời và tác phẩm của Socrates. Tuy nhiên, điều đó cũng được làm sáng tỏ trong các tài liệu và các tác phẩm lịch sử tằng Socrates không đơn giản chỉ là nhân vật, hay phát minh của Plato. Sự chứng nhận của XenophonAristole, theo như một số tác phẩm của Aristophane trong The Clouds, có thể hữu dụng trong việc liên kết nhận thức về một Socrates bằng xương bằng thịt bên cạnh các tác phẩm của Plato Chi tiết về Socrates có nguồn gốc từ ba tác phẩm của những người cùng thời: the dialogues của PlatoXenophon (đều là người say mê Socrates), và các vở kịch của Aristophanes. Ông cũng được miêu tả bởi một vài học giả, kể cả Eric HavelockWalter Ong, quán quân của việc kể truyền miệng, đứng sừng sững vào buổi bình minh của văn viết chống lại sự truyền bá bừa bãi. Vở kịch The Clouds của Aristophane miêu tả Socrates như là một chú hề dạy dỗ học trò của mình cách thức lừa bịp để thoát nợ. Dĩ nhiên hầu hết tác phẩm của Aristophane đều mang tính chất châm biếm. Vì lẽ đó nó được cho là sự thành công trong việc xây dựng nhân vật tiểu thuyết hơn là miêu tả chân thực. Theo Plato, cha của Socrates là Sophroniscus và mẹ là Phaenarete, một bà đỡ. Dù được miêu tả như một mẫu người thiếu sức hấp dẫn bề ngoài và có vóc người nhỏ bé nhưng Socrates vẫn cưới Xanthippe, một cô gái trẻ hơn ông ta rất nhiều. Cô ấy sinh cho ông ba đứa con trai Lamprocles, SophroniscusMenexenus. Bạn của ông là Crito của Alopece chỉ trích ông về việc bỏ rơi những đứa con trai của ông khi ông từ chối việc cố gắng trốn thoát khỏi việc thi hành án tử hình. ¬Không rõ Socrates kiếm sống bằng cách nào. Các văn bản cổ dường như chỉ ra rằng Socrates không làm việc. Trong Symposium của Xenophon, Socrates đã nói rằng ông nguyện hiến thân mình cho những những gì ông coi là nghệ thuật hay công việc quan trọng nhất: những cuộc tranh luận về triết học. Trong The Clouds Aristophanes miêu tả Socrates sẵn sàng chấp nhận trả công cho Chaerephon vì việc điều hành một trường hùng biện, trong khi ở ApologySymposium của Plato và sổ sách kể toán của Xenophon, Socrates dứt khoát từ chối việc chỉ trả cho giảng viên. Để chính xác hơn, trong Apology Socrates đã viện dẫn rằng cảnh nghèo nàn của ông ấy là chứng cớ cho việc ông ấy không phải là một giáo viên. Theo Timon của Phlius và các nguồn sau này, Socrates đảm nhận việc trông coi xưởng đá từ người cha. Có một lời truyền tụng cổ xưa, chưa được kiểm chứng bởi sự các học giả, rằng Socrates đã tạo nên bức tượng Three Grace ở gần Acropolis, tồn tại cho đến tận thế kỉ thứ 2 sau Công nguyên. Một số đoạn đối thoại của Plato quy cho việc Socrates phục vụ trong quân đội. Socrates nói ông phục vụ trong quân đội Athen trong suốt ba chiến dịch: tại Potidaea, Amphipolis, và Delium. Trong Symposium Alcibiades mô tả sự dũng cảm của Socrates trong trận Polidaea và Delium, kể lại chi tiết việc Socrates cứu mạng ông ta như thế nào tại cuộc chiến trước (219e – 221b). Sự phục vụ bất thường của Socrates ở Delium cũng được đề cập đến trong tác phẩm Laches với vị tướng cùng tên với đoạn đối thoại (181b). Trong Apology, Socrates so sánh sự phục vụ trong quân đội với việc ông bị rắc rối ở phòng xử án, và nói với tất cả bồi thẩm đoàn nghĩ rằng việc ông nên từ bỏ triết học cũng phải nghĩ rằng những người lính nên chạy trốn mỗi khi họ thấy họ có thể bị giết trong chiến trận.

Cuộc xử án và cái chết

Hình: Cái chết của Socrates (La Mort de Socrate, 1787), tranh của Jacques-Louis David, hiện được trưng bày ở bảo tàng mỹ thuật Metropolitan

Socrates đã sống trong thời kỳ thịnh vượng của thành bang Athena cho đến lúc nó suy tàn bởi người Spartaliên minh của nó trong cuộc chiến tranh Peloponnesus. Trong lúc Athena tìm kiếm sự ổn định và phục hồi từ thất bại ê chề, nền cộng hòa dân chủ chủ nô của Athen bị nghi ngờ là làm suy yếu sự lãnh đạo của nhà nước. Socrates xuất hiện để chỉ trích thể chế dân chủ, và một vài học giả giải thích rằng việc xét xử ông là biểu hiện của sự đấu tranh chính trị.

Mặc dù luôn thể hiện sự trung thành đến chết với thành bang, song việc Socrates theo đuổi đến cùng lẽ phải và đức hạnh của ông đã mâu thuẫn với chiều hướng chính trị và xã hội đương thời của Athena. Ông ca ngợi Sparta, chê bai Athena, trực tiếp và gián tiếp trong nhiều cuộc đối thoại. Nhưng có lẽ hầu hết các sử liệu xác thực đều cho thấy sự đối lập của Socrates với thành bang là ở quan điểm chỉ trích xã hội và luân lý của ông. Thích bảo vệ sự nguyên trạng hơn là chấp nhận phát triển sự phi đạo đức. Trong lĩnh vực của mình Socrates cố gắng phá vỡ quan niệm lâu đời “chân lý thuộc về kẻ mạnh” rất thông dụng ở Hy Lạp lúc bấy giờ. Plato cho Socrate là “ruồi trâu” của nhà nước (như một con ruồi châm chích con trâu, Socrates châm chọc Athen]]. Quá đà hơn ông chọc giận các nhà quản lý với ý kiến đòi xem xét các phán quyết toà án và các quyết định. Cố gắng của ông để tăng cường ý thức của tòa án Athena có lẽ là nguồn cơn cho việc hành hình ông.
Theo Apology của Plato, cuộc đời như “ruồi trâu” của Athen bắt đầu khi bạn của ông Chaerephon hỏi nhà tiên triDelphi rằng có thể có ai khôn ngoan hơn Socrates; nhà tiên tri trả lời rằng không có ai. Socrates tin rằng nhà tiên tri đã nói đến một nghịch lý, bởi vì ông tin ông không thể chiếm giữ sự khôn ngoan mãi mãi. Ông cố gắng để kiểm tra bằng cách đố những người cho là khôn ngoan ở Athena, như là chính khách, thi sĩ hay thợ thủ công nhằm bác bỏ những lời nhà tiên tri nói. Nhưng khi hỏi họ Socrates đi đến kết luận, khi một người cho rằng anh ta biết rất nhiều thì thực ra anh ta biết rất ít và không khôn ngoan cho lắm. Socrates nhận ra rằng nhà tiên tri đã đúng, một người được gọi là khôn ngoan khi họ nghĩ rằng họ không như thế, ông cũng tự biết rằng ông không khôn ngoan hoàn toàn, nghịch lý là ở chỗ ông là người khôn ngoan duy nhất kể từ khi ông biết những điều ông không biết. Nghịch lý sự khôn ngoan của Socrates đã khiến những người đứng đầu ở Athena mà ông từng đố công khai cảm thấy mình trở nên ngốc nghếch, nên họ đã quay lại chống lại ông và dẫn tới việc buộc tội đó hành vi sai trái. Socrates bảo vệ vai trò của ông như ruồi trâu đến cùng; trong tù, khi ông được hỏi về đề xuất với hình phạt của chính ông, ông đề nghị được chính phủ trả lương tuần và bữa tối miễn phí để bù vào khoảng thời gian ông phải nghỉ , cung cấp tiền cho thời gian ông ấy dùng để làm ân nhân của thành Athena. Tuy thế ông vẫn bị khép vào tội làm hư hỏng đầu óc của thanh niên Athena và bị kết án tử hình bằng việc uống một loại độc dược bào chế từ cây độc cần. Theo như sử liệu của Xenophon, Socrates có chủ đích thách thức bồi thẩm đoàn vì “ông ấy tin rằng ông ấy nên tự tử thì hơn”. Xenophon tiếp tục mô tả sự kháng cự Socrates như là giải thích sự nghiêm khắc của người già và Socrates vui mừng như thế nào khi lừa được họ kết án ông tử hình. Điều đó giúp ta hiểu ra rằng Socrates cũng ước muốn được chết bởi ông “thật sự tin cuộc đời thực của ông sẽ đến khi ông chết” Xenophon và Plato đồng ý rằng Socrates có một cơ hội giải thoát và những người tin theo ông có thể đút lót lính coi ngục. Ông chọn ở lại bởi mấy lý do sau

1. Ông tin rằng sự trốn chạy là biểu hiện của sự sợ hãi cái chết, bở ông tin không triết gia nào làm thế

2. Nếu ông trốn khỏi Athena sự dạy dỗ của ông không thể ổn thỏa hơn ở bất cứ nước nào khác như ông đã từng truy vấn mọi người ông gặp và không phải chịu trách nhiệm về sự không vừa ý của họ

3. Bằng sự chấp thuận sống trong khuôn khổ luật của thành bang, ông hoàn toàn khuất phục chính bản thân ông để có thể bị tố cáo như tội phạm bởi các công dân khác và bị tòa án của nó phán là có tội. Mặt khác có thể ông bị kết tội vì phá vỡ sự “liên hệ cộng đồng” với Nhà nước, và gây tộn hại đến Nhà nước, một sự trái ngược so với nguyên lý của Socrates. Lý do đầy đủ ẩn chứa sau lời từ chối trốn chạy của ông là chủ đề chính của vở kịch Crito

      Cụm phế tích thành Athens

                    

                                                    CổngPropylea

Điện Parthenon

Tượng nữ thần Hy Lạp ở  Đền Erechtheion

           

Đền Nike Apteros

                                              

Di tích kịch trường lộ thiên tửu tinh( thần rượu)Dionysos (Hy lạp)

Cái chết của Socrates được diễn tả ở phần cuối của cuốn Phaedo của Plato. Socrates bác bỏ lời cầu xin của Crito để cố gắng thử trốn khỏi tù. Sau khi uống độc dược, ông vẫn được dẫn đi dạo cho đến khi bước chân ông trở nên nặng nề. Sau khi ông gục xuống, người quản lý độc dược véo thử vào chân ông. Socrates không còn cảm giác ở chân nữa. Sự tê liệt dần dần lan khắp cơ thể ông cho đến khi nó chạy vào tim ông. Không lâu trước khi ông chết, Socrates trăn trối với Crito “Crito, chúng ta nợ một con gà trống với Asclepius. Làm ơn đừng quên trả món nợ đó”. Asclepius là thần chữa bệnh của người Hy Lạp, và những lời cuối cùng của Socrates nghĩa là cái chết là cách chữa bệnh và sự tự do là việc tâm hồn thoát ra khỏi thể xác. Nhà triết học La Mã Secena đã thử bắt chước cái chết của Socrates khi bị ép tự tử bởi Hoàng đế Nero.

Triết học: Phương pháp Socrates

Có lẽ đóng góp quan trọng nhất của ông cho tư tưởng phương Tây là phương pháp truy vấn biện chứng, được biết đến dưới tên gọi “phương pháp Socrates” hay phương pháp “bác bỏ bằng logic” (elenchus). Ông đã áp dụng phương pháp này chủ yếu cho việc kiểm nghiệm các khái niệm quan trọng về mặt đạo đức như Tốt đẹp và Công bằng. Plato là người đầu tiên miêu tả phương pháp này tác phẩm “Các cuộc hội thoại của Socrates”. Để giải quyết một vấn đề, người ta chia nhỏ nó thành một hệ thống các câu hỏi, các câu trả lời sẽ dần dần kết tinh ra lời giải mà ta tìm kiếm. Ngày nay, ảnh hưởng của cách tiếp cận này có thể thấy rõ nhất ở việc sử dụng phương pháp khoa học, mà bước đầu tiên là đặt ra giả thuyết. Sự phát triển và sử dụng phương pháp này là một trong những đóng góp bền vững nhất của Socrates, đó là thành tố chính trong việc đánh giá ông là cha đẻ của triết học chính trị, luân lý học, và là người khởi đầu của các xu hướng chính trong triết học phương Tây.

Phương pháp Socrates có thể được diễn tả như sau; một loạt câu hỏi được đặt ra để giúp một người hay một nhóm người xác định được niềm tin cơ bản và giới hạn của kiến thức họ. Phương pháp Socrates là phương pháp loại bỏ các giả thuyết, theo đó người ta tìm ra các giả thuyết tốt hơn bằng cách từng bước xác định và loại bỏ các giả thuyết dẫn tới mâu thuẫn. Nó được thiết kế để người ta buộc phải xem xét lại các niềm tin của chính mình và tính đúng đắn của các niềm tin đó. Thực tế, Socrates từng nói, “Tôi biết anh sẽ không tin tôi, nhưng hình thức cao nhất của tinh túy con người là tự hỏi và hỏi người khác”

Niềm tin triết học

Người ta khó phân biệt giữa các niềm tin triết học của Socrates và của Plato. Có rất ít các căn cứ cụ thể cho việc tách biệt quan điểm của hai ông. Các lý thuyết dài biểu đạt trong đa số các đoạn hội thoại là của Plato, và một số học giả cho rằng Plato đã tiếp nhận phong cách Socrates đến mức lảm cho nhân vật văn học và chính nhà triết học trở nên không thể phân biệt được. Một số khác phản đối rằng ông cũng có những học thuyết và niềm tin riêng. Nhưng do khó khăn trong việc tách biệt Socrates ra khỏi Plato và khó khăn của việc diễn giải ngay cả những tác phẩm kịch liên quan đến Socrates, nên đã có rất nhiều tranh cãi xung quanh việc Plato đã có những học thuyết và niềm tin riêng nào. Vấn đề này còn phức tạp hơn nữa bởi thực tế rằng nhân vật Socrates trong lịch sử có vẻ như nổi tiếng là người chỉ hỏi mà không trả lời với lý do mà ông đưa ra là: mình không đủ kiến thức về chủ đề mà ông hỏi người khác.[4]

Nếu có một nhận xét tổng quát về niềm tin triết học của Socrates, thì có thể nói rằng về mặt đạo đức, tri thức, và chính trị, ông đi ngược lại những nguời đồng hương Athena. Khi bị xử vì tội dị giáo và làm lũng đoạn tâm thức của giới trẻ Athena, ông dùng phương pháp phản bác bằng lôgic của mình để chứng minh cho bồi thẩm đoàn rằng giá trị đạo đức của họ đã lạc đường. Ông nói với họ rằng chúng liên quan đến gia đình, nghề nghiệp và trách nhiệm chính trị của họ trong khi đáng ra họ cần lo lắng về “hạnh phúc của tâm hồn họ”. Niềm tin của Socrates về sự bất tử của linh hồn và sự tin tưởng chắc chắn rằng thần linh đã chọn ông làm một phái viên có vẻ như đã làm những người khác tức giận, nếu không phải là buồn cười hay ít ra là khó chịu. Socrates còn chất vấn học thuyết của các học giả đương thời rằng người ta có thể trở nên đức hạnh nhờ giáo dục. Ông thích quan sát những ông bố thành công (chẳng hạn vị tướng tài Pericles) nhưng không sinh ra những đứa con giỏi giang như mình. Socrates lập luận rằng sự ưu tú về đạo đức là một di sản thần thánh hơn là do sự giáo dục của cha mẹ. Niềm tin đó có thể đã có phần trong việc ông không lo lắng về tương lai các con trai của mình.

Socrates thường xuyên nói rằng tư tưởng của ông không phải là của ông mà là của các thầy ông. Ông đề cập đến một vài người có ảnh hưởng đến ông: nhà hùng biện Prodicus và nhà khoa học Anaxagoras. Người ta có thể ngạc nhiên về tuyên bố của Socrates rằng ông chịu ảnh hưởng sâu sắc của hai người phụ nữ ngoài mẹ ông. Ông nói rằng Diotima, một phù thủy và nữ tu xứ Mantinea dạy ông tất cả những gì ông biết về tình yêu, và Aspasia, tình nhân của Pericles, đã dạy ông nghệ thuật viết điếu văn. John Burnet cho rằng người thầy chính của ông là Archelaus (người chịu ảnh hưởng của Anaxagoras), nhưng tư tưởng của ông thì như Plato miêu tả. Còn Eric A. Havelock thì coi mối quan hệ của Socrates với những người theo thuyết Anaxagoras là căn cứ phân biệt giữa triết học Plato và Socrates

Nghịch lý Socrates

Nhiều niềm tin triết học cổ xưa cho rằng tiểu sử của Socrates đã được biểu thị như một « nghịch lý » bởi chúng có vẻ như mâu thuẫn với nhận thức thông thường. Những câu sau nằm trong số những nghịch lý được cho là của Socrates

– Không ai muốn làm điều ác và Không ai làm điều ác hay sai trái có chủ ý

– Đạo đức – tất cả mọi đạo đức là kiến thức và Đạo đức là đủ cho hạnh phúc

 

                                

                              Phế tích tương truyền là nhà ngục giam  Socrate

Nhận thức

Socrates thường nói sự khôn ngoan của ông ấy rất hạn chế để có thể nhận thức được sự ngu ngốc của ông. Socrates tin rằng những việc làm sai là kết quả của sự ngu ngốc và những nguời đó thường không biết cách làm tốt hơn. Một điều mà Socrates luôn một mực cho rằng kiến thức vốn là “nghệ thuật của sự ham thích” điều mà ông liên kết tới quan niệm về “Ham thích sự thông thái”,. Ông ấy không bao giờ thực sự tự nhận rằng mình khôn ngoan, dù chỉ là để hiểu cách thức mà người ham chuộng sự khôn ngoan nên làm để theo đuổi được điều đó. Điều đó gây nên tranh lụân khi mà Socrates tin rằng con người (với sự chống đối các vị thần như Apollo) có thể thật sự trở nên khôn ngoan. Mặt khác, ông cố gắng vạch ra một đường phân biệt giữa sự ngu ngốc của con người và kiến thức lý tưởng; hơn nữa, Symposium của Plato (Phát biểu của Diotima) và Republic (Ngụ ngôn về Cái hang) diễn tả một phương pháp để tiến đến sự khôn ngoan.

Trong Theaetus của Plato (150a) Socrates so sánh bản thân với một người làm mối đúng đắn như là sự phân biệt với một tên ma cô. Sự phân bịêt này lặp lại trong Symposium của Xenophon (3.20), khi Socrates bỡn cợt về một điều chắc chắn để có thể tạo một gia tài, nếu ông chọn để thực hành nghệ thuật ma cô. Với vai trò là một nhà truy vấn triết học, ông dẫn dắt người đối thọai tới một nhận thức sáng rõ khôn ngoan, dù cho ông không bao giờ thừa nhận mình là một thầy giáo (Apology). Theo ông thì vai trò của ông có thể hiểu đúng đắn hơn là một bà đỡ. Socrates giải thích rằng bản thân ông là một thứ lý thuyết khô khan, nhưng ông biết cách để làm cho thuyết của người khác có thể ra đời và quyết định khi nào họ xứng đáng hoặc chỉ là “trứng thiếu”. Có lẽ theo một cách diễn đạt đặc biệt, ông ấy chỉ ra rằng những bà đỡ thường hiếm muộn do tuổi tác, và phụ nữ không bao giờ sinh thì không thể trở thành bà đỡ; một người phụ nữ hiếm muộn đúng nghĩa nhưng không có kinh nghiệm hay kiến thức về sinh sản và không thể tách đứa trẻ sơ sinh với những gì nên bỏ lại để đứa bé có thể chào đời. Để phán đóan đuợc điều đó, bà đỡ cần phải có kinh nghiệm và kiến thức về việc mà bà đang làm.

Phương pháp giảng dạy:  Các bài dạy của ông thường được chia làm hai phần dựa trên sự đối thoại:

  • Phần thứ nhất: Phần hỏi và trả lời cho đến khi người đối thoại nhận thức là mình sai.
  • Phần thứ hai: Đây là phần lập luận: Ông giúp cho người đối thoại hiểu và tự tìm lấy câu trả lời. Ông nói: “Mẹ tôi đỡ đẻ cho sản phụ, còn tôi đỡ đẻ cho những bộ óc”

Những câu nói bất hủ của ông:  “Hãy tự biết lấy chính mình.”

-“Con người không hề muốn hung ác tàn bạo.”

-“Việc gọi là tốt khi nó có ích.”

-“Đạo đức là khoa học là lối sống.”

“Hạnh phúc có được khi nó dung hòa với đạo đức.”

-“Điều bị bắt buộc phải làm cũng là điều hữu ích.”

          Chương 5.- Học thuyết quốc gia của và

 lý niệm chủ nghĩa duy tâm cua Platon

              Platon (tiếng Hy Lạp: Πλάτων, Platōn, “Vai Rộng”), sống khoảng 427347 TCN, là một nhà triết học cổ đại Hy Lạp được xem là thiên tài trên nhiều lĩnh vực, có nhiều người coi ông cùng với Socrates (Σωκράτης) là thầy ông.là hai triết gia vĩ đại nhất mọi thời đại..

Sinh ra ở Athena, ông được hấp thụ một nền giáo dục tuyệt vời từ gia đình, ông tỏ ra nổi bật trên mọi lĩnh vực nghệ thuật và đặc biệt là triết học, ngành học mà ông chuyên tâm theo đuổi từ khi gặp Socrates.

Ông đã từng bị bán làm nô lệ và được giải thoát bởi một người bạn, sau đó, ông đã trở về Athena khoảng năm 387 TCN và sáng lập ra Viện hàn lâm – (tên lấy theo khu vườn nơi ông ở). Đây có thể được coi là trường đại học đầu tiên trong lịch sử nhân loại, nơi dành cho nghiên cứu, giảng dạy khoa học và triết học. Aristoteles (Αριστοτέλης) đã theo học tại đây khi 20 tuổi và sau này lập ra một trường khác là Lyceum.

Khi Socrates chết vào năm 399 TCN thì Platon mới khoảng 31 tuổi. Trong suốt phiên tòa xử thầy mình, ông ngồi dự ở phòng xử án. Toàn bộ chuỗi biến cố đó dường như đã ăn sâu vào tâm hồn ông thành một kinh nghiệm chấn động, vì ông đánh giá Socrates là người giỏi nhất, minh triết nhất và chính trực nhất trong tất cả mọi người.

Từ đó Platon bắt đầu cho phổ biến một loạt các đối thoại triết học trong đó nhân vật chính luôn luôn là Socrates, căn vặn những kẻ đối thoại của ông về những khái niệm căn bản về đạo đứcchính trị, làm cho họ mắc mâu thuẫn trước những câu hỏi của ông.

Có lẽ Platon có hai động cơ chính để làm việc này. Một là để thách thức và tái khẳng định những lời giáo huấn của Socrates bất chấp chúng đã bị kết án một cách công khai; hai là để phục hồi danh dự người thầy yêu quí của mình, cho mọi người thấy ông không phải là một kẻ hủy hoại giới trẻ mà là một bậc thầy danh giá nhất của họ.

 Triết học Platon

Platon là nhà triết học duy tâm khách quan. Điểm nổi bật trong hệ thống triết học duy tâm của Platon là học thuyết về ý niệm. Trong học thuyết này ông đưa ra hai quan niệm về thế giới các sự vật cảm biết và thế giới các ý niệm. Trong đó thế giới các sự vật cảm biết là không chân thực, không đúng đắn vì các sự vật không ngừng sinh ra và mất đi, thay đổi và vận động, không ổn định, bền vững, hoàn thiện; còn thế giới ý niệm là thế giới phi cảm tính phi vật thể, là thế giới đúng đắn, chân thực, các sự vật cảm biết chỉ là cái bóng của ý niệm. Nhận thức của con người không phải là phản ánh các sự vật cảm biết của thế giới khách quan mà là nhận thức về ý niệm. Thế giới ý niệm có trước thế giới cảm biết, sinh ra thế giới cảm biết. Từ quan niệm trên Platon đã đưa ra khái niệm “tồn tại” và “không tồn tại”. “Tồn tại” theo ông là cái phi vật chất, cái nhận biết được bằng trí tuệ siêu tự nhiên là cái có tính thứ nhất. Còn “không tồn tại” là vật chất, cái có tính thứ hai so với cái tồn tại phi vật chất. Về mặt nhận thức luận Platon cũng mang tính duy tâm. Theo ông tri thức là cái có trước các sự vật chứ không phải là sự khái quát kinh nghiệm trong quá trình nhận thức các sự vật đó. Nhận thức con người không phản ánh các sự vật của thế giới khách quan mà chỉ là nhớ lại, hồi tưởng lại của linh hồn những cái đã quên trong quá khứ. Theo Platon tri thức đuợc phân làm hai loại: Tri thức hoàn toàn đúng đắn và tri thức mờ nhạt. Loại thứ nhất là tri thức ý niệm có đựơc nhờ hồi tưởng. Loại thứ hai là tri thức nhận được nhờ vào nhận thức cảm tính, lẫn lộn đúng sai không có chân lí. Về xã hội, Platon đưa ra quan niệm về nhà nước lí tưởng trong đó sự tồn tại và phát triển của nhà nước lí tưởng dựa trên sự phát triển của sản xuất vật chất, sự phân công hài hoà các ngành nghề và giải quyết các mâu thuẫn xã hội.

 Những môn đệ của Platon

Nổi tiếng nhất trong số những người môn đệ của ông là Aristoteles. Ngoài ra, sau này có Plotinus (Πλωτίνος), một triết học gia người Ai Cập (với cái tên La Mã) có thể được coi là một triết gia Hy Lạp vĩ đại cuối cùng cũng là một người chịu ảnh hưởng của Platon. Tư tưởng của ông phát triển khuynh hướng thần bí của Platon và sau đó được biết tới như học thuyết Tân Platon (Neo-Platonism).

  ( Xin mời các bạn đọc thêm bài The Story of Philosophy – Will Durant (do do Trí Hải Bửu Đích dịch )

Nếu bạn nhìn vào một bản đồ của Âu châu, bạn sẽ thấy rằng Hy Lạp giống như một bàn tay chìa các ngón ra biển Địa trung hải. Phía nam là hòn đảo Crète hình như nằm gọn trong các ngón tay, ngàn năm trướcTâylịch (tTL) đó là nơi khởi đầu của văn minh nhân loại. Về phía đông là lãnh thổ thuộc về Á châu tuy ngày nay có vẻ lạc hậu nhưng dưới thời Platon là một lãnh thổ rất trù phú với một nền thương mãi, kỹ nghệ cực thịnh và một nền văn hoá phong phú. Về phía tây là nước Ý giống như một toà lâu đài ở giữa biển, các đảo Sicile và nước Y-pha-nho (Tây Ban Nha). Tại những nơi đó có những nhóm người Hy lạp sinh sống; cuối cùng là xứGibraltar, nơi đầy nguy hiểm cho các thuỷ thủ mỗi khi muốn vượt eo biển này. Về phía bắc là những xứ man rợ như Thessaly, Epirus và Macédonie. Từ những xứ ấy nhiều bộ lạc xuất phát và mở những cuộc tấn công về phía nam, những trận đánh do những văn nhân Hy lạp như Homère kể lại mà những chiến sĩ như Périclès chỉ huy. Hãy nhìn một lần thứ hai vào bản đồ, bạn sẽ thấy nhiều chỗ lồi lõm ở bờ biển và núi đồi trong đất liền, đâu đâu cũng có những vịnh nhỏ và những mỏm đá trồi ra biển. Nước Hy lạp bị chia cắt và cô lập bởi những chướng ngại thiên nhiên đó. Sự đi lại và liên lạc ngày xưa khó khăn hơn bây giờ rất nhiều. Do đó mỗi vùng tự phát triển lấy nền kinh tế, tự thành lập lấy nền hành chánh chính trị, tự phát huy tôn giáo, văn hoá và ngôn ngữ của mình. Những quốc gia như Locris, Etolia, Phocis, Béothia v.v.

Hãy nhìn vào bản đồ một lần thứ ba và quan sát vị trí của tiểu quốc Athènes: đó là một tiểu quốc nằm về phía cực đông của Hy lạp. Đó là cửa ngõ của Hy lạp để giao thiệp với các quốc gia thuộc vùng Á châu, đó là cửa ngõ để Hy lạp thu nhận những sản phẩm và ánh sáng văn hoá từ bên ngoài. Ở đây có một hải cảng rất tiện lợi, hải cảng Pirus, rất nhiều tàu bè đến trú ẩn để tránh những lúc sóng to gió lớn. Ngoài ra Pirus còn là nơi xuất phát một hạm đội chiến tranh hùng mạnh.

Vào khoảng năm 490 trước Tây lịch, hai tiểu quốc Sparte và Athènes quên mối hận thù để hợp lực cùng nhau đánh đuổi quân xâm lăng Ba Tư lăm le biến Hy lạp thành một thuộc địa của mình. Trong cuộc chiến tranh này, Sparte cung cấp lục quân và Athènes cung cấp thuỷ quân. Khi chiến tranh chấm dứt, Sparte giải ngũ quân đội và chịu sự khủng hoảng kinh tế do sự giải ngũ này sinh ra. Trong khi đó thì Athènes khôn ngoan hơn, biến hạm đội tàu chiến thành một hạm đội tàu buôn và trở nên một nước buôn bán giàu mạnh nhất thời thượng cổ. Sparte điêu tàn trong nghề canh nông và bị cô lập với thế giới bên ngoài, trong khi Athènes trở nên thịnh vượng và là một nơi giao điểm của nhiều chủng tộc, nhiều nguồn tư tưởng, văn hoá, sự chung đụng nảy sinh sự so sánh, phân tích và suy nghiệm.

Những truyền thống, lý thuyết gặp gỡ nhau, chống đối nhau, tự đào thải nhau và được cô đọng lại. Trong khi có hàng ngàn tư tưởng chống đối nhau, người ta có khuynh hướng hoài nghi tất cả những tư tưởng ấy. Có lẽ những thương gia là những người nhiều hoài nghi nhất vì họ thấy quá nhiều, bị tuyên truyền quá nhiều, họ có khuynh hướng coi người khác nếu không phải là những người ngu thì cũng là những người lưu manh, họ hoài nghi tất cả những nguồn tư tưởng. Theo với thời gian họ phát triển khoa học; toán học nảy sinh nhờ sự giao hoán, thiên văn học nảy sinh với nhu cầu hàng hải. Với sự phát triển nền kinh tế, con người có nhiều thì giờ nhàn rỗi, được hưởng nhiều tiện nghi trong một không khí trật tự và an ninh. Đó là những điều kiện tiên quyết để nghiên cứu và suy tư. Người ta nhìn vào các ngôi sao trên trời không những để tìm phương hướng cho chiếc tàu đang lênh đênh trên mặt biển mà còn để tìm bí mật của vũ trụ: những triết gia Ha lạp đầu tiên là những nhà thiên văn. Aristote nói rằng sau khi thắng cuộc chiến tranh, các người Hy lạp tìm cách phát huy chiến quả và mở rộng nỗ lực vào nhiều lãnh vực khác. Người ta cố tìm những lời giải đáp cho những bài toán trước kia được giao phó cho các thần linh quản trị, những tế lễ tà thuyết nhường bước cho khoa học, triết lý bắt đầu từ đó.

Khởi đầu triết lý là một môn học có tính cách vật lý, người ta quan sát thế giới hữu hình với hy vọng tìm thấy yếu tố khởi thuỷ của tất cả vạn vật. Một lối giải đáp tự nhiên là thuyết duy vật của Démocrite (460 – 360 tTL). Démocrite nói rằng: “trong vũ trụ chỉ có nguyên tử và hư không”, đó là nguồn tư tưởng chính của Hy lạp, người ta lãng quên nó trong một thời gian nhưng nó lại được sống dậy với tư tưởng của Epicure (342-279 tTL) và Lucrèce (98-55 tTL). Tuy nhiên khía cạnh quan trọng nhất và đặc sắc nhất của nền triết học Hy lạp được thể hiện trong tư tưởng của những nguỵ luận gia đó là những người đi lang thang rày đây mai đó để tuyên truyền cho chủ nghĩa của mình, họ gắn bó với tư tưởng của mình hơn tất cả mọi vật trên đời. Phần đông họ là những người rất thông minh hoặc rất thâm thuý, họ bàn cãi về tất cả những vấn đề mà người đương thời thắc mắc, họ đặt câu hỏi cho tất cả các vấn đề, họ không sợ đụng chạm đến các tôn giáo hoặc các tư tưởng chính trị của các vua chúa, họ mạnh dạn chỉ trích tất cả các định chế xã hội hoặc lý thuyết chính trị trước công luận. Về mặt chính trị họ được chia làm hai phái. Một phái giống như Rousseau cho rằng thiên nhiên là tốt, văn minh xã hội là xấu, trong thiên nhiên tất cả mọi người đều bình đẳng và con người trở nên bất bình đẳng với các định chế xã hội, luật lệ là những phát minh của những kẻ mạnh để trói buộc và thống trị kẻ yếu. Một nhóm khác giống như Nietzsche cho rằng thiên nhiên vượt ra ngoài phạm vi của cái xấu và cái tốt, trong thiên nhiên con người đã mất bình đẳng, luân lý là một phát minh của kẻ yếu để giới hạn và doạ nạt kẻ mạnh, sức mạnh là nền đạo đức tối thượng và sự ao ước tối thượng của con người, và chế độ chính trị cao đẹp nhất hợp thiên nhiên nhất là chế độ quý tộc.

Sự tấn công tư tưởng dân chủ là phản ảnh của sự thịnh vượng của một nhóm người giàu có ở Athènes họ tự lập một đảng gọi là lực lượng những người ưu tú. Đảng này chỉ trích tư tưởng dân chủ là vô hiệu lực. Thật ra cái dân chủ mà họ chỉ trích khác xa cái dân chủ mà chúng ta quan niệm ngày hôm nay. Trong số 400 ngàn dân của Athènes, đã có 250 ngàn thuộc vào hạng nô lệ bị tước đoạt tất cả quyền chính trị, trong số 150 ngàn người còn lại chỉ có một thiểu số được đại diện tại quốc hội để bàn cãi và quyết định về các vấn đề của quốc gia. Tuy nhiên cái nền dân chủ còn lại đó là một nền dân chủ có thể nói là hoàn hảo nhất từ xưa đến nay. Quốc hội có quyền tối thượng và là cơ quan tối cao của quốc gia, tối cao pháp viện gồm trên 1000 thẩm phán (để làm nản lòng những kẻ hối lộ), số thẩm phán này được tuyển chọn theo thứ tự ABC trong danh sách của toàn thể công dân. Không một chế độ chính trị nào dám thực hành tư tưởng dân chủ đi xa đến mức độ ấy.

Trong cuộc chiến tranh giữa Sparte và Athènes (430 – 400 tTL) lực lượng các người ưu tú của Athènes do Critias lãnh đạo, chủ trương nên bãi bỏ chế độ dân chủ vì cho đó là mầm mống của cuộc chiến bại và thành lập một chính thể giống như chính thể quý tộc của thành Sparte. Kết quả là nhiều lãnh tụ của lực lượng bị lưu đày. Sau khi chiến tranh chấm dứt với sự đầu hàng của Athènes, một trong các điều kiện đình chiến là phải đại xá cho những người trong lực lượng bị lưu đày. Những người này tôn Critias làm minh chủ và lăm le đảo chánh để thành lập một chính phủ của lực lượng ưu tú. Cuộc đảo chánh thất bại, Critias tử trận. Critias là môn đệ của Socrate và có họ hàng với Platon.

 

                                  Minh họa : Plato đang dạy con học

                                               Võ sĩ ba cấp của Plato

                                               Plato và học tròcủa ông là Aristokles

 

Hạt nhân của học thuyết  Plato là lý niệm  nên triết học của ông còn được gọi là lý niệm luận.Bản nghĩa chữ lý niệm của Plato là cái sự vật mà mình nhìn thấy, tức hình thái , chuyển nghĩa là  cái linh hồn mà mình tháy

( Học viẹn Athene- tranh của Raphael

                                  Học viện Plato

( Còn nữa )

CHUYÊN MỤC THƠ VĂN

Thơ Trần Trọng Chiêm

 Mùa thu đi đâu

@

Nuối tiếc mà chi, mùa thu đã phai,

Đắm đuối mà chi, mùa thu sẽ tắt,

Lá úa còn rơi, còn rơi, còn trút rơi…

Trôi theo mùa thu đi,

Tuổi xuân, sắc dần phai.

Sương thu mờ xa xăm,

Chìm dần vào thương nhớ hình bóng ai

Thu ra đi,

Để chiều nay rượu đắng lệ tràn !

Thu ra đi,

Để chiều nay sầu nhớ băng khuâng.

Mây Trúc Bạch,

đã thâm nâu mầu cổ tích

Nhưng chân trời,

Vẫn tím ngắt phía sau lưng.

Mùa thu đi ! là hoang vắng tràn về,

Mùa thu đi ! là thôi hết nắng vàng.

Sưởi ấm tâm hồn giá băng

Ngập trời thương nhớ trĩu nặng lòng ta.

T.T.Ch

    Lamartine (Alphonse Marie Louis de Prat de Lamartine 21/10/1790- 28/21869) nhà thơ Pháp nổi tiếng với bài  Le lac                                                    

Ainsi toujours poussés vers de nouveaux rivages,

Dans la nuit éternelle emportés sans retour,

Ne pourrons-nous jamais sur l’océan des âges,

Jeter l’ancre un seul jour ?

Cái hồ

Cứ đẩy mãi xuôi vào bến mới

Trong đêm trường đưa tới chẳng về

Thời-gian, bể cả rộng ghê

Nhân-sinh chiếc bách, bến mê không ngừng?

O lac ! l’année à peine a finis a carrière,

Et près des flots chéris qu’elle devait revoir

Regarde ! Je viens seul m’asseoir sur cette pierre

Où tu la vis s’asseoir !

Nầy hồ hỡi ! Năm dài vừa mãn,

Bên sóng yêu nàng  hẳn đến nhìn,

Xem ! Ta trên đá một mình,

Mà ngươi đã thấy bạn tình khi xưa.

Tu mugissais ainsi sous ces roches profondes

Ainsi tu te brisais sur leurs flancs déchirés,

Ainsi le vent jetait l’écume de tes ondes

Sur ses pieds adorés.

Rền-rĩ thế dưới gầm động thạch,

Sóng bủa sườn, ngươi rách tả-tơi,

Gió tung bọt sóng tơi-bời,

Gót son trắng điểm, tuyệt-vời yêu-đương.

Un soir, t’en souvient-il ? nous voguions en silence,

On n’entendait au loin, sur l’onde et sous les cieux

Que le bruit des rameurs qui frappaient en cadence

Tes flots harmonieux.

Một chiều nọ, trên gương hồ phẳng,

Còn nhớ chăng? thuyền lẵng lặng trôi,

Xa xa, mặt nước, bầu trời,

Chỉ nghe rơi mái chèo…rơi nhịp nhàng.

Tout à coup des accents inconnus à la terre

Du rivage charmé frappèrent les échos,

Le flot fut attentif, et la voix qui m’est chère

Laissa tomber ces mots :

Thình lình cất tiếng nhân-gian lạ,

Bến say mê, lay cả vang-âm

Lắng nghe sóng bạc âm-thầm,

Tiếng ai yêu-dấu, bổng, trầm hữu-duyên :

O temps, suspends ton vol ! et vous, heures propices

Suspendez votre cours !

Laissez-nous savourer les rapides délices

Des plus beaux de nos jours !

Hãy dừng lại, giờ hên, phút tốt,

Khoan trôi đi ! dừng cất cánh bay !

Để ta tận hưởng vui say

Chóng qua của những chuổi ngày xuân tươi !

Assez de malheureux ici-bas vous implorent :

Coulez, coulez pour eux :

Prenez avec leurs jours les soins qui les dévorent

Oubliez les heureux !

Biết bao kẻ chơi-vơi bể khổ,

Cầu thời gian giúp họ qua mau

Nghiệp trần với khổ lo âu :

Riêng ai hạnh-phúc xin cầu ngươi quên.

Mais je demande en vain quelques moments encore,

Le temps m’échappe et fuit.

Je dis à cette nuit : « Sois plus lente », et l’aurore

Va dissiper la nuit.

Nhưng khẩn-khoản gia thêm ít khắc,

Thời-gian đành thoăn-thoắt lướt bay,

Cầu xin chậm bớt đêm nay,

Rồi vừng đông sẽ xóa ngay đêm tàn.

Aimons donc, aìmons donc, de l’heure fugitive,

Hâtons-nous, jouissons !

L’homme n’a point de port le temps n’a point de rive

Il coule et nous passons !

Hãy yêu, yêu mãi, yêu vô-lượng,

Mau vui say giờ cuộn cuộn sang :

Giờ qua đời cũng chóng tàn

Kiếp trần không bến, thời-gian không bờ !

Temps jaloux ! se peut-il que ces moments d’ivresse

Où l’amour à longs flots nous verse le bonheur,

S’envolent loin de nous de la même vitesse

Que les jours de malheur ?

Ganh chi bấy thời gian, những lúc,

Thú yêu-đương hạnh phúc tràn tuôn,

Bay đi vun-vút biệt luôn,

Cũng đồng như lúc đau, buồn, thế chăng ?

Hé quoi ! n’en pourrons-nous fixer au moins la trace

Quoi ! passés pour jamais ? quoi ! tout entier perdus ?

Ce temps qui les donna, ce temps qui les efface,

Ne nous les rendra plus ?

Ít ra cũng lưu chi dấu vết

Kìa ! qua luôn, kìa ! mất hết sao ?

Đã ban hạnh-phúc dồi-dào,

Rồi nay lại xóa chẳng bao thuở hồi ?

Éternité, néant, passé, sombres abîmes !

Que faites-vous des jours que vous engloutissez ?

Parlez : nous rendrez -vous ces extases sublimes

Que vous nous ravissez ?

Hỡi trường-cữu, hư-vô, dĩ-vãng,

Mịt-mù xa vô-hạn, vực sâu !

Ngày vui ngây-ngất chôn sao,

Thời-gian cướp đoạt có hầu trả chăng ?

O lac ! rochers muets, grottes, forêt obscure !

Vous que le temps épargne ou qu’il peut rajeunir,

Gardez de cette nuit, gardez, belle nature,

Au moins le souvenir !

Hỡi hồ đá, hang sâu, rừng tối,

Được thời-gian thấm gội trẻ xinh,

Ít ra kỷ-niệm đêm tình,

Lưu dùm, tạ-vật đượm nghìn sắc-hương !

Qu’il soit dans ton repos, qu’il soit dans tes orages,

Beau lac, et dans l’aspect de tes riants coteaux,

Et dans ces noirs sapins, et dans ces rocs sauvages

Qui pendent sur tes eaux !

Dầu bảo táp hay cơn yên-tĩnh,

Và đồi con trong cảnh sởn-sơ,

Trong rừng thông bóng âm-u,

Hay trong khóm đá hoang-vu soi hình.

Qu’il soit  dans le zéphyr qui frémit et qui passe,

Dans les bruits de tes bords par tes bords répétés,

Dans l’astre au front d’argent qui blanchit ta surface

De ses molles clartés !

Dầu trong gió rùn mình nhẹ lướt,

Trong sóng đưa vỗ nước bên hồ,

Hay trong trăng bạc nhấp-nhô,

Lồng soi ngấn nước, ánh mơ dịu-dàng.

Que le vent qui gémit, le Roseau qui soupire,

Que les parfums légers de ton air embaumé,

Que tout ce qu’on entend, l’on voit ou l’on respire,

Tout dise : «Ils ont aimé ! »

Gió  hiu hắt, sậy lau than vãn,

Hương thoảng xông quanh quẩn từng không !

Bao nhiêu cảnh vật cảm-thông,

Xin đồng nhắc-nhở « Tình chung nơi hồ »

Lamartine (Méditations poétiques)

VITA dịch (Trầm-tư-lục)

CHUYỆN XƯA CHUYỆN NAY

Trần văn Kinh: Triết lý trong câu chuyện cải cách giáo dục

 (Bài đã đăng lần đầu trên Tạp chí Công nghiệp VN-

Vietnam Industrial Review số 1+2 / 2003)

 

So với bản in lần trước, lần này có vài chỗ lược bỏ. Trước hết là phần nói về những thành tựu của ngành giáo dục trong nhiều chục năm qua. Mặc dù thành tựu đó rất lớn nhưng thiết tưởng không cần phải nhắc đến trong một bài viết nhỏ mà sự tỉnh táo và nhìn xa lại cần thiết hơn. Thứ hai là những kiến nghị về cải cách giáo dục trong nội dung và phương pháp dạy và học. Phần này cũng lược bỏ vì nó quá rộng lớn, không thể đề cập đến trong một một vài trang báo. Như vậy, bài báo sẽ dành chỗ để làm rõ hơn triết lý của câu chuyện, như nhan đề bài báo đã nêu.

1. Tư duy theo lối mòn.

Lịch sử đã bước sang giai đoạn mới. Chúng ta đang ở trong một thế giới mà cuộc sống đang tiến lên bằng những bước nhảy vọt, đột biến, những sáng tạo không ngừng, mà chúng ta thì đang đi bộ, đang tư duy theo lối mòn và tập quán của người đi bộ, cả về nội dung lẫn phương pháp dạy và học. Những đổi mới tiến bộ trong việc dạy và học chỉ mới diễn ra ở một số bộ môn, một số trường Đại học, có tính tiên phong, nhưng không nhiều, trong khi cả hệ thống giáo dục và đào tạo, từ giáo dục phổ thông dến giáo dục đại học, vẫn ì ạch loay hoay theo một tư duy khuôn phép đã hình thành hơn nửa thế kỷ. Sự cách tân có chăng cũng mới chỉ bề ngoài, không theo kịp ngay cả tư duy đổi mới trong phát triển kinh tế.

Nói như vậy có phải là thừa nhận chúng ta đã có nhảy vọt trong phát triển kinh tế? Không! Còn lâu mới đạt được.

Trên thế giới, không có một quốc gia hay vùng lãnh thổ nào trở thành con rồng, con hổ hay cường quốc kinh tế mà lại không có một thời kỳ nhảy vọt về kinh tế, liên tục trong vòng trên dưới 30 năm. với tốc độ tăng trưởng trên dưới 10%/ năm (như Nhật bản những năm 50-80 hay Hàn Quốc, Đài loan, Singapore, Hồng công những năm 60-90 của thế kỷ 20, Trung Quốc đầu thế kỷ 21, Liên xô những năm trước và sau thế giới chiên tranh lần thứ hai, nước Nga thời Pi-e đại đế thế kỷ thứ 17, nước Nhật thời Minh trị thiên hoàng cuối thế kỷ thứ 19…) .

Chúng ta đã đổi mới 25 năm , nhưng tốc độ bình quân cả thời kỳ mới chỉ đạt 5%/ năm. Chúng ta có muốn làm mạnh hơn nữa cũng khó, bởi vì cơ sở hạ tầng quá kém. Cơ sở hạ tầng về kinh tế thì  có thể hiện đại hóa trong vòng một thế hệ, nhưng cơ sở hạ tầng về xã hội (giáo dục, y tế, văn hóa,tập quán, phong cách, nguồn nhân lực…) thì phải mất nhiều thế hệ. Một ngôi nhà có thể trang bị đủ tiện nghi ( hiện đại), những cuộc sống bên trong ngôi nhà chưa chắc đã có văn hóa cao (phát triển). Kinh tế muốn phát triển nhảy vọt, đột biến, cần phải đi song song với một xã hội phát triển, dựa trên một nền văn hóa, giáo dục hiện đại và phát triển hơn nhiều. Tổ chức quản lý một xã hội phát triển cũng khác xa với một xã hội kém cỏi, manh mún và lạc hậu.

Từ đó mà nhìn lại mình thì thấy rõ: Nội dung giáo dục quá nặng nề và nhiều thứ vô bổ vẫn ngự trị hàng mấy chục năm nay, cách học thụ động thầy giảng gì trò ghi và thi nấy…làm kìm hãm năng lực tiếp nhận cái mới (qua nhiều con đường, ví dụ đọc ở thư viện, ở sách báo…) và tư duy sáng tạo của từng cá nhân .

2

Học nhồi nhét hay học thông minh? Tiếp nhận thụ động hay chủ động khám phá? Công nhận một chiều hay phải có kiểm nghiệm và thông tin phản hồi? Tư duy quản lý hành chính hay tư duy dạyhọc và nghiên cứu? (Không phải cứ Chủ tịch tỉnh thì lúc nào và chỗ nào cũng dạy được Chủ tịch huyện hay Chủ tịch xã. Không phải cứ Bộ trưởng hay Hiệu trưởng thì lúc nào cũng dạy được các thày v.v…). Cái nào thì có thể đánh giá theo số đông, còn cái nào phải coi trọng ý kiến của số it, thậm chí rất it? Nội dung hay phương pháp, cái nào quan trọng hơn? Chắc rằng ai cũng thấy được một điều: Dù học nhiều đến mấy thì kiến thức trong thời gian học ở trường cũng không thể đủ.

Kho tàng kiến thức là mênh mông, lại còn có thứ đang hình thành chưa đưa vào sách, nhưng sẽ tiếp tục được bổ sung khi học sinh vào đời. Hơn nữa, nội dung kiến thức là thứ mà người học có thể tiếp nhận được bằng nhiều con đường khác nhau (với ý thức và thói quen tự học, chủ động), trong khi phương pháp học thì “không thầy đố mày làm nên”. Dấu ấn của người thầy sâu đậm nhất là ở cách học, cách nghiên cứu và tìm tòi, cách tự luận và nắm bắt vấn đề, cách phát hiện cái sai và kiểm tra tính đúng đắn của luận điểm… chứ không phải là ở chỗ thầy đã nói nhiều , nói như sách, nhắc đi nhắc lại mãi, nói đến quá giờ và người nghe ù cả hai tai!

2. Cuộc sống cần những con người như thế nào?

Chúng ta đã nói nhiều đến mục tiêu giáo dục và đào tạo, và thời gian cũng đã làm lãng quên đi nhiều điều. Chẳng hạn như là học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, giáo dục phải vừa hồng vừa chuyên… Những cái đó tuy đúng nhưng hơi trừu tượng. Nói như cha ông ta ngày xưa đã nói, có lẽ dễ hiểu hơn: Học để nâng cao dân trí. Một dân tộc có học thì mới có nguồn nhân lực chất lượng cao. Từ trong nguồn nhân lực đó mà phát hiện và trọng dụng nhân tài, bởi như người xưa đã nói: nhân tài là nguyên khí của quốc gia.

Vậy nguồn nhân lực đó phải gồm những người như thế nào?

Đó phải là những người có năng lực thực sự và tinh thần trách nhiệm cá nhân cao.

Tôi cho rằng đó là cũng là hai tiêu chí để đánh giá và trọng dụng nhân tài. Có lẽ từ xưa đến nay đều như vậy.

Đã là người có năng lực thực sự (trí tuệ) và có tinh thần trách nhiệm cao thì sẽ không bao giờ đùn đẩy trách nhiệm, không trốn tránh khó khăn, không dây dưa công việc. Người tài tìm việc khó, giải quyết việc khó chứ không phải tìm việc dễ, tìm “đề tài ngon ăn” ! Trân trọng với trước tác của người khác, học tập họ nhưng không đạo văn! Việc gì không biết thì lắng nghe, không làm ra vẻ ta đây cũng biết, thậm chí còn lên mặt dạy người khác. (Màu xanh thật sống ngoài trời/ Nghe màu xanh giả dạy đời cách xanh- Thơ Trần Văn Kinh: Chiếc máy tạo khuôn- NXB VHDT- Hà Nội 2005).

GS Đàm Trung Đồn có lần nói: Nhân tài là không thể đào tạo được. Nhân tài phải tự đào tạo. Điềuđó hết sức đúng. Ngày xưa cũng vậy. Trong một đám học trò, hay nhiều đám học trò, đông đến mấy chục người, mấy trăm người, từ đầu đến cuối chỉ học cùng một ông thầy đồ, nhưng trong số đó chỉ có một, hai người trở thành nhân tài, do thiên tư, do sôi kinh nấu sử, do biết cách tự học. .

Nhưng những nhân tài đó cũng đừng quên cánh cửa đầu tiên mở ra là ở nhà ông thầy đồ. Ông thầy đồ nào biết dạy cho học trò cách đọc sách, cách nghiên cứu, cách luận (học nhi thời tập chi…) , thì ở đó học trò đã được nâng cánh từ rất sớm. Nhân tài và bằng cấp là hai việc khác nhau Nhân đây xin cho phép tôi được liên hệ một câu chuyện cũ.

Trong quyển sách “GS Hà Văn Tấn: 40 năm giảng dạy và nghiên cứu khoa học…” (NXB DHQG Hà Nội 1998 ), GS có nhắc lại câu chuyện của Thầy Trần Quốc Nghệ (thầy dạy Văn của chúng tôi hồi học cấp ba ), đại ý như sau: Cụ Khổng dạy : “Tri chi vi tri chi, bất tri chi vi bất tri, thị tri dã !”: Biết thì làm (theo cách) biết, không biết thì làm (theo cách) không biết, đó là biết vậy!

Nhưng thầy Nghệ bảo bây giờ (cách đây đã hơn 50 năm) nên sửa lại câu nói đó của cụ Khổng

thành: “Tri chi vi bất tri, thị tri dã!”: Biết mà làm (như) không biết. Đó là biết vậy!

Thế rồi đến một ngày, Trường cũ của chúng tôi (Trường cấp ba Phan Đình Phùng Hà Tĩnh) kỷ niệm 60 năm ngày thành lập, có ấn hành một cuốn sách (NXB Chính trị Quốc gia – Hà nội 2005) ghi lại những kỷ niệm và lời tâm tình của các thầy và trò cũ. Trong cuốn sách đó, tôi, học trò cũ Trần Văn Kinh, đã mạo muội đề nghị bổ sung vào câu chuyện của thầy Nghệ vế thứ ba như sau: “Bất tri chi vi tri chi, thị tri dã!”: Không biết mà làm (như) biết, đó là biết vậy! Không hiểu sao bây giờ lại lắm người như vậy cơ chứ! Thế thì làm sao mà nói đến năng lực thực sự được?

Đúng là thực giả khó phân?

Nói đến hai tiêu chí năng lực thực sự và tinh thần trách nhiệm cá nhân cao thì lại liên quan đến một điều mà xã hội thường quan tâm: pháp trị và đức trị.

Xã hội bây giờ lộn xộn quá. Báo chí ngày nào cũng đầy rẫy những chuyện làm ăn phi pháp, gian lận, những hành động hung hãn, côn đồ, cả những thói hư tật xấu của không ít người có quyền chức, xảy ra ở nhiều nơi, nhiều cấp khác nhau. Vì thế mà phải đưa lên hàng đầu khẩu hiệu: sống theo pháp luật. Ai cũng phải tuân thủ pháp luật. Đó là thời đại của pháp trị.

Nhưng pháp trị không đủ. Pháp trị cấm người ta không được làm cái gì, nhưng không mách bảo người ta nên làm cái gì. Đấy là lĩnh vực của đạo đức. Con người có đạo đức, xã hội có đạo đức thì sẽ tự tìm thấy những hành động lương thiện phải làm, không cần có ai ra lệnh. Người lương thiện và có trách nhiệm sẽ ở thế thượng phong. Hiệp sĩ sẽ được tôn trọng, kính nể, được bảo vệ.

Kẻ gian, kẻ xấu sẽ không có chỗ tác oai tác quái. Đó là thời đại của đức trị.

Có lẽ nào thời đại của chúng ta laị không phải là thời đại của pháp trị và đức trị ?

Và ngành giáo dục của thời đại pháp trị và đức trị đòi hỏi phải có người thầy như thế nào, có nộidung (sách giáo khoa) và phương pháp dạy học như thế nào, có các ông “Đốc học” (các cấp quản lý giáo dục), có “Bộ Học” như thế nào…cuối cùng là có ngân sách như thế nào…, đó chẳng phải là những điều chủ yếu cho một chiến lược cải cách giáo dục hay sao?

3. Bắt đầu như thế nào?

Câu chuyện cải cách giáo dục có muôn ngàn việc. Việc nào cũng khó. Nhưng có làm được không ?

Ai làm và làm như thế nào? Thiết nghĩ nếu cứ để làm theo đường mòn, và vẫn những con người ấy, bộ máy ấy, vừa chỉ đạo và thực hiện công việc của ngày hôm nay lại vừa nghĩ cách thay thế nó đi thì sẽ chẳng bao giờ có thể thành công được.

Phải có một hệ thống khác, gồm nhiều vụ, nhiều ban chuyên môn, có nhiều chuyên gia giáo dục

ngoài biên chế của ngành giáo dục hiện nay, kể cả nhiều nhà giáo , nhiều giáo sư nổi tiếng là đầu

ngành và có nhiều tâm huyết, dù đã về hưu, cùng làm việc tập trung, cùng vạch ra một chiến lược

tối ưu trong vòng 2-3 năm, và tiếp tục thực hiện nó trong vòng 15- 20 năm về cải cách giáo dục.

Lực lượng này hiện nay không phải là quá ít. Hy vọng là đến lúc đó, hay là sau đó, nước ta mới có

thể phấn đấu trở thành một nước phát triển . TVK

CHUYÊN MỤC SƯU TẦM NGỮ NGHĨA TIẾNG VIÊT

Sưu tầm ngữ nghìa tiếng Việt có lẽ là một công việc lý thú nhất của BQM.

Đang ngồi nghĩ hôm nay ta viết gì thì nhìn thấy tách trà mình vừa ướp hóa nhài để trước mặt.

Dụng cụ để uống nước, uống rượu, uống bia …của ta to nhỏ khác nhau, chất liệu khác nhau và tên gọi theo miền cũng khá nhau.

Trước hết nói từ chén.

Theo tôi đây là một từ thuần Việt ( Bách Việt ) đã bị Hán hóa thành trản (zhan 盏 ). Chén trà (盏茶  zhrản zhá) chữ trà là chè B’lè thuần Việt . Có nghĩa là những chữ như “trản” “trà” là dongười Hán phiên âm tiếng Việt, cũng như rất nhiều chữ khác, như áo quần, mít… Nguời TQ phương Bắc gọi dụng cụ uống rượu là bôi 杯 (bei) như “ Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi”. Sau này tiêng Việt đã tiếp thu them các tiếng khác làm phong phú thêm như cốc ( tiếng Anh-> cup, Pháp ->coupe, tasse) tạo

nên tư láy như “cốc chén”  “tách chén”va cũng theo xu hướng như các nước, khác, căn cứ vào hình của giải thưởng mà họ gọi trệch đi thành cúp thể thao

CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE

Bài  của Lê Quang Thọ do Ongbale chuyển

Tập Thở Và Vận Động Để Trị Bệnh Đau Nhức
Đau nhức: nhiều người cảm thấy “khốn khổ khi bị các cơn đau hành hạ

Một tờ báo Mỹ có kể một câu chuyện về một người đi ăn trộm, đang mò mẫm trong bóng tối bỗng đụng chạm làm rơi một món đồ gì đó, khiến ông chủ nhà thức giấc. Anh ăn trộm hoảng quá, đứng chết trân tại chỗ, chờ chủ nhà kêu 911. Nhưng bất ngờ, ông chủ nhà chỉ rên rẩm và nói:
-Ăn trộm hả? Muốn lấy gì thì lấy đi. Nhưng, trước khi đi, đưa giùm tôi lọ thuốc phong thấp ở trên bàn đó và một ly nước nữa. Tôi đang đau quá, không dậy nổi.

Anh trộm chưng hửng một lúc, nhưng rồi cũng đưa lọ thuốc và nước cho chủ nhà xong, rồi chậm rãi nói:
-Ông bị đau nhức đầu gối phải không? Tôi cũng bị.. Nhưng uống thuốc này không hết đâu. Tôi dùng thuốc khác.
Chủ nhà vừa rên vừa hỏi:
-Thuốc gì vậy? Viết tên thuốc được không?
Anh trộm viết tên thuốc rồi vừa đưa cho ông chủ vừa nói:
-Tôi dùng thuốc này mới hết. Nhưng vì trước đây, đau quá, mất ngủ ban đêm quen rồi, nên bây giờ, hết bệnh, không biết làm gì cho hết đêm, đành đi ăn trộm ….Ông tha cho tôi. Tôi đi về nhé!

Nói xong, anh trộm ra mở cửa, đi về. Ông chủ nhà gọi với theo:
-Cám ơn nghe. Đêm nào mất ngủ, cứ tới đây, nói chuyện chơi.
Bài báo nói lên được một thực trạng về bệnh tật mà bao người Mỹ đang mắc phải: bệnh Đau nhức các khớp xương, hay còn gọi là Phong thấp, mà tiếng Mỹ gọi là Arthritis. Có hai loại Đau nhức: Osteoarthristis, tạm gọi là loại Một (cho các vị cao niên dễ nhớ) và Rheumatoid Arthritis mà ta tạm gọi là loại Hai.

Loại Một gây ra những đau nhức ở cổ, vai, bàn tay, ngón tay, đầu gối, xương chậu… Nguyên nhân thường là do tuổi tác (phụ nữ trên 45 tuổi có thể mắc bệnh này), thoái hóa xương, di truyền, bệnh mập phì, hay do những động tác không ngay ngắn được lập đi lập lại lâu ngày như ngồi ghế cong lưng, ngồi lái xe mà thắt lưng bị bẻ cong, nghiêng đầu sang một bên, tay đánh máy suốt ngày không thư dãn, đứng một vị thế cong trong nhiều giờ, nhiều ngày…. Trên nước Mỹ có tới 21 triệu người bị đau loại Một.

Loại Hai cũng đau ở các đốt xương, có thể sưng lên, làm biến dạng xương, khó đi đứng, cử động. Loại này có trên 2 triệu nguời mắc bệnh. Nguyên nhân có thể do hệ thống miễn nhiễm không làm việc tốt, bị di truyền, hay vì thời tiết thay đổi đột ngột.

Nói chung cả hai loại đều gây đau nhức, nhiều người cảm thấy “khốn khổ, khốn nạn” khi bị các cơn đau hành hạ. Hoặc đi một lúc thì cảm thấy nhức chân, rồi đi lệch lạc. Hoặc ngủ không nổi vì khớp xương đầu gối buốt quá. Hoặc ngồi lâu thì tê hai bả vai…

Thường thì có ba (3) cách điều trị các bệnh đau nhức : Thuốc uống (Medication), giải phẫu (Surgery) và Không dùng thuốc (Non-medication). Hai phương pháp đầu tiên, dĩ nhiên, là phải qua Bác sĩ.
Phương pháp thứ Ba: Không dùng thuốc lại gồm ba cách: châm cứu, vật lý trị liệu, và tập luyện (exercise). Trong ba cách này, Tập Luyện (Exercise) dễ hơn cả và tác dụng lâu bền hơn cả. Châm cứu có tác dụng tức khắc, nhưng cũng hết tác dụng nhanh lắm. Vật Lý trị liệu cũng thế. Khi được Mát xa, thì thấy rất “đã”, nhưng chỉ một ngày sau là lại đau như cũ. Vậy chỉ còn các TẬP LUYỆN lấy một mình, không tốn tiền, không phải giải phẫu, cũng không phiền ai, nhưng chỉ cần Ý CHÍ tự thắng mà thôi.

Người viết bài này, chỉ còn một ít chỗ khớp xương nào còn nguyên vẹn mà chưa lần …gẫy. Tuổi trẻ, đi tập đủ loại võ nghệ: Nhu Đạo, Thái cực Đạo, Hapkido, Aikido, Thiếu Lâm.. không môn nào mà không mang cho thân thể một lần trật xương, gẫy vỡ. Đấu vật thì cắm đầu xuống đất, lọi cổ tưởng chết. Rồi chống tay xuống đất, vỡ xương cổ tay, lọi cùi chỏ.. Nhẩy qua chướng ngại vật: gẫy vai (2 lần). Đá người thì bị lọi ngón chân. Vật người thì bị gẫy thắt lưng… Bó bột liên miên, hết tay lại chân. Vào nhà thương chích thuốc rồi qua Thầy Cự Thất bó gà, qua Thầy Tầu điểm huyệt, có lần nhờ thầy Cao Miên thổi bùa cho lành vai… Tất cả những lần gẫy vỡ ấy, tuổi thanh niên sung sức chẳng coi nhằm nhò gì, giờ này, mới thấy thấm thía: đau nhức khắp người. Muốn hết đau nhức mà không muốn uống thuốc, không chích Cortisone, không đi Bác sĩ chỉnh xương, thì phải tập luyện hoài hoài, ngưng tập là .. đau! Cho nên, viết bài này để chia xẻ những ai đau đớn vì bệnh phong thấp, nhức xương, mong mọi nguời cùng khỏe.

Nguyên lý:

Hệ thống thần kinh của con người chạy cùng khắp thân thể, chỗ nào cũng có, từ đầu cho tới ngón tay, ngón chân. Tuy nhiên, theo hình vẽ về hệ thần kinh được treo tại các phòng mạch Tây, Đông Y, ta thấy chùm dây thần kinh đi từ sau ót tỏa ra cánh tay, xuống lưng, qua xương sống, tới hông, đùi, rồi chân (trông như một bó dây điện) là chùm quan trọng nhất. Nếu bị “kẹt” đâu đó, thì đau. “Kẹt” trên cổ có thể gây đau ra cánh tay, bàn tay. “Kẹt” thấp xuống dưới thì đau bắp thịt lưng, đau thắt lưng, “kẹt” ở chỗ thắt lưng lại gây đau ở đùi, chân… Cho nên, khi bị đau quá vì xương thoái hóa hay vì đụng xe, mà phải giải phẫu, bác sĩ sẽ cân nhắc rất kỹ. Mổ ở thắt lưng, nếu “xui”chạm giây thần kinh, có thể bị liệt chân mà thôi, nếu mổ ở cổ mà bị “xui”, có thể liệt cả người! Vì thế, chỉ những trường hợp đau cổ chịu hết nổi, bắt buộc phải giải phẫu thì phải ký giấy chấp nhận 50/50, một là khỏi, hai làđời xe lăn. Hên thì cũng có thể phải ghép một cây sắt vào trong cổ. Đôi khi phải mổ lại.. Chỉ còn cách Tập Luyện, cho thư giãn thần kinh chỗ gây đau, cho mạnh bắp thịt chỗ đau, cho khớp xương được chuyển động dịu dàng trở lại, kích thích chất nhờn đầu khớp xương phục hoạt, điều chỉnh lại những chỗ lệch lạc xương cốt, thì sẽ .. bớt đau (không phải HẾT đau, vì hễ ngưng tập một thời gian, có thể đau lại).

A-CHỮA ĐAU CỔ, ĐAU VAI, ĐAU TAY:

1-Xoay cổ trái phải: nhìn thẳng trước mặt, xoay cổ từ trái sang phải chầm chậm, mắt vẫn nhìn ra đằng trước, từ từ hít vào. Từ từ trả cổ trở lại phía trước, rồi xoay sang bên phải, mắt vẫn nhìn ra đằng trước, thở ra. Nhớ xoay cho hết cỡ, tới khi không xoay được nữa thì thôi. Làm 10 lần.

2-Gập cổ: ngửa cổ lên chầm chậm cho tới hết cỡ, từ từ hít vào. Chầm chậm gập cổ xuống ngực, hết cỡ, thở ra. Làm 10 lần.

3-Bẻ cổ: Mắt nhìn thẳng đằng trước, bẻ cổ nghiêng xuống đầu vai trái, hít vào. Từ từ thở ra, bẻ cổ qua đầu vai bên kia. (Khác với xoay cổ trái phải: ở đây, khi bẻ đầu xuống vai thì đầu vai có hơi nhô lên cho chạm với đầu, còn xoay cổ trái phải thì chỉ quay đầu vào khoảng trống sau vai mà thôi). Làm 10 lần.

4-Xoay cổ vòng tròn: Dùng điểm tựa là cổ, xoay vòng đầu chung quanh cổ, từ phải sang trái 10 lần rồi từ trái qua mặt 10 lần.

B-CHỮA ĐAU CÁNH TAY, BÀN TAY:

1-Xoay vai: hai tay buông thỏng, dùng đầu vai làm điểm tựa, xoay vai theo một vòng tròn chạy chung quanh đầu vai ( không phải nhô lên, hụp xuống) từ sau ra trước, rồi từ trước ra sau. 10 lần. Trong khi xoay vai, vẫn hít thở đều đặn.

2-Lắc bàn tay: giơ cánh tay ra trước mặt, cùi chỏ ép hai bên thân mình, giữ nguyên cổ tay và cánh tay, hai bàn tay để trước mặt, lòng bàn tay hướng vào phía ngực. Lắc từ trên xuống dưới (như giũ giũ bàn tay) thật mạnh 10 lần. Đổi hướng, cho mu bàn tay lên trên, lòng bàn tay hướng về mặt đất, giũ mạnh bàn tay từ trên xuống dưới. 10 lần. Đổi hướng, hai lòng bàn tay quay vào nhau, giũ mạnh bàn tay từ trái qua phải, từ phải qua trái. Những người thư ký đánh máy, làm “neo”, thợ may…. phải tập bàn tay thường xuyên, nếu không, có thể bị mổ cổ tay vì khớp xương cổ tay bị cứng khô lại.

3-Vẽ vòng trên đất: đứng rộng chân ra, một tay vịn vào mặt bàn, nguời nghiêng xuống cho song song với mặt đất, cánh tay buông thỏng, tưởng tượng như đang cầm một cái que, vẽ một vòng tròn tưởng tượng thật to trên mặt đất . Vẽ nhanh 10 lần rồi đổi tay. Hít thở đều hòa.

C-CHỮA ĐAU THẮT LƯNG, ĐÙI, CHÂN:

1-Xoay thắt lưng theo vòng tròn: hai tay chống hông, ngón tay để ra sau lưng, ngón cái phía trước, các ngón tay ấn mạnh vào thắt lưng, dùng thắt lưng làm điểm tựa, xoay vòng bụng ra trước rồi vòng qua bên phải (bên trái) ra sau, rồi vòng tới trước. Làm liên tục không ngừng, khi ra tới trước, thì bụng phải ưỡn ra hết cỡ. Khi ra sau thì thắt lưng cong lại cũng hết cỡ. Hít thở chầm chậm theo vòng.

2-Gập lưng: cũng như gập cổ, ngửa lưng ra, hít vào, gập thắt lưng xuống, thở ra. Khi ngửa lên, ngửa hết cỡ, khi gập xuống, cũng gập hết cỡ.

3-Xoay hông: hai tay buông thõng bên sườn, vặn người qua bên trái thì hai cánh tay cũng “văng” theo bên trái, nghĩa là không dùng sức tay, chỉ để cho hai cánh tay “văng” theo mà thôi. Xong, vặn người qua bên phải. Hai cánh tay lại “văng” theo bên phải. Nhớ khi xoay sang bên nào thì xoay gót chân bên đó, và bàn chân bên đó nhấc lên, nghĩa là xoay trên gót chân mà thôi. Mục đích làm cho vòng xoay rộng thêm, nếu giữ nguyên bàn chân trên mặt đất, vòng xoay sẽ ngắn lại. Hít thở chầm chậm.

D-CHỮA ĐAU ĐẦU GỐI:

1-Xoay gối trái phải: đứng vừa phải, hai bàn tay đặt trên đầu gối, thấp người xuống, xoay đầu gối theo một vòng tròn về phía phải (theo vòng kim đồng hồ) 10 lần rồi đổi hướng quay theo bên trái.

2-Xoay gối trong ngoài: đứng rộng chân ra, hai tay đặt trên đầu gối, thấp người xuống, xoay đầu gối từ ngoài vào trong rồi từ trong ra ngoài.
Các thế đầu gối này, mới đầu thì chỉ thấp người xuống một chút, sau đó, mỗi ngày càng thấp người xuống hơn, công lực sẽ mạnh hơn. Chỉ cần làm 10 phút, là đã thở mạnh, toát mồ hôi rồi. Người nhức đầu gối ban đêm phải tập trước khi lên giường ngủ.

Lưu ý:

-Những thế tập này chỉ được áp dụng với người chưa giải phẫu xương lần nào. Nếu đã giải phẫu cổ thì không được tập cổ. Nếu giải phẫu lưng rồi mà muốn tập lưng, phải hỏi bác sĩ, xem phim X-ray có trở ngại gì không..
-Phối hợp vừa châm cứu, vừa mát xa, vừa tập luyện thì rất tốt.
-Trường hợp đau kinh niên vì xương rồi, có thể uống thêm Glucosamine có bán tại các tiệm thuốc Tây để kích thích chất nhờn đầu xương và xương.
-Mua một cái máy mát-xa nhỏ cầm tay để chà xát chung quanh chỗ bắp thịt đau sẽ hiệu nghiệm nhanh hơn.

Vài hàng trao đổi những kinh nghiệm trong suốt mấy chục năm qua, nếu có chi sai sót, mong cao nhân chỉ điểm thêm. Chúc quý vị sống lâu, sống khỏe mạnh, và hạnh phúc.
Lê Quang Thọ 

 

Đỗ Cao Đàm :

Mới đây Giới y tế Trung Quốc (TQ) thực sự sốc khi có thông tin bệnh viện ở tỉnh Cát Lâm mua trẻ sơ sinh chết non và nhau thai để chế tạo thuốc bổ. Cùng với hàng loạt công nghệ chế biến thực phẩm bẩn bị phát hiện, phanh phui trong thời gian qua, khi nói đến thực phẩm TQ, không ít người hoang mang, rùng mình.

Xin điểm lại một số sự vụ nổi cộm suốt thời gian qua khiến người dân Trung Quốc bất bình, các cơ quan chức trách phải vào cuộc điều tra và hàng vạn người tiêu dùng thế giới lên tiếng “tẩy chay”.

Công nghệ chế thuốc bổ từ xác trẻ sơ sinh

Từ câu chuyện phong phanh về việc mua bán thai nhi, với mong muốn tìm ra cách bào chế thuốc bổ từ xác trẻ sơ sinh, nhóm phóng viên đài truyền hình SBS TV của Hàn Quốc đã đi sâu tìm hiểu quy trình để làm ra những viên ‘thuốc bổ’ từ thịt trẻ em chết này. Từ đó, phát hiện ra một sự thật kinh hoàng: Xác những đứa trẻ được lưu giữ trong tủ lạnh, khi cần chế thuốc thì cho vào lò vi sóng sấy khô.

Giai đoạn đầu của cuộc điều tra, phóng viên tìm đến một bệnh viện lớn chuyên bán di hài cho các công ty dược phẩm. Tại đây họ phát hiện ra một luật ngầm, nếu có ca sơ sinh nào tử vong, công ty dược sẽ được gọi đến để giải quyết. Nhóm SBS TV cũng tìm thấy nhiều bằng chứng của việc sản xuất “thần dược” này.

Xác những đứa trẻ được lưu giữ trong tủ lạnh, khi cần chế thuốc thì cho vào lò vi sóng sấy khô (Hình minh họa)

Sau khi sấy khô, xác được nghiền ra và trộn với thuốc bột trước khi đóng vào con nhộng.

Theo Deng Haihua, phát ngôn viên Bộ Y tế Trung Quốc, Trung Quốc quản lý chặt chẽ việc vứt bỏ trẻ em, bào thai và nhau thai. “Bất cứ hành động nào nhằm giữ lại những thứ trên như rác thải y tế đều bị nghiêm cấm”.

Theo quy định của TQ, các tổ chức y tế và nhân viên bị cấm buôn bán xác chết. Còn theo ông Jia Qian, người đứng đầu dự án nghiên cứu chiến lược của Viện y học cổ truyền Trung Quốc thì “nhau thai từ lâu được sử dụng để bào chế thuốc trong Trung y nhưng Trung y chưa bao giờ dùng bào thai hay trẻ sơ sinh chết non để bào chế thuốc”.

Thuốc bổ dành cho nam giới làm từ… thức ăn cho gà

Trước khi cả thế giới sửng sốt với thông tin thuốc nhộng được chế từ xác trẻ sơ sinh, Công an thành phố Tây An (tỉnh Thiểm Tây, TQ) cũng đã triệt phá đường dây sản xuất các loại thuốc bổ, thuốc cảm… từ nguyên liệu chính là thức ăn nuôi gà và các thức ăn chăn nuôi khác.

Nguyên liệu SX thuốc chủ yếu là thức ăn cho gà và vài loại thức ăn chăn nuôi khác.

Vụ kiểm tra bất ngờ diễn ra hôm 8/8/2011, tại một con phố của thành phố Tây An và bất ngờ khi “nhà máy” sản xuất thuốc tây chỉ là căn phòng rộng, xây gạch thô sơ cùng với máy móc cũ kỹ, lạc hậu.

Các trang mạng TQ thông tin, khi lực lượng công an xông vào thì tại hiện trường vương vãi khá nhiều bao bì rất nhiều loại thuốc khác nhau, chủ yếu là thuốc bổ, thuốc hạ huyết áp, thuốc giảm béo, thuốc cho bệnh nhân tiểu đường, thuốc bổ dành cho nam giới… Tất cả đều chưa được dập ngày sản xuất cũng như các thành phần bên trong.

Tuy nhiên lực lượng kiểm tra phát hiện, thành phần chính của các loại thuốc tây đóng vỉ này chỉ là từ… thức ăn cho gà và vài loại thức ăn chăn nuôi khác, sau đó được pha trộn với hóa chất để tạo mùi. Được biết số thuốc bị thu giữ tại hiện trường có trị giá khoảng 5 triệu nhân dân tệ.

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s