Docago.wordpress.com số ra thứ 2 ngày 26/9/2011 tức 29 tháng 8 năm Tân Mão)

                   

CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Đỗ Anh Thơ ( biên soạn)

 

      Hình ảnh văn hóa tư tưởng trên thế giới ( tiếp theo)

                    (Illustration of Thinking culture in the World)

Chương 6: Tư tưởng pháp chính của Aristotle    

Aristotle (384-322 TCN) là một triết gia, nhà khoa học và nhà vật lý Hy Lạp, sinh ở Stagira vì thế đôi khi người ta còn gọi ông là ‘Aristotle người Stagia’. Cùng với Plato, Aristotle được coi là một trong các nhà triết học Hy Lạp quan trọng nhất, có ảnh hưởng trong nhiều thế kỷ về sau.

Aristotle chào đời tại Stagira thuộc miền Thrace năm 384 trước Tây Lịch. Stagira là một tỉnh nhỏ, là thuộc địa của Hy Lạp bên bờ phía bắc biển Aegean mà ngày nay có lẽ là Stavro. Cả hai cha và mẹ của Aristotle đều gốc người Ionien. Cha Aristotle, ông Nichomachus, là một thầy thuốc danh tiếng tại triều đình vua Amyntas II, cha của vua Philip xứ Macedonia. Mẹ của Aristotle vốn người miền Chalcis. Có lẽ trong 17 năm đầu, Aristotle đã sống với cha mẹ và được cha dạy cho về Y Khoa. Năm 17 tuổi, Aristotle tới thành Athens và theo hoc nghề thầy thuốc .

Năm 367, ông tới Athens và gắn bó đời mình vào trường Academy của Plato . Vào thời gian này, Plato đã 61 tuổi và đã liên quan tới nền chính trị của Syracuse. Vì vậy Hàn Lâm Viện Academos đặc biệt chú trọng về Luật Pháp, Chính Trị, thêm vào là Toán Học và Thiên Văn. Ngày nay, người ta chỉ hiểu biết rất mơ hồ về cuộc sống của Aristotle trong 20 năm tại Hàn Lâm Viện. Ông gắn bó với Plato cho đến khi thầy qua đời. Theo như truyền thống, Aristotle phụ trách giảng dạy môn Tu Từ Pháp (Rhetoric). Ông cũng soạn ra vài tập Đối Thoại (Dialogues) theo khuôn mẫu của Thầy Plato. Các tác phẩm này đều trở nên rất nổi danh vì lối hành văn trôi chảy và trong sáng. Có người cho rằng giữa Aristotle và Plato có sự bất đồng ý kiến trầm trọng, nhưng không ai tìm ra được các dẫn chứng đáng tin cậy. Có lẽ đối với Plato, Aristotle đã bất đồng ý về nhiều giáo điều song ông lúc nào cũng kính trọng Thầy và gìn giữ lòng biết ơn. Khi Plato qua đời vào năm 347, Aristotle viết một bài điếu văn trong đó ông đã ca tụng Thầy.

Theo Diogene Laerce, Aristotle mắc tật nói lắp. Ông có đôi mắt nhỏ, đôi chân gầy còm và rất ưa thích quần áo đẹp. Khả năng làm việc của Aristotle rất lớn lao và người ta kết luận như vậy căn cứ vào số tác phẩm do ông đã viết ra. Muốn giảm bớt thời giờ ngủ và tăng thêm số giờ làm việc, Aristotle đã nghĩ ra phương pháp sau: khi đọc sách hay lúc làm việc về khuya, ông cầm nơi tay trái một quả cầu bằng đồng ở phía trên một chiếc chậu. Nếu vì ngủ gật mà quả cầu rơi xuống thì tiếng động sẽ đánh thức ông dậy. Aristotle bị đau dạ dầy và để làm giảm bớt nỗi đau đớn, ông thường đeo ở trước ngực một cái bị đựng dầu đun nóng.

Vào năm 347 khi Plato qua đời, Speusippus trở thành người đứng đầu trường Academos. Aristotle đã cùng với Xenocrates và một vài môn đệ của Plato, rời thành Athens tới Assos, sống với Hermias là một học trò cũ của Plato và cũng là bạo chúa của hai tỉnh Atarneus và Assos trong miền Tiểu Á (Asia Minor). Aristotle có cảm tình rất nhiều với Hermias và đã kết hôn cùng Pithias, người con gái nuôi của bạo chúa. Hermias cũng cảm thấy sung sướng khi được Aristotle sống ở gần mình.

Thời bấy giờ, Hermias đang điều khiển một lực lượng giữa hai xứ hùng mạnh là Macedonia và Ba Tư. Luôn luôn bạo chúa thù nghịch với một trong hai phe kể trên, để rồi rơi vào cạm bẫy của Mentor, đại tướng người Hy Lạp đi theo Ba Tư. Hermias bị trao cho Artaxerxes và bị treo cổ. Cái chết thảm thương của Hermias đã ảnh hưởng rất lớn tới Aristotle.

Vì không cảm thấy an toàn tại Atarneus, Aristotle đã theo lời khuyên của Theophrastus, một môn đệ, dọn tới Mitylene thuộc miền Lebos vào năm 344. Chính tại nơi này, Aristotle đã nghiên cứu trong hai năm trường môn Sinh Học, đặc biệt là ngành Hải Sinh Học (marine biology).

Năm 342, Aristotle được mời tới Macedonia để dạy dỗ Thái Tử Alexander khi đó mới 13 tuổi. Lời mời của Vua Philip II có thể là do lúc tuổi trẻ, Aristotle đã từng sống tại triều đình này, có thể là do danh tiếng của ông nhờ các tập Đối Thoại, nhưng cũng chính vì Aristotle đã từng liên lạc chặt chẽ với Hermias là người đã tỏ ra thiên về Macedonia và chống lại Ba Tư. Aristotle đã ở lại Macedonia trong 7 năm. Theo như thông lệ, nhà Đại Hiền Triết đã dạy cho Thái Tử về Chính Trị và Tu Từ Pháp, và Aristotle cũng Thời bấy giờ, Hermias đang điều khiển một lực lượng giữa hai xứ hùng Thời bấy giờ, Hermias đang điều khiển một lực lượng giữa hai xứ hùng mạnh là Macedonia và Ba Tư. Luôn luôn bạo chúa thù nghịch với một trong hai phe kể trên, để rồi rơi vào cạm bẫy của Mentor, đại tướng người Hy Lạp đi theo Ba Tư. Hermias bị trao cho Artaxerxes và bị treo cổ. Cái chết thảm thương của Hermias đã ảnh hưởng rất lớn tới Aristotle.

Vì không cảm thấy an toàn tại Atarneus, Aristotle đã theo lời khuyên của Theophrastus, một môn đệ, dọn tới Mitylene thuộc miền Lebos vào năm 344. Chính tại nơi này, Aristotle đã nghiên cứu trong hai năm trường môn Sinh Học, đặc biệt là ngành Hải Sinh Học (marine biology).

Năm 342, Aristotle được mời tới Macedonia để dạy dỗ Thái Tử Alexander khi đó mới 13 tuổi. Lời mời của Vua Philip II có thể là do lúc tuổi trẻ, Aristotle đã từng sống tại triều đình này, có thể là do danh tiếng của ông nhờ các tập Đối Thoại, nhưng cũng chính vì Aristotle đã từng liên lạc chặt chẽ với Hermias là người đã tỏ ra thiên về Macedonia và chống lại Ba Tư. Aristotle đã ở lại Macedonia trong 7 năm. Theo như thông lệ, nhà Đại Hiền Triết đã dạy cho Thái Tử về Chính Trị và Tu Từ Pháp, và Aristotle cũng soạn một tác phẩm của Homer để giảng cho Alexander. Aristotle đã cố gắng làm phát triển nơi Thái Tử các đức tính về điều độ và lý trí mà đối với ông, rất cần thiết cho một vương quốc. Có lẽ chính vào dịp này, Aristotle đã soạn ra cuốn “Khảo Sát về Vương Quyền” (Traité de la Royauté) để giáo huấn Thái Tử nhưng tác phẩm này đã bị thất lạc hoàn toàn.

Năm 340 khi vua Philip đi chinh chiến nơi xa, Thái Tử Alexander nắm giữ quyền hành. Vào thời gian này, Aristotle lập ra một ngôi trường và ông cũng giành thời giờ cho riêng mình để học hỏi thêm. Aristotle cũng khuyên Alexander cho kiến thiết lại Stagira, nơi đã bị tàn phá vài năm trước và có lẽ cũng do ông, thành phố này có một hiến pháp.

Alexander rất quyến luyến ông Thầy và khi đã thay cha lên ngôi vua, vẫn lưu giữ Aristotle bên cạnh. Thái Tử luôn luôn tỏ lòng biết ơn đối với Thầy cũ bằng cách biệt đãi nhà Đại Hiền Triết trong mọi công việc. Nhưng nếu Alexander rất mến yêu Thầy thì trái lại, ít khi nghe theo lời khuyên bảo của Thầy vì “một sự di truyền kỳ lạ hình như đã gieo vào tâm hồn Thái Tử tính tự kiêu vô hạn, với một ý chí muốn ngồi ngang hàng cùng các thần linh”.

Vào năm 335 khi Đại Đế Alexander đi chinh phục châu Á thì Aristotle tự thấy rằng nhiệm vụ của mình đã chấm dứt. Ông đề nghị để người cháu tên là Callisthenes thay mình làm cố vấn cho Đại Đế. Alexander đã chấp nhận lời Năm 342, Aristotle được mời tới Macedonia để dạy dỗ Thái Tử Alexander khi đó mới 13 tuổi. Lời mời của Vua Philip II có thể là do lúc tuổi trẻ, Aristotle đã từng sống tại triều đình này, có thể là do danh tiếng của ông nhờ các tập Đối Thoại, nhưng cũng chính vì Aristotle đã từng liên lạc chặt chẽ với Hermias là người đã tỏ ra thiên về Macedonia và chống lại Ba Tư. Aristotle đã ở lại Macedonia trong 7 năm. Theo như thông lệ, nhà Đại Hiền Triết đã dạy cho Thái Tử về Chính Trị và Tu Từ Pháp, và Aristotle cũng soạn một tác phẩm của Homer để giảng cho Alexander. Aristotle đã cố gắng làm phát triển nơi Thái Tử các đức tính về điều độ và lý trí mà đối với ông, rất cần thiết cho một vương quốc. Có lẽ chính vào dịp này, Aristotle đã soạn ra cuốn “Khảo Sát về Vương Quyền” (Traité de la Royauté) để giáo huấn Thái Tử nhưng tác phẩm này đã bị thất lạc hoàn toàn.

Năm 340 khi vua Philip đi chinh chiến nơi xa, Thái Tử Alexander nắm giữ quyền hành. Vào thời gian này, Aristotle lập ra một ngôi trường và ông cũng giành thời giờ cho riêng mình để học hỏi thêm. Aristotle cũng khuyên Alexander cho kiến thiết lại Stagira, nơi đã bị tàn phá vài năm trước và có lẽ cũng do ông, thành phố này có một hiến pháp.

Alexander rất quyến luyến ông Thầy và khi đã thay cha lên ngôi vua, vẫn lưu giữ Aristotle bên cạnh. Thái Tử luôn luôn tỏ lòng biết ơn đối với Thầy cũ bằng cách biệt đãi nhà Đại Hiền Triết trong mọi công việc. Nhưng nếu Alexander rất mến yêu Thầy thì trái lại, ít khi nghe theo lời khuyên bảo của Thầy vì “một sự di truyền kỳ lạ hình như đã gieo vào tâm hồn Thái Tử tính tự kiêu vô hạn, với một ý chí muốn ngồi ngang hàng cùng các thần linh”.

Vào năm 335 khi Đại Đế Alexander đi chinh phục châu Á thì Aristotle tự thấy rằng nhiệm vụ của mình đã chấm dứt. Ông đề nghị để người cháu tên là Callisthenes thay mình làm cố vấn cho Đại Đế. Alexander đã chấp nhận lời đề nghị và còn dùng Callisthenes làm sử gia theo đoàn quân viễn chinh. Aristotle là người hiểu rõ tính tình của nhà vua học trò cũ, ông đã từng nhắc nhở cháu ông phải thận trọng trong lời nói, nhưng Callisthenes đã không cản được tấm lòng bảo vệ đường lối chính trị thuần Hy Lạp trong khi Đại Đế Alexander lại tỏ ra nhượng bộ trước ảnh hưởng của châu Á. Chính vì sự bất cẩn này, Callisthenes đã bị kết án tử hình và theo lời Diogene Laerce, ông ta bị quăng cho thú dữ phân thây.

Sau khi từ biệt Alexander, Aristotle trở lại thành Athens. Tại nơi này, Xenocrates đang điều khiển Hàn Lâm Viện Academos. Aristotle liền lập ra trường Lyceum, gần đền Apollon Lycien, vì vậy ngày nay mới có danh từ “Lycée”. Trường Lyceum là nơi tôn thờ Thần Muse, vị nữ thần chủ về Văn Chương, Nghệ Thuật và Khoa Học. Nhà trường có rất nhiều học cụ, kể cả bản đồ, lại có một thư viện rất đầy đủ. Tại ngôi trường này, Aristotle trình bày các ý tưởng và giảng giải cho học viên trong các cuộc dạo chơi ngoài vườn, vì vậy ngôi trường của Aristotle còn được gọi là “Trường Dạo Chơi” (Peritatetic school) do danh từ Peripatetic (dạo chơi) theo tiếng Hy Lạp.

Nền giáo dục do Aristotle chủ trương gồm hai phần: phần truyền khẩu và phần công khai (exoteric)(phổ biến ra bên ngoài). Nhà Đại Hiền Triết đề cập tới các câu hỏi hoàn toàn lý thuyết cho các học viên mới vào buổi sáng còn buổi chiều, Aristotle giảng dạy những học viên cũ về nhiều điều làm mở mang kiến thức trong đó môn Tu Từ Pháp chiếm phần lớn thời gian. Trong 12 năm liền, Aristotle vừa thuyết giảng, vừa viết sách và phổ biến nhiều tác phẩm đề cập tới hầu hết kiến thức của thời đại. Trong các năm cuối cùng sống tại Lyceum, Aristotle đã thiết lập bảng liệt kê các thế vận kỳ, cũng như lập ra bảng niên biểu kịch nghệ của thành Athens mà về sau, bảng này đã được dùng làm căn bản để ấn định ngày tháng của các vở kịch Hy Lạp.

Aristotle còn biên khảo về Hiến Pháp tuy nhiên, ngày nay chỉ còn lại tác phẩm “Khảo Sát về Hiến Pháp của Thành Athens” (On the Athenian Constitution). Khi Alexander chinh phục xứ Ba Tư, Đại Đế đã cho người đem về tặng Thầy cũ các tài liệu và mẫu hải sinh vật nhờ vậy, Aristotle hoàn thành cuốn sách “Tính Chất của các Sinh Vật” (La Nature des Animaux).

Năm 323 khi Đại Đế Alexander qua đời, cuộc sống của Aristotle cũng bị ảnh hưởng. Mặc dù Aristotle chỉ còn rất ít liên lạc với Alexander, nhất là khi người cháu của ông bị tử hình, nhưng nhà Đại Hiền Triết thường đi lại với Antipater và được viên tổng trấn này che chở. Đảng Quốc Gia thành Athens do Demosthenes lãnh đạo đã nổi dậy chống lại phe Macedonia sau khi Đại Đế Alexander không còn nữa. Aristotle nhận thấy đời sống và tài sản của mình bị đe dọa. Người ta đã tố cáo ông phạm tội bất kính (impiety) vì 20 năm trước, ông đã sáng tác một bài thơ tưởng niệm Hermias trong khi danh dự này phải giành cho Thượng Đế. Aristotle nhớ lại số phận của Socrates rồi không đợi tòa án xét xử, vì chắc chắn ông sẽ bị kết án, Aristotle rời bỏ thành Athens, trốn về quê mẹ là miền Chalcis. Ông tuyên bố “Tôi sẽ không để người Athens vi phạm Triết Học lần thứ hai” (I will not let the Athenians offend twice against Philosophy).

Sống tại Chalcis được vài tháng, Aristotle qua đời vào năm 322 có lẽ do bệnh đau dạ dầy, một căn bệnh đã hành hạ ông trong nhiều năm trường. Ông để lại hai người con, con trai cùng tên với ông nội là Nichomachus và người con gái mang tên mẹ Pithias. Theo như lời yêu cầu, nắm xương tàn của nhà Đại Hiền Triết được chôn cất tại Stagira cùng với hài cốt của Pithias, vợ ông.
2/ Các tác phẩm của Aristotle.

Các tác phẩm của Aristotle được chia làm ba loại: (1) các bài viết phổ thông (popular writings), (2) các sách ghi chép (memoranda) và (3) các sách luận đề (treatises).

Các bài viết phổ thông đa số gồm các tập đối thoại (dialogues) theo mẫu của Plato và được viết ra khi Aristotle còn cư ngụ tại trường Academos. Các công trình sáng tạo này được nhà Đại Hiền Triết gọi là các bài viết phổ biến ngoại (exoteric writings) với ý định dành cho công chúng bên ngoài trường học, hơn là các học viên của trường. Ngoại trừ một số đoạn rời rạc còn sót lại, hầu hết các tập đối thoại này đã bị thất lạc.

Các sách ghi chép là tập hợp nhiều tài liệu khảo cứu và các sử liệu (historical records). Những sách này do Aristotle và các môn đệ của ông thực hiện với chủ đích dùng làm nguồn tư liệu cho các học giả. Giống như các bài viết phổ thông, hầu hết loại sách ghi chép đều bị thất tán. Còn lại cho tới ngày nay là các sách luận đề, được viết ra dùng làm sách giáo khoa hay lời ghi giảng (lecture notes) tại Trường Lyceum, liên quan tới mọi ngành của Kiến Thức và Nghệ Thuật. Không giống như các bài viết phổ thông, các sách luận đề chỉ được dùng cho học viên trong trường, vì vậy được gọi là các công trình phổ biến nội (esoteric works). Danh tiếng của Aristotle được căn cứ vào các công trình này và đây là các tác phẩm mà các nhà biên tập đời sau đã thu thập và xếp đặt.

Công trình khảo cứu của Aristotle về Luận Lý (Logic) được xếp chung vào bộ tác phẩm gọi tên là Organon, có nghĩa là “cách dùng” (instrument) bởi vì đây là phương tiện (the means) để đạt được kiến thức (positive knowledge), là cách để tìm hiểu tư tưởng. Bộ Organon gồm các tác phẩm The Categories (các Loại), The Prior and Posterior Analytics (các Phân Tích trước và sau), The Topics (các Chủ Đề) và On Interpretation (Về cách Diễn Đạt). Aristotle là nhà triết học đầu tiên đã phân tích phương pháp nhờ đó một số định đề (propositions) được suy diễn theo luận lý là đúng, căn cứ vào một số định đề khác đã được công nhận. Ông tin rằng tiến trình suy diễn luận lý này được đặt trên một hình thức tranh luận mà ông gọi là Tam Đoạn Luận (Syllogism). Trong một tam đoạn luận, một định đề được suy diễn từ hai định đề đúng khác. Một thí dụ của lý luận này như sau: (1) mọi người đều sẽ qua đời, (2) Socrates là một con người, vì thế có thể đi tới kết luận rằng (3) Socrates sẽ qua đời.

Tam đoạn luận đã giữ một vài trò quan trọng trong nền Triết Học sau này do tạo nên các hệ thống lý luận phức tạp hơn. Trong phép luận lý, Aristotle đã phân biệt rõ hai thứ, là biện chứng (dialectic) và phân tích (analytic). Theo nhà Đại Hiền Triết, biện chứng chỉ trắc nghiệm các ý kiến (opinions) xét theo tính nhất quán về lý luận (logical consistency), còn các công trình phân tích (analytic works) được suy diễn từ các nguyên tắc dựa trên các kinh nghiệm và quan sát rõ ràng. Đây là sự khác biệt với lập trường của Hàn Lâm Viện của Plato, nơi cho rằng biện chứng là phương pháp duy nhất thích hợp với Khoa Học và Triết Học.

Đối với Aristotle, bản chất của thiên nhiên là thay đổi và ông đã định nghĩa môn triết học của thiên nhiên là sự khảo sát các sự vật đổi thay. Trong tác phẩm Physics (Vật Lý), Aristotle đã phân biệt “hình thể” (form) với “chất liệu” (matter) của một vật, chẳng hạn như khi một nhà điêu khắc tạc ra một bức tượng bán thân bằng đồng, chất liệu là đồng và hình thể là hình nửa người. Aristotle đã nghiên cứu các nguyên nhân (causes) của sự thay đổi và phân biệt bốn loại: (1) nguyên nhân chất liệu (material cause) là thứ mà một vật được làm ra, (2) nguyên nhân hữu hiệu (efficient cause) là hành động của nhà điêu khắc, là nguồn gốc của chuyển động (source of motion), (3) nguyên nhân hình thể (formal cause) là hình dáng bên ngoài, là loại (kind, type) để xếp hạng và (4) nguyên nhân cuối cùng (final cause) là chương trình (plan), là kiểu mẫu (design) hay mục đích của người sáng tạo hay phát minh.

Aristotle cũng nghiên cứu chuyển động của các thiên thể qua tác phẩm On the Heavens (Về Bầu Trời) và tìm hiểu các thay đổi khi một vật được tạo ra
Aristotle là nhà triết học đầu tiên đã phân tích phương pháp nhờ đó một số định đề (propositions) được suy diễn theo luận lý là đúng, căn cứ vào một số định đề khác đã được công nhận. Ông tin rằng tiến trình suy diễn luận lý này được đặt trên một hình thức tranh luận mà ông gọi là Tam Đoạn Luận (Syllogism). Trong một tam đoạn luận, một định đề được suy diễn từ hai định đề đúng khác. Một thí dụ của lý luận này như sau: (1) mọi người đều sẽ qua đời, (2) Socrates là một con người, vì thế có thể đi tới kết luận rằng (3) Socrates sẽ qua đời.

Tam đoạn luận đã giữ một vài trò quan trọng trong nền Triết Học sau này do tạo nên các hệ thống lý luận phức tạp hơn. Trong phép luận lý, Aristotle đã phân biệt rõ hai thứ, là biện chứng (dialectic) và phân tích (analytic). Theo nhà Đại Hiền Triết, biện chứng chỉ trắc nghiệm các ý kiến (opinions) xét theo tính nhất quán về lý luận (logical consistency), còn các công trình phân tích (analytic works) được suy diễn từ các nguyên tắc dựa trên các kinh nghiệm và quan sát rõ ràng. Đây là sự khác biệt với lập trường của Hàn Lâm Viện của Plato, nơi cho rằng biện chứng là phương pháp duy nhất thích hợp với Khoa Học và Triết Học.

Đối với Aristotle, bản chất của thiên nhiên là thay đổi và ông đã định nghĩa môn triết học của thiên nhiên là sự khảo sát các sự vật đổi thay. Trong tác phẩm Physics (Vật Lý), Aristotle đã phân biệt “hình thể” (form) với “chất liệu” (matter) của một vật, chẳng hạn như khi một nhà điêu khắc tạc ra một bức tượng bán thân bằng đồng, chất liệu là đồng và hình thể là hình nửa người. Aristotle đã nghiên cứu các nguyên nhân (causes) của sự thay đổi và phân biệt bốn loại: (1) nguyên nhân chất liệu (material cause) là thứ mà một vật được làm ra, (2) nguyên nhân hữu hiệu (efficient cause) là hành động của nhà điêu khắc, là nguồn gốc của chuyển động (source of motion), (3) nguyên nhân hình thể (formal cause) là hình dáng bên ngoài, là loại (kind, type) để xếp hạng và (4) nguyên nhân cuối cùng (final cause) là chương trình (plan), là kiểu mẫu (design) hay mục đích của người sáng tạo hay phát minh.

Aristotle cũng nghiên cứu chuyển động của các thiên thể qua tác phẩm On the Heavens (Về Bầu Trời) và tìm hiểu các thay đổi khi một vật được tạo ra hay bị hủy diệt. Khoa Vật Lý của Aristotle là khoa học thiên nhiên bao gồm bên trong các bộ môn Thiên Văn, Khí Tượng, Thực Vật Học và Sinh Học. Về Thiên Văn, Aristotle cho rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ, được tạo nên do bốn chất là đất, không khí, lửa và nước. Aristotle là nhà sinh học đầu tiên của thế giới. Trái với Plato chú trọng vào Toán Học, Aristotle đã thu thập rất nhiều mẫu động vật và thực vật, tìm hiểu các đặc tính, yếu tố liên

quan. Về động vật học (zoology), Aristotle cho rằng một chủng loại tiếp tục sinh sản theo cùng một khuôn mẫu và không có cách tiến hóa.
Aristotle tìm kiếm các nguyên tắc căn bản nhất và tổng quát nhất của kiến thức (knowledge) và sự thật (reality). Bởi vì chỉ có Thượng Đế (God) là không thay đổi, nhà Đại Hiền Triết gọi ngành nghiên cứu Thượng Đế là Thần Học (theology). Đối với ông, hai bộ môn Đạo Đức Học (ethics) và Chính Trị Học (politics) đều khảo cứu kiến thức thực tế, đây là sự hiểu biết cho phép con người hành động đúng cách và sống hạnh phúc. Qua tác phẩm đề tặng cho con trai tên là Nichomachus và được gọi tên là Nichomachean Ethics (Đạo Đức Học của Nichomachus), Aristotle đã phân tích cá tính (character) và trí thông minh (intelligence) khi những tính chất này liên quan đến hạnh phúc, và ông cho rằng một cuộc đời hạnh phúc của con người là cuộc đời làm theo lý trí (reason).

Về chính trị, Aristotle khảo sát sự liên quan giữa lý tưởng, luật pháp, tập quán và tài sản trong các trường hợp thực tế. Ông công nhận chế độ nô lệ (slavery) nhưng nhấn mạnh rằng chủ nhân không nên lạm dụng quyền hành bởi vì chủ nhân và người nô lệ có các quyền lợi như nhau. Aristotle đã viết ra cuốn “Hiến Pháp của Thành Athens” (The Constitution of Athens) trong khi bộ sưu tập của Thư Viện Lyceum gồm 158 bản Hiến Pháp của dân Hy Lạp và các quốc gia khác nhau.

Vài tác phẩm quan trọng khác của Aristotle là các cuốn Rhetoric (Tu Từ Pháp), Politics (Chính Trị) và Poetics (Thơ Phú). Qua tác phẩm sau cùng này, Aristotle khảo cứu bản chất của bi kịch (tragedy), lấy dẫn chứng từ bi kịch Oedipus Rex của Sophocles, và tin rằng bi kịch đã ảnh hưởng tới khán giả do gợi lên các cảm xúc như sợ hãi, thương xót, và cách tẩy sạch những xúc động này được ông gọi là “carthasis”.
/ Ảnh hưởng của nhà Đại Hiền Triết Aristotle.

Sau khi nhà Đại Hiền Triết Aristotle qua đời, nền Triết Học của ông được giảng dạy tại Trường Lyceum do các môn đệ thuộc nhiều thế hệ sau. Một trong các nhà triết học này là Critolaus đã qua kinh thành Rome vào năm 155 trước Tây Lịch nhờ đó người La Mã được biết tới nền Triết Học Hy Lạp. Vào năm 50 trước TL, Andronicus người đảo Rhodes, đã ấn hành các tác phẩm của Aristotle nhờ đó nhiều học giả đã học tập và phân tích nền Triết Học kể trên, đặc biệt tại xứ Alexandria.

Sau khi Đế Quốc La Mã suy tàn, kiến thức về nền Triết Học của Aristotle bị hầu như quên lãng, nhất là trong khoảng thời gian từ năm 500 sau TL tới thế kỷ thứ 9. Sang thế kỷ 9 này, các học giả người Ả Rập đã dịch các tác phẩm

Sau khi nhà Đại Hiền Triết Aristotle qua đời, nền Triết Học của ông được giảng dạy tại Trường Lyceum do các môn đệ thuộc nhiều thế hệ sau. Một trong các nhà triết học này là Critolaus đã qua kinh thành Rome vào năm 155 trước Tây Lịch nhờ đó người La Mã được biết tới nền Triết Học Hy Lạp. Vào năm 50 trước TL, Andronicus người đảo Rhodes, đã ấn hành các tác phẩm của Aristotle nhờ đó nhiều học giả đã học tập và phân tích nền Triết Học kể trên, đặc biệt tại xứ Alexandria.

Sau khi Đế Quốc La Mã suy tàn, kiến thức về nền Triết Học của Aristotle bị hầu như quên lãng, nhất là trong khoảng thời gian từ năm 500 sau TL tới thế kỷ thứ 9. Sang thế kỷ 9 này, các học giả người Ả Rập đã dịch các tác phẩm của Aristotle sang ngôn ngữ của họ và đưa chúng vào thế giới Hồi giáo. Nhà triết học người Tây Ban Nha gốc Ả Rập tên là Averroes thuộc thế kỷ 12 là học giả danh tiếng nhất, đã nghiên cứu và nhận xét về Aristotle. Qua thế kỷ 13, các tác phẩm của Aristotle lại được quan tâm do các học giả Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo và Hồi giáo, và Thánh Thomas Aquinas, một trong các nhà triết học gây ảnh hưởng lớn mạnh nhất, đã dùng nền Triết Học của Aristotle làm căn bản cho các tư tưởng Thiên Chúa giáo thời đó. Dante Alighieri, nhà thơ bậc nhất của thời Trung Cổ, đã gọi Aristotle là “Bậc Thầy của những người hiểu biết”.

Lý thuyết về ngành Động Vật Học của Aristotle đã không thay đổi và được giảng dạy tại tất cả các trường học trong nhiều thế kỷ cho tới khi nhà khoa học người Anh Charles Darwin đề cập tới Thuyết Tiến Hóa vào thế kỷ 19. Học thuyết của Aristotle cũng giữ một vai trò quan trọng trong bộ môn Thần Học và trước thế kỷ 20, môn Luận Lý (Logic) được coi là của Aristotle.

Ảnh hưởng của các ý tưởng, học thuyết và triết học của nhà Đại Hiền Triết Aristotle đã tỏa rộng, thấm nhập vào ngôn ngữ Khoa Học và Triết Học của nhân loại, giúp ích vào công cuộc tìm hiểu kiến thức và lương tri lương tri

Tại trường của Platon, ông viết nhiều đối thoại được tán dương là rất hùng hồn. Nhưng nay chỉ tồn tại vài đoạn tản mác. Năm 347, ông sang ở Tiểu Á và Mitilene, Leobos. Năm 342, ông được vua Philip xứ Macedonia mời làm gia sư cho hoàng tử Alexander, người về sau trở thành Ðại đế.

Năm 325, Aristotle quay lại Athens, mở trường Lyceum. Ðược Alexander Ðại đế hỗ trợ, ông lập ra vươn bách đầu tiên của loài người để làm cơ sở học hỏi. Tại hai nơi đó, người ta kể rằng thầy lẫn trò trong các buổi học tập đều đi tới đi lui không ngừng. Sau khi Ðại đế Alexander chết (325 TCN), tại Athens nổi lên phong trào bài xích người Macedonia, Aristotle bị kết tội không sùng bái thần linh. Có lẽ cảm thấy mình sẽ chung số phận với thày thế truyền của mình là Socrates nên ông bỏ trốn tới Chalcis ở Enbea. Qua năm sau,  tự tử lúc ấy ông mới 62 tuổi.

Công trình của Aristotle mà hậu thế có được, phần nhiều là những bài giảng của ông do môn đệ ghi chép và đích thân ông duyệt lại. Tới thế kỷ thứ nhất trước công nguyên, chúng lại được biên tập thêm lần nữa. trong số đó, chủ yếu là cuốn Organum, gồm 6 luận văn về luận lý học;

                                            (Tượng Aristotle lúc còn trẻ)

Physics (vật lý học); Metaphysics (siêu hình học); De Anima (bàn về loài vật); Nichomachean EthicsEudemian (đạo đức học); Rhetoric (khoa hùng biện); và một số tác phẩm về sinh học cùng vật lý học. Tới thế kỷ 19, người ta tìm được cuốn Constitution of Athens (Hiến pháp Athens), trong đó ông tường trình về chính quyền của thành quốc Athens.

Thời gian tại trường Lyceum, Aristotle chú trọng tới sự quan sát trực tiếp thiên nhiên và ông nhấn mạnh: trong khoa học, lý thuyết phải đi đôi với thực tế. Ông đánh giá triết học là môn học thể hiện sự suy xét sâu sắc và thận trọng các nguyên lý số một có tính hiển nhiên và bất biến, hình thành nên toàn bộ tri thức. Ðối với Aristotle, ‘luận lý học là khí cụ cơ bản cho mọi thẩm tra, và tam đoạn luận là chuỗi lập luận mà hết thảy các tư tưởng dựa trên lý tính phải đi theo’. Ông đưa ra khái niệm phạm trù vào sử dụng trong luận lý học, qua đó, ông dạy rằng thực tại có thể được xếp loại theo vài phạm trù như bản thể (phạm trù số một), phẩm tính, lượng tính, tương quan, sự ấn định cụ thể trong thời gian và không gian, hành động, đam mê hoặc thụ động, vai trò và hoàn cảnh.

Aristotle cũng giảng dạy rằng nhận thức về một sự vật —nằm ở phía bên kia sự phân loại và mô tả nó — đòi hỏi lời giải thích lý do hiện hữu của nó. Ông đề ra bốn nguyên nhân, hay bốn nguyên tắc giải thích: nguyên nhân chất liệu (bản chất làm thành vật ấy); nguyên nhân dạng thức (hình thể dự kiến của nó); nguyên nhân hiệu ứng (tác nhân thúc đẩy hoặc dựng lên nó); và nguyên nhân tối hậu (cứu cánh hoặc chức năng của nó).

Trong tư tưởng hiện đại, người ta xem nguyên nhân hiệu ứng là lời giải thích có tính trung tâm nhưng đối với Aristotle thì nguyên nhân tối hậu đứng ở địa vị chủ yếu. Ông dùng phép rút gọn các nguyên nhân để xét tương quan giữa các dạng thức và vật chất và các kết luận của ông khác biệt sắc nét với Plato. Dạng thức (form) của Aristotle hoàn toàn khác với hình thái (form) của thầy mình. Aristotle tin rằng mọi dạng thức đều hiện hữu bất phân ly và nội tại (ở bên trong) chất liệu của nó — trừ Thượng đế hoặc Ðấng Thiêng liêng. Như thế, trong hệ thống của Aristotle, dạng thức và vật chất cùng nhau lập thành một thực tại cá biệt và cụ thể, trong khi hệ thống của Plato cho rằng thực tại cụ thể cùng nhau chia sẻ một hình thái nhưng không là hiện thân của hình thái mà chỉ là chiếc bóng hoặc bản sao bất toàn của nó.

Aristottle tin rằng dạng thức tác động khiến vật chất chuyển động cùng xác định sự chuyển động ấy như một quá trình để tiềm năng vật chất (vật tự thân – thing itself) trở thành cái thật sự của dạng thức (chuyển động tự thân – motion itself). Như hạt bắp trở thành cây bắp rồi trái bắp, chứ không trở thành cây lúa rồi hạt thóc. Ông cho rằng chỉ duy nhất Thượng đế

 

  Lễ hội tôn giáo Hy Lap ( nguồn BKTT Larousse)

là dạng thức đơn thuần, như một ‘chuyển động bất động’, như nguyên nhân tối hậu, ngài là cùng đích của toàn bộ sự chuyển động.

Ðạo đức học Aristototle hoàn toàn phản ánh siêu hình học Aristotle. Theo bước Plato, ông lập luận rằng cái thiện và đức hạnh của vật nằm trong cách thế thể hiện bản tính chuyên biệt của nó. Ðối với con người, cái thiện tối thượng là thực hiện thường xuyên và đầy đủ chức năng làm người, đặc trưng con người, cái hợp lẽ với nó. Hạnh phúc (eudaemonia) không phải là sống theo khoái lạc chủ nghĩa (hedonism) mà là theo đuổi cuộc sống chiêm nghiệm. Aristotle cũng nhấn mạnh khái niệm truyền thống của Hi Lạp xem đức hạnh là trung dung giữa những cực độ.

Cuốn Polictics nghiên cứu con người như một hữu thể chính trị, và quả quyết rằng trong khi chu toàn chức năng công dân, con người nhận ra phần đức hạnh nội tại trong con người của nó. Aristotle đề ra quan điểm mỹ học của ông trong cuốn Poetics. Thí dụ, bi kịch ứng xử với đau khổ cũng như dũng cảm của con người, vì đấng anh hùng thì phải chiến đấu với người khác, với thần linh và số mệnh; một vở kịch tường thuật những bất hạnh được chấp nhận một cách cam chịu, hoàn toàn không có sự lĩnh hội của nhân vật, thì có thể là một thể văn áo nảo hay một vở kịch thống thiết, chứ không phải là bi kịch.

Sau năm 460 SCN, cùng với sự suy tàn của đế quốc La Mã, tác phẩm của Aristotle bị thất lạc ở phương Tây. Mãi tới thế kỷ 9, ông mới được học giả A Rập giới thiệu với người Is-lam, và thần học, triết học, khoa học tự nhiên của người Hồi giáo đều mang sắc thái Aristotle. Thông qua các học giả Hồi giáo và Do Thái giáo, tư tưởng của Aristotle được dẫn nhập trở lại phương Tây trên một qui mô lớn. Người ta phát hiện ở ngay trong những phần còn lại không trọn vẹn của công trình Aristotle sự phi thường về hạng mục, tính độc đáo, tính hệ thống hóa đồng nhất của nó.

                           (  Nguồn: Phạm Văn Tuấn Viét Science.fr)

Các tác phẩm của Aristotle từ lúc đó trở thành nền móng cho triết học kinh viện trung cổ; ảnh hưởng lên phần lớn thần học Công giáo La Mã qua Thomas Aquinas, lên triết học Hồi giáo qua Averroes; và quả thật lên toàn bộ truyền thống khoa học và trí thức phương Tây.

Người ta cũng làm sống lại ảnh hưởng của Aristotle trong triết học thế kỷ 20. Lối tiếp cận mang tính cứu cánh luận của ông tiếp tục là tâm điểm của sinh học, nhưng nó đã bị xua đuổi khỏi vật lý học kể từ cuộc cách mạng khoa học trong thế kỷ 17. Công trình của Aristotle trong thiên văn học từng được Ptolemy trau chuốt và ảnh hưởng lên phương Tây đã bị quyết liệt bác bỏ bởi những kết quả thẩm tra của Copernicus và Galileo.

Ngày nay, các tác phẩm của Aristotle được đọc nhiều nhất gồm Metaphysics; Nichomachean Ethics; Politics; Poetics; De Anima (Bàn về loài vật); và Organon (Bàn về luân lý).

 

 

 

 

 

Sách của Aristotle viết về các loài

 

 

Mực bạch tuộc đang bơi

 

Torpedo fuscomaculata

 

 

Cá mập da báo (Leopard shark)

 

 

 

 

 

 

 

Tranh minh hoa Aristotle trong vuon trường của Platon

 

 

Tranh vẽ Aristotle trong bộ đồ Trung thế kỷ)

 

 

 

CHUYÊN MỤC THƠ VĂN

 

MIÊNG  :

Bóng chân

          Miêng tên thật là Võ Thị Xuân Sương, hiện là Quản Thủ Thư Viện Quốc Gia Pháp (phần Việt Ngữ) và đang cư ngụ ở Paris, Pháp..

Nhà xoay lưng vào bià núi. Con đường nhỏ ngoằn ngoèo bên sườn như cắt mái đá xám làm đôi. Ruộng hoa cải dầu vàng tươi bao quanh nhà và trong sân, những cây mẫu đơn, cây mận cây đào rực hoa bên cạnh hàng rào xanh mượt như tấm thảm Ba Tư đầy màu sắc.
Cô gái như tìm gặp căn nhà trong mơ, đảo mắt chiêm ngưỡng chung quanh một lần nữa trước khi đưa tay nhấn nút chuông nằm ẩn dưới vòm chesứ trắng.Cô hồi hộp vu vơ mặc dù không phải lần đầu tiên đi thuê nhà xứ lạ. Tiếng chim líu lo trên các cây bên đường nghe vui tai và xa xa đâu đó, một con cú cất giọng đùng đục như thể cằn nhằn ngủsuốt mùa đông chưa đẫy giấc. Cô hân hoan ngửa mặt lên đón nắng và khép hờ mi, mỉm cười vô tư với buổi sáng xuân bình an thơm mùi hạnh phúc…
– Bonjour, mademoiselle.
Cô gái giật mình, chào người đàn ông đứng tuổi đang nhoẻn cười và qua lớp kính, ánh mắt thẳng thắn dìu dịu của ông làm cô yên bụng. Màu da sậm với mái tóc muối tiêu hơi bồng bềnh ôm khuôn mặt xương xương khắc khổ. Có cái gì nơi ông gợi lên lòng tin cậy dễ gần. Cô nói ý định mình, ông tự giới thiệu là quản gia và đưa cô vào nhà trên lối đi nở vô số uất kim hương và iris…
– Cô là người Việt Nam ?
Ông quản gia bất chợt hỏi. Rồi không chờ câu trả lời, trỏ tay vào ngực :
– Vợ tôi cũng người Việt. Còn tôi là Chà và.
Thấy vẻ ngỡ ngàng của cô gái, ông cười vui vẻ tiếp :
– Tức là người Ấn Độ, xưa hay bán vải ở Sàigon. Cô còn trẻ quá, chắc không biết.
Bỗng nhớ đến câu hát “Chà và ma ní tí te, Cái bụng chè è con mắt ốc bươu” sao mà khác xa với người trước mặt, cô gật gật đầu nhìn ông, hồn nhiên nở nụ cười thân mật. Bốn bực thềm men đỏ dẫn vào căn phòng khách rộng rãi bày biện kiểu xưa. Cô thầm nhủ nếu có Thu Hà ở đây, chị sẽ nói mình nghe bộ xa lông này, chiếc bàn ăn và tủ sách cao nghệu sát tường kia thuộc thời Louis thứ mấy. Nhưng chắc vẫn không ghê gớm bằng hai tủ cẩm thạch chị đặt mua từ bên Tàu. Lại còn những bức tranh và vô số đồ xưa ! Ồ, một ngày nào mình sẽ cố thuyết phục Thu Hà cùng lên đây để chị ngắm nhìn và đánh giá. Cái gì chớ đồ cổ là chị mê, mình quê mùa nên ngược lại…
– Trên lầu, mời cô…
Ông đưa tay về phía chiếc cầu thang gỗ bóng nhẵn đã bắt đầu hơi lõm. Bước rất khẽ nhưng cũng nghe tiếng gót giày vang dội khắp nhà, cô chợt e ngại mình khuấy động một cái gì đang yên tĩnh lắm…
Cô gái. Tuần thứ nhất.
Nhận phòng sáng chúa nhật, buổi chiều cô dạo phố. Thành phố nhỏ miền núi trông thân mật dễ thương, nhà lên xuống theo triền dốc vàhầu hết là cửa hàng mùa này thưa khách. Khác với các vùng biển hay đồng bằng miền Nam, ở đây các bà không tụm năm tụm ba hay ngồi trước hè nói vọng qua bên kia với hàng xóm, con nít không chơi banh ngoài đường và các ông già không đánh boules trên những khu đất trống. Cô tha thẩn suốt buổi chiều nhìn ngắm mọi điều trước mắt. Một thành phố sống nhờ vào du khách không bao giờ thấy ai là lạ mặt. Cô thầm nghĩ ở trên xứ người mà mình không cảm thấy là ngoại quốc như năm kia về quê hương… Ra khỏi khu phố nhỏ, hai bên đường mọc đầy hoa dại, những loại hoa miền núi chẳng bao giờ biết mùi cửa kiếng. Ánh vàng rực mặt trời buổi chiều hãy còn lưu luyến rong chơi và vài con chim chiều xa xa trên bầu trời trong vắt. Trong lòng thung lũng, hai chiếc deltaplanes đỏ nổi bật giữa màu rừng, đang chao lượn. Cô nghe tiếng sỏi lạo xạo dưới chân như tiếng trẻ con đùa nghịch nghiến răng và tiếng lá rì rào trong gío như to nhỏ tự tình. Cô hít thật sâu bầu không khí trong lành như để chuẩn bị sức lực cho ngày mai bắt đầu làm việc.
Căn nhà chìm trong yên tĩnh hoàn toàn khi cô về sau bữa ăn tối. Chỉ phòng của ông quản gia còn sáng, và âm thanh của đài truyền hình yếu ớt vọng ra. Cô lên cầu thang rất khẽ…
Người đàn ông. Tuần thứ nhất.
Theo lời ông quản gia thì cô ấy có cái đẹp khoẻ mạnh và vui vẻ tự nhiên. Sáng nào cô cũng chạy bộ lên đồi sau nhà rồi về tắm xong là đi mãi tới tối mịt mới về. Cả tuần qua ông thấy cô mỗi sáng nhưng chỉ có dịp trò chuyện vài lần trước khi cô trở lại Paris.
Tôi vào phòng buổi chiều hôm đó, lười biếng ườn người lên giường với chăn gối của cô. Hơi hướm đàn bà hãy còn phảng phất ngập ngừng khiến lòng tôi ngây ngất nao nao. Tôi cố tưởng tượng hình dáng cô nằm : nghiêng, hai chân hơi co lên ôm chiếc gối vào lòng hay thẳng, duỗi dài chân và hai tay đặt hờ lên ngực ? Và mắt cô nhìn đâu, phía cửa sổ trước nhà với xa xa ngọn núi mờ trong mây hay phía cửa sổ bên hông với đỉnh rừng phong đang mùa đơm lá?
Sáng hôm sau nắng mai trườn lên người và đánh thức tôi với giọng ấm áp nhẹ nhàng. Bở ngỡ trong căn phòng này hầu như xa lạ, tôi đảo mắt nhìn quanh. Chiếc mũ đàn bà móc trên tường nhìn tôi đăm đắm như muốn kể niềm vui suốt tuần đã theo cô tới đâu và bảo vệ mái tóc làn da cô thế nào. Tôi mỉm cười với nó, làm quen. Những cộng lát sơn trắng tranh cãi gì đó với những cộng lát màu xanh biển, phải nhờ giải lụa màu trời làm trọng tài đứng giữa. Giải lụa nhu mì, vừa hoà giải những cộng lát đa đoan vừa nháy mắt mỉm cười với tôi trong ánh nắng…
Cô gái. Tuần thứ hai.
Cô trở lại vùng núi chiều chúa nhật tuần thứ ba của tháng. Trên bàn hãy còn vài tờ báo địa phương và quyển “Thằng Gù Nhà Thờ Đức Bà” của Victor Hugo. Trên bệ sưởi, hai bức tượng nhỏ kiểu Hy Lạp đầu người mình thú mà ông quản gia bảo là của người thuê phòng xen kẽ với cô. Quái, nhà này, ngay cả người thuê cũng có “gu” cổ điển !
Cô sắp các thứ ấy vào một góc vì không sính những hình thể bất thường dù là nghệ thuật. Đối với cô người đẹp là người cân đối, không phải một khuôn mặt nhỏ xíu nằm chót vót trên chiếc cổ dài ngoẵng kiểu Modigliani. Cô cũng rút cái đèn đọc sách ở giường dẹp đi. Kiểu cái đầu người méo mó màu đen để ánh sáng toát ra từ miệng và hai hốc mắt làm cô ghê người.Và khi tháo tấm khăn giường và bao gối có hình cá sấu há miệng thật lớn, gớm ghiếc, cô nhún vai mỉm cười…
Cô lại tới sân golf. Tuần này phải nhắm địa thế để làm ít nhất hai cái hồ nhân tạo cho parcours. Parcours ba cây số hai là quá dài, với đường núi lên xuống gập ghềnh chóng mệt. Cô dự định sẽ bắt đầu parcours từ tee thứ hai, chỗ tee thứ nhất sẽ sửa lại thành nơi practice. Như vậy hợp lý hơn, banh sẽ văng ngược lên chỗ dốc và phải phá mấy bụi rậm cho banh không mất. Tiếp theo phải tính farway cần bao nhiêu đất lấp những chỗ lồi lõm đầy sỏi làm bước đi khập khiễng khó chịu. Golf là môn thể thao thư dãn, sau khi đi một vòng parcours người ta phải thấy thoải mái, khỏe ra. Ngoài ra phải đào thêm một bunker và chữa lại cái đã có, vừa nhỏ vừa dốc quá.
Và cô bước đi dưới nắng, giấy bút trên tay, vừa chỉ trỏ cho hai đồng nghiệp đi bên cạnh.
Người đàn ông. Tuần thứ hai.
Tôi không phật lòng khi thấy đồ đạc mình bị gom vào một xó, bơ vơ dưới đất. Vậy mà khi bày ra, tôi chỉ hy vọng chút nghệ thuật sẽ làm vui lòng cô gái thuê nhà. Tôi cũng lịch sự không dẹp bức tượng Đức Mẹ bày trên bệ sưởi. Người có niềm tin vào thánh thần, theo tôi, vẫn là người đạo đức. Tôi nhìn quanh phòng : bình hoa hồng đỏ sẫm vẫn còn tươi trên bàn, đôi giày đi núi màu da bò nằm cạnh chân giường, sọt rác đầy giấy nháp… Có cảm giác như người ăn vụng, tôi hôn mấy đoá hoa và nghĩ đến đôi môi son trẻ của cô. Tôi ôm đôi giày vào lòng như vuốt ve đôi chân xinh đẹp của cô. Và tôi cầm những tờ giấy kéo từ sọt rác đầy hình, mỗi tờ vẽ một mẩu đất với nhiều ghi chú. Tôi ôm chúng vào lòng như ôm lấy nghị lực và sức sống của cô… Bỗng dưng tôi ao ước được gặp cô. Tôi thèm được nhìn thấy cô mặc dù trong thâm tâm, chẳng biết để làm gì. Chưa bao giờ tôi thoải mái khi đối diện với đàn bà. Thực ra là tôi chẳng thích trò chuyện với ai cả. Tôi thường gửi gấm nỗi lòng mình cho mây chiều hờ hững chẳng biết về đâu. Tôi thường tâm sự với sương mù vây quanh đỉnh núi mỗi sáng nắng chưa về hay mỗi chiều nắng đi vội vã. Và xa xa, những mây những sương với hình thù kỳ ảo chập chùng sẽ che dấu nỗi niềm tôi rồi mang đến mở ra cho người nào đọc được cùng ngôn ngữ – thứ ngôn ngữ mà đối với cô hẳn là xa lạ.Và tôi đâm ra thèm muốn thứ tiếng cô dùng…
Buổi chiều, tôi ngồi hằng giờ nhìn mông lung qua cửa sổ. Ráng chiều ửng hồng các bià mây và xa xa, đỉnh núi nhô lên một thân cây nhỏ trơ trọi, cô đơn. Tôi như thân cây kia, lúc nào cũng xa cách mọi người. Nhưng nếu nó trốn chạy, vượt lên cao rồi buồn rầu ngạo nghễ nhìn xuống nhân gian có bao sinh linh đang sống và đang chết – thì tôi, một con người tầm thường vượt lên được tới đâu và nhìn xuống cái gì, ngoài sự cô đơn vừa cao khiết vừa quằn quại của mình ? Bởi tôi sống mà một nửa đã chết rồi, niềm vui nỗi buồn chẳng ảnh hưởng gì tới mình nữa. Mọi thứ tình cảm đều như mơ hồ không thật. Vậy mà tôi lại mong gặp người con gái thuê phòng, dù chẳng biết để làm gì ! Chắc tại ý nghĩ ra vào cùng một cửa, nằm cùng trên một giường – còn có sự đụng chạm nào gần gũi thân mật hơn thế nữa ?
Cô gái. Tuần thứ ba.
Vừa bước vào phòng, cô ngạc nhiên đầy thú vị khi thấy bình hoa hồng tươi thắm trên bàn (mà sáng hôm sau được cám ơn, ông quản gia tỏ vẻ bối rối nói không phải của mình). Đống đồ «nghệ thuật» vẫn nằm lặng lẽ ở góc nhà và thêm vào căn phòng là cái máy truyền hình và đầu máy vidéo với cuốn phim “Cái Trống” theo tiểu thuyết của Gunter Grass. Vở “Con mèo cái trên mái tôn cháy bỏng” của Tennessee Williams nằm ngơ ngáo trên mặt bàn đêm. Máy nghe nhạc của cô được đặt cẩn thận trên chiếc tủ nhỏ cạnh giường.
Cô lại tới sân golf. Tuần này phải nhắm địa thế gần cổng ra vào để nới rộng căn phòng vừa cho thuê dụng cụ, vừa thu tiền. Căn phòng hiện tại nhỏ như cái hộp chỉ vừa đủ chỗ cho một cái bàn con với khoảng chục bộ đồ golf. Ngộ nhỡ trời mưa thình lình thì khách nấp vào đâu ? Khách khát nước phải tìm chỗ nào ? Khách cần điện thoại ? Và cần phải có một máy cho thuê banh…
Cô dạo một vòng xuống Saint Martin, ngôi làng e ấp nằm lọt trong thung lũng đẹp nên thơ. Đường vòng khu phố râm bóng mát, nhà cửa khang trang và các loại hoa muôn màu nằm ngoan ngoãn như con nhà lành trong vườn rào thấp. Con đường phố chính hẹp dốc theo triền núi, giữa lòng đường có rãnh, nước suối chảy xuống trong veo mát rượi. Nhà hai bên thường là cửa hàng cho du khách, trông kín đáo, trang nhã và thân tình. Nhưng suốt làng chỉ có một bảng quảng cáo sân golf !
Người đàn ông. Tuần thứ ba.
Tôi sung sướng săm soi mẫu giấy nhỏ trong tay, tim tưởng muốn nứt ra. Cô viết cho tôi ! Nét chữ cô mềm mại mà mạnh mẽ, đầy cá tính. Chỉ mấy chữ thôi, gọn quá, mà tôi như thấy cả một rừng văn học. Văn chương là nơi tôi ẩn mình tìm lãng quên, an tịnh. Mỗi tác phẩm, tôi tìm kiếm hình ảnh một nhân vật có cái gì chung với mình rồi chuyện trò bắt đầu bằng tâm sự mà họ đã bày ra trên giấy. Nhưng chẳng bao giờ ai tỏ ra lưu tâm tới sự ân cần đầy thiện cảm của tôi. Ngay cả trong sách, con người cũng lạnh lùng cách biệt. Và như một cái bóng, tôi theo dõi họ âm thầm mà dai dẵng.
Nhưng bây giờ đã có người lưu ý sự hiện diện của tôi ! Tôi sung sướng đến hổn hển và choáng ngợp niềm hạnh phúc. Tôi ấp mảnh giấy nhỏ lên môi, cảm giác như chạm vào đôi môi cô – trinh nữ. Tôi nhắm mắt tưởng tượng giờ này cô đang làm gì, ở một nơi chưa bao giờ chân tôi đặt đến ? Những chữ viết cho tôi có làm cô bối rối – hay biết đâu, biết đâu cô cũng chẳng còn nhớ gì đến mẩu giấy con con này nữa? Cùng lúc tôi thấy giận dỗi và ghen tị vu vơ. Tôi muốn biết cô đang làm gì nơi ấy ?
Tôi lại lôi trong giỏ rác, những tờ giấy vẽ căn nhà nhỏ cạnh cổng ra vào, mấy ngọn đồi lên xuống với nhiều chú thích chuyên môn tôi không hiểu hết. Cùng với những tờ tuần trước, tôi cất chúng cẩn trọng như những lá thư đầy kỷ niệm. Một ngày nào có dịp, tôi sẽ trải dài chúng ra, từng tờ cho cô xem, gợi cô nhớ lại những ngày đầu thuê chung phòng với một người khác phái, xa lạ. Và chúng tôi sẽ nói cho nhau nghe những gì đã nghĩ về nhau trong thời gian thuê cùng căn phòng như chơi trò cút bắt.
Tôi nâng chiếc gạt đầy tàn thuốc gần như thành kính, và run rẩy vụng dại nhặt một mẫu có dấu môi son màu hồng nhạt, châm lửa. Tôi hít khói thuốc vào như hít hơi thở đầy sinh lực của cô. Rồi tôi ho, sặc sụa, bị cô trừng phạt. Tôi mím chặt môi trên đầu thuốc, tôi cắn, răng môi xé nát đầu lọc nhỏ tội nghiệp, như môi ai…
Tôi mở tủ áo, những váy ngắn váy dài làm tôi băn khoăn tội lỗi. Ông quản gia nói ngay cả đầm, ít ai có cặp giò đẹp như cô. Tôi đặt chiếc váy ngắn với chiếc áo cánh mỏng của cô lên giường. Rồi tôi nằm bên cạnh. Và chúng tôi bắt đầu trò chuyện. Tôi kể cô nghe những gì tôi làm trong ngày, không nhiều nhặng gì, bởi tôi cũng dấu nhẹm những bài thơ vụng về dù rút tận cùng xương tủy của lòng chân thật. Và tôi chờ đợi nghe kể những việc cô làm, hẳn là lý thú…
Chúng tôi hẹn nhau trên ngọn đồi thấp sau nhà. Tôi mang theo giá vẽ, nhẩn nha ngồi nhìn mây bông gòn đùa nghịch đuổi bắt nhau trong gió chiều, chờ cô đến. Không gian yên ắng đến nỗi nhịp tim tôi dồn dập như quá ồn ào. Gió vi vu nhè nhẹ và cây lá xạc xào hỏi tôi đang làm gì ở đây, đơn chiếc. Tôi vội vàng phơi trải lòng mình với thiên nhiên, bảo rằng tôi chờ đợi như chưa từng chờ đợi, tôi nôn nao như chưa từng nôn nao. Và tôi pha màu, một màu hồng rực rỡ để tô lên đôi má xuân thì, một màu đen huyền nhiệm để tô lên mái tóc trẻ trung và một màu xanh biêng biếc như bầu trời cho chiếc áo mỏng lộ hai cánh tay trần…
Chợt hoa lá reo vui như đón mời bước chân ai đang đến, hơi ngập ngừng rồi dừng lại. Tôi hối hả quay nhìn trên lối đi : cô bước nhún nhẩy bất an như con sóc nhỏ, tay kéo cao váy tránh những bụi gai rừng… Bỗng tất cả lặng im, hoa tái nhợt cui đầu như muốn xỉu và lá đỏ mặt, không còn ba hoa nữa.Và tôi nhìn… và tôi nhìn… trời ơi, đôi chân cô …
Cô gái. Tuần thứ tư.
Cô nhìn bức tranh nằm ơ hờ trên tường, ngọn núi xa xa với một thân cây trơ trọi, cô đơn. Và trên tường bên kia là bức tranh có bình hoa hồng nhung sẫm, tách trà bên cạnh, bốc hơi. Màu sơn còn mới. Biết rồi, anh chàng vẽ ngọn núi trước nhà chứ gì ! Cô lắc đầu mỉm cười, không thích tranh tĩnh vật, và phong cảnh thì không thể vẽ cái gì tươi tắn hơn sao ? Màu sắc gì mà u ám !
Cô muốn viết vài giòng nói về hai bức tranh, nhưng suốt tuần bận quá, cô còn khối việc phải làm và buổi tối về nhà quá trễ, mệt nhoài tắm xong là ngủ vùi rồi sáng hôm sau lại bắt đầu một ngày mới đầy bận bịu. Cô làm việc cật lực, tối đa ba tuần nữa phải xong. Chưa chi mà cô đã được đề nghị cho một dự án khác. Đôi chân dài bước nhanh trên đường sự nghiệp.
Người đàn ông. Tuần thứ tư.
Tôi hơi buồn khi thấy trên bàn, mấy CD nhạc vẫn chưa bóc giấy. Cầm mẩu giấy nhỏ cô viết cho mình trên tay, tôi mang cảm giác kẻ thất bại. Giỏ rác đầy giấy nháp, tràn lan ra ngoài. Tôi gom hết lại, nhìn ngắm từng tờ và cẩn trọng vuốt thẳng từng nếp, xếp cất như nhặt nhạnh linh hồn đau đớn của mình. Căn phòng hơi bừa bộn, vài món đồ dùng vương vãi và trong phòng tắm hãy còn mấy món riêng tư… Tôi thu dọn, âu yếm như một người chồng giúp vợ trong nhiều bận bịu hằng ngày.
Gần chín giờ tối cô mới về nhà. Tôi biết là khoảng năm ba phút sau cô sẽ tắm…Tôi hồi hộp nhìn vào lỗ khoá, cô đang trần truồng dưới vòi sen, mờ ảo qua lớp kiếng và ánh sáng đèn màu hồng. Cô ngửa mặt lên, nước chảy dạt dào lên tóc cô, nước chảy dạt dào lên bóng của mái tóc cô ép sát da đầu… Nước tràn lan lên mặt cô sáng trưng, nước tràn lan lên bóng khuôn mặt cô nhạt nhoà bồng bềnh trong nước… Nước xối xả xuống tấm thân cô nõn nà màu sữa đặc, nước xối xả lên bóng thân hình cô đu đưa như liễu… Đôi gò ngực thanh tân cao vút núm vú nhỏ màu hồng, từng luồng nước lăn tăn vội vã đuổi bắt nhau như tranh giành độc quyền ve vuốt. Và nước chảy xuống, chảy xuống khu rừng nhỏ rộn rã niềm hoan lạc. Và nước chảy xuống, chảy xuống len lách vào khe rạch như người đi săn tìm kiếm con mồi. Và nước như thác tuôn ào ạt, ào ạt, xuống đôi chân, trời ơi, trời ơi, xuống đôi chân mỗi lúc mỗi cong queo, khẳng khiu, xấu xí đến nao lòng !
Tôi nín thở, nhìn. Tôi nghẹn ngào, nhìn. Tôi sung sướng, nhìn. Tôi thấy bị ngộp thở. Có cái gì cắt ngang cổ họng, đau điếng. Tôi nuốt nước bọt ở đâu dâng trào như suối ngàn mùa lũ lụt. Tôi cắn môi đến bật máu rồi nuốt ực những giọt tanh tanh mằn mặn hoà cùng nước mắt… Tôi thương cô quá đỗi. Tôi mãn nguyện quá đỗi. Và tôi ung dung mở cửa bước vào phòng tắm, ôm chầm lấy tấm thân cô tràn trề sinh lực. Nước trên cao đổ xuống hai chúng tôi da thịt chạm vào da thịt, mềm mại, gợi cảm. Mắt hai đứa nuốt trững nhau, môi hai đứa cắn xé nhau, tranh giành với nước từng ly từng phân thân xác. Tôi lơi vòng tay để nhìn xuống vùng núi đồi ngạo nghễ, vùng đồng bằng như những đụn cát mịn màng và bãi cỏ non e ấp thẹn thùng. Tôi quấn đôi chân mình vào đôi chân tàn tật của cô, hoàn toàn hả dạ… tôi kêu lên sung sướng và giật mình vì chính tiếng mình kêu, bước ra khỏi phòng tắm người ướt đẫm vì mồ hôi trong cơn bàng hoàng tỉnh giấc…
Lòng chùng xuống, tôi trằn trọc thâu đêm. Thật lâu, rồi tôi rũ rượi khập khiễng bước vào giấc ngủ đầy mộng mị. Đang đêm, tôi chợt thức giấc vì tiếng mèo gào tìm đực. Tiếng gào nghe sao mà dữ dội, bức thiết và buồn như ai khóc. Tiếng gào như xuyên thủng núi rừng, xuyên suốt trăng miền núi vằng vặc trên cao. Tiếng gào như kêu cứu, như van xin, như cùng đường, như gây hấn, như đe doạ… Con mèo cái bên ngoài và người đàn ông bên trong cùng một nỗi niềm. Chỉ khác là người đàn ông gào thét âm ỉ trong lòng và trong phòng. Còn con mèo cái thì gào lên thành lời, giữa trời không dấu diếm. Tôi muốn bước ra xua đuổi như xua đuổi lòng mình, nhưng chân tay bỗng nhiên bủn rủn. Một luồng điện chạy qua làm tôi tê liệt rồi chạy ngược về thiêu đốt tôi hực hở. Toàn thân tôi run rẩy, quờ quạng trong đêm. Chị Hằng lấp ló nhìn trộm từ cửa sổ, rồi bỗng trêu ngươi rực rỡ lách người vào, khoan thai mà trần tục, tươi thắm đĩ thỏa trườn lên người tôi, trườn lên, trườn lên… Tôi bật dậy như lò xo rồi lại nằm vật xuống. Mắt chị sáng trưng, nồng nàn ham muốn, như thể gần gũi tôi chị sẽ được hoá thân. Một phần thân thể tôi đau đớn , nhức nhối, hoảng loạn… Tôi tự cào cấu lên tay, lên ngực. Tôi vò đầu, giựt từng chùm tóc. Tôi úp mặt xuống gối, trăn trở. Rồi tôi ghì chặt gối vào lòng, chặt hơn, chặt hơn nữa. Và tôi lăn lộn như một con thú bị thương. Tôi lên cơn sốt. Tôi lên cơn đồng thiếp. Tôi kêu rên. Tôi bập bẹ những lời không đầu không đuôi. Tôi hổn hển đứt hơi. Tôi cuống quýt vụng về … Tôi giúp mình qua cơn đau đớn…Tôi phải giúp mình qua cơn đau đớn… Tôi và cô gái… Tôi và chị Hằng… Cô gái và chị Hằng… Tôi với cô gái và chị Hằng… Ba chúng tôi quấn vào nhau như những sớ dừa bện sợi. Ba chúng tôi siết vào nhau như những lọn tóc dài thắt bín. Ba chúng tôi vật vã, rên siết, quay cuồng…Và tôi rú lên như con thú hoang, như con mèo cái…
… Tôi đưa bàn tay nhớp nhúa lên ôm mặt, xấu hổ, tủi nhục, lặng lẽ khóc như bao lần…
Cô gái. Tuần thứ năm.
Cô hơi khựng nhìn đóa hồng nhung nằm trên gối. Bình hoa, đĩa nhạc hay hộp kẹo chỉ khiến cô mỉm cười vu vơ, biết là có người quan tâm tới mình nhưng chỉ là một cảm giác hời hợt thoáng qua. Nhưng đóa hồng nằm đây, nó biểu hiện một cái gì khác hơn là sự chỉ quan tâm tới một người không hề quen biết. Cảm giác đó làm cô hơi ngẩn ngơ, vừa thắc mắc thú vị vừa thấy bâng khuâng nhè nhẹ.
Cô cầm đóa hoa lên, phản ứng là đưa lên mũi, không, cô đưa lên môi, một sự động chạm khe khẽ khiến cô bối rối. Bỗng dưng cô thở dài. Có thể như bạn bè thường nói là cô hơi lạnh nhạt, nhiều tham vọng, chỉ biết lưu tâm đến công việc và những thành công trong đời. Cô chưa hề để tâm tới một người đàn ông nào nếu không nói là sự tán tỉnh làm cô khó chịu. Có người còn nói cô bị chứng lãnh cảm hoặc con tim ngoài nhiệm vụ hô hấp chẳng dùng được vào việc gì. Nhưng bây giờ, cầm đoá hồng của một người xa lạ, bỗng dưng lòng cô hơi chùng xuống, rộn ràng.
Đoá hoa vẫn trong tay, cô bước tới cửa sổ nhìn mông lung ra ngoài như thể bất chợt sẽ nhận ra người ấy. Suy nghĩ đó khiến cô nhìn sững một người đàn ông đảo mắt nhìn căn nhà rồi dừng lại nơi cửa sổ có người con gái đang áp đoá hồng lên môi. Bốn mắt gặp nhau. Một cái nhìn trong tích tắc xui khiến cô lao xuống thang lầu, chạy băng ra đường dáo dác kiếm tìm. Nhưng trong bóng chiều, người đàn ông không để dấu tích gì trên con đường làng…
Cô trở về phòng, cẩn trọng đặt đoá hồng lên bàn rồi thay tấm trải giường. Bỗng cô giật bắn người khi dời chiếc gối : chiếc xi-líp nhỏ màu hồng mà tuần trước đó vội vàng bận bịu, cô đã bỏ đâu đó trong phòng tắm… Cô nhìn sững. Có phải của mình không ? Đúng là của mình ! Có phải mình bỏ quên trên giường không ? Không ! Một cảm giác như ghê tởm làm cô lợm giọng. Cô tức tối như bị sỉ nhục. Thế là suốt cả tuần, người đàn ông kia đã ôm ấp một phần thân thể của cô ! Chỉ một người bịnh hoạn mới có thể làm điều đó. Chỉ là một thằng đàn ông không ra gì, ngu xuẩn, bẩn thỉu, vô lại… Cô nghẹn và uất, không biết tìm từ ngừ nào nữa. Cô vẫn nhìn sững, bàng hoàng đến nỗi e như không phải đồ dùng của mình, như thể sợ phải nhặt nó lên. Cô chợt rùng mình nhìn quanh, cảm tưởng như có người đang ở bên cạnh, đang theo dõi từng cử động. Vô thức, cô quàng hai tay trước ngực và bấu chặt vai, mắt vẫn dán vào chiếc xi-líp vô tội màu hồng…
Cô hậm hực, khinh bỉ, điện thoại tâm sự với bạn rất lâu xong xuống phố, thành phố đã lên đèn. Và cô lang thang tìm kiếm, bất mãn vì thấy như người đàn ông nào cũng mang dáng dấp của người đã nhìn cô trên cửa sổ. Cô không hiểu nếu gặp, mình sẽ phản ứng ra sao, sẽ nói cái gì, sẽ có tình cảm như thế nào. Nhưng cô muốn gặp, cứ gặp rồi hẵng tính. Đi suốt dãy phố vắng vẻ, vào hết mấy tiệm ăn, quán cà phê, cô nhìn từng người. Chợt trong quán cà phê cuối phố, một người đàn ông đang đứng ở quầy có cái nhìn làm cô giật mình. Chỉ một cái nhìn rất nhanh, rồi người ấy bỏ đi, phía cửa sau. Cô vội bước theo nhưng không kịp nữa. Cô có cảm tưởng hắn biết và tránh mặt mình. Cô uể oải ăn tối, uể oải ra về và cuối cùng, uể oải vất chiếc xi-líp hồng vào giỏ, uể oải thay ra trải giường…
Nhìn lên hai bức tranh buồn thiu cô đơn, cô nhớ tới lời bạn nói khi chiều và suy nghĩ. Ờ, Quyên có lý phần nào (dù có kèm theo tiếng cười chọc phá) khi bảo nếu hắn bịnh hoạn thì chắc đã vẽ theo bức tranh “Nguồn gốc nhân loại” của Gustave Courbet rồi ! Đây chỉ là người kín đáo, cô độc, buồn và thiếu dạn dĩ tự tin. Bất chợt cô thở dài. Một thứ tình cảm là lạ khó định nghĩa nhen lên làm cô xốn xang – lần thứ nhất trong đời.
Nhìn qua cửa sổ, vầng trăng khuyết treo lửng lơ trên bầu trời đêm trong vắt sậm màu như ngả tím, đỉnh cây thông nổi lồ lộ màu đen, song cửa sổ khắc hình một người đang đọc sách … mọi cái đều mang hình ảnh nghiêm trang và thanh tịnh làm cô chột dạ. Cô vùng dậy xới tung đống sách đặt bên lò sưởi : toàn về cuộc đời ẩn cư của tu sĩ, về những người cô độc và những kẻ tài hoa nhưng bất hạnh…
Thở dài, cô nhìn lại lòng mình, một cảm giác êm đềm gần như lòng trắc ẩn dấy lên làm cô khó ngủ… Sáng thứ sáu, cô điện thoại về sở ở Paris, nói chuyện rất lâu.
Người đàn ông. Tuần thứ năm.
Tôi chờ cô trên đồi. Vẫn nắng chiều vùng núi êm ả vắng người và mây thì lang thang vô định. Tôi ngồi bên gốc cây thông già tróc vỏ sần sùi như mụt ghẻ, như linh hồn tôi trầy trụa. Những trái thông khô nằm nghiêng ngả hớ hênh rải rác trên bờ đường đầy sỏi, bất trắc như con tim tôi yếu đuối. Tôi muốn gom góp các trái thông khô, nhóm lửa. Ngọn lửa thông sẽ thiêu đốt những gì đang chất chứa trong tôi. Khói thông sẽ mang đến cô lời tạ tội thành kính của tôi. Và tro thông sẽ làm chất keo dán hai tôi gần lại. Ô, lẽ ra, lẽ ra tôi phải cẩn trọng hơn. Lẽ ra tôi không được bỏ quên một phần đời mình trên gối…
Tôi vẫn chờ, lòng như muôn ngàn tổ kiến. Một tiếng chim kêu cũng làm tôi rùng mình và một chiếc lá rơi cũng làm tôi thấy hụt. Gió nhè nhẹ đùa nghịch từng nhóm tóc trên đầu bốc lửa, tôi dáo dác nôn nao. Từng giọt rồi từng giọt lệ âm thầm chảy ngược vào tim. Từng tiếng rồi từng tiếng nấc rưng rức ngập hồn. Tôi chắp hai tay thành khẩn nguyện cầu. Lời nguyện cầu thổn thức quặt què…
Chẳng biết bao lâu, tôi không còn khái niệm gì về thời gian nữa, cuối cùng thì cô đến, như hào quang từ trời hiện xuống. Tôi chói vì nước mắt long lanh trước cô rực rỡ. Tôý nghẹn vì muôn nghìn tiếng tranh nhau muốn trào ra cùng lúc. Tôi đau đớn khó thở vì không gian như chỉ quanh quẩn bên cô. Tôi muốn chạy đến ôm đôi chân khẳng khiu, cong queo xấu xí đến nao lòng của cô, nhưng hai chân tôi như có gì vướng víu, bận bịu gỡ không ra khỏi đất. Tôi loay hoay cuống quýt.
Còn cô, lạnh lùng dửng dưng, sải dài từng bước về hướng đâu đâu. Tôi muốn kêu lên, muốn khóc to cho cô nghe, nhưng cái gì chận ngay ở cổ… Tôi chới với đưa tay về phía cô… Chẳng thèm đoái hoài, cô cứ sải dài bước chân, rồi từ đỉnh núi này bước tới đỉnh núi kia nhẹ nhàng khoan thai như đi dạo, cô hơi chồm người về phía trước nhổ thân cây nhỏ trơ trọi cô đơn… Tôi kêu lên như chính linh hồn mình bật gốc. Đá ở bià núi vỡ ra ào ào đổ xuống tung bụi mịt mù … Đất trời như trải qua cơn cuồng nộ, sâm sét, tiếng cây cối , tiếng đá đổ ầm ầm vang rền nghe đến rợn người… Ông quản gia quýnh quáng mang nhầm dép. Vùng núi chẳng ai gọi cửa giờ này, và nếu là cảnh sát… nhưng việc gì mà cảnh sát tới tìm? Ông chạy xuống thang lầu, bật đèn khắp nơi rồi vừa lật bật mở cửa vừa lên tiếng bảo chờ một chút. Khi cánh cổng mở ra, ông hốt hoảng như gặp ma : cũng nơi này, vào một buổi sáng cách đây mấy tuần, ông đã đón tiếp một cô gái tươi cười hồn nhiên rất thánh thiện. Giờ thì cũng cô gái ấy nhưng trong đêm, sắc mặt có vẻ khẩn trương, hổn hển :
– Cho tôi lên. Tôi muốn gặp người thuê cùng phòng.
Ông quản gia lúng túng khép cổng :
– Không được đâu cô… chắc ông ấy ngủ rồi !
– Mặc kệ, tôi sẽ xin lỗi.
– Không ! không được…
Xô mạnh ông quản gia qua một bên, cô vụt chạy lên lầu. Ông quản gia già đáng thương chạy theo, hốt hoảng, rụng rời… Cô mở cửa phòng như một cơn lốc, bật đèn :
– Đâu ? Người nào thuê phòng này ?
Nhìn chăn nệm có vẻ như có người nằm, cô sờ thấy còn hơi ấm. Cô bước nhanh tới phòng tắm bật đèn, hoàn toàn trống vắng. Ông quản gia bối rối tránh ánh mắt giận dữ của cô, im lặng. Cô bước qua phòng bên cạnh :
– Và phòng này là một bà nhân viên kế toán thuê ? Và phòng này là cô tiếp viên hàng không thuê ? (Cô gào lên như hụt hơi) Ông nói dối ! Mà tại sao ông nói dối ? (Cô cắn môi) Ông trả lời đi chứ ? Tôi không về Paris, tôi ở khách sạn góc đường kia để nhìn : ba ngày nay không một bóng người nào ra vô ngoài ông thôi !
Cô hổn hển vì tuyệt vọng, vì căm tức. Mặt cô đỏ gay, mắt long lanh như người lên cơn sốt, hai tay bấu chặt cầu thang. Té ra người đàn ông này đã ôm ấp chiếc xi-líp của mình ! Cô đã đem lòng tin cậy một người tưởng như đồng hương. Nhưng giờ thì cô nhìn, thấy đôi mắt như con thú bị thương kia đang hăm hở lật từng trang sách Kamasutra. Cô ngồi bệt xuống thang lầu như người bị ngất. Một cảm giác kỳ lạ làm cô nghẹn. Nước mắt bỗng trào ra. Cô không biết mình đang ghê tởm hay thương hại người đàn ông này, hay thương hại chính thân mình. Ông quản gia bở ngỡ lấm lét nhìn cô, mắt ươn ướt.. Ông ngần ngại bước tới đưa tay ra, môi run run như muốn nói cái gì. Nhưng cô vùng đứng lên, không, không thể để cho người ta thấy mình yếu đuối. Cô chạy vào phòng quơ nhanh áo quần hãy còn treo trong tủ và một số vật dụng cá nhân, nhét vội vào xách. Cô lao xuống cầu thang như mũi tên. Ông quản gia buồn rầu gọi với theo, tuyệt vọng… Ông chạy theo sau như con chó lạc đường, luống cuống, vụng về… Cô gái xẹt như tia chớp, xuống nhà, ra cửa, ra vườn, ra khỏi cổng. Không một tiếng cửa nào đóng sầm lại: không phải cô tức giận, mà cô trốn chạy, như thể ở thêm một giây phút nào ông cũng có thể làm hại đời mình…
Ông quản gia bước ngược lộ trình, từ cổng lên lầu. Trông ông thiểu não như vừa đánh mất cái gì ghê gớm lắm. Ông thở nặng nề. Trong phút chốc, ông như già sụm hẳn đi. Ông vào căn phòng tối om, bật đèn. Ánh đèn vàng vọt cho thấy một người đàn ông ngồi ở bàn, quay lưng lại. Ông quản gia nói như rên :
– Cô ấy…
Một bàn tay đưa ra ngăn ông nói tiếp. Ông bước tới sau lưng ghế, im lặng. Người đàn ông quay mặt nhìn phía cửa sổ. Hiểu ý, ông quản gia đẩy chiếc ghế bành – không, đó là chiếc xe lăn – về phía ấy và vén màn. Từ cao nhìn xuống làm ông đau lòng : mái tóc rậm đen mượt hơi quắn, đỉnh mũi cao, thẳng… E dè một lát rồi ông nói như xưng tội :
– Con nghe hết cổ nói không ? Cổ tưởng ba có ý gì mờ ám, cổ sợ. (Thở ra) Thôi, con đừng buồn…
Con trai ông không trả lời. Ông nhìn qua vai, nhìn xa xuống chút nữa, hai ống quần cột lại đong đưa, đong đưa… và nhớ ngày con trai vừa lên tám, một hôm đã chạy băng qua đường gọi Tí ơi, hàng về, hàng về, ba tao lột vải ra nhiều lắm, qua lượm hình… Hình mấy cô đầm tươi cười trong cây vải bỗng nhăn mặt khi con trai ông chạy trở về vẫn kích động réo Tí ơi, quên không nhìn trước nhìn sau như ông dặn. Một chiếc xe thắng gấp. Một tiếng rú, nhiều tiếng rú nổi lên. Ông chạy ra điên dại ôm con, một thằng con lên tám không còn hai chân nữa… Và ông cũng đã gọi thất thanh, mẹ nó đã gọi thất thanh, nó như chết rồi, không trả lời… Người cha chép miệng ngập ngừng :
– Chẳng mấy thuở gặp người cùng quê…
Người con trai vẫn im lặng.
-May là tuần rồi cổ nhờ ba đem hình đi rửa, ít nhứt mình cũng còn kỷ niệm …
Nhưng con ông bỗng bẵn gắt chua chát ngắt lời:
-Không! Mấy tấm hình đó không thật, không thật!
Dưới đường, phố đêm miền núi vắng teo. Ở góc ngã ba con đường nhỏ, ánh đèn yếu ớt rọi lên phần dưới đôi chân dài di động vội vàng. Người con trai xốn xang nhìn theo đôi chân càng lúc càng nhạt nhoà xa – một đôi chân khẳng khiu, cong queo, xấu xí đến nao lòng đang khua gót nhỏ trên đường phố vắng…

 

            CHUYÊN MỤC:  CHUYỆN XƯA ….CHUYỆN NAY

Nguyễn Đình Chú:       Nguyễn Đức Vân – Một người xứ Nghệ

Tôi muốn có hai cách viết về ba từ “Người Xứ Nghệ”. Một là viết theo lối thông thường để chỉ bất cứ ai đã sinh ra, lớn lên, có gốc gác, hoặc đã định cư lâu năm trên đất Nghệ. Còn một nữa viết hoa đặt trong ngoặc kép: “Người xứ Nghệ” thì dành riêng cho những người – dĩ nhiên cũng của xứ Nghệ – nhưng có những phẩm chất cao đẹp và đa dạng được chưng cất, được thăng hoa từ những gì là tinh tuý trong cốt cách người Nghệ đã thành truyền thống để người Nghệ tự hào và cả nước kính nể. Còn tôi thì đã chịu ơn dù là gián tiếp, vô hình hay hữu hình. Nhớ lại, ngày mới lên năm, lên sáu, bắt đầu đi học chứ Hán, tập tô mấy chữ ” Thiên tích thông minh/Thánh phù công dụng” (Trời cho thông minh/Thánh giúp nên công) thì tôi đã lần lượt được cha và một vị tú tài khoa Mậu Ngọ (1894), thầy học, thêm một anh rể tú tài, một anh rể tam trường kế cho nghe nhiều chuyện về cụ Thượng Cao (Cao Xuân Dục), cụ Tế Nho Lâm (Đặng Văn Thuỵ) đều quê Diễn Châu; cụ Thám Giao (Nguyễn Văn Giao) (Phan Bội Châu) đều quê Nam Đàn; cụ Sơn (Nguyễn Thức Tự) (1), cụ Tuần Đinh (Đinh Văn Chấp), cụ Nghè Nhu (Nguyễn Huy Nhu), ông Nguyễn Cảnh Đậu, đều quê Nghi Lộc… Lên 10 tuổi đi học trường Pháp – Việt, tôi lại được các thầy giáo kể cho nghe chuyện về các tên tuổi thời Tây học như Cao Xuân Huy, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Nguyễn Đức Bính, Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Lê Thiệu Huy… Đúng là những “người xứ Nghệ” này ít nhiều đã trở thành môi trường tâm thức, đã ám ảnh tôi, dìu tôi đi từ tuổi thơi và cho cả đến nay, đã ở tuổi bát tuần. Quý vị đã gây cho tôi nỗi thèm khát, chỉ mong sao được đôi chút như quý vị. Và đến đây, nhìn lại cuộc đời của mình, tự thấy phần nào không đến nỗi phải xấu hổ lắm với tổ tiên, với quê hương, với quý vị là nhờ có chút thèm khát đó từ thủa ấu thơ. Rồi cũng từ vốn tâm thức quý báu này, tôi đã thích thú đón đọc mục Người Xứ Nghệsách Người Xứ Nghệ của Tạp chí Văn hoá Nghệ An mà chính tôi cũng đã có đôi chút góp phần. Và hôm nay, tôi lại xin tiếp tục với một nhân vật, không ai khác, chính là nhạc phụ của tôi. Mọng được bạn đọc không cho là cha hát con khen, mặc dù tôi vẫn nghĩ: con không khen cha thì khen ai. dĩ nhiên phải là ra cha. Xin nói ngay, nhạc phụ của tôi không là giáo sư, tiến sĩ, kể cả cử nhân, tú tài gì cả. Chỉ là người nghỉ hưu, cán sự ba. Nhưng trong nhận thức, trong ấn tượng của tôi Cụ đáng được coi là một “người xứ Nghệ” viết hoa, đặt trong ngoặc kép, như tôi từng quan niệm, cảm phục, chịu ơn. Còn ở mức độ nào thì tuỳ công luận.

Cụ tên là Nguyễn Đức Vân, sinh năm 1900, mất năm 1974. Quê làng Cẩm Trường, nay là xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc. Xuất thân dòng họ Nguyễn Đức là một dòng họ nổi tiếng có truyền thống yêu nước, hiếu học, có nhiều khoa bảng cả trước lẫn nay, đặc biệt là rất giàu năng khiếu văn chương (2). Ông nội là Nguyễn Đức Tân, đậu cử nhân, làm quan chức Hàn Tẩu, từng tích cực hưởng ứng Cần Vương, có công lao lớn với dân làng, được dân làng lập đền thờ sống (sinh từ). Cha là Nguyễn Đức Công (tự Hoàng Trọng Mậu) có tài “văn chương trác lạc” (Lời khen của Phan Bội Châu), từng đậu đầu xứ (do đó có tên là Đầu Xứ Công), nhưng đã bỏ chốn khoa trường, dấn thân cứu nước, trở thành một nhà cách mạng rạng danh trong phong trào Đông du, Việt Nam Quang Phục Hội, được vua Duy Tân trong khi âm mưu khởi nghĩa mật phong Tổng Tư Lệnh nghĩa quân. Bị thực dân Anh bắt giao cho thực dân Pháp đem về nước kết án xử bắn cùng một lúc và chôn chung một hố với người đống hương, đống chí là Nguyễn Thức Đường (tức Trần Hữu Lực). Đã để lại bài thơ Cảm tác và câu đối tuyệt mệnh vào loại hay nhất trong văn chương yêu nước Việt Nam cổ kim:

Từ biệt quê nhà chẳng nhớ năm

Ngổn ngang tâm sự rối tơ tằm

Đoái trông Kiếm Nhị (3) buồn tanh sắc,

Mơ tưởng Hồng Lam (4) lạnh ngắt tăm.

Chết quách đã đành không đất sạch,

Sống về cũng chỉ một trời căm.

Đêm đêm mộng hoá thành thân cuốc,

Ngậm máu đi về khóc cõi Nam

(Cảm Tác – Nguyên văn chứ Hán)

“ái quốc hà cô, duy hữu tinh thần lưu bất tử

Xuất sự vị tiệp, thả tương tâm sự ký lai sinh”

(Yêu nước tội gì? duy có tinh thần là chẳng chết

Ra quân chưa thắng, xin đem tâm sự gửi mai sau)

Cụ Nguyễn Đức Công có bốn con trai. Nguyễn Đức Vân là con thứ hai. Thủa nhỏ, Nguyễn Đức Vân học chữ Hán và trường tiểu học. Nhưng rồi gặp gia cảnh: cha bỏ nhà đi cứu nước và bị bắn, mẹ bị bắt giam, anh trai cũng qua đời trong phong trào Đội Quyên – Đội Phấn, gia sản bị tịch thu lần này lượt khác, nên phải nghỉ học, ở nhà làm ruộng, nhường phần học cho em út. Làm ruộng và tự học Hán văn, Pháp văn. Riêng Pháp văn, đã thuộc trầm Từ điển Pháp – Việt của Trương Vĩnh Ký và về sau đã có lúc viết báo tiếng Pháp ít nhiều. Nguyễn Đức Vân là người có trí nhớ cao vào loại hiếm. Năm 1925, lãnh tụ cách mạng Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt về giam lỏng ở Huế sau khi định thủ tiêu kín không xong, kết án chung thân cũng không xong, Nguyễn Đức Vân với tinh thần “cừu gia tử đệ” (con em gia đình có thù với giặc) đã vào sống hầu Cụ Phan một thời gian ở Bến Ngự (5) – Khoảng 1937, cùng hai em trai: Nguyễn Đức Tịnh (6) từng là Bí thư Tỉnh uỷ Thanh niên cách mạng đồng chí hội của Thừa Thiên – Huế (1926) sau 7 năm đi tù về và em út là Nguyễn Đức Bính (7) từng tham gia đảng Tân Việt, ra Hà Nội làm báo Thời Vụ cùng Ngô Tất Tố. Năm 1944, phong trào Việt Minh phát triển vào đất Nghệ, Nguyễn Đức Vân cùng Nguyễn Đức Tịnh đều có mặt trong phong trào. Do đó, cách mạng tháng Tám 1945 thành công, em là Tỉnh uỷ viên kiêm Uỷ viên Uỷ ban nhân dân tỉnh. Còn anh là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Phúc Lộc bấy giờ còn bao gồm 4 xa Nghi Trung, Nghi Liên, Nghi Diên, Nghi Vạn của huyện Nghi Lộc hiện nay. Sau vài năm lại được điều lên làm Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính huyện Nghi Lộc, đến cuối năm 1959 thì chuyển ra công tác tại bộ phận Hán Nôm của Ban Cổ, Cận thuộc Viện Văn học vừa được thành lập. Năm 1965, nghỉ hưu. Lý lịch trích ngang của nhạc phụ tôi khiêm nhường là vậy. Tại tổ Hán Nôm của Viện Văn học, bên cạnh những vị đại khoa, cụ Nghè Triển, các phó bảng: Phan Võ, Hà Văn Mạo và các học giả là những ông trùm văn hoá như Cao Xuân Huy, Đặng Thai Mai, nhạc phụ tôi luôn nhận là người thiểu học, khiếm học. Nhưng thực tế, nếu tôi không lầm thì cụ lại là người có thành tích sưu tầm, dịch thuật Hán Nôm nhiều nhất. Bấy giờ, có nhóm dịch thuật Hồng Lâu Mộng do cụ phó bảng Bùi Kỷ làm trưởng nhóm, nhưng vừa khởi công chút ít thì cụ Bùi Kỷ qua đời. Công việc do đó gặp khó khăn bởi các vị khoa bảng tham gia dịch thuật tuy là bậc thầy về kinh truyện, nhưng lại không mấy thông thạo ngoại thư (8), nhất là với ngôn ngữ của tiểu thuyết đồ sộ Hồng Lâu Mộng. Cụ Vân đã hầu đỡ các cụ trong việc khắc phục khó khăn ngoài phần dịch riêng của mình. Khi đem in, nhà xuất bản có ý định ghi tên cụ Vân là người hiệu đính. Nhưng Cụ nhất định từ chối với lời lẽ: tôi chỉ là phận học trò các cụ, đâu dám, làm thế là hỗn. Cụ Vân đã cùng cùng Nguyễn Khắc Hạnh dịch Kim vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, cùng ông Kiều Thu Hoạch dịch Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô Gia Văn Phái. Ngoài ra, Cụ đã dịch Tuỳ Viên Thi Thoại của Viên Mai, Dân ca Trung Quốc, Trung Quốc Tư Tưởng Sử của Dương Vinh Quốc, Vân Nang Tiểu Sử của Phạm Đình Dục, Quốc Triều Đình Đối Sách, Cấn Trai Thi Tập của Trịnh Hoài Đức, Thơ văn Nguyễn Trung Ngạn, Thơ văn Tự Đức, Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn… có loại đã in, có loại chưa in. Cùng cụ Nguyễn Sĩ Lâm và ông Nguyễn Văn Hoàn chú giải Truyện Kiều. Phương Lựu (tức GS.TSKT Bùi Văn Ba) trong sách “Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam” đã khẳng định vai trò của Cụ Vân là người “dẫn đầu” việc sưu tầm, dịch thuật, giới thiệu quan niệm văn chương của Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Địch Cát, Lý Văn Phức, Phan Thanh Giản, Nhữ Bã Sĩ, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Vũ Phạm Khải, Nguyễn Miên Thẩm, Phạm Phú Thứ, Bùi Văn Dị, Ngô Dưỡng Hạo, Lê Hữu Kiều, Lý Tử Tấn, Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Vịnh…

Riêng đối với thơ văn Lý Trần thì quả thật nhạc phụ Nguyễn Đức Vân của tôi đã có vai trò chủ công mà bạn đọc hôm nay dễ thường không biết. Bộ sách thơ văn Lý Trần do Nhà xuất bản Khoa học xã hội in ấn, phát hành hiện đã có ba tập với khổ trang lớn. Tập I dày 631 trang trong đó có 136 đơn vị văn bản được sưu tầm dịch thuật. Tập II (Quyển thượng) dày 968 trang, trong đó có 363 đơn vị văn bản được sưu tầm, dịch thuật. Tập III dày 822 trang trong đó có 415 đơn vị tác phẩm được sưu tầm, dịch thuật. “lời nói đầu” bộ sách Thơ Văn Lý Trần – tập I, xuất bản năm 1977 đã ghi rõ:

“Hơn 10 năm qua, kể từ sau ngày thành lập, Viện Văn học đã để ý, tìm hiểu văn học của thời đại Lý Trần, năm 1960, tổ Hán Nôm của Viện được giao nhiệm vụ sưu tập và phiên dịch ra tiếng Việt toàn bộ thơ văn từ đời Hồ trở về trước trong các sách vở chữ Hán còn lưu trữ tại các thư viện và trong một số tài liệu bi ký còn nằm rải rác ở các đình chùa trên miền bắc. Các đồng chí Nguyễn Đức Vân, Đào Phương Bình, cán bộ trong tổ đã trực tiếp tiến hành công việc đó. Nhờ nỗ lực tìm tòi, nghiên cứu, lại có sự giúp đỡ tận tình của những anh em khác trong tổ, nên công việc đã tiến hành tương đối thuận lợi, mỗi năm, khối lượng thơ văn tập hợp được ngày một phong phú dần. Đến năm 1965 việc sưu tầm cũng như việc phiên dịch bước đầu đã hoàn thành”.

Vậy mà trong bộ sách đồ sộ 3 tập, dày 2421 trang in khổ lớn, bao gồm 914 đơn vị văn bản này, phần cụ Vân chỉ là 034 đơn vị rưỡi trong đó tập I là 09 rưỡi trên 136, tập II (Quyển thượng) là 06 trên 363, tập III là 19 trên 415. Trong 3 tập , hai tập I và III in trước thì còn có tên cụ Vân trong nhóm biên soạn. Nhưng đến tập II (Quyển thượng) in sau vào năm 1989 (lúc này cụ Vân đã qua đời 15 năm) thì không còn tên trong nhóm biên soạn nữa.

Hiện tượng này là gĩ giữa cõi đời này? Để bạn đọc biết rõ có công bằng với cụ Vân, tôi xin nói thêm đôi điều. Trong thời gian từ 1960 đến 1965, cùng với người cộng sự của mình là bác Đào Phương Bình “hoàn thành bước đầu” việc sưu tầm cũng như việc phiên dịch ra tiếng Việt ” toàn bộ thơ văn từ đời Hồ trở về trước”, riêng về cụ Vân thì trong mấy năm đó, ngoài chuyện gắn bó với các thư viện, đặc biệt là Thư viện khoa học (vỗn là thư viện Viễn Đông bác cổ), với một chiếc xe đạp cọ cạch, đã đi hết chùa này đình khác ở nhiều nơi trên miền Bắc để sưu tầm, sao chép những gì liên quan đến thơ văn Lý Trần. Và nhiều ngày Chủ nhật, đã từ nội thành ra nhà tôi lúc này còn thuộc ngoại thành, để vừa thăm con cháu vừa tranh thủ làm việc dịch thuật. Ngày cụ nghỉ hưu, tôi hỏi thì Cụ cho biết với công trình thơ văn Lý Trần, phần cụ làm được là khoảng 600 đơn vị văn bản. Cả hai con số này cộng lại, đúng là tương ứng với mấy chữ “bước đầu đã là hoàn thành” của “Lời nói đầu” bộ sách đã dẫn ra trên đây. Trong gia đình Cụ chúng tôi, con trai trưởng là nhà văn Nguyễn Đức Đàn (nay đã quá cố), từng là Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật, Hiệu trưởng trường viết văn Nguyễn Du của Hội Nhà văn Việt nam, một nhà nghiên cứu văn học Việt Nam và thế giới có nhiều thành tựu, “một nhà văn hoá xuất sắc” (lời của nguyên Bộ trưởng Bộ Văn hoá – Thông tin Nguyễn Khoa Điềm ghi trong sổ tay), là thành viên từ ngày đầu thành lập Viện Văn học, từng là Bí thư chi bộ của Viện Văn học; con trai út là nhà thơ Anh Ngọc, từng giúp cha chữa chính tả trong nhiều bản dịch chữ Hán (10); và tôi con rể , vốn găn bó gần một đời với văn học trung cận đại Việt Nam trong đó có Hán Nôm…) chúng tôi không phải không biết những gì đã xẩy ra với người thân của mình chung quanh công trình văn thơ Lý trần. Nhưng nghĩ đến ông Cụ là người hiền lành, độ lượng đến mức suốt đời chưa biết nói năng với ai                         là gì, kể cả với con cháu trong nhà, nên chúng tôi chỉ nhếch mép cười và nói vui với nhau: trò đời là thế, và người xưa chẳng đã nói chuyện “Vua nước Sở mất cung, người nước Sở được” đó sao! Riêng tôi, còn có sự ám ảnh lời sách Nho mà thân phụ tôi từng truyền dạy cho từ thủa lên năm lên sáu: ” lấy ân báo oán” kể cả câu châm ngôn của người Pháp mà nhà trường Pháp Việt cùng truyền dạy: “Rendre le bien powr le mal” (lấy cái tôi đổi lại với cái xấu). Dĩ nhiên, trong chuyện này, tôi đã bị một vài bạn biết chuyện khuyên không nghe đã chê trách, thậm chí còn mằng là hèn, là nhu nhược, không giám đấu tranh. Biết vậy, nhưng đến nay, vẫn chưa làm được.

Cuối cùng, tôi lại một lần nữa muốn nói rằng: nhạc phụ của tôi – cụ Nguyễn Đức Vân – chẳng có chức danh gì. Chỉ là một cán sự bậc ba nghỉ hưu. Còn phải mấy chục năm nữa mới qua bậc 4, bậc 5, bậc 6, chuyên viên 1,2,3… để may gì sánh được ai đó. Tuy thế, đương thời, khi Cụ tôi còn là cán bộ của Viện Văn học thì chính Viện trưởng – Học giả Đặng Thai Mai, sư phụ của tôi, đã nói với tôi: “Ông Vân của chú là người trung hậu, làm việc nghiêm túc và giỏi”. Còn học giả Cao Xuân Huy (hồi ở cùng nhà với tôi) thì cũng hai lần nói với tôi: “anh có một nhạc phụ tuyệt vời”. Chẳng bằng cấp gì cả mà xem ra cử tú cũng khó bằng”. Tiếp nữa, sau này Cụ tôi qua đời, sách Văn hoá tổng hợp do tướng Trần Độ lúc này là Trưởng ban Văn hoá văn nghệ Trung ương làm chủ biên xuất bản năm 1989, tập I sách Tác gia Nghệ Tĩnh, nhà xuất bản Nghệ Tĩnh – 1990 đều viết về nhà Hán học Nguyễn Đức Vân. Đài truyền hình Hà Nội ngày 24/7/1995 ở mục “Ngày này năm xưa” cũng nói đến ngày mất của “nhà Hán học Nguyễn Đức Vân”. Gần đây nhất, năm 2003, Đài truyền hình Việt Nam cũng dựng phim chân dung “Dịch giả Nguyễn Đức Vân” khá đầy đặn.

Thì ra cuộc đời vẫn có luật bù trừ!

Riêng tôi thì trước sau, còn muốn được xếp nhạc phục của mình vào danh sách “Người xứ Nghệ” viết hoa, đặt trong ngoặc kép. Bởi cái rốn của Cụ tôi vẫn để lại trên đất Nghệ – Bởi Cụ là một học trò trong những học trò xứ Nghệ đã có quyết tâm vượt nghèo, vượt khó, say mê tự học để trở thành một người có ích cho đời. Bởi cụ là một bậc chân Nho trong những bậc chân Nho của xứ Nghệ. Tôi còn muốn nói Cụ là một người quân tử trong những người quân tử của xứ Nghệ. Đã hơn một lần, tôi viết đây đó rằng: đời tôi có một hạnh phúc lớn là có hai người cha: thân phụ và nhạc phụ có nhân cách tuyệt trần đã dắt tôi đi giữa cõi hồng trần. Riêng với vị nhạc phụ tôi đã thay mặt con cháu trong gia đình viết đôi câu đối bằng chứ Hán khắc vào bia đá tại mộ Cụ số 10 khu D10 thuộc nghĩa trang Yên Kỳ – Bát Bạt – Hà Tây là:

Đạo đức thanh cao tôn tử niệm

Văn chương uyên bác thế nhân tôn

(Tạm dịch: Đạo đức thanh cao con cháu nhớ, Văn chương uyên bác mọi người tôn UU). Và nữa, những dòng chữ giữa xuân Mậu Tý (2008) này xin được coi là nén nhang thơm dâng lên vị nhạc phụ trăm quý ngàn yêu trong tiết thanh minh.

 

(1) Cha tôi (1866 – 1954) là học trò cụ Sơn và sau đó lại thông gia với Cụ. Chị cả tôi là con dâu Cụ, chị út tôi là cháu dâu (nội) Cụ. Hai chị là con mẹ cả của tôi.

(2) Xem: Văn thơ họ Nguyễn Đức – NXB Văn hoá Thông tin 2000

(3) Hồ Hoàn Kiến, Sông Nhị Hà: biểu tượng của Thăng Long – Hà Nôi.

(4) Hồng Lam: Núi Hồng Lĩnh, Sông Lam: biểu tưởng của Xứ Nghệ, quê hương của tác giả.

(5) Xem: Ông già Bến Ngự. NXB Thuận Hoá – 1987.

(6) Nguyễn Đức Tịnh là tác giả của sách Lão Tử (nhờ Ngô Tất Tố của đứng tên) và sách Luận Lý. Cũng thuộc loại trầm Tự điển Pháp Việt của Trương Vĩnh Kỹ. Sau cách mạng tháng Tám, là chiến sỹ thi đua toàn quốc I (1951).

(7) Nguyễn Đức Bính: Một nhà giáo, một nhà báo nổi tiếng và có tài văn chường. Có sách văn học sử liệt ông vào hàng những người viết tiếng Pháp hay nhất Đông Dương thời Pháp thuộc.

(8) Ngoại thư: thuật ngữ chỉ loại văn chương ngoài kinh điển Nho gia như văn tiểu thuyết, văn báo chí.

(10) Cụ Vân quê Nghi Lộc – Nghệ An – là nơi ” cà có đuôi cà có cuống”, phát âm không phân biệt “sắc”, “hỏi” và “ngã”, “nặng”

         

            CHUYÊN MỤC:

         SƯU TẦM NGỮ NGHĨA TIÊNG VIÊT

BQM.-

 

1.- Chữ  trong hai câu chữ Nôm thứ 47- 48 của truyện Kiều
Dập dìu tài tử giai nhân,

Ngựa xe như nước áo quần như nen.
đã ám ảnh rất nhiều thế hệ những nhà nghiên cứu, bởi lẽ :

-Nguyễn Du đã lấy nó để đối với chữ nước .

–                                                                 –   Diễn tả sự chen chúc

 Phiên nó là nen hoặc nên là đúng với quy luật cấu tạo chữ Nôm, nhất là vì nó gồm chữ thủ( tay gâỵ) với niên là năm, cũng như chữ nền ( chùa Nền ) được viết một bên chữ thổ với một bên chữ niên. Nhưng nghĩa nen là gì ? là chen lấn nhau chăng? Cụ Lê văn Hòe phiên là năn ( cỏ năn) có vẻ như hợp lý vì nó đối được với nước, nhưng lại không đúng cấu tạo chữ Nôm. Nếu là năn thì Nguyễn Du phải viêt một bên chữ mộc mới phải.  Còn nhiều sách khác thì phiên là nêm

BQM cho rằng ở đây Nguyễn Du muốn ta đọc là niên, là niềng ( buộc ) của vùng Nghệ Tĩnh, mà cụ đã bỏ dấu huyền đi cho hợp vận. Ta còn liên tưởng tới cây niềng hay niễng được trồng ở bờ ao, cho củ xào với thịt bò ăn rất ngon ! Niên cũng có nghĩa như nêm, như chêm vậy. Nhưng như vậy lại không đối được với chữ nước. Vậy chữ gì đây hở cụ Tố Như ?

2.- Áo quần    . Ta gặp ở đây hai chữ của Việt hay ít nhất    là của Bách Việt. Người phương Bắc không dùng hai chữ này ( xem thêm những luận cứ trong các sách của Đỗ Anh Thơ.

 

 

 

 

 

 

 

CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE

 

   Đỗ Cao Đàm ( sưu tầm)

Bất ngờ công nghệ nhuộm màu xanh non cho cốm làng Vòng

Thương hiệu cốm làng Vòng thủ đô Hà Nội vốn nổi tiếng từ lâu, đến độ chỉ cần nhắc đến cốm, người sành ăn sẽ nghĩ ngay đến làng Vòng.

Vị ngầy ngậy, thanh ngọt, thoảng hương lúa mới của nắm cốm dẹp xanh non, gói trong lá sen… đã trở thành thứ quà quen thuộc của người dân thủ đô mỗi độ thu về và với những vị khách phương xa, nó là thứ đặc sản khiến họ nao nức tìm mua.

Thế nhưng, mới đây, trong một lần dẫn người thân từ miền Nam ra thủ đô đến tận làng Vòng (quận Cầu Giấy, Hà Nội) mua cốm, phóng viên báo điện tử Giáo Dục Việt Nam không khỏi “đỏ mặt” với khách về công nghệ làm cốm thời hiện đại với công đoạn tạo màu cho cốm bằng “chất lạ” được người dân làm cốm làng Vòng thực hiện công khai, không cần giấu giếm.

Ít ai biết rằng, màu xanh bắt mắt của chỗ cốm này là do phẩm màu công nghiệp tạo thành.

Tận mắt mục sở thị việc làm cốm mới biết cốm không sạch như chúng ta thường vẫn nghĩ.

Theo đó, sau khi cốm được rang chín, xát vỏ, hạt cốm vốn chưa có màu xanh và để cốm nhanh chuyển thành màu bắt mắt, người sản xuất “vô tư” sử dụng một thứ phẩm phun lên món đặc sản này.

Tại nhiều xưởng sản xuất cốm quy mô, công đoạn nhuộm cốm được thực hiện bằng máy phun sơn để cốm được đều màu. Còn ở những cơ sở nhỏ hơn, người làm dùng…. chổi để vẩy nước phẩm màu lên cốm.

Chính vì điều này mà hiện tại, tất cả các cơ sở sản xuất cốm tại làng Vòng thường không muốn cho du khách đến thăm chụp ảnh, ghi lại những nét đẹp của một làng nghề truyền thống.

Một bà chủ cơ sở sản xuất cốm đã thẳng thắn nói rằng: “Không được chụp, chụp ảnh này lên báo thì ai người ta còn dám ăn cốm nữa”. Điều đó cho thấy, chính những người sản xuất cốm ở đây cũng biết được mình đang sử dụng những chất không có lợi cho sức khỏe để làm cốm.

Công đoạn công khai nhuộm màu cho cốm…

Không những thế, cốm còn được sản xuất ở… nền nhà nhem nhuốc bẩn thỉu, để gom cốm vương vãi trên nền đất khi giã cốm, người ta phải dùng đến… chổi để quét.

Phẩm nhuộm cốm: bán tràn lan trên phố Hàng Buồm

Cùng người thân rời làng cốm với tậm trạng khá thất vọng về làng Vòng, pv làm cuộc khảo sát trên phố Hàng Buồm… nơi được mệnh danh là con phố phụ gia của Hà Nội và thật bất ngờ, khi hỏi mua hóa chất về nhuộm màu cho cốm, các chủ cửa hàng tại đây đều đon đả giới thiệu sản phẩm.

Tại cửa hàng K.N, chị chủ cửa hàng cho biết: phẩm nhuộm để làm cốm dạng khô và tinh dầu cốm dạng nước. Tinh dầu cốm giúp cốm thơm, ngon. Những gia đình không có gạo nếp làm cốm có thể chế gạo tẻ làm cốm và ướp nước tinh dầu.

Còn đối với các loại phẩm màu để làm cốm, người bán hàng giới thiệu phẩm có màu xanh cốm, nhìn rất bắt mắt, giá bán 15 nghìn đồng/lạng. Đối với loại phẩm này, khi về dùng người làm hàng chỉ cần pha với nước và quét hoặc phun trực tiếp lên cốm. Mỗi bịch phẩm có khối lượng 1kg có thể dùng cho cả một vụ làm cốm. Mỗi lần pha chỉ cần cho vài thìa nhỏ là giúp cốm đạt màu mong muốn.

Băn khoăn về nguồn gốc của loại phẩm màu này. Người bán hàng trấn an: “Cửa hàng thường xuyên bán cho các hộ làm cốm trong Hà Nội, không chỉ làm cốm mà còn làm cả bánh cốm, bánh xu xê…, các loại bánh cần có màu xanh, bột chỉ có bột trắng, làm gì có bột nào màu xanh đâu em”.

Hóa chất nhuộm cốm thế này được bán tràn lan trên phố Hàng Buồm…

Trong khi đó, tại một cửa hàng khác trên phố Hàng Buồm, phẩm nhuộm thực phẩm màu cốm được bán với giá 450 nghìn đồng/kg. Bà chủ cửa hàng “bật mí”: “Sản phẩm này là phẩm màu thực phẩm được phép dùng nên đắt mà hiệu quả lại không cao nên ít người hỏi mua về. Chỉ khi nào có khách bà mới đặt hàng. Còn loại phẩm màu giá 15 đến 20 nghìn đồng/lạng là phẩm màu công nghiệp. Ưu điểm của phẩm màu công nghiệp vừa rẻ, hiệu quả lại cao. Nếu dùng phẩm màu thực phẩm thì 1 lạng phẩm màu chỉ nhuộm được khoảng 6-8 kg cốm, bánh cũng tương tự. Giá thành cao nên nhiều người không mặn mà”.

Trao đổi với PGS, TS Nguyễn Duy Thịnh (Viện công nghệ thực phẩm – Đại học Bách Khoa Hà Nội) về nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe nếu dùng phải phẩm màu không an toàn, PGS Thịnh lo lắng nếu phẩm màu ngoài danh mục cho phép với những dư lượng kim loại nặng tồn đọng có thể gây hậu quả di truyền, biến dị xấu về gen cho những thế hệ sau. Nếu ăn phải thực phẩm có phẩm màu công nghiệp có thể gây độc thực phẩm cấp tính, ung thư, gây tổn thương gan, thận cho người sử dụng.

Tận mắt chứng kiến cảnh tạo màu cho cốm Vòng được sản xuất tại những cơ sở sản xuất cốm ở làng Vòng, pv báo Giáo Dục Việt Nam đã  để ghi lại những hình ảnh đầy ấn tượng để cho ra lò những hạt cốm mà mọi người vẫn thường mua làm quà.

Cốm làng Vòng được sản xuất vào hai mùa lúa trong năm. Nguyên liệu của cốm chủ yếu được làm từ lúa nếp non “bánh tẻ” và màu sắc của cốm được tạo lên bởi… phẩm màu được bày bán với giá 150 nghìn đồng/1kg trên thị trường.
Phẩm màu được pha với nước lã, sau đó phun hoặc vẩy đều lên những mẻ cốm rồi để cho ráo.

 

 

Có nhà thì dùng máy phun dạng sương mù để vừa thổi trấu, vừa phun màu cho được đều.

 

 

Có nhà thì dùng…. chổi rơm để thấm màu rồi “nhuộm” cốm…

 

 

Ảnh của Nam Phong

                       

One thought on “Docago.wordpress.com số ra thứ 2 ngày 26/9/2011 tức 29 tháng 8 năm Tân Mão)

  1. Đọc bài của bác Đỗ Cao Đàm về mầu thực phẩm mỗ tôi nhận ra rằng quá khứ đã gửi vào hiện tại hàng ngàn bệnh nhân ung thư mà một phần do sử dụng mầu công nghiệp. Có điều bây giờ hiểu biết của các phóng viên có khá hơn nên mới phanh phui ra, chứ còn mấy chục năm trước có nói ra cũng chả ai nghe.
    Mỗ tôi nghe nói rằng cách đây mấy chục năm, một phái đoàn các đồng chí người Âu thăm làng nghề ở Thái Bình, chủ nhà bầy một mâm cốm đặc sản địa phương đãi khách, bánh cốm xốp mầu nâu sẫm điểm xuyết những hạt xanh lơ, hạt vàng, hạt trắng xóa rất vui mắt. Khách không ai sờ tay vào một miếng nào. Vì họ là người có nghề nhìn ra ngay đây không phải làm mầu nhuộm thực phẩm, những hạt trắng là mỡ phần.
    Ngày đó mỗ thừa biết cánh thủ công dùng thuốc nhuộm giấy để nhuộm thực phẩm, và bây giờ cũng thế. Đó là Malachite Green (xanh lá), Rhodamin (hồng, đỏ), Auramine (vàng), ghê gớm hon để có mầu nâu của nước mắm người ta xài Brown Direct BL. Vả lại một phần do cách quản lý của xã hội, người làm thủ công không thể mua được thuốc nhuộm thực phẩm vì nó đắt và không bán cho đối tượng tư nhân. Không có các công ty nhập như bây giờ.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s