Docago.wordpress.com số ra thứ 7 ngày 1/10/2011 9 (tức 05 tháng 9 năm Tân Mão)

                
CHUYÊN MỤC: VĂN HÓA ĐÔNG TÂY  
                 Đỗ Anh Thơ ( biên soạn)
          Chương 7: Aurelius Augustinus với thuyết thượng đế thống trị 
   Augustine là triết gia và nhà thần học Kitô giáo, người Bắc Phi. Tên La-tin đầy đủ
 là Aurelius Augustinus, hoặc còn gọi là  Augustinus Hipponensis, thánh Augustine.
 Augustine sinh tại Tagaste, Numidia, phía nam Hippo, nơi hiện nay thuộc Algeria. Từ đó, 
ông bắt đầu cuộc sống phấn đấu của một triết gia hành giả, rồi trở thành vị giáo phụ vĩ đại
 nhất trong bốn giáo phụ La-tin của Kitô giáo và để lại ảnh hưởng lớn lao trong triết học
phương Tây cùng thần học Kitô giáo. Ông đươc mẹ là một tín đồ Kitô giáo dưỡng, nhưng chàng thanh niên Augustine từ bỏ tập quán tín hữu ấy khi sang Carthage du học. Ở đó, ông tinh thông khoa hùng biện. Trong cuốn Confessions (Tự thú), ông kể lại, bằng giọng ăn năn, quãng thời gian tuổi trẻ hoang dại tại Carthage với kết quả có với tình nhân một đứa con trai tên là Adeonatus. Vào một thời điểm 
 
Tranh Augustine ở nhà thờ Lateran thế kỷ thứ 6	 
 Cuộc đối thoại  Augustine (Gozzoli, tk15	 
Lễ rửa tội cho Augustine  (Gozzoli, tk15 	 
Augustine tranh của Simone Martini

nào đó ông cải giáo sang Manichea— thường gọi là đạo Mani, một hệ thống tôn giáo khá
 thịnh hành từ thế kỷ 3 tới thế kỷ 5, chủ trương Satan, cái ác hoặc bóng tối ở trong tình
 trạng xung khắc thường trực và bất tận với Thượng đế, cái thiện hoặc ánh sáng.                                    
         Sau năm 376, Augustine bỏ đi La Mã, dạy khoa hùng biện, rất thành công. Tới năm
 384, các tín đồ Mani thúc giục ông sang Milan dạy học. Milan là khoảng thời gian then
 chốt của đời ông. Không còn tín nhiệm giáo phái Mani, ông tuyên bố từ bỏ đạo ấy sau khi
 nghiên cứu triết học Plato, thuyết tân Plato và thuyết hoài nghi. Khủng hoảng tâm linh,
 Augustine bị lôi cuốn mãnh liệt bởi nhiệt tình hùng biện của thánh Ambrose, giám mục Milan.
Kết thúc hai năm sống với tâm trạng hoài nghi sâu xa và rối rắm tinh thần, Augustine đột 
nhiên đi theo Kitô giáo. Ông làm lễ nhập đạo vào dịp lễ Phục sinh năm 387. Sau đó chẳng
 bao lâu, ông quay về Tagaste, sống đời tu viện với một nhóm bạn. Năm 391, trong khi thăm
 viếng Hippo, ông được chọn — ngoài ý muốn của mình — làm linh mục của hội thánh Kitô ở đó.
 Suốt phần đời còn lại, ông sống ở Hippo, làm giám mục phụ tá năm 395 rồi không lâu sau, 
làm giám mục. Ông qua đời khi thành Hippo bị quân Vandal bao vây.
           Ảnh hưởng của Augustine lên Kitô giáo được nhiều người đánh giá là chỉ đứng
 sau Phaolô, vị tông đồ thời lập đạo. Các nhà thần học, cả giáo hội Công giáo, Chính 
thống giáo lẫn Tin Lành đều xem ông là người thành lập thần học. Cuốn Confessions (Tự thú,
 ra đời khoảng năm 400) được xem là kinh điển của chủ nghĩa thần bí Kitô giáo. Tác phẩm
 này, nguồn thông tin chính về cuộc đời của Augustine, là một biện hộ cho việc tác giả 
cải sang Kitô giáo, và được viết với giọng văn tuyệt vời. 
 
Tranh:: Augustinus đang giảng giáo lý 
              Tác phẩm nổi tiếng kế đó là City of God (Thành đô của Thiên Chúa, sau
 năm 412), một chống trả lớn lao của Kitô giáo trước những lời phê bình nó là tà giáo,
 đặc biệt nổi tiếng vì quan điểm Kitô giáo được tác giả trau chuốt tỉ mỉ xuyên suốt 
từng trang sách. Trong đó, Augustine đánh giá toàn bộ lịch sử như một chuẩn bị có tính
 quan phòng của Thiên Chúa cho hai thành đô bí nhiệm, một của Thiên Chúa và một của quỉ 
dữ; và toàn thể nhân loại sẽ tối hậu thuộc về thành đô này hoặc thành đô kia. Và cái ác 
là do bởi sự thiếu cái thiện.
 
Tranh: Augustinus đang đọc sách
     Tác phẩm đơn thuần giáo điều và vĩ đại nhất của ông là On the Trinity (Bàn về Chúa
 Ba Ngôi), một hệ thống hóa học thuyết Kitô giáo, nhưng phần lớn văn bản ấy có xuất xứ 
từ các bài luận chiến của ông. Các tác phẩm chống giáo phái Mani, đặc biệt Against 
Faustus (Chống Faustus), vị thầy Mani cũ của ông, là quan trọng vì nó chiếu rọi lên tôn
 giáo ấy. Ðể chống giáo phái Donatus ỏ Bắc Phi chủ thương thanh khiết và tái thanh tẩy,
 Augustine viết hai tác phẩm On Baptism (Bàn về phép rửa tội) và On the Correction of
 the Donatists (Bàn về sự sửa chữa của người Donatus) trong đó ông công thức hóa một ý
 tưởng mà kể từ đó, nó trở nên thành phần của học thuyết của Kitô giáo, cho rằng thẩm 
quyền của Giáo hội Công giáo là một bảo đảm cho Ðức tin Kitô do bởi tính chất chắc chắn
 của tông truyền — được truyền thừa trực tiếp từ mười hai Tông đồ của Ðức Kitô, đặc biệt
 Phêrô, giám mục La Mã đầu tiên. 
               Cuộc tranh luận ngoạn mục nhất mà Augustine can dự là trận đánh chống lại
 giáo phái Pelagion. Người Pelagion phủ định tội tổ tông và cuộc sa ngã của con người. Quan 
điểm ấy có hàm ý rằng ân sủng của Thiên Chúa không nhất thiết là bước tiên khởi để hướng 
tới sự cứu độ, và như thế, nó kích động Augustine, kẻ cho rằng loài người bị hư hoại và 
không có khả năng tự lo liệu. Trong cuộc luận chiến này, ông viết nhiều luận văn, và sau đó,
 tiếp tục trau chuốt các ý tưởng ấy.
                 Từ các văn bản của Augustine, cuộc tranh luận vĩ đại về ân sủng cứ thế tiếp
 diễn. Và những người tự cho mình đi theo đúng con đường của Augustine, như nhà cải cách 
Thệ phản người Pháp John Calvin (1509-1564) và những người theo giáo phái Hà Lan Cornelius 
Jansen (1585-1638) triển khai thành các thần học có tính tiền định. Dù vẫn tôn kính Augustine, nhiều nhà thần học không chịu chấp nhận những phát biểu quá cực đoan của ông về ân sủng.
                   Một trong các luận văn quan trọng của Augustine, On the Work of Monks 
(Về công việc của tu sĩ) được dùng rộng rãi trong các tu viện. Ông cũng soạn các tác phẩm
 bình giải Kinh thánh. Một trong những luận văn đáng quan tâm nhất của ông, được gọi là
 Retractions (Xóa bỏ), được biên soạn thời cuối đời, như một cách thức duyệt xét các tác
 phẩm và các quan điểm của mình. Augustine là bậc thầy về bút pháp, các bức thư của ông nhiều về số lượng, rất cởi mở và bộc trực. Ngày nay, mỗi khi các Hội thánh Kitô giáo gặp tranh luận hay khủng hoảng về thần học, người ta có thói quen tìm về các tác phẩm của Augustine và của các giáo phụ thời sơ khai ấy, để tham chiếu cùng tìm sự soi sáng.
 

Giáo lý của Augustinus chi phối tới 1000 năm của cơ đốc giáo



 


       Chương 8.-  Thuyết tồn tại của thượng đế và học thuyết nhà nước của Thomas Aquinas

 

      Thomas Aquinas  là khuôn mặt vĩ đại nhất của triết học kinh viện và nhà thần học 
người Ý. Cũng được gọi là Tiến sĩ Thiên thần (Doctor Angelicus).
            Sinh tại Rocca Secca, gần Naples, trong một gia đình quan quyền, Aquinas theo 
học các thầy dòng Bênêdictô (Biển Ðức) tại Monte Cassino rồi Ðại học Naples. Sau đó, cưỡng
 lại quyết định của gia đình, ông vào dòng Ðôminicô (Ða Minh), làm tu sĩ khất thực (1244).
 Ông bị các anh em bắt cóc và giam trong một lâu đài của cha mẹ hơn một năm. Cuối cùng,
 thoát ra được, ông đi Cologne và trở thành môn sinh của Albertus Magnus. Năm 1248, ông 
cùng thầy đi Cologne, rồi từ đó đi Paris lần nữa và nổi tiếng, trở thành giáo sư thần học
 rất thành công tại Anagni, Orieto, Rome và Vitenbo.
                 Aquinas xuất hiện khi giới thế tục tìm cách giới hạn đặc quyền của giới 
tu sĩ tại các đại học. Sau năm 1259, ông trải qua vài năm ở Ý, làm giáo sư và cố vấn cho 
Tòa thánh Vatican. Việc ông quay lại Paris có lẽ do gấp rút vì nổi giận với Siger De 
Brabant và bài đọc của học giả ấy trình bày quan điểm của triết gia Hồi giáo Tây Ban Nha
 Averroës về Aristotle. Cuộc chiến đấu học thuyết với Siger là biến cố đáng nhớ nhất trong 
đời Aquinas; chiến thắng ấy có nghĩa rằng lập trường của ông đã khải hoàn.
                        Năm 1272, Thomas Aquinas rời Paris đi Naples để tổ chức một viện
 nghiên cứu. Hai năm sau, đang cùng với người bạn lâu năm, Sư huynh Reginald ở Fossanuova,
 trên đường đi dự Công đồng Lyons với tư cách cố vấn cho giáo hoàng, Aquinas qua đời, hưởng 
thọ 49 tuổi.
 
                           Aquinas đang giảng thuyết thượng đế
            Nhân đây, tưởng cũng nên nói đôi chút về vị triết gia Hồi giáo Averroës. Tên 
A Rập của ông là Ibn Rushd (1126-1198), người nổi tiếng nhất trong các triết gia Hồi giáo
 thời trung cổ, còn Averroës là tên gọi theo hình thức La-tin. Là quan tòa và bác sĩ ở 
Córdoba, Seville, nơi ông chào đời, ông sang sống một thời gian tại Marocco, Bắc Phi. Ở đó,
 ông làm bác sĩ ngự y cho vua Hồi Abu Yusuf nhưng rồi bị trục xuất về Tây Ban Nha vì tình 
nghi dị giáo. Sau đó, ông được phục hồi và quay lại sống ở Marrakesh cho tới ngày qua đời. 
                 Tác phẩm vĩ đại nhất của Averroës là Commentaries on Aristotle (Bình luận
 Aristotle). Những thông giải của ông về Aristotle vẫn ảnh hưởng lâu dài sau khi ông qua 
đời và trở thành vấn đề suy tưởng lý tính, góp phần dọn đường cho thời Phục hưng. Ông nỗ 
lực đặt ranh giới tương ứng cho từng lãnh vực đức tin và lí trí, chỉ ra rằng cả hai không 

cần phải hòa giải vì chúng chẳng xung khắc nhau. Averroës tuyên bố triết học là hình thức 
thẩm tra cao nhất. Siêu hình học của ông mang sắc thái tân Plato chủ nghĩa, giống y như 
Avempace, người ông mang nợ trong các ý tưởng về trí thức. 
             Các học thuyết của Averroës về sự bất tử của cá nhân và sự hằng cửu của
 vật chất bị Giáo hội Công giáo lên án. Thomas Aquinas tôn trọng Averroës nhưng tấn công
 cuộc phấn đấu của Averroës khi vị triết gia Hồi giáo người Tây Ban Nha ấy cho rằng chân 
lý triết học bắt nguồn từ lý trí chứ không từ đức tin. Hầu hết tác phẩm của Averroës được
 châu Âu biết tới qua bản dịch bằng tiếng La-tin và Do Thái Híp-ri, về sau có ảnh hưởng lên
 các nhà văn Do Thái giáo, Kitô giáo và cung cấp một tổng hợp từng phần cho hai truyền thống 
triết học A Rập và Hi Lạp.
               Khác với bản tính lầm lì và phong thái chậm chạp, Thomas Aquinas là người
 diễn giảng xuất sắc, rõ ràng với những tư tưởng bén nhạy, như các tác phẩm của ông cho 
thấy, với lối lý luận khúc chiết và sử dụng tiếng La-tin giản dị, chính xác đáng phục. Càng
 khiêm tốn và đức hạnh, ông càng chứng tỏ một cuộc sống tâm linh phong phú và lòng mộ đạo
 sâu xa. Không một tác phẩm nào vén lộ đầy đủ triết học Aquinas. Có thể xếp loại công trình
 trước tác suốt 20 năm của ông theo hình thức và chủ đích của từng tác phẩm.
                      Những cuốn chính là Commentary in the Sentences (Bình luận về các câu,
 1254-1256), tác phẩm vĩ đại và sớm sủa nhất gồm một tập hợp các bài giảng cho công chúng;
 bảy quaestiones disputatae (các vấn đề tranh luận công khai, 1256-1271); những bình luận 
triết học về các tác phẩm của Aristotle như Mỹ học, Siêu hình học, Loài vật, Vật lý học; 
một phần của De interpretatione (Về thông giải), và Posterior Analytics (Phân tích về sau); 
các luận văn về nhiều chủ đề trong đó có Summa theologica contra Gentiles (Tổng luận thần
 học chống người ngoài Công giáo, 1258- 1260), cũng là Summa philosophica (Tổng luận
 triết học); và cuốn quan trọng hơn hết là Summa theologica (Tổng luận thần học, 1267-1273),
 tác phẩm trình bày thần học có tính hệ thống nhưng chưa hoàn tất. Hơn 600 năm sau, năm 1879,
 Giáo hoàng Leo XIII, trong Thông điệp Aetterni Patris, chính thức tuyên bố triết học của
 Aquinas là triết học Kitô giáo.
            Triết học Aquinas được công khai thừa nhận là mang bản sắc Aristotle với 
những phương pháp và những phân biệt của người Hi Lạp được thích nghi theo với mạc khải.
 Thế kỷ 13 là thời kỳ chủ chốt trong tư tưởng Kitô giáo, bị xâu xé giữa những tuyên bố của 
người theo phái Averroës và những người cực đoan theo Augustine. Aquinas chống đối cả hai
 trường phái ấy. Người theo Averroës do Siger de Brabant lãnh đạo, tách riêng đức tin và
 chân lý một cách tuyệt đối, còn người theo Augustine muốn biến chân lý thành vấn đề đức 
tin.
                Aquinas cho rằng lý trí và đức tin lập thành hai cảnh giới hòa điệu trong
 đó các chân lý của đức tin bổ sung cho chân lý của lí trí; cả hai đều là tặng phẩm của
 Thượng đế, nhưng lí trí có sự tự quản của chính nó. Như thế, ông biện hộ cho quyền của
 lí trí chống lại nỗi sợ hãi của những kẻ muốn trấn áp Aristotle, xem ông là tổ phụ của
 Averroës và dị giáo. Theo Aquinas, nguyên lý đệ nhất của triết học là sự khẳng định hữu
 thể. Từ quan điểm ấy, ông tiến hành cuộc xem xét thái độ trong đó trí tuệ hiểu biết hữu thể 
là gì.
                        Ðối với con người, toàn bộ tri thức bắt đầu bằng con đường giác
 quan; qua trung gian đó, hắn nắm bắt cái phổ quát, tức là thế giới chỉ có thể nhận thức 
được bằng trí tuệ. Theo lập trường được cho là duy thực chủ nghĩa vừa phải (moderate
 realism) của Aquinas, một dạng thức hoặc cái phổ quát có thể hiện hữu theo ba cách:
 trong Thượng đế, trong vạn vật và trong tâm trí. Chính qua tri thức về vạn vật mà chúng 
ta đi tới hiểu biết sự hiện hữu của Thượng đế. Trong trật tự thiên nhiên thì chỉ có thể
 biết Thượng đế bằng loại suy và phủ định. 
              Niềm xác tín của Aquinas vào việc lí trí có thể phát hiện sự hiện hữu của
 Thượng đế được chứng minh bằng các chứng cớ của ông về sự hiện hữu của Thượng đế. Phân 
tích của Aquinas về vấn đề này được tiến hành bằng các khái niệm của Aristotle về tính 
hiệu ứng và hành động, vật chất và dạng thức, hữu thể và yếu tính. Một vật đòi hỏi phải 
có vật khác mới trọn vẹn thì được cho là hiện hữu trong hiệu ứng của cái khác; sự nhận ra 
hiệu ứng ấy được gọi là thực tại.
             Vũ trụ được nhận thức như một chuỗi sự vật được sắp xếp theo trật tự
 hướng thượng hoặc hiệu ứng và hành động, trong cùng một lúc được ban thưởng và được tạo
 nên bởi Thượng đế, kẻ một mình ngài là hành động đơn thuần. Thượng đế thì bất biến vì 
biến đổi có nghĩa là đi từ hiệu ứng tới hành động. Và như thế, Thượng đế hiện hữu mà 
không có bắt đầu cũng chẳng có kết thúc, vì cả hai cái đó đòi hỏi sự biến đổi. Vật chất 
và dạng thức đều thiết yếu để am hiểu sự biến đổi, vì biến đổi đòi hỏi đồng nhất tính của
 cái trở thành và cái mà nó trở thành. Vật chất là cái đầu và dạng thức là cái sau. Mọi vật
 có tính vật lý đều được làm thành bởi vật chất và dạng thức. 

 
 
Lâu đài Monte San Giovanni Campano 
. Sự khác biệt giữa cái là dạng thức hoặc đặc tính với sự hiện hữu thật sự của nó được 
biểu hiệu bằng các thuật ngữ yếu tính và hữu thể. Chỉ ở trong Thượng đế mới có sự phân biệt 
giữa vật chất và dạng thức. Từng cặp một: 
 

vật chất và dạng thức, yếu tính và hữu thể, đều là những trùng hợp đặc biệt của hiệu ứng
 và hành động.
            Hệ thống của Aquinas dựa trên ba phân biệt đó. Hữu thể cũng có thể được đặc
 điểm hóa bằng kiểu thức (mode). Kiểu thức không thêm được gì vào ý tưởng về hữu thể 
nhưng nó là phương cách để làm rõ ràng và dứt khoát cái tiềm ẩn bên trong hữu thể. Theo
 ý nghĩa nào đó, kiểu thức có nghĩa là sự phân chia hữu thể thành các phạm trù. Theo ý nghĩa
 khác, nó phô diễn những phân biệt nhất định của hữu thể trong sự chung chia với mọi loại.
 Theo ý nghĩa này, các kiểu thức được biết như là những cái tiên nghiệm; cùng với hữu thể,
 một cách chủ yếu, những cái đó là sự hiệp nhất, chân lý và cái thiện. Những từ ngữ ấy có
 thể hoán đổi cho nhau. Vì cái đối lập của hữu thể không hiện hữu và cái thiện thì đồng 
hóa với hữu thể, nên đối với Aquinas, thật rõ ràng rằng cái ác chỉ là sự vắng mặt cái thiện.
            Suốt một thời gian dài, Aquinas bị lãng quên hoặc bị hiểu sai bởi ngay cả những 
triết gia vĩ đại nhất, nhưng cuoi cùng, những lời giảng của ông đã khải hoàn. Sự kiện chúng
 được công nhận chính thức trong Giáo hội Công giáo La Mã không có nghĩa người Công Giáo có
thể không bám sát các triết học khác, đặc biệt các lời giảng mang bản sắc Scotus, được triển
 khai từ học thuyết của Duns Scotus (k.1270-1308), người sáng lập trường phái dòng thánh
 Phanxicô và mở cuộc tranh luận sôi nổi với Thomas Aquinas. Tổng hợp tuyệt vời của Aquinas
 ngày nay được khái quát công nhận là một trong những công trình vĩ đại nhất của tư tưởng
 loài người,
                    Triết học bao quát của ông được áp dụng vào mọi cảnh giới của cuộc
 sống con người. Thuyết Thomas — Thomist, được gọi cách ấy vì lòng kính trọng thánh vị Aquinô của ông do Giáo hội Công giáo phong — là một cấu trúc toàn vẹn trong chính nó, và không đơn giản là một bộ sưu tập các lý thuyết triết học. Các thuật ngữ tân Thomas và tân kinh viện được dùng để gọi một trường phái triết học trong thế kỷ 20. Các thủ lãnh Công giáo Pháp của trường phái này là Etienne Gilson (1884-1978), sử gia triết học và nhà thần học, và Jacques Maritain (1882-1973), nhà thần học, những kẻ tìm cách áp dụng các nguyên tắc của thuyết Thomas vào các điều kiện xã hội, kinh tế và chính trị hiện đại. Người ngoài Công giáo cũng tìm cách thích nghi các nguyên tắc của thuyết Thomas vào dời sống hiện đại; họ cũng được gọi là những người tân Thomas chủ nghĩa.
(  Nguồn: Lấy từ một phần bài viết  Ba mươi triết gia phương Tây của Nguyễn Ước)
 
Tượng Thomas Aquinas.



 


                CHUYÊN MỤC THƠ VĂN

             Thơ Trần văn Kinh

                     3. Tửu tam bôi.

Mới một ly mà, mới nhấp môi,
Gió đưa hương đến, nhẹ như mời !
Hai ly đã thấy tình xuân lắm
Ly nữa, này xuân mới tuyệt vời...





                    4. Nửa chén quỳnh tương.

Có khoảnh khắc nào, em đấy chăng
Cung thương dìu dặt khúc Tầm dương(*)
Thi nhân với tiếng tơ đàn ấy
Một nỗi nhân tình giữa thế gian

Có khoảnh khắc nào, ta đấy chăng
Tầm dương dạ khúc cứ đa mang
Ngàn năm đâu phải mình ta nhỉ
Nửa chén quỳnh tương, nhấp dở dang...
-------
(*) Bến tầm dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu...
(Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị)


Hoàng Thảo
               Mưa 
- Lại mưa nữa rồi, mưa gì mưa mãi!
- Thì mùa mưa mà em!

Hình như tôi không còn là tôi. Chỉ một cái nhìn cũng khiến tôi rùng mình. Một hơi thở cũng đủ quấn chặt lấy tôi kéo lại gần anh ấy. Mọi lời anh nói dù rất khẽ cũng làm tôi đau. Ngay cả những lúc anh im lặng uống cà phê, tiếng những viên nước đá lanh canh trong lòng cốc cũng khua vào lòng tôi những nhịp đập nghẹn thở. Anh kể toàn những chuyện vui khiến tôi không thể nhịn cười. Nhưng những tiếng cười ấy cũng làm tôi ray rứt mà anh không biết. Giá như anh đừng nói gì. Chỉ cần anh ngồi im thôi cũng đủ làm tôi ấm áp. Tôi lạnh không phải vì những cơn gió đêm mang theo hơi mưa. Những tiếng cười của tôi đang làm tôi tê tái.

Bỗng dưng những lần gặp nhau bình thường ở quán cà phê lại trở thành một niềm mong mỏi, những giây phút khuấy động nhịp sống đơn điệu hàng ngày của tôi, lấp đầy một khoảng trống âm ỉ ngày càng lớn trong đời sống. Tôi bỗng sợ ngày mai, khi anh ra đi, những ngày cũ sẽ lập lại, dài hơn, chậm hơn, trống vắng hơn. Tôi ngồi với anh đã hơn 3 giờ đồng hồ mà anh vẫn không nói điều tôi muốn được nghe. Chỉ cần một lời thôi cũng có thể làm tôi sung sướng thao thức suốt đêm để mơ mộng, để tưởng tượng về cả phần đời còn lại. Có lẽ anh biết điều tôi thầm mong muốn và cố tình đùa cợt tôi chăng?

- Mới tạnh một chút trời lại mưa nữa. Mưa hoài, anh nhỉ?
- Ừ, trời mưa thế này thì đành ngồi tán gẫu cho qua thời gian chứ biết làm gì!

Tôi không muốn biện hộ. Sự thành thật của những rung cảm sẽ làm chứng cho tôi. Em cười rất
 tươi theo những câu chuyện bông đùa của tôi nhưng em không biết tôi đang chết héo trong 
cảm xúc của mình. Những câu chuyện linh tinh ấy là cái phao cuối cùng để tôi bám víu vào 
thực tại. Ngày mai tôi đi rồi. Có nên không để lại một niềm lưu luyến và bao tiếc nuối? 
Em đâu biết rằng tôi muốn vứt bỏ hết màn kịch tôi đang độc diễn để có thể nói lên một lời
 thành thật duy nhất, rất thiết tha, và rất quen thuộc, như đã bao lần tôi đã thốt lên với
 những người con gái đi qua hay ở lại trong đời mình.

Tôi không muốn những cảm xúc vừa êm ái vừa đau đớn này tan biến. Cái cảm xúc khi tim 
chợt sai nhịp đập, khi tâm trí bỗng nhiên mộng du, khi mỗi ánh mắt chạm vào đâu cũng biến
 nơi đó thành vàng ngọc quý giá. Chỉ có sự từng trải của một người đàn ông mới giúp tôi giữ
 được vẻ bình thản cần thiết. Và sự lo sợ nữa! Tôi sợ rằng nếu tôi không đủ tỉnh táo thì 
những giây phút đẹp đẻ này sẽ vỡ tan và trở thành nỗi ân hận khôn nguôi như những mối tình 
đã trót đánh mất. Những mối tình luôn là mối tình đầu.

- Vậy là ngày mai anh đi? 
- Ừ, ngày mai anh đi. 

Sao anh không hiểu rằng em đang chờ chỉ mỗi một lời ấy? Em bồng bột ư? Có thể. Nhưng em 
đang sống thực với chính mình nhất trong sự bồng bột ấy, anh có biết không? Chỉ có anh mới 
có thể cuốn em vào cái dòng lũ mê đắm này. Chưa bao giờ em có cái cảm giác ấy mặc dù không 
ít người đã từng đến với em và mong mỏi ở em nỗi xao xuyến dữ dội như thế. Em đang buông trôi chính mình trong dòng thác ấy, đang chờ đợi những phiêu lưu đầy mê hoặc. Nhưng anh đã neo chặt em lại bên này bờ an toàn. Em nào cần tới sự an toàn ấy đâu anh!

Không, em tin là anh hiểu rõ em. Nhưng anh không thể cho em điều em khao khát. Điều đó
 càng làm em thêm đau, và muốn đau hơn. Cái đau đớn ấy sao mà đầy ma lực bởi vì chính sự 
hóa giải nỗi đau mới là điều kỳ diệu. Anh, chỉ có anh mới có thể cho em điều kỳ diệu ấy. 
Em không cần biết đằng sau điều kỳ diệu lấp lánh ấy những bất trắc gì đang chờ đợi. Em chỉ 
cần một lời của anh thôi cũng đủ thấy mình đã sống bằng muôn cuộc đời. Chẳng lẽ anh muốn 
chính em phải nói ra với anh những điều ấy sao anh? 

- Mình đã ăn hai tô mì và uống mấy ly nước rồi mà vẫn chưa hết mưa, anh nhỉ?
- Chắc sắp tạnh mưa rồi. Mưa đã bớt nặng hạt. 

Em ngồi im lặng đã lâu. Hình như em đang chịu đựng những cơn mưa. Mưa sắp tạnh rồi. Những
 câu chuyện bông đùa của tôi cũng gần khô kiệt. Khách trong quán cà phê đã lần lượt ra về.
 Cuối cùng chỉ còn lại hai người. Tôi sẽ nói lời ấy chứ? Gương mặt em trong bóng tối của
 quán cà phê vắng sao quá gần! Nếu mình nói ra mà bị từ khước, bị hoài nghi thì đau đớn lắm.
 Nhưng nếu được chấp nhận thì có hết đau đớn không? 

Chỉ một lát nữa thôi là mưa sẽ tạnh. Và tôi sẽ không còn cơ hội nào nữa để được thấy mình
 lớn lao hơn chính mình trong niềm ngây ngất được vượt thoát cái thực tại không có thực này.
 Có lẽ những gì không thể cầm giữ trong lòng bàn tay mới là những điều có thực bởi vì ai 
cũng trân trọng và khao khát. Biết là không thể cầm giữ được nhưng vẫn muốn vươn tay ra vồ
 chặt lấy. Điều có thực ấy đang ở ngay cạnh bên tôi. Chỉ cần tôi đưa tay ra... Và nói một
 lời… Tôi đưa tay ra. Bàn tay cầm chiếc thìa khoắng lanh canh trong lòng ly cà phê đã cạn. 
Tôi không nói được điều mình muốn nói.

- Anh ơi, tạnh mưa rồi! 
- Ừ, thôi mình về.

                   CHUYÊN MỤC  CHUYÊN XƯA CHUYỆN NAY


                 Vũ Đức Sao Biển ( do ĐỖ CAO ĐÀM  sưu tầm)



    Rượu trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung

Cũng như nhiều dân tộc khác ở vào vùng khí hậu lạnh, dân tộc Trung
Hoa trường thích rượu. Khái niệm rượu đã được người xưa kết hợp với khái
niệm lễ, không có rượu không thành lễ nghi (vô tửu bất thành lễ). Rượu là
thức uống kích thích niềm sảng khoái, được dùng trong y dược Trung Hoa như
một chất xúc tác. Thời Tam Hoàng, Ngũ Đế đã có những bài thuốc ngâm rượu,
những cách xông hơi rượu ra đời. Trong những tác phẩm võ hiệp tiêu biểu của
Kim Dung, rượu luôn luôn có mặt, dàn trải khắp cả câu chuyện.
Chắc hẳn những bạn đọc tác phẩm Kim Dung đều đồng ý rằng đoạn
tửu luận của Tổ Thiên Thu trong Tiếu ngạo giang hồ là đoạn gây sảng khoái
nhất. Với đoạn văn này, Kim Dung đã nâng nghệ thuật uống rượu lên thành
một thứ đạo: tửu đạo - và với cách diễn đạt tài tình, dàn cảnh oái ăm, Kim
Dung đã thực sự cuốn hút người đọc. Tổ Thiên thu biết được Lệnh Hồ Xung,
người yêu của Thánh cô Nhậm Doanh Doanh, đang bị bệnh mất hết công lực.
Anh ta bèn ăn cắp Tục mệnh bát hoàn (8 viên thuốc duy trì mạng sống) của
một người bạn thân là Lão Đầu Tử, hòa vào rượu để dẫn dụ cho Lệnh Hồ
Xung uống. Nguyên Lão Đầu Tử đã bỏ ra 18 năm để ăn cắp những kỳ trân,
dược vật trên thế gian, chế ra 8 hoàn thuốc thuần âm, chữa trị chứng "Tiên
thiên bất túc" (một dạng suy dinh dưỡng) cho con gái mình là Tiểu Di. Trong
khi đó, bệnh của Lệnh Hồ Xung thuộc trạng thái khí âm hàn. Cho nên, đem
thuốc thuần âm cho kẻ dư khí âm hàn uống khác nào sông Trường Giang nước
đã đầy, lại được tháo nước hồ Bàn Dương, hồ Động Đình đưa vào cho nước
thêm đầy lên, hóa ra càng thêm hại.
Tổ Thiên Thu biết Lệnh Hồ Xung là người khảng khái, không chịu uống
thuốc ăn cắp nên y bày đặt ra chuyện tửu luận, kích thích tinh thần Lệnh Hồ
Xung. Theo y, bậc danh sĩ phải biết uống từng thứ rượu với từng thứ chung
riêng: rượu Bồ đào uống chung Dạ quang; rượu Trúc diệp thanh phải uống
chén Dương chi bạch ngọc mà phải Dương chi bạch ngọc đời Bắc Tống; rượu
trắng phải uống trong sừng trâu, lấy mùi tanh của sừng chế ngự mùi men nồng
của rượu; rượu Bách thảo mỹ tửu được chế với 100 thứ hoa cỏ thơm, phải
được uống với chung bằng trúc để thơm hơn...Y nói một hơi 8 thứ rượu và
móc trong bọc ra 8 thứ chén, rót rượu vào mời Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung
tức khí, nuốt sạch 8 chén rượu; có chén thum thủm mùi cá ươn, có chén cay sè,
có chén rào rạt như ngàn dao đâm vào cổ họng...Thiện ý của Tổ Thiên Thu là
cứu người, vì hắn dốt nát về y lý hóa ra làm hại người.
Trong Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung xây dựng nhân vật Lệnh Hồ
Xung, đại đệ tử phái Hoa Sơn, là một chàng du tử lãng mạn, quý rượu hơn tính
mạng mình. Đoạn buồn cười nhất là đoạn Lệnh Hồ Xung xin rượu Hầu nhi
tửu của lão ăn xin dưới chân thành Hành Dương. Lệnh Hồ Xung chỉ xin uống
một tợp và lão cũng chỉ đồng ý cho uống một tợp mà thôi. Nào ngờ, nghe hơi
rượu ngon, Lệnh Hồ Xung đã vận hỗn nguyên khí công uống sạch bầu rượu.
Lão ăn xin lăn đùng ra khóc vì tiếc bầu rượu. Lệnh Hồ Xung đành phải xin lỗi
và mời lão vào tửu lâu, đãi lão một chầu túy lúy càn khôn.
Trong khi uống rượu, các nhân vật của Kim Dung thường thể hiện phẩm

cách người đối ẩm với mình. Đoạn uống rượu đẹp nhất và khiến cho người
đọc kinh ngạc nhất là đọan Điền Bá Quang mời rượu Lệnh Hồ Xung. Lệnh
Hồ Xung bị sư phụ phạt giam trên đỉnh Ngọc Nữ Phong để ăn năn, sám hối.
Biết bạn rất nhớ rượu, Điền Bá Quang đã vượt 5000 dặm về tới kinh đô Lạc
Dương, vào trong Tuý tiên lâu, hoàng cung của vua Tống, ăn cắp 2 hũ Thiệu
Hưng nữ nhi hồng. Thấy trong hầm rượu của hoàng cung còn đến mấy ngàn
hũ Thiệu Hưng, Điền Bá Quang phóng cước đá bể tất cả để "bọn vua quan
không còn được uống thứ rượu quý này nữa", vì trên đời này "chỉ còn Điền
mỗ với Lệnh Hồ huynh đệ mới xứng đáng được uống nó mà thôi". Tuy nhiên,
gánh 2 hũ rượu lên Ngọc Nữ Phong là chuyện dễ, mà được đối ẩm với Lệnh
Hồ Xung là chuyện cực kỳ khó vì Điền Bá Quang vốn rất sợ sư phụ của Lệnh
Hồ Xung là Nhạc Bất Quần. Hắn bèn nghĩ cách điệu hổ ly sơn làm Nhạc Bất
Quần lầm mưu xuống núi đi tìm Điền Bá Quang. Thế là hắn ung dung lên
Ngọc Nữ Phong đối ẩm với Lệnh Hồ Xung.
Nhà Nho có câu :"Bậc quân tử lấy văn kết bạn" (quân tử dĩ văn hội
hữu). Kim Dung đã mượn chén rượu cho những nhân vật võ lâm của mình giao
kết với nhau. Trong tình bạn hay trong tình yêu, chén rượu vẫn làm vai trò của
cơ duyên hội ngộ.
Đọc Thiên Long bát bộ, ta thấy cuộc hội ngộ giữa Kiều Phong, bang
chúa Cái bang và Đoàn Dự, vương tử nước Đại Lý, là cuộc hội ngộ trong
hương rượu nồng. Thoát ra khỏi cảnh giam cầm ở Thái Hồ, Đoàn Dự tìm đến
một quán rượu ngoài thành Vô Tích thì bắt gặp: "Một đại hán mắt sáng như
điện, trạc ngoài 30, thân thể cao lớn, mặc áo vải màu tro, phục sức sơ sài, mộc
mạc" đang ngồi độc ẩm. Đoàn Dự nhận định: "Đây chắc chắn là hào khách của
Yên, Triệu; Giang Nam quyết không thể có nhân vật thế này". Ngoại hình Kiều
Phong đã khiến Đoàn Dự kính ngưỡng, bèn mời Kiều Phong uống rượu. Kiều
Phong gọi tất cả 30 cân rượu (khoảng 18 lít) và đề nghị Đoàn Dự uống bằng
bát lớn. Đoàn Dự nào biết uống rượu? Cho nên uống xong bát đầu tiên, anh
đã muốn gục xuống tại chỗ; Kiều Phong chỉ nhìn anh mà tủm tỉm cười. Đến
đây thì Kim Dung "cứu" nhân vật của mình. Vốn Đoàn Dự đã học được tuyệt
kỹ Lục mạch thần kiếm, quy khí lực vào huyệt Đan điền rồi vận công phóng
kiếm khí vô hình ra 6 ngón tay. Từ kiếm khí, Kim Dung cho phép nhân vật của
mình phóng ra ...kiếm tửu. Đoàn Dự nạp hết số rượu vừa uống vào huyệt Đại
truy, rồi dẫn rượu đi qua các huyệt Thiên tôn, Kiên chân, Tiểu hải, Chi chính,
Dưỡng lão, Dương cốc, Hậu thoát và "phóng" rượu ra nơi ngón Thiếu trạch
(ngón út). Anh ta cứ gác tay trái lên vách quán rượu, uống bao nhiêu vận nội
lực phóng rượu ra bấy nhiêu khiến Kiều Phong kinh hoàng, tưởng tửu lượng
chàng thư sinh cao không kể xiết! Từ cuộc đấu rượu hi hữu đó, họ nhận ra
phẩm chất của nhau và kết nghĩa anh em. Cuộc đối ẩm giữa Kiều Phong và
Đoàn Dự làm cho người đọc vừa sảng khoái vừa buồn cười.
Rượu nối kết tình bạn và cũng chính rượu tạo ra hào khí. Trong Thiên
Long bát bộ, có đoạn nhà sư Hư Trúc, cung chủ Linh Thứu, bái kết Kiều
Phong làm đại ca trước mặt quần hùng Trung Nguyên khi Kiều Phong đang
bị quần hùng vây hãm. Từ nước Khất Đan, Kiều Phong dẫn 18 tên lính trung
thành gọi là Yên Vân thập bát kỵ, mang theo 36 túi da dê đựng rượu quay về
chùa Thiếu Lâm, tỉnh Hồ Nam. Nơi đây, anh bị quần hùng vây hãm. Trong

cảnh nguy nan, bỗng dưng Đoàn Dự xuất hiện. Hai anh em đang bưng rượu
lên uống thì một nhà sư xấu xí trong đội ngũ chùa Thiếu Lâm chạy ra: "Đại ca
với tam đệ uống rượu sao không gọi ta ?". Nhà sư đó là Hư Trúc. Hư Trúc đã
kết nghĩa với Đoàn Dự nhưng chưa được bái kiến Kiều Phong. Mặc dù quy
luật giới tửu (cấm rượu) của chùa Thiếu Lâm rất khắt khe nhưng khi đã thấy
đại ca và tam đệ uống rượu để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu, Hư Trúc cũng nổi
hào khí, muốn uống rượu trước mặt quần hùng để chia sẻ với hai người anh
em những hoạn nạn sẽ xảy ra.
Và quả nhiên bầu rượu nghĩa tình đó đã làm nên đại sự. Kiều Phong
chế ngự được kẻ đại ác Du Thản Chi, vươn tay xách cổ Cô Tô Mộ Dung Phục
như người ta xách một con gà. Đoàn Dự sử dụng 6 thế Lục mạch thần kiếm
đánh cho Mộ Dung Phục thất điên bát đảo, làm phơi bày toàn bộ âm mưu đen
tối của nhà Mộ Dung. Hư Trúc vận Bắc minh chân khí, biến những giọt rượu
của đại ca thành băng làm một thứ Sinh tử phù cấy vào người gã đại ác Đinh
Xuân Thu, chế ngự và sanh cầm gã. Bọn Yên Vân thập bát kỵ, mỗi người một
túi rượu, phanh cổ áo để lộ ra hình tượng con chó sói được xăm trên ngực của
dân tộc Khất Đan, hú lên những tiếng hoang dã và ngửa cổ uống rượu, thể
hiện quyết tâm cũng liều chết với chủ tướng Kiều Phong. Chưa có một đoạn
nào trong tiểu thuyết cổ kim miêu tả hào khí của con người trước gian nan thử
thách hay hơn đoạn của Kim Dung viết về cuộc hội ngộ của 3 anh em Kiều
Phong – Hư Trúc – Đoàn Dự dưới chân núi Thiếu Thất.
Nhưng rượu trong tác phẩm võ hiệp của Kim Dung không chỉ uống
trong lúc đoàn viên, mà còn được uống trong khi lâm biệt đầy máu và nước
mắt. Như trong trận ác đấu của Kiều Phong tại Tụ hiền trang. Từ khi biết
mình là người Khất Đan, Kiều Phong chỉ mong tìm về bên kia Nhạn môn quan
để suốt đời săn chồn đuổi thỏ, tuyệt không dính dấp đến giới võ lâm Trung
Quốc nữa. Nhưng hoàn cảnh đã bó buộc ông phải cứu lấy cô bé A Châu, và
ông đã bế nàng tới Tụ hiền trang ra mắt Tiết Mộ Hoa, nhờ viên thần y này
giúp đỡ. Hóa ra KIều Phong đã tự dấn thân vào chốn hung hiểm: quần hùng
Trung Nguyên đang họp nhau tại Tụ hiền Trang để bàn kế sách diệt ông, loài
Liêu cẩu man rợ! Kiều Phong nhìn những kẻ đang vây hãm mình. Họ là những
anh em ruột thịt của ông ngày trước ở Cái bang, là những bạn bè tốt của ông
thuộc các võ phái Trung Quốc, là những người mà ông cha bao giờ có ý niệm
thù hằn, căm ghét. Nhưng cục diện ở Tụ hiền trang lúc đó là một mất một còn,
là ta sống thì người chết. Kiều Phong đã đề nghị anh em Du Ký, Du Câu - chủ
nhân Tụ hiền trang - cho xin mấy vò rượu lớn. Ông rót rượu ra bát lớn, mời
anh em Cái bang uống trước để nói lời cuối cùng, dứt tình đoạn nghĩa. Ông
uống rượu với bạn bè các môn phái mỗi người một bát. Có kẻ bưng tô rượu
dứt tình với Kiều Phong mà nước mắt tuôn rơi. Rồi sau đó, Kiều Phong đại
khai sát giới, tìm con đường sống riêng cho mình, chạy về bên kia ải Nhạn
môn quan nghìn trùng xa cách.
Có trường hợp uống rượu tưởng như chia biệt lại hóa ra đoàn viên. Đó
là trường hợp uống rượu kỳ cục của Cẩu Tạp Chủng (Thạch Phá Thiên), một
thiếu niên ngây thơ, trong trắng trước hai ông anh kết nghĩa đầy mưu mô xảo
quyệt là Trương Tam và Lý Tứ. Trương Tam, Lý Tứ thật ra chỉ là tên giả mạo;
họ chính là hai sứ giả Thưởng Thiện và Phạt Ác của đảo Long Mộc ngoài biển

Đông. Trương Tam, Lý Tứ cũng giả vờ kết nghĩa với Thạch Phá Thiên, cũng
thề đồng sinh đồng tử, nhưng trong bụng hai lão chỉ muốn chàng thiếu niên
này chết đi cho khuất mắt. Trương Tam có bầu rượu dương cương, Lý Tứ có
bầu rượu âm nhu, mỗi lão tự uống bầu rượu của mình và lão này rất sợ bầu
rượu của lão kia. Kết nghĩa xong, chàng thiếu niên Thạch Phá Thiên đề nghị...
uống rượu. Thạch Phá Thiên ngây ngô, xin được uống hai thứ rượu trong đủ
hai bầu. Trương Tam, Lý Tứ cả mừng vì đinh ninh thế nào thằng nhỏ này cũng
chết tươi vì hai thứ rượu xung đột nhau. Một lần nữa, Kim Dung lại "cứu”
nhân vật ngây thơ, trong trắng của mình. Thạch Phá Thiên đã từng ngộ kỳ
duyên, con người chàng ta dung hòa được cả hai loại chất độc dương cương
và âm nhu. Cho nên uống rượu xong, chẳng những chàng trai trẻ không chết
mà công lực còn tăng tiến. Trương Tam, Lý Tứ hối hận và xấu hổ vô cùng. Từ
tình bạn giả trá, họ đã đổi ra tình bạn chân thành. Cẩu Tạp Chủng trở thành
người em tốt của Thưởng Thiện và Phạt Ác. Đó là chương uống rượu thú vị
nhất trong toàn bộ bộ truyện Hiệp khách hành.
Rượu trong truyện võ hiệp Kim Dung còn làm nên tình yêu lứa đôi, giàu
chất thơ lãng mạn. Có những lứa đôi gặp gỡ lần đầu tiên qua chén rượu và
tình yêu bắt nguồn từ đó. Trong Ỷ thiên Đồ long ký, Trương Thúy Sơn làm
quen với Hân Tố Tố qua chén rượu trên con thuyền nhỏ đậu giữa lòng Thái
Hồ. Trương Vô Kỵ cũng gặp gỡ và yêu quận chúa Triệu Mẫn qua chén rượu.
Đoạn giàu chất thơ nhất của Ỷ thiên Đồ long ký là đoạn Triệu Mẫn nhớ Vô
Kỵ, tìm lên tửu lâu và ngồi đúng vào cái bàn mà hai người đã từng ngồi đối
ẩm. Thiếu vắng Vô Kỵ, cô cũng gọi bình rượu, thức ăn, hai cái chén, hai đôi
đũa, hai chung rượu. Cô rót rượu ra đủ hai chung, uống một chung và nước
mắt rơi. Đúng lúc đó thì Trương Vô Kỵ xuất hiện. Và họ tìm lại được hơi ấm
tình yêu trong chung rượu đối ẩm.
Trong Tiếu ngạo giang hồ, Lệnh Hồ Xung thường đối ẩm với người yêu
là Doanh Doanh. Một nhân vật khác, Lam Phượng Hoàng, giáo chủ Ngũ độc
giáo Vân Nam, cũng rất say đắm Lệnh Hồ Xung. Cô mang vò rượu Ngũ độc
mỹ tửu, trong đó có ngâm năm thứ trùng độc, từ Vân Nam đến Giang Nam để
chữa bệnh cho Lệnh Hồ Xung. Cảm xúc tấm thịnh tình đó, Lệnh Hồ Xung đã
uống rượu cho cô vui lòng. Tác giả Kim Dung đã để cho Lam Phượng Hoàng
hôn Lệnh Hồ Xung trước mặt mọi người, kể cả sư phụ của Lệnh Hồ Xung là
Nhạc Bất Quần. Trong con mắt của Lam Phượng Hoàng, kẻ biết uống rượu
của cô mới là người tốt.
Trong Thiên Long bát bộ, mỗi khi trở về Nhạn môn quan, Kiều Phong
nhớ A Châu là tìm đến chung rượu giải sầu. Đoạn đẹp nhất trong mối tình
hai người là đoạn Kiều Phong ngồi nghe A Châu tâm sự: "Đại ca ơi, tiểu nữ
nguyện suốt đời đi theo đại ca về Nhạn môn quan săn chồn đuổi thỏ, sống
cuộc đời ung dung khoái lạc". Nghe cô bé tâm sự, Kiều Phong cao hứng. Trong
cái quán nghèo ngoài biên giới không có một giọt rượu, ông cũng giả vờ nâng
cái chén không lên, ngửa cổ ra như đang thực sự thưởng thức men rượu nồng.
Trong Thần điêu hiệp lữ, có cô bé Quách Tương, 16 tuổi, say mê người
huynh trưởng của mình là Thần điêu đại hiệp Duơng Qua. Mặc dù Dương Qua
chạy theo hình bóng của sư phụ là Tiểu Long Nữ, không nghĩ đến mối tình si

của Quách Tương, Quách Tương vẫn vượt ngàn dặm ra đi tìm anh. Trong túi
hành trang của cô bé, luôn luôn có một bầu rượu. Cô chỉ có mỗi ước mong:
cùng Dương Qua đối ẩm. Nhưng ước mong đó không bao giờ thành hiện thực.
Quách Tương lên núi đi tu, trở thành sư tổ phái Nga Mi.
Những lứa đôi yêu nhau của tác phẩm Kim Dung uống rượu như ta uống
cà phê. Họ gặp nhau là mời nhau chén rượu, trang trọng, cung kính. Không có
ai uống rượu đến nỗi quần áo xốc xếch, ong bướm lả lơi. Chén rượu trong tình
yêu của tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung mang theo tính cách đạo đức mặc dù
khung cảnh uống rượu lãng mạn vô kể: uống trong quán khuya vắng người,
uống trong căn phòng chỉ có hai người, giữa đêm mùa dông tuyết rơi lả tả;
uống trên con thuyền nhỏ chơi vơi giữa đêm trăng trên dòng Trường Giang
mông mênh.
Nhân vật Tiêu Tương Dạ Vũ Mạc Đại tiên sinh, chưởng môn phái Hành
Sơn trong Tiếu ngạo giang hồ luôn luôn gắn liền tâm hồn mình với chén rượu.
Kim Dung mô tả Mạc Đại: "Tướng mạo tiên sinh điêu linh cổ quái, lúc nào
cũng như ba phần tỉnh, bảy phần say". Mạc Đại có cây dao cầm rất cũ kỹ,
trong cây dao cầm lại giắt một lưỡi kiếm mỏng như lá lúa. Tiên sinh xuất hiện
dưới chân núi Hành Sơn, trong quán rượu đầy ấn tượng. Quần hùng gồm 7 gã,
uống 7 chung trà, đang ngồi nghị luận rằng võ công Mạc Đại còn kém thua sư
đệ mình là Lưu Chính Phong vì Lưu Chính Phong đánh ra một đường kiếm
là đứt đầu 5 con chim nhạn. Lúc đang nói chuyện cao hứng thì một ông già
gầy gò đi đến, nghẹo cổ nhìn các hán tử và bảo: "Các người nói thúi lắm!".
Rồi bỗng dưng, các gã hán tử chỉ thấy trước mắt hoa lên một cái như có một
luồng ánh sáng lấp lánh. Ông già gầy gò bỏ đi, tiếng đàn tình tang xa dần. Một
cơn gió nhẹ thổi qua trên bàn ruợu, 7 cái miệng chén bị cắt đứt lìa lần lượt rơi
xuống mặt bàn, vỡ tan. Hóa ra kẻ lam lũ ấy là Mạc Đại tiên sinh. Ông già say
ấy rút kiếm khi nào, chém 7 miệng chén khi nào, đút kiếm vào đáy cây dao
cầm khi nào, không ai nhìn rõ được. Chỉ với một đường kiếm tiện đứt 7 miệng
chung thì 7 đầu chim nhạn phỏng có là bao! Rõ ràng, trong đoạn này có hai
thứ: một thứ trà sinh nói bậy của 7 hán tử và một thứ rượu cực kỳ tỉnh táo của
Mạc Đại tiên sinh.
Rượu trong truyện võ hiệp của Kim Dung cũng biến thành một thứ võ
khí. Trong Thiên Long bát bộ, bọn Dư Bà Bà của cung Linh Thứu tung bì rượu
lên thành thế Mãn thiên hoa vũ (mưa hoa đầy trời) cho chủ nhân mình là Hư
Trúc dùng Bắc minh chân khí hóa rượu thành băng, khống chế địch thủ. Rượu
được dùng để pha độc được, trừng trị những anh háo sắc. Vợ của Mã Đại
Nguyên là Ôn Thị tư tình với Đoàn Chính Thuần, em ruột nhà vua nước Đại
Lý. Giận Chính Thuần lòng dạ lang chạ, Ôn Thị đã pha bình Mê xuân tửu dụ
cho Đoàn Chính Thuần uống, rồi trói lại và bắt đầu... cắn từng miếng thịt của
Đoàn Chính Thuần để trả thù. Trong Lộc Đỉnh ký, Vi Tiểu Bảo đã biết dùng
Mê xuân tửu từ thuở bé. Mẹ của y là Vi Xuân Phương, làm điếm trong thành
Dương Châu đã từng pha thuốc mê vào rượu cho bọn làng chơi uống, để trấn
lột tiền tài vật dụng. Đắc thủ được bài học lưu manh đó khi làm quan lớn ở
Bắc Kinh, Vi Tiểu Bảo cũng pha chế những bình Mê xuân tửu để hãm hại, vu
cáo những kẻ thù của mình. Từ rượu độc, Vi Tiểu Bảo nghĩ ra những trò đầu
độc khác tệ hại hơn và tất nhiên mực độ lưu manh hạ cấp cao hơn.

Rượu trợ lực cho những màn tác oai, tác quái của bọn quan lại triều
Thanh. Để hành hạ Trịnh Khắc Sảng, kẻ tình địch ngày trước của mình, Vi
Tiểu Bảo đã cho tiền để bọn thị vệ dưới quyền uống rượu thoải mái. Uống
xong, chúng kéo qua tư dinh Trịnh Khắc Sảng, đòi nợ cho "công tước" Vi Tiểu
Bảo. Chúng đập phá nhà cửa, tài sản, lăng nhục Trịnh Khắc Sảng và vợ con,
bắt cóc, giết người rồi vu cáo...
Đọc tác phẩm Kim Dung, ta biết được người Trung Quốc có nhiều thứ
rượu danh tiếng: Thiệu Hưng Nữ nhi hồng, Thiệu Hưng Trạng nguyên hồng,
Trúc diệp thanh, Mai quế lộ, Bách thảo tửu, Biên tái tửu, Hầu nhi tửu, Bồ đào
tửu, Ngũ gia bì, Kim tước tửu... Đọc Kim Dung, ta mới biết được phong cách
uống rượu của người Trung Quốc: rượu thường được hâm nóng trước khi
uống, nhất là vào mùa đông. Thỉnh thoảng, trong vài tình huống đặc biệt, khi
công nghiệp làm nước đá chưa ra đời, tác giả đã để cho nhân vật mình làm ra
băng để uống rượu. Trong Tiếu ngạo giang hồ, có đoạn Lệnh Hồ Xung cùng
Hướng Vấn Thiên tìm về Cô Mai sơn trang ở Giang Nam gặp gỡ Giang Nam
tứ hữu. Để mời rượu Lệnh Hồ Xung giữa mùa hè nóng bức, Đan Thanh tiên
sinh đã nhờ anh mình là Hắc Bạch Tử dùng Hàn băng chưởng hóa nước thành
ra nước đá ướp lạnh rượu bồ đào Thổ Lỗ Phồn!
Đọc Kim Dung, ta mới biết được những cách uống rượu khác nhau.
Đối ẩm là hai người uống, thường là tình nhân hoặc bạn hữu thân thiết. Độc
ẩm là uống một mình, trong lòng đang lo nghĩ hoặc tưởng nhớ. Cộng ẩm hay
Quần ẩm là một nhóm người cùng uống với nhau. Loạn ẩm là một đám đông
cùng uống. Trong Tiếu ngạo giang hồ, đoạn loạn ẩm hay nhất là đoạn bọn tà
ma ngoại đạo thết tiệc Lệnh Hồ Xung để lấy lòng Thánh cô Doanh Doanh.
Thương nhau, quý nhau, người ta mới tặng rượu. Quần hào Cái bang Trung
Quốc, tuy là đi ăn mày, đáng lẽ chỉ xin cơm, thì người ta còn xin cả rượu nữa.
Chén rượu của Kim Dung đã làm cho những nhân vật của ông nổi tiếng.
Hồng Thất Công nổi tiếng chuyên uống rượu với thịt chó. Kiều Phong nhờ
rượu mới phát huy được thần oai, càng uống càng mạnh, càng tỉnh táo. Hư
Trúc nhờ uống rượu phá giới mà tìm ra được cô vợ sắc nước hương trời: công
chúa Ngân Xuyên của nước Tây Hạ. Thạch Phá Thiên nhờ uống hai thứ rượu
độc mà hóa giải được sự xung đột của âm dương nhị khí, đạt đến mức thượng
thừa trong võ học... ở chừng mực nào đó, Kim Dung đã nghĩ đến câu cổ thi :

Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh
(Xưa nay thánh hiền đều lặng lẽ
Chỉ người uống rượu mới còn danh)
(Lý Bạch)
Tác phẩm của Kim Dung tràn đầy rượu và ruợu. Trừ những nhà sư,
các nhân vật của ông ít nhiều đều biết đến chén rượu. Rượu làm nên sự hưng
phấn cho cuộc đấu tranh chống cái ác, biểu dương cái thiện và lẽ công bằng ở
đời.
Uống rượu nhiều tất có tình trạng say rượu xảy ra. Những người say
trong tác phẩm Kim Dung cũng say một cách tử tế. Trong những hội loạn ẩm,

họ xai quyền thách đố nhau hoặc cãi cọ chửi bới. Duy nhất trong 12 bộ truyện,
có một nhân vật say rượu phạm vào tội đại ác, trở thành một thứ tửu tặc. Nhân
vật đó là Thành Khôn, sư phụ của Tạ Tốn trong Ỷ thiên Đồ long ký. Thành
Khôn say rượu, đã làm nhục và giết hại vợ con của đồ đệ mình. Y lẻn vào
chùa Thiếu Lâm làm một nhà tu giả mạo dưới pháp danh Viên Chân. Kẻ tửu
tặc ấy đã bị tìm ra, bị trừng trị nhưng rồi cuối cùng cũng được tha thứ.
Rượu trong truyện võ hiệp Kim Dung khác xa với rượu ở miền Viễn
Tây Mỹ trong phim cao bồi, khác xa với rượu trong các hộp đêm trên toàn
thế giới và cũng khác xa với "rượu" trong các quán bia ôm. Chính vì thế, tôi
mạnh dạn gọi rượu trong truyện Kim Dung là một loại rượu đạo đức. Rượu
trong truyện Kim Dung thể hiện triết lý nhân sinh gần gũi cuộc sống. Nó làm
nên tình yêu, tình bạn, hận thù, sự tha thứ, mối hoài cảm, niềm hối tiếc. Qua
rượu, Kim Dung hé mở cho chúng ta nhìn thấy một khoa học mới: tửu học.
Với một chữ Rượu, Kim Dung đã vượt xa hơn bất kỳ nhà văn nào khác. Rượu
của ông có bài bản, có tính chất triết lý tề chỉnh. Nó góp phần làm nên cái
đẹp cho đời sống con người. Men rượu kết hợp với men tình, men võ khiến ta
không “uống” được tác phẩm mà lòng vẫn say.

                       CHUYÊN MỤC: NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT

              BQM: 
           Trong tiếng Việt có rất nhiều tên cây quả ta nghe ra tưởng xuất xứ từ Trung Quốc
 nhưng thực ra là thuần Việt như đã đề cập đến như “ Trà ”  茶 chính là chè , là b’lè . Mật
 hay mít 蜜, cây mít, quả mít  菠 萝 蜜 là thuần Việt.
            BQM vừa vào sống trong Nam mới hai năm, nhưng đã gặp vô số tên cây  như 
“ dương tùng” “ mãng cầu” nếu không kịp thời truy nguyên thì lại cho là tên từ TQ.
             Cây dương tùng ở Bắc và Trung nước ta gọi là phi lao. Nó là loại cây do
 người Pháp di thực sang ta có tên là philaus.
             Quả “na” ở trong Nam gọi là mãng cầu. Từ điển Việt Hán của Hà Thành (TQ)
 dịch là “ phiên lệ chi” 番 荔 枝 (nghĩa quả vải nước ngoài!) . Bản thân chữ “lệ chi”,
 BQM nghi là một từ thuần Việt được người Hán phiên âm . 
             Măng cụt cũng là cây di thực mới đây, có tên Pháp là mangustan         

                    CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE

         LBT: Nhận thấy vui cười thư giãn, sống vui…cũng là những liều thuoc bổ nên
 chuyên mục này vào thứ bảy sẽ có những mẩu chuyện vui cung cấp cho độc giả . 
          Đỗ Cao Đàm ( sưu tầm):
               1.- Bánh mừng sinh nhật
Một ông chồng đến tiệm đặt bánh mừng sinh nhật vợ. Ông nghĩ ra 1 câu để viết lên bánh
 "Em không già đi mà còn trẻ lại" .
Ông nói với người làm bánh:
- Tôi đặt chiếc bánh có viết dòng chữ để mừng sinh nhật vợ đấy nhé.
- Trình bày thế nào ạ ? Thằng bé con chủ tiệm hỏi (vì chủ tiệm đi vắng)
- Viết thế này: EM KHÔNG GIÀ ĐI, phía trên, MÀ EM CÒN TRẺ LẠI, phía dưới.
Thằng bé lấy bút ghi chép cẩn thận rồi nói :
- Chiều ông ghé lại lấy, con sẽ làm thật đẹp và cẩn thận cho ông.
Buổi tối, khi khách khứa đã ngồi vào bàn đầy đủ, người chồng mang bánh đặt giữa bàn, trịnh
 trọng mở hộp bánh ra và tất cả mọi người  đều nhìn thấy
dòng chữ "EM KHÔNG GIÀ ĐI PHÍA TRÊN, MÀ EM CÒN TRẺ LẠI PHÍA DƯỚI"
                   2.- MUỐN CÁI GÌ ???
          Có một ông đến phòng mạch Bác sĩ than rằng vợ ông ta bị bệnh lạnh cảm, vợ 
chồng còn trẻ mà mấy tháng nay vợ không đòi hỏi mà cũng không cho ông gần gũi nữa. Bác sĩ
 khuyên ông ta nên đem vợ tới để định bệnh, nếu mới bị thì chữa rất dễ.
Hôm sau ông ta dẫn vợ đến gặp Bác sĩ... Bác sĩ hỏi vợ ông ta :
- Cô có thấy triệu chứng gì khác thường trong cơ thể không ? Sao ông
nhà nói là cô bị lạnh cảm, không đòi hỏi, ham muốn sinh lý nữa ?
Cô vợ ngạc nhiên nhìn Bác sĩ:
- Bác sĩ thử nghĩ xem, cả mấy tháng nay, hàng ngày tôi đi làm bằng
TAXI mà đâu có đủ tiền trả, hễ cứ cười trừ là ông tài xế lại hỏi tôi:
"hôm nay cô trả tiền hay trả cái gì ?". Tui bèn chọn "cái gì" ! Khi
tui vô sở thì bị trễ giờ, ông Boss cũng hỏi: "Cô muốn tui ghi vào sở
cảnh cáo hay muốn "cái gì" ?. Tui lại chọn "cái gì". Khi tan sở tui
lại về bằng taxi và ông tài xế lại hỏi: "Lần nầy cô trả tiền hay lại
trả "cái gì"? Tôi lại phải chọn "cái gì" lần nữa ! Bác sĩ thấy đó, tôi
về tới nhà là mệt phờ, 3 "cái gì" trong một ngày rồi thì làm sao tôi
còn phục vụ chồng tôi được nữa ! ?
Bác sĩ bèn nhỏ nhẹ hỏi:
- Thế bây giờ cô muốn tôi nói lại chuyện nầy với chồng cô hay là cô
muốn "cái gì" ???










Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s