ocago.wordpress.com số ra thứ 7 ngày 1/10/2011 9 (tức 05 tháng 9 năm Tân Mão.) :lỗi dàn trang nên đăng lạipp CHUYÊN MỤC: VĂN HÓA ĐÔNG TÂY Đỗ Anh Thơ ( biên soạn) Chương 7: Aurelius Augustinus với thuyết thượng đế thống trị Augustine là triết gia và nhà thần học Kitô giáo, người Bắc Phi. Tên La-tin đầy đủ là Aurelius Augustinus, hoặc còn gọi là Augustinus Hipponensis, thánh Augustine. Augustine sinh tại Tagaste, Numidia, phía nam Hippo, nơi hiện nay thuộc Algeria. Từ đó, ông bắt đầu cuộc sống phấn đấu của một triết gia hành giả, rồi trở thành vị giáo phụ vĩ đại nhất trong bốn giáo phụ La-tin của Kitô giáo và để lại ảnh hưởng lớn lao trong triết học phương Tây cùng thần học Kitô giáo. Ông đươc mẹ là một tín đồ Kitô giáo dưỡng, nhưng chàng thanh niên Augustine từ bỏ tập quán tín hữu ấy khi sang Carthage du học. Ở đó, ông tinh thông khoa hùng biện. Trong cuốn Confessions (Tự thú), ông kể lại, bằng giọng ăn năn, quãng thời gian tuổi trẻ hoang dại tại Carthage với kết quả có với tình nhân một đứa con trai tên là Adeonatus. Vào một thời điểm Tranh Augustine ở nhà thờ Lateran thế kỷ thứ 6 Cuộc đối thoại Augustine (Gozzoli, tk15 Lễ rửa tội cho Augustine (Gozzoli, tk15 Augustine tranh của Simone Martini nào đó ông cải giáo sang Manichea— thường gọi là đạo Mani, một hệ thống tôn giáo khá thịnh hành từ thế kỷ 3 tới thế kỷ 5, chủ trương Satan, cái ác hoặc bóng tối ở trong tình trạng xung khắc thường trực và bất tận với Thượng đế, cái thiện hoặc ánh sáng. Sau năm 376, Augustine bỏ đi La Mã, dạy khoa hùng biện, rất thành công. Tới năm 384, các tín đồ Mani thúc giục ông sang Milan dạy học. Milan là khoảng thời gian then chốt của đời ông. Không còn tín nhiệm giáo phái Mani, ông tuyên bố từ bỏ đạo ấy sau khi nghiên cứu triết học Plato, thuyết tân Plato và thuyết hoài nghi. Khủng hoảng tâm linh, Augustine bị lôi cuốn mãnh liệt bởi nhiệt tình hùng biện của thánh Ambrose, giám mục Milan. Kết thúc hai năm sống với tâm trạng hoài nghi sâu xa và rối rắm tinh thần, Augustine đột nhiên đi theo Kitô giáo. Ông làm lễ nhập đạo vào dịp lễ Phục sinh năm 387. Sau đó chẳng bao lâu, ông quay về Tagaste, sống đời tu viện với một nhóm bạn. Năm 391, trong khi thăm viếng Hippo, ông được chọn — ngoài ý muốn của mình — làm linh mục của hội thánh Kitô ở đó. Suốt phần đời còn lại, ông sống ở Hippo, làm giám mục phụ tá năm 395 rồi không lâu sau, làm giám mục. Ông qua đời khi thành Hippo bị quân Vandal bao vây. Ảnh hưởng của Augustine lên Kitô giáo được nhiều người đánh giá là chỉ đứng sau Phaolô, vị tông đồ thời lập đạo. Các nhà thần học, cả giáo hội Công giáo, Chính thống giáo lẫn Tin Lành đều xem ông là người thành lập thần học. Cuốn Confessions (Tự thú, ra đời khoảng năm 400) được xem là kinh điển của chủ nghĩa thần bí Kitô giáo. Tác phẩm này, nguồn thông tin chính về cuộc đời của Augustine, là một biện hộ cho việc tác giả cải sang Kitô giáo, và được viết với giọng văn tuyệt vời. Tranh:: Augustinus đang giảng giáo lý Tác phẩm nổi tiếng kế đó là City of God (Thành đô của Thiên Chúa, sau năm 412), một chống trả lớn lao của Kitô giáo trước những lời phê bình nó là tà giáo, đặc biệt nổi tiếng vì quan điểm Kitô giáo được tác giả trau chuốt tỉ mỉ xuyên suốt từng trang sách. Trong đó, Augustine đánh giá toàn bộ lịch sử như một chuẩn bị có tính quan phòng của Thiên Chúa cho hai thành đô bí nhiệm, một của Thiên Chúa và một của quỉ dữ; và toàn thể nhân loại sẽ tối hậu thuộc về thành đô này hoặc thành đô kia. Và cái ác là do bởi sự thiếu cái thiện. Tranh: Augustinus đang đọc sách Tác phẩm đơn thuần giáo điều và vĩ đại nhất của ông là On the Trinity (Bàn về Chúa Ba Ngôi), một hệ thống hóa học thuyết Kitô giáo, nhưng phần lớn văn bản ấy có xuất xứ từ các bài luận chiến của ông. Các tác phẩm chống giáo phái Mani, đặc biệt Against Faustus (Chống Faustus), vị thầy Mani cũ của ông, là quan trọng vì nó chiếu rọi lên tôn giáo ấy. Ðể chống giáo phái Donatus ỏ Bắc Phi chủ thương thanh khiết và tái thanh tẩy, Augustine viết hai tác phẩm On Baptism (Bàn về phép rửa tội) và On the Correction of the Donatists (Bàn về sự sửa chữa của người Donatus) trong đó ông công thức hóa một ý tưởng mà kể từ đó, nó trở nên thành phần của học thuyết của Kitô giáo, cho rằng thẩm quyền của Giáo hội Công giáo là một bảo đảm cho Ðức tin Kitô do bởi tính chất chắc chắn của tông truyền — được truyền thừa trực tiếp từ mười hai Tông đồ của Ðức Kitô, đặc biệt Phêrô, giám mục La Mã đầu tiên. Cuộc tranh luận ngoạn mục nhất mà Augustine can dự là trận đánh chống lại giáo phái Pelagion. Người Pelagion phủ định tội tổ tông và cuộc sa ngã của con người. Quan điểm ấy có hàm ý rằng ân sủng của Thiên Chúa không nhất thiết là bước tiên khởi để hướng tới sự cứu độ, và như thế, nó kích động Augustine, kẻ cho rằng loài người bị hư hoại và không có khả năng tự lo liệu. Trong cuộc luận chiến này, ông viết nhiều luận văn, và sau đó, tiếp tục trau chuốt các ý tưởng ấy. Từ các văn bản của Augustine, cuộc tranh luận vĩ đại về ân sủng cứ thế tiếp diễn. Và những người tự cho mình đi theo đúng con đường của Augustine, như nhà cải cách Thệ phản người Pháp John Calvin (1509-1564) và những người theo giáo phái Hà Lan Cornelius Jansen (1585-1638) triển khai thành các thần học có tính tiền định. Dù vẫn tôn kính Augustine, nhiều nhà thần học không chịu chấp nhận những phát biểu quá cực đoan của ông về ân sủng. Một trong các luận văn quan trọng của Augustine, On the Work of Monks (Về công việc của tu sĩ) được dùng rộng rãi trong các tu viện. Ông cũng soạn các tác phẩm bình giải Kinh thánh. Một trong những luận văn đáng quan tâm nhất của ông, được gọi là Retractions (Xóa bỏ), được biên soạn thời cuối đời, như một cách thức duyệt xét các tác phẩm và các quan điểm của mình. Augustine là bậc thầy về bút pháp, các bức thư của ông nhiều về số lượng, rất cởi mở và bộc trực. Ngày nay, mỗi khi các Hội thánh Kitô giáo gặp tranh luận hay khủng hoảng về thần học, người ta có thói quen tìm về các tác phẩm của Augustine và của các giáo phụ thời sơ khai ấy, để tham chiếu cùng tìm sự soi sáng. Giáo lý của Augustinus chi phối tới 1000 năm của cơ đốc giáo Chương 8.- Thuyết tồn tại của thượng đế và học thuyết nhà nước của Thomas Aquinas Thomas Aquinas là khuôn mặt vĩ đại nhất của triết học kinh viện và nhà thần học người Ý. Cũng được gọi là Tiến sĩ Thiên thần (Doctor Angelicus). Sinh tại Rocca Secca, gần Naples, trong một gia đình quan quyền, Aquinas theo học các thầy dòng Bênêdictô (Biển Ðức) tại Monte Cassino rồi Ðại học Naples. Sau đó, cưỡng lại quyết định của gia đình, ông vào dòng Ðôminicô (Ða Minh), làm tu sĩ khất thực (1244). Ông bị các anh em bắt cóc và giam trong một lâu đài của cha mẹ hơn một năm. Cuối cùng, thoát ra được, ông đi Cologne và trở thành môn sinh của Albertus Magnus. Năm 1248, ông cùng thầy đi Cologne, rồi từ đó đi Paris lần nữa và nổi tiếng, trở thành giáo sư thần học rất thành công tại Anagni, Orieto, Rome và Vitenbo. Aquinas xuất hiện khi giới thế tục tìm cách giới hạn đặc quyền của giới tu sĩ tại các đại học. Sau năm 1259, ông trải qua vài năm ở Ý, làm giáo sư và cố vấn cho Tòa thánh Vatican. Việc ông quay lại Paris có lẽ do gấp rút vì nổi giận với Siger De Brabant và bài đọc của học giả ấy trình bày quan điểm của triết gia Hồi giáo Tây Ban Nha Averroës về Aristotle. Cuộc chiến đấu học thuyết với Siger là biến cố đáng nhớ nhất trong đời Aquinas; chiến thắng ấy có nghĩa rằng lập trường của ông đã khải hoàn. Năm 1272, Thomas Aquinas rời Paris đi Naples để tổ chức một viện nghiên cứu. Hai năm sau, đang cùng với người bạn lâu năm, Sư huynh Reginald ở Fossanuova, trên đường đi dự Công đồng Lyons với tư cách cố vấn cho giáo hoàng, Aquinas qua đời, hưởng thọ 49 tuổi. Aquinas đang giảng thuyết thượng đế Nhân đây, tưởng cũng nên nói đôi chút về vị triết gia Hồi giáo Averroës. Tên A Rập của ông là Ibn Rushd (1126-1198), người nổi tiếng nhất trong các triết gia Hồi giáo thời trung cổ, còn Averroës là tên gọi theo hình thức La-tin. Là quan tòa và bác sĩ ở Córdoba, Seville, nơi ông chào đời, ông sang sống một thời gian tại Marocco, Bắc Phi. Ở đó, ông làm bác sĩ ngự y cho vua Hồi Abu Yusuf nhưng rồi bị trục xuất về Tây Ban Nha vì tình nghi dị giáo. Sau đó, ông được phục hồi và quay lại sống ở Marrakesh cho tới ngày qua đời. Tác phẩm vĩ đại nhất của Averroës là Commentaries on Aristotle (Bình luận Aristotle). Những thông giải của ông về Aristotle vẫn ảnh hưởng lâu dài sau khi ông qua đời và trở thành vấn đề suy tưởng lý tính, góp phần dọn đường cho thời Phục hưng. Ông nỗ lực đặt ranh giới tương ứng cho từng lãnh vực đức tin và lí trí, chỉ ra rằng cả hai không cần phải hòa giải vì chúng chẳng xung khắc nhau. Averroës tuyên bố triết học là hình thức thẩm tra cao nhất. Siêu hình học của ông mang sắc thái tân Plato chủ nghĩa, giống y như Avempace, người ông mang nợ trong các ý tưởng về trí thức. Các học thuyết của Averroës về sự bất tử của cá nhân và sự hằng cửu của vật chất bị Giáo hội Công giáo lên án. Thomas Aquinas tôn trọng Averroës nhưng tấn công cuộc phấn đấu của Averroës khi vị triết gia Hồi giáo người Tây Ban Nha ấy cho rằng chân lý triết học bắt nguồn từ lý trí chứ không từ đức tin. Hầu hết tác phẩm của Averroës được châu Âu biết tới qua bản dịch bằng tiếng La-tin và Do Thái Híp-ri, về sau có ảnh hưởng lên các nhà văn Do Thái giáo, Kitô giáo và cung cấp một tổng hợp từng phần cho hai truyền thống triết học A Rập và Hi Lạp. Khác với bản tính lầm lì và phong thái chậm chạp, Thomas Aquinas là người diễn giảng xuất sắc, rõ ràng với những tư tưởng bén nhạy, như các tác phẩm của ông cho thấy, với lối lý luận khúc chiết và sử dụng tiếng La-tin giản dị, chính xác đáng phục. Càng khiêm tốn và đức hạnh, ông càng chứng tỏ một cuộc sống tâm linh phong phú và lòng mộ đạo sâu xa. Không một tác phẩm nào vén lộ đầy đủ triết học Aquinas. Có thể xếp loại công trình trước tác suốt 20 năm của ông theo hình thức và chủ đích của từng tác phẩm. Những cuốn chính là Commentary in the Sentences (Bình luận về các câu, 1254-1256), tác phẩm vĩ đại và sớm sủa nhất gồm một tập hợp các bài giảng cho công chúng; bảy quaestiones disputatae (các vấn đề tranh luận công khai, 1256-1271); những bình luận triết học về các tác phẩm của Aristotle như Mỹ học, Siêu hình học, Loài vật, Vật lý học; một phần của De interpretatione (Về thông giải), và Posterior Analytics (Phân tích về sau); các luận văn về nhiều chủ đề trong đó có Summa theologica contra Gentiles (Tổng luận thần học chống người ngoài Công giáo, 1258- 1260), cũng là Summa philosophica (Tổng luận triết học); và cuốn quan trọng hơn hết là Summa theologica (Tổng luận thần học, 1267-1273), tác phẩm trình bày thần học có tính hệ thống nhưng chưa hoàn tất. Hơn 600 năm sau, năm 1879, Giáo hoàng Leo XIII, trong Thông điệp Aetterni Patris, chính thức tuyên bố triết học của Aquinas là triết học Kitô giáo. Triết học Aquinas được công khai thừa nhận là mang bản sắc Aristotle với những phương pháp và những phân biệt của người Hi Lạp được thích nghi theo với mạc khải. Thế kỷ 13 là thời kỳ chủ chốt trong tư tưởng Kitô giáo, bị xâu xé giữa những tuyên bố của người theo phái Averroës và những người cực đoan theo Augustine. Aquinas chống đối cả hai trường phái ấy. Người theo Averroës do Siger de Brabant lãnh đạo, tách riêng đức tin và chân lý một cách tuyệt đối, còn người theo Augustine muốn biến chân lý thành vấn đề đức tin. Aquinas cho rằng lý trí và đức tin lập thành hai cảnh giới hòa điệu trong đó các chân lý của đức tin bổ sung cho chân lý của lí trí; cả hai đều là tặng phẩm của Thượng đế, nhưng lí trí có sự tự quản của chính nó. Như thế, ông biện hộ cho quyền của lí trí chống lại nỗi sợ hãi của những kẻ muốn trấn áp Aristotle, xem ông là tổ phụ của Averroës và dị giáo. Theo Aquinas, nguyên lý đệ nhất của triết học là sự khẳng định hữu thể. Từ quan điểm ấy, ông tiến hành cuộc xem xét thái độ trong đó trí tuệ hiểu biết hữu thể là gì. Ðối với con người, toàn bộ tri thức bắt đầu bằng con đường giác quan; qua trung gian đó, hắn nắm bắt cái phổ quát, tức là thế giới chỉ có thể nhận thức được bằng trí tuệ. Theo lập trường được cho là duy thực chủ nghĩa vừa phải (moderate realism) của Aquinas, một dạng thức hoặc cái phổ quát có thể hiện hữu theo ba cách: trong Thượng đế, trong vạn vật và trong tâm trí. Chính qua tri thức về vạn vật mà chúng ta đi tới hiểu biết sự hiện hữu của Thượng đế. Trong trật tự thiên nhiên thì chỉ có thể biết Thượng đế bằng loại suy và phủ định. Niềm xác tín của Aquinas vào việc lí trí có thể phát hiện sự hiện hữu của Thượng đế được chứng minh bằng các chứng cớ của ông về sự hiện hữu của Thượng đế. Phân tích của Aquinas về vấn đề này được tiến hành bằng các khái niệm của Aristotle về tính hiệu ứng và hành động, vật chất và dạng thức, hữu thể và yếu tính. Một vật đòi hỏi phải có vật khác mới trọn vẹn thì được cho là hiện hữu trong hiệu ứng của cái khác; sự nhận ra hiệu ứng ấy được gọi là thực tại. Vũ trụ được nhận thức như một chuỗi sự vật được sắp xếp theo trật tự hướng thượng hoặc hiệu ứng và hành động, trong cùng một lúc được ban thưởng và được tạo nên bởi Thượng đế, kẻ một mình ngài là hành động đơn thuần. Thượng đế thì bất biến vì biến đổi có nghĩa là đi từ hiệu ứng tới hành động. Và như thế, Thượng đế hiện hữu mà không có bắt đầu cũng chẳng có kết thúc, vì cả hai cái đó đòi hỏi sự biến đổi. Vật chất và dạng thức đều thiết yếu để am hiểu sự biến đổi, vì biến đổi đòi hỏi đồng nhất tính của cái trở thành và cái mà nó trở thành. Vật chất là cái đầu và dạng thức là cái sau. Mọi vật có tính vật lý đều được làm thành bởi vật chất và dạng thức. Lâu đài Monte San Giovanni Campano . Sự khác biệt giữa cái là dạng thức hoặc đặc tính với sự hiện hữu thật sự của nó được biểu hiệu bằng các thuật ngữ yếu tính và hữu thể. Chỉ ở trong Thượng đế mới có sự phân biệt giữa vật chất và dạng thức. Từng cặp một: vật chất và dạng thức, yếu tính và hữu thể, đều là những trùng hợp đặc biệt của hiệu ứng và hành động. Hệ thống của Aquinas dựa trên ba phân biệt đó. Hữu thể cũng có thể được đặc điểm hóa bằng kiểu thức (mode). Kiểu thức không thêm được gì vào ý tưởng về hữu thể nhưng nó là phương cách để làm rõ ràng và dứt khoát cái tiềm ẩn bên trong hữu thể. Theo ý nghĩa nào đó, kiểu thức có nghĩa là sự phân chia hữu thể thành các phạm trù. Theo ý nghĩa khác, nó phô diễn những phân biệt nhất định của hữu thể trong sự chung chia với mọi loại. Theo ý nghĩa này, các kiểu thức được biết như là những cái tiên nghiệm; cùng với hữu thể, một cách chủ yếu, những cái đó là sự hiệp nhất, chân lý và cái thiện. Những từ ngữ ấy có thể hoán đổi cho nhau. Vì cái đối lập của hữu thể không hiện hữu và cái thiện thì đồng hóa với hữu thể, nên đối với Aquinas, thật rõ ràng rằng cái ác chỉ là sự vắng mặt cái thiện. Suốt một thời gian dài, Aquinas bị lãng quên hoặc bị hiểu sai bởi ngay cả những triết gia vĩ đại nhất, nhưng cuoi cùng, những lời giảng của ông đã khải hoàn. Sự kiện chúng được công nhận chính thức trong Giáo hội Công giáo La Mã không có nghĩa người Công Giáo có thể không bám sát các triết học khác, đặc biệt các lời giảng mang bản sắc Scotus, được triển khai từ học thuyết của Duns Scotus (k.1270-1308), người sáng lập trường phái dòng thánh Phanxicô và mở cuộc tranh luận sôi nổi với Thomas Aquinas. Tổng hợp tuyệt vời của Aquinas ngày nay được khái quát công nhận là một trong những công trình vĩ đại nhất của tư tưởng loài người, Triết học bao quát của ông được áp dụng vào mọi cảnh giới của cuộc sống con người. Thuyết Thomas — Thomist, được gọi cách ấy vì lòng kính trọng thánh vị Aquinô của ông do Giáo hội Công giáo phong — là một cấu trúc toàn vẹn trong chính nó, và không đơn giản là một bộ sưu tập các lý thuyết triết học. Các thuật ngữ tân Thomas và tân kinh viện được dùng để gọi một trường phái triết học trong thế kỷ 20. Các thủ lãnh Công giáo Pháp của trường phái này là Etienne Gilson (1884-1978), sử gia triết học và nhà thần học, và Jacques Maritain (1882-1973), nhà thần học, những kẻ tìm cách áp dụng các nguyên tắc của thuyết Thomas vào các điều kiện xã hội, kinh tế và chính trị hiện đại. Người ngoài Công giáo cũng tìm cách thích nghi các nguyên tắc của thuyết Thomas vào dời sống hiện đại; họ cũng được gọi là những người tân Thomas chủ nghĩa. ( Nguồn: Lấy từ một phần bài viết Ba mươi triết gia phương Tây của Nguyễn Ước) Tượng Thomas Aquinas. CHUYÊN MỤC THƠ VĂN Thơ Trần văn Kinh 3. Tửu tam bôi. Mới một ly mà, mới nhấp môi, Gió đưa hương đến, nhẹ như mời ! Hai ly đã thấy tình xuân lắm Ly nữa, này xuân mới tuyệt vời… 4. Nửa chén quỳnh tương. Có khoảnh khắc nào, em đấy chăng Cung thương dìu dặt khúc Tầm dương(*) Thi nhân với tiếng tơ đàn ấy Một nỗi nhân tình giữa thế gian Có khoảnh khắc nào, ta đấy chăng Tầm dương dạ khúc cứ đa mang Ngàn năm đâu phải mình ta nhỉ Nửa chén quỳnh tương, nhấp dở dang… ——- (*) Bến tầm dương canh khuya đưa khách Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu… (Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị) Hoàng Thảo Mưa – Lại mưa nữa rồi, mưa gì mưa mãi! – Thì mùa mưa mà em! Hình như tôi không còn là tôi. Chỉ một cái nhìn cũng khiến tôi rùng mình. Một hơi thở cũng đủ quấn chặt lấy tôi kéo lại gần anh ấy. Mọi lời anh nói dù rất khẽ cũng làm tôi đau. Ngay cả những lúc anh im lặng uống cà phê, tiếng những viên nước đá lanh canh trong lòng cốc cũng khua vào lòng tôi những nhịp đập nghẹn thở. Anh kể toàn những chuyện vui khiến tôi không thể nhịn cười. Nhưng những tiếng cười ấy cũng làm tôi ray rứt mà anh không biết. Giá như anh đừng nói gì. Chỉ cần anh ngồi im thôi cũng đủ làm tôi ấm áp. Tôi lạnh không phải vì những cơn gió đêm mang theo hơi mưa. Những tiếng cười của tôi đang làm tôi tê tái. Bỗng dưng những lần gặp nhau bình thường ở quán cà phê lại trở thành một niềm mong mỏi, những giây phút khuấy động nhịp sống đơn điệu hàng ngày của tôi, lấp đầy một khoảng trống âm ỉ ngày càng lớn trong đời sống. Tôi bỗng sợ ngày mai, khi anh ra đi, những ngày cũ sẽ lập lại, dài hơn, chậm hơn, trống vắng hơn. Tôi ngồi với anh đã hơn 3 giờ đồng hồ mà anh vẫn không nói điều tôi muốn được nghe. Chỉ cần một lời thôi cũng có thể làm tôi sung sướng thao thức suốt đêm để mơ mộng, để tưởng tượng về cả phần đời còn lại. Có lẽ anh biết điều tôi thầm mong muốn và cố tình đùa cợt tôi chăng? – Mới tạnh một chút trời lại mưa nữa. Mưa hoài, anh nhỉ? – Ừ, trời mưa thế này thì đành ngồi tán gẫu cho qua thời gian chứ biết làm gì! Tôi không muốn biện hộ. Sự thành thật của những rung cảm sẽ làm chứng cho tôi. Em cười rất tươi theo những câu chuyện bông đùa của tôi nhưng em không biết tôi đang chết héo trong cảm xúc của mình. Những câu chuyện linh tinh ấy là cái phao cuối cùng để tôi bám víu vào thực tại. Ngày mai tôi đi rồi. Có nên không để lại một niềm lưu luyến và bao tiếc nuối? Em đâu biết rằng tôi muốn vứt bỏ hết màn kịch tôi đang độc diễn để có thể nói lên một lời thành thật duy nhất, rất thiết tha, và rất quen thuộc, như đã bao lần tôi đã thốt lên với những người con gái đi qua hay ở lại trong đời mình. Tôi không muốn những cảm xúc vừa êm ái vừa đau đớn này tan biến. Cái cảm xúc khi tim chợt sai nhịp đập, khi tâm trí bỗng nhiên mộng du, khi mỗi ánh mắt chạm vào đâu cũng biến nơi đó thành vàng ngọc quý giá. Chỉ có sự từng trải của một người đàn ông mới giúp tôi giữ được vẻ bình thản cần thiết. Và sự lo sợ nữa! Tôi sợ rằng nếu tôi không đủ tỉnh táo thì những giây phút đẹp đẻ này sẽ vỡ tan và trở thành nỗi ân hận khôn nguôi như những mối tình đã trót đánh mất. Những mối tình luôn là mối tình đầu. – Vậy là ngày mai anh đi? – Ừ, ngày mai anh đi. Sao anh không hiểu rằng em đang chờ chỉ mỗi một lời ấy? Em bồng bột ư? Có thể. Nhưng em đang sống thực với chính mình nhất trong sự bồng bột ấy, anh có biết không? Chỉ có anh mới có thể cuốn em vào cái dòng lũ mê đắm này. Chưa bao giờ em có cái cảm giác ấy mặc dù không ít người đã từng đến với em và mong mỏi ở em nỗi xao xuyến dữ dội như thế. Em đang buông trôi chính mình trong dòng thác ấy, đang chờ đợi những phiêu lưu đầy mê hoặc. Nhưng anh đã neo chặt em lại bên này bờ an toàn. Em nào cần tới sự an toàn ấy đâu anh! Không, em tin là anh hiểu rõ em. Nhưng anh không thể cho em điều em khao khát. Điều đó càng làm em thêm đau, và muốn đau hơn. Cái đau đớn ấy sao mà đầy ma lực bởi vì chính sự hóa giải nỗi đau mới là điều kỳ diệu. Anh, chỉ có anh mới có thể cho em điều kỳ diệu ấy. Em không cần biết đằng sau điều kỳ diệu lấp lánh ấy những bất trắc gì đang chờ đợi. Em chỉ cần một lời của anh thôi cũng đủ thấy mình đã sống bằng muôn cuộc đời. Chẳng lẽ anh muốn chính em phải nói ra với anh những điều ấy sao anh? – Mình đã ăn hai tô mì và uống mấy ly nước rồi mà vẫn chưa hết mưa, anh nhỉ? – Chắc sắp tạnh mưa rồi. Mưa đã bớt nặng hạt. Em ngồi im lặng đã lâu. Hình như em đang chịu đựng những cơn mưa. Mưa sắp tạnh rồi. Những câu chuyện bông đùa của tôi cũng gần khô kiệt. Khách trong quán cà phê đã lần lượt ra về. Cuối cùng chỉ còn lại hai người. Tôi sẽ nói lời ấy chứ? Gương mặt em trong bóng tối của quán cà phê vắng sao quá gần! Nếu mình nói ra mà bị từ khước, bị hoài nghi thì đau đớn lắm. Nhưng nếu được chấp nhận thì có hết đau đớn không? Chỉ một lát nữa thôi là mưa sẽ tạnh. Và tôi sẽ không còn cơ hội nào nữa để được thấy mình lớn lao hơn chính mình trong niềm ngây ngất được vượt thoát cái thực tại không có thực này. Có lẽ những gì không thể cầm giữ trong lòng bàn tay mới là những điều có thực bởi vì ai cũng trân trọng và khao khát. Biết là không thể cầm giữ được nhưng vẫn muốn vươn tay ra vồ chặt lấy. Điều có thực ấy đang ở ngay cạnh bên tôi. Chỉ cần tôi đưa tay ra… Và nói một lời… Tôi đưa tay ra. Bàn tay cầm chiếc thìa khoắng lanh canh trong lòng ly cà phê đã cạn. Tôi không nói được điều mình muốn nói. – Anh ơi, tạnh mưa rồi! – Ừ, thôi mình về. CHUYÊN MỤC CHUYÊN XƯA CHUYỆN NAY Vũ Đức Sao Biển ( do ĐỖ CAO ĐÀM sưu tầm) Rượu trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung Cũng như nhiều dân tộc khác ở vào vùng khí hậu lạnh, dân tộc Trung Hoa trường thích rượu. Khái niệm rượu đã được người xưa kết hợp với khái niệm lễ, không có rượu không thành lễ nghi (vô tửu bất thành lễ). Rượu là thức uống kích thích niềm sảng khoái, được dùng trong y dược Trung Hoa như một chất xúc tác. Thời Tam Hoàng, Ngũ Đế đã có những bài thuốc ngâm rượu, những cách xông hơi rượu ra đời. Trong những tác phẩm võ hiệp tiêu biểu của Kim Dung, rượu luôn luôn có mặt, dàn trải khắp cả câu chuyện. Chắc hẳn những bạn đọc tác phẩm Kim Dung đều đồng ý rằng đoạn tửu luận của Tổ Thiên Thu trong Tiếu ngạo giang hồ là đoạn gây sảng khoái nhất. Với đoạn văn này, Kim Dung đã nâng nghệ thuật uống rượu lên thành một thứ đạo: tửu đạo – và với cách diễn đạt tài tình, dàn cảnh oái ăm, Kim Dung đã thực sự cuốn hút người đọc. Tổ Thiên thu biết được Lệnh Hồ Xung, người yêu của Thánh cô Nhậm Doanh Doanh, đang bị bệnh mất hết công lực. Anh ta bèn ăn cắp Tục mệnh bát hoàn (8 viên thuốc duy trì mạng sống) của một người bạn thân là Lão Đầu Tử, hòa vào rượu để dẫn dụ cho Lệnh Hồ Xung uống. Nguyên Lão Đầu Tử đã bỏ ra 18 năm để ăn cắp những kỳ trân, dược vật trên thế gian, chế ra 8 hoàn thuốc thuần âm, chữa trị chứng “Tiên thiên bất túc” (một dạng suy dinh dưỡng) cho con gái mình là Tiểu Di. Trong khi đó, bệnh của Lệnh Hồ Xung thuộc trạng thái khí âm hàn. Cho nên, đem thuốc thuần âm cho kẻ dư khí âm hàn uống khác nào sông Trường Giang nước đã đầy, lại được tháo nước hồ Bàn Dương, hồ Động Đình đưa vào cho nước thêm đầy lên, hóa ra càng thêm hại. Tổ Thiên Thu biết Lệnh Hồ Xung là người khảng khái, không chịu uống thuốc ăn cắp nên y bày đặt ra chuyện tửu luận, kích thích tinh thần Lệnh Hồ Xung. Theo y, bậc danh sĩ phải biết uống từng thứ rượu với từng thứ chung riêng: rượu Bồ đào uống chung Dạ quang; rượu Trúc diệp thanh phải uống chén Dương chi bạch ngọc mà phải Dương chi bạch ngọc đời Bắc Tống; rượu trắng phải uống trong sừng trâu, lấy mùi tanh của sừng chế ngự mùi men nồng của rượu; rượu Bách thảo mỹ tửu được chế với 100 thứ hoa cỏ thơm, phải được uống với chung bằng trúc để thơm hơn…Y nói một hơi 8 thứ rượu và móc trong bọc ra 8 thứ chén, rót rượu vào mời Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung tức khí, nuốt sạch 8 chén rượu; có chén thum thủm mùi cá ươn, có chén cay sè, có chén rào rạt như ngàn dao đâm vào cổ họng…Thiện ý của Tổ Thiên Thu là cứu người, vì hắn dốt nát về y lý hóa ra làm hại người. Trong Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung xây dựng nhân vật Lệnh Hồ Xung, đại đệ tử phái Hoa Sơn, là một chàng du tử lãng mạn, quý rượu hơn tính mạng mình. Đoạn buồn cười nhất là đoạn Lệnh Hồ Xung xin rượu Hầu nhi tửu của lão ăn xin dưới chân thành Hành Dương. Lệnh Hồ Xung chỉ xin uống một tợp và lão cũng chỉ đồng ý cho uống một tợp mà thôi. Nào ngờ, nghe hơi rượu ngon, Lệnh Hồ Xung đã vận hỗn nguyên khí công uống sạch bầu rượu. Lão ăn xin lăn đùng ra khóc vì tiếc bầu rượu. Lệnh Hồ Xung đành phải xin lỗi và mời lão vào tửu lâu, đãi lão một chầu túy lúy càn khôn. Trong khi uống rượu, các nhân vật của Kim Dung thường thể hiện phẩm cách người đối ẩm với mình. Đoạn uống rượu đẹp nhất và khiến cho người đọc kinh ngạc nhất là đọan Điền Bá Quang mời rượu Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung bị sư phụ phạt giam trên đỉnh Ngọc Nữ Phong để ăn năn, sám hối. Biết bạn rất nhớ rượu, Điền Bá Quang đã vượt 5000 dặm về tới kinh đô Lạc Dương, vào trong Tuý tiên lâu, hoàng cung của vua Tống, ăn cắp 2 hũ Thiệu Hưng nữ nhi hồng. Thấy trong hầm rượu của hoàng cung còn đến mấy ngàn hũ Thiệu Hưng, Điền Bá Quang phóng cước đá bể tất cả để “bọn vua quan không còn được uống thứ rượu quý này nữa”, vì trên đời này “chỉ còn Điền mỗ với Lệnh Hồ huynh đệ mới xứng đáng được uống nó mà thôi”. Tuy nhiên, gánh 2 hũ rượu lên Ngọc Nữ Phong là chuyện dễ, mà được đối ẩm với Lệnh Hồ Xung là chuyện cực kỳ khó vì Điền Bá Quang vốn rất sợ sư phụ của Lệnh Hồ Xung là Nhạc Bất Quần. Hắn bèn nghĩ cách điệu hổ ly sơn làm Nhạc Bất Quần lầm mưu xuống núi đi tìm Điền Bá Quang. Thế là hắn ung dung lên Ngọc Nữ Phong đối ẩm với Lệnh Hồ Xung. Nhà Nho có câu :”Bậc quân tử lấy văn kết bạn” (quân tử dĩ văn hội hữu). Kim Dung đã mượn chén rượu cho những nhân vật võ lâm của mình giao kết với nhau. Trong tình bạn hay trong tình yêu, chén rượu vẫn làm vai trò của cơ duyên hội ngộ. Đọc Thiên Long bát bộ, ta thấy cuộc hội ngộ giữa Kiều Phong, bang chúa Cái bang và Đoàn Dự, vương tử nước Đại Lý, là cuộc hội ngộ trong hương rượu nồng. Thoát ra khỏi cảnh giam cầm ở Thái Hồ, Đoàn Dự tìm đến một quán rượu ngoài thành Vô Tích thì bắt gặp: “Một đại hán mắt sáng như điện, trạc ngoài 30, thân thể cao lớn, mặc áo vải màu tro, phục sức sơ sài, mộc mạc” đang ngồi độc ẩm. Đoàn Dự nhận định: “Đây chắc chắn là hào khách của Yên, Triệu; Giang Nam quyết không thể có nhân vật thế này”. Ngoại hình Kiều Phong đã khiến Đoàn Dự kính ngưỡng, bèn mời Kiều Phong uống rượu. Kiều Phong gọi tất cả 30 cân rượu (khoảng 18 lít) và đề nghị Đoàn Dự uống bằng bát lớn. Đoàn Dự nào biết uống rượu? Cho nên uống xong bát đầu tiên, anh đã muốn gục xuống tại chỗ; Kiều Phong chỉ nhìn anh mà tủm tỉm cười. Đến đây thì Kim Dung “cứu” nhân vật của mình. Vốn Đoàn Dự đã học được tuyệt kỹ Lục mạch thần kiếm, quy khí lực vào huyệt Đan điền rồi vận công phóng kiếm khí vô hình ra 6 ngón tay. Từ kiếm khí, Kim Dung cho phép nhân vật của mình phóng ra …kiếm tửu. Đoàn Dự nạp hết số rượu vừa uống vào huyệt Đại truy, rồi dẫn rượu đi qua các huyệt Thiên tôn, Kiên chân, Tiểu hải, Chi chính, Dưỡng lão, Dương cốc, Hậu thoát và “phóng” rượu ra nơi ngón Thiếu trạch (ngón út). Anh ta cứ gác tay trái lên vách quán rượu, uống bao nhiêu vận nội lực phóng rượu ra bấy nhiêu khiến Kiều Phong kinh hoàng, tưởng tửu lượng chàng thư sinh cao không kể xiết! Từ cuộc đấu rượu hi hữu đó, họ nhận ra phẩm chất của nhau và kết nghĩa anh em. Cuộc đối ẩm giữa Kiều Phong và Đoàn Dự làm cho người đọc vừa sảng khoái vừa buồn cười. Rượu nối kết tình bạn và cũng chính rượu tạo ra hào khí. Trong Thiên Long bát bộ, có đoạn nhà sư Hư Trúc, cung chủ Linh Thứu, bái kết Kiều Phong làm đại ca trước mặt quần hùng Trung Nguyên khi Kiều Phong đang bị quần hùng vây hãm. Từ nước Khất Đan, Kiều Phong dẫn 18 tên lính trung thành gọi là Yên Vân thập bát kỵ, mang theo 36 túi da dê đựng rượu quay về chùa Thiếu Lâm, tỉnh Hồ Nam. Nơi đây, anh bị quần hùng vây hãm. Trong cảnh nguy nan, bỗng dưng Đoàn Dự xuất hiện. Hai anh em đang bưng rượu lên uống thì một nhà sư xấu xí trong đội ngũ chùa Thiếu Lâm chạy ra: “Đại ca với tam đệ uống rượu sao không gọi ta ?”. Nhà sư đó là Hư Trúc. Hư Trúc đã kết nghĩa với Đoàn Dự nhưng chưa được bái kiến Kiều Phong. Mặc dù quy luật giới tửu (cấm rượu) của chùa Thiếu Lâm rất khắt khe nhưng khi đã thấy đại ca và tam đệ uống rượu để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu, Hư Trúc cũng nổi hào khí, muốn uống rượu trước mặt quần hùng để chia sẻ với hai người anh em những hoạn nạn sẽ xảy ra. Và quả nhiên bầu rượu nghĩa tình đó đã làm nên đại sự. Kiều Phong chế ngự được kẻ đại ác Du Thản Chi, vươn tay xách cổ Cô Tô Mộ Dung Phục như người ta xách một con gà. Đoàn Dự sử dụng 6 thế Lục mạch thần kiếm đánh cho Mộ Dung Phục thất điên bát đảo, làm phơi bày toàn bộ âm mưu đen tối của nhà Mộ Dung. Hư Trúc vận Bắc minh chân khí, biến những giọt rượu của đại ca thành băng làm một thứ Sinh tử phù cấy vào người gã đại ác Đinh Xuân Thu, chế ngự và sanh cầm gã. Bọn Yên Vân thập bát kỵ, mỗi người một túi rượu, phanh cổ áo để lộ ra hình tượng con chó sói được xăm trên ngực của dân tộc Khất Đan, hú lên những tiếng hoang dã và ngửa cổ uống rượu, thể hiện quyết tâm cũng liều chết với chủ tướng Kiều Phong. Chưa có một đoạn nào trong tiểu thuyết cổ kim miêu tả hào khí của con người trước gian nan thử thách hay hơn đoạn của Kim Dung viết về cuộc hội ngộ của 3 anh em Kiều Phong – Hư Trúc – Đoàn Dự dưới chân núi Thiếu Thất. Nhưng rượu trong tác phẩm võ hiệp của Kim Dung không chỉ uống trong lúc đoàn viên, mà còn được uống trong khi lâm biệt đầy máu và nước mắt. Như trong trận ác đấu của Kiều Phong tại Tụ hiền trang. Từ khi biết mình là người Khất Đan, Kiều Phong chỉ mong tìm về bên kia Nhạn môn quan để suốt đời săn chồn đuổi thỏ, tuyệt không dính dấp đến giới võ lâm Trung Quốc nữa. Nhưng hoàn cảnh đã bó buộc ông phải cứu lấy cô bé A Châu, và ông đã bế nàng tới Tụ hiền trang ra mắt Tiết Mộ Hoa, nhờ viên thần y này giúp đỡ. Hóa ra KIều Phong đã tự dấn thân vào chốn hung hiểm: quần hùng Trung Nguyên đang họp nhau tại Tụ hiền Trang để bàn kế sách diệt ông, loài Liêu cẩu man rợ! Kiều Phong nhìn những kẻ đang vây hãm mình. Họ là những anh em ruột thịt của ông ngày trước ở Cái bang, là những bạn bè tốt của ông thuộc các võ phái Trung Quốc, là những người mà ông cha bao giờ có ý niệm thù hằn, căm ghét. Nhưng cục diện ở Tụ hiền trang lúc đó là một mất một còn, là ta sống thì người chết. Kiều Phong đã đề nghị anh em Du Ký, Du Câu – chủ nhân Tụ hiền trang – cho xin mấy vò rượu lớn. Ông rót rượu ra bát lớn, mời anh em Cái bang uống trước để nói lời cuối cùng, dứt tình đoạn nghĩa. Ông uống rượu với bạn bè các môn phái mỗi người một bát. Có kẻ bưng tô rượu dứt tình với Kiều Phong mà nước mắt tuôn rơi. Rồi sau đó, Kiều Phong đại khai sát giới, tìm con đường sống riêng cho mình, chạy về bên kia ải Nhạn môn quan nghìn trùng xa cách. Có trường hợp uống rượu tưởng như chia biệt lại hóa ra đoàn viên. Đó là trường hợp uống rượu kỳ cục của Cẩu Tạp Chủng (Thạch Phá Thiên), một thiếu niên ngây thơ, trong trắng trước hai ông anh kết nghĩa đầy mưu mô xảo quyệt là Trương Tam và Lý Tứ. Trương Tam, Lý Tứ thật ra chỉ là tên giả mạo; họ chính là hai sứ giả Thưởng Thiện và Phạt Ác của đảo Long Mộc ngoài biển Đông. Trương Tam, Lý Tứ cũng giả vờ kết nghĩa với Thạch Phá Thiên, cũng thề đồng sinh đồng tử, nhưng trong bụng hai lão chỉ muốn chàng thiếu niên này chết đi cho khuất mắt. Trương Tam có bầu rượu dương cương, Lý Tứ có bầu rượu âm nhu, mỗi lão tự uống bầu rượu của mình và lão này rất sợ bầu rượu của lão kia. Kết nghĩa xong, chàng thiếu niên Thạch Phá Thiên đề nghị… uống rượu. Thạch Phá Thiên ngây ngô, xin được uống hai thứ rượu trong đủ hai bầu. Trương Tam, Lý Tứ cả mừng vì đinh ninh thế nào thằng nhỏ này cũng chết tươi vì hai thứ rượu xung đột nhau. Một lần nữa, Kim Dung lại “cứu” nhân vật ngây thơ, trong trắng của mình. Thạch Phá Thiên đã từng ngộ kỳ duyên, con người chàng ta dung hòa được cả hai loại chất độc dương cương và âm nhu. Cho nên uống rượu xong, chẳng những chàng trai trẻ không chết mà công lực còn tăng tiến. Trương Tam, Lý Tứ hối hận và xấu hổ vô cùng. Từ tình bạn giả trá, họ đã đổi ra tình bạn chân thành. Cẩu Tạp Chủng trở thành người em tốt của Thưởng Thiện và Phạt Ác. Đó là chương uống rượu thú vị nhất trong toàn bộ bộ truyện Hiệp khách hành. Rượu trong truyện võ hiệp Kim Dung còn làm nên tình yêu lứa đôi, giàu chất thơ lãng mạn. Có những lứa đôi gặp gỡ lần đầu tiên qua chén rượu và tình yêu bắt nguồn từ đó. Trong Ỷ thiên Đồ long ký, Trương Thúy Sơn làm quen với Hân Tố Tố qua chén rượu trên con thuyền nhỏ đậu giữa lòng Thái Hồ. Trương Vô Kỵ cũng gặp gỡ và yêu quận chúa Triệu Mẫn qua chén rượu. Đoạn giàu chất thơ nhất của Ỷ thiên Đồ long ký là đoạn Triệu Mẫn nhớ Vô Kỵ, tìm lên tửu lâu và ngồi đúng vào cái bàn mà hai người đã từng ngồi đối ẩm. Thiếu vắng Vô Kỵ, cô cũng gọi bình rượu, thức ăn, hai cái chén, hai đôi đũa, hai chung rượu. Cô rót rượu ra đủ hai chung, uống một chung và nước mắt rơi. Đúng lúc đó thì Trương Vô Kỵ xuất hiện. Và họ tìm lại được hơi ấm tình yêu trong chung rượu đối ẩm. Trong Tiếu ngạo giang hồ, Lệnh Hồ Xung thường đối ẩm với người yêu là Doanh Doanh. Một nhân vật khác, Lam Phượng Hoàng, giáo chủ Ngũ độc giáo Vân Nam, cũng rất say đắm Lệnh Hồ Xung. Cô mang vò rượu Ngũ độc mỹ tửu, trong đó có ngâm năm thứ trùng độc, từ Vân Nam đến Giang Nam để chữa bệnh cho Lệnh Hồ Xung. Cảm xúc tấm thịnh tình đó, Lệnh Hồ Xung đã uống rượu cho cô vui lòng. Tác giả Kim Dung đã để cho Lam Phượng Hoàng hôn Lệnh Hồ Xung trước mặt mọi người, kể cả sư phụ của Lệnh Hồ Xung là Nhạc Bất Quần. Trong con mắt của Lam Phượng Hoàng, kẻ biết uống rượu của cô mới là người tốt. Trong Thiên Long bát bộ, mỗi khi trở về Nhạn môn quan, Kiều Phong nhớ A Châu là tìm đến chung rượu giải sầu. Đoạn đẹp nhất trong mối tình hai người là đoạn Kiều Phong ngồi nghe A Châu tâm sự: “Đại ca ơi, tiểu nữ nguyện suốt đời đi theo đại ca về Nhạn môn quan săn chồn đuổi thỏ, sống cuộc đời ung dung khoái lạc”. Nghe cô bé tâm sự, Kiều Phong cao hứng. Trong cái quán nghèo ngoài biên giới không có một giọt rượu, ông cũng giả vờ nâng cái chén không lên, ngửa cổ ra như đang thực sự thưởng thức men rượu nồng. Trong Thần điêu hiệp lữ, có cô bé Quách Tương, 16 tuổi, say mê người huynh trưởng của mình là Thần điêu đại hiệp Duơng Qua. Mặc dù Dương Qua chạy theo hình bóng của sư phụ là Tiểu Long Nữ, không nghĩ đến mối tình si của Quách Tương, Quách Tương vẫn vượt ngàn dặm ra đi tìm anh. Trong túi hành trang của cô bé, luôn luôn có một bầu rượu. Cô chỉ có mỗi ước mong: cùng Dương Qua đối ẩm. Nhưng ước mong đó không bao giờ thành hiện thực. Quách Tương lên núi đi tu, trở thành sư tổ phái Nga Mi. Những lứa đôi yêu nhau của tác phẩm Kim Dung uống rượu như ta uống cà phê. Họ gặp nhau là mời nhau chén rượu, trang trọng, cung kính. Không có ai uống rượu đến nỗi quần áo xốc xếch, ong bướm lả lơi. Chén rượu trong tình yêu của tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung mang theo tính cách đạo đức mặc dù khung cảnh uống rượu lãng mạn vô kể: uống trong quán khuya vắng người, uống trong căn phòng chỉ có hai người, giữa đêm mùa dông tuyết rơi lả tả; uống trên con thuyền nhỏ chơi vơi giữa đêm trăng trên dòng Trường Giang mông mênh. Nhân vật Tiêu Tương Dạ Vũ Mạc Đại tiên sinh, chưởng môn phái Hành Sơn trong Tiếu ngạo giang hồ luôn luôn gắn liền tâm hồn mình với chén rượu. Kim Dung mô tả Mạc Đại: “Tướng mạo tiên sinh điêu linh cổ quái, lúc nào cũng như ba phần tỉnh, bảy phần say”. Mạc Đại có cây dao cầm rất cũ kỹ, trong cây dao cầm lại giắt một lưỡi kiếm mỏng như lá lúa. Tiên sinh xuất hiện dưới chân núi Hành Sơn, trong quán rượu đầy ấn tượng. Quần hùng gồm 7 gã, uống 7 chung trà, đang ngồi nghị luận rằng võ công Mạc Đại còn kém thua sư đệ mình là Lưu Chính Phong vì Lưu Chính Phong đánh ra một đường kiếm là đứt đầu 5 con chim nhạn. Lúc đang nói chuyện cao hứng thì một ông già gầy gò đi đến, nghẹo cổ nhìn các hán tử và bảo: “Các người nói thúi lắm!”. Rồi bỗng dưng, các gã hán tử chỉ thấy trước mắt hoa lên một cái như có một luồng ánh sáng lấp lánh. Ông già gầy gò bỏ đi, tiếng đàn tình tang xa dần. Một cơn gió nhẹ thổi qua trên bàn ruợu, 7 cái miệng chén bị cắt đứt lìa lần lượt rơi xuống mặt bàn, vỡ tan. Hóa ra kẻ lam lũ ấy là Mạc Đại tiên sinh. Ông già say ấy rút kiếm khi nào, chém 7 miệng chén khi nào, đút kiếm vào đáy cây dao cầm khi nào, không ai nhìn rõ được. Chỉ với một đường kiếm tiện đứt 7 miệng chung thì 7 đầu chim nhạn phỏng có là bao! Rõ ràng, trong đoạn này có hai thứ: một thứ trà sinh nói bậy của 7 hán tử và một thứ rượu cực kỳ tỉnh táo của Mạc Đại tiên sinh. Rượu trong truyện võ hiệp của Kim Dung cũng biến thành một thứ võ khí. Trong Thiên Long bát bộ, bọn Dư Bà Bà của cung Linh Thứu tung bì rượu lên thành thế Mãn thiên hoa vũ (mưa hoa đầy trời) cho chủ nhân mình là Hư Trúc dùng Bắc minh chân khí hóa rượu thành băng, khống chế địch thủ. Rượu được dùng để pha độc được, trừng trị những anh háo sắc. Vợ của Mã Đại Nguyên là Ôn Thị tư tình với Đoàn Chính Thuần, em ruột nhà vua nước Đại Lý. Giận Chính Thuần lòng dạ lang chạ, Ôn Thị đã pha bình Mê xuân tửu dụ cho Đoàn Chính Thuần uống, rồi trói lại và bắt đầu… cắn từng miếng thịt của Đoàn Chính Thuần để trả thù. Trong Lộc Đỉnh ký, Vi Tiểu Bảo đã biết dùng Mê xuân tửu từ thuở bé. Mẹ của y là Vi Xuân Phương, làm điếm trong thành Dương Châu đã từng pha thuốc mê vào rượu cho bọn làng chơi uống, để trấn lột tiền tài vật dụng. Đắc thủ được bài học lưu manh đó khi làm quan lớn ở Bắc Kinh, Vi Tiểu Bảo cũng pha chế những bình Mê xuân tửu để hãm hại, vu cáo những kẻ thù của mình. Từ rượu độc, Vi Tiểu Bảo nghĩ ra những trò đầu độc khác tệ hại hơn và tất nhiên mực độ lưu manh hạ cấp cao hơn. Rượu trợ lực cho những màn tác oai, tác quái của bọn quan lại triều Thanh. Để hành hạ Trịnh Khắc Sảng, kẻ tình địch ngày trước của mình, Vi Tiểu Bảo đã cho tiền để bọn thị vệ dưới quyền uống rượu thoải mái. Uống xong, chúng kéo qua tư dinh Trịnh Khắc Sảng, đòi nợ cho “công tước” Vi Tiểu Bảo. Chúng đập phá nhà cửa, tài sản, lăng nhục Trịnh Khắc Sảng và vợ con, bắt cóc, giết người rồi vu cáo… Đọc tác phẩm Kim Dung, ta biết được người Trung Quốc có nhiều thứ rượu danh tiếng: Thiệu Hưng Nữ nhi hồng, Thiệu Hưng Trạng nguyên hồng, Trúc diệp thanh, Mai quế lộ, Bách thảo tửu, Biên tái tửu, Hầu nhi tửu, Bồ đào tửu, Ngũ gia bì, Kim tước tửu… Đọc Kim Dung, ta mới biết được phong cách uống rượu của người Trung Quốc: rượu thường được hâm nóng trước khi uống, nhất là vào mùa đông. Thỉnh thoảng, trong vài tình huống đặc biệt, khi công nghiệp làm nước đá chưa ra đời, tác giả đã để cho nhân vật mình làm ra băng để uống rượu. Trong Tiếu ngạo giang hồ, có đoạn Lệnh Hồ Xung cùng Hướng Vấn Thiên tìm về Cô Mai sơn trang ở Giang Nam gặp gỡ Giang Nam tứ hữu. Để mời rượu Lệnh Hồ Xung giữa mùa hè nóng bức, Đan Thanh tiên sinh đã nhờ anh mình là Hắc Bạch Tử dùng Hàn băng chưởng hóa nước thành ra nước đá ướp lạnh rượu bồ đào Thổ Lỗ Phồn! Đọc Kim Dung, ta mới biết được những cách uống rượu khác nhau. Đối ẩm là hai người uống, thường là tình nhân hoặc bạn hữu thân thiết. Độc ẩm là uống một mình, trong lòng đang lo nghĩ hoặc tưởng nhớ. Cộng ẩm hay Quần ẩm là một nhóm người cùng uống với nhau. Loạn ẩm là một đám đông cùng uống. Trong Tiếu ngạo giang hồ, đoạn loạn ẩm hay nhất là đoạn bọn tà ma ngoại đạo thết tiệc Lệnh Hồ Xung để lấy lòng Thánh cô Doanh Doanh. Thương nhau, quý nhau, người ta mới tặng rượu. Quần hào Cái bang Trung Quốc, tuy là đi ăn mày, đáng lẽ chỉ xin cơm, thì người ta còn xin cả rượu nữa. Chén rượu của Kim Dung đã làm cho những nhân vật của ông nổi tiếng. Hồng Thất Công nổi tiếng chuyên uống rượu với thịt chó. Kiều Phong nhờ rượu mới phát huy được thần oai, càng uống càng mạnh, càng tỉnh táo. Hư Trúc nhờ uống rượu phá giới mà tìm ra được cô vợ sắc nước hương trời: công chúa Ngân Xuyên của nước Tây Hạ. Thạch Phá Thiên nhờ uống hai thứ rượu độc mà hóa giải được sự xung đột của âm dương nhị khí, đạt đến mức thượng thừa trong võ học… ở chừng mực nào đó, Kim Dung đã nghĩ đến câu cổ thi : Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh (Xưa nay thánh hiền đều lặng lẽ Chỉ người uống rượu mới còn danh) (Lý Bạch) Tác phẩm của Kim Dung tràn đầy rượu và ruợu. Trừ những nhà sư, các nhân vật của ông ít nhiều đều biết đến chén rượu. Rượu làm nên sự hưng phấn cho cuộc đấu tranh chống cái ác, biểu dương cái thiện và lẽ công bằng ở đời. Uống rượu nhiều tất có tình trạng say rượu xảy ra. Những người say trong tác phẩm Kim Dung cũng say một cách tử tế. Trong những hội loạn ẩm, họ xai quyền thách đố nhau hoặc cãi cọ chửi bới. Duy nhất trong 12 bộ truyện, có một nhân vật say rượu phạm vào tội đại ác, trở thành một thứ tửu tặc. Nhân vật đó là Thành Khôn, sư phụ của Tạ Tốn trong Ỷ thiên Đồ long ký. Thành Khôn say rượu, đã làm nhục và giết hại vợ con của đồ đệ mình. Y lẻn vào chùa Thiếu Lâm làm một nhà tu giả mạo dưới pháp danh Viên Chân. Kẻ tửu tặc ấy đã bị tìm ra, bị trừng trị nhưng rồi cuối cùng cũng được tha thứ. Rượu trong truyện võ hiệp Kim Dung khác xa với rượu ở miền Viễn Tây Mỹ trong phim cao bồi, khác xa với rượu trong các hộp đêm trên toàn thế giới và cũng khác xa với “rượu” trong các quán bia ôm. Chính vì thế, tôi mạnh dạn gọi rượu trong truyện Kim Dung là một loại rượu đạo đức. Rượu trong truyện Kim Dung thể hiện triết lý nhân sinh gần gũi cuộc sống. Nó làm nên tình yêu, tình bạn, hận thù, sự tha thứ, mối hoài cảm, niềm hối tiếc. Qua rượu, Kim Dung hé mở cho chúng ta nhìn thấy một khoa học mới: tửu học. Với một chữ Rượu, Kim Dung đã vượt xa hơn bất kỳ nhà văn nào khác. Rượu của ông có bài bản, có tính chất triết lý tề chỉnh. Nó góp phần làm nên cái đẹp cho đời sống con người. Men rượu kết hợp với men tình, men võ khiến ta không “uống” được tác phẩm mà lòng vẫn say. CHUYÊN MỤC: NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT BQM: Trong tiếng Việt có rất nhiều tên cây quả ta nghe ra tưởng xuất xứ từ Trung Quốc nhưng thực ra là thuần Việt như đã đề cập đến như “ Trà ” 茶 chính là chè , là b’lè . Mật hay mít 蜜, cây mít, quả mít 菠 萝 蜜 là thuần Việt. BQM vừa vào sống trong Nam mới hai năm, nhưng đã gặp vô số tên cây như “ dương tùng” “ mãng cầu” nếu không kịp thời truy nguyên thì lại cho là tên từ TQ. Cây dương tùng ở Bắc và Trung nước ta gọi là phi lao. Nó là loại cây do người Pháp di thực sang ta có tên là philaus. Quả “na” ở trong Nam gọi là mãng cầu. Từ điển Việt Hán của Hà Thành (TQ) dịch là “ phiên lệ chi” 番 荔 枝 (nghĩa quả vải nước ngoài!) . Bản thân chữ “lệ chi”, BQM nghi là một từ thuần Việt được người Hán phiên âm . Măng cụt cũng là cây di thực mới đây, có tên Pháp là mangustan CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE LBT: Nhận thấy vui cười thư giãn, sống vui…cũng là những liều thuoc bổ nên chuyên mục này vào thứ bảy sẽ có những mẩu chuyện vui cung cấp cho độc giả . Đỗ Cao Đàm ( sưu tầm): 1.- Bánh mừng sinh nhật Một ông chồng đến tiệm đặt bánh mừng sinh nhật vợ. Ông nghĩ ra 1 câu để viết lên bánh “Em không già đi mà còn trẻ lại” . Ông nói với người làm bánh: – Tôi đặt chiếc bánh có viết dòng chữ để mừng sinh nhật vợ đấy nhé. – Trình bày thế nào ạ ? Thằng bé con chủ tiệm hỏi (vì chủ tiệm đi vắng) – Viết thế này: EM KHÔNG GIÀ ĐI, phía trên, MÀ EM CÒN TRẺ LẠI, phía dưới. Thằng bé lấy bút ghi chép cẩn thận rồi nói : – Chiều ông ghé lại lấy, con sẽ làm thật đẹp và cẩn thận cho ông. Buổi tối, khi khách khứa đã ngồi vào bàn đầy đủ, người chồng mang bánh đặt giữa bàn, trịnh trọng mở hộp bánh ra và tất cả mọi người đều nhìn thấy dòng chữ “EM KHÔNG GIÀ ĐI PHÍA TRÊN, MÀ EM CÒN TRẺ LẠI PHÍA DƯỚI” 2.- MUỐN CÁI GÌ ??? Có một ông đến phòng mạch Bác sĩ than rằng vợ ông ta bị bệnh lạnh cảm, vợ chồng còn trẻ mà mấy tháng nay vợ không đòi hỏi mà cũng không cho ông gần gũi nữa. Bác sĩ khuyên ông ta nên đem vợ tới để định bệnh, nếu mới bị thì chữa rất dễ. Hôm sau ông ta dẫn vợ đến gặp Bác sĩ… Bác sĩ hỏi vợ ông ta : – Cô có thấy triệu chứng gì khác thường trong cơ thể không ? Sao ông nhà nói là cô bị lạnh cảm, không đòi hỏi, ham muốn sinh lý nữa ? Cô vợ ngạc nhiên nhìn Bác sĩ: – Bác sĩ thử nghĩ xem, cả mấy tháng nay, hàng ngày tôi đi làm bằng TAXI mà đâu có đủ tiền trả, hễ cứ cười trừ là ông tài xế lại hỏi tôi: “hôm nay cô trả tiền hay trả cái gì ?”. Tui bèn chọn “cái gì” ! Khi tui vô sở thì bị trễ giờ, ông Boss cũng hỏi: “Cô muốn tui ghi vào sở cảnh cáo hay muốn “cái gì” ?. Tui lại chọn “cái gì”. Khi tan sở tui lại về bằng taxi và ông tài xế lại hỏi: “Lần nầy cô trả tiền hay lại trả “cái gì”? Tôi lại phải chọn “cái gì” lần nữa ! Bác sĩ thấy đó, tôi về tới nhà là mệt phờ, 3 “cái gì” trong một ngày rồi thì làm sao tôi còn phục vụ chồng tôi được nữa ! ? Bác sĩ bèn nhỏ nhẹ hỏi: – Thế bây giờ cô muốn tôi nói lại chuyện nầy với chồng cô hay là cô muốn “cái gì” ???

CHUYÊN MỤC: VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Đỗ Anh Thơ ( biên soạn)

          Chương 7: Aurelius Augustinus với thuyết thượng đế thống tr

Augustine là triết gia và nhà thần học Kitô giáo, người Bắc Phi. Tên La-tin đầy đủ là Aurelius Augustinus, hoặc còn gọi là  Augustinus Hipponensis, thánh Augustine. Augustine sinh tại Tagaste, Numidia, phía nam Hippo, nơi hiện nay thuộc Algeria. Từ đó, ông bắt đầu cuộc sống phấn đấu của một triết gia hành giả, rồi trở thành vị giáo phụ vĩ đại nhất trong bốn giáo phụ La-tin của Kitô giáo và để lại ảnh hưởng lớn lao trong triết học phương Tây cùng thần học Kitô giáo. Ông đươc mẹ là một tín đồ Kitô giáo dưỡng, nhưng chàng thanh niên Augustine từ bỏ tập quán tín hữu ấy khi sang Carthage du học. Ở đó, ông tinh thông khoa hùng biện. Trong cuốn Confessions (Tự thú), ông kể lại, bằng giọng ăn năn, quãng thời gian tuổi trẻ hoang dại tại Carthage với kết quả có với tình nhân một đứa con trai tên là Adeonatus. Vào một thời điểm

 

Tranh Augustine ở nhà thờ Lateran thế kỷ thứ 6

 

Cuộc đối thoại  Augustine (Gozzoli, tk15

 

Lễ rửa tội cho Augustine  (Gozzoli, tk15

 

Augustine tranh của Simone Martini

nào đó ông cải giáo sang Manichea— thường gọi là đạo Mani, một hệ thống tôn giáo khá thịnh hành từ thế kỷ 3 tới thế kỷ 5, chủ trương Satan, cái ác hoặc bóng tối ở trong tình trạng xung khắc thường trực và bất tận với Thượng đế, cái thiện hoặc ánh sáng.

Sau năm 376, Augustine bỏ đi La Mã, dạy khoa hùng biện, rất thành công. Tới năm 384, các tín đồ Mani thúc giục ông sang Milan dạy học. Milan là khoảng thời gian then chốt của đời ông. Không còn tín nhiệm giáo phái Mani, ông tuyên bố từ bỏ đạo ấy sau khi nghiên cứu triết học Plato, thuyết tân Plato và thuyết hoài nghi. Khủng hoảng tâm linh, Augustine bị lôi cuốn mãnh liệt bởi nhiệt tình hùng biện của thánh Ambrose, giám mục Milan.

Kết thúc hai năm sống với tâm trạng hoài nghi sâu xa và rối rắm tinh thần, Augustine đột nhiên đi theo Kitô giáo. Ông làm lễ nhập đạo vào dịp lễ Phục sinh năm 387. Sau đó chẳng bao lâu, ông quay về Tagaste, sống đời tu viện với một nhóm bạn. Năm 391, trong khi thăm viếng Hippo, ông được chọn — ngoài ý muốn của mình — làm linh mục của hội thánh Kitô ở đó. Suốt phần đời còn lại, ông sống ở Hippo, làm giám mục phụ tá năm 395 rồi không lâu sau, làm giám mục. Ông qua đời khi thành Hippo bị quân Vandal bao vây.

Ảnh hưởng của Augustine lên Kitô giáo được nhiều người đánh giá là chỉ đứng sau Phaolô, vị tông đồ thời lập đạo. Các nhà thần học, cả giáo hội Công giáo, Chính thống giáo lẫn Tin Lành đều xem ông là người thành lập thần học. Cuốn Confessions (Tự thú, ra đời khoảng năm 400) được xem là kinh điển của chủ nghĩa thần bí Kitô giáo. Tác phẩm này, nguồn thông tin chính về cuộc đời của Augustine, là một biện hộ cho việc tác giả cải sang Kitô giáo, và được viết với giọng văn tuyệt vời.

 

Tranh:: Augustinus đang giảng giáo lý

Tác phẩm nổi tiếng kế đó là City of God (Thành đô của Thiên Chúa, sau năm 412), một chống trả lớn lao của Kitô giáo trước những lời phê bình nó là tà giáo, đặc biệt nổi tiếng vì quan điểm Kitô giáo được tác giả trau chuốt tỉ mỉ xuyên suốt từng trang sách. Trong đó, Augustine đánh giá toàn bộ lịch sử như một chuẩn bị có tính quan phòng của Thiên Chúa cho hai thành đô bí nhiệm, một của Thiên Chúa và một của quỉ dữ; và toàn thể nhân loại sẽ tối hậu thuộc về thành đô này hoặc thành đô kia. Và cái ác là do bởi sự thiếu cái thiện.

 

Tranh: Augustinus đang đọc sách

Tác phẩm đơn thuần giáo điều và vĩ đại nhất của ông là On the Trinity (Bàn về Chúa Ba Ngôi), một hệ thống hóa học thuyết Kitô giáo, nhưng phần lớn văn bản ấy có xuất xứ từ các bài luận chiến của ông. Các tác phẩm chống giáo phái Mani, đặc biệt Against Faustus (Chống Faustus), vị thầy Mani cũ của ông, là quan trọng vì nó chiếu rọi lên tôn giáo ấy. Ðể chống giáo phái Donatus ỏ Bắc Phi chủ thương thanh khiết và tái thanh tẩy, Augustine viết hai tác phẩm On Baptism (Bàn về phép rửa tội) và On the Correction of the Donatists (Bàn về sự sửa chữa của người Donatus) trong đó ông công thức hóa một ý tưởng mà kể từ đó, nó trở nên thành phần của học thuyết của Kitô giáo, cho rằng thẩm quyền của Giáo hội Công giáo là một bảo đảm cho Ðức tin Kitô do bởi tính chất chắc chắn của tông truyền — được truyền thừa trực tiếp từ mười hai Tông đồ của Ðức Kitô, đặc biệt Phêrô, giám mục La Mã đầu tiên.

Cuộc tranh luận ngoạn mục nhất mà Augustine can dự là trận đánh chống lại giáo phái Pelagion. Người Pelagion phủ định tội tổ tông và cuộc sa ngã của con người. Quan điểm ấy có hàm ý rằng ân sủng của Thiên Chúa không nhất thiết là bước tiên khởi để hướng tới sự cứu độ, và như thế, nó kích động Augustine, kẻ cho rằng loài người bị hư hoại và không có khả năng tự lo liệu. Trong cuộc luận chiến này, ông viết nhiều luận văn, và sau đó, tiếp tục trau chuốt các ý tưởng ấy.

Từ các văn bản của Augustine, cuộc tranh luận vĩ đại về ân sủng cứ thế tiếp diễn. Và những người tự cho mình đi theo đúng con đường của Augustine, như nhà cải cách Thệ phản người Pháp John Calvin (1509-1564) và những người theo giáo phái Hà Lan Cornelius Jansen (1585-1638) triển khai thành các thần học có tính tiền định. Dù vẫn tôn kính Augustine, nhiều nhà thần học không chịu chấp nhận những phát biểu quá cực đoan của ông về ân sủng.

Một trong các luận văn quan trọng của Augustine, On the Work of Monks (Về công việc của tu sĩ) được dùng rộng rãi trong các tu viện. Ông cũng soạn các tác phẩm bình giải Kinh thánh. Một trong những luận văn đáng quan tâm nhất của ông, được gọi là Retractions (Xóa bỏ), được biên soạn thời cuối đời, như một cách thức duyệt xét các tác phẩm và các quan điểm của mình. Augustine là bậc thầy về bút pháp, các bức thư của ông nhiều về số lượng, rất cởi mở và bộc trực. Ngày nay, mỗi khi các Hội thánh Kitô giáo gặp tranh luận hay khủng hoảng về thần học, người ta có thói quen tìm về các tác phẩm của Augustine và của các giáo phụ thời sơ khai ấy, để tham chiếu cùng tìm sự soi sáng.

 

 

Giáo lý của Augustinus chi phối tới 1000 năm của cơ đốc giáo

 

 

 

 

 

 

       Chương 8.-  Thuyết tồn tại của thượng đế và học thuyết nhà nước của Thomas Aquinas

 

Thomas Aquinas  là khuôn mặt vĩ đại nhất của triết học kinh viện và nhà thần học người Ý. Cũng được gọi là Tiến sĩ Thiên thần (Doctor Angelicus).

Sinh tại Rocca Secca, gần Naples, trong một gia đình quan quyền, Aquinas theo học các thầy dòng Bênêdictô (Biển Ðức) tại Monte Cassino rồi Ðại học Naples. Sau đó, cưỡng lại quyết định của gia đình, ông vào dòng Ðôminicô (Ða Minh), làm tu sĩ khất thực (1244). Ông bị các anh em bắt cóc và giam trong một lâu đài của cha mẹ hơn một năm. Cuối cùng, thoát ra được, ông đi Cologne và trở thành môn sinh của Albertus Magnus. Năm 1248, ông cùng thầy đi Cologne, rồi từ đó đi Paris lần nữa và nổi tiếng, trở thành giáo sư thần học rất thành công tại Anagni, Orieto, Rome và Vitenbo.

Aquinas xuất hiện khi giới thế tục tìm cách giới hạn đặc quyền của giới tu sĩ tại các đại học. Sau năm 1259, ông trải qua vài năm ở Ý, làm giáo sư và cố vấn cho Tòa thánh Vatican. Việc ông quay lại Paris có lẽ do gấp rút vì nổi giận với Siger De Brabant và bài đọc của học giả ấy trình bày quan điểm của triết gia Hồi giáo Tây Ban Nha Averroës về Aristotle. Cuộc chiến đấu học thuyết với Siger là biến cố đáng nhớ nhất trong đời Aquinas; chiến thắng ấy có nghĩa rằng lập trường của ông đã khải hoàn.

Năm 1272, Thomas Aquinas rời Paris đi Naples để tổ chức một viện nghiên cứu. Hai năm sau, đang cùng với người bạn lâu năm, Sư huynh Reginald ở Fossanuova, trên đường đi dự Công đồng Lyons với tư cách cố vấn cho giáo hoàng, Aquinas qua đời, hưởng thọ 49 tuổi.

 

                           Aquinas đang giảng thuyết thượng đế

Nhân đây, tưởng cũng nên nói đôi chút về vị triết gia Hồi giáo Averroës. Tên A Rập của ông là Ibn Rushd (1126-1198), người nổi tiếng nhất trong các triết gia Hồi giáo thời trung cổ, còn Averroës là tên gọi theo hình thức La-tin. Là quan tòa và bác sĩ ở Córdoba, Seville, nơi ông chào đời, ông sang sống một thời gian tại Marocco, Bắc Phi. Ở đó, ông làm bác sĩ ngự y cho vua Hồi Abu Yusuf nhưng rồi bị trục xuất về Tây Ban Nha vì tình nghi dị giáo. Sau đó, ông được phục hồi và quay lại sống ở Marrakesh cho tới ngày qua đời.

Tác phẩm vĩ đại nhất của Averroës là Commentaries on Aristotle (Bình luận Aristotle). Những thông giải của ông về Aristotle vẫn ảnh hưởng lâu dài sau khi ông qua đời và trở thành vấn đề suy tưởng lý tính, góp phần dọn đường cho thời Phục hưng. Ông nỗ lực đặt ranh giới tương ứng cho từng lãnh vực đức tin và lí trí, chỉ ra rằng cả hai không cần phải hòa giải vì chúng chẳng xung khắc nhau. Averroës tuyên bố triết học là hình thức thẩm tra cao nhất. Siêu hình học của ông mang sắc thái tân Plato chủ nghĩa, giống y như Avempace, người ông mang nợ trong các ý tưởng về trí thức.

Các học thuyết của Averroës về sự bất tử của cá nhân và sự hằng cửu của vật chất bị Giáo hội Công giáo lên án. Thomas Aquinas tôn trọng Averroës nhưng tấn công cuộc phấn đấu của Averroës khi vị triết gia Hồi giáo người Tây Ban Nha ấy cho rằng chân lý triết học bắt nguồn từ lý trí chứ không từ đức tin. Hầu hết tác phẩm của Averroës được châu Âu biết tới qua bản dịch bằng tiếng La-tin và Do Thái Híp-ri, về sau có ảnh hưởng lên các nhà văn Do Thái giáo, Kitô giáo và cung cấp một tổng hợp từng phần cho hai truyền thống triết học A Rập và Hi Lạp.

Khác với bản tính lầm lì và phong thái chậm chạp, Thomas Aquinas là người diễn giảng xuất sắc, rõ ràng với những tư tưởng bén nhạy, như các tác phẩm của ông cho thấy, với lối lý luận khúc chiết và sử dụng tiếng La-tin giản dị, chính xác đáng phục. Càng khiêm tốn và đức hạnh, ông càng chứng tỏ một cuộc sống tâm linh phong phú và lòng mộ đạo sâu xa. Không một tác phẩm nào vén lộ đầy đủ triết học Aquinas. Có thể xếp loại công trình trước tác suốt 20 năm của ông theo hình thức và chủ đích của từng tác phẩm.

Những cuốn chính là Commentary in the Sentences (Bình luận về các câu, 1254-1256), tác phẩm vĩ đại và sớm sủa nhất gồm một tập hợp các bài giảng cho công chúng; bảy quaestiones disputatae (các vấn đề tranh luận công khai, 1256-1271); những bình luận triết học về các tác phẩm của Aristotle như Mỹ học, Siêu hình học, Loài vật, Vật lý học; một phần của De interpretatione (Về thông giải), và Posterior Analytics (Phân tích về sau); các luận văn về nhiều chủ đề trong đó có Summa theologica contra Gentiles (Tổng luận thần học chống người ngoài Công giáo, 1258- 1260), cũng là Summa philosophica (Tổng luận triết học); và cuốn quan trọng hơn hết là Summa theologica (Tổng luận thần học, 1267-1273), tác phẩm trình bày thần học có tính hệ thống nhưng chưa hoàn tất. Hơn 600 năm sau, năm 1879, Giáo hoàng Leo XIII, trong Thông điệp Aetterni Patris, chính thức tuyên bố triết học của Aquinas là triết học Kitô giáo.

Triết học Aquinas được công khai thừa nhận là mang bản sắc Aristotle với những phương pháp và những phân biệt của người Hi Lạp được thích nghi theo với mạc khải. Thế kỷ 13 là thời kỳ chủ chốt trong tư tưởng Kitô giáo, bị xâu xé giữa những tuyên bố của người theo phái Averroës và những người cực đoan theo Augustine. Aquinas chống đối cả hai trường phái ấy. Người theo Averroës do Siger de Brabant lãnh đạo, tách riêng đức tin và chân lý một cách tuyệt đối, còn người theo Augustine muốn biến chân lý thành vấn đề đức tin.

Aquinas cho rằng lý trí và đức tin lập thành hai cảnh giới hòa điệu trong đó các chân lý của đức tin bổ sung cho chân lý của lí trí; cả hai đều là tặng phẩm của Thượng đế, nhưng lí trí có sự tự quản của chính nó. Như thế, ông biện hộ cho quyền của lí trí chống lại nỗi sợ hãi của những kẻ muốn trấn áp Aristotle, xem ông là tổ phụ của Averroës và dị giáo. Theo Aquinas, nguyên lý đệ nhất của triết học là sự khẳng định hữu thể. Từ quan điểm ấy, ông tiến hành cuộc xem xét thái độ trong đó trí tuệ hiểu biết hữu thể là gì.

Ðối với con người, toàn bộ tri thức bắt đầu bằng con đường giác quan; qua trung gian đó, hắn nắm bắt cái phổ quát, tức là thế giới chỉ có thể nhận thức được bằng trí tuệ. Theo lập trường được cho là duy thực chủ nghĩa vừa phải (moderate realism) của Aquinas, một dạng thức hoặc cái phổ quát có thể hiện hữu theo ba cách: trong Thượng đế, trong vạn vật và trong tâm trí. Chính qua tri thức về vạn vật mà chúng ta đi tới hiểu biết sự hiện hữu của Thượng đế. Trong trật tự thiên nhiên thì chỉ có thể biết Thượng đế bằng loại suy và phủ định.

Niềm xác tín của Aquinas vào việc lí trí có thể phát hiện sự hiện hữu của Thượng đế được chứng minh bằng các chứng cớ của ông về sự hiện hữu của Thượng đế. Phân tích của Aquinas về vấn đề này được tiến hành bằng các khái niệm của Aristotle về tính hiệu ứng và hành động, vật chất và dạng thức, hữu thể và yếu tính. Một vật đòi hỏi phải có vật khác mới trọn vẹn thì được cho là hiện hữu trong hiệu ứng của cái khác; sự nhận ra hiệu ứng ấy được gọi là thực tại.

Vũ trụ được nhận thức như một chuỗi sự vật được sắp xếp theo trật tự hướng thượng hoặc hiệu ứng và hành động, trong cùng một lúc được ban thưởng và được tạo nên bởi Thượng đế, kẻ một mình ngài là hành động đơn thuần. Thượng đế thì bất biến vì biến đổi có nghĩa là đi từ hiệu ứng tới hành động. Và như thế, Thượng đế hiện hữu mà không có bắt đầu cũng chẳng có kết thúc, vì cả hai cái đó đòi hỏi sự biến đổi. Vật chất và dạng thức đều thiết yếu để am hiểu sự biến đổi, vì biến đổi đòi hỏi đồng nhất tính của cái trở thành và cái mà nó trở thành. Vật chất là cái đầu và dạng thức là cái sau. Mọi vật có tính vật lý đều được làm thành bởi vật chất và dạng thức.

 

 

 

Lâu đài Monte San Giovanni Campano

.          Sự khác biệt giữa cái là dạng thức hoặc đặc tính với sự hiện hữu thật sự của nó được biểu hiệu bằng các thuật ngữ yếu tínhhữu thể. Chỉ ở trong Thượng đế mới có sự phân biệt giữa vật chất và dạng thức. Từng cặp một:

 

 

vật chất và dạng thức, yếu tính và hữu thể, đều là những trùng hợp đặc biệt của hiệu ứng và hành động.

Hệ thống của Aquinas dựa trên ba phân biệt đó. Hữu thể cũng có thể được đặc điểm hóa bằng kiểu thức (mode). Kiểu thức không thêm được gì vào ý tưởng về hữu thể nhưng nó là phương cách để làm rõ ràng và dứt khoát cái tiềm ẩn bên trong hữu thể. Theo ý nghĩa nào đó, kiểu thức có nghĩa là sự phân chia hữu thể thành các phạm trù. Theo ý nghĩa khác, nó phô diễn những phân biệt nhất định của hữu thể trong sự chung chia với mọi loại. Theo ý nghĩa này, các kiểu thức được biết như là những cái tiên nghiệm; cùng với hữu thể, một cách chủ yếu, những cái đó là sự hiệp nhất, chân lý và cái thiện. Những từ ngữ ấy có thể hoán đổi cho nhau. Vì cái đối lập của hữu thể không hiện hữu và cái thiện thì đồng hóa với hữu thể, nên đối với Aquinas, thật rõ ràng rằng cái ác chỉ là sự vắng mặt cái thiện.

Suốt một thời gian dài, Aquinas bị lãng quên hoặc bị hiểu sai bởi ngay cả những triết gia vĩ đại nhất, nhưng cuoi cùng, những lời giảng của ông đã khải hoàn. Sự kiện chúng được công nhận chính thức trong Giáo hội Công giáo La Mã không có nghĩa người Công Giáo có thể không bám sát các triết học khác, đặc biệt các lời giảng mang bản sắc Scotus, được triển khai từ học thuyết của Duns Scotus (k.1270-1308), người sáng lập trường phái dòng thánh Phanxicô và mở cuộc tranh luận sôi nổi với Thomas Aquinas. Tổng hợp tuyệt vời của Aquinas ngày nay được khái quát công nhận là một trong những công trình vĩ đại nhất của tư tưởng loài người,

Triết học bao quát của ông được áp dụng vào mọi cảnh giới của cuộc sống con người. Thuyết Thomas — Thomist, được gọi cách ấy vì lòng kính trọng thánh vị Aquinô của ông do Giáo hội Công giáo phong — là một cấu trúc toàn vẹn trong chính nó, và không đơn giản là một bộ sưu tập các lý thuyết triết học. Các thuật ngữ tân Thomastân kinh viện được dùng để gọi một trường phái triết học trong thế kỷ 20. Các thủ lãnh Công giáo Pháp của trường phái này là Etienne Gilson (1884-1978), sử gia triết học và nhà thần học, và Jacques Maritain (1882-1973), nhà thần học, những kẻ tìm cách áp dụng các nguyên tắc của thuyết Thomas vào các điều kiện xã hội, kinh tế và chính trị hiện đại. Người ngoài Công giáo cũng tìm cách thích nghi các nguyên tắc của thuyết Thomas vào dời sống hiện đại; họ cũng được gọi là những người tân Thomas chủ nghĩa.

(  Nguồn: Lấy từ một phần bài viết  Ba mươi triết gia phương Tây của Nguyễn Ước)

 

Tượng Thomas Aquinas.

 

 

 

 

 

 

                CHUYÊN MỤC THƠ VĂN

 

             Thơ Trần văn Kinh

 

3. Tửu tam bôi.

 

Mới một ly mà, mới nhấp môi,

Gió đưa hương đến, nhẹ như mời !

Hai ly đã thấy tình xuân lắm

Ly nữa, này xuân mới tuyệt vời…

 

 

 

 

 

4. Nửa chén quỳnh tương.

 

Có khoảnh khắc nào, em đấy chăng

Cung thương dìu dặt khúc Tầm dương(*)

Thi nhân với tiếng tơ đàn ấy

Một nỗi nhân tình giữa thế gian

 

Có khoảnh khắc nào, ta đấy chăng

Tầm dương dạ khúc cứ đa mang

Ngàn năm đâu phải mình ta nhỉ

Nửa chén quỳnh tương, nhấp dở dang…

——-

(*) Bến tầm dương canh khuya đưa khách

Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu…

(Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị)

 

 

Hoàng Thảo
               Mưa 
– Lại mưa nữa rồi, mưa gì mưa mãi!
– Thì mùa mưa mà em!

Hình như tôi không còn là tôi. Chỉ một cái nhìn cũng khiến tôi rùng mình. Một hơi thở cũng đủ quấn chặt lấy tôi kéo lại gần anh ấy. Mọi lời anh nói dù rất khẽ cũng làm tôi đau. Ngay cả những lúc anh im lặng uống cà phê, tiếng những viên nước đá lanh canh trong lòng cốc cũng khua vào lòng tôi những nhịp đập nghẹn thở. Anh kể toàn những chuyện vui khiến tôi không thể nhịn cười. Nhưng những tiếng cười ấy cũng làm tôi ray rứt mà anh không biết. Giá như anh đừng nói gì. Chỉ cần anh ngồi im thôi cũng đủ làm tôi ấm áp. Tôi lạnh không phải vì những cơn gió đêm mang theo hơi mưa. Những tiếng cười của tôi đang làm tôi tê tái.

Bỗng dưng những lần gặp nhau bình thường ở quán cà phê lại trở thành một niềm mong mỏi, những giây phút khuấy động nhịp sống đơn điệu hàng ngày của tôi, lấp đầy một khoảng trống âm ỉ ngày càng lớn trong đời sống. Tôi bỗng sợ ngày mai, khi anh ra đi, những ngày cũ sẽ lập lại, dài hơn, chậm hơn, trống vắng hơn. Tôi ngồi với anh đã hơn 3 giờ đồng hồ mà anh vẫn không nói điều tôi muốn được nghe. Chỉ cần một lời thôi cũng có thể làm tôi sung sướng thao thức suốt đêm để mơ mộng, để tưởng tượng về cả phần đời còn lại. Có lẽ anh biết điều tôi thầm mong muốn và cố tình đùa cợt tôi chăng?

– Mới tạnh một chút trời lại mưa nữa. Mưa hoài, anh nhỉ?
– Ừ, trời mưa thế này thì đành ngồi tán gẫu cho qua thời gian chứ biết làm gì!

Tôi không muốn biện hộ. Sự thành thật của những rung cảm sẽ làm chứng cho tôi. Em cười rất tươi theo những câu chuyện bông đùa của tôi nhưng em không biết tôi đang chết héo trong cảm xúc của mình. Những câu chuyện linh tinh ấy là cái phao cuối cùng để tôi bám víu vào thực tại. Ngày mai tôi đi rồi. Có nên không để lại một niềm lưu luyến và bao tiếc nuối? Em đâu biết rằng tôi muốn vứt bỏ hết màn kịch tôi đang độc diễn để có thể nói lên một lời thành thật duy nhất, rất thiết tha, và rất quen thuộc, như đã bao lần tôi đã thốt lên với những người con gái đi qua hay ở lại trong đời mình.

Tôi không muốn những cảm xúc vừa êm ái vừa đau đớn này tan biến. Cái cảm xúc khi tim chợt sai nhịp đập, khi tâm trí bỗng nhiên mộng du, khi mỗi ánh mắt chạm vào đâu cũng biến nơi đó thành vàng ngọc quý giá. Chỉ có sự từng trải của một người đàn ông mới giúp tôi giữ được vẻ bình thản cần thiết. Và sự lo sợ nữa! Tôi sợ rằng nếu tôi không đủ tỉnh táo thì những giây phút đẹp đẻ này sẽ vỡ tan và trở thành nỗi ân hận khôn nguôi như những mối tình đã trót đánh mất. Những mối tình luôn là mối tình đầu.

– Vậy là ngày mai anh đi?
– Ừ, ngày mai anh đi.

Sao anh không hiểu rằng em đang chờ chỉ mỗi một lời ấy? Em bồng bột ư? Có thể. Nhưng em đang sống thực với chính mình nhất trong sự bồng bột ấy, anh có biết không? Chỉ có anh mới có thể cuốn em vào cái dòng lũ mê đắm này. Chưa bao giờ em có cái cảm giác ấy mặc dù không ít người đã từng đến với em và mong mỏi ở em nỗi xao xuyến dữ dội như thế. Em đang buông trôi chính mình trong dòng thác ấy, đang chờ đợi những phiêu lưu đầy mê hoặc. Nhưng anh đã neo chặt em lại bên này bờ an toàn. Em nào cần tới sự an toàn ấy đâu anh!

Không, em tin là anh hiểu rõ em. Nhưng anh không thể cho em điều em khao khát. Điều đó càng làm em thêm đau, và muốn đau hơn. Cái đau đớn ấy sao mà đầy ma lực bởi vì chính sự hóa giải nỗi đau mới là điều kỳ diệu. Anh, chỉ có anh mới có thể cho em điều kỳ diệu ấy. Em không cần biết đằng sau điều kỳ diệu lấp lánh ấy những bất trắc gì đang chờ đợi. Em chỉ cần một lời của anh thôi cũng đủ thấy mình đã sống bằng muôn cuộc đời. Chẳng lẽ anh muốn chính em phải nói ra với anh những điều ấy sao anh?

– Mình đã ăn hai tô mì và uống mấy ly nước rồi mà vẫn chưa hết mưa, anh nhỉ?
– Chắc sắp tạnh mưa rồi. Mưa đã bớt nặng hạt.

Em ngồi im lặng đã lâu. Hình như em đang chịu đựng những cơn mưa. Mưa sắp tạnh rồi. Những câu chuyện bông đùa của tôi cũng gần khô kiệt. Khách trong quán cà phê đã lần lượt ra về. Cuối cùng chỉ còn lại hai người. Tôi sẽ nói lời ấy chứ? Gương mặt em trong bóng tối của quán cà phê vắng sao quá gần! Nếu mình nói ra mà bị từ khước, bị hoài nghi thì đau đớn lắm. Nhưng nếu được chấp nhận thì có hết đau đớn không?

Chỉ một lát nữa thôi là mưa sẽ tạnh. Và tôi sẽ không còn cơ hội nào nữa để được thấy mình lớn lao hơn chính mình trong niềm ngây ngất được vượt thoát cái thực tại không có thực này. Có lẽ những gì không thể cầm giữ trong lòng bàn tay mới là những điều có thực bởi vì ai cũng trân trọng và khao khát. Biết là không thể cầm giữ được nhưng vẫn muốn vươn tay ra vồ chặt lấy. Điều có thực ấy đang ở ngay cạnh bên tôi. Chỉ cần tôi đưa tay ra… Và nói một lời… Tôi đưa tay ra. Bàn tay cầm chiếc thìa khoắng lanh canh trong lòng ly cà phê đã cạn. Tôi không nói được điều mình muốn nói.

– Anh ơi, tạnh mưa rồi!
– Ừ, thôi mình về.

CHUYÊN MỤC  CHUYÊN XƯA CHUYỆN NAY

 

 

Vũ Đức Sao Biển ( do ĐỖ CAO ĐÀM  sưu tầm)

 

 

 

Rượu trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung

 

Cũng như nhiều dân tộc khác ở vào vùng khí hậu lạnh, dân tộc Trung

Hoa trường thích rượu. Khái niệm rượu đã được người xưa kết hợp với khái

niệm lễ, không có rượu không thành lễ nghi (vô tửu bất thành lễ). Rượu là

thức uống kích thích niềm sảng khoái, được dùng trong y dược Trung Hoa như

một chất xúc tác. Thời Tam Hoàng, Ngũ Đế đã có những bài thuốc ngâm rượu,

những cách xông hơi rượu ra đời. Trong những tác phẩm võ hiệp tiêu biểu của

Kim Dung, rượu luôn luôn có mặt, dàn trải khắp cả câu chuyện.

Chắc hẳn những bạn đọc tác phẩm Kim Dung đều đồng ý rằng đoạn

tửu luận của Tổ Thiên Thu trong Tiếu ngạo giang hồ là đoạn gây sảng khoái

nhất. Với đoạn văn này, Kim Dung đã nâng nghệ thuật uống rượu lên thành

một thứ đạo: tửu đạo – và với cách diễn đạt tài tình, dàn cảnh oái ăm, Kim

Dung đã thực sự cuốn hút người đọc. Tổ Thiên thu biết được Lệnh Hồ Xung,

người yêu của Thánh cô Nhậm Doanh Doanh, đang bị bệnh mất hết công lực.

Anh ta bèn ăn cắp Tục mệnh bát hoàn (8 viên thuốc duy trì mạng sống) của

một người bạn thân là Lão Đầu Tử, hòa vào rượu để dẫn dụ cho Lệnh Hồ

Xung uống. Nguyên Lão Đầu Tử đã bỏ ra 18 năm để ăn cắp những kỳ trân,

dược vật trên thế gian, chế ra 8 hoàn thuốc thuần âm, chữa trị chứng “Tiên

thiên bất túc” (một dạng suy dinh dưỡng) cho con gái mình là Tiểu Di. Trong

khi đó, bệnh của Lệnh Hồ Xung thuộc trạng thái khí âm hàn. Cho nên, đem

thuốc thuần âm cho kẻ dư khí âm hàn uống khác nào sông Trường Giang nước

đã đầy, lại được tháo nước hồ Bàn Dương, hồ Động Đình đưa vào cho nước

thêm đầy lên, hóa ra càng thêm hại.

Tổ Thiên Thu biết Lệnh Hồ Xung là người khảng khái, không chịu uống

thuốc ăn cắp nên y bày đặt ra chuyện tửu luận, kích thích tinh thần Lệnh Hồ

Xung. Theo y, bậc danh sĩ phải biết uống từng thứ rượu với từng thứ chung

riêng: rượu Bồ đào uống chung Dạ quang; rượu Trúc diệp thanh phải uống

chén Dương chi bạch ngọc mà phải Dương chi bạch ngọc đời Bắc Tống; rượu

trắng phải uống trong sừng trâu, lấy mùi tanh của sừng chế ngự mùi men nồng

của rượu; rượu Bách thảo mỹ tửu được chế với 100 thứ hoa cỏ thơm, phải

được uống với chung bằng trúc để thơm hơn…Y nói một hơi 8 thứ rượu và

móc trong bọc ra 8 thứ chén, rót rượu vào mời Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung

tức khí, nuốt sạch 8 chén rượu; có chén thum thủm mùi cá ươn, có chén cay sè,

có chén rào rạt như ngàn dao đâm vào cổ họng…Thiện ý của Tổ Thiên Thu là

cứu người, vì hắn dốt nát về y lý hóa ra làm hại người.

Trong Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung xây dựng nhân vật Lệnh Hồ

Xung, đại đệ tử phái Hoa Sơn, là một chàng du tử lãng mạn, quý rượu hơn tính

mạng mình. Đoạn buồn cười nhất là đoạn Lệnh Hồ Xung xin rượu Hầu nhi

tửu của lão ăn xin dưới chân thành Hành Dương. Lệnh Hồ Xung chỉ xin uống

một tợp và lão cũng chỉ đồng ý cho uống một tợp mà thôi. Nào ngờ, nghe hơi

rượu ngon, Lệnh Hồ Xung đã vận hỗn nguyên khí công uống sạch bầu rượu.

Lão ăn xin lăn đùng ra khóc vì tiếc bầu rượu. Lệnh Hồ Xung đành phải xin lỗi

và mời lão vào tửu lâu, đãi lão một chầu túy lúy càn khôn.

Trong khi uống rượu, các nhân vật của Kim Dung thường thể hiện phẩm

 

cách người đối ẩm với mình. Đoạn uống rượu đẹp nhất và khiến cho người

đọc kinh ngạc nhất là đọan Điền Bá Quang mời rượu Lệnh Hồ Xung. Lệnh

Hồ Xung bị sư phụ phạt giam trên đỉnh Ngọc Nữ Phong để ăn năn, sám hối.

Biết bạn rất nhớ rượu, Điền Bá Quang đã vượt 5000 dặm về tới kinh đô Lạc

Dương, vào trong Tuý tiên lâu, hoàng cung của vua Tống, ăn cắp 2 hũ Thiệu

Hưng nữ nhi hồng. Thấy trong hầm rượu của hoàng cung còn đến mấy ngàn

hũ Thiệu Hưng, Điền Bá Quang phóng cước đá bể tất cả để “bọn vua quan

không còn được uống thứ rượu quý này nữa”, vì trên đời này “chỉ còn Điền

mỗ với Lệnh Hồ huynh đệ mới xứng đáng được uống nó mà thôi”. Tuy nhiên,

gánh 2 hũ rượu lên Ngọc Nữ Phong là chuyện dễ, mà được đối ẩm với Lệnh

Hồ Xung là chuyện cực kỳ khó vì Điền Bá Quang vốn rất sợ sư phụ của Lệnh

Hồ Xung là Nhạc Bất Quần. Hắn bèn nghĩ cách điệu hổ ly sơn làm Nhạc Bất

Quần lầm mưu xuống núi đi tìm Điền Bá Quang. Thế là hắn ung dung lên

Ngọc Nữ Phong đối ẩm với Lệnh Hồ Xung.

Nhà Nho có câu :”Bậc quân tử lấy văn kết bạn” (quân tử dĩ văn hội

hữu). Kim Dung đã mượn chén rượu cho những nhân vật võ lâm của mình giao

kết với nhau. Trong tình bạn hay trong tình yêu, chén rượu vẫn làm vai trò của

cơ duyên hội ngộ.

Đọc Thiên Long bát bộ, ta thấy cuộc hội ngộ giữa Kiều Phong, bang

chúa Cái bang và Đoàn Dự, vương tử nước Đại Lý, là cuộc hội ngộ trong

hương rượu nồng. Thoát ra khỏi cảnh giam cầm ở Thái Hồ, Đoàn Dự tìm đến

một quán rượu ngoài thành Vô Tích thì bắt gặp: “Một đại hán mắt sáng như

điện, trạc ngoài 30, thân thể cao lớn, mặc áo vải màu tro, phục sức sơ sài, mộc

mạc” đang ngồi độc ẩm. Đoàn Dự nhận định: “Đây chắc chắn là hào khách của

Yên, Triệu; Giang Nam quyết không thể có nhân vật thế này”. Ngoại hình Kiều

Phong đã khiến Đoàn Dự kính ngưỡng, bèn mời Kiều Phong uống rượu. Kiều

Phong gọi tất cả 30 cân rượu (khoảng 18 lít) và đề nghị Đoàn Dự uống bằng

bát lớn. Đoàn Dự nào biết uống rượu? Cho nên uống xong bát đầu tiên, anh

đã muốn gục xuống tại chỗ; Kiều Phong chỉ nhìn anh mà tủm tỉm cười. Đến

đây thì Kim Dung “cứu” nhân vật của mình. Vốn Đoàn Dự đã học được tuyệt

kỹ Lục mạch thần kiếm, quy khí lực vào huyệt Đan điền rồi vận công phóng

kiếm khí vô hình ra 6 ngón tay. Từ kiếm khí, Kim Dung cho phép nhân vật của

mình phóng ra …kiếm tửu. Đoàn Dự nạp hết số rượu vừa uống vào huyệt Đại

truy, rồi dẫn rượu đi qua các huyệt Thiên tôn, Kiên chân, Tiểu hải, Chi chính,

Dưỡng lão, Dương cốc, Hậu thoát và “phóng” rượu ra nơi ngón Thiếu trạch

(ngón út). Anh ta cứ gác tay trái lên vách quán rượu, uống bao nhiêu vận nội

lực phóng rượu ra bấy nhiêu khiến Kiều Phong kinh hoàng, tưởng tửu lượng

chàng thư sinh cao không kể xiết! Từ cuộc đấu rượu hi hữu đó, họ nhận ra

phẩm chất của nhau và kết nghĩa anh em. Cuộc đối ẩm giữa Kiều Phong và

Đoàn Dự làm cho người đọc vừa sảng khoái vừa buồn cười.

Rượu nối kết tình bạn và cũng chính rượu tạo ra hào khí. Trong Thiên

Long bát bộ, có đoạn nhà sư Hư Trúc, cung chủ Linh Thứu, bái kết Kiều

Phong làm đại ca trước mặt quần hùng Trung Nguyên khi Kiều Phong đang

bị quần hùng vây hãm. Từ nước Khất Đan, Kiều Phong dẫn 18 tên lính trung

thành gọi là Yên Vân thập bát kỵ, mang theo 36 túi da dê đựng rượu quay về

chùa Thiếu Lâm, tỉnh Hồ Nam. Nơi đây, anh bị quần hùng vây hãm. Trong

 

cảnh nguy nan, bỗng dưng Đoàn Dự xuất hiện. Hai anh em đang bưng rượu

lên uống thì một nhà sư xấu xí trong đội ngũ chùa Thiếu Lâm chạy ra: “Đại ca

với tam đệ uống rượu sao không gọi ta ?”. Nhà sư đó là Hư Trúc. Hư Trúc đã

kết nghĩa với Đoàn Dự nhưng chưa được bái kiến Kiều Phong. Mặc dù quy

luật giới tửu (cấm rượu) của chùa Thiếu Lâm rất khắt khe nhưng khi đã thấy

đại ca và tam đệ uống rượu để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu, Hư Trúc cũng nổi

hào khí, muốn uống rượu trước mặt quần hùng để chia sẻ với hai người anh

em những hoạn nạn sẽ xảy ra.

Và quả nhiên bầu rượu nghĩa tình đó đã làm nên đại sự. Kiều Phong

chế ngự được kẻ đại ác Du Thản Chi, vươn tay xách cổ Cô Tô Mộ Dung Phục

như người ta xách một con gà. Đoàn Dự sử dụng 6 thế Lục mạch thần kiếm

đánh cho Mộ Dung Phục thất điên bát đảo, làm phơi bày toàn bộ âm mưu đen

tối của nhà Mộ Dung. Hư Trúc vận Bắc minh chân khí, biến những giọt rượu

của đại ca thành băng làm một thứ Sinh tử phù cấy vào người gã đại ác Đinh

Xuân Thu, chế ngự và sanh cầm gã. Bọn Yên Vân thập bát kỵ, mỗi người một

túi rượu, phanh cổ áo để lộ ra hình tượng con chó sói được xăm trên ngực của

dân tộc Khất Đan, hú lên những tiếng hoang dã và ngửa cổ uống rượu, thể

hiện quyết tâm cũng liều chết với chủ tướng Kiều Phong. Chưa có một đoạn

nào trong tiểu thuyết cổ kim miêu tả hào khí của con người trước gian nan thử

thách hay hơn đoạn của Kim Dung viết về cuộc hội ngộ của 3 anh em Kiều

Phong – Hư Trúc – Đoàn Dự dưới chân núi Thiếu Thất.

Nhưng rượu trong tác phẩm võ hiệp của Kim Dung không chỉ uống

trong lúc đoàn viên, mà còn được uống trong khi lâm biệt đầy máu và nước

mắt. Như trong trận ác đấu của Kiều Phong tại Tụ hiền trang. Từ khi biết

mình là người Khất Đan, Kiều Phong chỉ mong tìm về bên kia Nhạn môn quan

để suốt đời săn chồn đuổi thỏ, tuyệt không dính dấp đến giới võ lâm Trung

Quốc nữa. Nhưng hoàn cảnh đã bó buộc ông phải cứu lấy cô bé A Châu, và

ông đã bế nàng tới Tụ hiền trang ra mắt Tiết Mộ Hoa, nhờ viên thần y này

giúp đỡ. Hóa ra KIều Phong đã tự dấn thân vào chốn hung hiểm: quần hùng

Trung Nguyên đang họp nhau tại Tụ hiền Trang để bàn kế sách diệt ông, loài

Liêu cẩu man rợ! Kiều Phong nhìn những kẻ đang vây hãm mình. Họ là những

anh em ruột thịt của ông ngày trước ở Cái bang, là những bạn bè tốt của ông

thuộc các võ phái Trung Quốc, là những người mà ông cha bao giờ có ý niệm

thù hằn, căm ghét. Nhưng cục diện ở Tụ hiền trang lúc đó là một mất một còn,

là ta sống thì người chết. Kiều Phong đã đề nghị anh em Du Ký, Du Câu – chủ

nhân Tụ hiền trang – cho xin mấy vò rượu lớn. Ông rót rượu ra bát lớn, mời

anh em Cái bang uống trước để nói lời cuối cùng, dứt tình đoạn nghĩa. Ông

uống rượu với bạn bè các môn phái mỗi người một bát. Có kẻ bưng tô rượu

dứt tình với Kiều Phong mà nước mắt tuôn rơi. Rồi sau đó, Kiều Phong đại

khai sát giới, tìm con đường sống riêng cho mình, chạy về bên kia ải Nhạn

môn quan nghìn trùng xa cách.

Có trường hợp uống rượu tưởng như chia biệt lại hóa ra đoàn viên. Đó

là trường hợp uống rượu kỳ cục của Cẩu Tạp Chủng (Thạch Phá Thiên), một

thiếu niên ngây thơ, trong trắng trước hai ông anh kết nghĩa đầy mưu mô xảo

quyệt là Trương Tam và Lý Tứ. Trương Tam, Lý Tứ thật ra chỉ là tên giả mạo;

họ chính là hai sứ giả Thưởng Thiện và Phạt Ác của đảo Long Mộc ngoài biển

 

Đông. Trương Tam, Lý Tứ cũng giả vờ kết nghĩa với Thạch Phá Thiên, cũng

thề đồng sinh đồng tử, nhưng trong bụng hai lão chỉ muốn chàng thiếu niên

này chết đi cho khuất mắt. Trương Tam có bầu rượu dương cương, Lý Tứ có

bầu rượu âm nhu, mỗi lão tự uống bầu rượu của mình và lão này rất sợ bầu

rượu của lão kia. Kết nghĩa xong, chàng thiếu niên Thạch Phá Thiên đề nghị…

uống rượu. Thạch Phá Thiên ngây ngô, xin được uống hai thứ rượu trong đủ

hai bầu. Trương Tam, Lý Tứ cả mừng vì đinh ninh thế nào thằng nhỏ này cũng

chết tươi vì hai thứ rượu xung đột nhau. Một lần nữa, Kim Dung lại “cứu”

nhân vật ngây thơ, trong trắng của mình. Thạch Phá Thiên đã từng ngộ kỳ

duyên, con người chàng ta dung hòa được cả hai loại chất độc dương cương

và âm nhu. Cho nên uống rượu xong, chẳng những chàng trai trẻ không chết

mà công lực còn tăng tiến. Trương Tam, Lý Tứ hối hận và xấu hổ vô cùng. Từ

tình bạn giả trá, họ đã đổi ra tình bạn chân thành. Cẩu Tạp Chủng trở thành

người em tốt của Thưởng Thiện và Phạt Ác. Đó là chương uống rượu thú vị

nhất trong toàn bộ bộ truyện Hiệp khách hành.

Rượu trong truyện võ hiệp Kim Dung còn làm nên tình yêu lứa đôi, giàu

chất thơ lãng mạn. Có những lứa đôi gặp gỡ lần đầu tiên qua chén rượu và

tình yêu bắt nguồn từ đó. Trong Ỷ thiên Đồ long ký, Trương Thúy Sơn làm

quen với Hân Tố Tố qua chén rượu trên con thuyền nhỏ đậu giữa lòng Thái

Hồ. Trương Vô Kỵ cũng gặp gỡ và yêu quận chúa Triệu Mẫn qua chén rượu.

Đoạn giàu chất thơ nhất của Ỷ thiên Đồ long ký là đoạn Triệu Mẫn nhớ Vô

Kỵ, tìm lên tửu lâu và ngồi đúng vào cái bàn mà hai người đã từng ngồi đối

ẩm. Thiếu vắng Vô Kỵ, cô cũng gọi bình rượu, thức ăn, hai cái chén, hai đôi

đũa, hai chung rượu. Cô rót rượu ra đủ hai chung, uống một chung và nước

mắt rơi. Đúng lúc đó thì Trương Vô Kỵ xuất hiện. Và họ tìm lại được hơi ấm

tình yêu trong chung rượu đối ẩm.

Trong Tiếu ngạo giang hồ, Lệnh Hồ Xung thường đối ẩm với người yêu

là Doanh Doanh. Một nhân vật khác, Lam Phượng Hoàng, giáo chủ Ngũ độc

giáo Vân Nam, cũng rất say đắm Lệnh Hồ Xung. Cô mang vò rượu Ngũ độc

mỹ tửu, trong đó có ngâm năm thứ trùng độc, từ Vân Nam đến Giang Nam để

chữa bệnh cho Lệnh Hồ Xung. Cảm xúc tấm thịnh tình đó, Lệnh Hồ Xung đã

uống rượu cho cô vui lòng. Tác giả Kim Dung đã để cho Lam Phượng Hoàng

hôn Lệnh Hồ Xung trước mặt mọi người, kể cả sư phụ của Lệnh Hồ Xung là

Nhạc Bất Quần. Trong con mắt của Lam Phượng Hoàng, kẻ biết uống rượu

của cô mới là người tốt.

Trong Thiên Long bát bộ, mỗi khi trở về Nhạn môn quan, Kiều Phong

nhớ A Châu là tìm đến chung rượu giải sầu. Đoạn đẹp nhất trong mối tình

hai người là đoạn Kiều Phong ngồi nghe A Châu tâm sự: “Đại ca ơi, tiểu nữ

nguyện suốt đời đi theo đại ca về Nhạn môn quan săn chồn đuổi thỏ, sống

cuộc đời ung dung khoái lạc”. Nghe cô bé tâm sự, Kiều Phong cao hứng. Trong

cái quán nghèo ngoài biên giới không có một giọt rượu, ông cũng giả vờ nâng

cái chén không lên, ngửa cổ ra như đang thực sự thưởng thức men rượu nồng.

Trong Thần điêu hiệp lữ, có cô bé Quách Tương, 16 tuổi, say mê người

huynh trưởng của mình là Thần điêu đại hiệp Duơng Qua. Mặc dù Dương Qua

chạy theo hình bóng của sư phụ là Tiểu Long Nữ, không nghĩ đến mối tình si

 

của Quách Tương, Quách Tương vẫn vượt ngàn dặm ra đi tìm anh. Trong túi

hành trang của cô bé, luôn luôn có một bầu rượu. Cô chỉ có mỗi ước mong:

cùng Dương Qua đối ẩm. Nhưng ước mong đó không bao giờ thành hiện thực.

Quách Tương lên núi đi tu, trở thành sư tổ phái Nga Mi.

Những lứa đôi yêu nhau của tác phẩm Kim Dung uống rượu như ta uống

cà phê. Họ gặp nhau là mời nhau chén rượu, trang trọng, cung kính. Không có

ai uống rượu đến nỗi quần áo xốc xếch, ong bướm lả lơi. Chén rượu trong tình

yêu của tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung mang theo tính cách đạo đức mặc dù

khung cảnh uống rượu lãng mạn vô kể: uống trong quán khuya vắng người,

uống trong căn phòng chỉ có hai người, giữa đêm mùa dông tuyết rơi lả tả;

uống trên con thuyền nhỏ chơi vơi giữa đêm trăng trên dòng Trường Giang

mông mênh.

Nhân vật Tiêu Tương Dạ Vũ Mạc Đại tiên sinh, chưởng môn phái Hành

Sơn trong Tiếu ngạo giang hồ luôn luôn gắn liền tâm hồn mình với chén rượu.

Kim Dung mô tả Mạc Đại: “Tướng mạo tiên sinh điêu linh cổ quái, lúc nào

cũng như ba phần tỉnh, bảy phần say”. Mạc Đại có cây dao cầm rất cũ kỹ,

trong cây dao cầm lại giắt một lưỡi kiếm mỏng như lá lúa. Tiên sinh xuất hiện

dưới chân núi Hành Sơn, trong quán rượu đầy ấn tượng. Quần hùng gồm 7 gã,

uống 7 chung trà, đang ngồi nghị luận rằng võ công Mạc Đại còn kém thua sư

đệ mình là Lưu Chính Phong vì Lưu Chính Phong đánh ra một đường kiếm

là đứt đầu 5 con chim nhạn. Lúc đang nói chuyện cao hứng thì một ông già

gầy gò đi đến, nghẹo cổ nhìn các hán tử và bảo: “Các người nói thúi lắm!”.

Rồi bỗng dưng, các gã hán tử chỉ thấy trước mắt hoa lên một cái như có một

luồng ánh sáng lấp lánh. Ông già gầy gò bỏ đi, tiếng đàn tình tang xa dần. Một

cơn gió nhẹ thổi qua trên bàn ruợu, 7 cái miệng chén bị cắt đứt lìa lần lượt rơi

xuống mặt bàn, vỡ tan. Hóa ra kẻ lam lũ ấy là Mạc Đại tiên sinh. Ông già say

ấy rút kiếm khi nào, chém 7 miệng chén khi nào, đút kiếm vào đáy cây dao

cầm khi nào, không ai nhìn rõ được. Chỉ với một đường kiếm tiện đứt 7 miệng

chung thì 7 đầu chim nhạn phỏng có là bao! Rõ ràng, trong đoạn này có hai

thứ: một thứ trà sinh nói bậy của 7 hán tử và một thứ rượu cực kỳ tỉnh táo của

Mạc Đại tiên sinh.

Rượu trong truyện võ hiệp của Kim Dung cũng biến thành một thứ võ

khí. Trong Thiên Long bát bộ, bọn Dư Bà Bà của cung Linh Thứu tung bì rượu

lên thành thế Mãn thiên hoa vũ (mưa hoa đầy trời) cho chủ nhân mình là Hư

Trúc dùng Bắc minh chân khí hóa rượu thành băng, khống chế địch thủ. Rượu

được dùng để pha độc được, trừng trị những anh háo sắc. Vợ của Mã Đại

Nguyên là Ôn Thị tư tình với Đoàn Chính Thuần, em ruột nhà vua nước Đại

Lý. Giận Chính Thuần lòng dạ lang chạ, Ôn Thị đã pha bình Mê xuân tửu dụ

cho Đoàn Chính Thuần uống, rồi trói lại và bắt đầu… cắn từng miếng thịt của

Đoàn Chính Thuần để trả thù. Trong Lộc Đỉnh ký, Vi Tiểu Bảo đã biết dùng

Mê xuân tửu từ thuở bé. Mẹ của y là Vi Xuân Phương, làm điếm trong thành

Dương Châu đã từng pha thuốc mê vào rượu cho bọn làng chơi uống, để trấn

lột tiền tài vật dụng. Đắc thủ được bài học lưu manh đó khi làm quan lớn ở

Bắc Kinh, Vi Tiểu Bảo cũng pha chế những bình Mê xuân tửu để hãm hại, vu

cáo những kẻ thù của mình. Từ rượu độc, Vi Tiểu Bảo nghĩ ra những trò đầu

độc khác tệ hại hơn và tất nhiên mực độ lưu manh hạ cấp cao hơn.

 

Rượu trợ lực cho những màn tác oai, tác quái của bọn quan lại triều

Thanh. Để hành hạ Trịnh Khắc Sảng, kẻ tình địch ngày trước của mình, Vi

Tiểu Bảo đã cho tiền để bọn thị vệ dưới quyền uống rượu thoải mái. Uống

xong, chúng kéo qua tư dinh Trịnh Khắc Sảng, đòi nợ cho “công tước” Vi Tiểu

Bảo. Chúng đập phá nhà cửa, tài sản, lăng nhục Trịnh Khắc Sảng và vợ con,

bắt cóc, giết người rồi vu cáo…

Đọc tác phẩm Kim Dung, ta biết được người Trung Quốc có nhiều thứ

rượu danh tiếng: Thiệu Hưng Nữ nhi hồng, Thiệu Hưng Trạng nguyên hồng,

Trúc diệp thanh, Mai quế lộ, Bách thảo tửu, Biên tái tửu, Hầu nhi tửu, Bồ đào

tửu, Ngũ gia bì, Kim tước tửu… Đọc Kim Dung, ta mới biết được phong cách

uống rượu của người Trung Quốc: rượu thường được hâm nóng trước khi

uống, nhất là vào mùa đông. Thỉnh thoảng, trong vài tình huống đặc biệt, khi

công nghiệp làm nước đá chưa ra đời, tác giả đã để cho nhân vật mình làm ra

băng để uống rượu. Trong Tiếu ngạo giang hồ, có đoạn Lệnh Hồ Xung cùng

Hướng Vấn Thiên tìm về Cô Mai sơn trang ở Giang Nam gặp gỡ Giang Nam

tứ hữu. Để mời rượu Lệnh Hồ Xung giữa mùa hè nóng bức, Đan Thanh tiên

sinh đã nhờ anh mình là Hắc Bạch Tử dùng Hàn băng chưởng hóa nước thành

ra nước đá ướp lạnh rượu bồ đào Thổ Lỗ Phồn!

Đọc Kim Dung, ta mới biết được những cách uống rượu khác nhau.

Đối ẩm là hai người uống, thường là tình nhân hoặc bạn hữu thân thiết. Độc

ẩm là uống một mình, trong lòng đang lo nghĩ hoặc tưởng nhớ. Cộng ẩm hay

Quần ẩm là một nhóm người cùng uống với nhau. Loạn ẩm là một đám đông

cùng uống. Trong Tiếu ngạo giang hồ, đoạn loạn ẩm hay nhất là đoạn bọn tà

ma ngoại đạo thết tiệc Lệnh Hồ Xung để lấy lòng Thánh cô Doanh Doanh.

Thương nhau, quý nhau, người ta mới tặng rượu. Quần hào Cái bang Trung

Quốc, tuy là đi ăn mày, đáng lẽ chỉ xin cơm, thì người ta còn xin cả rượu nữa.

Chén rượu của Kim Dung đã làm cho những nhân vật của ông nổi tiếng.

Hồng Thất Công nổi tiếng chuyên uống rượu với thịt chó. Kiều Phong nhờ

rượu mới phát huy được thần oai, càng uống càng mạnh, càng tỉnh táo. Hư

Trúc nhờ uống rượu phá giới mà tìm ra được cô vợ sắc nước hương trời: công

chúa Ngân Xuyên của nước Tây Hạ. Thạch Phá Thiên nhờ uống hai thứ rượu

độc mà hóa giải được sự xung đột của âm dương nhị khí, đạt đến mức thượng

thừa trong võ học… ở chừng mực nào đó, Kim Dung đã nghĩ đến câu cổ thi :

 

Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch

Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh

(Xưa nay thánh hiền đều lặng lẽ

Chỉ người uống rượu mới còn danh)

(Lý Bạch)

Tác phẩm của Kim Dung tràn đầy rượu và ruợu. Trừ những nhà sư,

các nhân vật của ông ít nhiều đều biết đến chén rượu. Rượu làm nên sự hưng

phấn cho cuộc đấu tranh chống cái ác, biểu dương cái thiện và lẽ công bằng ở

đời.

Uống rượu nhiều tất có tình trạng say rượu xảy ra. Những người say

trong tác phẩm Kim Dung cũng say một cách tử tế. Trong những hội loạn ẩm,

 

họ xai quyền thách đố nhau hoặc cãi cọ chửi bới. Duy nhất trong 12 bộ truyện,

có một nhân vật say rượu phạm vào tội đại ác, trở thành một thứ tửu tặc. Nhân

vật đó là Thành Khôn, sư phụ của Tạ Tốn trong Ỷ thiên Đồ long ký. Thành

Khôn say rượu, đã làm nhục và giết hại vợ con của đồ đệ mình. Y lẻn vào

chùa Thiếu Lâm làm một nhà tu giả mạo dưới pháp danh Viên Chân. Kẻ tửu

tặc ấy đã bị tìm ra, bị trừng trị nhưng rồi cuối cùng cũng được tha thứ.

Rượu trong truyện võ hiệp Kim Dung khác xa với rượu ở miền Viễn

Tây Mỹ trong phim cao bồi, khác xa với rượu trong các hộp đêm trên toàn

thế giới và cũng khác xa với “rượu” trong các quán bia ôm. Chính vì thế, tôi

mạnh dạn gọi rượu trong truyện Kim Dung là một loại rượu đạo đức. Rượu

trong truyện Kim Dung thể hiện triết lý nhân sinh gần gũi cuộc sống. Nó làm

nên tình yêu, tình bạn, hận thù, sự tha thứ, mối hoài cảm, niềm hối tiếc. Qua

rượu, Kim Dung hé mở cho chúng ta nhìn thấy một khoa học mới: tửu học.

Với một chữ Rượu, Kim Dung đã vượt xa hơn bất kỳ nhà văn nào khác. Rượu

của ông có bài bản, có tính chất triết lý tề chỉnh. Nó góp phần làm nên cái

đẹp cho đời sống con người. Men rượu kết hợp với men tình, men võ khiến ta

không “uống” được tác phẩm mà lòng vẫn say.

 

                       CHUYÊN MỤC: NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT

 

              BQM:

           Trong tiếng Việt có rất nhiều tên cây quả ta nghe ra tưởng xuất xứ từ Trung Quốc nhưng thực ra là thuần Việt như đã đề cập đến như “ Trà ”  茶 chính là chè , là b’lè . Mật hay mít 蜜, cây mít, quả mít  菠 萝 蜜 là thuần Việt.

BQM vừa vào sống trong Nam mới hai năm, nhưng đã gặp vô số tên cây  như “ dương tùng” “ mãng cầu” nếu không kịp thời truy nguyên thì lại cho là tên từ TQ.

Cây dương tùng ở Bắc và Trung nước ta gọi là phi lao. Nó là loại cây do người Pháp di thực sang ta có tên là philaus.

Quả “na” ở trong Nam gọi là mãng cầu. Từ điển Việt Hán của Hà Thành (TQ) dịch là “ phiên lệ chi” 番 荔 枝 (nghĩa quả vải nước ngoài!) . Bản thân chữ “lệ chi”, BQM nghi là một từ thuần Việt được người Hán phiên âm .

Măng cụt cũng là cây di thực mới đây, có tên Pháp là mangustan         

 

                    CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE

 

         LBT: Nhận thấy vui cười thư giãn, sống vui…cũng là những liều thuoc bổ nên chuyên mục này vào thứ bảy sẽ có những mẩu chuyện vui cung cấp cho độc giả .

          Đỗ Cao Đàm ( sưu tầm):

               1.- Bánh mừng sinh nhật

Một ông chồng đến tiệm đặt bánh mừng sinh nhật vợ. Ông nghĩ ra 1 câu để viết lên bánh “Em không già đi mà còn trẻ lại” .
Ông nói với người làm bánh:
– Tôi đặt chiếc bánh có viết dòng chữ để mừng sinh nhật vợ đấy nhé.
– Trình bày thế nào ạ ? Thằng bé con chủ tiệm hỏi (vì chủ tiệm đi vắng)
– Viết thế này: EM KHÔNG GIÀ ĐI, phía trên, MÀ EM CÒN TRẺ LẠI, phía dưới.
Thằng bé lấy bút ghi chép cẩn thận rồi nói :
– Chiều ông ghé lại lấy, con sẽ làm thật đẹp và cẩn thận cho ông.
Buổi tối, khi khách khứa đã ngồi vào bàn đầy đủ, người chồng mang bánh đặt giữa bàn, trịnh trọng mở hộp bánh ra và tất cả mọi người  đều nhìn thấy
dòng chữ “EM KHÔNG GIÀ ĐI PHÍA TRÊN, MÀ EM CÒN TRẺ LẠI PHÍA DƯỚI”

                   2.- MUỐN CÁI GÌ ???
          Có một ông đến phòng mạch Bác sĩ than rằng vợ ông ta bị bệnh lạnh cảm, vợ chồng còn trẻ mà mấy tháng nay vợ không đòi hỏi mà cũng không cho ông gần gũi nữa. Bác sĩ khuyên ông ta nên đem vợ tới để định bệnh, nếu mới bị thì chữa rất dễ.
Hôm sau ông ta dẫn vợ đến gặp Bác sĩ… Bác sĩ hỏi vợ ông ta :
– Cô có thấy triệu chứng gì khác thường trong cơ thể không ? Sao ông
nhà nói là cô bị lạnh cảm, không đòi hỏi, ham muốn sinh lý nữa ?
Cô vợ ngạc nhiên nhìn Bác sĩ:
– Bác sĩ thử nghĩ xem, cả mấy tháng nay, hàng ngày tôi đi làm bằng
TAXI mà đâu có đủ tiền trả, hễ cứ cười trừ là ông tài xế lại hỏi tôi:
“hôm nay cô trả tiền hay trả cái gì ?”. Tui bèn chọn “cái gì” ! Khi
tui vô sở thì bị trễ giờ, ông Boss cũng hỏi: “Cô muốn tui ghi vào sở
cảnh cáo hay muốn “cái gì” ?. Tui lại chọn “cái gì”. Khi tan sở tui
lại về bằng taxi và ông tài xế lại hỏi: “Lần nầy cô trả tiền hay lại
trả “cái gì”? Tôi lại phải chọn “cái gì” lần nữa ! Bác sĩ thấy đó, tôi
về tới nhà là mệt phờ, 3 “cái gì” trong một ngày rồi thì làm sao tôi
còn phục vụ chồng tôi được nữa ! ?
Bác sĩ bèn nhỏ nhẹ hỏi:
– Thế bây giờ cô muốn tôi nói lại chuyện nầy với chồng cô hay là cô
muốn “cái gì” ???

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s