Archive | Tháng Mười 2011

Docago.wordpress.com số 14 ra thứ 3 ngày 1/11/2011 (tức 6 tháng 10 năm Tân Mão)

(  LBT: Từ nay cho đến ngày quốc tế các nhà giáo(20/11), trong vòng một tháng, Docago.wordpress.com sẽ tập trung cho chủ đề giáo dục. Đề nghị các bạn đóng góp bài. Xin cảm ơn)          

 

CHUYÊN MỤC : VĂN HÓA- GIÁO DỤC ĐÔNG TÂY

                                   Xây dựng lại hệ thống giáo dục từ gốc là mệnh lệnh của cuộc sống

Bản điều trần về cải cách, hiện đại hóa giáo dục của giáo sư Hoàng Tụy (2009)

*Các phần in đậm trong bài do copy từ blog nhà báo Trường Duy Nhất

GS.Hoàng Tụy nhận giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh vì những đóng góp to lớn cho giáo dục.

 

Sau hai thập kỷ tăng trưởng kinh tế ấn tượng dựa chủ yếu vào vốn đầu tư, lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên, đã đến lúc muốn tiếp tục đi lên một cách bền vững đất nước cần mau chóng chuyển sang hình thái phát triển mới, dựa chủ yếu vào trí tuệ và tài năng. Do đó chưa bao giờ chấn hưng giáo dục trở thành nhiệm vụ bức thiết như lúc này. Mười ba năm trước TƯ đã có nghị quyết xác định phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu. Nghị quyết rất đúng đắn, tiếc rằng việc triển khai thực hiện bất cập nên sau gần mười năm, Thủ Tướng Phan Văn Khải đã phải thừa nhận chúng ta không thành công trong giáo dục và khoa học.

Với ý thức trách nhiệm công dân, năm 2004 một nhóm 24 nhà giáo dục, khoa học và văn hóa đã gửi lên TƯ một bản điều trần kêu gọi cải cách, hiện đại hóa giáo dục. Bản điều trần này đã được nhiều tầng lớp xã hội hưởng ứng rộng rãi. Từ đó đến nay, tuy tình hình đã có nhiều thay đổi lớn, song những vấn đề được đề cập trong bản điều trần về cơ bản vẫn còn nóng hổi tính thời sự và vẫn tiếp tục là mối quan tâm hàng đầu của bất cứ ai lo lắng đến tương lai con em và tiền đồ dân tộc. Vì vậy, chúng tôi khẩn thiết kiến nghị TƯ một lần nữa xem xét nghiêm túc các vấn đề nêu trong bản điều trần để kịp thời lựa chọn quyết sách chấn hưng giáo dục.

Để giúp thêm TƯ có cơ sở lựa chọn quyết sách, dưới đây chúng tôi xin bổ sung và phát triển bản điều trần ở mấy phần chính:

1) nhận diện tình thế khủng hoảng của giáo dục.

2) những sai lầm chủ yếu làm tha hóa giáo dục.

3) các nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng của giáo dục.

4) chấn hưng, cải cách giáo dục là mệnh lệnh cuộc sống.

5) một số việc cấp bách cần làm trong khi chưa cải cách.

          1. Nhận diện tình thế khủng hoảng của giáo dục

Bản điều trần năm 2004 đã nêu vắn tắt thực trạng nghiêm trọng của giáo dục cho đến thời điểm ấy. Bốn năm qua, những căn bệnh chủ yếu của giáo dục chưa hề thuyên giảm. Mặc cho những khoản đầu tư tăng liên tục và những cố gắng tích cực chấn chỉnh quản lý hai năm gần đây, chúng ta vẫn tiếp tục tụt hậu so với khu vực và thế giới. Theo báo cáo giám sát toàn cầu về giáo dục của UNESCO năm 2008 vừa mới công bố, VN tiếp tục mất điểm về chỉ số phát triển giáo dục cho mọi người (EDI) và tụt 9 bậc trong bảng xếp hạng EDI trong 5 năm từ 2004 đến 2008, đứng dưới cả Malaysia, Indonesia, Trung Quốc là những nước trước đây thua kém VN về EDI. Về đại học, nhiều số liệu đáng tin cậy cho thấy sự tụt hậu rất xa của các đại học của ta so với ngay cả các đại học của Thái Lan hay Malaysia về nghiên cứu khoa học – tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng đại học.(1) Theo đánh giá của WEF (Diễn đàn Kinh tế Thế giới) đào tạo và giáo dục đại học là một trong ba lĩnh vực yếu nhất, đáng lo ngại nhất, của Việt Nam. Sự yếu kém giáo dục cũng được phản ảnh rõ trong việc năng lực cạnh tranh toàn cầu của VN năm 2008 tụt thêm hai bậc, sau khi đã tụt bốn bậc năm 2007.

Giáo dục là một hệ thống phức tạp được đặc trưng bởi mục tiêu, cấu trúc tổ chức (bao gồm các phần tử và các hệ thống con), phương thức vận hành và hiệu quả hoạt động. Nếu về mỗi yếu tố ấy đều có quá nhiều trục trặc nghiêm trọng kéo dài hàng thập kỷ mà không khắc phục được, khiến mọi sự điều chỉnh cục bộ theo cơ chế sai-sửa-sai như lâu nay đã thực hiện đều không cứu vãn nổi, thì tình trạng ấy phải được nhận diện là sự khủng hoảng.

Nhìn lại hệ thống giáo dục VN, những dấu hiệu khủng hoảng đã lộ rõ từ lâu và hiện đã vượt quá xa giới hạn báo động.

Từ chỗ trước đây là sự nghiệp toàn dân, nay giáo dục đã dần dần mất phương hướng, không còn rõ giáo dục cho ai, vì ai, để làm gì. Học sinh bỏ học nhiều, cơ hội được đi học đối với con em các gia đình nghèo còn khó, mà cơ hội học được đến nơi đến chốn càng khó hơn, do nhiều vấn nạn về học phí, sách giáo khoa, học thêm, thi cử, học xong rồi làm gì, v.v. Trách nhiệm của Nhà Nước đối với giáo dục có xu hướng sút giảm dần, nhường chỗ cho quan niệm tư nhân hóa cực đoan đang gia tăng theo chiều hướng phủ nhận giáo dục với tính chất là lợi ích công, muốn biến nó thành một thứ hàng hóa thuần túy, thuận mua vừa bán theo luật cung cầu của thị trường. Khoảng cách giữa mục tiêu lý thuyết và thực tiễn thực hiện đang ngày một rộng thêm, đang có nguy cơ đẩy giáo dục xa rời lý tưởng công bằng, dân chủ, văn minh mà xã hội đang muốn hướng tới.

Cơ cấu tổ chức và hoạt động giáo dục mất cân đối, rối loạn trầm trọng giữa giáo dục phổ thông, dạy nghề, cao đẳng, đại học, giữa công lập và tư thục, giữa chuyên tu, tại chức, đào tạo liên kết, v.v…. tất cả làm thành một hệ thống rối ren không đồng bộ, thiếu nhất quán, hoạt động phân tán, rời rạc, mà mỗi đơn vị tuân theo lợi ích cục bộ, thiển cận, hơn là quan tâm đến lợi ích cơ bản và lâu dài của cộng đồng. Một hệ thống mấy trăm đại học, cao đẳng, với chất lượng rất thấp, bên cạnh một hệ thống dạy nghề què quặt, trên nền một hệ thống giáo dục phổ thông cũ kỹ, lạc hậu, hơn hai thập kỷ nay vẫn loay hoay triền miên với những thí nghiệm tốn kém không hiệu quả, đó là bức tranh tổng thể của hệ thống giáo dục VN ở thời điểm này.

Nội dung và phương pháp giáo dục thể hiện xu hướng hư học cổ lỗ, dành nhiều thời gian học thuộc lòng những điều lạc hậu vô bổ, mặt khác lại quá thực dụng thiển cận, thiên về ăn xổi mà coi nhẹ những vấn đề có ý nghĩa cơ bản cho cả xã hội và cho từng cá nhân như: hình thành nhân cách, rèn luyện năng lực tư duy, khả năng cảm thụ. Coi nhẹ kỹ năng lao động, kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, đức tính trung thực, năng lực sáng tạo, năng lực tưởng tượng – những đức tính và năng lực thời nào cũng cần nhưng đặc biệt thời nay càng cần hơn bao giờ hết. Trong khi đó coi trọng bằng cấp và thi cử hơn học, khiến thi cử và chạy theo bằng cấp lôi cuốn toàn xã hội, gây ra nhiều lãng phí lớn, và nhiều tiêu cực như bằng giả, bằng dỏm, học giả, v.v, ảnh hưởng rất xấu đến môi trường văn hóa tinh thần.

          Chất lượng đào tạo sút kém một thời gian dài, đặc biệt ở đại học, cao đẳng và dạy nghề, khiến nhân lực đào tạo ra còn xa mới đáp ứng được đòi hỏi thực tế về cả ngành nghề, chất lượng và số lượng. Dân trí thấp – hệ quả tất nhiên của giáo dục yếu kém – tác động tiêu cực đến môi trường, sức khỏe cộng đồng, an toàn giao thông, gây ra hàng loạt vấn nạn trên mọi phương diện của đời sống. Tuy có một số thành công bước đầu rất hạn chế qua các lớp phổ thông chuyên, và các lớp cử nhân “tài năng”, kỹ sư “tài năng” mới ra đời mấy năm gần đây, nói chung việc bồi dưỡng và sử dụng nhân tài còn ở trình độ cực kỳ sơ khai, lại thiếu môi trường và chính sách thích hợp, nên không những không thu hút được nhân tài từ nước ngoài mà cũng không giữ chân được số ít ỏi nhân tài đã may mắn gây dựng được trong nước. Nạn chảy máu chất xám tuy đã được báo động từ lâu song chưa được ngăn chặn hữu hiệu, mà chỉ nặng về lặp đi lặp lại những lời hô hào và hứa hẹn.

Trong khi chất lượng giáo dục sa sút thì lãng phí và tham nhũng khiến chi phí cho giáo dục tăng cao một cách phi lý, trở thành gánh nặng không chỉ cho ngân sách quốc gia, mà cho mọi gia đình vì phần đóng góp trực tiếp của dân ước tính lên đến hơn 40% tổng chi cho giáo dục. Điều đáng lo hơn cả là sự lãng phí đó, dù rất lớn vẫn chưa đáng kể so với sự lãng phí chất xám gây ra bởi chính sách đào tạo và sử dụng nhân tài hẹp hòi thiển cận.

Bấy nhiêu vấn nạn tích lũy hàng chục năm, ngày một trầm trọng hơn và đến nay vẫn chưa thuyên giảm, mặc cho mọi cố gắng khắc phục, là bằng chứng của sự khủng hoảng giáo dục từ bên trong hệ thống. Không phải chỉ đơn thuần là sự khủng hoảng về quy mô, số lượng, mà nghiêm trọng hơn, là sự khủng hoảng về đường lối (triết lý), về chất, tiềm ẩn nguy cơ tha hóa không thể coi thường.

Điều may mắn là vượt lên trên tình hình chung không mấy sáng sủa vẫn có những điểm sáng nhất định, và trong từng cấp học và từng địa phương đều tự phát có những đơn vị khá thành công, vẫn còn những con người tràn đầy nhiệt huyết và quyết tâm, chứng tỏ tiềm năng phát triển giáo dục của đất nước còn lớn.

          2. Những sai lầm chủ yếu làm tha hóa giáo dục

Sự khủng hoảng giáo dục trước hết là khủng hoảng về chất, điều đó cũng có nghĩa là giáo dục không chỉ tụt hậu mà đã đi lạc hướng, trở thành lạc lõng, trong trào lưu chung của thế giới hiện đại. Đó là hậu quả của nhiều năm phạm những sai lầm quản lý có tính hệ thống làm tha hóa giáo dục.

Sai lầm đầu tiên tai hại nhất, dẫn đến suy thoái trầm trọng đạo đức trong nhà trường, là chính sách đối với người thầy dựa trên quan niệm lệch lạc về sứ mạng và vai trò người thầy trong nền giáo dục hiện đại. Từ chỗ phê phán đúng đắn tư duy lạc hậu trong nhà trường cũ gán cho thầy quyền uy tuyệt đối, biến giáo dục thành quá trình truyền đạt và tiếp thu hoàn toàn thụ động, đã dần dần xuất hiện tư duy cực đoan ngược lại, phủ nhận vai trò then chốt của người thầy đối với chất lượng giáo dục. Với cách hiểu giáo dục thô sơ, khi thì nhấn mạnh một chiều “học sinh là trung tâm” để hạ thấp vai trò người thầy, khi khác tôn chương trình, sách giáo khoa lên địa vị “linh hồn giáo dục”, nhận định chất lượng đại học thấp “không phải do thầy mà do chương trình”, v.v. dẫn đến hoàn toàn xem thường việc xây dựng đội ngũ thầy giáo theo chuẩn mực chuyên môn và đạo đức hiện đại. Trong mọi khâu từ tuyển chọn đến sử dụng và bồi dưỡng người thầy, khâu nào cũng phạm sai lầm lớn. Đặc biệt tệ hại là chính sách lương: trả lương cho thầy, cô giáo dưới mức sống hợp lý, lấy cớ ngân sách eo hẹp (ban đầu do khó khăn có thật, về sau chỉ là do tham nhũng và sử dụng ngân sách không hợp lý), buộc thầy, cô phải xoay xở kiếm thêm thu nhập bằng mọi cách (dạy thêm, làm thêm ngoài giờ, bằng tay trái, đến nỗi hiện tại cũng không hiếm giảng viên đại học dạy sô trên 30 giờ/tuần). Có thể nói không quá đáng tất cả những căn bệnh trầm trọng về đạo đức nghề nghiệp: gian dối, tiêu cực, lãng phí, quan liêu… đã tàn phá giáo dục trong nhiều năm đều có nguồn gốc sâu xa liên quan tới cái lỗi hệ thống cơ bản này.(1*)

Sai lầm thứ hai, biến học tập thành một thứ khổ dịch, là tập trung tất cả việc dạy và học vào thi cử, nói rõ hơn là thay vì thi, kiểm tra thường xuyên nghiêm túc từng học phần để bảo đảm kết quả học tập vững chắc thì dồn hết cố gắng vào các kỳ thi tốt nghiệp, thi “quốc gia” nặng nề, căng thẳng, rất hình thức mà một thời gian dài thiếu nghiêm túc, sinh ra hội chứng thi rất đặc biệt của giáo dục Việt Nam: gần thi mới lo học, học đối phó, học nhồi nhét chỉ cốt để thi, thi cái gì học cái nấy, thi thế nào học thế ấy, chủ yếu là học thuộc lòng các loại bài mẫu, các đáp án mẫu. Trước đây thi theo bộ đề thi cho sẵn, nay, sau nhiều năm đã bỏ, bộ đề thi biến tướng thành các bảng “cấu trúc đề thi”. Đem việc học phụ thuộc vào việc thi, khiến thi chứ không phải học trở thành hoạt động giáo dục chủ yếu, đó là tàn tích lạc hậu của lối học từ chương khoa cử, một thời đã bị lên án nhưng dần dần được khôi phục lại. Trên thì Bộ GD-ĐT có cả một cơ quan đông đúc (nay là Cục khảo thí) chuyên nghiên cứu qui chế thi, ra đề thi, tổ chức chấm thi, thanh tra, giám sát thi, mỗi năm một kiểu (năm 2009 càng rắc rối phức tạp hơn mọi năm trước), dưới thì các lò luyện thi, các lớp học thêm, dạy thêm, các máy sao chụp hoạt động hết công suất để phục vụ học sinh đi thi. Từ đó đẻ ra những dịch vụ kỳ quái hiếm thấy trên thế giới: sản xuất “phao” thi, thi thuê, viết luận án thuê, làm bằng giả, mua bằng thật nhưng học giả, v.v. Cho nên chừng nào còn duy trì cái khổ dịch thi cử này thì kinh tế còn phải trả giá nặng nề cho sự tụt hậu của giáo dục. Nếu tính hết mọi khoản chi trực tiếp và gián tiếp phục vụ cho các kỳ thi và mọi thiệt hại (kể cả về tâm lý) phát sinh do thi cử kiểu này, thì hậu quả xấu rất lơn (riêng về tiền có thể đến cả chục nghìn tỉ đồng mỗi mùa thi), bình thường đã khó chấp nhận mà trong bối cảnh khó khăn kinh tế càng không thể hiểu nổi. Trung Quốc hay Hàn Quốc, thi còn nhẹ nhàng hơn ta mà họ đã phê phán cái “địa ngục thi cử của họ, còn thi cử như ta không biết phải gọi là cái địa ngục gì.

Sai lầm thứ ba, dẫn đến rối loạn vượt quá tầm kiểm soát, là chạy theo số lượng, hy sinh chất lượng, bất chấp mọi chuẩn mực, thông lệ và kinh nghiệm quốc tếĐặc biệt trong lĩnh vực quản lý đại học (đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, công nhận GS, PGS, phát triển đại học) tình trạng phát triển bừa bãi, dối trá, diễn ra hết sức nghiêm trọng và kéo dài gần hai thập kỷ. Trong thời đại toàn cầu hóa, muốn không bị loại khỏi cuộc cạnh tranh, ít nhất phải hiểu biết và tôn trọng luật chơi, trước hết là các quy tắc, chuẩn mực, thông lệ quốc tế. Thế nhưng từ các chuẩn mực thông thường nhất về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, cho đến việc tuyển chọn, đánh giá GS, PGS, tuyển sinh thạc sĩ, tiến sĩ, đánh giá công trinh nghiên cứu khoa học, đánh giá các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, v.v. phần lớn đều không theo những chuẩn mực quốc tế mà dựa vào những tiêu chí tự sáng tác, rất thấp và khác so với quốc tế, thiếu khách quan, thiếu căn cứ khoa học, thiếu minh bạch, dễ bị lợi dụng mưu lợi ích riêng cho từng nhóm ích kỷ. Do đó trong một thời gian ngắn đã xuất hiện hàng vạn tiến sĩ và hàng nghìn GS, PGS, trong đó một tỉ lệ khá lớn (không dưới 2/3) dưới chuẩn, thậm chí hữu danh vô thực. Đáng lo nhất là với phong trào đại học hóa ồ ạt, chỉ trong vòng vài năm đã ra đời hàng trăm đại học, cao đẳng, mà nhiều trường trong số đó chẳng có lấy một giảng viên đúng chuẩn. Gần đây, do yêu cầu bức bách hội nhập quốc tế và cạnh tranh đã nảy sinh nhu cầu xây dựng những đại học đẳng cấp quốc tế. Tuy đây là nhu cầu hoàn toàn hợp lý, nhiều người vẫn lo rằng nếu không cảnh giác với bệnh thành tích cố hữu thì cái tâm lý nôn nóng có thể dẫn tới một lần nữa chạy theo số lượng và danh hão, tiêu phí nhiều tiền để mua “danh” nhiều hơn là cầu “thực.” (2) Sự lo lắng không phải không có cơ sở khi được biết Chính Phủ đã chấp thuận cho Bộ GD-ĐT vay 400 triệu USD từ WB để xây dựng 4 trường đại học chất lượng cao đến năm 2020 thuộc top 200 đại học tốt nhất thế giới – trong khi đó quan niệm thế nào là đại học đẳng cấp quốc tế hãy còn rất mơ hồ và bất cập.

Hậu quả tổng hợp của các sai lầm nêu trên là một bộ phận giáo dục dần dần biến chất, tha hóa, xa rời những giá trị cao quý còn sót lại từ quá khứ. Cái chất thực sự, cái phẩm chất giáo dục, chẳng còn mấy trong nhiều nhà trường – nơi đạo đức băng hoại, nơi học tập trở thành khổ dịch, nơi chẳng còn phép tắc, trật tự. Trường không ra trường, thầy không ra thầy, lời buộc tội nặng nề đó tuy chỉ đúng với một bộ phận của giáo dục, nhưng cũng đủ để gióng lên hồi chuông báo động đỏ cho toàn ngành.

          3. Các nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng của giáo dục

Tại sao một dân tộc vốn có truyền thống hiếu học lâu đời mà giáo dục lại rơi vào suy thoái trầm trọng vào đúng lúc nó phải là bệ phóng cho sự phát triển của đất nước?

Hoàn toàn không phải do nghèo, vì công sức, tiền của lãng phí, thất thoát ngay trong ngành giáo dục rất lớn. Nguyên nhân khủng hoảng phải trung thực nhìn nhận chủ yếu là do lãnh đạo bất cập, trước hết là lãnh đạo của TƯ.

Trong thời gian dài lãnh đạo các cấp đều chưa nhận thức đúng mứctầm quan trọng của giáo dục trong sự nghiệp phát triển của đất nước nên đãthiếu quyết tâm và thiếu trách nhiệm đối với công tác này. Sau khi nghị quyết Hội nghị TƯ II khóa 8 ra đời, người dân đã trông chờ những chuyển biến mạnh mẽ trong các chính sách và hành động cụ thể để chấn hưng giáo dục. Nhưng từ khâu phân bổ và quản lý ngân sách cho đến quan trọng nhất là khâu tổ chức, bố trí nhân sự lãnh đạo giáo dục ở các cấp, xây dựng bộ máy tham mưu, quản lý và điều hành giáo dục ở TƯ, tất cả đều theo nếp cũ. Lẽ ra chủ trương lấy phát triển giáo dục làm quốc sách hàng đầu phải biến thành ý chí chính trị của toàn xã hội và được quán triệt trong toàn hệ thống chính quyền, thì ngay các bộ và ban ngành xung quanh TƯ và lãnh đạo các địa phưong cũng chưa thật sự thông suốt với chủ trương đó. Rất nhiều chính sách, quy định cụ thể về cán bộ, về tài chính, v.v. đều tỏ rõ giáo dục, khoa học trên thưc tế vẫn được đối xử như những lĩnh vực ưu tiên cuối cùng.(3)Trong nhiều năm, sự quan tâm của TƯ đối với hai lĩnh vực này chỉ thu gọn lại là đảm bảo tỉ lệ ngân sách phân bổ theo đúng nghị quyết. Một số ít chính sách có thể hiện ít nhiều sự quan tâm thì cũng chỉ mang tính chắp vá, tùy tiện, đối phó miễn cưỡng, hơn là thật sự chăm lo cho giáo dục, khoa học vì sự nghiệp phát triển của đất nước. Rốt cuộc, tuy đầu tư cho giáo dục có tăng, kể cả ngân sách và vốn vay quốc tế, nhưng tổ chức quản lý không hiệu quả nên năm này qua năm khác giáo dục vẫn thuộc loại đề tài bức xúc nhất của xã hội. Đối mặt với sự cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt nhưng cách suy nghĩ thiển cận khá phổ biến của nhiều quan chức vẫn thiên về so sánh ta với ta để dễ dàng tự thỏa mãn với những tiến bộ chậm chạp đạt được mà không thấy trong khi đó các nước xung quanh ta và trên thế giới tiến nhanh hơn ta gấp bao nhiêu lần. Tụt hậu mà không nhận thức được sự tụt hậu cho đến nay vẫn là trở ngại tư tưởng lớn nhất về phía lãnh đạo. Căn bệnh chủ quan, thiếu trung thực trước những thách thức của tình hình đã ru ngủ chúng ta quá lâu, giờ đây hình như đang biến tướng thành bệnh thoát ly thực tế, chạy theo những mục tiêu nặng về phô trương chính trị nhiều hơn là thiết thực.

Nghị quyết TƯ II khóa 8 chỉ mới xác định vị trí quan trọng của công tác giáo dục và phê phán những tàn tích của lối học từ chương khoa cử lạc hậu, chứ chưa nêu rõ những nguyên lý cơ bản của đường lối giáo dục (triết lý giáo dục) mới, thay thế cho đường lối giáo dục cũ không còn thích hợp nữa. Những điều ghi lại trong các văn kiện, nghị quyết, kể cả trong luật giáo dục đã hai lần chỉnh sửa, đều chưa đủ và có nhiều điểm chưa đúng, dễ dàng bị sử dụng làm căn cứ biện hộ cho những quan điểm lỗi thời.(4) Vì thế, trong suốt thời gian dài, tuy các quan chức phụ trách giáo dục mỗi lần báo cáo đều thừa nhận “chậm đổi mới tư duy”, song đổi mới như thế nào thì không rõ và dĩ nhiên tình hình mập mờ ấy hậu thuẫn cho tư duy lạc hậu, cũ kỹ, cứ tiếp tục phát triển. Vẫn các quan điểm xơ cứng về xây dựng giáo dục từ thời bao cấp trước đây, chỉ có khác là loay hoay tìm cách thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó dẫn đến mâu thuẫn nghiêm trọng giữa lời nói và việc làm, mà hậu quả là sự giả dối lan tràn khắp mọi lĩnh vực, mọi khâu, mọi ngóc ngách đời sống học đường. Lẽ ra là nơi gìn giữ sự trung thực và khuyến khích sáng tạo, là nơi hình thành nhân cách và phát triển trí tuệ, thì nhiều nhà trường đã trở thành nơi dung túng dối trá, nơi tập cho con em nói theo, nghĩ theo, làm theo, động viên con em chỉ học để thi cho đỗ và ra đời … làm quan hoặc kiếm được nhiều tiền. Nấp dưới lý luận ngây thơ về thị trường hóa giáo dục đã xuất hiện những chủ trương xã hội hóa giáo dục vô nguyên tắc, cổ súy cho thương mại hóa giáo dục không lành mạnh, gây nhiều hậu quả tiêu cực ảnh hưởng nặng nề đến chất lượng giáo dục đại học vốn đã quá thấp (thậm chí quy chế trường ngoài công lập đã ban hành chỉ thừa nhận loại trường hoạt động vì lợi nhuận!).

Trong thời toàn cầu hoá và kinh tế tri thức, giáo dục muốn cạnh tranh và hội nhập thành công cần một triết lý giáo dục đúng đắn, sáng suốt, cập nhật thời đại, một tầm nhìn chiến lược dựa trên triết lý đó và một bộ máy quản lý điều hành năng động, có trình độ chuyên nghiệp và tinh thần trách nhiệm cao. Thế nhưng suốt một phần tư thế kỷ qua vẫn một tầm nhìn hạn hẹp, nông cạn, cùng với một bộ máy quản lý điều hành thiếu chuyên nghiệp, cả tâm và tầm đều dưới xa yêu cầu. Trong điều kiện đất nước còn nghèo, việc quản lý tốt các nguồn lực, nhất là các phương tiện tài chính, đặc biệt quan trọng, nhưng đây lại là lĩnh vực có quá nhiều bất cập, thiếu minh bạch, khiến nhiều người nghi ngờ tăng đầu tư cho giáo dục sẽ tăng chất lượng tương ứng. Một phần khá lớn ngân sách được chi không hiệu quả, đặc biệt là trong khuôn khổ các dự án và trong loại việc mang tên “nâng cao năng lực quản lý” mà thực chất là gì không minh bạch (gần đây nhất, một dự án 70,5 triệu USD để nâng cấp đại học phải dành tới gần 5 triệu USD để nâng cao năng lực quản lý của Bộ). Nhiều việc trong nhiệm vụ thường xuyên của cơ quan quản lý lại trở thành những “đề tài nghiên cứu khoa học”, có khi là đề tài cấp Nhà Nước, với kinh phí vượt nhiều lần kinh phí cấp cho các đề tài nghiên cứu khoa học thật sự. Nào là soạn thảo chiến lược giáo dục, soạn thảo cơ chế tài chính, nào là xây dựng công tác kiểm định, xếp hạng các đại học, nghiên cứu chương trình học các cấp, làm thí điểm các chương trình mới, v.v. Bấy nhiêu nghiên cứu kéo dài năm này qua năm nọ, thiếu chuyên nghiệp, sửa đi sửa lại nhiều lần, tốn phí nhiều mà hiệu quả thấp, có lẽ cái lợi duy nhất dễ thấy là bảo đảm nguồn thu nhập thường xuyên đáng kể cho các quan chức và cán bộ. Do quản lý tập trung quan liêu và thiếu chuyên nghiệp, chi phí quản lý tăng cao (ước tính chi phí quản lý có thể hơn gấp đôi tổng chi cho lương của giáo viên) (5). Một tình trạng tuy đã bị phê phán từ lâu nhưng đến nay chưa có tiến bộ đáng kể là Bộ ôm quá nhiều việc của cấp dưới nên làm không xuể, trong khi đó lại bê trễ, bỏ trống hoặc làm tắc trách nhiều việc trong nhiệm vụ của chính mình. Hậu quả hiển nhiên của lối quản lý tập trung quan liêu đó là lãng phí và tham nhũng phát triển. Song đáng nói hơn là trong khi hai căn bệnh này ngày càng trầm trọng thì Bộ GD-ĐT mới đây vẫn công khai tuyên bố trong ngành không có lãng phí, tham nhũng.

          4. Chấn hưng, cải cách giáo dục là mệnh lệnh cuộc sống

Trước tình hình khủng hoảng của giáo dục, bản điều trần 2004 đã kiến nghị xây dựng lại giáo dục từ gốc, trên cơ sở một triêt lý giáo dục mới, phù hợp với xu thế chung của thời đại và yêu cầu phát triển của đất nước. Nội dung cơ bản của triết lý này đã được trình bày rõ trong bản điều trần (toàn bộ phần II của bản điều trần), xin không nhắc lại ở đây.

Vài năm nay, nhận thấy giáo dục vẫn tiếp tục sa lầy trong suy thoái, nhiều nhà giáo, nhà khoa học, nhiều thức giả trong và ngoài nước cũng đã góp thêm tiếng nói tâm huyết kêu gọi cải cách giáo dục. Đặc biệt Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã bày tỏ lo lắng sâu sắc trước sự suy thoái của giáo dục.Chưa bao giờ xã hội Việt Nam có sự đồng thuận cao như hiện nay về sự cần thiết phải cải cách giáo dục.

Thật ra không phải chỉ gần đây khủng hoảng giáo dục mới được báo động, mà ngay từ năm 1995, trong một hội nghị ba ngày do Thủ Tướng Võ Văn Kiệt hồi ấy triệu tập và chủ trì đã có ý kiến thẳng thắn nêu lên thực trạng nguy kịch của giáo dục và lên tiếng kêu cứu cho ngành này. Nghị quyết TƯ II khóa 8 đã đúc kết những nhận định và kiến nghị tâm huyết đề xuất trong hội nghị đó và trong một số hội thảo tiếp theo. Tiếc rằng từ bấy đến nay đã 13 năm giáo dục vẫn ì ạch, chưa có dấu hiệu bứt ra được khỏi thế trì trệ triền miên. Trong thời gian ấy biết bao cơ hội đã mở ra, và cũng có biết bao thách thức xuất hiện ở phía trước! Nếu tới đây sức ỳ này vẫn tiếp tục chi phối giáo dục thì mục tiêu Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 rất ít hy vọng có thể thực hiện được.

Hiển nhiên, cũng như bất cứ ai có ý thức trách nhiệm với đất nước, các nhà quản lý giáo dục không phải không nhận ra những vấn nạn đã gây bức xúc thường xuyên trong xã hội. Nhưng do tư duy cũ kỹ và trình độ hạn chế nên trong suốt hai mươi năm trời từ khi công cuộc đổi mới bắt đầu, ngành giáo dục đã loay hoay không tìm được hướng đổi mới đúng đắn, chỉ cải sửa từng phần vụn vặt, chắp vá, gặp đâu sửa đó. Kết quả của những cải cách vụn vặt liên miên đó là đã đẻ ra một hệ thống giáo dục dị dạng, đầu Ngô mình Sở, đi lạc hướng so với thế giới văn minh, thường xuyên gặp khó khăn, đòi hỏi phải liên tục cải sửa, song càng sửa càng rối, càng bất cập.

Chính hoàn cảnh ấy đã thôi thúc một nhóm trí thức viết bản điều trần 2004. Cần ghi nhận rằng bản điều trần đã được Chính Phủ và Bộ GD-ĐT khi ấy tiếp nhận tương đối thuận lợi, với một thái độ thực sự cầu thị. Nhờ đó một số mặt công tác bắt đầu có chuyển biến theo chiều hướng tốt, như một số đổi mới bước đầu trong chương trình phân ban của THPT, trong xây dựng quy chế đào tạo tiến sĩ, quy chế công nhận các chức danh GS, PGS, … Tiếc rằng do sức ỳ của bộ máy quá lớn nên những thay đổi chỉ mới nửa vời, chậm chạp, vất vả, trầy trật, và còn xa yêu cầu. Tình trạng chung là dùng dằng nửa thấy cần đổi mới nửa còn luyến tiếc lối cũ, phần vì trình độ, vì quán tính, phần vì không muốn quyền lực (kèm theo lợi ích) bị chia sẻ. Trong khi đó, mấy năm gần đây lãnh đạo của Bộ ngày càng nghiêng về xu hướng phiêu lưu muốn lái giáo dục theo chiều hướng tự do hóa cực đoan như thể hiện trong đề án “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học giai đoạn 2006-2020” đã trình lên Chính Phủ thông qua hai năm trước. Sức ỳ và tinh thần ngại thay đổi lớn (đòi hỏi đầu tư cao về trí tuệ), tiến vài bước lùi vài bước, có khi quay ngược 180 độ, chứng tỏ tư duy lãnh đạo của giáo dục còn rất lấn cấn, chưa thông suốt, chưa sẵn sàng đổi mới, ngay cả khi đổi mới giáo dục đã là đòi hỏi bức thiết của cả xã hội.

Hơn một năm nay, Bộ GD-ĐT bắt tay xây dựng “Chiến lược phát triển giáo dục 2008-2020”. Xin lưu ý rằng trước đây đề án “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học giai đoạn 2006-2020” đã được thông qua trong lúc bản “Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2000-2010” trên nguyên tắc còn 4 năm nữa mới hết hiệu lực. Bây giờ, trong lúc vừa mới thông qua đề án “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học giai đoạn 2006-2020” được hai năm, và “Chiến lược phát triển giáo dục 2000-2010” còn hiệu lực hai năm nữa thì đã có “Chiến lược phát triển giáo dục 2008- 2020”, rồi 2009-2020. Mỗi bản dự thảo chiến lược là công trình cả năm trời hay hơn của một viện hàng mấy trăm người, sửa đi sửa lại nhiều lần (bản này sửa đến lần thứ 14), sau mỗi lần sửa, bản dự thảo lại được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi trong các cuộc hội thảo mà nhiều vị tham gia thiếu sự nghiên cứu nghiêm túc thấu đáo cũng mạnh dạn phát biểu về “đại học đẳng cấp quốc tế”, “đại học top 200”, v.v. Thật ít thấy cách làm việc nào tùy tiện, thiếu nghiêm túc, thiếu khoa học, thiếu chuyên nghiệp hơn mà lại tốn kém như vậy, trong lúc Chính Phủ đang kêu gọi tiết kiệm, chống lãng phí, để góp phần khắc phục các khó khăn kinh tế nghiêm trọng. Khác với hai văn bản trước, dự thảo “Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2009-2010” xuất phát từ ý tốt muốn mau chóng thay đổi cục diện giáo dục của đất nước ngay trong nhiệm kỳ 10 năm, nhưng chủ quan, không thực tế. Phần quan trọng của dự thảo nói về thực trạng giáo dục của ta và bối cảnh trong nước và quốc tế chưa phân tích được sự không thành công của giáo dục như nhận định trước đây của nguyên Thủ Tướng Phan Văn Khải, mà thiên về chứng minh điều ngược lại. Hai phần tiếp theo nói về các quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục và các mục tiêu chiến lược, thể hiện một triết lý giáo dục tuy có được một số yếu tố cấp tiến trên lý thuyết, nhưng về căn bản vẫn chưa thoát ra khỏi tư duy giáo điều trước đây, lại được bổ sung thêm những yếu tố mở đường cho quan điểm thị trường cực đoan phiêu lưu sai lầm (quan điểm 5, phần III) (6) mà nếu thực hiện sẽ có tác dụng đẩy giáo dục càng suy thoái xa hơn. Phần V, trên thực tế mới là phần trọng yếu, thực ra chỉ là một bản kế hoạch dài hạn 12 năm, xây dựng duy ý chí theo tư duy và phương pháp kế hoạch hóa tập trung quan liêu thời bao cấp đã phá sản từ những năm đầu 80 thế kỷ trước. Chúng ta đang sống trong thời đại đầy biến động khó lường, năng lực dự báo kinh tế của ta lại rất yếu, dự báo ngắn hạn đã khó, huông hồ dự báo cho 12 năm tới. Mà khi đã không có dự báo kinh tế tin cậy được thì căn cứ vào đâu có thể tính toán chi tiết các chỉ tiêu phát triển giáo dục trong 12 năm tới như trong bản dự thảo? (6*) Có chăng đây chỉ là một bảng uớc muốn tốt đẹp của lãnh đạo, thể hiện phần nào tâm huyết đối với giáo dục, nhưng không thể coi là đã có tính toán cân đối khả năng, nguồn lực và yêu cầu. Hơn nữa, các chỉ tiêu, biện pháp chỉ nặng về phát triển qui mô dễ gây ấn tượng mà không tính hết các khó khăn và thách thức, xem nhẹ chuyển biến về chất, trong khi cuộc khủng hoảng giáo dục hiện nay trước hết là khủng hoảng về đương lối, triết lý, khủng hoảng về chất.

Cần ghi nhận những tiến bộ hai năm qua đã tạo được một số chuyển biến tích cực, bước đầu kéo giáo dục ra khỏi một số điểm trì trệ lâu ngày. Nhưng đồng thời cũng cần thấy rằng những tiến bộ ấy chỉ mới ở ngoại biên, chưa động tới chiều sâu các vấn đề cốt lõi. Chẳng hạn, tiêu cực trong thi cử chỉ là một mảng nhỏ, thậm chí chỉ là thứ yếu, mà cái gốc là bệnh giả dối thâm căn cố đế của giáo dục, làm sao chỉ bằng phong trào “hai không” mà khắc phục được. Ngay trong thi cử thì cái tiêu cực nhất không chỉ là chuyện quay cóp, gian lận, mà ở chứng bệnh hư học và những lãng phí to lớn nó gây ra cho xã hội. Còn bệnh thành tích thì không chỉ ở thói xấu báo cáo không trung thực kết quả các kỳ thi, mà như đã phân tích ở trên, nghiêm trọng nhất là xu hướng từ trên xuống dưới chạy theo số lượng, bất chấp chất lượng, bất chấp chuẩn mực, đặc biệt là chuẩn mực quốc tế, chạy theo những hoạt động phô trương tốn kém, những thành tích giả tạo. Do đó, còn chưa động tới những vấn đề cốt lõi đó thì chưa thể nói có chuyển biến gì đáng kể về chất. (7) Khác nào con bệnh đang đau nhức bên trong các nội tạng mà chỉ được bôi xức ngoài da hay cho uống thuốc giảm sốt, giảm đau, những việc này tuy cần thiết trong một giai đoạn nhưng không chữa được bệnh, hơn nữa nếu kéo dài lâu quá còn có thể làm bệnh trầm trọng thêm.

Tóm lại, bài học kinh nghiệm hai chục năm qua là không thể chấn hưng giáo dục chỉ bằng những cải cách nửa vời, chắp vá, tùy tiện, hay những giải pháp cục bộ, bề nổi, có tính phong trào. Đó không chỉ là ý kiến lẻ tẻ của các nhà giáo dục, khoa học trong nước mà còn là ý kiến chung, kiên trì, kết quả nhiều năm suy nghĩ trăn trở của rất đông các nhà khoa học, giáo dục trong nước, Việt Kiều và nước ngoài đã từng quan tâm, tìm hiểu và gắn bó sâu sắc với nền giáo dục của đất nước ta trong suốt thời kỳ đổi mới.

Vì những lẽ trên, một lần nữa chúng tôi xin nhắc lại lời thỉnh cầu khẩn thiết: đã đến lúc cần thực hiện một cuộc cải cách giáo dục toàn diện, triệt để, nhằm xây dựng lại hệ thống giáo dục từ gốc, tiến tới một nền giáo dục thật sự hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, và tạo tiền đề cho đất nước hội nhập quốc tế thành công.

Đây thật sự là mệnh lệnh cuộc sống, không thể chần chừ. Người dân đã quá mỏi mệt với những vấn nạn kinh niên về học phí, thi cử, sách giáo khoa, chương trình quá tải, v.v…, năm nào cũng bấy nhiêu chuyện lặp đi lặp lại mà đến nay vẫn chưa thấy lối ra có thể tin tưởng được. Nhiều nước tuy giáo dục đang phát triển tốt vẫn thấy cần cải cách để đáp ứng các đòi hỏi mới của thời đại, huống chi chúng ta đã không thành công trong một phần tư thế kỷ qua.

Tuy nhiên, như đã nói rõ trong bản điều trần, cải cách giáo dục là công việc hệ trọng, không thể làm vội vã tùy tiện mà cần phải được chuẩn bị chu đáo, nghiên cứu cẩn trọng để thực hiện từng bước, từng bộ phận, theo một kế hoạch được Quốc Hội thông qua nghiêm túc.

Sau một thời gian dài im lặng trước mọi đề nghị cải cách, nay Bộ GD-ĐT thông báo “Thủ Tướng Chính Phủ sẽ ban hành vấn đề cải cách hệ thống giáo dục quốc dân trong quý 1/2009 để xóa đi tất cả những yếu kém, bất cập trong hệ thống”. (8) Đây là một tin vui, cho biết vấn đề cải cách giáo dục cuối cùng đã được đặt chính thức lên bàn nghị sự của Chính Phủ. Song những tin tức cụ thể kèm theo bản dự thảo chiến lược phát triển giáo dục 2009-2020 khiến dư luận chưa thể yên lòng. Chúng ta có Hiến Pháp, có Quốc Hội, thiết tưởng một công cuộc có tầm quan trọng lớn lao đối với quốc dân như cải cách giáo dục cần phải được nghiên cứu cẩn trọng và thông qua Quốc Hội.

Trong tình hình hiện nay, tốt nhất xin đề nghị Chính Phủ thành lập một tổ đặc nhiệm, độc lập với Bộ GD-ĐT, chịu trách nhiệm trước Chính Phủ xây dựng trong thời hạn tối đa 12 tháng một đề án cải cách giáo dục toàn diện kèm theo một kế hoạch và lộ trình cụ thể để đưa ra lấy ý kiến đóng góp rộng rãi trong nhân dân trước khi trình Chính Phủ và Quốc Hội.

Để công việc thuận lợi và có hiệu quả thiết thực, Tổ đặc nhiệm cần có một nòng cốt gồm một số không nhiều những chuyên gia thật sự có năng lực và thật sự am hiểu giáo dục hiện đại, làm việc toàn thời gian. Bên cạnh đó có môt hội đồng rộng hơn, làm việc nửa thời gian, gồm có đại diện Bộ GD-ĐT, các nhà khoa học, nhà văn hóa, và doanh nhân, do Thủ Tướng Chính Phủ chỉ định, để hỗ trợ Tổ đặc nhiệm trong quá trình soạn thảo đề án. Thành bại của sự nghiệp cải cách giáo duc phụ thuộc phần lớn ở sự lựa chọn đúng đắn thành phần tổ đặc nhiệm và hội đồng này.

          5. Một số việc cấp bách cần làm trong khi chưa cải cách

Việc chuẩn bị cải cách có thể mất một vài năm. Trong thời gian đó, cần chú ý một số vấn đề cấp bách cần giải quyết để tạo cơ sở và mở đường chuyển dần sang cải cách một cách thuận lợi. Chúng tôi kiến nghị tạm dừng việc thông qua Chiến lược phát triển Giáo dục 2009-2020 và một số Dự án, Đề án khác có liên quan. Bản điều trần 2004 có đề nghị 3 vấn đề về giáo dục phổ thông và 7 vấn đề về giáo dục đại học. Gần bốn năm qua, tuy các vấn đề này có tiến triển ít nhiều, nhưng đến nay hầu hết vẫn chưa được thật sự giải quyết, do đó vẫn cần được tiếp tục quan tâm. Mặt khác, tình hình kinh tế khó khăn với nhiều thách thức trước mắt đòi hỏi ngành giáo dục cần có những nổ lực đặc biệt góp phần cùng toàn xã hội vượt qua thách thức, khó khăn, biến thách thức thành cơ hội tạo chuyển biến mạnh mẽ chuẩn bị cho công cuộc chấn hưng giáo dục về lâu dài.

Trên tinh thần ấy chúng tôi xin kiến nghị ba giải pháp lớn sau đây, vừa để ngăn chặn xu hướng tha hóa, bước đầu khôi phục lại phẩm chất giáo dục trên ba mặt: đạo đức, thực học, chuẩn mực, vừa để góp phần tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả đầu tư trong giáo dục.

          5.1 Cải thiện cơ bản chính sách đối với người thầygiải tỏa nghịch lý lương/thu nhập, để nhà giáo ở mọi cấp an tâm làm việc, toàn tâm toàn ý với trách nhiệm cao cả của mình.

Sự thật, phần lớn giáo viên nay đã có mức sống không đến nỗi khó khăn như cách đây mấy năm, thậm chí một bộ phận còn có thu nhập khá. Song cái nghịch lý lương/thu nhập vẫn còn y nguyên, mà nguồn thu nhập bù lương vẫn là nguyên nhân gây nhiều tiêu cực nhức nhối. Cần giải quyết vấn đề này một cách minh bạch, qua việc chấn chỉnh quản lý tài chính ngay trong nội bộ ngành giáo dục, rà soát lại để kiên quyết bỏ hay giảm bớt mọi khoản chi tiêu không hiệu quả, trên cơ sở đó tăng lương, bảo đảm lương đủ sống và là thu nhập chính của mỗi người, từ đó lập lại kỷ cương, đạo đức trong giáo dục.Trong các tính toán kế hoạch, hãy đặt vấn đề trước hết bảo đảm đồng lương hợp lý cho mọi giáo viên và công nhân, viên chức trong ngành, sau đó mới xét đến các khoản chi tiêu khác. Nếu ngân sách được cấp cộng các khoản thu khác (do đóng góp của dân, hay do viện trợ, vay mượn quốc tế) không đủ thì mới xin bổ sung ở mức tối thiểu cần thiết nhất. Làm như vậy không cần đợi giải pháp chung cho tất cả các ngành, mà nhân đó còn có thể chống tham nhũng và lãng phí một cách thiết thực hơn. Theo tính toán sơ bộ (9), nếu bỏ đi những khoản chi vớ vẩn hoặc không thật sự cần thiết (hội họp, thi đua hình thức, thi dạy giỏi các kiểu, các khoản chi “nâng cao năng lực quản lý”, v.v.) thì hoàn toàn có thể trả lương đàng hoàng cho thầy cô giáo để họ sống được bằng tiền lương. Nếu cần Nhà Nước chi phụ thêm thì cũng chỉ cần phụ thêm một khoản hoàn toàn trong khả năng hiện thực. Ai cũng hiểu đây là việc rất khó, vì tuy khả thi về điều kiện vật chất khách quan nhưng chắc chắn sẽ vấp trở ngại tư tưởng rất lớn vì đụng chạm đến những thói quen, kể cả lãng phí và tham nhũng, đã hình thành và cắm rễ quá lâu trong thời gian qua. Song không làm bây giờ thì sẽ ngày càng khó hơn và có thể chẳng bao giờ có hy vọng trả lại được lòng tự trọng cho giáo dục.

Dù thế nào, trong khi chính sách đối với người thầy còn quá bất cập, nếu chưa làm được gì để cho thầy, cô giáo an tâm thì không nên đưa ra sớm quá những chủ trương gây thêm bất ổn lòng người, như cái tin vừa mới loan báo trong bản dự thảo chiến lược: “xóa bỏ biên chế, chuyển sang hợp đồng trong đội ngũ giáo viên”. Nếu đây chỉ là thực hiện một nghị định đã có của Chính Phủ thì không nên đưa ra như một sáng kiến của ngành, mà ngay trong trường hợp này cũng nên nghiên cứu cách thực hiện như thế nào cho thích hợp với các đặc thù của giáo dục. Trong khi tiêu cực, tham nhũng còn nặng, mà đồng lương của giáo viên lại quá thấp, việc xóa biên chế khó tạo nên được cạnh tranh lành mạnh mà còn có thể gây thêm bất ổn, có hại nhiều hơn lợi. Ở một số nước phát triển, mọi điều kiện đều thuận lợi hơn ta nhiều, mà chính sách này cũng chỉ mới được đưa ra mấy năm gần đây đối với giảng viên đại học công lập (và cũng không phải áp dụng đồng loạt cho mọi người) vì trong giáo dục và khoa học không phải kiểu cạnh tranh nào cũng tốt cả. Trong giáo dục phổ thông càng nên thận trọng, vận dụng máy móc cơ chế thị trường vào đây có thể đưa đến thảm họa. Sự cạnh tranh lành mạnh ở đây nên được thực hiện chủ yếu qua khâu tuyển dụng, còn sau khi tuyển dụng thì điều cần thiết là tạo điều kiện, môi trường, để giáo viên an tâm phục vụ, vì khác với ở đại học, ngoài việc dạy chữ họ còn phải quan tâm đến nhiều việc mà thiếu an tâm thì không thể làm tốt. Cũng như vậy, trong điều kiện quản lý và sử dụng cán bộ như hiện nay, chủ trương để hiệu trưởng quyết định lương của giáo viên là một việc phiêu lưu, có thể đẻ ra nhiều bất ổn, tiêu cực mới. Trước hết chúng ta hãy nên khiêm tốn làm những điều bình thường nhất mà ở mọi nước văn minh đều đã thành nề nếp (ví dụ: bỏ độc quyền của Bộ về sách giáo khoa), đồng thời cải cách và tăng cường hệ thống đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, để giúp cho giáo viên không những đủ năng lực truyền thụ kiến thức mà còn có khả năng rèn luyện cho học sinh tư duy phê phán, đầu óc sáng tạo và những kỹ năng mềm cần thiết trong đời sống hiện đại.

          5.2. Đổi mới căn bản việc học và thi ở THPT, khắc phục giáo dục đồng loạt và xóa bỏ khổ dịch thi cử

Hiện nay từ mẫu giáo đến THCS đã có hệ thống thực nghiệm giáo dục được xây dựng từ gần ba mươi năm nay trên cơ sở những nghiên cứu khoa học nghiêm túc, và đã hoạt động có hiệu quả trên nhiều vùng đất nước. Đã đến lúc cần chính thức mở rộng thực hiện hệ thống đó trong cả nước. Đồng thời để dần dần khôi phục lại thực học trong toàn bộ hệ thông giáo dục, cần một giải pháp đột phá cho việc học và thi ở THPT. Có những lý do sau đây để chọn THPT:

1) THPT là cấp cuối của giáo dục phổ thông, chất lượng ở đây thể hiện chất lượng toàn cấp, đồng thời là chất lượng đầu vào cho ĐH, CĐ trong nước và du học ở nước ngoài; điều này rất quan trọng đối với việc đào tạo đại học, cả trong nước và ngoài nước.

2) việc học và thi ở THPT căng thẳng nhất trong cả hệ thống giáo dục, do hai kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH-CĐ quá tốn kém bất hợp lý, giải quyết tốt khâu này chẳng những nâng cao thiết thực chất lượng học tập mà còn xóa được một nguồn lãng phí lớn về nhân, tài, vật lực.

3) trong cả đời người, tuổi 15-18 là giai đoạn dò dẫm con đường phát triển về cả sinh lý, tâm lý, tình cảm, trí tuệ, là tuổi bắt đầu suy nghĩ về tương lai nghề nghiệp, hình thành xu hướng, sở thích, ước mơ, hoài bão, …, cho nên giáo dục THPT không tốt sẽ để lại cho từng cá nhân cũng như cho cả xã hội dấu ấn nặng nề.

Hệ thống giáo dục THPT hiện tại có hai lãng phí lớn. Lãng phí thứ nhất là hàng năm có một số lớn thanh niên tốt nghiệp THPT không qua lọt cánh cửa ĐH, CĐ, phải bước vào thị trường lao động, chịu bằng lòng với một việc làm đơn giản (không cần tay nghề), dù đã tốn 12 năm đèn sách, hoặc phải chấp nhận vào học nghề ở một trường trung cấp kỹ thuật vốn chỉ đòi hỏi trình độ THCS. Trong khi đó nếu tổ chức tốt hơn hệ thống giáo dục thì chỉ cần 12 năm học tập, thêm một thời gian 6-12 tháng tập việc, cũng hoàn toàn đủ để có được một văn hóa cơ bản và việc làm có nghề. Tình trạng đó vừa gây ra lãng phí lớn cho xã hội vừa tạo tâm lý bất ổn cho thanh niên. Lãng phí lớn thư hai, khó thấy hơn, nhưng nghiêm trọng hơn, là cách học và thi quá lạc hậu ở THPT gắn liền với nạn hư học cổ lỗ, hoàn toàn không chú ý các đặc điểm và đòi hỏi của lứa tuổi, làm phí sức học sinh một cách vô ích, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, tâm lý, đến tương lai nghề nghiệp của một số khá đông, lại rất tốn kém cho gia đình và xã hội. (10) Ngoài ra chương trình và nội dung từng môn học quá cũ kỹ, chưa giúp rèn luyện cho học sinh khả năng tự học, tự tìm kiếm kiến thức và sáng tạo.

Để khắc phục những bất hợp lý trên cần cải cách việc học và thi trên cơ sở tổ chức lại hệ thống giáo dục để sau THCS có hai nhánh rẽ: trung học nghề, hay trung học phổ thông, học xong nếu không học lên cao hơn (cao đẳng hay đại học) được thì đều có thể đi ngay vào thị trường lao động tìm một việc làm có nghề. Theo hướng đó nên cấu trúc lại chương trình và cách học ở THPT để “tạo nhiều cơ hội lựa chọn cho thế hệ trẻ trên cơ sở bảo đảm một mặt bằng văn hóa chung thích hợp, đồng thời đủ mềm dẻo để cho phép điều chỉnh những sự lựa chọn chưa phù hợp” (bản điều trần 2004trang 5). Cụ thể là bãi bỏ cách phân ban cứng nhắc như hiện nay (11) để tổ chức lại việc học ở THPT như ở nhiều nước tiên tiến, về mỗi môn học đều có một chương trình bình thường và một hoặc nhiều chương trình nâng cao, theo nhiều mức độ nâng cao khác nhau, cho phép học sinh được tự do lựa chọn chương trình nào hợp sức và hợp sở thích, đồng thời đễ dàng điều chỉnh sự lựa chọn khi thấy cần thiết. Chỉ với cách học đó học sinh mới không bị quá tải, vì được học sâu những môn ưa thích và không phải học quá kỹ nhiều thứ mà sau này sẽ chẳng bao giờ cần đến (như chương trình toán THPT hiện nay có quá nhiều phần hoàn toàn không cần thiết sau này cho đại đa số học sinh). Hơn nữa về những môn hợp xu hướng sở thích thì có cơ hội được học đủ sâu để đến khi tốt nghiệp THPT có đủ hiểu biết để tìm được việc làm có nghề, và nếu xuất sắc thì khi học tiếp lên ĐH hay CĐ có thể học vượt lớp, tiết kiệm thời gian. Tuổi 15-18 là tuổi vàng, nhiệm vụ của nhà trường là tạo điều kiện cho mỗi cá nhân phát triển đến mức tối đa của mình, chứ không phải chỉ nhằm bảo đảm cho mọi cá nhân môt mức tối thiểu đồng loạt như cách dạy hiên nay ở THPT.

Đồng thời với cách học, thì cách thi cử và đánh giá cũng phải thay đổi. Trong một nhà máy làm ra một sản phẩm gồm nhiều bộ phận riêng rẽ (môđun) ghép lắp lại, người ta phải kiểm tra kỹ chất lượng khi sản xuất từng bộ phận, đến khi lắp ráp chỉ kiểm tra chất lượng lắp ráp. Việc học và thi trong nhà trường cũng vậy: mỗi môn, mỗi học phần như một môđun, học môn nào, học phần nào phải kiểm tra, thi nghiêm túc môn đó, phần đó, đến cuối cấp không thi lại nữa, mà chỉ phải làm một tiểu luận hoặc qua một kỳ thi nhẹ nhàng, với mục đích kiểm tra trình độ văn hóa phổ quát thu nhận được (giống như chất lượng lắp ráp các môđun). Hơn nữa, kỳ thi nhẹ nhàng này cũng có thể không bắt buộc cho mọi người mà có thể coi như một kỳ thi sơ tuyển (ST) vào ĐH, CĐ chỉ bắt buộc đối với những ai muốn vào học ĐH, CĐ. Còn việc tuyển sinh vào ĐH, CĐ thì cần trả lại cho từng trường. Mỗi trường tuyển sinh căn cứ vào kết quả thi (ST) và học bạ hoặc qua một kỳ thi tuyển nếu trường nào có yêu cầu đào tạo đặc biệt.

Với cách học và thi ở THPT được tổ chức lại hợp lý, sẽ bỏ được kỳ thi THPT tốn kém (tiết kiệm ít ra hàng nghìn tỉ đồng cho một kỳ thi), đồng thời việc tuyển sinh cũng được hợp lý hóa để giảm bớt chi phí và đỡ căng thẳng cho thí sinh. Chất lượng đầu vào cho ĐH, CĐ trong nước hay chất lượng học sinh VN gửi đi du học các nước ngoài sẽ nhờ đó được nâng cao đáng kể.

          5.3. Xây dựng mới một hay hai đại học đa ngành hiện đại, đạt các chuẩn mực quốc tế về mọi mặt, làm hoa tiêu thúc đẩy toàn ngành đại học hội nhập với thế giới

Mối nguy hại của việc phát triển giáo dục bừa bãi bất chấp chuẩn mực đã quá rõ khi hội nhập, buộc chúng ta phải thay đổi nhận thức và tìm mọi cách khắc phục tình trạng đó. Song cái khó là vì đã bỏ qua chuẩn mực một thời gian quá lâu, không chỉ trong giáo dục mà cả trong khoa học, nên chúng ta rât thiếu những nhà quản lý thật sự am hiểu các chuẩn mực phát triển giáo dục, khoa học hiện đại. Thời gian qua cho thấy nhận thức của phần đông các nhà quản lý ở lĩnh vực này có nhiều mặt phiến diện, xa thực tế, nói chung rất chủ quan trong hàng loạt vấn đề quan trọng liên quan việc đào tạo tiến sĩ, công nhận các chức vụ GS, PGS, đánh giá các công trình khoa học, đánh giá chất lượng đại học nói chung. Chỉ xem trong vấn đề đại học đẳng cấp quốc tế, đại học thuộc top 200, cũng đủ thấy rõ sự hiểu biết của cơ quan quản lý của chúng ta về giáo dục đại học hiện đại trên thế giới còn quá thô sơ, quá xa thực tế. Trong tình hình đó, khó có thể khắc phục tình trạng phát triển bừa bãi và khó khôi phục được trật tự, chuẩn mực chỉ bằng công tác kiểm định và xếp hạng. Bằng chứng là trong ba năm 2005-2008 đã tiêu tốn một số tiền không nhỏ (gần 1,5 triệu Euro) cho dự án đảm bảo chất lượng đại học, nhưng đến nay công tác này vẫn rất lúng túng chưa có kết quả gì rõ ràng. Cùng với những khoản chi tiêu về khảo thí, các khoản chi tiêu về kiểm định và xếp hạng đã ngốn hết bao nhiêu phần ngân sách và đã đưa lại những kết quả gì thiết thực giải quyết vấn đề chất lượng đại học Việt Nam, có lẽ đây là lúc cần nhìn lại tỉnh táo hơn trước khi lao vào những dự án đầu tư mới.

Tốt hơn nên tập trung cố gắng xây dựng cho mỗi bậc học, ở mỗi địa phương, một số đơn vị thật sự đáp ứng các chuẩn mực, lấy đó làm hoa tiêu, cung cấp kinh nghiệm phổ biến rộng dần ra. Về giáo dục phổ thông, từ mẫu giáo đến THCS đã có hệ thông thực nghiệm giáo dục, còn THPT thì sắp tới nên xúc tiến từng bước đổi mới như trên đã nói. Riêng về đại học, vấn đề phức tạp hơn, phải mất nhiều năm mới chấn chỉnh được tình trạng rối ren hiện nay. Một mặt cần nâng cấp một số đại học lớn sẵn có, việc này đòi hỏi phải có thời gian, vì nếu làm tốt cũng phải mất không ít hơn mươi lăm năm mới có thể nâng được một đại học hiện có lên đẳng cấp quốc tế (kinh nghiệm ĐHQG Hà Nội thành lập đã mười mấy năm rồi nhưng còn kém xa các đại học loại tốt trong khu vực). Mặt khác cần bắt tay xây dựng mới một hai đại học đa ngành thật hiện đại, theo các chuẩn mực quốc tế, có tính chất làm “hoa tiêu” cho toàn bộ công cuộc hiện đại hóa đại học. Ý kiến này đã được đề xuất trong bản điều trần 2004, và đã được Thủ Tướng Phan Văn Khải chấp thuận, nhưng đến nay chưa làm được bao nhiêu. Ngay đến quan niệm cơ bản về mục tiêu “đại học đẳng cấp quốc tế” hay “đại học lọt vào top 200 trên thế giới” hiện cũng còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng, chưa xác định, chưa ổn. Với tác phong làm việc lề mề như vậy, chúng ta dễ để vuột hết mọi cơ hội.

Để hiểu rõ những việc cần làm, và làm như thế nào, điều đầu tiên là cần xác định đúng đắn yêu cầu, chuẩn mực của một đại học “đẳng cấp quốc tế”. Còn chuyện đại học thuộc top 200 thì xin đề nghị tạm gác lại, vì mục tiêu quá mơ hồ hoặc không thực tế, dễ đánh lạc hướng cố gắng của chúng ta, làm chúng ta sao nhãng những nhiệm vụ cần kíp, thiết thực khác.

Cũng giống như khái niệm “chuyên gia tầm cỡ quốc tế” khái niệm “đại học đẳng cấp quốc tế” tuy không thể định nghĩa hoàn toàn chặt chẽ, chính xác, nhưng cũng không phải quá mập mờ, tùy tiện. Điều không may là chúng ta không có nhiều chuyên gia tầm cỡ quốc tế, cho nên khái niệm đại học đẳng cấp quốc tế dễ bị dung tục hóa. Với tình hình đó, dễ có quan niệm quá đơn giản về chuẩn mực một đại học đẳng cấp quốc tế, nên dễ coi thường các khó khăn và dễ đặt mục tiêu xa vời, thiếu thực tế. Cần xác định rõ một đại học đẳng cấp quốc tế là một đại học đạt các chuẩn mực vào loại trung bình ở các nước phát triển về các phương diện chủ yếu: cơ sở hạ tầng (khuôn viên, giảng đường, thư viện, phòng thí nghiệm, sân vận động, ký túc xá, …), tỉ lệ giảng viên/sinh viên, trình độ khoa học của tập thể giảng viên (12), trình độ sinh viên nhập học, trình độ sinh viên tốt nghiệp và thành tựu trong công tác của họ khi vào đời, thành tựu khoa học của từng cá nhân và của cả tập thể giảng viên trong mươi năm gần đây nhất, mức độ hợp tác quốc tế, mức độ tham gia của tập thể giảng viên vào các hoạt động học thuật quốc tế (tạp chí quốc tế, hội thảo quốc tế, …).­­ Hơn nữa, về mỗi chuyên ngành phải có ít ra 3-4 chuyên gia tầm cỡ quốc tế làm nòng cốt (13). Như vậy ngay một lúc không thể xây dựng hết tất cả các khoa (chuyên ngành) mà lúc đầu chỉ nên mở một số ít chuyên ngành lựa chọn rồi sau mở rộng dần. Điều quan trọng là mở ngành nào nhất thiết đều phải hội đủ tiêu chuẩn quốc tế một cách nghiêm túc. Ban đầu có thể chỉ có cấp thạc sĩ, tiến sĩ, sau đó dần dần có cả cấp cử nhân, kỹ sư. Quy mô ban đầu có thể chỉ cần mấy trăm sinh viên, rồi tăng dần đến khoảng 10 nghìn. Chỉ nên tập trung khả năng và phương tiện xây dựng một hai đại học đẳng cấp quốc tế từ nay đến 2020. Không nên tham vì nếu thất bại một lần thì không chỉ lãng phí tiền của mà còn gây khó khăn về sau.

*

*         *

          Từ sau Nghị quyết TƯ II khóa 8 toàn dân đang mong đợi từng ngày những chuyển biến cách mạng trong giáo dục, như lời Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã phát biểu, để đáp ứng nguyện vọng học tập thiết tha của mỗi gia đình và yêu cầu bức thiết của công cuộc phát triển đất nước.

Chúng ta đang bước vào một thế giới và một thời đại đầy thách thức đối với trí tuệ và tài năng của các dân tộc. Lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm chứng tỏ tiềm năng trí tuệ và tài năng của dân tộc ta không thiếu. Song muốn đánh thức tiềm năng đó rất cần một nền giáo dục hiện đại dựa trên một triết lý giáo dục tiên tiến, nhằm trước hết hoàn thiện con người như một chủ thể chứ không phải một phương tiện. Rất mong chúng ta sẽ không trả giá quá đắt để học bài học đó từ các nước đi trước và có quyết sách đúng đắn, kịp thời, chấn hưng giáo dục để chấn hưng đất nước, tranh thủ thời cơ mau chóng vươn lên đuổi kịp thế giới, thực hiện trách nhiệm đối với các thế hệ hiện nay và mai sau, và đối với di sản quý báu của các thế hệ tiền bối.

HOÀNG TỤY

_______________

1) Phạm Duy Hiển: “Đại học hàng đầu ở Thái Lan và Việt Nam”, tạp chí Tia Sáng số 2,20/1/2007

1*) Nói thế không có nghĩa chỉ cần giải tỏa cái nghịch lý lương/thu nhập thì mọi việc sẽ ổn, mà chỉ có nghĩa: không làm việc này thì không khắc phục được những tiêu cực khác, làm việc này là điều kiện cần, sine qua non, nhưng đương nhiên không đủ. Sự thật là cái nghịch lý này đã kéo theo nhiều cái tiêu cực khác, rồi đến lượt các tiêu cực này dần dần có con đường phát triển riêng, có phần phụ thuộc có phần độc lập cái nghịch lý kia, vì đã trở thành thói quen khó bỏ. Đó là chưa kể ảnh hưởng của nhiều tiêu cực trong hệ thống lớn (xã hội). Cho nên, phải sửa chữa nhiều lỗi trong hệ thống lớn (xã hội) nữa, và đi đôi với phá, phải có xây thì dần dần mới ổn. Tuy nhiên, trong phạm vi giáo dục, đây đúng là một lỗi hệ thống cơ bản.

2) Theo trình bày của Bộ GD-ĐT (http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/2008/12/818314/), đến 2020 mỗi đại học ấy sẽ có 50% giảng viên trở lên có bằng tiến sĩ, mỗi cán bộ có ít nhất 2 công bố trên tạp chí quốc tế uy tín, … . Nêu chỉ vậy chưa thể coi là “đẳng cấp quốc tế”, càng không thể thuộc top 200 trên thế giới, mà mới chỉ là loại kém đối với một nước, chưa nói đến quốc tế. Chúng ta đã phạm sai lầm lớn hạ thấp chuẩn mực để có hàng vạn tiến sĩ, hàng nghìn PGS, GS, với hậu quả như thế nào mọi người đã biết. Giờ đây lại hạ thấp chuẩn mực để chóng có nhiều đại học đẳng cấp quốc tế và đại học lọt vào top 200 trên thế giới ? Đương nhiên phấn đấu để ta sớm có đại học đẳng cấp quốc tế là cần thiết, nhưng phải thực chất. Còn nếu chạy theo một mục tiêu chính đáng, nhưng chỉ chú trọng hình thức, số lượng, thì sẽ vung phí tiền của mà sẽ xao lãng những việc cần kíp khác. Các bảng xếp hạng tung ra trên thế giới mấy năm gần đây chỉ mới có tính chất thương mại, quảng cáo, nên theo dõi để tham khảo, nhưng lọt vào top 200 trong các bảng ấy chẳng để làm gì. Từng có một đại học của một nước được xếp hạng cao bất ngờ, hỏi ra chỉ là do … “quan hệ” giỏi, liệu ta có định “chạy” để len vào top 200 theo kiểu đó ? Còn nếu lọt vào top 200 một cách xứng đáng thì mục tiêu ấy không hiện thực, đến 2020 khó có thể đạt được.

3) Theo quy định của Bộ tài chính, không gian và phương tiện làm việc của những giáo sư và nhà khoa học hàng đầu của đất nước cũng kém hơn trưởng, phó phòng. Chi cho xây dựng trụ sở, trang thiết bị phòng làm việc, phương tiện làm việc của các quan chức thì thoải mái, nhiều nơi hơn cả ở các nước giàu, nhưng chi cho xây dựng thư viện, chỗ làm việc của giáo sư, giáo viên rất khó khăn. Trong thang lương do bộ nội vụ xây dựng, bậc cao nhất của giáo sư (và nhà khoa học) thấp hơn bậc thấp nhất của “chuyên gia cao cấp”, thù lao giờ dạy cũng tính theo chức vụ hành chính: bộ, thứ trưởng cao nhất rối mới đến giáo sư, phó giáo sư, v.v. Những ví dụ này thường được cho là chi tiết lặt vặt không đáng quan tâm, nhưng thật ra thể hiện cách nhìn của lãnh đạo đối với giáo dục, thật hơn mọi nghị quyết.

4) Chẳng hạn mục tiêu “đào tạo con người yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội …” có thể giải thích theo nhiều cách khác nhau, và muốn an toàn nhiều người thường chọn cách giải thích y hệt 50-60 năm trước, thời đấu tranh giai cấp “ai thắng ai”, “tiến nhanh tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội”. Khi nhìn nhận rằng tư duy chậm đổi mới thì cũng chỉ nhấn mạnh chậm ở chỗ chưa thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mà nhận định này lại cũng chỉ được dùng để biện minh cho xu hướng tự do hóa giáo dục cực đoan, phát triển ồ ạt trường tư thục kinh doanh giáo dục kiếm lời đơn thuần vô trách nhiệm.

5) Xem “Đề án cải cách giáo dục: Phân tích và đề nghị của nhóm nghiên cứu giáo dục VN”(Hồ Tú Bảo, Trần NamBình, Trần Hữu Dũng, Ngô Vĩnh Long, Trần Hữu Quang, Hồng Lê Thọ, Trần Văn Thọ, Hà Dương Tường,Vũ Quang Việt, Nguyễn Xuân Xanh, Võ Tòng Xuân).

6) Một số biện pháp quản lý doanh nghiệp trong cơ thế thị trường có thể vận dụng vào quản lý các đại học để nâng cao hiệu quả hoạt động, nhưng phần lớn các biện pháp đó cũng đòi hỏi một môi trường giáo dục lành mạnh mà ta chưa có và chưa thể có trong mấy năm tới. Quan điểm 5 này quá ngây thơ.

6*) Ví dù có thông tin dự báo chính xác thì do nguồn lực có hạn, các chỉ tiêu đều phụ thuộc lẫn nhau, không dễ gì tính toán khoa học được một kế hoạch khả thi theo dự báo đó. Còn nếu chỉ bấm độn để tính toán thì càng xa thực tế.

7) “Bệnh thành tích và tiêu cực trong thi cử” sau hai năm chống có kết quả bước đầu, nay đang có chiều hướng quay trở lại, như đã thấy rõ qua kêt quả tổng kết các kỳ thi 2008.

8) Theo tin http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/2008/12/818768/

9) Theo “Đề án cải cách giáo dục” của nhóm nghiên cứu giáo dục Việt Nam, đã dẫn.

10) Sinh viên ta du học ở các nước ngoài thường học giỏi những năm đầu, nhưng những năm sau, khi đòi hỏi sáng tạo và chủ động nhiều hơn thì mau đuối sức. Nguyên do là lối học nhồi nhét ở THPT trong nước đã làm họ mệt mỏi, không bền sức, kém chủ động, sáng tạo khi lên học đại học. Trong nước, có hiện tượng nhiều sinh viên khi lên đại học không chăm chỉ, say sưa học tập như lúc ở THPT, một phần do cách dạy ở đại học nhưng phần khác cũng do những năm ở THPT đã phải cố gắng quá sức.

11) Cách phân ban từ 2007 đến nay tuy có mềm dẽo hơn trước (nhờ có ban cơ bản) nhưng vẫn còn rất cứng nhắc đối với hai ban KHTN và KHXH và không hiệu quả đối với ban cơ bản.

12) Để tham khảo có thể lấy ví dụ về chuyên ngành toán: nói chung (không kể ngoại lệ) trợ giảng phải là tiến sĩ giỏi, có ít nhất 5-7 công trình công bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín trong chuyên ngành, PGS đã từng là trợ giảng giỏi khoảng 5 năm, có ít nhất 15-20 công trình, GS đã từng là PGS giỏi, có khoảng 30-40 công trình. Đó là nói về định lượng, còn phải xét định tính từng trường hợp cụ thể, dựa trên sự thẩm định khách quan của các chuyên gia giỏi trong chuyên ngành.

13) Chuyên gia tầm cỡ quốc tế được hiểu là người có uy tín quốc tế trong chuyên ngành của mình. Trái với quan niệm phổ biến hiện nay, ta hiện chưa có nhiều chuyên gia như vậy trong từng chuyên ngành. Nhiều nhà khoa học trong nước rất nổi tiếng rồi được coi như chuyên gia tầm cỡ quốc tế, nhưng tên tuổi trên quốc tế lại ít được biết đến. Dù không có tiêu chí thật chính xác, nhưng một chuyên gia tầm cỡ quốc tế phải có những thành tựu khoa học được biết đến rộng rãi trong cộng đồng quốc tế về chuyên ngành đó, thể hiện ở mức độ được trích dẫn trên các tạp chí quốc tế.

Nguồn: Blog GS.Nguyễn Đăng Hưng

 

CHUYÊN MỤC: THƠ VĂN
Trương Quang Đệ :   THƠ VÀ THƯỞNG THỨC THƠ

 

 

Thơ xuất hiện trên  mặt báo ngày càng nhiều, hình thức thơ không ngừng thay đổi. Tham gia vào làng thơ, ngoài các nhà thơ quen biết, còn có những người thuộc nhiều tầng lớp xã hội, từ học sinh phổ thông đến các chính khách tên tuổi.

Có thể nói thơ chưa thực sự đi vào đời sống trí tuệ và tình cảm của lớp trẻ. Đề tài, nội dung, tư tưởng chăng? Thi pháp chăng? Đó là câu hỏi đặt ra cho mọi người quan tâm đến thơ, hkông riêng cho các nhà thơ hay các nhà phê bình văn học. Với tư cách là một người thưởng thức thơ, tôi xin nêu ra đây một vài suy nghĩ về loại hình nghệ thuật này.

Theo quan điểm ngôn ngữ học hiện đại, bất kỳ phát ngôn nào cũng mang tính “định chế xã hội” kèm theo nó trách  nhiệm của người phát ngôn.. Làm một bài thơ không có tính thơ là một việc làm không đầy đủ trách nhiệm, y như một người sản xúat hàng không đủ phẩm chất.. Khi làm thơ, nhà thơ thể hiện trách nhiệm chính của mình qua thi pháp  và người thưởng thức thơ đánh giá trách nhiệm nhà thơ qua thi pháp.. Thiếu trách nhiệm thi pháp được thể hiện trên nhiều phương diện, ở đây  tôi chỉ nêu một vài khía cạnh.

1. Không gia công tìm tòi “tính thơ” cho bài thơ được sáng tác.. Không ít bài thơ được tạo ra từ những câu rời rạc chắp nối lại. Hình như có tác giả quan niệm rằng từ ngữ trong bài thơ là chủ yếu, còn âm thanh và nhạc điệu là không cần thiết.. Thơ của các “nhà thơ nghiệp dư” thường phạm khuết điềm này. Cần phải phân biệt bài thơ thiếu tính thơ thực thụ với bài thơ thiếu tính thơ “cố ý”., bởi vì trong nhiều trường hợp, sự thiếu tính thơ cố ý lại tạo ra một nhạc điệu  đặc biệt mà tác giả cố tình sử dụng cho một hiệu quả nào đó.. Chẳng hạn nhà thơ Pháp J. Prévert , trong bài “Bửa ăn sáng”, đã dùng những câu mộc mạc  có đôi chút ngơ ngác của thi sĩ:

 

Anh ta rót cà phê

          Vào chén

          Anh ta rót sữa

          Vào chén cà phê

          Anh ta bỏ đường

          Vào chén cà phê  sữa….

 

Nhưng đàng sau sự mộc mạc có vẻ ngơ ngác đó, tác giả đã dựng lên một cảnh sinh động  về sự hồi hộp của một người đang yêu bị người tình ghẻ lạnh. Mỗi cử chỉ dầu bình thường đến đâu của người tình  đều là một kiểu “nín thở” (suspense) đối với người quan sát.. Như vậy, sự thiếu tính thơ cố ý ở đây lại chứa tính thơ cao.

2. Sử dụng những khuôn mẫu có tiết tấu và nhịp điệu đã bị xói mòn qua thời gian. Ở Phương Tây cũng như ở Phương Đông, có những khuôn mẫu niêm luật nghiêm ngặt  cho thơ ca thịnh hành trong nhiều thế kỷ để rồi ngày nay hầu như chỉ còn giá trị lịch sử văn học. Khó mà hình dung nởi các nhà thơ Pháp hiện đại lại tiếp tục sử dụng các câu thơ mười hai bộ  hay các nhà thơ Anh lại tiếp tục các xo-nê của Shakespeare. Ở ta cũng vậy, các thể thất ngôn bát cú, tứ tuyệt, và phần nào lục bát chỉ được dùng trong những trường hợp gắn với quá khứ.

Bên cạnh đó hình thành một lối thơ càng ngày càng trở nên đặc trưng cho một tác giả hay thậm chí chỉ là đặc thù cho một bài thơ như thơ “bậc thang” của Maiacopsky được nhiều người bắt chước. Nhưng  cuối cùng lối thơ này chỉ đặc trưng cho Maiacopsky mà thôi. Thơ Prévert cũng vậy.

3. Trong rất nhiều bài thơ hiện nay, người ta nhận thấy có sự lạm dụng  phần nào vô ý thức các khuôn mẫu đúc sẵn về từ ngữ,  môtíp. Chẳng hạn đối với thơ về “tình yêu”,  dứt khoát phải có “anh”, “em”, “yêu”, “ấm tình”, “bên nhau”, “đôi mắt”…

Sự lạm dụng trên là vô ý thức, chứng tỏ sự nghèo nàn về tư duy nghệ thuật.

Vậy “tính thơ” là gì? Thiơ, cũng như các thể loại văn xuôi khác, sử dụng ngôn ngữ làm công cụ biểu đạt theo một số qui định về vần điệu.. Khác với ngôn ngữ hàng ngày, ngôn ngữ thơ nhằm khía cạnh đồng cảm cá nhân, tạo ra những “mã” riêng dành cho những người có kinh nghiệm sống  như nhau mới cảm nhận được. . Nếu mã quá hạn hẹp thì thơ trở thành bí hiểm (kiểu thơ  Nguyễn Xuân Sanh ngày trước hay thơ của P. Valéry, nhà thơ Pháp đầu thế kỉ trước). Mã thơ thể hiện trên ba bình diện: ngữ âm-nhịp điệu, từ ngữ, cú pháp.  Ta lần lượt xét từng mặt ấy.

Mặt âm vận-nhạc điệu của thơ bao gồm hai khía cạnh: khía cạnh qui ước và khía cạnh sáng tạo. Các luật về vần, thanh điệu, đối xứng trong thơ cổ  như thơ thất ngôn bát cú , song thất lục bát…thuộc về qui ước. Các nhà thơ có kinh nghệim rất có ý thức về điều này.. Còn khía cạnh sáng tạo thì vô cùng đa dạng., phụ thuộc tài năng của từng tác giả, Tính thơ ca của ngôn ngữ (hay còn gọi là chức năng nghệ thuật của ngôn ngữ ), được  R. Jakobson đề ra trong sơ đồ giao tiếp. Sơ đồ này gồm các yếu tố cơ bản là người nói, người nghe, khung cảnh, thông báo, kênh truyền tin, mã  ngôn ngữ. Nếu lấy trông báo làm trung tâm thì ta có các chức năng giao tiếp được định nghĩa trên mối liên hệ  của thông báo (TB) với các yếu tố khác.

Chức năng biểu cảm: mối liện hệ giữa TB và người nói.

Chức năng cầu khiến: mối kiện hệ giữa TB và người nghe.

Chức năng đưa đẩy: mối liên hệ giữa TB và kênh giao tiếp.

Chức năng quy chiếu: mối kiên hệ giữa TB và  khung cảnh.

Chức năng siêu ngôn ngữ: mối liên hệ giữa TB và mã ngôn ngữ,

Còn mối liện hệ giữa TB và chính nó  là chức năng nghệ thuật (hay thơ ca), bởi trên một thông báo mà nội dung ngôn ngữ  chuẩn mực đã được định nghĩa sẵn (nghĩa cơ bản), tác giả còn tạo ra những nghĩa mới thông qua sự sắp xếp âm thanh, nhạc điệu …của thông báo, nói cách khác, tạo ra một nghĩa mới trên cơ sở một hình thức mới. Chính vì vậy mà nhà thơ Pháp P. Valéry  gọi thơ là “ sự phân vân giữa âm và nghĩa” (la poésie, c’est l’hésitation entre le son et le sens). Ta thử xét vài thí dụ.

Câu « Chữ tài liền với chữ tai một vần » là một câu thơ không có nghĩa thông báo thực thụ.  Đó là một nhận xét vừa có tính chất siêu ngôn ngữ  vừa là cách phát biểu khác của  chức năng thi ca do R. Jakobson đề xướng.  Ý nghĩa đó là : gần nhau về hình thức « (tài» và « tai » chỉ khác nhau một thanh điệu) thì  gần nhau về nghĩa (có tài dễ gặp tai hoạ).. Dĩ nhiên cái nghĩa « chủ quan » của nhà thơ này chỉ thuộc về lĩnh vực thơ ca.

Câu thơ « Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách », xét về thanh điệu, ta thấy đó là chuỗi : sắc, huyền, không không, không, không , sắc. Đặt các thanh này lên trên thang nhạc  thì các nốt sắp lại thành hình dáng một con thuyền trong tưởng tượng.

Dĩ nhiên  cảm thụ này thuộc về chủ nghĩa ấn tượng , không phải ai cũng « vui lòng » chấp nhận.  Trong tiếng Việt thanh điệu đóng vai trò quan trọng  để hình thành nhạc điệu  câu thơ và nhạc điệu ấy  ứng với một cảm xúc nhất địinh, một nghĩa thơ.  Ta cũng tìm thấy nhiều thí dụ khác, ví như trong một bài hát ngày trước  có câu : « Đêm nay thu sang cùng heo may », biểu diễn trên thang nhạc sẽ gây ấn tượng  về cái mênh mông, mang lại nỗi buồn man mác.

Trong thơ ca, việc khai thác các cách sắp xếp  phụ âm, nguyên âm  theo một kiểu nào đó  để gây ấn tượng là điều quan trọng., như trong câu « Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh ».  Ta có thể dùng sự láy đi láy lại để  diễn đạt một thái độ ngập ngừng. Chẳng hạn câu « Anh đi đường anh, tôi đường tôi », nếu diễn đạt theo kiểu :

Anh

          đii đường  anh

          Tôi

          đường tôi

thì thấy phát ngôn có vẻ dứt khoát, không hàm ý luyến tiếc cuộc chia ly.  Song nếu diễn đạt theo kiểu :

          Anh đi

          đi  đường anh  

            đường anh

             Tôi đi

             đi đường tôi

             đường tôi

thì thái độ luyến tiếc được cảm nhận rõ nét.

Mặt từ ngữ và mặt cú pháp trong thơ ca  được nhận dạng qua “độ lệch” của câu thơ so với ngôn ngữ chuẩn mục thông dụng. Trong ngôn ngữ thông dụng ta nói “Trong vườn đêm ấy trăng sáng quá”, nhưng Xuân Diệu lại nói: “Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá”. Ở đây từ “trăng”  bị trượit nghĩa khi đi với từ “nhiều” (định từ chỉ số lượng), nói lên phong cách táo bạo của  tác giả mà thời đó người ta cho là ảnh hưởng Âu Tây. Thay đổi phân bố từ, thay đổi từ loại của từ là  thi pháp thịnh hành.. Nếu trong ngôn ngữ thông thường ta không thể nói :” Ý kiến xanh”,  thì trong thơ ca có thể tự do tạo dựng  hình tượng qua các tổ hợp kiểu :”mặt trời nhẹ dạ” , một từ ngữ sắc nhọn” …

Tác giả  bài viết nhỏ này hy vọng sẽ  phần nào gợi ý chủ yếu cho độc giả trẻ  nắm được những yếu tố cơ bản cần thiết  trong việc thưởng thức một bài thơ trên cơ sở hình thức thi pháp.

 

CHUYÊN MỤC : CHUYỆN XƯA …CHUYỆN NAY

    An Lộc ( sưu tầm)

               

Trường cho con nhà giàu ở Hà Nội: Học phí hơn $15 ngàn/năm 

 

Nhiều gia đình giàu có ở Hà Nội sẵn sàng bỏ ra khoản tiền khoảng 300 triệu đồng Việt Nam (gần 15 ngàn đô la) mỗi năm để con em học trường quốc tế, được nói tiếng Anh và lối sống phương Tây.

 

Học sinh trong một ngôi trường quốc tế ở Hà Nội. (Hình: Internet)

Báo Ðất Việt cho hay, “hệ thống các trường quốc tế tại Việt Nam ngày càng được mở rộng với những trường có tới 5-6 cơ sở và đủ mọi cấp học từ mầm non đến trung học. Cùng với sự phát triển của hệ thống trường này, mức học phí của các cơ sở đào tạo này cũng không ngừng tăng theo từng năm học. Theo đó, mức học phí các trường quốc tế trong năm học 2011-2012 này phổ biến ở mức 120 triệu-300 triệu đồng một năm”.

Báo này đưa ra ví dụ là trường Unis ở Hà Nội có mức học phí cao nhất cả nước.

“Học phí bậc mầm non của trường này một năm là 150 triệu đồng với trẻ lớp nhỏ và 300 triệu đồng với trẻ lớp mẫu giáo. Mức học phí này tính cho một năm với hơn 160 ngày học. Như vậy, tính trung bình, mỗi phụ huynh chi cho con học trường này khoảng 1.2-2 triệu đồng một ngày.”

Như thế vẫn chưa đủ, mà theo báo Ðất Việt là, “Ngoài ra, học sinh khi vào học phải nộp hai khoản tiền bắt buộc là tiền nhập học 15 triệu đồng (750 usd) và tiền phát triển trường 40 triệu đồng (2,000 usd/) một năm”.

Vẫn theo báo Ðất Việt, thì “một số trường quốc tế hạng thứ ở Hà Nội như: Moring star, Kinder Garten, Kinder World Hà Nội cũng có mức học phí vô cùng đắt đỏ”.

Chẳng hạn tại trường Morning star, học phí cho trẻ 18 tháng-2.5 tuổi là 124 triệu đồng/năm (6,200 usd/ năm), lớp 2.5-5 tuổi là 130 triệu đồng/năm (6,545 usd/ năm), lớp 5-6 tuổi khoảng 140 triệu đồng/năm (7,012 usd/năm). Mức học phí này chưa bao gồm tiền ăn. Khi học sinh bắt đầu nhập học phải nộp một khoản phí bắt buộc là 12 triệu đồng (600 usd).

Nhưng bất chấp mức học phí cao ngất ngưởng, theo báo Ðất Việt, nhiều phụ huynh vẫn theo đuổi cho con vào học trường quốc tế với mục đích được làm quen với phương pháp giáo dục của Tây và nhất là được học tiếng Anh từ bé.

Báo Ðất Việt dẫn lời một số phụ huynh đã từng cho con học trường quốc tế và các chuyên gia giáo dục, sự đầu tư quá sớm của các phụ huynh rất tốn kém không cần thiết.

Tuy nhiên không thấy tờ báo cho biết học sinh tại các trường quốc tế này là con em của tầng lớp nào trong xã hội và các ưu điểm mà hệ thống giáo dục này mang lại cho con em họ.(K.N.)

 

           CHUYÊN MỤC : SƯU TẦM NGỮ NGHĨA

                   ( Bắt đầu từ tháng 11 chuyên mục này sẽ mở rộng  sưu tầm ,đóng góp, tranh cãi,  chỉnh lý sai sót…để trở thành từ điển từ khóa online ( Key word Dictionary )

           

               BQM: Nghĩa chữ Xuân ()

Các bạn hãy tưởng tượng xem chữ Xuân của Tàu có hình tượng gì ? Phần trên của nó vẽ ba nét ngang cắt chữ nhân . Ta hãy nâng cao trí tưởng tượng xem hay là truy nguyên nét vẽ ban đầu, đó có phải là hai người, ( đôi trai gái) đang ôm nhau không? Còn phía dưới là gì? Là chữ nhật phải không? Vâng! Nhưng ban đầu, hai nét ngang trong đó là một sổ một ngang, nói khác đi là hình hai cái sinh thực khí, như cái “nõ nường” của người Việt vậy. Người xưa xem chuyện qua hệ nam nữ là thiêng liêng, là sự

truyền giống nòi, nên mới có tục thờ cúng

Bởi thế, “Xuân” biểu thị mùa xuân, chuyện trai gái yêu nhau, là tươi tốt , là trẻ trung, là tuổi tác. Họ gọi rượu là xuân, gọi sử sách là Xuân Thu

CHUYÊN MỤC: SỨC KHỎE – THƯ GIÃN                      

Nguyễn Ý Đức: Viêm Gan B

Theo Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh (CDC), người Mỹ gốc Á Châu và Các Đảo Thái Bình Dương chỉ chiếm 5% dân số Hoa Kỳ nhưng tỷ lệ bị bệnh Viêm Gan B mãn tính lên tới hơn 50% trong tổng số người đang sống với bệnh này. Mặc dù có tỷ lệ bệnh cao, nhưng đa số các cư dân này chưa được thử nghiệm coi xem có bị bệnh và không biết là mình bị bệnh. Lý do là đa thiếu hiểu biết hoặc hiểu nhầm về bệnh cũng như do trở ngại ngôn ngữ. Hậu quả là họ thường bị một trong những biến chứng trầm trọng là Ung Thư Gan. CDC cũng cho hay, 70% sắc dân này sanh ra hoặc có cha mẹ đã sinh sống ở các quốc gia có dịch bệnh Viêm Gan B.

Tại Việt Nam, theo thống kê của Tổ Chức Y tế Thế Giới, số người bị Viêm Gan B lên tới 10 triệu và là vấn đề sức khỏe rất quan trọng. Thêm vào đó, việc chích ngừa Viêm gan B cũng như điều trị tại đây vẫn còn ở mức hết sức giới hạn, cho nên số người bị bệnh gan hoặc ung thư gan vẫn gia tăng. Sau đây là những hiểu biết thường thức về bệnh này:

Gan là tuyến lớn nhất trong cơ thể, có trọng lượng trung bình từ 1,2 kg đến 1,6 kg và nằm ở góc trên bên phải xoang bụng.

Gan có tới hơn 500 nhiệm vụ khác nhau, trong đó có nhiều chức năng quan trọng trong sự tiêu hóa và hấp thụ dinh dưỡng như là:

a- Gan tổng hợp mật, chứa trong túi mật trước khi đưa vào tá tràng. Mật giúp nhũ hóa chất béo tại tá tràng để diếu tố lipase của tụy tạng biến đổi dễ dàng hơn thành các acid béo và glycerol, là những chất sẽ được hấp thụ vào máu.

b- Gan là nơi quan trọng để chuyển hóa các chất dinh dưỡng như chất đạm, chất béo, carbohydrat;

c- Gan điều hòa lượng đường glucose trong máu, biến đổi lượng glucose thặng dư thành glycogen để được dự trữ cho nhu cầu trong tương lai;

d- Gan loại bỏ các amino acid thặng dư bằng cách phân hủy chúng thành ammonia, urea và được thải ra ngoài;

e- Gan tạo hồng huyết cầu ở thai nhi và sản sinh protein trong huyết tương;

g- Gan tổng hợp các sinh tố A, B12, D và K;

h- Gan vô hiệu hóa các chất độc hại, tiêu hủy hồng cầu già và các chất bất lợi cho cơ thể như estrogen ở nam giới;

i- Gan tổng hợp các chất đông máu thiết yếu prothrombin, fibrinogen, heparin và các chất kháng đông.

Như vậy, có thể thấy rõ là gan có rất nhiều mối liên hệ với dinh dưỡng. Một rối loạn, tổn thương nào đó trong cấu trúc hoặc chức năng của gan đều đưa tới các hậu quả không tốt cho việc ăn uống, nuôi dưỡng cơ thể.

Gan là một trong số rất ít cơ quan có khả năng tái tạo các tế bào để thay thế những tế bào hư hao. Nhưng nếu sự hư hao quá lớn thì các chức năng của gan cũng bị suy yếu.

Với y học hiện đại, gan có thể được ghép từ người cho sang người nhận. Phẫu thuật ghép gan hiện nay đã có tỷ lệ thành công khá cao.

Bệnh của gan có thể là ung thư gan, xơ cứng gan, gan nhiễm mỡ, suy gan, viêm gan…

Viêm (inflamation) là một đáp ứng của cơ thể với một thương tích, bao gồm các dấu hiệu như đau, nóng, đỏ, sưng và mất chức năng của vùng bị tác động.

Viêm có thể cấp tính hay mãn tính. Cấp tính là đáp ứng bảo vệ tức thì của mô bào với các tổn thương gây ra do các tác nhân khác nhau như nhiễm trùng, hóa chất, vật lý…Viêm cấp tính thường kéo dài dưới 6 tháng. Khi tồn thương không lành được thì bệnh chuyển sang viêm kinh niên, kéo dài trên 6 tháng, có khi cả nhiều năm.

Trong bệnh viêm gan, tế bào gan bị tổn thương và hoại tử. Viêm gan thường do virus gây ra, nhưng cũng có thể do hóa chất độc như rượu, thuốc, vi khuẩn, nấm độc…

Viêm gan gây ra do virus là nhóm bệnh thấy ở khắp mọi nơi trên thế giới. Chúng thường có nhiều điểm tương tự về triệu chứng nhưng lại do các virus khác nhau gây ra. Mỗi loại virus gây ra một bệnh viêm riêng biệt, chứ không phải khi mắc viêm gan A rồi sau một thời gian sẽ chuyển thành viêm gan B, rồi thành C. Do đó việc chăm sóc và điều trị cũng khác.

Viêm gan B vẫn còn là mối quan tâm của mọi người.

Lý do là tỷ lệ mắc bệnh của người Việt tại Hoa Kỳ cao hơn so với các sắc dân khác. Cứ 10 người Mỹ gốc Á châu là có 1 người bị viêm gan B kinh niên.

tại Việt Nam, có từ 15% tới 20% dân chúng bị viêm gan B kinh niên. Những người này có thể truyền bệnh cho người khác mà đôi bên đều không hề hay biết.

Theo thống kê dịch tễ, trên thế giới có khoảng 2 tỷ người nhiễm viêm gan B, trong số đó gần 500 triệu người ở trong tình trạng viêm gan mãn tính. Riêng tại Hoa Kỳ, mỗi năm có trên 200,000 trường hợp bệnh này và trên 4000 tử vong vì các biến chứng của bệnh.

Bệnh viêm gan loại B (Hepatitis B) trước đây được gọi là viêm gan huyết thanh vì nhiều người cho rằng bệnh chỉ lây truyền khi tiếp nhận máu có nhiễm virus. Kết qủa các nghiên cứu trong những năm vừa qua chứng minh rằng virus viêm gan B còn có ở trong nước miếng, nước mắt, tinh dịch, nước tiểu, mồ hôi… của người bệnh. Bệnh cũng có thể lan truyền qua hoạt động tình dục

Virus gây bệnh có rất nhiều trong máu. Ra khỏi cơ thể, virus có thể sống 6 tháng trong không khí có nhiệt độ bình thường, và nhiều năm trong môi trường đóng băng. Tia cực tím, cồn, ether không đủ mạnh để tiêu diệt virus viêm gan B.cho nên viêm gan B dễ lan truyền hơn virus bệnh HIV- AIDS. Nhiệt độ 100ºC sẽ tiêu hủy virus trong vòng năm phút.

Cách lây truyền bệnh.

Trước thập niên 1960, nguyên nhân chính để truyền bệnh viêm gan B là tiếp nhận máu của người bị bệnh, đặc biệt là từ những người nghiện rượu thuốc dùng chung ống tiêm chích. Ngày nay, người cho, bán máu đều được thử nghiệm các bệnh nhiễm, cho nên máu tương đối an toàn.

Virus viêm gan B lan truyền bằng những cách sau đây:

– Sử dụng chung các vật dụng dính máu như kim tiêm, ống chích nhiễm virus khi người nghiện ma túy dùng chung.

-Xâm da, xỏ lỗ tai, châm cứu, với dụng cụ có nhiễm virus.

-Tiếp xúc tình dục với người bệnh mà không tự bảo vệ.

– Tiếp xúc, đụng chạm vào nước dịch, vào các vết thương trên da người bệnh.

-Dùng chung đũa bát, bàn chải đánh răng, dao cạo râu, đồ cạo gió, dụng cụ cắt móng tay… với người mang bệnh.

-Từ mẹ sang con trong lúc sinh đẻ. Ðây là cách truyền bệnh viêm gan B phổ biến nhất ở một số quốc gia tại châu Á.

Những người sau đây đểu có nhiều nguy cơ nhiễm bệnh:

-Người làm các công việc có tiếp xúc với máu hoặc dịch lỏng từ cơ thể người bệnh

-Người lọc máu khi bị thận suy.

-Người tiếp nhận máu. Mặc dù độ an toàn của việc lấy máu và truy!ên máu đã được cải thiện rất nhiều so với trước đây, nhưng vẫn có một tỷ lệ nhỏ nhiễm virus viêm gan B qua cách này.

-Nhân viên y tế, nhân viên chăm sóc sức khỏe cộng đồng, nhân viên phòng thí nghiệm… thường tiếp xúc với người bệnh viêm gan B.

Triệu chứng.

Thời gian từ khi nhiễm bệnh tới khi có triệu chứng kéo dài tới từ 1 tháng tới 6 tháng, trung bình là 2 tháng. Đây là thời kỳ bệnh lây truyền mạnh nhất.

Trên 50% trường hợp viêm gan B không có triệu chứng, nhất là ở trẻ em.

Một số bệnh nhân có các dấu hiệu tương tự như khi bị cảm cúm. Đó là mệt mỏi, ăn mất ngon, suy yếu cơ thể, ói mửa, nóng sốt, nhức đầu, đau nhức toàn thân, da mần ngứa, nước tiểu vàng, phân trắng, vàng da và tròng con mắt…

Trong các trưòng hợp thông thường, 90% bệnh nhân bình phục sau 6 tháng dù không được điều trị. Khoảng 10% bệnh nhân chuyển sang tình trạng mãn tính vì trong cơ thể còn nhiều siêu vi viêm gan B. Họ là nguồn gốc truyền bệnh đồng thời cũng có nhiều nguy cơ bị suy gan, xơ cứng và ung thư gan.

Xác định bệnh

Bệnh được xác định bằng thử nghiệm máu, siêu âm gan, CT Scan, sinh thiết tế bào gan.

a. Thử nghiệm kháng nguyên bề mặt (Hepatitis B surface Antigen -H BsAg):

Kết quả thử nghiệm dương tính (HBsAg(+) : cơ thể đang bị nhiễm bệnh. Kháng nguyên này tăng lên rất nhanh trong vòng 10 tuần lễ đầu sau khi mắc bệnh. Nếu cơ thể khỏe mạnh, sức đề kháng tốt thì kháng nguyên này giảm dần và hoàn toàn biến đi trong vòng 6 tháng. Bệnh nhân hồi phục và được miễn dịch với virus viêm gan B suốt đời.

Nếu kháng nguyên HBsAg tiếp tục tồn tại trong máu sau thời gian 6 tháng, bệnh chuyển sang tình trạng người lành mang virus viêm gan B mãn tính.

b. Thử nghiệm kháng thể bề mặt virus B (Hepatitis B surface Antibody–HBsAb)

Thử nghiệm dương tính khi cơ thể đã có tính miễn dịch chống lại với khoảng 75% virus viêm gan B, vì siêu vi này có nhiều loại khác nhau.

c. Thử nghiệm kháng thể chánh viêm gan B (HBcAb) dương tính cho biết cơ thể đã tiếp xúc với virus viêm gan B.

đ. Thử nghiệm men gan ALT và AST: khi gan bị tổn thương các enzym này do gan sản xuất sẽ tăng lên rất cao trong máu.

Khi có thai, người mẹ nên thử nghiệm máu để coi có bị nhiễm viêm gan B hay không. Mẹ bị viêm gan B đều truyền bệnh sang con trong khi sanh và có tới 90% trẻ sơ sinh nhiễm viêm gan B sẽ bị bệnh viêm gan kinh niên.

Sinh thiết gan (liver biopsy) là thử nghiệm quan trọng để đánh giá sự hư hại của gan và góp phần quyết định việc điều trị.

Điều trị

Viêm gan cấp tính thường tự hết trong vòng 6 tháng dù không được điều trị.

Trong trường hợp viêm gan B mãn tính, sự điều trị có mục đích loại bỏ các virus còn lại trong cơ thể và phục hồi các chức năng của gan.

Có hai loại thuốc được chấp nhận để tiêu diệt virus viêm gan B:

a-Thuốc Interferon do bệnh nhân tự chích dưới da mỗi ngày một lần, trong vòng 4 tháng. Thuốc rất công hiệu: 40% bệnh nhân sẽ thuyên giảm hoặc hoàn toàn hết bệnh.

Hiện nay, có loại Interferon mới, chỉ cần chích mỗi tuần một lần.

Thuốc có nhiều phản ứng phụ như nhức đầu, đau mỏi bắp thịt, buồn nôn, chóng mặt, nóng sốt, buồn phiền…nhưng chỉ sau vài lần chích thì các khó khăn này giảm dần.

b-Thuốc viên uống Lamivudine (Epivir-HBV), Adefovir (Hepsera), Entecavir (Baraclude)… cần được dùng mỗi ngày một lần trong thời gian lâu hơn, có thể là từ 8 tới 12 tháng.

Việc dùng các loại thuốc này cần được bác sĩ ấn định và theo dõi.

Phòng ngừa

Viêm gan B có thể phòng ngừa bằng cách áp dụng các phương thức vệ sinh cá nhân, bằng cách đề phòng khi tiếp xúc với người có bệnh và bằng tiêm ngừa.

Việc tiêm ngừa được áp dụng cho mọi lứa tuổi, kể cả trẻ em sơ sanh, và đặc biệt là những người có nhiều nguy cơ nhiễm bệnh như nhân viên y tế, người có quan hệ tình dục bừa bãi, người đồng tính luyến ái.

Thuốc ngừa được tiêm làm 3 lần theo lịch trình tháng thứ nhất, thứ 2 rồi tháng thứ 6.

Mấy tuần lễ sau khi tiêm ngừa lần thứ nhất, cơ thể đã tạo ra kháng thể chống cự lại với virus viêm gan B. Cần tiêm ngừa đủ ba lần để được miễn dịch hoàn toàn với bệnh.

Thuốc chủng ngừa được sản xuất bằng một chất đạm lấy từ virus viêm gan B, nên rất an toàn và công hiệu. Hãn hữu lắm mới có phản ứng mạnh, còn bình thường chỉ hơi sưng đau ở chỗ tiêm.

Dinh dưỡng trong bệnh viêm gan

Trong bệnh viêm gan B, ngoài dược phẩm, sự điều trị lệ thuộc rất nhiều vào chế độ ăn uống tốt và sự nghỉ ngơi của cơ thể.

Bệnh nhân thường có cảm giác đói bụng nhưng lại mất khẩu vị, biếng ăn. Do đó họ thiếu chất dinh dưỡng trong khi gan lại rất cần chất bổ để phục hồi và tái tạo các tế bào bị tổn thương.

Đôi khi người bệnh bị nôn ói sau khi ăn. Vì thế thực phẩm nên phân chia thành nhiều bữa nhỏ

-Mỗi ngày cần khoảng 60 gram chất đạm với thịt động vật và rau trái.

-Không cần giới hạn chất béo trừ khi người bệnh không tiêu hóa được chất này.

-Chất béo từ sữa, trứng dễ tiêu hơn là từ món ăn chiên xào với mỡ hoặc lẫn trong thịt..

-Dùng carbohydrat vừa phải.

-Nên ăn nhiều rau, trái cây.

-Tuyệt đối không uống bia, rượu; tránh dược phẩm gây hại cho gan.

-Có thể dùng thêm sinh tố, khoáng chất nhưng nên giới hạn thực phẩm có nhiều chất sắt. Quá nhiều sắt gây tổn thương cho gan, tim, tụy tạng đồng thời cũng làm giảm công hiệu của thuốc Interferon.

Nếu bệnh nhân ói mửa quá nhiều sau khi ăn thì phải sử dụng phương pháp nuôi ăn bằng ống hoặc qua mạch máu.

Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức (Texas-Hoa Kỳ)

 

 

 

Advertisements

Docago.wordpress.com số ra thứ 6 ngày 28/10/2011 (tức 2 tháng 10 năm Tân Mão) NGHĨA

   

       (  LBT: Từ nay cho đến ngày quốc tế các nhà giáo(20/11), trong vòng một tháng, Docago.wordpress.com sẽ tập trung cho chủ đề giáo dục. Đề nghị các bạn đóng góp bài. Xin cảm ơn)

            

CHUYÊN MỤC: VĂN HÓA GIÁO DỤC ĐÔNG TÂY

 

         Đỗ Anh Thơ: Dịch lý thời tiết

             Tháng  10

Quẻ Khôn ( 000000)   

 

卦 曰:          坤:元,亨,利 牝 馬 之 貞。君 子 有 攸 往,先 迷 後 得 主 ,利 (*) 西 南 得 朋,東 北 喪 朋。安 貞 吉。

彖 曰:          至 哉 坤 元,萬 物 資 生,乃 順 承 天。坤 厚 載 物,德 合 旡 疆。含 弘 光 大,品 物 咸 亨。牝 馬 地 類,行 地 旡 疆,柔 順 利 貞。君 子 攸 行,先 迷 失 道,後 順 得 常。西 南 得 朋,乃 與 類 行。東 北 喪 朋,乃 終 有 慶。安 貞 之 吉,應 地 旡 疆。

象 曰:       地 勢 坤,君 子 以 厚 德 載 物。

 

CHÚ GIẢI:

Đây là quẻ thứ 2 trong Thượng kinh.

(*) Bản Ngô Tất Tố và Nguyễn Hiến Lê đều đặt dấu phảy trước chữ chủ.

PHIÊN ÂM:

Quái viết:

Khôn: Nguyên hanh, lợi tẫn mã chi trinh. Quân tử hữu du vãng, tiên mê hậu đắc chủ, lợi tây nam đắc bằng, đông bắc táng bằng. An trinh, cát.

Thoán viết:

Chí tai Khôn nguyên, vạn vật tư sinh, nãi thuận thừa thiên. Khôn hậu tải vật, đức hợp vô cương. Hàm hoằng quang đại, phẩm vật hàm hanh. Tẫn mã địa loại, hành địa vô cương, nhu thuận lợi trinh. Quân tử du hành, tiên mê thất đạo, hậu thuận đắc thường. Tây nam đắc bằng, nãi dữ loại hành. Đông bắc táng bằng, nãi chung hữu khánh. An trinh chi cát, ứng địa vô cương.

Tượng viết:

Địa thế Khôn, quân tử dĩ hậu đức tải vật.

DỊCH:

 

Quẻ Khôn ở đầu, hanh thông, thuận lợi của ngựa cái. Quân tử có đi đây đó. Trước mê muội nhưng sau được là chính. Thuận lợi ở tây nam gặp bạn, đông bắc mất bạn. Yên ổn, chính đáng, tốt.

Quẻ Khôn là cực điểm đầu, muôn vật từ đó mà sinh ra, lại thuận theo lệnh trời. Khôn đầy đặn và mang muôn vật, vô cùng hợp với đức. Bao dung sáng láng rộng rãi, mọi phẩm vật đều hanh thông. Ngựa cái là loài của đất, bền bỉ đi trên đất, tính nết ngay thẳng, nhu mì, thuận hiền. Người quân tử đáng noi theo.

 Trước mê muội sau thuận. Lợi gặp bạn ở tây nam, mất bạn ở đông bắc, nhưng cuối cùng chính lại được vui vẻ. Tốt ở sự yên lành chính trực, hỗ trợ cho đất vô cùng.

Thế đất là Khôn, người quân tử lấy đức tính đôn hậu để đeo mang mọi vật.

 

 Giảng

                Chu Hy và các nhà Dịch học đời Tống đã lập nên đồ hình của Dịch. Cực không (vô cực) mà lại là cực lớn (thái cực) đã được họ biểu thị bằng một vòng tròn trong đó có hai nửa ôm nhau như hình hai con nòng nọc đen trắng với hai mắt. Đó là âm dương với tứ tượng (thái âm, thiếu dương, thái dương, thiếu âm).

Đến nay con người vẫn chưa giải thích được một cách thuyết phục từ Không sang . Lão Tử nói: Vô, thiên địa chi thủy, hữu, thiên địa chi mẫu (Không là khởi thủy của trời đất, là mẹ của trời đất (muôn vật). Thực ra dùng những từ như thủy hay mẫu chỉ là những khái niệm tương đối, là tư duy của con người.

Dịch bắt đầu từ quẻ Khôn hay quẻ Càn? nghĩa là lý giải từ Đất hay từ Mặt trời, từ Cha hay Mẹ? đều không ổn!

Xưa kia, thuyết Tinh vân giải thích mây sao quay mà tích tụ nên vũ trụ. Ngày nay, các nhà khoa học đều công nhận vũ trụ hình thành từ những vụ nổ lớn (Big Bang), căn cứ theo hiện tượng khoảng cách giữa các tinh tú càng ngày càng giãn ra, xa nhau dần. Thế nhưng năng lượng làm nên vụ nổ lớn đó là từ đâu?

Vì không thể giải thích nổi, nên nhiều người lại quay về với thần linh, cho rằng vũ trụ là do đấng siêu nhiên tạo ra.

Loài vật, cây cỏ… sống bình thản và không hề biết hay Hữu. Tựu trung lại, chúng không hề biết sự bắt đầukết thúc. Chúng sống theo bản năng vô tri vô giác. Cuộc sống con người ta có hai phần: bản năngtrí tuệ. Đó là cuộc sống vật chất và tâm linh, không thể tách rời, cho dù văn minh đến mấy.

Trở lại với quẻ Khôn ta có 6 hào âm. Biểu thị theo toán nhị phân là 000000. Nhị phân là quy luật phân chia tế bào của muôn loài. Trên cơ sở toán, ta có thể giải thích được sự liên hệ giữa 0, 2 và 1, theo công thức 20 là 1. Rồi 1 biến thành 2, thành 3 cho tới vô cùng.

Về thời tiết, Khôn chỉ tháng 10. Có thể nói đây là tháng no đủ nhất trong năm, thóc lúa đầy bồ, trâu bò đầy cỏ, rơm tươi, gà vịt nhặt đủ thóc rơi, đẻ trứng ấp con… Từ tháng này sang tháng 11, là tháng phụ nữ dễ thụ thai nhất.

Giảng quẻ Khôn là quẻ bắt đầu cũng hợp lý. Vì thật ra, khi ta lập chu kỳ thời tiết, ta bắt đầu từ Tý 000001 (tháng 11) theo chiều kim đồng hồ đến Càn 111111 (tháng 4) nhưng để hiểu được quẻ Cấu là 011111 (tháng 5) ta phải đếm ngược chiều kim đồng hồ, bắt đầu từ Khôn 000000 (tháng 10).

Sắp xếp đồ hình của Dịch có nhiều cách, tùy theo mục tiêu nghiên cứu, không nhất thiết phải theo Thượng Hạ kinh như cổ nhân.

 

          CHUYÊN MỤC : THƠ VĂN

Người thầy đầu tiên – tác phẩm bất hủ của nhà văn Aitmatov

Nguyễn Ngọc Bằng, Cao Xuân Hạo, Bồ Xuân Tiến dịch

 

 

Nhà văn Chingiz Aitmatov

Phần 1

Tôi mở tung cánh cửa sổ. Một luồng gió mát lùa vào phòng. Trong ánh lê minh xanh nhạt đang sáng dần, tôi nhìn kĩ những bản nghiên cứu phác thảo của bức tranh tôi vừa khởi công làm. Những bức vẽ ấy nhiều lắm và tôi đã nhiều lần vẽ đi vẽ lại từ đầu. Nhưng bây giờ mà nói đến toàn bộ bức tranh thì hãy còn sớm. Tôi vẫn chưa tìm được cái chính, cái gì giờ đây đang vụt đến với tôi một cách bất ngờ, không gì kìm hãm được, mỗi lúc thêm rõ rệt, với một âm vang mơ hồ khó hiểu trong tâm hồn, tựa như những tia sáng đầu tiên của buổi lê minh và cứ suy nghĩ, suy nghĩ mãi. Và lần nào cũng đều như thế. Lần nào tôi cũng lại thấy rõ ràng bức tranh của tôi mới chỉ là một ý đồ.

Tôi vốn không phải là kẻ ưa nói trước hay báo tin cho bạn bè, ngay cả bạn thân, biết trước về một tác phẩm còn dang dở. Chẳng phải vì tôi quá ư nâng niu tác phẩm của mình, mà chỉ vì tôi nghĩ khó lòng đoán biết được đứa bé hôm qua còn nằm trong nôi sẽ lớn lên thành người như thế nào. Nói đến một tác phẩm dở dang, chưa hoàn thành, cũng khó như thế. Nhưng lần này tôi rời bỏ nguyên tắc: tôi muốn nói lên cho mọi người nghe thấy, đúng hơn là trao đổi với mọi người những ý nghĩ của tôi về bức tranh còn chưa vẽ xong.

Đó không phải là một ý muốn nông nổi. Tôi không thể làm khác, vì tôi cảm thấy một mình tôi không đủ sức đương nổi gánh nặng này. Câu chuyện đã làm rung động tâm hồn tôi, câu chuyện đã thúc giục tôi cầm lấy bút vẽ, tôi thấy nó lớn lao đến nỗi chỉ riêng lòng tôi thôi thì không sao chứa đựng nổi. Tôi sợ làm sánh mất bát nước đầy, không sao được đến tận tay các bạn. Tôi muốn mọi người khuyên nhủ giúp tôi, mách bảo tôi cách giải quyết, tôi muốn mọi người, dù chỉ là trên dòng tư tưởng, dừng lại cạnh tôi bên giá vẽ, cùng rung cảm với tôi.

Xin đừng tiếc hơi ấm đang nồng nàn trong tim các bạn, hãy lại gần đây, thế nào tôi cũng phải kể lại câu chuyện này…

******************************

Làng Kurkurêu chúng tôi nằm ven chân núi, trên một cao nguyên rộng có những khe nước ào ào từ nhiều ngách đá đổ xuống. Phía dưới làng tôi là thung lũng Hoàng Thổ, là cánh thảo nguyên Karakh mênh mông nằm giữa các nhánh của rặng núi Đen và con đường sắt làm thành một cái thảm màu băng qua đồng bằng chạy tít đến chân trời phía tây.

Phía trên làng tôi, giữa một ngọn đồi, có hai cây phong lớn. Tôi biết chúng từ thuở bắt đầu biết mình. Dù ai đi từ phía nào đến làng Kurkurêu chúng tôi cũng đều trông thấy hai cây phong đó trước tiên; chúng luôn luôn hiện ra trước mắt hệt như những ngọn hải đăng đặt trên núi. Thậm chí tôi cũng không biết giải thích ra sao: phải chăng người ta vẫn đặc biệt trân trọng nâng niu những ấn tượng thời thơ ấu hay vì do có liên quan đến nghề hoạ sĩ của tôi, nhưng cứ mỗi lần về quê, khi xuống xe lửa đi qua thảo nguyên về làng, tôi đều coi bổn phận đầu tiên là từ xa đưa mắt tìm hai cây phong thân thuộc ấy.

Dù chúng có cao đến đâu chăng nữa, đứng xa thế cũng khó lòng trông thấy ngay được, nhưng tôi thì bao giờ cũng cảm biết được chúng, lúc nào cũng nom rõ.

Đã bao lần tôi từ những chốn xa xôi trở về Kurkurêu và lần nào tôi cũng thì thầm với một nỗi buồn da diết: “Ta sắp được thấy chúng chưa, hai cây phong sinh đôi ấy? Mong sao chóng về tới làng, chóng lên đồi mà đến với hai cây phong. Rồi sau đó cứ đứng dưới gốc cây để nghe mãi tiếng lá reo cho đến khi say sưa ngây ngất”.

Trong làng tôi không thiếu gì các loại cây, nhưng hai cây phong này khác hẳn: chúng có tiếng nói riêng và hẳn phải có một tâm hồn riêng, một tâm hồn chan chứa những lời ca êm dịu. Dù ta có tới đây vào lúc nào, ban ngày hay ban đêm, chúng vẫn nghiêng ngả thân cây, lay động lá cành, không ngớt tiếng rì rào theo nhiều cung bậc khác nhau.

Có khi tưởng chừng như một làn sóng thuỷ triều dâng lên vỗ vào bãi cát, có khi lại nghe như một tiếng thì thầm thiết tha nồng thắm chuyển qua lá cành như một đám lửa vô tình, có khi hai cây phong bỗng im bặt một thoáng, rồi khắp lá cành lại cất tiếng thở dài một hơi như thương tiếc người nào. Và khi mây đen kéo đến cùng với bão giông, xô gãy cành, tỉa trụi lá, hai cây phong nghiêng ngả tấm thân dẻo dai và reo vù vù như một ngọn lửa bốc chảy rừng rực. Và trong tiếng gầm bất khuất của chúng ngỡ chừng như nghe thấy một lời thách thức ngỗ ngược: “Không, đừng hòng bắt ta phải khom lưng khuất phục, đừng hòng bẻ gãy thân ta”.

Bao nhiêu năm qua. Sau này, tôi đã hiểu được điều bí ẩn của hai cây phong. Chẳng qua đứng trên đồi cao lộng gió nên đáp lại bất kì chuyển động khe khẽ nào của không khí, mỗi chiếc lá nhỏ đều nhạy bén đón lấy mọi làn gió nhẹ thoảng qua.

Nhưng việc khám phá ra chân lí giản đơn ấy cũng vẫn không làm tôi vỡ mộng xưa, không làm tôi bỏ mất cách cảm thụ của tuổi thơ mà tôi còn giữ đến nay. Và cho đến tận ngày nay tôi vẫn thấy hai cây phong trên đồi có một vẻ sinh động khác thường. Tuổi trẻ của tôi đã để lại nơi ấy, bên cạnh chúng như một mảnh vỡ của chiếc gương thần xanh…

Cứ vào cuối năm học, trước khi bắt đầu nghỉ hè là bọn con trai chúng tôi lại chạy ào lên đây phá tổ chim. Cứ mỗi lần chúng tôi reo hò, huýt còi ầm ĩ chạy lên đồi là hai cây phong khổng lồ lại nghiêng ngả đung đưa như muốn chào mời chúng tôi đến với bóng râm mát rượi và tiếng lá xào xạc dịu hiền. Và chúng tôi, lũ ranh con đi chân đất, công kênh nhau bám vào các mắt mấu và cành cây trèo lên cao làm chấn động cả vương quốc loài chim. Hàng đàn chim hoảng hốt kêu lên, chao đi chao lại trên đầu. Nhưng chúng tôi vẫn chưa coi vào, đến đây đã thấm gì!

Chúng tôi cứ leo lên cao nữa – nào, xem ai can đảm và khéo hơn! – và từ trên những cành cao ngất, cao đến ngang tầm cánh chim bay, bỗng như có một phép thần thông nào vụt mở ra trước mắt chúng tôi cả một thế giới đẹp đẽ vô ngần của không gian bao la và ánh sáng. Chiều rộng không cùng của đất đai làm chúng tôi sửng sốt. Mỗi đứa chúng tôi đều nín thở ngồi yên lặng đi trên một cành cây và quên mất cả chim lẫn tổ chim.

Chuồng ngựa của nông trường mà chúng tôi vẫn coi là toà nhà rộng lớn nhất trên thế giới, ngồi đây chúng tôi thấy chỉ như một căn nhà xép bình thường. Phía sau làng là dải thảo nguyên hoang vu mất hút trong làn sương mờ đục. Chúng tôi cố gương hết tầm mắt nhìn vào nơi xa thẳm biêng biếc của thảo nguyên và nom thấy không biết bao nhiêu đất đai mà trước đây chúng tôi không biết đến, thấy những con sông mà trước đây chúng tôi chưa từng nghe nói đến.

Những dòng sông lấp lánh tận chân trời như những sợi chỉ bạc mỏng manh. Chúng tôi nép mình ngồi trên các cành cây suy nghĩ: đã phải đấy là nơi tận cùng thế giới chưa, hay phía sau vẫn còn có bầu trời ấy, những đám mây, những đồng cỏ và sông ngòi như thế này? Chúng tôi náu mình trên các cành cây, lắng nghe những tiếng gió ảo huyền và tiếng lá cây đáp lại lời gió, thì thầm to nhỏ về những miền đất bí ẩn đầy sức quyến rũ lẩn sau chân trời xa thẳm biêng biếc kia.

Tôi lắng nghe tiếng hai cây phong rì rào, tim đập rộn ràng vì thảng thốt và vui sướng, trong tiếng xạc xào không ngớt ấy tôi cố hình dung ra những miền xa lạ kia. Thuở ấy chỉ có một điều tôi chưa hề nghĩ đến: ai là người đã trồng hai cây phong trên đồi này? Người vô danh ấy đã ước mơ gì, đã nói những gì khi vùi hai gốc cây xuống đất, người ấy đã ấp ủ những niềm hi vọng gì khi vun xới chúng nơi đây, trên đỉnh đồi cao này?

Quả đồi có hai cây phong ấy, không biết vì sao ở làng tôi họ gọi là “Trường Đuysen”. Tôi còn nhớ hễ có ai lạc mất ngựa phải đi tìm và hỏi thăm: “Này, có thấy con ngựa tía nhà mình không”. Là người ta thường hay đáp: “Chỗ trên kia kìa, gần Trường Đuysen ấy, đêm qua ngựa vẫn còn ăn cỏ ở đấy, lên tìm may ra thấy”. Bắt chước người lớn, bọn trẻ chúng tôi vẫn thường lặp lại không hề suy nghĩ gì: “Các cậu ơi, lên Trường Đuysen trèo cây phong phá tổ chim sẻ đi”.

Người ta thuật lại rằng trước kia trên đồi này có một ngôi trường. Nhưng hồi ấy đến dấu vết của ngôi trường chúng tôi cũng chẳng hề tìm thấy nữa. Thuở nhỏ tôi đã mấy lần cố tìm cho được dù chỉ là những vết tích đổ nát của ngôi trường. Tôi lang thang tìm kiếm mãi nhưng chẳng thấy gì cả, về sau tôi bắt đầu lấy làm lạ, không hiểu sao người ta lại gọi quả đồi trơ trụi ấy là “Trường Đuysen” và tôi đã có lần hỏi các cụ già xem Đuysen là ai. Một người lơ đãng khoát tay đáp: “Đuysen là ai à? Đấy cái lão bây giờ vẫn còn sống ở đây ấy mà, trong thị tộc cừu thọt ấy.

Đã lâu lắm rồi, Đuysen bấy giờ còn là đoàn viên Komxômôn. Thời ấy, trên đồi có một căn nhà kho của ai bỏ hoang, Đuysen mở trường dạy trẻ ở đấy. Mà nào có ra trường sở gì đâu, chỉ được cái tên thôi. Chao ôi, cái thời buổi ấy cũng hay! Bấy giờ hễ ai nắm nổi bờm ngựa, biết đút chân vào bàn đạp thì làm gì chẳng được. Đuysen cũng vậy. Nghĩ ra cái gì là làm cho được cái ấy. Bây giờ gian nhà chứa ấy chẳng còn lấy được một hòn đá nhỏ, được mỗi một việc còn lại cái tên…”

Tôi rất ít biết Đuysen. Chỉ còn nhớ đó là một người đã luống tuổi, vóc cao lớn, dáng xương xương, có đôi mày quăn rậm. Nhà ông ở bên kia sông, đường Đội hai. Dạo tôi còn ở làng thì Đuysen trông coi hệ thống thuỷ lợi của nông trường và suốt ngày ở ngoài đồng. Thỉnh thoảng ông có đi qua phố tôi, trên yên ngựa buộc một chiếc cuốc lớn và con ngựa của ông trông cũng giống chủ nó, cũng xương xẩu, vó chân thon nhỏ. Sau Đuysen già đi và nghe nói ông đi đưa thư. Nhưng đó là nhân thể nói vậy thôi.

Vấn đề ở chỗ khác. Theo quan niệm của tôi lúc đó thì người thanh niên Komxômôn phải là một chàng gighit nói hăng làm hăng hơn hết thảy mọi người trong thôn, thường phát biểu trong hội nghị, viết báo về bọn chây lười và bọn ăn cắp của công. Và tôi không tài nào hình dung ra được con người hiền lành râu rậm ấy trước kia đã có lúc là Komxômôn, mà hơn nữa, điều đáng ngạc nhiên nhất là lại dạy trẻ con học trong khi chính mình cũng chẳng biết được bao nhiêu chữ nghĩa. Không, những chuyện như thế tôi không tài nào hình dung nổi! Thành thực mà nói, tôi coi đó chỉ là một trong bao nhiêu chuyện cổ tích được truyền tụng trong làng mà thôi. Nhưng về sau mới biết là sự thể hoàn toàn không phải như thế…

Mùa thu năm ngoái tôi nhận được một bức điện từ làng tôi gửi đến. Bà con trong làng mời tôi về dự buổi khánh thành ngôi trường mới do nông trường xây dựng lấy. Tôi lập tức quyết định về làng, vì làm sao tôi có thể ngồi nhà trong một ngày vui của quê hương như thế được. Tôi còn về trước vài ngày nữa là khác. Tôi định bụng về sẽ dạo quanh, ngắm cảnh và vẽ ít bức kí hoạ. Trong số những người được mời về dự hoá ra có cả bà viện sĩ Xulaimanôvna. Tôi nghe nói bà về đây một hai hôm rồi đi thẳng lên Matxcơva.

Tôi biết rằng người đàn bà hiện nay đang nổi tiếng ấy đã rời làng ra tỉnh từ thuở nhỏ. Sống ở tỉnh thành được ít lâu, tôi cũng đã có dịp làm quen với bà. Bà đã nhiều tuổi, đẫy đà, mái tóc chải mượt bạc đi nhiều. Người đàn bà đồng hương nổi tiếng của chúng tôi làm chủ nhiệm bộ môn ở trường đại học tổng hợp, lên lớp giảng triết học, làm việc ở viện hàm lâm, hay đi ra nước ngoài luôn. Bà thường bận nhiều công việc và tôi vẫn chưa có dịp được quen biết thật gần gũi, nhưng bất cứ lần nào gặp tôi ở đâu bà cũng đều quan tâm đến cuộc sống tại quê hương và thế nào cũng bày tỏ ý kiến, dù là vắn tắt, về tác phẩm của tôi. Có lần tôi đánh bạo hỏi bà:

– Antưnai Xulaimanôvna, giá bà ghé về quê thăm bà con trong làng có lẽ hay đấy. Ở làng ai cũng biết bà; ai cũng hãnh diện vì bà, nhưng phần nhiều mọi người đều chỉ mới nghe danh tiếng thôi, nên có lúc họ nói rằng bà bác học nổi danh của làng ta hình như muốn xa lánh chúng ta, quên mất đường về Kurkurêu rồi.

– Cố nhiên phải về chứ. – Bà Antưnai Xulaimanôvna mỉm cười buồn buồn, – chính tôi vẫn mơ ước được về Kurkurêu từ lâu, đã bao nhiêu năm không về làng rồi. Kể ra tôi cũng không còn họ hàng thân thích gì ở làng nữa. Nhưng vấn đề đâu phải ở chỗ ấy. Thế nào tôi cũng về, tôi phải về; hay nhớ quê hương quá.

Bà viện sĩ Xulaimanôvna về đến làng khi buổi lễ trọng thể khánh thành trường học sắp khai mạc. Các nông trang viên trông thấy bà qua kính cửa xe hơi và mọi người đều đổ ra đường. Từ người quen cho tới người lạ, từ cụ già cho đến trẻ con ai cũng muốn bắt tay bà. Có lẽ Antưnai Xulaimanôvna cũng không ngờ sẽ được đón tiếp như vậy, thậm chí còn luống cuống nữa thì phải. Bà đặt tay lên ngực, cúi chào mọi người và khó khăn lắm mới lách được lên bục chủ tịch đoàn.

Chắc hẳn bà Antưnai Xulaimanôvna đã từng đi dự nhiều cuộc họp long trọng và chắc ở đâu bà cũng được đón tiếp nồng nhiệt và kính cẩn, nhưng tới đây, trong ngôi làng bình thường này, thái độ niềm nở ân cần của dân làng đã làm bà hết sức bồi hồi cảm động và bà luôn luôn cố giấu những giọt nước mắt bất giác trào ra.

Sau phần nghi lễ các em thiếu nhi thắt khăn quàng đỏ cho vị khách quý, mang tặng hoa và mở đầu quyển sổ danh dự của trường mới lập bằng tên bà. Kế đó là cuộc biểu diễn văn nghệ rất vui vẻ hấp dẫn của học sinh, rồi ông hiệu trưởng mời chúng tôi, các tân khách, thầy giáo và lao động xuất sắc của nông trường về nhà ông.

Đến đây họ vẫn chưa thể hết mừng rỡ với cuộc về thăm của Antưnai Xulaimanôvna. Họ mời bà ngồi vào chỗ danh dự có trải thảm và cố tìm mọi cách để nêu rõ lòng kính trọng của họ đối với bà. Như trong tất cả những dịp như thế, bầu không khí hết sức náo nhiệt, khách khứa chuyện trò sôi nổi và luôn nâng cốc chúc mừng. Nhưng bỗng có anh thanh niên người làng đi vào đưa cho chủ nhân một tập điện tín. Các bức điện được truyền qua tay mọi người: các học sinh cũ chúc mừng bà con trong làng nhân dịp khánh thành nhà trường mới.

– Này, những bức điện này là do ông lão Đuysen mang về phải không? – ông hiệu trưởng nói.

– Vâng, – người thanh niên đáp. – Ông cụ bảo suốt dọc đường quất ngựa luôn tay để về kịp buổi lễ, cho nhân dân được nghe đọc các bức điện. Ông cụ chậm mất một tí, đang buồn.

– Thế để ông ta đứng đấy làm gì, ra bảo ông ấy xuống ngựa, mời vào đây!

Người thanh niên ra gọi Đuysen. Bà Antưnai Xulaimanôvna đang ngồi cạnh tôi, không hiểu sao bỗng giật mình và như chợt nhớ ra điều gì, bà hỏi tôi xem họ đang nói đến Đuysen nào thế, giọng bà rất lạ.

– Đây là người đưa thư của nông trường, bà Antưnai Xulaimanôvna ạ. Bà có biết ông cụ Đuysen à?

Bà gật đầu qua loa, rồi toan đứng dậy, nhưng giữa lúc ấy nghe có tiếng ai cưỡi ngựa đi ngang qua cửa sổ và người thanh niên quay vào nói với chủ nhân:

– Akxakan ạ, tôi gọi ông cụ vào đây nhưng ông ấy đi rồi, ông cụ còn phải đi phát nốt thư.

– Thì cứ để ông lão đi đưa thư, giữ lại làm gì. Sau rồi ngồi với các cụ già cũng được, – có người khó chịu thốt ra.

– Ồ! Các vị không biết Đuysen của chúng ta đấy thôi! Ông ấy là người rất nguyên tắc. Chưa làm xong việc thì không có rẽ vào đâu hết.

– Đúng đấy, tính ông cụ lạ thật. Sau chiến tranh ông cụ xuất viện tại Ukraina, rồi ở lại đấy, mới về làng được năm năm nay. Ông cụ bảo là về chết ở quê cha đất tổ. Suốt đời cứ sống độc thân thế thôi…

– Nhưng giá ông cụ ghé vào một tí lúc này vẫn hơn…Thôi cũng được. – Và chủ nhân khoát tay.

– Các đồng chí, nếu các đồng chí còn nhớ thì ngày xưa chúng mình đã từng học ở trường Đuysen. – Một trong số những người được kính nể nhất ở làng nâng cốc nói. – Mà chính ông ta thì hẳn là chưa biết hết mặt chữ cái. – Người phát biểu nheo mắt và lắc đầu. Tất cả dáng bộ ông ta lộ rõ ý ngạc nhiên và chế giễu.

– Ấy đúng như thế đấy, – mấy giọng nói hưởng ứng theo. Cử toạ cười phá lên.

– Bấy giờ thì còn phải nói! Hồi ấy còn thiếu trò gì mà Đuysen lại không bày vẽ ra. Chúng mình thì cứ tưởng ông là thầy giáo thật kia chứ!

Khi tiếng cười đã ngớt, người vừa nâng cốc nói tiếp:

– Bây giờ mọi người đều đã trưởng thành lên ngay trước mắt chúng ta. Bà viện sĩ Antưnai thì cả nước biết tiếng. Hầu hết chúng ta đều có trình độ giáo dục phổ thông và nhiều người có trình độ đại học. Hôm nay chúng ta làm lễ khánh thành trường trung học mới ở làng, chỉ riêng một điều đó thôi cũng đủ nói lên cuộc sống đã thay đổi biết chừng nào. Vậy thì, thưa bà con, chúng ta hãy cạn chén chúc cho mai này con cháu làng Kurkurêu sẽ trở thành những con người tiên tiến của thời đại.

Mọi người lại ồn ào và nhất tề hưởng ứng cốc rượu mừng, riêng bà Antưnai Xulaimanôvna đỏ mặt, như có điều gì khiến bà gượng ngùng và chỉ nhấp môi vào cốc rượu. Nhưng mọi người đang lúc hoan hỉ và mải mê trò chuyện nên không để ý thấy thái độ của bà.

Antưnai Xulaimanôvna xem đồng hồ mấy lần. Rồi đến khi khách khứa đã ra đường, tôi thấy bà đứng riêng sang một bên con kênh đào, cách hẳn mọi người và nhìn đăm đăm lên ngọn đồi chỗ hai cây phong sang độ thu đã ngả màu đỏ úa đang đung đưa trước gió. Mặt trời lặng xuống vết dài màu tím nhạt của thảo nguyên xa tắp trong buổi hoàng hôn. Từ phía ấy, ánh nắng đang tàn lụi nhuộm một sắc đỏ tía đùng đục, buồn thảm lên ngọn hai cây phong.

Tôi bước lại gần bà Antưnai Xulaimanôvna.

– Bây giờ hai cây phong đang rụng lá. Giá bà nhìn chúng vào mùa xuân, lúc đang độ đâm chồi nẩy lộc thì thích hơn. – Tôi nói.

– Chính tôi cũng đang nghĩ thế đấy – Antưnai Xulaimanôvna thở dài, lặng thinh một lát rồi nói tiếp như tự nhủ mình: – mà phải, sinh vật nào cũng có mùa xuân và mùa thu của nó.

Trên khuôn mặt tàn úa đã có nhiều nếp nhăn nhỏ bé xung quanh mắt thoáng hiện vẻ ưu tư. Bà đứng nhìn hai cây phong với nỗi buồn u uất mà chỉ phụ nữ mới có được. Và tôi bỗng thấy như đứng trước mặt tôi không phải là viện sĩ hàn lâm Xulaimanôvna nữa mà chỉ là một phụ nữ Kirghizi bình thường, hết sức chất phác trong mọi nỗi khổ niềm vui. Người đàn bà thông thái ấy hẳn là giờ đây đang nhớ lại tuổi xuân của mình, cái tuổi xuân mà, như lời hát trong các bài dân ca của chúng tôi, dẫu có đứng trên đỉnh núi cao nhất cũng không sao gọi thấu. Hình như trong khi nhìn lên hai cây phong bà muốn nói điều gì, nhưng rồi chắc bà nghĩ sao lại thôi và lật đật đeo cặp kính vẫn cầm ở tay trên mắt.

– Hình như xe lửa đi Matxcơva chạy qua đây vào mười một giờ phải không.

– Vâng, lúc mười một giờ đêm.

– Thế thì tôi phải sửa soạn ngay mới được.

– Sao lại đột ngột thế ạ! Antưnai Xulaimanôvna, bà đã hứa ở lại vài ngày cơ mà? Dân làng không để bà đi đâu.

– Không, tôi có nhiều việc gấp phải đi ngay bây giờ.

Dù dân làng có cố vật nài đến đâu, có tỏ vẻ giận dỗi đến thế nào, Antưnai Xulaimanôvna cũng vẫn một mực không đổi ý.

Trong khi đó trời bắt đầu sẩm tối. Dân làng buồn rầu đưa bà ra xe, sau khi được bà hứa rằng lần sau sẽ về một tuần lễ, có khi lâu hơn là khác. Tôi tiễn Antưnai Xulaimanôvna đến tận ga.

Vì sao Antưnai Xulaimanôvna lại vội ra đi một cách đột ngột như vậy? Làm phật ý bà con trong làng, nhất là vào một ngày như thế, tôi thấy quả không nên. Dọc đường đã mấy lần tôi định hỏi bà về chuyện đó, nhưng rồi lại không dám. Chẳng phải vì tôi sợ tỏ ra thiếu lịch thiệp, mà chỉ vì tôi hiểu rằng đằng nào bà cũng sẽ chẳng nói gì hết. Suốt dọc đường bà cứ lặng thinh, ưu tư suy nghĩ điều gì.

Tuy vậy, khi lên đến ga, tôi cũng hỏi bà:

– Bà Antưnai Xulaimanôvna, hình như bà có điều gì bận tâm, hay chúng tôi đã làm bà giận?

– Sao anh lại nói thế! Anh không được nghĩ như vậy! Tôi còn có thể giận ai được chứ? Hoạ chăng giận mình thì có. Phải, lẽ ra phải giận mình mới đúng.

Thế là bà Antưnai Xulaimanôvna ra đi. Tôi trở lại thành phố và mấy hôm sau bỗng nhận được thư của bà. Bà cho biết là sẽ ở lại Matxcơva lâu hơn dự định và viết:

“Tuy có rất nhiều công việc quan trọng và khẩn cấp, tôi cũng đã quyết định gác hết lại và viết lá thư này cho anh… Nếu anh thấy điều gì tôi viết đây đáng được chú ý thì tôi khẩn khoản xin anh nghĩ xem làm thế nào cho mọi người cùng biết câu chuyện tôi sẽ kể. Tôi nghĩ không phải chỉ riêng bà con trong làng mà nói chung mọi người, nhất là lứa tuổi trẻ, đều cần biết câu chuyện này. Tôi đã thấy rõ như vậy sau bao lần đắn đo cặn kẽ. Đó là lời xưng tội của tôi trước mọi người. Tôi cần phải làm tròn bổn phận của tôi. Càng nhiều người được biết thì lương tâm tôi càng đỡ cắn rứt. Anh đừng sợ làm cho tôi lâm vào tình trạng khó xử. Anh đừng giấu giếm gì hết…”

Tôi đã mang nặng trong lòng những ấn tượng của lá thư ấy mấy ngày liền. Và tôi không nghĩ ra được cách gì hơn là thay mặt bà Antưnai Xulaimanôvna để kể hết chuyện này.

Phần 2

Đó là vào năm 1924. Phải, đúng vào năm ấy…

Nơi hiện nay là nông trường chúng ta, bấy giờ là một thôn nhỏ của dân nghèo định cư. Lúc ấy tôi mười bốn tuổi và sống ở nhà ông chú họ. Cha mẹ tôi đều đã qua đời.

Mùa thu năm ấy, chẳng bao lâu sau khi những nhà có máu mặt đã dời vào núi để trú qua mùa đông, có một thanh niên lạ mặt chiếc áo choàng bộ đội về làng. Tôi còn nhớ chiếc áo choàng, vì không hiểu sao nó lại bằng dạ đen. Đối với thôn chúng tôi, một thôn hẻo lánh nép vào chân núi cách xa đường cái, sự xuất hiện của con người mặc áo nhà nước này là một sự việc quan trọng.

Lúc đầu người ta bảo rằng đó là một cấp chỉ huy trong bộ đội cho nên về làng cũng sẽ làm trưởng thôn, sau hoá ra anh ta chẳng phải là cấp chỉ huy gì cả, mà chính là con ông lão Tatanbek đã bỏ làng đi làm đường sắt từ dạo đói bao nhiêu năm trước đây và từ đấy biệt hẳn tăm tích. Còn anh này là Đuysen, con ông ta, hình như được cử về làng để mở trường dạy trẻ.

Thời bấy giờ những thứ như “nhà trường”, “học tập” hãy còn là những danh từ mới mẻ, chẳng mấy ai hiểu rõ cho lắm. Người thì tin những tiếng đồn đại, người thì cho đây là những chuyện đàn bà bàn tán nhảm và có lẽ họ đã quên mất cái trường ấy, nếu mấy hôm sau không có lệnh gọi dân làng đi họp. Chú tôi càu nhàu mãi: “Lại họp hành gì nữa, cứ làm người ta bỏ công việc mãi vì những chuyện vớ vẫn”, nhưng sau ông ta cũng thắng ngựa và đi họp như mọi người đàn ông khác biết tự trọng. Tôi cũng chạy theo chú tôi cùng với lũ trẻ con hàng xóm.

Lúc chúng tôi thở hổn hển chạy lên gò chỗ dùng làm nơi hội họp thì chính anh thanh niên xanh xao mặc áo khoác đen ấy đang phát biểu trước đám người đi bộ và cưỡi ngựa tập hợp xung quanh. Chúng tôi không nghe rõ lời anh nói nên định nhích lại gần, nhưng bỗng một cụ già mặc chiếc áo lông rách như vừa sực tỉnh, vội vã ngắt lời anh:

– Này cháu ơi, – ông cụ bắt đầu lắp bắp nói, – trước kia thì các pháp sư dạy trẻ con, mà bố cháu thì chúng ta biết rõ lắm, cũng khố rách áo ôm như chúng ta đây thôi. Cháu thử nói xem cháu đã thành pháp sư tự bao giờ?

– Cháu không phải là pháp sư, cụ ạ, cháu là thanh niên Komxômôn, – Đuysen đáp nhanh. – Mà bây giờ thì không phải pháp sư dạy trẻ con đâu, mà là các thầy giáo. Cháu đã được học chữ ở bộ đội và trước đó cũng võ vẽ ít nhiều. Đấy cụ xem cháu là thứ pháp sư gì.

– A, ra thế…

– Khá đấy! – Có những tiếng reo cổ vũ.

– Như vậy là đoàn Komxômôn cử tôi về đây dạy con trẻ bà con. Nhưng muốn dạy thì phải có chỗ mà dạy. Tôi định làm nhà trường, cố nhiên là với sự giúp đỡ của bà con, ở chỗ chuồng ngựa cũ trên đồi kia. Bà con nghĩ sao?

Mọi người im lặng như thể đang cân nhắc trong óc: cái anh chàng lạ mặt này muốn gì nhỉ? Ông Xatumkun vừa nheo mắt như nhắm bắn vừa thốt lên. – Tốt hơn hết là cậu hãy nói xem là chúng ta cần cái trường ấy để làm gì?

– Sao lại để làm gì? – Đuysen ngỡ ngàng hỏi.

– Đúng đấy! – có ai trong nhóm đông phụ hoạ theo.

Và mọi người bỗng cùng nhốn nháo, ồn ào cả lên.

– Từ thượng cổ đến nay người ta chỉ sống bằng nghề nông, cái cuốc nuôi ta sống. Và con cái chúng ta cũng sẽ sống như thế thôi, học hành làm quỷ gì. Làm chỉ huy thì mới cần chữ nghĩa, chúng ta chỉ là dân thường thôi. Đừng tán chuyện vớ vẩn nữa!

Những tiếng xôn xao lặng đi một lát.

– Chẳng lẽ bà con lại phản đối việc cho con em đi học sao? – Đuysen ngơ ngác hỏi, nhìn chằm chặp vào mặt những người đứng quanh anh.

– Thế nếu phản đối thì sao, dễ anh bắt buộc được chúng tôi à? Thời buổi ấy đã qua rồi. Nhân dân chúng tôi bây giờ tự do, chúng tôi muốn sống ra sao thì sống!

Mặt Đuysen nhợt hẳn đi. Anh run run đưa tay lên tháo móc gài áo khoác ra, móc túi áo trong lấy ra một tờ giấy gấp tư và vội vã mở ra, giơ cao lên quá đầu.

– Nghĩa là các người chống lại tờ giấy này, tờ giấy nói về việc học hành của trẻ em, có đóng dấu của chính quyền Xô-viết. Thế ai cho các người đất cày, nước tưới? Ai mang lại tự do cho các người? Nào, ai chống lại luật lệ của chính quyền Xô-viết, ai? Nói đi!

Anh thét lên hai tiếng “nói đi” bằng một giọng giận dữ rung lên sang sảng, nghe hùng dũng như một viên đạn xé tan cảnh ấm cúng của bầu không khí tĩnh mịch trời thu và như một tiếng nổ, giọng anh vang dội thành một tiếng vọng ngắn trong vách núi. Không ai thốt ra lời nào. Mọi người im lặng, đầu cúi gầm.

– Chúng ta là những kẻ nghèo khó, – Đuysen nói, giọng đã khẽ hơn – Suốt đời chúng ta đã bị chà đạp nhục nhã. Chúng ta đã phải sống trong cảnh tăm tối. Giờ đây chính quyền Xô-viết muốn cho chúng ta trông thấy ánh sáng, muốn cho chúng ta biết đọc biết viết. Muốn thế thì phải dạy trẻ em học…

Đuysen ngừng lời chờ đợi. Và lúc đó chính ông cụ mặc chiếc áo lông rách đã hỏi anh làm thế nào mà lại thành pháp sư, lẩm bẩm bằng một giọng làm lành:

– Thôi được, anh đã muốn thì cứ dạy đi, còn chúng tôi đây thì…Chúng tôi không chống lại luật pháp.

– Nhưng tôi xin bà con giúp đỡ tôi. Chúng ta phải chữa lại cái chuồng ngựa của phú nông trên đồi kia, phải làm cầu qua sông, nhà trường cần có củi…

– Này hượm đã, chàng gighit ơi, nhanh nhảu quá đấy! – Lão Xatưmkun – hay cãi ngắt lời Đuysen.

Lão xì nước bọt qua kẽ răng, rồi lại nheo mắt như nhắm bắn:

– Anh hét ầm cả làng là “Tôi sẽ mở trường!”. Nhưng thử xem anh kìa: trên người chiếc áo lông chẳng có, dưới chân thì con ngựa cũng không, đến mảnh đất cày bằng bàn tay thôi cũng không có nốt, chẳng có được mống súc vật nào trong sân! Vậy thì anh định sinh sống ra sao, anh bạn thân mến? Hoạ chăng có đi chăn súc vật cho người khác… Nhưng khốn nỗi chúng tôi không có súc vật cho anh chăn đâu. Những kẻ có thì đã lên núi rồi.

Đuysen muốn trả lời một câu gì cho thật xẵng, nhưng rồi nén giận nói khẽ:

– Tôi sẽ có cách sống. Tôi sẽ có lương.

– A, cứ nói ngay thế có phải hơn không! – Và Xatưmkun hể hả ngồi thẳng người lên lưng ngựa, vẻ đắc thắng rõ rệt. – Bây giờ thì mọi sự đã rõ. Anh bạn trẻ ơi, việc anh thì anh cứ làm lấy, cứ lĩnh lương mà dạy trẻ. Nhà nước thiếu gì tiền. Còn chúng tôi thì anh cứ để chúng tôi yên thân, nhờ trời công việc của chúng tôi cũng ngập đến cổ rồi…

Nói đoạn Xatưmkun quay ngựa đi về nhà. Những người khác cũng theo lão kéo nhau về. Chỉ còn Đuysen vẫn đứng trơ lại tay cầm tờ giấy. Tội nghiệp anh không biết đi đâu bây giờ nữa…

Tôi thấy ái ngại cho Đuysen. Tôi cứ đứng nhìn anh không rời mắt cho đến khi chú tôi cưỡi ngựa đi qua quát gọi:

– Cái con đầu bù kia, làm gì mà đứng há hốc mồm ra đấy, có chạy mau về nhà không? – Tôi đành cắm đầu đuổi theo các bạn. – Chà, cái con này, thứ chúng nó mà cũng đã tấp tểnh đi họp rồi kia đấy!

Ngày hôm sau, bọn con gái chúng tôi đang đi lấy nước thì gặp Đuysen ở bờ sông. Anh đang lội sang bờ bên kia, tay cầm xẻng, cuốc, rìu và một chiếc thùng cũ.

Từ hôm ấy sáng nào cũng thấy Đuysen mặc chiếc áo đen lủi thủi theo con đường mòn leo lên đồi tới chỗ chuồng ngựa bỏ hoang. Và đến tối mịt mới trở xuống về làng. Chúng tôi thường thấy anh mang một bó củi hay một bó rạ khô lớn trên lưng. Trông thấy anh từ xa, ai nấy đều rướn người trên bàn đạp và che mắt nhìn, ngạc nhiên bàn tán:

– Này, hình như thầy giáo Đuysen đang cõng củi kia phải không?

– Chính anh ta rồi.

– Chà, tội nghiệp. Nghề thầy giáo xem ra cũng chẳng nhẹ nhàng gì.

– Thế anh tưởng thế nào. Cứ xem anh ta cõng lấy bao nhiêu kia, chẳng kém gì thằng ở nhà phú nông cả.

– Thế mà nghe anh ta diễn thuyết thì ra phết lắm.

– Ấy, là vì anh có tờ giấy đóng dấu, bao nhiêu sức mạnh ở đấy hết.

Có lần, mang những túi đựng đầy kigiăc nhặt ở chân núi mé trên làng trở về, chúng tôi vòng vào trường: xem thử thầy giáo đang làm gì ở đấy cũng hay. Căn nhà kho cũ bằng đất nện này trước kia vốn là chuồng ngựa của phú nông. Trước kia, vào mùa đông, người ta thường nhốt những con ngựa cái đẻ con trong những ngày giá rét ở đây. Sau khi chính quyền Xô-viết lên, tên phú nông bỏ đi đâu mất và chuồng ngựa vẫn còn lại đó. Không ai bước chân đến đây và chung quanh gai góc mọc lên rậm rạp. Bây giờ những cây cỏ dại đã bị phạt đến tận rễ xếp thành đống nằm gọn một bên, cái sân đã được dọn sạch. Những bức vách xiêu vẹo dãi dầu mưa nắng đã được trát đất lại; cánh cửa ọp ẹp, trước đây chỉ còn bám lủng lẳng vào mỗi một chiếc bản lề, nay cũng được sửa lại và lắp vào cẩn thận.

Lúc chúng tôi đặt các bao kigiăc xuống đất để nghỉ một lát, Đuysen từ trong cửa bước ra, người bê bết đất. Trông thấy chúng tôi, anh ngẩn người ra một lát, nhưng rồi lại mỉm cười niềm nở, lấy tay quệt mồ hôi trên mặt.

– Đi đâu về thế các em gái?

Chúng tôi ngồi cạnh những bao kigiăc thẹn thò nhìn nhau, Đuysen hiểu rằng chúng tôi im lặng vì bẽn lẽn nên nháy mắt động viên:

– Những cái bao kia to hơn cả người các em đấy. Các em ghé vào đây xem là hay lắm, các em chả sẽ học tập ở đây là gì? Còn trường của các em thì có thể nói là đã xong đến nơi rồi. Ta vừa đắp một thứ lò sưởi ở góc nhà và bắc cả ống khói trên mái, các em thử nhìn xem! Giờ chỉ còn phải trữ sẵn củi để sưởi trong mùa đông nữa thôi, nhưng không sao, chung quanh thiếu gì củi khô. Dưới nền nhà ta sẽ trải rơm thật nhiều, thế là có bắt đầu học được rồi. Thế nào, các em thích học không, các em sẽ đi học chứ?

Tôi hơn các bạn gái khác nên đánh bạo trả lời:

– Nếu thím em cho đi thì em sẽ đi.

– Sao thím em lại không cho, thế nào cũng cho chứ. Vậy tên em là gì?

– Antưnai. – Tôi vừa đáp vừa lấy tay che chỗ gấu váy thủng để hở một mảng đầu gối.

– Antưnai, cái tên hay quá, mà em thì chắc là ngoan lắm phải không? –Đuysen mỉm cười hiền từ khiến tôi thấy lòng ấm hẳn lại.

– Thế em con ai?

Tôi lặng thinh; tôi vốn không thích có ai thương hại tôi.

– Chị ấy mồ côi ạ, chị ấy ở với ông chú, – mấy đứa bạn tôi đỡ lời.

– Thế này nhé, – Đuysen mỉm cười nói với tôi, – Antưnai ạ, em sẽ dẫn các em khác đi học được chứ?

– Thưa chú được ạ.

– Các em cứ gọi ta là thầy. Các em có muốn xem trường không? Vào đây, các em đừng ngại gì cả.

– Không, chúng em phải về nhà đây, – chúng tôi rụt rè nói.

– Thôi được, các em chạy về nhà đi. Khi nào đến học các em sẽ xem sau vậy. Giờ chưa tối, thầy đi lấy rạ khô lần nữa đã.

Cầm lấy chiếc liềm và sợi dây, Đuysen bước ra đồng. Chúng tôi cũng đứng dậy cõng những bao kigiăc lên lưng và rảo bước về làng. Tôi chợt nảy ra một ý nghĩ bất ngờ.

– Này các cậu ơi, – tôi gọi các bạn – Ta đổ kigiăc vào trong trường đi, đến mùa đông sẽ có được nhiều cái đốt sưởi hơn.

– Thế về nhà tay không à? Chà, khôn đấy nhỉ!

– Nhưng ta sẽ quay lại nhặt thêm nữa.

– Thôi muộn mất, về nhà lại bị mắng đấy.

Và bọn con gái không chờ tôi, cứ rảo cẳng về nhà.

Cho đến nay tôi vẫn không hiểu hôm ấy cái gì xui khiến tôi dám làm một việc như thế. Không biết vì tôi giận các bạn đã không nghe tôi nên cứ muốn làm theo ý mình, hay từ thuở bé mọi ước nguyện, mọi ý muốn của tôi đều bị chôn vùi dưới những lời mắng chửi, những cái bạt tai của những con người phũ phàng, chỉ biết là tôi vẫn thấy muốn làm việc gì để cảm ơn con người thật ra không quen biết ấy, để đền đáp lại nụ cười đã sưởi ấm lòng tôi, đền đáp lòng tin cậy của người ấy đối với tôi, đền đáp mấy câu nói nhân từ ấy. Và giờ đây tôi biết rất rõ, tôi tin chắc rằng cuộc đời thật sự của tôi tất cả cuộc sống với mọi niềm vui nỗi khổ của tôi đã bắt đầu chính từ ngày hôm đó, chính từ bao kigiăc ấy. Tôi nói như vậy bởi vì chính hôm đó, lần đầu tiên trong đời tôi đã không đắn đo, không sợ bị phạt, đã quyết định và làm điều tôi cho là cần thiết. Khi các bạn bỏ tôi lại, tôi chạy trở về trường Đuysen, trút bao kigiăc xuống dưới cửa và cắm đầu chạy men theo các khe rãnh, các hẻm đá ở chân núi nhặt kigiăc.

Tôi cứ chạy mãi, không còn biết mình đi đâu nữa, như thể vì quá dư sức mà tim tôi sung sướng đập rộn rã trong lồng ngực, tựa hồ như tôi đã làm nên công trạng vì vô cùng to lớn. Và cả mặt trời cũng như biết rõ vì đâu tôi sung sướng đến thế. Phải, tôi tin rằng mặt trời cũng biết vì đâu tôi lại chạy tung tăng nhẹ nhàng như thế. Bởi vì tôi đã làm được một việc nhỏ hữu ích.

Mặt trời đã xế bóng ngang các sườn đồi, nhưng tôi cảm thấy dường như còn chần chừ không muốn lặn, còn muốn nhìn tôi. Ánh mặt trời tô điểm con đường tôi đi: mặt đất rắn mùa thu trải qua dưới chân tôi nhuộm thành màu đỏ, màu hồng, màu tím. Từng cụm bông lau khô vun vút bay hai bên như những tia lửa lập loè. Mặt trời rọi lửa lên những chiếc cúc mạ bạc trên tấm áo đầy mụn vá tôi mặc. Và tôi cứ chạy đi, trong lòng hoan hỉ nói với đất trời, với gió mâ: “Hãy nhìn tôi đây! Hãy nhìn xem tôi đang kiêu hãnh chừng nào! Tôi sẽ học hành, tôi sẽ đến trường và sẽ dẫn các bạn khác đến!…”

Không biết tôi chạy như thế bao lâu, nhưng tôi bỗng sực nhớ ra là phải nhặt kigiăc nữa. Thế nhưng lạ thay, suốt mùa hè ngần ấy súc vật thả ở đây và lúc nào cũng thấy nhan nhản bao nhiêu kigiăc, vậy mà giờ đây tựa hồ như đất đã ngốn hết mất cả. Hay chỉ vì tôi không chịu tìm? Tôi chạy hết chỗ này sang chỗ kia, càng đi xa kigiăc càng ít đi. Bấy giờ tôi mới nghĩ ra rằng từ giờ đến tối không thể kịp nhặt được đầy túi phân mất, tôi sợ hãi, chạy lung tung theo các bụi lau, ôi cuống cuồng vội vã. Cuối cùng tôi cũng nhặt được nửa bao. Lúc ấy mặt trời đã lặn hẳn, trong hẻm núi trời bắt đầu sẩm tối rất nhanh.

Chưa bao giờ tôi ở ngoài đồng một mình muộn đến thế. Đêm đã buông cánh đen sẫm xuống những triền đồi yên lặng, không một bóng người. Sợ thất thần, tôi vác chiếc bao lên vai và cắm đầu chạy về làng. Tôi khiếp đảm và có lẽ tôi đã kêu lên, khóc lên, nếu không có một ý nghĩ, dù là lạ lùng, tự nhiên kìm tôi lại, là thầy Đuysen sẽ nói sao, nếu trông thấy tôi yếu đuối như thế này. Và tôi đã lấy lại can đảm, tự cấm mình không được ngoái nhìn lại nữa, như có thầy đang đứng một bên nhìn theo tôi vậy.

Tôi chạy về đến nhà, thở hổn hển, người đầy bụi và mồ hôi. Tôi vừa thở vừa bước qua ngưỡng cửa. Thím tôi đang ngồi cạnh bếp, đứng lên đón tôi, vẻ doạ nạt. Thím tôi vốn là người độc ác thô bạo.

– Mày đi đâu mất mặt thế? – Thím bước lại gần tôi và tôi chưa kịp thốt ra lời nào, thím đã giật lấy chiếc bao trên người tôi và lẳng sang một bên. – Suốt ngày mày lượm được từng này đây hở?

Thì ra tụi bạn gái đã hớt lẻo với thím tôi rồi.

– Con quỷ đen kia! – Đứa nào xúi mày ghé vào trường? Sao mày không chết rấp trên cái trường ấy đi cho rảnh. – Thím túm lấy vai tôi và bắt đầu đánh liên hồi vào đầu. – Quân không cha không mẹ! Chó sói có bao giờ lại thành chó nhà được. Con nhà người ta thì tha của về nhà, còn nó chỉ chực đem của nhà đi cho thiên hạ. Muốn xem trường thì rồi tao sẽ cho xem, mày cứ còn bén mảng đến gần đấy là tao đánh què cẳng đi. Tao sẽ cho mày nhớ đời cái trường ấy…

Tôi nín lặng, chỉ muốn sao đừng thét lên. Nhưng sau đó, vừa ngồi đẩy bếp tôi vừa lặng lẽ khóc vụng, tay sẽ vuốt ve con mèo mướp, còn con mèo thì lúc nào tôi khóc nó cũng biết và nhảy lên đầu gối tôi. Tôi không khóc vì những đòn thím tôi đánh, không, vì tôi đã quen chịu đòn quá nhiều rồi, tôi khóc vì hiểu rằng thím tôi không đời nào chịu cho tôi đi học…

Hai ngày sau, sáng sớm trong làng chó bỗng sủa ran lên và có những tiếng nói oang oang. Hoá ra là Đuysen đi từng nhà gọi trẻ em đến trường. Lúc bấy giờ trong làng còn chưa có ngõ lối gì cả, ai tiện đâu thì làm nhà đấy. Đuysen cùng bọn trẻ kéo theo sau thành một đám ồn ào đi hết nhà nọ sang nhà kia.

Nhà tôi ở tận cuối làng. Giữa lúc ấy tôi đang cùng thím tôi giã kê trong chiếc cối gỗ, còn chú tôi thì đang đào chỗ thóc để dưới hố gần nhà chứa đồ để mang ra chợ bán. Tôi và thím tôi đang đứng giã, lần lượt giáng những chày nặng nề xuống cối, nhưng tôi vẫn kịp lén nhìn xem thầy giáo còn xa không. Tôi sợ thầy không đi đến tận nhà chúng tôi. Dẫu tôi biết thím tôi sẽ không cho đi học, tôi vẫn muốn Đuysen đến, dù chỉ để thầy biết tôi ở chỗ nào. Và tôi thầm van thầy đừng quay trở lại trước khi đến nhà tôi.

– Chào bà chủ, cầu trời phù hộ cho bà! Mà trời không phù hộ thì cả bọn chúng tôi sẽ cùng ùa vào giúp một tay, bà xem chúng tôi có đông không này! – Đuysen chào thím tôi bằng một câu pha trò kéo theo sau lũ học trò tương lai.

Thím tôi ậm ự trả lời, còn chú tôi thì ở dưới hố chôn thóc cũng chẳng thò đầu lên.

Nhưng điều đó không làm Đuysen bối rối. Thầy ngồi xuống khúc gỗ nằm ở giữa sân, vẻ bận rộn, lấy bút chì và giấy ra.

– Hôm nay chúng tôi bắt đầu dạy học ở trường. Con gái bà bao nhiêu tuổi?

Thím tôi không đáp, giận dữ ném chày vào cối. Thím tôi rõ ràng không muốn tiếp chuyện. Người tôi như co rúm lại: rồi cơ sự sẽ ra sao đây? Đuysen nhìn tôi và mỉm cười. Và cũng như lần ấy, tôi thấy lòng ấm hẳn lại.

– Antưnai, em bao nhiêu tuổi? – Thầy hỏi.

Tôi không dám trả lời.

– Việc gì mà anh phải biết nó bao nhiêu tuổi, anh là thứ thanh tra gì thế? – Thím tôi giận dữ nói. – Nó không học được đâu. Cái quân không cha không mẹ ấy thì học gì, đến những đứa có mẹ có cha hẳn hoi cũng còn không học nữa là. Anh cứ kéo cả lũ oắt kia đi mà dạy, không bận gì đến anh ở đây cà.

Đuysen đứng phắt dậy.

– Bà hãy nghĩ lại xem bà nói gì thế? Nó mồ côi thì có tội tình gì? Hay có luật lệ nào không cho các trẻ em mồ côi đi học?

– Luật lệ của anh thì tôi cần gì! Tôi có luật lệ riêng của tôi, anh không cần phải dạy tôi.

– Luật lệ là luật lệ chung. Và nếu bà không cần đến cháu gái, thì chúng tôi cần nó, chính quyền Xô-viết cần nó. Còn bà chống lại thì chúng tôi sẽ cho bà biết!

– Ồ gớm nhỉ, anh là cái thá gì mà dám lên mặt với tôi! – Thím tôi đứng chống nạnh, vẻ khiêu khích. – Theo anh thì ai là người có quyền cai quản nó? Thử hỏi tôi nuôi nấng nó hay anh, cái thứ cầu bơ cầu bất hết đời cha sang đời con kia?

Không biết rồi câu chuyện sẽ kết thúc ra sao, nếu lúc ấy chú tôi, mình trần trùng trục, không trèo lên khỏi hố thóc. Chú thường bực mình không sao chịu được khi thấy vợ cứ nhúng vào những công việc không phải của mình, quên mất rằng trong nhà thì người chồng làm chủ. Chú tôi thường đánh đập thím ấy tàn nhẫn vì những tội như vậy. Và lần này cũng có thể thấy rõ ràng chú đã điên tiết lắm rồi.

– Thôi đi, đồ đàn bà! – Chú vừa quát tháo vừa leo lên. – Bà làm chủ trong nhà này từ bao giờ đấy, bà bắt đầu chỉ huy từ bao giờ thế hả? Bớt ba hoa đi mà làm nhiều vào. Còn con ông Tastanbek kia, anh cứ đưa con bé đi, muốn dạy nó học thì dạy, muốn làm gì nó thì làm. Thôi cút đi!

– A, thế ra con bé sẽ đi lêu lổng ngoài trường học, còn công việc ở nhà thì ai làm cho? Để dồn cả tôi à? – Thím tôi vừa hé miệng, chú tôi đã chặn ngay:

– Thôi, không lôi thôi gì nữa!

Chẳng có việc gì mà lại không có một phần may. Chuyện tôi được đi học lần đầu là như thế đấy.

Từ hôm đó sáng nào thầy Đuysen cũng đến từng nhà để gọi chúng tôi.

Lần đầu tiên chúng tôi tới trường, thầy giáo sắp xếp cho chúng tôi ngồi trên các ổ rơm trải giữa sàn nhà rồi phát cho mỗi đứa một quyển vở nhỏ, một cái bút chì và một chiếc bảng con.

– Các em tì bảng lên đầu gối mà viết cho dễ, – thầy Đuysen giảng giải.

Rồi thầy chỉ lên bức chân dung của một người Nga dán trên vách nói:

– Đây là Lênin!

Suốt đời tôi vẫn nhớ bức chân dung ấy. Không hiểu tại sao về sao tôi không thấy nơi nào có bức đó nữa và trong thâm tâm tôi vẫn thầm gọi là bức chân dung Lênin “của Đuysen”. Lênin trên bức ảnh mặc chiếc áo dài quân nhân hơi rộng, má gầy hóp, bộ râu cằm lởm chởm. Cánh tay bị thương của Người treo băng trước ngực đầu đội mũ lưỡi trai hơi hất ra sau, đôi mắt chăm chú của người nhìn xuống một cách điềm đạm. Cái nhìn dịu dàng làm ấm lòng người dường như nói với chúng tôi: “Các cháu ơi, giá các cháu biết một tương lai đẹp đẽ đến nhường nào đang chờ các cháu!”. Trong phút yên lặng ấy tôi cảm thấy như Người quả đang nghĩ đến tương lai của tôi thật. Bức chân dung in trên loại giấy áp phích thường, những đường gấp đã sờn và mép giấy đã nát bươm, chứng tỏ rằng Đuysen giữ bức ảnh đã lâu. Nhưng ngoài tấm chân dung ấy ra, trên bốn bức vách của lớp học không còn gì nữa.

Thầy Đuysen nói:

– Thầy sẽ dạy các em biết đọc, biết đếm, hướng dẫn các em viết chữ cái, chữ số.

Và quả nhiên thầy đã dạy chúng tôi tất cả những gì thầy biết và trong khi dạy bảo chúng tôi, thầy đã tỏ ra kiên nhẫn lạ thường. Cúi xuống sát từng học sinh một, thầy chỉ bảo từng cách cầm bút chì, rồi về sau lại say sưa giảng cho chúng tôi những chữ khó.

Giờ đây nghĩ lại tôi không khỏi ngạc nhiên tự hỏi: làm thế nào người thanh niên biết không được bao nhiêu chữ nghĩa, khi đọc còn phải đánh vần một cách chật vật, trong tay không có lấy một quyển sách giáo khoa, ngay đến cả sách vỡ lòng cũng không có, mà lại dám đảm nhận một công việc thật là to lớn như vậy? Dạy những đứa bé từ đời ông, đời cụ bảy tộc tổ tiên đều không biết lấy một chữ cắn đôi có phải chuyện đùa đâu! Và tất nhiên Đuysen cũng không hề có một khái niệm cỏn con nào về chương trình, về phương pháp giảng dạy. Nói cho đúng hơn, Đuysen cũng không hề ngờ rằng trên đời có những thứ đó.

Đuysen đã đem hết năng lực dạy cho chúng tôi, biết được bao nhiêu, thầy dạy bấy nhiêu, dạy tất cả những gì thầy tự cho là cần thiết theo trực giác. Nhưng tôi tin chắc như đinh đóng cột rằng lòng nhiệt tình chân thành của thầy trong công việc dạy dỗ đã chẳng phí hoài.

Thầy Đuysen đã lập một chiến công mà không hề biết. Thật vậy, đó là một chiến công, bởi vì chính hồi đó, dưới mái trường này, hay nói cho đúng hơn dưới mái nhà tranh vách đất hở hoác đến nỗi ngồi trong lớp lúc nào cũng nhìn thấy những đỉnh núi tuyết phủ, một thế giới mới, chưa bao giờ nghe nói đến, chưa bao giờ nhìn thấy, đã mở ra trước mắt chúng tôi, những đứa trẻ của xứ Kirghizi chưa hề bước chân ra khỏi làng.

Chính khi ấy chúng tôi được biết là thành phố Matxcơva, nơi Lênin đang sống, lớn hơn Auliat rất nhiều, lớn hơn cả Tasken nữa và trên mặt đất còn có những biển cả rộng hơn cả bình nguyên Talax, trên mặt bể có những chiếc tàu thuỷ qua lại to như những quả núi. Chúng tôi còn được biết rằng dầu hoả mà người ta mua ở chợ về là phải lấy từ dưới đất lên. Và chúng tôi đã tin tưởng chắc chắn rằng sau này, khi dân ta đã giàu có hơn, trường chúng tôi sẽ được đặt trong một toà nhà lớn quét vôi trắng có những cửa sổ rộng và các em học sinh sẽ có bàn ngồi học.

Chúng tôi mới biết qua loa vần chữ cái, còn chưa biết viết những chữ “mẹ”, “bố”, đã viết được chữ “Lênin” lên giấy. Vốn từ chính trị của chúng tôi gồm có những khái niệm như “phú nông”, “cố nông”, “Xô-viết”. Và, thầy Đuysen hứa một năm sau sẽ dạy chúng tôi viết từ “cách mạng”.

Nghe thầy Đuysen kể chuyện, chúng tôi ngỡ như mình đang cùng thầy đánh đông dẹp bắc tiễu trừ quân bạch vệ. Còn khi kể về Lênin, thầy bồi hồi xúc động như thể chính mắt thầy đã được thấy Người. Bây giờ thì tôi đã hiểu rằng nhiều điều thầy kể lại là những chuyện truyền khẩu đã hình thành trong dân gian về vị lãnh tụ vĩ đại, nhưng đối với chúng tôi, những người học trò của thầy Đuysen hồi ấy, thì đó là những sự thật hiển nhiên, như thể sữa bao giờ cũng trắng.

Có lần chúng tôi hỏi thầy một câu hoàn toàn không có ẩn gì bên trong cả:

– Thưa thầy, thầy vẫn thường được bắt tay Lênin chứ ạ?

Thầy buồn bã lắc đầu đáp:

– Không, các em ạ, thầy chưa được nhìn thấy Lênin bao giờ cả.

Thầy thở dài ân hận như người có lỗi – thầy thấy ngượng với chúng tôi.

Cứ cuối mỗi tháng thầy Đuysen lại lên huyện có việc. Thầy đi bộ và thường hai ba ngày sau mới về.

Trong những ngày đó, chúng tôi buồn lắm. Dù là anh ruột tôi, có lẽ tôi cũng chẳng nóng lòng mong ngóng như mong thầy Đuysen về trong những ngày ấy. Tôi lẻn trốn thím tôi chạy ra sau nhà và đứng hồi lâu nhìn về phía con đường cái chạy qua thảo nguyên: bao giờ bóng thầy Đuysen với chiếc dây vải sau lưng mới hiện ra, bao giờ tôi mới được nhìn thấy nụ cười ấm áp của thầy, bao giờ mới được nghe những lời lẽ vẫn đem lại cho chúng tôi những hiểu biết mới mẻ?

Trong số học sinh của thầy tôi là đứa lớn nhất. Có lẽ vì thế nên tôi học khá hơn những học sinh khác, mặc dù tôi vẫn nghĩ đó không phải là những nguyên nhân duy nhất. Mỗi lời thầy giảng, mỗi chữ thầy viết – tất cả đối với tôi đều thiêng liêng. Và trên đời này tôi không hề có gì quan trọng hơn là hiểu cho được những điều thầy dạy. Tôi muốn gìn giữ quyển vở của thầy, cho nên tôi đã lấy mũi liềm tập viết những chữ cái ra đất, dùng than viết trên vách, lấy que viết trên mặt tuyết, trên bụi đường. Tôi cảm thấy trên đời này không có ai học rộng và thông minh hơn thầy Đuysen.

Phần 3

Tiết trời đã sắp sang đông.

Trước những trận mưa tuyết đầu mùa, mỗi khi đi học chúng tôi phải lội qua một con suối lòng đá chảy róc rách dưới chân đồi. Nhưng về sau không thể nào lội qua được nữa, vì nước băng lạnh buốt cóng cả chân. Khổ nhất là những em nhỏ, thậm chí chúng phải phát khóc lên. Những lúc ấy, thầy Đuysen đã bế các em qua suối. Lưng thì cõng, tay thì bế và cứ như thế thầy lần lượt đưa hết các em sang.

Giờ đây nhớ lại cảnh xưa, thấy khó lòng mà tin được rằng tất cả những điều đó là có thực. Nhưng lúc bấy giờ, không biết vì ngu dốt hay vì nông nổi, người ta đã cười thầy Đuysen, nhất là bọn nhà giàu thường trú qua mùa đông ở trên núi và chỉ xuống làng khi cần xay thóc. Đã nhiều lần gặp chúng tôi ở chỗ lội qua suối, bọn họ, đầu đội mũ lông cáo màu đỏ, mình mặc những chiếc áo lông cừu quý, nghễu nghện trên những con ngựa hung dữ no căng, giương mặt nhìn thầy Đuysen rồi bỏ đi. Một tên trong bọn cười nấc lên và huých tay tên đi bên cạnh nói:

– Đứa thì cõng, đứa thì bế, trông đã hay chưa!

Và tên kia ghìm con ngựa đang thở phì phì, nói thêm:

– Ôi, thật đáng tiếc, sao mình không biết trước, lấy vợ lẽ là phải chọn những người như thế!

Rồi chúng quất cho ngựa chạy làm nước và bùn bắn tung toé lên chúng tôi, cười phá lên rồi đi khuất.

Sao lúc đó tôi muốn đuổi theo những con người ngu xuẩn ấy thế, muốn nắm lấy cương ngựa và quát thẳng vào những bộ mặt láo xược của họ: “Các người không được nói thầy giáo của chúng tôi như thế! Các người ngu lắm, các người tồi lắm”.

Nhưng liệu có ai chịu nghe lời một con bé thơ dại như tôi?

Và tôi chỉ còn biết nuốt những giọt lệ căm uất đang trào lên, nóng hổi. Còn thầy Đuysen thì dường như không để ý những lời lăng mạ đó, coi như không nghe thấy gì hết. Thường là thầy nghĩ ra một câu chuyện vui nào đó khiến lũ chúng tôi phá lên cười, quên mất mọi sự.

Thầy Đuysen có cố gắng bao nhiêu cũng vẫn chưa kiếm đủ gỗ để bắc một chiếc cầu nhỏ qua suối. Có lần ở trường về, sau khi đã đưa hết các em nhỏ sang, tôi cùng với thầy Đuysen dừng lại bên bờ suối. Chúng tôi quyết định lấy đá và những tảng đất cỏ đắp thành các ụ nhỏ trên lòng suối để bước qua cho khỏi bị ướt chân.

Thật ra thì bà con trong làng chỉ cần tập hợp lại và cùng nhau bắc qua suối đôi ba cây gỗ là trong nháy mắt đã có chiếc cầu cho các em đi học. Nhưng số là vì hồi ấy người ta vẫn còn u mê nên coi nhẹ việc học hành và khá ra thì cũng chỉ cho thầy Đuysen là một con người hết sức gàn dở không biết làm gì khác nên phải bày trò nhì nhằng với bọn trẻ con. Thích thì dạy, không thích thì đuổi chúng về nhà. Bản thân họ bao giờ cũng đi ngựa nên chẳng cần đến cầu. Nhưng dù sao dân làng chúng tôi tất nhiên rồi cũng phải suy nghĩ vì đâu người thanh niên ấy, vốn chẳng thua kém gì ai và cũng không ngu ngốc hơn những người khác, lại phải chịu khó, chịu thiệt, phải nghe những lời châm chọc, nhạo báng để dạy cho con cái họ học, mà lại dạy với một ý chí kiên trì hiếm có, với một quyết tâm phi thường như thế?

Hôm chúng tôi xếp đá qua dòng nước, tuyết đã phủ đầy trên mặt đất và nước buốt đến chết cóng đi được. Tôi không tưởng được thầy Đuysen làm thế nào chịu nổi – vì thầy tôi đi chân không, làm không ngơi tay. Tôi chật vật đặt chân xuống suối, tưởng chừng như dòng suối rải đầy than hồng nóng bỏng. Bỗng dưng đến giữa suối tôi bị chuột rút ở chân, người co rúm lại. Tôi không thể kêu lên một tiếng, cũng không thể đứng thẳng lên được nữa và từ từ ngã xuống nước. Đuysen lẳng tảng đá đi, nhảy ngay lại bên tôi, đỡ tôi lên tay, rồi bế tôi chạy lên bờ và lót chiếc áo choàng đặt tôi ngồi vào đấy. Thầy hết xoa hai chân đã tím bầm, cứng đờ như gỗ của tôi, lại bóp chặt đôi tay lạnh cóng của tôi trong lòng bàn tay mình, rồi đưa lên miệng hà hơi ấm cho tôi.

Thầy Đuysen khẽ nói:

– Antưnai, em ngồi đây cho ấm, đừng xuống nữa. Một mình thầy làm cũng đủ…

Cuối cùng khi những chỗ đặt chân xếp đã xong. Đuysen vừa xỏ chân vào ủng, vừa nhìn nét mặt ỉu xìu, tái mét của tôi và mỉm cười hỏi:

– Thế nào, cô em giúp việc, đã đỡ rét chưa? Khoác cái áo choàng lên, thế… thế! – Thầy yên lặng một lát rồi hỏi:

– Antưnai, lần ấy có phải em trút lại kigiăc ở trường không?

– Vâng ạ, – tôi đáp.

Thầy hơi nhếch mép mỉm cười, như thể tự nhủ: “Mình đoán đúng mà!”

Tôi còn nhớ lúc ấy máu dồn lên má tôi nóng ran: như vậy nghĩa là thầy đã biết và chưa quên một điều tưởng như nhỏ mọn ấy. Tôi sung sướng quá, lịm cả người đi và Đuysen cũng hiểu niềm hân hoan của tôi.

– Dòng suối trong trẻo của thầy, – thầy âu yếm nhìn tôi nói, – em thông minh lắm…Ôi, ước gì thầy được gửi em ra thành phố lớn. Em còn sẽ khá hơn biết chừng nào.

Đuysen bước nhanh lên bờ.

Và giờ đây tôi mường tượng thấy thầy đang đứng trước mặt tôi, như lúc bấy giờ thầy đã đứng giữa dòng suối đá đang réo lên ầm ầm, hai tay để sau gáy và đôi mắt long lanh đăm đăm nhìn theo những đám mây trắng xa tít đang bị gió thổi cuốn qua các ngọn núi.

Thầy nghĩ gì khi ấy? Có thể thầy đang mơ tưởng cho tôi ra một thành phố lớn học thật chăng? Còn tôi, lúc bấy giờ cuộn tròn trong chiếc áo choàng của thầy Đuysen, tôi thầm nghĩ: “Ước gì thầy là anh ruột của tôi! Ước gì tôi được bá cổ thầy, nhắm nghiền mắt lại và thủ thỉ với thầy những lời đẹp đẽ nhất! Trời ơi, ước gì thầy Đuysen là anh ruột tôi!”

Chắc chắn tất cả đám học sinh chúng tôi đứa nào cũng yêu mến thầy vì tấm lòng nhân từ, vì những ý nghĩ tốt lành, vì những ước mơ của thầy về tương lai chúng tôi. Tuy chúng tôi còn bé, nhưng tôi nghĩ rằng lúc đó chúng tôi đều đã hiểu được những điều ấy. Còn có cái gì khác bắt chúng tôi ngày nào cũng đi xa, leo đồi lội suối, bạt hơi vì gió rét, chân ngập trong những cồn tuyết như vậy được nữa? Chúng tôi tự nguyện đến trường, không ai phải xua chúng tôi đến cả. Không ai có thể buộc chúng tôi phải chịu cóng trong căn nhà kho lạnh lẽo: tuy ngồi trong nhà, mà mỗi khi thở ra là hơi giá bám trắng xoá cả mặt mũi, tay chân, quần áo. Chúng tôi chỉ dám thay phiên nhau đứng sưởi cạnh lò, còn tất cả đành phải ngồi tại chỗ nghe thầy Đuysen giảng bài.

Vào một trong những ngày giá buốt ấy – tôi còn nhớ là khoảng cuối tháng giêng. – Đuysen, vẫn như thường lệ, đến từng nhà tập hợp tất cả chúng tôi lại và dẫn tới trường. Thầy lặng lẽ bước đi, không nói một lời, vẻ nghiêm nghị, đôi lông mày nhíu lại như đôi cánh chim ưng và nét mặt lại như luyện bằng thép. Chưa bao giờ chúng tôi nom thấy thầy như vậy. Chúng tôi liếc nhìn thầy rồi cũng đều im lặng: chúng tôi cảm thấy có điều gì không lành.

Mỗi khi trên đường đi có những đống tuyết lớn là thầy Đuysen thường đi trước để mở đường, tôi đi theo sau thầy, rồi đến các bạn khác. Lần này cũng thế; ở chỗ chân gò đêm qua tuyết xuống nhiều nên Đuysen lại đi trước. Đôi khi chỉ cần nhìn vào lưng một người ta đã có thể đoán biết ngay được tâm trạng họ ra sao, có những cảm xúc gì đang diễn ra trong lòng họ. Lúc đó cũng vậy, có thể thấy rõ thầy Đuysen đang có điều gì đau buồn vô hạn. Đầu thầy cúi gầm xuống, hai chân lê đi một cách khó nhọc. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ mãi cái cảnh khủng khiếp của những màu đen, màu trắng lần lượt tiếp theo nhau trước mắt tôi. Chúng tôi nối đuôi nhau leo lên đồi. Dưới chiếc áo choàng màu đen, lưng thầy Đuysen khom hẳn lại và trên đỉnh dốc nhấp nhô những đống tuyết trắng trông như những cái bướu lạc đà, gió vẫn cuồn cuộn thổi hất tuyết từ các ụ đó xuống. Và cao hơn nữa – trên bầu trời trắng nhờ nhờ lơ lửng một đám mây đen cô độc.

Khi chúng tôi tới trường thầy Đuysen không nhóm lò sưởi.

Thấy nói:

– Các em đứng dậy!

Chúng tôi đứng dậy.

– Bỏ mũ xuống!

Chúng tôi ngoan ngoãn nghe theo và thầy cũng bỏ chiếc mũ kị binh ở trên đầu xuống. Chúng tôi không hiểu tại sao phải làm như thế. Lúc đó thầy cất giọng khàn khàn nói đứt quãng:

– Lênin đã mất. Giờ đây trên khắp quả đất đang mặc niệm Người. Các em cũng hãy đứng tại chỗ và yên lặng. Các em hãy nhìn lên đây, nhìn bức chân dung này. Các em hãy ghi nhớ lấy ngày hôm nay.

Toàn trường chúng tôi lặng ngắt đi, tưởng chừng như đã vùi kín dưới tuyết. Có thể nghe thấy tiếng gió lùa qua các kẽ hở. Có thể nghe thấy cả tiếng những bông tuyết rơi nhè nhè xuống mái rơm.

Trong giờ phút ấy, trong khi tất cả các thành phố vốn nhộn nhịp đều đã lặng đi, trong khi những công xưởng đã làm rung chuyển cả mặt đất đã im bặt tiếng máy, trong khi những đoàn tàu lăn bánh ầm ầm bỗng đứng lặng yên trên các đường sắt, trong khi toàn thế giới đang chìm sâu trong tang tóc, – trong giờ phút đau thương đó thầy trò chúng tôi, một bộ phận nhỏ bé của toàn dân, cũng đang nín thở, nghiêm trang đứng mặc niệm trong căn nhà kho lạnh giá không hề ai biết tới, được gọi là trường học ấy, để vĩnh biệt Lênin, thầm cho mình là những kẻ thân thuộc nhất của Người và thương tiếc Người hơn ai hết. Còn Lênin của chúng tôi vẫn vận chiếc áo dài quân nhân hơi rộng với cánh tay bị thương treo ngang trên ngực, vẫn từ trên vách nhìn xuống chúng tôi, cái nhìn trong sáng vẫn như nói với chúng tôi: “Các cháu ơi, giá các cháu biết một tương lai đẹp đẽ nhường nào đang chờ các cháu!” Và tôi có cảm giác rằng trong giây phút yên lặng đó Người đang nghĩ về tương lai của tôi thật.

Sau đó thầy Đuysen đưa ống tay áo lên lau nước mắt và nói:

– Hôm nay thầy phải lên huyện. Thầy đi để gia nhập Đảng. Ba ngày nữa thầy sẽ về.

Đối với tôi ba ngày đó mãi mãi là những ngày lặng lẽ nhất trong những ngày đông tháng giá mà tôi phải chịu đựng. Dường như có những sức mạnh hùng vĩ nào của thiên nhiên đang muốn ra sức thay thế trên mặt đất con người vĩ đại vừa đi khỏi thế giới của chúng ta: gió không ngừng thổi réo lên từng cơn, bão tuyết cứ quay cuồng không ngớt, băng giá kêu lanh lảnh như tiếng sắt… Sức mạnh của thiên nhiên không sao yên được: nó lồng lộn, vật vã trên mặt đất, khóc than nức nở.

Làng tôi chìm lặng dưới chân những ngọn núi lờ mờ tối sẫm giữa các tầng mây mù bay là là sát đất. Những làn khói trắng nhỏ toả ra từ các ống khói ngoằn ngoèo. Không một ai ló ra khỏi nhà. Hơn nữa lũ chó sói đói bỗng trở nên liều lĩnh. Ban ngày chúng trắng trợn hoành hành trên các ngả đường, tối đến chúng sục sạo ở ngay cạnh làng và suốt đêm cho tới sáng cứ tru lên đói khát, điên dại.

Không hiểu sao tôi cứ lo thay cho thầy chúng tôi: không có áo lông, chỉ mặc phong phanh chiếc áo choàng bộ đội ấy thì thầy làm sao chịu được cơn rét này? Và đến ngày Đuysen phải về, tâm can tôi cứ như lửa đốt: lòng tôi đã cảm thấy có điều gì chẳng lành. Chốc chốc tôi lại chạy ra sân, nhìn ra cánh thảo nguyên vắng vẻ phủ đầy tuyết trắng xem thầy giáo có xuất hiện trên đường cái không. Nhưng vẫn không có lấy một bóng người.

“Thầy ơi, thầy ở đâu? Em van thầy, thầy đừng về khuya đấy, về nhanh lên thầy! Chúng em đang đợi thầy đây, thầy có nghe thấy không? Chúng em đang mong ngóng thầy về”.

Nhưng thảo nguyên không hề đáp lại tiếng gọi thầm lặng của tôi và không hiểu sao tôi oà lên khóc nức nở.

Thím tôi đã phải bực mình vì tôi cứ ra vào mãi. Rồi thím giơ ngón tay lên đe tôi:

– Hôm nay mày có để cho cái cửa được yên không nào? Ngồi ngay vào một chỗ, cầm lấy ống sợi mà quay. Mày làm cho mấy đứa trẻ chết cóng lên rồi đấy. Có giỏi cứ nhảy ra ngoài một lần nữa tao xem nào! – Và thím không cho tôi ra khỏi nhà nữa.

Trời đã sẩm tối, thế là tôi không được biết thầy đã về hay chưa. Vì thế tôi không thể nào ngồi yên được. Khi thì tôi tự an ủi rằng Đuysen chắc đã về đến làng rồi – vì chưa lần nào thầy trở về lỡ hẹn cả. Khi thì tôi lại chợt nghĩ hay thầy bị ốm nên phải đi chậm, hễ trời nổi cơn bão tuyết lên là đêm hôm thế này chẳng mấy chốc thầy sẽ bị lạc trên thảo nguyên. Tôi không sao làm việc được nữa, không sao điều khiển nổi hai cánh tay, sợi cứ đứt luôn, làm cho thím tôi điên tiết lên.

– Hôm nay mày làm sao thế? Tay mày là tay gỗ hay sao? – thím tôi càng nói càng nổi xung, mắt lườm tôi. Cuối cùng không sao chịu được nữa, thím quát:

– Ô, sao mày không chết quách đi cho rảnh! Tốt hơn hết là mày xéo đi, mang trả cho bà cụ Xaikan cái bao tải.

Thiếu chút nữa tôi đã nhảy cẳng lên vì vui sướng. Thầy Đuysen lại ở ngay nhà bà cụ Xaikan. Hai ông bà Kartanbai và Xaikan vốn có họ xa với mẹ tôi. Trước đây tôi vẫn thường lui tới chỗ hai cụ, đôi khi tôi còn ngủ lại đấy nữa. Không hiểu thím tôi có nhớ tới chuyện đó hay trời xui khiếm thím ấy. Thím vừa dúi cái bao tải vào tay tôi vừa nói thêm:

– Hôm nay mày làm tao phát ngấy lên, như trong những năm đói phải ăn cám mãi ấy. Cút đi ngay, nếu ông cụ bà cụ cho ngủ thì ở quách lại đằng ấy. Đi cho khuất mắt tao…

Tôi chạy vụt ra sân. Gió cứ điên cuồng lồng lộng như một lão phù thủy hung dữ: nó sặc sụa một lát, rồi phần phật thổi hắt tung những nắm tuyết lạnh buốt vào khuôn mặt nóng bừng của tôi. Tôi cặp chặt chiếc bao tải vào nách và chạy một mạch theo những vết chân ngựa thưa thớt còn mới nguyên đến cuối làng. Trong đầu tôi bấy giờ chỉ có một ý nghĩ duy nhất: “Đã về chưa, thầy giáo đã về chưa?”.

Tôi chạy tới nơi, nhưng không thấy thầy đâu. Thấy tôi im thin thít đứng ngoài ngưỡng cửa, thở hổn hển, bà cụ Xaikan lo sợ hỏi:

– Cháu làm sao thế? Sao cháu phải chạy hộc tốc thế? Có chuyện gì chẳng lành phải không?

– Không ạ, chẳng sao đâu ạ. Cháu mang cái bao tải đến đây này. Bà cho cháu ở lại đây tối nay được không?

– Cháu quý của bà, cháu cứ ở lại đây. Trời ơi, con ranh này làm cho hoảng cả lên, sao từ mùa thu đến giờ cả thấy cháu thò mặt đến? Cháu ngồi lại gần lửa mà sưởi cho ấm.

Ông cụ Kartanbai đang ngồi cạnh cửa sổ vá mấy chiếc ủng cũ nói vọng ra:

– Này, bà nó này, đem thịt rang lại cho cháu gái nó ăn đi. May ra Đuysen cũng sắp về rồi đấy. Lẽ ra anh ấy phải về từ lâu rồi, nhưng không sao, anh ấy sắp về đấy, cũng mới bắt đầu tối thôi. Con ngựa nhà này phóng nước mã hồi nhanh lắm.

Ngoài cửa sổ trời đã tối sẫm lại từ lúc nào không biết. Trong lòng tôi cứ thấp thỏm không yên. Mỗi khi nghe thấy tiếng chó sủa hay tiếng người nói văng vẳng là tôi im lặng đi. Nhưng thầy Đuysen vẫn chưa về. May sao bà cụ Xaikan luôn miệng nói chuyện này chuyện nọ, thành thử cũng đỡ sốt ruột.

Chúng tôi cứ thế đợi thầy Đuysen hết giờ này sang giờ khác, nhưng tới gần nửa đêm ông cụ Kartanbai cũng đã mệt và bảo bà cụ:

– Thôi, bà nói trải giường đi. Anh ấy chả về tối nay đâu khuya rồi. Các ông lãnh đạo ấy khối việc ra, chắc lại giữ anh ta lại thôi, không thì anh ấy đã về đến nhà từ lâu rồi.

Ông cụ lên giường ngủ.

Bà cụ dọn chỗ nằm cho tôi trong góc nhà sau lò sưởi. Nhưng tôi không tài nào chợp mắt được. Ông cụ cứ ho húng hắng, trở mình thì thầm đọc kinh, rồi lo lắng lẩm bẩm:

– Chả hiểu con ngựa của mình ra sao? Đến nắm cỏ cũng chẳng ai cho không, còn lúa thì dù có tiền cũng chẳng mua được cho nó ăn.

Chả mấy chốc cụ Kartanbai đã ngủ say. Nhưng ngoài trời gió vẫn không dịu xuống. gió sục sạo trên mái nhà, lùa những đuôi mái tranh ở đầu hồi bay lất phất, quất từng trận vào cửa kính. Nghe thấy cả tiếng tuyết rơi đập vào tường ở mé ngoài.

Lời nói của ông cụ cũng chẳng làm tôi yên tâm được. Tôi cứ có cảm tưởng là thầy giáo sắp về đến nơi và tôi cứ nghĩ mãi về thầy, hình dung thấy thầy đang trên đường về, ở giữa cánh đồng tuyết phủ mênh mông. Tôi cũng không hiểu tôi chợp mắt ngủ được bao lâu, nhưng bỗng có cái gì khiến tôi phải cất đầu lên khỏi mặt gối. Có tiếng tru ú ớ chuyền đi trên mặt đất rồi mất hút trong thinh không. Chó sói! Và không phải chỉ một con, mà cả một bầy. Lũ chó sói gọi nhau ở tứ phía, rồi dồn lại rất nhanh. Những tiếng tru của bầy sói quyện lại với nhau thành một tiếng rống kéo dài hoà theo gió vang đi khắp thảo nguyên, khi xa dần, khi gần lại. Có khi tưởng chừng luẩn quẩn đâu đây, ngay bên cạnh, ngay ngoài đầu làng.

– Tiếng sói gọi bão đấy! – Bà cụ thì thầm.

Ông cụ im lặng lắng tai nghe, rồi nhảy từ trên giường xuống.

– Không, bà nó ạ, không phải chỉ có thế đâu! Chó sói đang rượt theo ai. Chúng nó vây người hay ngựa đấy. Thấy không? Cầu chúa phù hộ cho Đuysen tai qua nạn khỏi. Anh ấy chẳng biết lo nghĩ gì cả, anh ấy còn trẻ người non dạ quá thôi! – Ông cụ Kartanbai đứng phắt dậy, tìm cái áo lông trong bóng tối. – Đèn đâu, bà nó ơi, thắp cái đèn lên! Trời ơi nhanh lên!

Chúng tôi run cầm cập vì sợ hãi và choàng dậy. Trong lúc bà cụ Xaikan tìm được đèn, đang thắp lên thì tiếng chó sói rống bỗng câm bặt, như bị cắt ngang.

– Lũ chó chết tiệt chộp được mồi rồi. – Ông cụ Kartanbai thét to lên, vớ lấy chiếc gật toan chạy ra cửa, nhưng vừa lúc ấy lại có tiếng chó sủa. Có tiếng đế giày bước lạo xạo trên mặt tuyết, có ai chạy qua dưới các cửa sổ, rồi có tiếng gõ mạnh, dồn dập vào cánh cửa.

Hơi lạnh ở bên ngoài lùa vào phòng thành một đám mây dày đặc. Khi đám mây đó đã tan hết, chúng tôi mới nhìn thấy Đuysen. Mặt xám ngắt, thở hổn hển, thầy lảo đảo bước qua ngưỡng cửa, rồi ngả lưng dựa vào tường.

– Súng! – Đuysen nói trong tiếng thở phào. Nhưng chúng tôi hầu như không hiểu thầy định nói gì. Mắt tôi tối sầm lại, rồi tôi chỉ còn nghe thấy hai cụ vừa khóc vừa than thở.

– Xin cúng một con cừu đen, xin cúng một con cừu trắng! Thôi nhờ đức Baubêdin phù hộ cho anh. Có phải anh đấy không?

– Súng, đưa súng đây cho tôi! – Thầy Đuysen nhắc lại.

– Không có, anh định làm gì đấy, anh đi đâu?

Ông cụ và bà cụ mỗi người bám lấy một bên vai thầy Đuysen.

– Đưa cho tôi cái gậy vậy!

Nhưng hai cụ khẩn khoản nói:

– Chừng nào chúng tôi còn sống, anh không được đi đâu cả, không đi đâu nữa. Thà anh giết chúng tôi ngay tại chỗ còn hơn.

Tôi bỗng thấy người mệt lả rã rời, đành lặng lẽ nằm xuống giường.

– Tôi không kịp… chúng đã đuổi sát đến tận nhà – thầy Đuysen vừa thở hổn hển vừa nói rồi lẳng chiếc roi da vào góc nhà. – Dọc đường về ngựa đã kiệt sức, rồi lại bị chó sói đuổi, nó vừa chạy đến đầu làng thì ngã gục xuống. Lũ chó sói nhảy xổ ngay tới.

– Thôi kệ xác nó, quý hồ anh còn sống là được rồi. Con ngựa mà không quỵ xuống thì chúng nó cũng chẳng tha cho anh về đâu. May mà đức Baubêdin phù hộ cho nên mới được như thế. Bây giờ cởi áo ra, ngồi lại gần lửa mà sưởi. Đưa tôi tháo ủng cho – cụ Kartanbai lăng xăng bên cạnh Đuysen nói, – còn bà lão xem có gì ăn đem ra hâm lại đi.

Họ ngồi xuống cạnh lửa và bây giờ cụ Karkunbai mới thở phào nhẹ nhõm.

– Thôi, cái gì trời đã định là không sao tránh khỏi. Nhưng sao anh lại ra về muộn thế?

– Thưa bác, hội nghị ở uỷ ban huyện bị kéo dài. Cháu vào Đảng rồi.

– Hay lắm. Nhưng sáng hôm sau hãy về có phải hơn không, nào có ai bắt anh phải về ngay đâu.

– Cháu đã trót hứa với các em là sẽ về hôm nay. – Thầy Đuysen đáp. – Mai phải bắt đầu học rồi.

– Ôi, thật là ngốc! – Cụ Kartanbai nhổm cả người dạy và bực dọc lắc đầu. – Này, bà già nó ơi, thử nghe xem: anh ấy đã trót hứa với lũ trẻ con, với cái bọn nhãi ấy mất rồi! Thế nhỡ mệnh hệ nào thì sao hả! Mà anh có hiểu là anh đang nói gì không?

– Đây là bổn phận của cháu, nhiệm vụ của cháu bác ạ. Nhưng còn cái này bác thử nghĩ xem: thường cháu vẫn đi bộ, thế mà lần này, không biết ma quỷ nào xui khiến cháu mượn của bác con ngựa để đem cúng cho lũ sói…

Cụ Kartanbai cáu kỉnh nói:

– Nhưng tôi không nói chuyện ấy. Con ngựa chết tiệt ấy mất đi thì mặc xác nó. Coi như nó hiến thân để chuộc mạng cho anh! Trước kia hàng bao nhiêu năm tôi không có ngựa, thì bây giờ mất ngựa cũng chẳng sao. Chính quyền Xô-viết còn thì tôi còn làm ra được.

– Ông già nói phải đấy, – bà cụ Xaikan tiếp lời, giọng đầy nước mắt, – Chính quyền Xô-viết còn là ta sẽ còn lảm ăn được… Này, ăn đi con, kẻo nguội mất.

Họ yên lặng. Một lát sau cụ Kartanbai vừa cời than hồng ra, vừa nói, vẻ trầm ngâm:

– Anh Đuysen, tôi xem anh cũng không đến nỗi đần độn mà lại còn thông minh nữa là khác. Nhưng tôi vẫn không hiểu tại sao anh cứ bịn rịn với cái trường này, với bọn trẻ con khờ dại ấy? Hay anh không kiếm được nghề nào khác? Anh cứ đi chăn cừu thuê cho người ta cũng sẽ được no ấm chán…

– Bác ạ, cháu hiểu rằng bác chỉ mong điều lành cho cháu. Nhưng nếu những trẻ thơ dại kia sau này cũng cứ nói như bác cần gì trường học, cần gì phải đi học, thì sự nghiệp của nhà nước Xô-viết sẽ chẳng nhích đi được bao xa. Thế nhưng bác lại muốn sao cho chính quyền Xô-viết đứng vững, sao cho nó sống mãi. Chính vì vậy nên đối với cháu trường học không phải là gánh nặng bác ạ, giá cháu dạy được cho các em học thật tốt thì cháu không còn mơ ước gì hơn nữa. Chính Lênin đã từng nói…

– Ừ thì tiện anh nói… – Cụ Kartanbai chặn lời Đuysen, yên lặng một lát rồi nói tiếp: – Đấy, anh cứ đau buồn thương tiếc mãi. Nhưng nước mắt cũng chẳng làm cho Lênin sống lại được! Hừ, giá có được phép lạ ấy! Hay là anh tưởng những người khác không hề buồn, không hề đau khổ chăng?… Anh thử nhìn vào tận trong lồng ngực tôi mà xem, tim tôi cũng ứa máu ra chứ có phải không đâu. Tôi không biết làm như vậy có hợp với cái chính trị của anh không, chứ mặc dầu Lênin là người khác tín ngưỡng, tôi cứ mỗi ngày năm lần cầu nguyện cho Người. Anh Đuysen ạ, có khi tôi lại nghĩ rằng dẫu chúng ta khóc Người bao nhiêu chăng nữa cũng chẳng được ích gì. Anh Đuysen ạ, tôi cứ tự phán đoán theo lối các cụ thế này: Lênin bao giờ cũng sống mãi trong nhân dân và cứ theo dòng máu lưu truyền từ đời cha đến đời con…

– Thật cháu xin cảm ơn những lời bác nói. Bác nghĩ đúng lắm, Lênin tuy mất rồi, nhưng chúng ta sẽ noi gương Người mà sống.

Trong khi nghe cụ Kartanbai và Đuysen nói chuyện với nhau tôi hoàn hồn dần: hồn vía tôi từ một nơi nào xa lắm từ từ trở lại. Thoạt đầu tất cả những việc xảy ra hệt như một giấc mơ. Mãi tôi vẫn chưa tin được rằng Đuysen đã về, vẫn còn sống và vẫn lành lặn. Rồi một nguồn vui bồng bột, chan hoà như dòng nước lũ mùa xuân tràn vào tâm hồn tôi, rồi dường như chìm ngập trong dòng tình cảm nóng hổi đó, tôi oà lên khóc nức nở. Có lẽ chưa có ai qua những phút mừng rỡ như tôi bấy giờ. Trong giây phút đó đối với tôi không còn gì tồn tại nữa: kể cả túp lều vách đất, cả đêm bão tuyết ngoài sân, cả đàn sói đang xâu xé con ngựa duy nhất của cụ Kartanbai ở đầu làng. Không có gì nữa hết! Tất cả tâm hồn, ý nghĩa, cả con người tôi đều tràn ngập một niềm hạnh phúc phi thường, không lường hết được, vô tận, vô cùng như vũ trụ. Tôi trùm chăn kín đầu và bịt chặt miệng lại để đừng ai nghe thấy tiếng khóc của tôi. Nhưng thầy Đuysen đã hỏi:

– Ai khóc thút thít sau lò sưởi thế?

Bà cụ Xaikan đáp:

– Antưnai đấy mà, lúc nãy nó sợ quá nên đang khóc đấy.

– Antưnai à? Em ấy ở đâu đến đây? – Thầy Đuysen đứng phắt dậy chạy lại quỳ xuống đất ngay cạnh đầu giường tôi rồi khẽ chạm tay vào vai tôi: – Antưnai làm sao thế? Tại sao em khóc?

Tôi quay mặt vào tường và càng khóc to hơn trước.

– Sao thế, sao em sợ đến thế? Em đã lớn rồi kia mà, sao lại thế… nào, nhìn thầy này…

Tôi ôm chặt lấy thầy Đuysen, áp chặt đôi má nóng bừng, ướt đẫm nước mắt vào vai thầy giáo và khóc nức nở, không tài nào tự chủ được nữa. Niềm vui sướng tràn ngập tâm hồn tôi, tôi run lên như trong cơn sốt và không còn đủ sức để kìm lại nữa.

– Ừ…hẳn là con bé hồn xiêu phách lạc đi đâu hết. Cụ Kartanbai cũng đâm lo và đứng dậy. – Kìa, bà khấn khứa cho nó một tí, nhanh lên nào…

Và cả hai cụ bỗng tíu tít cả lên. Bà cụ Xaikan thì thầm mấy câu thần chú, rồi vẩy hết nước lạnh đến nước nóng vào mặt tôi, xông hơi cho tôi và cũng khóc oà lên cùng với tôi.

Trời ơi, giá các cụ hiểu được rằng tôi “hồn xiêu phách lạc” vì một niềm hạnh phúc lớn lao mà tôi không đủ sức để kể ra có lẽ cũng không tài nào diễn tả nổi.

Thầy Đuysen vẫn ngồi cạnh tôi, đưa bàn tay mát lạnh vuốt nhẹ lên vầng trán nóng hổi của tôi cho đến lúc tôi nín hẳn và ngủ thiếp đi.

Phần 4

Phần 4

… Mùa đông đã du mục sáng bên kia đèo. Mùa xuân đang lùa những đàn gia súc màu xanh của nó đến. Trên những cánh đồng bằng, tuyết đã tan, mặt đất ướt như sưng phù lên từng chỗ. Từ miền ấy, những luồng hơi ấm bốc lên lùa vào núi, mang theo hơi thở mùa xuân của đất đai, hương vị của sữa đang lên hơi. Các cồn tuyết cũng xẹp xuống, những tảng băng trên núi đã chuyển mình và các dòng suối đóng băng cũng nứt nẻ, vỡ toác ra, rồi tràn lên, cuồn cuộn chảy thành những thác nước dũng mãnh réo ầm ầm trong các thung lũng.

Có lẽ đó chính là mùa xuân đầu tiên trong thời niên thiếu của tôi. Dù sao đối với tôi nó cũng vẫn đẹp hơn tất cả các mùa xuân trước. Đứng ở trường chúng tôi, từ trên đỉnh đồi, có thể nhìn thấy cả thế giới tươi đẹp của mùa xuân mở rộng ra trước mắt. Mặt đất dường như dang tay chạy từ trên núi xuống và không đủ sức dừng lại nữa, cứ lao vùn vụt vào các vùng xa tắp của cánh thảo nguyên đang lấp lánh như bạc dưới ánh nắng, bao phủ trong một làn hơi huyền ảo. Ở một nơi nào xa tít tận góc biển chân trời có những hồ nước băng tan xanh biếc, ở một nơi nào xa tít tận góc biển chân trời có những bầy ngựa đang hí lên, trên nền trời xanh đàn sếu bay qua cánh nâng những làn mây trắng. Đàn sếu bay từ đâu tới và gọi lòng người về đâu mà cất tiếng kêu lanh lảnh buồn buồn như vậy?

Mùa xuân tới, gieo vui vào lòng chúng tôi. Chúng tôi bày đủ trò chơi, luôn cất tiếng cười vô cớ, cứ đến giờ tan học, suốt dọc đường về làng, chúng tôi vừa chạy vừa gọi nhau ầm ĩ. Thím tôi rất ghét cái lối ấy và không bỏ lỡ dịp mắng mỏ tôi:

– Con đĩ, mày làm gì mà cứ tớn tác lên thế? Mày làm bà cô thế mãi mà không biết dơ à? Con nhà có phúc như người ta mà bằng tuổi mày cũng đã có chồng có con vui nhà vui cửa từ lâu rồi, còn mày thì… Đằng này lại thích đi học cơ! Nhưng cứ đợi đấy…bà sẽ cai quản mày…

Thật ra thì tôi cũng chẳng để tâm đến những lời doạ nạt của thím ấy lắm, vì đó không phải chuyện lạ – suốt đời thím ấy chỉ chửi mắng. Còn nói rằng tôi làm bà cô thì thật không đúng chút nào. Có điều là mùa xuân năm nay tôi lớn như thổi.

Thầy Đuysen nói đùa tôi:

– Em còn là một cô bé đầu bù tóc rối, mà hình như tóc em lại còn đỏ nữa kia chứ!

Những lời của thầy không làm tôi chạnh lòng chút nào cả. Tôi thầm nghĩ: “tất nhiên mình đầu bù tóc rối thật đấy, nhưng tóc mình chả đỏ tí nào đâu. Rồi đến lúc mình lớn hơn ít nữa, mình sẽ là một cô gái đến tuổi lấy chồng, mình chả đầu bù tóc rối thế này nữa đâu. Lúc đó thím cứ thử nhìn xem mình có xinh không”. Thầy Đuysen vẫn nói tôi có đôi mắt sáng như sao, có khuôn mặt cởi mở thật thà.

Có một lần, khi chạy ở trường về, tôi thấy hai con ngựa lạ đứng ngoài sân. Cứ trông yên ngựa, dây thắng, cũng biết chủ của chúng là những người ở trên núi xuống. Và trước đây cũng có khi họ đã ghé vào nhà chú tôi mỗi khi đi chợ về hay mang thóc xuống xay.

Đứng ngoài ngưỡng cửa tôi đã nhói lên vì tiếng cười thiếu tự nhiên của thím tôi:

– Gớm, thôi, đừng lo anh ạ, không nghèo đi đâu mà sợ. Rồi sau này khi con chim non đã cầm chắc trong tay rồi, anh sẽ thầm cảm ơn tôi cho mà xem, hì hì hì! – Đáp lại lời thím tôi có tiếng vâng dạ rối rít và những tiếng cười ha hả. Đến khi tôi bước vào cửa thì mọi người im bặt. Cạnh đống nỉ phủ chiếc khăn trải bàn có một người đàn ông to béo phục phịch, mặt đỏ, ngồi chềnh ềnh như khúc gỗ. Đầu hắn đội mũ lông chồn che kín cả cái trán nhễ nhại mồ hôi. Hắn đưa mắt liếc tôi rồi đằng hắng một cái và cụp mắt xuống.

Thím tôi nhoẻn miệng cười âu yếm, nói:

– Ồ, con đã về đấy à, vào đây con!

Chú tôi cũng ngồi cạnh đống nỉ với một người lạ mặt. Hai người vừa đánh bài, vừa nhắm rượu với bánh ô mạch. Cả hai đều ngà ngà say và mỗi khi họ quất bài xuống, đầu họ cứ lắc lư đến kì quặc.

Con mèo mướp bò lên chỗ khăn trải bàn, nhưng lão mặt đỏ dùng đốt ngón tay cốc mạnh vào đầu nó một cái, khiến nó kêu thét lên, rồi nhảy vọt sang một bên và chúi đầu vào xó nhà. Khổ thân con mèo, nó đau quá! Tôi muốn bỏ đi ngay, nhưng tôi không biết làm thế nào. May vừa lúc ấy thím tôi nói:

– Con ạ, thức ăn ở trong chảo ấy, con ăn đi kẻo nguội.

Tôi bước ra khỏi phòng, trong lòng rất khó chịu với thái độ của thím tôi vừa rồi. Và tôi bắt đầu thấy chột dạ. Tôi bất giác đề phòng.

Chừng hai giờ sau, hai người khách lên ngựa trở về núi. Lập tức thím tôi lại bắt đầu chửi mắng tôi như thường lệ và tôi thấy đỡ lo. Tôi nghĩ thầm: “té ra thím có vẻ ôn tồn như vậy chẳng qua vì say rượu thôi”.

Ít lâu sau có lần bà cụ Xaikan ghé qua nhà chú tôi. Lúc đó tôi ở ngoài sân, nghe thấy bà cụ nói:

– Lạy trời, mợ làm gì vậy! Mợ giết nó thôi.

Bà cụ Xaikan và thím tôi lấp cả lời nhau, tranh cãi kịch kiệt điều gì và lát sau cụ Xaikan bước ra khỏi nhà, vẻ rất tức giận. Bà cụ nhìn tôi bằng đôi mắt vừa giận dữ vừa thương xót và lặng lẽ ra về. Tôi bỗng thấy bứt rứt trong người. Tại sao cụ lại nhìn tôi như vậy, tôi đã làm gì đến nỗi cụ không hài lòng?

Ngày hôm sau đến trường tôi nhận thấy ngay thầy Đuysen vẻ mặt sa sầm, như đang có điều gì lo nghĩ, mặc dầu thầy cố giấu đi. Tôi còn nhận thấy có điều nữa là không hiểu tại sao thầy không hề nhìn về phía tôi. Sau buổi học, khi chúng tôi ào ào chạy ra khỏi trường như ong vỡ tổ, thầy Đuysen gọi giật tôi lại:

– Antưnai, đứng lại thầy bảo. – Thầy bước lại gần tôi, nhìn chằm chằm vào mắt rồi đặt tay lên vai tôi. – Em đừng về nhà nữa. Antưnai, em có hiểu thầy không?

Tôi lặng người đi vì kinh hãi. Bây giờ tôi mới hiểu thím tôi định làm gì tôi.

Thầy Đuysen nói:

– Thầy sẽ chịu trách nhiệm về em. Em ở tạm nhà bác Kartanbai với thầy. Và lúc nào cũng phải đi theo thầy.

Chắc hẳn lúc ấy tôi không còn chút máu mặt nào nữa. Thầy Đuysen lấy tay nâng cằm tôi lên, nhìn thẳng vào mắt tôi và mỉm cười như mọi khi:

– Antưnai, em đừng sợ! – Thầy vừa cười vừa nói. – Thầy còn ở bên em, thì em không phải sợ ai cả. Em cứ học đi, cứ đến trường như cũ và đừng nghĩ ngợi gì… Vì thầy vẫn biết là em nhát lắm. Và nhân đây thầy kể cho Antưnai nghe một câu chuyện mà thầy đã định kể từ lâu – thầy Đuysen lại phì cười, hẳn đang nhớ lại điều gì ngộ nghĩnh – Chắc em còn nhớ có lần cụ Kartanbai dậy thật sớm và biến đi mất ấy. Té ra cụ đi mời… cụ dẫn ai về nhà em có biết không? Dẫn bà lang Giainakôva về. Thầy hỏi: “Làm gì thế bác?”. Cụ trả lời là: “Ấy để cho bà ấy cúng bái một chút đi gọi hồn nó về, không thì con bé sợ quá hồn xiêu phách lạc đi đâu mất”. Thầy nói: “Mời bà ấy ra đi, không lại phải cúng cho bà ấy một con cừu mất thôi. Mà nào nhà mình có giàu có gì cho cam. Ngựa cũng chả có mà cúng, có mỗi con thì cúng bầy chó sói mất rồi…”. Còn em thì lúc đó đang ngủ say. Thế là thầy đuổi cổ được mụ thầy cúng ra khỏi nhà. Về sau cụ Kartanbai giận thầy suốt một tuần lễ, không thèm trò chuyện với thầy. Ông cụ nói: “Tôi già cả thế này mà anh còn chơi khăm tôi”. Nhưng ông cụ, bà cụ là những người phúc hậu, hiếm có những người tốt như thế. Thôi bây giờ ta về đi, Antưnai…

Dù tôi có cố gắng can đảm lên bao nhiêu cho thầy Đuysen khỏi bận tâm, những ý nghĩ lo sợ cũng vẫn không buông tha tôi. Vì bất thần lúc nào thím tôi cũng có thể đến cưỡng bức lôi tôi đi. Rồi ở nhà họ muốn làm gì thì làm, không ai ở trong làng cấm được họ cả. Suốt đêm tôi trằn trọc không ngủ được vì mải lo nghĩ tới tai hoạ sắp đến.

Tất nhiên thầy Đuysen hiểu rõ tâm trạng tôi. Cũng có thể vì muốn xua đuổi những ý nghĩ đen tối đó của tôi nên ngày hôm sau thầy mang về trường hai cây phong nhỏ. Sau buổi học, thầy cầm tay tôi dẫn sang một bên.

Thầy mỉm một nụ cười bí ẩn và bảo tôi:

– Antưnai, bây giờ thầy với em cùng làm chung một việc. Hai cây phong này thầy mang về cho em đấy. Chúng ta sẽ cùng trồng. Và trong khi chúng lớn lên, ngày một thêm sức sống, em cũng sẽ trưởng thành, em sẽ là một người tốt. Em có một tâm hồn đẹp và một đầu óc ham học. Thầy bao giờ cũng nghĩ rằng em sẽ trở thành người thông thái. Thầy tin như vậy, em ạ, số phận em nhất định sẽ như thế. Em bây giờ trẻ măng như một thân cây non, như đôi cây phong nhỏ này. Antưnai ạ, ta sẽ tự tay trồng lấy hai cây phong này. Và mong sao em sẽ tìm thấy hạnh phúc trong học tập, ngôi sao nhỏ trong sáng của thầy ạ…

Hai cây phong ấy còn non, vừa cao bằng người tôi, thân biêng biếc. Và khi hai chúng tôi đã trồng xuống khoảng đất cạnh trường, từ chân núi đưa lên một làn gió nhẹ, lần đầu tiên chạm vào những khóm lá bé lăn tăn như thổi một luồng sinh khí vào chúng. Mấy khóm lá run rẩy, hai cây phong bắt đầu lay động, đung đưa…

– Em trông, đẹp chưa kìa! – Đuysen cười, lùi lại ngắm. – Bây giờ ta hãy đào một đường dẫn nước ở ngọn suối đằng kia về. Rồi em sẽ thấy hai cây phong của chúng ta đẹp đến nhường nào! Chúng nó sẽ đứng trên ngọn đồi này, sát cánh nhau như hai anh em. Và mọi người sẽ luôn luôn nhìn thấy chúng và những người lành sẽ thấy lòng vui lên khi nhìn thấy chúng. Đến khi ấy cả cuộc sống cũng sẽ khác, Antưnai ạ. Tất cả những gì đẹp nhất đều hãy còn ở phía trước…

Ngay cả bây giờ tôi cũng không sao tìm được những lời lẽ có thể nói lên ít nhiều lòng cảm kích của tôi trước tâm hồn cao thượng của Đuysen. Còn khi ấy, tôi chỉ đứng yên nhìn thầy. Tôi nhìn Đuysen như thể lần đầu tiên tôi được thấy hết vẻ đẹp sáng ngời trên gương mặt thầy, tấm lòng trìu mến và trung hậu ánh lên trong đôi mắt thầy, dường như trước kia tôi chưa từng biết đôi bàn tay của thầy mạnh mẽ và khéo léo như thế nào trong lao động, nụ cười trong sáng của thầy có có sức sưởi ấm lòng người đến nhường nào. Và trong lòng tôi, như một đợt sóng nồng nàn, bỗng cuộn lên một tình cảm mới mẻ mà tôi chưa hề biết, từ một thế giới xa lạ nào lan tới. Và cả tâm hồn tôi như vươn mạnh đến Đuysen, để nói với người: “Thầy ơi, em cảm ơn thầy đã sinh ra với một tâm hồn đẹp đẽ như vậy…Em muốn ôm hôn thầy!” Nhưng tôi e ngại không dám nói lên những lời ấy. Đáng lẽ tôi nói ra mới phải.

Lúc ấy chúng tôi chỉ đứng yên dưới vòm trời trong sáng giữa vùng đồi xuân xanh mơn mởn, mỗi người theo đuổi một ước mơ riêng. Và giờ phút ấy tôi quên bẵng mối nguy cơ đang lơ lửng trên đời tôi. Thậm chí tôi cũng không hề nghĩ xem ngày mai đây cái gì đang chờ đợi tôi và cũng không nghĩ xem tại sao đã hai ngày nay thím tôi không đi tìm tôi. Có lẽ họ đã quên tôi chăng, hay họ đã đành chịu để mặc tôi. Nhưng thật ra Đuysen lại đang nghĩ đến điều đó.

– Em đừng buồn, Antưnai ạ, ta sẽ tìm ra lối thoát, – Đuysen nói khi chúng tôi trở về thôn, – Ngày kia thầy sẽ lên huyện. Thầy sẽ bàn việc của em với các đồng chí trên ấy. Có lẽ họ sẽ nghe thầy mà cho em lên tỉnh học. Em có muốn không?

– Thầy đã nói sao, em cũng xin vâng lời, – tôi đáp.

Tuy tôi không hình dung được trên tỉnh ra sao, nhưng những lời của Đuysen nói cũng đủ sức để tôi ước mơ cuộc sống ở thành thị. Có khi tôi thấy sợ hãi trước cảnh sống xa lạ nơi đất khách quê người, có khi tôi lại quyết tâm ra đi – nói tóm lại bấy giờ trong trí óc tôi không lúc nào không lởn vởn những tỉnh với thành.

Và hôm sau, trong khi ngồi học, tôi cũng chỉ nghĩ đến việc ấy: tôi sẽ sống ở tỉnh ra sao và biết ở nhà ai? Nếu có ai cho tôi ở nhờ, tôi sẽ bổ củi, xách nước, giặt giũ, họ sai gì tôi cũng làm. Tôi đang suy nghĩ liên miên như thế trong khi ngồi học thì bỗng giật mình thảng thốt khi chợt nghe tiếng vó ngựa dồn dập sau mấy bức vách ọp ẹp của ngôi trường chúng tôi. Những tiếng động ấy đột ngột quá và mấy con ngựa phi nhanh quá, đến nỗi tưởng như chúng sắp xéo bừa lên ngôi trường. Chúng tôi ai nấy đều nín thở, chờ đợi.

– Các em đừng để ý, cứ lo việc của các em đi, – Đuysen nói nhanh.

Nhưng lúc ấy cánh cửa bỗng mở toang nghe đánh sầm một tiếng và trên ngưỡng cửa thím tôi hiện ra, trên môi nở nụ cười hả hê nanh ác, đầy vẻ thách thức. Đuysen bước ra cửa.

– Bà đến có việc gì?

– Đến có việc chẳng dính dáng gì đến mày. Tao đem con tao đi gả chồng. Ê! Cái con cầu bơ cầu bất kia! – Thím chồm về phía tôi, nhưng Đuysen đã chặn lối.

– Ở đây toàn là nữ sinh cà, chưa có em nào gả chồng được! – Đuysen nói, giọng rắn rỏi và điềm tĩnh.

– Để rồi xem. Ê! Bọn đàn ông! Bắt lấy con chó chết ấy, lôi nó ra! Thím tôi giơ tay vẫy một tên trong bọn cưỡi ngựa. Đó chính là cái lão mặt đỏ đội mũ da cáo. Thêm hai tên nữa cầm những chiếc gậy nặng vót nhọn xuống ngựa theo sau lão ta.

– Đồ chó lộn nòi, sao mày lại dám tự tiện xem con gái nhà người ta như vợ mày thế hả? Thôi cút đi!

Nói đoạn tên mặt đỏ xông vào Đuysen như một con gấu.

– Các người không có quyền vào đây, đây là trường học! – Đuysen nói, hai tay nắm chặt lấy thành cửa.

– Tôi đã bảo mà! – Thím tôi rít lên – Hắn hú hí với con ấy đã lâu. Hắn rủ rê con chó đẻ ấy đến đây để hưởng không!

– Tao nhổ toẹt vào cái trưởng học của mày! – Lão mặt đỏ gầm lên, tay hoa chiếc roi da.

Nhưng Đuysen đã nhanh tay hơn hắn. Thầy giơ chân đạp mạnh vào bụng hắn. Hắn kêu lên một tiếng và ngã xuống. Ngay lúc ấy hai tên cầm gậy nhọn xông vào Đuysen. Lũ trẻ con kêu rú lên và chạy bổ về phía tôi. Cánh cửa bị xô mạnh vỡ ra từng mảnh. Tôi lao vào đám đánh nhau, lôi theo cả lũ trẻ đang bíu vào người tôi.

– Buông thầy giáo ra! Không được đánh! Tôi đây, bắt tôi đi chứ không được đánh thầy giáo!

Đuysen quay lại nhìn. Mình mẩy Đuysen máu me bê bết, vẻ căm giận trông rất khủng khiếp. Thầy cúi xuống đất lấy một tấm ván khoa lên, quát:

– Chạy đi các em, chạy về làng! Antưnai, chạy đi! – Tiếng kêu của Đuysen nghẹn ngào thành tiếng nấc.

Chúng nó đã đánh gãy tay Đuysen; thầy ép cánh tay vào ngực, bước lùi lại, còn bọn kia thấy thầy không còn sức chống cự, liền xông vào đánh thầy, rống lên như một đàn bò dại.

– Đánh! Đánh! Đập vỡ đầu nó ra! Đánh chết nó đi!

Thím tôi và lão mặt đỏ hầm hè xông vào tôi. Họ lấy bím tóc của tôi quấn quanh cổ tôi và lôi xềnh xệch ra sân. Tôi cố sức vùng dậy và thoáng một giây tôi trông thấy đám bọn trẻ đờ người ra gào thét và Đuysen đứng cạnh tường, mình đầy những vết máu đen thẫm.

– Thầy ơi!

Nhưng Đuysen không thể có cách gì cứu tôi được. Thầy hãy còn đứng được, nhưng loạng choạng như người say rượu dưới trận đòn của lũ ác ôn. Mái đầu Đuysen gục xuống ngực, thầy cố ngẩng lên trong khi bọn vô lại ra sức đánh thầy. Bọn chúng vật tôi xuống và trói tay tôi lại. Trong lúc đó Đuysen lăn lộn trên mặt đất.

– Thầy ơi!

Nhưng bọn chúng đã bịt mồm tôi lại và xốc tôi nằm vắt ngang trên yên ngựa.

Lão mặt đỏ đã lên ngựa, hai tay và ngực lão đè lên người tôi. Hai tên đang đánh Đuysen cũng lên yên. Thím tôi thì chạy bên cạnh và nện vào đầu tôi.

– Thấy chưa! Thấy chưa! Tao tống tiễn mày đi như thế đấy! Còn thằng thầy mày thì hết kiếp rồi…

Nhưng không, thầy tôi chưa hết kiếp. Từ phía sau bỗng vang lên một tiếng kêu tuyệt vọng:

– Antưna-a-ai!

Tôi chật vật ngẩng mái đầu đang buông thõng bên yên ngựa và nhìn lại, Đuysen đang chạy theo sau. Bị đánh gần chết, máu me bê bết, thầy cầm một hòn đá lớn đuổi theo. Và sau lưng thầy, cả lớp cũng vừa kêu khóc vừa chạy theo.

– Đứng lại! Đồ thú dữ! Đứng lại! Buông nó ra, buông ra! Antưnai! – Đuysen đuổi kịp quát lên.

Bọn hung đồ kìm ngựa, hai tên kia cho ngựa quay lại kèm hai bên Đuysen. Đuysen cắn lấy ống tay áo cho cánh tay khỏi vướng, nhắm đích và ném hòn đá, nhưng không trúng. Hai tên kia liền đâm hai nhát gậy nhọn vào Đuysen, khiến thầy ngã xuống một vũng nước. Mắt tôi hoa lên, tôi chỉ kịp nhận thấy lũ trẻ trường chúng tôi chạy lại chỗ thầy, vẻ sợ hãi.

Tôi không nhớ chúng đem tôi đến đâu và như thế nào. Tôi tỉnh dậy trong một căn lều vải. Những ngôi sao đầu hôm, trầm tĩnh, không chút ưu tư, dòm qua chóp lều để hở. Gần đâu đây một con sông chảy róc rách và nghe văng vẳng có tiếng nói chuyện của những người chăn cừu đêm. Bên bếp lửa đã tàn lụi có một bà già lầm lì, người khô đét như que củi đang ngồi yên. Mặt bà ta đen xạm như màu đất. Tôi ngoảnh đầu sang phía bên kia. Ôi, giá cái nhìn của tôi có thể giết chết được lão ấy!

– Mụ đen, đỡ nó dậy. – Lão mặt đỏ ra lệnh.

Người đàn bà đen đủi đến bên cạnh tôi và đưa bàn tay khẳng kheo lay vai tôi.

– Mụ bảo con bạn mụ cho nó biết điều, không nghe cũng không xong đâu: ta sẽ không nhiều lời với nó.

Hắn ra khỏi lều. Còn người đàn bà, mặt đen xạm thậm chí cũng chẳng buồn nhúc nhích và chẳng nói lấy nửa lời. Có lẽ bà ta câm chăng?… Đôi mắt đờ dẫn như màu tro lạnh của bà ta nhìn thẫn thờ, không biểu lộ một cảm xúc gì hết. Có những con chó bị đánh đập liên miên từ khi còn bé. Những con người độc ác luôn luôn bạ gì vớ nấy đánh vào đầu chúng và chúng cũng quen dần đi. Nhưng trong khoé nhìn của chúng có một vẻ gì âm thầm, trống trải đến nỗi trông mà ghê người. Tôi nhìn vào đôi mắt không hồn của người đàn bà mặt đen xạm và có cảm giác như chính tôi bây giờ cũng không còn sống nữa, tôi đang nằm dưới mộ. Tôi đã sẵn sàng tin như vậy, nếu không có tiếng nước róc rách từ ngoài sông đưa lại. Dòng nước cuồn cuồn vỗ vào các ghềnh đá – nước nó được tự do.

Thím ơi, tâm hồn thím sao mà đen tối đến thế, thím thật đáng muôn đời nguyền rủa! Hãy chết sặc trong nước mắt và máu của tôi!… Đêm hôm ấy mới mười lăm tuổi đầu, tôi đã không còn là một người con gái trinh trắng nữa… Tôi còn ít tuổi hơn con cái tên hung đồ…

Đến đêm thứ ba nhất quyết trốn đi, dù có sao cũng mặc. Dù có lạc đường hay bị bọn hung đồ đuổi kịp, tôi cũng sẽ chống cự cho đến hơi thở cuối cùng như Đuysen thầy tôi.

Trong đêm tối, tôi lặng lẽ lần ra phía cửa lều. Tôi sờ lên cửa thì thấy nó đã bị buộc chặt bằng một sợi dây thừng tết bằng lông đuôi ngựa. Nút dây xiết cứng rắc rối, tối mịt thế này không thể mở ra được. Tôi bèn cố vén thành lều lên để tìm cách bò ra ngoài. Nhưng dù tôi cố sức bao nhiêu cũng không sao vén được: ở phía ngoài cũng có những sợi chão căng sát vách lều xuống đất.

Chỉ còn cách tìm một cái gì sắc cạnh để cắt những sợi dây buộc cửa. Tôi bắt đầu lục lọi chung quanh, nhưng không tìm thấy gì ngoài một cọc gỗ nhọn. Trong cơn tuyệt vọng tôi bắt đầu lấy cọc đào đất dưới vách lều. Dĩ nhiên làm như vậy cũng chỉ uổng công, nhưng lúc bấy giờ tôi không còn hay biết gì nữa. Trong đầu tôi chỉ còn một ý nghĩ vô hi vọng – cố thoát ra khỏi chốn này hay là chết, miễn sao đừng phải ở lại đây; có chết thì cũng chết tự do, chết trong khi chống chọi với chúng, chứ không thể chịu khuất phục.

Tôkôn nghĩa là vợ lẽ. Ôi, sao tôi căm thù hai tiếng này đến thế! Ai đã nghĩ ra hai tiếng ấy, nó sinh ra từ những thời quái gở nào? Còn gì có thể ô nhục hơn tình cảnh của người vợ lẽ, bị ép buộc một bề, một kẻ tôi mọi cả về thể xác lẫn linh hồn? Hỡi những người khốn khổ kia, hãy từ đáy mộ đứng lên, hỡi oan hồn của những người đàn bà bị chà đạp, bị lạng mạ, bị tước hết phẩm cách làm người! Hãy đứng lên, hỡi những người bị đoạ đày hành hạ, hãy lay chuyển bóng tối đen đặc của thời xưa ấy! Hãy nghe tôi, người cuối cùng trong những người đã bước qua số kiếp ấy!

Đêm ấy tôi có hay đâu rằng sau này tôi sẽ thốt lên những lời kia. Tôi cứ hăm hở, mê mải đào đất dưới vách lều. Mặt đất ở chỗ ấy lởm chởm những đá không sao đào được. Tôi cào bằng móng tay, mấy ngón tay tôi toạc rách rớm máu. Và đến khi lỗ đào đã vừa rộng để thò tay ra ngoài lều thì trời đã hửng sáng. Chó sủa ran, người ở các lều bên đã bắt đầu thức dậy. Có tiếng vó rầm rập của một đàn ngựa phi qua lều xuống sông uống nước. Những đàn cừu ngái ngủ kéo qua, thở phì phò. Rồi có ai đến cạnh lều, tháo cởi những sợi chão căng ở ngoài và bắt đầu đỡ các tấm nỉ lợp lều. Đó là người đàn bà mặt đen trầm lặng.

Thế nghĩa là thôn du mục này sắp rời đi nơi khác. Tôi chợt nhớ ra rằng hôm qua tôi tình cờ nghe loáng thoáng họ nói sáng nay sẽ dời đến cắm lều ở trên đèo, tới chỗ chăn thả mới rồi sẽ sang bên kia đèo, đi sâu vào vùng núi ở suốt mùa hè trong ấy. Và tâm hồn tôi lại càng nặng trĩu: từ đấy trốn đi còn khó gấp trăm lần.

Lúc nãy tôi ngồi cạnh lỗ đào ra sao thì bấy giờ tôi cũng vẫn ngồi yên như thế, thậm chí chẳng buồn nhích sang bên nữa. Tôi còn giấu giếm làm gì cơ chứ… Người đàn bà mặt đen có trông thấy chỗ đất bị đào lên dưới vách, nhưng cũng chẳng nói chẳng rằng, tiếp tục làm công việc mình. Và nói chung bà ta luôn có vẻ như không có việc gì dính dáng đến mình cả, như thể không có gì trên đời này có thể gợi lên trong lòng bà ta một mảy may cảm xúc. Thậm chí bà ta cũng không muốn đánh thức chồng dậy, không dám xin hắn giúp mình một tay để thu vén lên đường. Hắn đang ngáy như một con gấu, mình ngập dưới đống chăn và áo khoác.

Những tấm dạ đều đã cuộn lại, lều chỉ còn lại một cái sườn và tôi như ngồi trong một cái lồng nhìn ra ngoài: cách đấy không xa, bên kia sông có mấy người đang thắng yên ngựa và xếp đồ đạc lên lưng bò. Rồi tôi thấy ba người cưỡi ngựa từ đâu bỗng phi về phía lều tôi đang ngồi. Thoạt tiên tôi tưởng họ đi tập hợp mọi người lên đường, nhưng khi nhìn kĩ lại tôi choáng người đi. Đó là Đuysen, còn hai người kia thì đội mũ lưỡi trai công an, mặc áo khoác đính dải khuy đỏ.

Tôi ngồi thừ ra như người chết rồi, thậm chí cũng không kêu lên được nữa. Tôi mừng quýnh lên: thầy tôi vẫn sống! – và đồng thời tôi bỗng thấy lòng tôi như trống hoác ra: nay tôi đã là một kẻ bỏ đi, một con người ô uế…

Đầu Đuysen quấn băng, tay cũng đeo băng. Thầy nhảy xuống ngựa, giơ chân đập sập cửa, chạy vào lều và kéo phắt tấm chăn đắp trên người lão mặt đỏ.

– Dậy! – Đuysen giận dữ quát.

Lão kia nhấc đầu lên, dụi mắt rồi toan chồm lên người Đuysen, nhưng lập tức phải chịu im khi thấy hai khẩu súng lục của hai người công an chĩa vào mặt. Đuysen túm lấy cổ áo hắn lay mạnh rồi kéo đầu hắn vào sát mặt mình.

– Đồ hèn mạt! – Đuysen nói thì thào qua đôi môi trắng bệch. – Bây giờ phải đi theo ta! Đi!

Lão kia ngoan ngoãn cất bước. Nhưng Đuysen lại nắm chặt lấy vai hắn rồi nhìn thẳng vào tận mặt hắn nói, giọng đứt quãng:

– Mày tưởng đã giày xéo lên Antưnai như xéo lên đám cỏ dại hẳn, mày tưởng đã hãm hại được Antưnai?… Mày lầm! Thời của mày đã hết, bây giờ đến thời của Antưnai, cái thời mà mày đã mạt kiếp rồi!…

Họ để cho tên mặt đỏ đi ủng, trói tay hắn lại và xốc lên ngựa. Một trong hai người công an cầm cương dắt đi, còn người kia cưỡi ngựa theo sau. Tôi ngồi lên yên ngựa của Đuysen, còn thầy đi bộ bên cạnh.

Khi chúng tôi cất bước, ở phía sau bỗng vang lên một tiếng rú man rợ, nghe không còn ra tiếng người nữa: người đàn bà mặt đen đang chạy theo chúng tôi. Như một người điên, bà ta nhảy chồm vào chồng, tay cầm một hòn đá ra sức đánh vào chiếc mũ da cáo đội trên đầu hắn, miệng hét thất thanh:

– Mày đã uống máu tao, đồ sát nhân! Mày đã đày đoạ tao suốt đời! Quân giết người! Tao không để cho mày sống mà đi khỏi nơi này đâu!

Chắc hẳn bốn mươi năm nay bà ta không ngẩng đầu lên. Và tất cả những gì bấy lâu chồng chất lại, sôi sục trong lòng bà ta, những gì vẫn đầu độc đời bà như một loài cỏ đắng, giờ đây đã bùng nổ ra. Những tiếng rú the thé của người đàn bà vang dội khắp các vách đá trong thung lũng. Bà ta lồng lộn quanh lão mặt đỏ đang sợ sệt co rúm người lại, ném vào lão ta nào đá, nào phân ngựa, nào những cục đất sét, vớ được gì cũng ném, lớn tiếng nguyền rủa:

– Sao cho cỏ đừng mọc ở những chỗ chân mày bước qua! Sao cho xương mày phơi trên đồng nội, sao cho quạ mổ mắt mày đi! Cầu trời đừng bắt tao thấy lại mặt mày lần nữa! Mày chết đi cho khuất mắt tao, đồ quái vật, mày chết đi, chết đi, chết đi! – Bà ta thét, rồi im bặt, vừa kêu gào vừa bỏ chạy. Có thể tưởng như bà muốn trốn thoát khỏi mớ tóc đang bay tả tơi trước gió đuổi theo mình.

Mấy người láng giềng vừa đến liền lên ngựa rượt theo.

Như một cơn ác mộng, đầu tôi cứ váng lên. Mình mẩy ê ẩm, tôi đờ đẫn ngồi trên lưng ngựa. Đuysen cầm cương đi trước một quãng. Thầy lặng thinh, mái đầu quấn băng cúi gầm.

Đi mãi hồi lâu chúng tôi mới ra khỏi cái thung lũng ghê rợn kia. Hai anh công an vượt lên trước, cách chúng tôi khá xa. Đuysen cho ngựa dừng lại và lần đầu tiên nhìn tôi, đôi mắt buồn rười rượi.

– Antưnai ơi, thầy không bảo vệ được em, em tha thứ cho thầy nhé. – Đuysen nói, đoạn cầm lấy tay tôi áp lên má. – Nhưng dù em có tha thứ đi nữa thì thầy cũng không đời nào có thể tự tha thứ cho mình việc này được.

Tôi khóc nấc lên và gục xuống bờm ngựa, Đuysen đứng cạnh, lặng lẽ vuốt tóc tôi và đợi tôi nín khóc. Cuối cùng thầy nói:

– Em bình tâm lại, Antưnai ạ, ta đi đi. Em nghe thầy nhé. Hôm kia thầy vừa lên huyện. Em sẽ lên tỉnh học. em nghe thầy không?

Khi chúng tôi dừng lại bên một ngọn suối trong veo tuôn chảy róc rách, Đuysen nói:

– Antưnai, em xuống ngựa mà tắm một chút. – Thầy rút trong túi ra một miếng xà phòng nhỏ. – Cầm lấy, Antưnai, cứ tha hồ dùng cho hết. Thầy sẽ ra kia cho ngựa ăn cỏ một lát, em cởi áo quần xuống tắm đi. Và em hãy quên những chuyện đã xảy ra, đừng bao giờ nhớ đến nữa. Tắm đi, Antưnai, em sẽ thấy dễ chịu hơn. Được chứ?

Tôi gật đầu. Và khi Đuysen đã dắt ngựa đi khuất, tôi cởi áo quần, thận trọng bước xuống suối. Những viên sỏi trắng, tím, xanh, đỏ từ dưới lòng suối nhìn tôi. Làn nước xanh lơ chảy xiết réo lên quanh mắt cá tôi. Tôi lấy tay vốc nước vỗ lên ngực. Những dòng nước mát rượi chảy trên thân thể tôi. Và tôi bất giác cất tiếng cười, lần đầu tiên trong suốt mấy ngày hôm ấy. Được cười, thích biết bao nhiêu! Tôi luôn tay vốc nước phả lên người rồi gieo mình xuống làn nước sâu. Dòng suối băng băng cuốn tôi đến một cồn cát. Tôi đứng lên rồi ngụp xuống xuống dòng nước chảy cuồn cuộn, tung bọt trắng xoá.

– Nước ơi, hãy cuốn đi tất cả những bùn nhơ, những nỗi ô nhục của mấy ngày hôm nay! Hãy làm cho tôi trong sạch như nước suối này! – Tôi thì thầm rồi cất tiếng cười vô cớ.

Tại sao vết chân con người không còn lại mãi mãi ở những nơi thân thiết, đáng ghi nhớ đối với lòng họ? Giá giờ đây tôi có thể tìm lại con đường mòn mà Đuysen đã đưa tôi xuống núi, tôi sẽ phục xuống đất và hôn lên những vết chân của thầy tôi. Đối với tôi con đường mòn ấy là con đường dẫn tới mọi con đường. Thiêng liêng và diễm phúc thay ngày hôm ấy, con đường mòn ấy, con đường đã dẫn tôi trở về với cuộc sống, với niềm tin mới vào bản thân mình, với những niềm hi vọng mới, với ánh sáng… Cảm ơn ánh sáng mặt trời, cảm ơn mảnh đất ngày hôm ấy…

Phần kết

Hai hôm sau Đuysen đưa tôi ra ga.

Sau tất cả sự việc xảy ra, tôi không muốn ở lại trong thôn nữa. Phải bắt đầu cuộc sống mới ở một chốn mới. Vả chăng mọi người cũng đều thấy tôi nghĩ đúng. Hai vợ chồng bà cụ Xaikan theo tiễn tôi, cuống quýt, khóc lóc như trẻ con, dúi vào tay tôi những gói giấy, những bọc vải đựng thức ăn đường. Những người láng giềng khác đến từ biệt tôi, ngay cả ông cụ Xatưmkun – hay cãi cũng tới.

– Thôi, Thượng đế phù hộ con, – ông ta nói, – cho đường đi của con sáng sủa. Con đừng sợ, con hãy sống theo lời dạy của thầy Đuysen tất sẽ nên người. Thôi, chúng ta đây cũng bắt đầu hiểu biết ít nhiều rồi.

Các học sinh trường chúng tôi chạy mãi theo chiếc xe ngựa và vẫy tay từ biệt tôi.

Tôi ra đi cùng với mấy em nữa, cũng được đưa lên nhà nuôi trẻ ở Tasken. Ở sân ga có một người đàn bà Nga mặc áo va-rơi da đợi chúng tôi.

Về sau đã bao lần tôi đi xe lửa qua ngôi nhà ga vùng núi nấp dưới bóng phong dương này! Tôi thường có cảm giác như đã vĩnh viễn để lại một nửa trái tim tôi ở nhà ga ấy.

Trong ánh sáng loang loáng màu tìm nhạt của buổi chiều xuân hôm ấy có một cái gì buồn hiu hắt, tưởng chừng như ánh hoàng hôn cũng hiểu thấu nỗi buồn chia li của chúng tôi. Đuysen cố gắng không để lộ cho ai thấy thầy đau lòng đến nhường nào, tâm hồn thầy đang buồn khổ đến nhường nào, nhưng tôi thì tôi biết cũng chính nỗi đau buồn ấy đang nghẹn ngào trong cổ tôi. Đuysen nhìn chăm chăm vào mắt tôi, thầy lấy tôi vuốt tóc, vuốt má tôi, mân mê cả những chiếc khuy trên áo tôi:

– Antưnai ạ, lẽ ra không bao giờ thầy để em xa thầy một bước – Đuysen nói – Nhưng thầy không có quyền cản trở em. Em phải học. Vì thật ra thầy cũng chẳng biết được bao nhiêu chữ nghĩa. Em đi đi, như vậy tốt hơn… Có lẽ rồi em sẽ thành một người giáo viên thật sự và đến khi nhớ lại ngôi trường của chúng ta, em sẽ cười cũng nên… Thầy chỉ mong thế… chỉ mong được thế.

Xa xa có tiếng còi tàu hoả rúc lên, vang dội khắp thung lũng quanh ga. Đã trông thấy những ánh đèn trên các toa xe. Mọi người nhốn nháo trên sân ga.

– Thôi thế là em sắp đi, – Đuysen siết tay tôi nói, giọng run run, – chúc em hạnh phúc, Antưnai nhé. Và cái chính là em phải học, phải học…

Tôi không đáp, nước mắt trào lên nghẹn ngào không sao nói được.

– Đừng khóc Antưnai ạ – Đuysen lau nước mắt cho tôi, rồi bỗng như sực nhớ ra, thầy nói:

– Còn hai cây phong mà thấy với em đã trồng, thầy sẽ tự chăm bón lấy. Và khi em đã trưởng thành trở về đây, em sẽ thấy chúng đẹp nhường nào.

Giữa lúc ấy xe hoả đã vào ga. Bánh xe lăn ầm ầm, các toa xe xô vào nhau lịch kịch rồi dừng lại.

– Thôi, chúng ta hãy chia tay nhau đi! – Đuysen ôm chặt tôi và hôn lên trán. – Chúc em khoẻ. lên đường may mắn nhé, từ biệt em, Antưnai của thầy…Em đừng sợ, hãy mạnh dạn lên mà đi.

Tôi nhảy lên bậc toa và ngoái cổ lại nhìn. Không bao giờ tôi có thề quên hình ảnh Đuysen, tay treo băng, đứng nhìn tôi với đôi mắt nhoà lệ, rồi vươn người tới như muốn đến với tôi. Vừa lúc ấy đoàn tàu chuyển bánh.

– Từ biệt Antưnai! Từ biệt em, ngọn lửa nhỏ của thầy! – Đuysen kêu lên!

– Từ biệt thầy! Từ biệt thầy kính mến của em!

Đuysen chạy bên toa xe, dừng lại, rồi bỗng chồm lên gọi lớn:

– An-tư-ư-na-ai!

Đuysen gọi như thể vừa quên nói với tôi một điều gì vô cùng quan trọng bỗng sực nhớ ra, tuy biết rằng bây giờ đã muộn mất rồi… cho đến nay trong tai tôi vẫn còn văng vẳng tiếng gọi ấy, thốt lên tự đáy lòng, từ những nơi sâu kín nhất của tâm hồn Đuysen…

Xe hoả chạy qua đoạn đường hầm rồi đổ ra đường thẳng tăng tốc độ đưa tôi băng qua những cánh đồng thảo nguyên của miền Kazakh, tiến tới một cuộc sống mới, một cuộc đấu tranh mới, những lao động mới.

Từ biệt thầy, từ biệt ngôi trường đầu tiên của tôi, từ biệt thời thơ ấu, từ biệt mối tình đầu của tôi, mối tình không hề thổ lộ với ai…

Phải, tôi đã được học trong một thành phố lớn như Đuysen vẫn ước mơ, trong những nhà trường lớn, có những khung cửa sổ rộng như thầy vẫn tả. Rồi sau khi thi tốt nghiệp trường dự bị đại học công nhân, tôi được gửi đi Matxcơva, vào viện Mác-Lênin.

Tôi đã trải qua bao nhiêu khó khăn trong những năm học dài đằng đẵng, đã bao nhiêu lần tôi tuyệt vọng tưởng chừng không sao vươn đến đỉnh chóp cao siêu của khoa học và cứ mỗi lần như vậy, trong những phút gay go nhất tôi lại thầm giữ trách nhiệm đối với người thầy đầu tiên của tôi và không dám lùi bước. Những điều mà người khác học được ngay thì tôi phải chật vật lắm mới hấp thụ nổi. Bởi vì cái gì tôi cũng bắt đầu từ a, b, c.

Trong khi còn học ở trường dự bị đại học công nhân, tôi có viết cho Đuysen một bức thư thú nhận rằng tôi yêu Đuysen và chờ đợi. Đuysen không trả lời. Đến đấy chúng tôi không còn trao đổi thư từ gì với nhau nữa. Tôi nghĩ rằng Đuysen cưỡng lại tình cảm của tôi và của Đuysen là vì không muốn cản trở việc học tập của tôi. Có lẽ Đuysen nghĩ đúng… Hay cũng có thể vì những nguyên nhân nào khác chăng? Dạo ấy tôi đã đau khổ và băn khoăn biết mấy về việc này…

Tôi bảo vệ luận án đầu tiên của tôi ở Matxcơva. Đối với tôi đó là một thắng lợi lớn, một thắng lợi quan trọng. Suốt mấy năm ấy tôi không có dịp về thăm làng, rồi chiến tranh bùng nổ. Cuối mùa thu năm ấy, trong khi rời Matxcơva và tản cư đi Frunze, tôi ghé xuống nhà ga mà thầy tôi đã tiễn tôi lên đường. May sao gặp ngay được một chiếc xe ngựa đi về nông trường quốc doanh qua thôn chúng tôi.

Ôi, quê hương tôi. Trong thời chiến tranh gian khổ tôi đã ghé về thăm Người. Tuy nhìn mảnh đất thân yêu đã đổi mới tôi vui mừng khôn xiết – những thôn ở mới đã mọc lên, nhiều cánh đồng được cày thêm, nhiều đường sá và cầu cống mới được xây, – nhưng chiến tranh đã gieo màu sắc thê lương vào chuyến gặp gỡ này.

Đi đến gần làng, tôi thấy lòng bồi hồi xúc động. Từ xa tôi đưa mắt ngắm những con đường làng trước kia không có, những ngôi nhà và những thửa vườn mới, rồi nhìn lên ngọn đồi trước đây có ngôi trường cũ của chúng tôi và hồi hộp nghẹn thở: trên đồi, hai cây phong lớn mọc sát vào cạnh nhau, đang đung đưa trước gió. Và lần đầu tiên tôi đã cất tiếng gọi tên người mà suốt đời tôi đã gọi bằng “thầy”, Đuysen.

– Đuysen! – Tôi thì thầm – Cảm ơn anh về tất cả những gì anh đã làm cho em, anh Đuysen! Anh không quên, tức là anh vẫn nghĩ đến… Em biết anh không thể khác được!…

Thấy mặt tôi ướt đầm nước mắt, người thanh niên đánh xe ngựa lo lắng hỏi:

– Chị làm sao thế?

– Không, có sao đâu. Anh có biết ai trong nông trường này không?

– Biết chứ. Ở đây toàn là người quen cả.

– Thế anh có biết Đuysen không, trước kia làm thầy học ấy mà?

– Đuysen? Anh đi bộ đội rồi. Chính tôi chở anh ấy từ nông trưởng lên uỷ ban tuyển binh, cũng trên chiếc xe này.

Sắp vào làng, tôi bảo anh thanh niên dừng lại, rồi xuống xe. Tôi xuống xe và ngẫm nghĩ một lát. Bây giờ mà đi nhà này nhà nọ, thời buổi chiến chinh này mà đi tìm người quen, hỏi người này người khác xem họ có nhớ mình không, tự xưng mình là người làng đây, tôi không sao làm được. Đuysen thì đã đi bộ đội rồi. Vả chăng tôi đã thề sẽ không bao giờ đến nơi chú thím tôi ở. Người ta có thề tha thứ nhiều điều cho người khác, nhưng một hành động tàn ác như vậy thì không ai có thể tha thứ cho nhau được. Thậm chí tôi cũng không muốn họ biết tôi về làng. Tôi rời đường cái đi lên phía hai cây phong trên ngọn đồi.

Ôi, hai cây phong, hai cây phong! Bao nhiêu nước suối đã trôi đi từ dạo chúng mày hãy còn là hai cây non còn bé, thân xanh biếc. Xin cúi chào hai cây phong, hai người bạn, hai giọt máu thân thuộc, hai chị em ruột thịt của tôi! Tất cả những gì mà người trồng cây lên và chăm bón cho cây lớn bằng mơ ước, bằng tiên đoán, nay đều đã thành sự thật. Thời ấy đã đến. Nhưng quân thù đã xâm lấn bờ cõi chúng ta, người ấy lại cầm vũ khí bảo vệ những mơ ước của mình.

Sao cây rì rào buồn bã như vậy, cây có điều gì sầu muộn mà nỉ non rầu rĩ như vậy? Hai cây than vãn về nỗi mùa đông sắp đến và những cơn gió lạnh sẽ tỉa trụi lá trên cành cây? Hay nỗi đau buồn của dân ta đang rên rỉ trong thân cây?

Phải, mùa đông sẽ lại đến với những cơn giá rét những trận bão tuyết hãi hùng, nhưng rồi xuân sẽ lại sang…

Tôi đứng hồi lâu nghe tiếng lá thu xào xạc. Máng nước ở chân hai cây phong được ai dọn sạch cách đây không lâu: trên mặt đất hãy còn thấy những vết thuổng sâu, trông còn mới. Làn nước trong trẻo đầy ắp trong máng chỉ thoáng gợn lên một chút và trên mặt nước rung rinh những chiếc lá phong vàng.

Thầy ơi, chắc phút cuối cùng thầy đã đến đây… Đây là vết thuổng của thầy… Thầy hãy sớm chiến thắng trở về, hãy về đây yên lành, khoẻ mạnh. Hai cây phong ơi, hãy cầu nguyện cho thầy.

Đứng trên gò tôi có thể trông thấy nóc mái đỏ của ngôi trường mới, còn trường chúng tôi thì chẳng còn bóng dáng đâu nữa.

Sau đó tôi xuống đường cái, đón một chiếc xe ngựa đi qua và lên ga.

*

* *

Chiến tranh tiếp diễn, rồi kết thúc thắng lợi. Bao nhiêu hạnh phúc đượm mùi đắng cay đã đến với mọi người: lũ trẻ chạy đến trường lưng đeo những chiếc xà-cột dã chiến của cha chúng, những cánh tay đàn ông lại trở về với công việc đồng áng, những người vợ khóc ráo hết nước mắt rồi lặng lẽ dằn lòng chịu đựng cuộc sống goá bụa. Cũng có những người dai dẳng đợi chờ người thân. Vì không phải ai cũng trở về ngay được.

Riêng tôi, tôi cũng không biết Đuysen ra sao. Những người làng tôi lên tỉnh nói rằng Đuysen bị mất tích, uỷ ban xã đã nhận được giấy báo tin như thế.

– Có lẽ anh ta chết rồi cũng nên – Họ phỏng đoán, – thời gian cứ trôi qua, mà anh ta vẫn biệt vô âm tín.

“Thế nghĩa là thầy tôi không còn về nữa rồi,  tôi thường nghĩ, – Thế là thầy và em không còn được gặp lại nhau kể từ cái ngày đáng ghi nhớ khi chúng ta từ biệt nhau trên sân ga…”

Đôi khi ngẫm nghĩ lại dĩ vãng, tôi cũng không ngờ rằng hoá ra bao nhiêu buồn tủi đã tích lại trong lòng tôi.

Năm bốn mươi sáu, vào cuối mùa thu tôi lên đường đi công tác khoa học ở trường đại học Tômxki. Lần đầu tiên tôi đi qua Xibêri. Vào tiết cuối thu năm ấy, miền Xibêri thật khắc khổ và ảm đảm. Những cánh rừng già hàng thế kỉ chạy vùn vụt ngoài cửa xe như một bức tường tối sẫm. Ở những khoảng rừng thưa thấp thoáng những mái nhà đen ngòm cửa các làng mạc với những cánh đồng lạnh lẽo, tuyết đầu mùa đã phủ xuống. Nhũng đàn quạ xơ xác bay vật vờ trên tuyết. Trời lúc nào cũng xám xịt.

Nhưng ngồi trong toa xe, tôi vui lắm. Người ngồi cạnh tôi trong ngăn toa là một cựu chiến binh, một anh thương binh đi nạng gỗ; anh ta kề những chuyện vui, những mẩu giai thoại ở bộ đội làm chúng tôi cười như nắc nẻ. Tôi không khỏi ngạc nhiên vì cái tài bịa chuyện không cùng cùa anh ta và ở sau tiếng cười chất phác không hề có ác ý ấy bao giờ cũng cảm thấy một sự thật sâu sắc. Trong toa ai cũng mến anh ấy lắm.

Qua Nôvôximbirxk, đoàn xe của chúng tôi phải dừng lại một chút ở ngã ba đường sắt nào đấy. Tôi đứng nhìn ra cửa sổ và đang cười vì một câu đùa mới của anh bạn đường.

Đoàn xe chuyển bánh, tăng tốc độ; một ngôi nhà ga nhỏ cô đơn lướt qua cửa sổ và đến khi xe đi qua chỗ bẻ ghi tôi bỗng vụt né người lại rồi ghé sát mặt vào tấm kính. Đuysen đang đứng đấy: Anh ấy đứng cạnh chiếc chòi canh, tay cầm cờ tín hiệu. Tôi không biết trong lòng tôi đã diễn ra những gì.

– Đứng lại! – Tôi thét vang cả toa xe và lao ra cửa toa, tự mình cũng không biết làm gì, nhưng tôi chợt trông thấy cái dây khoá ống hơi hãm xe, liền lấy sức giật ra khỏi dấu niêm phong bằng chì.

Các toa xô mạnh vào nhau, đoàn tàu đột ngột bị hãm lại và đột ngột lùi về phía sau. Hành lí để trên giá đổ ầm ầm, cốc chén rơi loảng xoảng, đàn bà và trẻ con kêu ơi ới. Có tiếng ai hét thất thanh:

– Tàu nghiến phải người rồi!

Tôi chạy ra bậc toa, nhảy xuống đất mà không trông thấy mặt đất ở dưới chân, như nhảy xuống vượt thảm, rồi vẫn thế, không trông thấy gì ở trước mặt, không hay biết gì nữa, tôi lao người chạy về phía chòi canh của người bẻ ghi, về phía Đuysen. Sau lưng tôi có những tiếng còi tới tấp của các nhân viên coi toa. Nhiều hành khách cũng nhảy xuống xe và chạy theo tôi.

Tôi chạy một hơi dọc đoàn tàu, Đuysen cũng đã chạy ngược về phía tôi.

– Đuysen, thầy! – tôi vừa gọi vừa lao về phía Đuysen.

Người bẻ ghi đứng lại, ngỡ ngàng nhìn tôi. Đó chính là Đuysen, chính khuôn mặt ấy, chính đôi mắt ấy, chỉ có điều là bây giờ Đuysen để ria và trông hơi già đi.

– Chị làm sao thế, chị! – người bẻ ghi ân cần hỏi bằng tiếng Kadakh. – Chắc chị nhầm, tôi là người bẻ ghi Giagazin, tên tôi là Bâynêu.

– Bâynêu?

Tôi không biết làm sao tôi lại có thể kịp nghiến răng lại để đừng kêu lên vì buổn khổ, vì đau đớn và hổ thẹn. Tôi đã làm gì thế này? Tôi giơ hai tay bưng mặt và cúi đầu. Tại sao đất ở dưới chân tôi không sụt xuống? Lí ra tôi phải xin lỗi người bẻ ghi, xin lỗi hành khách, nhưng tôi cứ đứng im lặng như một tảng đá. Đám hành khách vây quanh, không hiểu tại sao, cũng im lặng. Tôi biết như thế họ cũng sắp quát mắng, chửi bới tôi. Nhưng mọi người đều im lặng. Và trong cõi im lặng ghê rợn ấy chợt có tiếng nấc của người đàn bà nào không rõ.

– Khổ thân, cô ấy tưởng tìm được chồng hay anh gì đấy, hoá ra không phải.

Đám người xôn xao lên.

– Sao lại thế nhỉ, – có ai nói giọng trầm trầm.

– Lạ gì, trong chiến tranh chúng ta đã phải chịu đựng bao nhiêu và cũng còn lại bao nhiêu cảnh éo le cay đắng… – một giọng đàn bà nghẹn ngào đáp.

Người bẻ ghi gỡ hai tay tôi đang bưng mặt và nói:

– Ta đi đi, tôi đưa chị về toa nhé, ở đây lạnh lắm.

Anh ấy khoác lấy tay tôi. Ở phía bên kia, một người sĩ quan nào đó cũng khoác tay tôi dắt đi.

– Ta đi thôi chị ạ, chúng tôi hiểu hết, – người sĩ quan nói.

Hành khách giãn ra và họ dìu tôi đi như đi đưa đám ma. Chúng tôi chậm rãi đi ở phía trước và mọi người bước theo sau. Những hành khách từ phía tàu đi lại cũng lặng lẽ nhập vào đám đông. Có ai khoác lên vai tôi một chiếc khăn choàng lông. Anh bạn cùng toa của tôi khập khễnh trên đôi nạng gỗ, đi vượt lên phía trước một chút và nhìn vào mặt tôi. Con người vui tính, hay đùa bỡn, tốt bụng và can đảm ấy không hiểu sao bùi ngùi để đầu trần đi bên cạnh tôi. Hình như anh đang khóc. Tôi cũng khóc. Và trong tiếng chân bước chậm rãi của đoàn tàu đi dọc các toa xe, trong tiếng gió rít qua các hàng dây thép tôi ngỡ chừng nghe thấy những âm thanh của một khúc điếu ca “Không, mình sẽ không bao giờ còn gặp lại anh ấy nữa”.

Bên toa xe của chúng tôi, viên xa trưởng chặn chúng tôi lại. Ông ta quát tháo, giơ ngón tay lên doạ tôi nói những gì: nào là vi phạm luật pháp nào đó là phạt vi cảnh, nhưng tôi lặng thinh không đáp. Tôi còn thiết gì nữa. Ông ta dúi vào tay tôi một tờ biên bản, bảo tôi phải kí vào, nhưng tôi không còn hơi sức cầm lấy cây bút chì nữa.

Lúc bấy giờ anh bạn cùng toa giật lấy tờ giấy trong tay viên xa trưởng, chống nạng tiến đến sát và quát vào mặt ông ta:

– Ông để cho cô ấy yên! Tôi sẽ kí. Chính tôi đã giật cái khoá hơi, tôi sẽ chịu trách nhiệm…

Trên đất Xibêri, mảnh đất cổ truyền của dân Nga, đoàn tàu vội vã cướp lại thời gian đã mất. Tiếng đàn ghi-ta của anh bạn cùng toa nỉ non buồn bã trong đêm. Tôi cứ mang theo trong lòng dư âm bi thảm sau lần đụng mặt với cuộc chiến tranh đã kết thúc từ lâu ấy như một khúc ca lời rên rỉ của những người phụ nữ Nga goá bụa.

Năm qua tháng lại, dĩ vãng đã xa xăm, mà hiện tại thì luôn cất tiếng gọi trở về với cuộc sống, với những nỗi lo âu bận rộn lớn nhỏ hàng ngày. Tôi lấy chồng muộn. Nhưng tôi đã gặp được một người tốt. Chúng tôi có mấy đứa con, gia đình chúng tôi sống rất hoà thuận. Bây giờ tôi đã là tiến sĩ triết học. Tôi thường phải đi công tác luôn. Tôi đã qua nhiều nước. Thế nhưng chưa bao giờ tôi về làng. Dĩ nhiên có nhiều lí do, nhưng tôi không có ý định thanh minh. Dù sao tôi cũng đã cắt đứt liên hệ với người làng – đó là một điều không tốt, không thể tha thứ được. Nhưng số phận tôi nó thế. Không phải tôi quên đi dĩ vãng, không, tôi không thể quên được – tôi chỉ xa lánh dĩ vãng mà thôi.

Trên núi có những dòng suối như vậy: một con đường mới được đắp lên, người ta quên bẵng con đường mòn dẫn đến suối và ngọn suối kia dần dần phủ kín dưới lau lách, bụi bờ. Đứng xa mà nhìn chẳng còn thấy suối đâu nữa. Và ít khi có ai nhớ đến dòng suối củ mà từ đường cái rẽ về bên suối vào một ngày nóng nực để uống cho đỡ khát. Nhưng rồi một hôm có người tìm thấy nơi vắng vẻ ấy, rẽ đám lau lách ra và khi thốt lên: dòng nước mát mẻ, trong trẻo lạ lùng đã từ lâu không ai đến khuấy động làm vẩn đục, đang chảy lặng lờ, sâu thẳm, khiến cho khách phải ngạc nhiên. Khách nhìn xuống nước và trông thấy mình, thấy ánh thái dương, bầu trời, những rặng núi. Và khách nghĩ rằng không biết đến những nơi như thế này thật là có tội, phải kể lại cho các bạn bè cùng biết. Khách nghĩ thế rồi quên bẵng đi cho đến ngày thấy lại dòng suối lần nữa.

Trong cuộc sống đôi khi cũng phải như vậy. Nhưng có lẽ chính như thế nó mới là cuộc sống.

Tôi sực nhớ đến những ngọn suối ấy cách đây không lâu sau khi ghé về thăm làng.

Chắc anh ngạc nhiên không hiểu sao dạo ấy tôi bỏ Kurkurêu ra đi một cách đột ngột như vậy. Phải chăng không thể kể cho mọi người ở đây nghe tất cả những điều mà tôi đang kể cho anh nghe? Không phải. Lúc bấy giờ tôi bối rối quá, tôi xấu hổ, tôi thẹn cho mình quá, nên phải bỏ đi ngay. Tôi đã hiểu ra rằng tôi sẽ không tài nào gặp lại Đuysen, không thể nào dám nhìn thẳng vào mắt Đuysen được. Tôi cần phải bình tâm lại, sắp xếp lại những ý nghĩ đang rối tung, dọc đường suy nghĩ lại tất cả những điều tôi muốn nói không những với các bạn cùng quê mà còn nói nhiều người khác nữa.

Tôi còn thấy mình có tội nữa vì tôi không phải là người có quyền được trọng vọng đủ điều như vậy, được ngồi ở chỗ danh dự trong buổi khánh thành trường mới. Đó trước hết là quyền của Người thầy đầu tiên của chúng ta, người cộng sản đầu tiên trong làng của chúng ta – thầy Đuysen già cả. Thế nhưng sự việc đã diễn ra trái hẳn. Chúng ta ngồi quanh bản tiệc, còn con người vàng ngọc ấy thì đang hối hả chạy đi đưa thư, vội vã chuyển những bức điện chúc mừng của học trò cũ mình về kịp lễ khánh thành.

Mà đây không phải là một trường hợp duy nhất. Tôi đã nhiều lần thấy như vậy. Cho nên tôi thường tự hỏi: chúng ta đã bỏ mất cách biết trân trọng con người bình thường như Lênin từng trân trọng tự bao giờ?… May thay, giờ đây chúng ta nói lên những điều như thế một cách thẳng thắn không kèm theo chút đạo đức giả nào. Cũng rất hay là ngay cả trong việc này chúng ta đã cùng đến sát với Lênin hơn.

Lớp thanh niên không biết rõ Đuysen trước kia là một người thầy như thế nào. Còn thế hệ cũ thì đã nhiều người không còn nữa. Không ít học trò cũ của Đuysen đã hi sinh trong chiến tranh, họ đã là những chiến sĩ Xô-viết chân chính. Lẽ ra tôi phải nói cho thanh niên hiểu rõ thầy Đuysen. Ai ở địa vị tôi đều có nhiệm vụ làm vậy. Nhưng tôi lại không về làng, tôi không hề biết gì về Đuysen và với thời gian, hỉnh ảnh của thầy tôi đối với tôi đã dường như biến thành một thành tích vô giá, được giữ gìn trân trọng trong cõi tĩnh mịch của một viện bảo tàng.

Tôi sẽ trở về gặp thầy tôi và sẽ chịu tôi trước thầy. Tôi sẽ xin người tha thứ.

Tôi định khi nào đi Matxcơva về, sẽ đến Kurkurêu và đề nghị với dân làng đặt tên cho nhà trường kí túc mới là “Trường Đuysen”. Phải, trường phải mang tên người nhân viên nông trường giản dị ngày nay làm nghề đưa thư ấy. Tôi hi vọng rằng với tư cách là một người cùng quê, anh sẽ ủng hộ đề nghị của tôi. Tôi xin anh làm như vậy.

Ở Matxcơva bây giờ đã hơn một giờ đêm. Tôi đứng trên bao lơn toà khách sạn, nhìn những ánh đèn lấp lánh toả rộng trên thủ đô và nghĩ đến lúc tôi sẽ trở về làng, tìm gặp Đuysen và hôn lên chòm râu bạc của thầy…

*****************************

Tôi mở tung các cửa sổ. Một luồng gió mát lùa vào phòng. Trong ánh lê minh xanh nhạt đang sáng dần tôi nhìn kĩ những bản nghiên cứu phác thảo của bức tranh tôi vừa khởi công làm. Những bức vẽ ấy nhiều lắm. Tôi đã nhiều lần vẽ đi vẽ lại từ đầu. Nhưng bây giờ mà nói về toàn bộ bức tranh thì hãy còn sớm. Tôi vẫn chưa tìm ra cái chính… Tôi đi đi lại lại trong cảnh tĩnh mịch của buổi lê minh và cứ suy nghĩ suy nghĩ mãi. Và lần nào cũng đều như thế. Lần nào tôi cũng lại thấy rõ ràng bức tranh của tôi chỉ mới là một ý đồ.

Tuy vậy tôi vẫn muốn nói với các bạn về tác phẩm dở dang của tôi. Tôi muốn hỏi ý kiến các bạn. Chắc các bạn cũng đã đoán ra rằng bức tranh của tôi dành cho người thầy đầu tiên của làng chúng tôi, người cộng sản đầu tiên – ông già Đuysen.

Nhưng tôi chưa hình dung được rõ liệu tôi có thể dùng thuốc vẽ mà thể hiện được cuộc sống phức tạp, đầy đấu tranh ấy, những nẻo đường đời và những tình cảm muôn màu muôn vẻ của con người ấy không. Làm sao cho khỏi sánh mất bát nước đầy: làm sao trao được đến tận tay các bạn, những người cùng thời đại với tôi? Làm thế nào cho ý đồ của tôi không phải chỉ thấu đến các bạn, mà còn trở thành một công trình sáng tạo chung của chúng ta? Tôi không thể không vẽ bức tranh này, nhưng sao tôi thấy băn khoăn, lo lắng quá! Có khi tôi tưởng chừng rồi sẽ chẳng ra gì hết. Và những lúc ấy tôi lại nghĩ: tại sao số phận lại trớ trêu đặt cây bút vẽ vào tay tôi làm gì? Thật là một cuộc sống khổ ải!

Lại có khi tôi cảm thấy mình dũng mãnh đến nỗi dù có phải chuyển núi dời sông tôi cũng sẵn sàng. Và những khi ấy tôi nghĩ: hãy nhìn đi, hãy nghiên cứu, chọn lọc. Hãy vẽ hai cây phong của Đuysen và Antưnai, chính hai cây phong đã cho tuổi thơ của mày bấy nhiêu giây phút sướng vui, mặc dù mày không biết rõ sự tích của chúng. Hãy vẽ một đứa bé đi chân không, da rám nắng. Nó trèo lên cao, thật là cao và ngồi lên một cành phong, đôi mắt hân hoan nhìn vào cõi xa xăm kì ảo.

Hay là vẽ bức tranh đề là “Người thầy đầu tiên”. Đó có thể là lúc Đuysen bế trẻ con qua con suối và cạnh đấy, trên những con ngựa no nê hung dữ, những con người đận độn, mũ da cáo đỏ đi qua đang chế giễu ông…

Nếu không, thì hãy vẽ người thầy giáo tiễn Antưnai lên tỉnh. Mày còn nhớ khi ông cất tiếng gọi Antưnai lần cuối cùng! Hãy vẽ một bức tranh như thế, sao cho bức tranh ấy giống như tiếng gọi của Đusyen mà đến nay Antưnai vẫn còn nghe vẳng lại, sẽ vang dội mãi trong lòng mỗi người.

Tôi tự nhủ như vậy. Tôi tự nhủ điều này điều nọ khá nhiều, nhưng tôi không phải bao giờ cũng làm được… ngay giờ đây tôi cũng chưa biết bức tranh tôi vẽ sẽ ra sao. Nhưng có một điều tôi biết chắc: tôi sẽ tìm tòi.

 

 

CHUYÊN MỤC : CHUYỆN XƯA…CHUYỆN NAY

 

GS Hoàng Tụy và bộ “Kinh thánh” của tối ưu toàn cục

Giới toán học thế giới coi ông là “cha đẻ của tối ưu toàn cục”, người mở đường cho một chuyên ngành toán học mới.
 >> GS Hoàng Tụy được trao giải thưởng toán học Constantin Caratheodory

Nhân sự kiện tổ chức quốc tế Tối ưu toàn cục vừa trao tặng Giải thưởng “Constantin Caratheodory Prize” cho GS Hoàng Tụy, xin trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả Hàm Châu trên báo Khoa học và Đời sống Online về “cha đẻ của tối ưu toàn cục”.

Nổi tiếng trên thế giới, rồi mới được trong nước chú ý tới 

Một ngày đầu năm, tôi đến thăm GS Hoàng Tuỵ tại nhà riêng ở phố Đội Cấn, Hà Nội. Ông đã “ngoại bát tuần” nhưng vẫn khoẻ, sáng suốt, dồi dào sức sáng tạo. Tờ Journal of Optimization Theory and Applications (Tạp chí Tối ưu hoá lý thuyết và ứng dụng) trong những số gần đây vẫn đăng các công trình mới của ông. Ông vẫn được mời sang Pháp, Mỹ cộng tác nghiên cứu…

Cứ mỗi lần gặp GS Tuỵ, tôi lại nhớ đến câu nói của anh bạn tôi, một tiến sĩ khoa học toán học: “Ông Tuỵ nổi tiếng ở nước ngoài có phần còn hơn ở trong nước; nổi tiếng trên thế giới, rồi mới được trong nước chú ý tới!”

Năm 1990, Tiến sĩ Neal Koblitz, cựu sinh viên Đại học Harvard, giáo sư Đại học Washington, sang thăm Việt Nam. Trở về Mỹ, ông viết một bài báo tiếng Anh dài tới 30 nghìn từ, chiếm 19 trang tạp chí, kèm theo 10 bức ảnh, 1 tấm bản đồ và 3 bức biểu đồ, đăng trên tờ The Mathematical Intelligencer (Người đưa tin toán học). Đây là tờ tạp chí của nhà xuất bản lớn bậc nhất thế giới về khoa học và kỹ thuật Springer – Verlag (mà bạn đọc chủ yếu là các nhà toán học chuyên nghiệp ở tất cả các nước). N. Koblitz đặt tên cho bài báo: Hồi ức về toán học ở một đất nước bị phong tỏa.

Tác giả dành phần lớn bài báo để kể tỉ mỉ về quê hương, dòng họ, thời niên thiếu, thanh niên cũng như quá trình học tập, sáng tạo của nhà toán học Hoàng Tuỵ mà nhiều kết quả trong lĩnh vực lý thuyết tối ưu toàn cục được coi là kinh điển, được thừa nhận rộng rãi ở Mỹ, châu Âu, Nhật Bản…

Bài báo lớn của một giáo sư toán học Mỹ làm cho tên tuổi Hoàng Tuỵ càng trở nên nổi tiếng trong giới toán học quốc tế. Cho đến lúc đó, ở nước ta, chưa hề có một bài báo nào bằng tiếng Việt viết về GS Tuỵ dài và sâu như thế!

Đó là một “luận cứ” khiến anh bạn tôi cho rằng “ông Tuỵ nổi tiếng ở nước ngoài có khi còn hơn ở trong nước!…”. Và còn nhiều “luận cứ” khác nữa.

 

 

GS Hoàng Tụy làm việc tại nhà riêng.


Hội thảo quốc tế mừng thọ “cha đẻ của tối ưu toàn cục”

Hoàng Tuỵ sinh ngày 27/12/1927, vậy mà, ngay từ mấy tháng đầu năm 1997, giới toán học quốc tế trong chuyên ngành của ông đã sốt sắng chuẩn bị một hình thức đầy ý nghĩa mừng ông thọ 70 tuổi: tổ chức một cuộc hội thảo quốc tế ở Thụy Điển.

Đầu năm 1997, tôi được anh bạn tiến sĩ khoa học kia đưa cho xem bản thông báo sau đây mà anh nhận được qua Internet:

Nhân dịp mừng sinh nhật lần thứ 70 của GS Hoàng Tuỵ, người đã có công trình tiên phong trong lĩnh vực tối ưu toàn cục và quy hoạch toán học tổng quát, một cuộc hội thảo ba ngày sẽ được tổ chức tai Viện Công nghệ Linkoping, Thuỵ Điển với chủ đề: Tìm tối ưu từ địa phương đến toàn cục.”

Bản thông báo cho biết đây là cuộc hội thảo nhằm vinh danh GS Hoàng Tuỵ(Workshop in Honor of Prof. Hoang Tuy) diễn ra tại Thuỵ Điển từ ngày 20 đến 22/8/1997. Các nhà toán học muốn dự cần gửi bản tóm tắt công trình của mình chậm nhất vào ngày 1/6/1997 để kịp tập hợp in thành một cuốn sách đề tặng GS Hoàng Tuỵ (dedicated to Prof. Hoang Tuy).

Sau khi hội thảo kết thúc, cuốn sách được Kluwer Academic Publishers,cũng là một nhà xuất bản lớn về khoa học và kỹ thuật trên thế giới, ấn hành ở Boston (Mỹ), London (Anh), Dordrecht (Hà Lan) và nhiều nơi khác.

Năm 2007, mừng GS Hoàng Tuỵ 80 tuổi, giới toán học quốc tế lại tổ chức tại Pháp một cuộc hội thảo về tối ưu toàn cục để vinh danh ông một lần nữa.

Hoàng Tuỵ được coi là “cha đẻ của tối ưu toàn cục” (the father of Global Optimization). Ngày nay, bất cứ ai trên thế giới muốn đi vào chuyên ngành này, đều phải học những điều đã trở thành kinh điển như Tuy’s cut (lát cắt Tuỵ), Tuy-type algorithm (thuật toán kiểu Tuỵ), Tuy’s inconsistency condition (điều kiện không tương thích Tuỵ…

Cuốn sách toán tiếng Anh do GS Hoàng Tuỵ viết chung với GS Reiner Horst (CHLB Đức) nhan đề Global Optimization – Deterministic Approches (Tối ưu toàn cục – tiếp cận tất định) dày 694 trang, được nhà xuất bản Springer – Verlag in lần đầu năm 1990, lần thứ hai năm 1993, lần thứ ba (có sửa chữa) năm 1996.

Đây là cuốn sách chuyên khảo đầu tiên có hệ thống về chuyên ngành này. Do vậy, GS Hiroshi Konno, người Nhật Bản, mới nhận xét: Cuốn sách ấy “được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là cuốn Kinh thánh của chuyên ngành tối ưu toàn cục” (was appreciated by many researchers as the Bible of global optimization), và, trên thực tế, nhiều người bắt đầu các công trình nghiên cứu nghiêm túc của mình về tối ưu toàn cục là nhờ “được cuốn sách mở đường ấy cổ vũ” (motivated by this path-breaking book).

Cách đây mấy năm, tờ báo điện tử Operation-Research Bulletin (Bản tin Vận trù học), diễn đàn của các nhà vận trù học châu Á – Thái Bình Dương, số tháng 9/2002, đã ra một chuyên đề về GS Hoàng Tụy, gồm nhiều bài và ảnh: bài của TS Takahito Kuno phỏng vấn GS Hoàng Tuỵ; bài hồi ức của TS Taketomo Mitsui nhan đề Prof. Hoang Tuy – A Prominent Applied Mathematician (GS Hoàng Tuỵ – Nhà toán học ứng dụng lỗi lạc); bài hồi ức của GS Hiroshi Konno nhan đề A Tribute to Prof. Hoang Tuy (Để tỏ lòng tôn kính GS Hoàng Tuỵ); cùng một số bức ảnh GS Tuỵ chụp chung với các nhà toán học Nhật Bản, do TS Takahito Kuno chọn và giới thiệu dưới tiêu đề Santa Claus Coming from a Southern Country (Ông già Noel đến từ một đất nước phương nam). Chẳng là vì GS Tuỵ có mái tóc trắng như tuyết và cứ mỗi lần đến Nhật Bản lại mang tới cho các nhà toán học xứ sở hoa anh đào nhiều ý tưởng mới hấp dẫn như những món quà mà Ông già Noel mang lại. Qua số báo, các nhà toán học Nhật Bản muốn tỏ bày lòng ngưỡng mộ đối với nhà toán học Việt Nam lão thành. 

Vượt Trường Sơn tầm sư học đạo

Đối với thế hệ trẻ trước đây và hôm nay, cuộc đời GS Hoàng Tụy luôn là một tấm gương sáng chói về lòng say mê khoa học, về ý chí kiên cường vượt qua mọi trở lực, khắc phục khó khăn để thực hiện cho kỳ được ước mơ tha thiết từ thuở thiếu thời. 

Xuất thân từ dòng họ vị Phó bảng yêu nước Hoàng Diệu, ngay khi còn học trường làng ở Xuân Đài (Quảng Nam), cậu bé Tuỵ đã tỏ ra rất thông minh, học rất giỏi cả văn và toán. Ra Huế, vào Trường Quốc học, anh Tuỵ vẫn giỏi cả văn và toán. Nhưng, về sau, anh dành nhiều thời gian hơn cho môn toán vì bắt đầu mơ ước trở thành nhà toán học.

15 tuổi, anh mắc phải chứng tức ngực, khó thở, liệt một phần cơ thể, phải bỏ học hơn một năm ở Trường Quốc học Huế. Khi khỏi bệnh, không muốn lưu ban, anh đành ra học trường tư. Nhưng rồi anh “nhảy” hai lớp, “liều” thi tú tài toán. Nào ngờ chàng thư sinh “nhảy cóc” kia lại đỗ và, hơn nữa, đỗ… thủ khoa Trung Bộ!

Tháng 9/1946, anh ra Hà Nội học Đại học Khoa học lúc bấy giờ do GS Nguyễn Thúc Hào làm Quyền Giám đốc và trực tiếp giảng dạy môn toán. Nhưng rồi lính mũ đỏ gây hấn ở phố Hàng Bún; xe Jeep nhà binh Pháp lồng lộn trong đêm. Trước ngày tự vệ sao vuông thành Hoàng Diệu nổ súng đánh trả quân xâm lược, anh Tuỵ dạo khắp phố hè Hà Nội, tìm mua những cuốn sách toán bằng tiếng Pháp mang về quê ở Quảng Nam để tự học dần.

Năm 1951, đang dạy tại Trường trung học Lê Khiết trong vùng tự do liên khu 5, được tin GS Lê Văn Thiêm đã rời Thuỵ Sĩ trở về bưng biền Nam Bộ, và rồi ông đã đi bộ ra Việt Bắc, anh Tuỵ liền khẩn khoản đề nghị Sở Giáo dục cho phép anh ra Tuyên Quang thụ giáo thầy Thiêm.

Tuyến đường dọc Trường Sơn ngày ấy còn là một lối mòn nhỏ hẹp len lỏi giữa rừng sâu, xe cơ giới chưa thể qua lại như đường Hồ Chí Minh sau này. Thế nhưng đã được tổ chức rất tốt. Cứ mỗi chặng 30 kilômét lại có một trạm nghỉ đêm và hôm sau có giao liên dẫn đường cho cán bộ, bộ đội đi tiếp.

Trong balô, anh Tụy chỉ mang theo gạo, muối, sách toán, và thuốc. Quý nhất là quinakrine chữa sốt rét và vitamin B chống phù nề. Ăn cơm với muối, rau rừng. Ba mối nguy hiểm chết người lúc đó là: bị quân Pháp phục kích, bị hổ vồ, và bị sốt rét ác tính. Ở miệt U Bò, Ba Rền có “ông ba mươi” đã ăn thịt mấy chục anh cán bộ, bộ đội! Thế nhưng, ta không dám nổ súng bắn hổ vì sợ lộ, máy bay địch tới ném bom. Một anh đi cuối đoàn, tụt quai hậu dép lốp, dừng chân rút lại quai, thế là bị hổ vồ, tha vào rừng!…

Ròng rã nửa năm trời cuốc bộ, anh mới ra đến Tuyên Quang. Tới nơi thì GS Thiêm đã sang Trung Quốc! Thế là anh vượt biên giới Việt – Trung đi tiếp tới Khu Học xá trung ương lúc bấy giờ đóng nhờ trên đất Trung Quốc, tại ngoại thành Nam Ninh.

Hà Nội giải phóng. Anh trở về nước, giảng bài tại Trường Đại học Khoa học. Tháng 7/1957, anh được cử sang Liên Xô thực tập.

Chỉ sau hơn một năm đến Moskva, anh viết xong luận án tiến sĩ – quãng thời gian ngắn đáng ngạc nhiên đối với một người tự học chương trình đại học.

Nhưng anh đã không mãn nguyện với tấm bằng tiến sĩ cùng lèo tèo vài ba công trình đầu tay! Chính vì vậy mà ngày nay chúng ta mới có một nhà toán học lớn với hơn 130 công trình sâu sắc, bề thế, hầu hết được công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín cao.

Có thể nói, bên cạnh tư chất bẩm sinh thông minh vượt trội, thì ý chí sắt đá bất chấp mọi hiểm nguy, quyết vượt Trường Sơn tầm sư học đạo, coi học tập và nghiên cứu là lẽ sống đã giúp nhà toán học ấy đạt tới đỉnh cao vinh dự: Giải thưởng Hồ Chí Minh.

GS Ngô Việt Trung, Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Thế giới thứ ba, nhận xét: “Hoàng Tuỵ và Ngô Bảo Châu là hai ngôi sao của toán học Việt Nam”. 

Theo Hàm Châu

Khoa học và Đời sống Online

          CHUYÊN MỤC SƯU TẦM NGỮ NGHĨA và CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE số này tạm nghỉ

 

 

 

Docago.wordpress.com số ra thứ 3 ngày 25/10/2011 (tức 29 tháng 9 năm Tân Mão)

(  LBT: Từ nay cho đến ngày quốc tế các nhà giáo(20/11), trong vòng một tháng, Docago.wordpress.com sẽ tập trung cho chủ đề giáo dục. Đề nghị các bạn đóng góp bài. Xin cảm ơn)

            

CHUYÊN MỤC: VĂN HÓA GIÁO DỤC ĐÔNG TÂY

 

ALBERT EINSTEIN BÀN VỀ GIÁO DỤC

                          Phạm Thị Ly dịch
Ngày lễ kỷ niệm nói chung là ngày chúng ta dành cho sự hồi tưởng, nhất là để tưởng niệm những nhân vật đã đạt được nhiều thành tựu đặc biệt trong việc phát triển đời sống văn hóa. Buổi lễ thân mật này được dành cho những người tiền nhiệm của chúng ta, ắt là không được quá sơ sài, đặc biệt là khi một kỷ niệm như vậy về quá khứ lại rất thích hợp để khơi gợi những điều tốt đẹp. Nhưng lễ kỷ niệm này đáng lẽ phải do một người mà cả thời thanh xuân của người ấy đã gắn bó với đất nước này và thân thuộc với cả quá khứ của nó đứng ra thực hiện, chứ không phải một người lang thang qua nhiều quốc gia và thu thập kinh nghiệm của mình trong đủ mọi thứ xứ sở khác nhau như tôi. Bởi vậy, tôi cũng không có gì nhiều để phát biểu, ngoài việc nói về những vấn đề trong quá khứ đã từng và trong tương lai sẽ tiếp tục gắn với những vấn đề của giáo dục, không phụ thuộc vào không gian và thời gian.

 

Trong khi cố gắng nói về điều này, tôi không thể đòi hỏi rằng mình phải có vị trí của một người có thẩm quyền để phát biểu, đặc biệt là thẩm quyền về trí thông minh và điều thiện- điều này nghĩa là, con người của mọi thời đại đều phải giải quyết những vấn đề của giáo dục và chắc chắn là đã lặp đi lặp lại rất rõ ràng quan điểm của họ về những vấn đề này.  Làm sao tôi, một  kẻ ngoại đạo trong lĩnh vực giáo dục, có thể can đảm giải nghĩa những vấn đề mà mình chẳng có cơ sở gì ngoại trừ kinh nghiệm cá nhân và sự tin chắc của bản thân mình về những điều ấy? Nếu đó thực sự là một vấn đề khoa học, họa may người ta còn có thể im lặng trước những mối quan tâm như thế. Nhưng những vấn đề về con người thì khác. Giáo dục tương tự như bức tượng cẩm thạch đứng trong sa mạc và liên tục bị đe dọa chôn vùi bởi cát chảy. Luôn luôn cần có những bàn tay chăm sóc để bức tượng cẩm thạch ấy tiếp tục tỏa sáng trong ánh mặt trời. Tôi thấy mình cũng cần góp một bàn tay vào chăm sóc bức tượng ấy.

 

Xưa nay nhà trường bao giờ cũng là phương tiện quan trọng nhất để chuyển giao sự phong phú của truyền thống từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngày nay, điều này thậm chí còn rõ ràng hơn so với các thời đại trước đây, bởi vì trong sự phát triển của đời sống kinh tế hiện đại, chức năng chuyển giao truyền thống và giáo dục của gia đình  đã suy yếu đi nhiều. Do vậy sự tiếp diễn lành mạnh của xã hội loài người vẫn phải tùy thuộc vào học đường với tầm quan trọng còn to lớn hơn cả trước đây.

 

Nhiều khi người ta nhìn nhận mục tiêu của nhà trường đơn giản chỉ là chuyển giao một khối lượng tối đa tri thức nào đó cho thế hệ trẻ. Điều này không đúng. Tri thức thì khô cứng và bất động, trong lúc nhà trường phục vụ cho những con người sinh động. Nhà trường phải giúp từng cá nhân phát triển những phẩm chất và năng lực có giá trị đối với lợi ích chung của cộng đồng. Nhưng điều này không có nghĩa là cá tính sẽ bị triệt tiêu và cá nhân trở thành công cụ đơn thuần của cộng đồng như là con ong hay cái kiến. Bởi lẽ một cộng đồng gồm những thành viên bị tiêu chuẩn hóa và thiếu vắng sự độc đáo và mục đích cá nhân sẽ là một cộng đồng nghèo nàn, không có khả năng phát triển. Trái lại, mục tiêu của giáo dục phải là huấn luyện cho mọi cá nhân đạt đến hành động và suy nghĩ độc lập, đồng thời đạt đến chỗ nhận thức rõ ràng ý nghĩa quan trọng nhất trong đời sống của mình là phục vụ cộng đồng. Theo nhận xét của tôi, hệ thống trường học của người Anh đã đạt đến gần sự nhận thức về lý tưởng này hơn cả.
Nhưng làm cách nào chúng ta có thể đạt được lý tưởng ấy? Liệu có thể thực hiện được mục tiêu này bằng cách răn dạy những bài giảng đạo đức? Không thể được. Ngôn từ là – và chỉ là – những âm thanh rỗng tuếch; con đường dẫn đến diệt vong đã từng được đồng hành bởi những lời lẽ đầu môi chót lưỡi về lý tưởng. Nhưng nhân cách không hình thành từ những gì được nghe và nói, mà từ hành động và sự lao động không ngừng.

 

Do đó, biện pháp quan trọng nhất của giáo dục bao giờ cũng phải nhất quán với những giá trị có thể thôi thúc con người đạt được một thành tựu thực sự. Điều này đúng với việc tập làm văn của một một em học sinh tiểu học, cũng như luận văn tốt nghiệp của một vị tiến sĩ, đúng với việc học thuộc lòng một bài thơ, viết một bài tiểu luận, dịch một đoạn văn, cũng như giải một bài toán, hay tập luyện một môn thể dục thể thao.

Đằng sau mọi thành tựu luôn có một động cơ làm nền tảng, và ngược lại, động cơ ấy được nuôi dưỡng và củng cố nhờ sự hoàn tất mỹ mãn các nhiệm vụ. Ở đây, có những khác biệt to lớn, và đồng thời, những khác biệt ấy đóng một vai trò quan trọng bậc nhất đối với giá trị giáo dục của nhà trường. Động cơ đưa đến thành tựu có thể bắt nguồn từ sự sợ hãi và cưỡng bách, từ khát vọng quyền uy và danh tiếng, hay từ lòng say mê tìm hiểu, từ khao khát chân lý và tri thức, tính hiếu kỳ mà mọi đứa trẻ lành mạnh đều có, nhưng thường sớm lụi tàn.

 

Ảnh hưởng của giáo dục đối với học sinh thông qua việc thực hiện một nhiệm vụ có thể rất đa dạng; tùy thuộc vào sự sợ hãi hình phạt, nỗi đam mê vị kỷ, hay những khao khát khoái lạc và thỏa mãn có tồn tại đằng sau công việc mà đứa trẻ thực hiện hay không. Không ai có thể khẳng định rằng việc quản lý của nhà trường và thái độ của người thầy không tạo ra một ảnh hưởng nào đó đến việc hun đúc nền tảng tâm lý của học sinh.

 

Đối với tôi, điều tệ hại nhất của nhà trường chủ yếu là việc dùng sự khiếp sợ, sự cưỡng bách, và quyền hành giả tạo làm phương pháp giáo dục. Cách thức đối xử như thế sẽ hủy hoại những cảm xúc lành mạnh, lòng trung thực và tính tự tin nơi học sinh. Nó sản sinh ra loại người chỉ biết phục tòng. Không có gì ngạc nhiên khi loại trường học đó đã tạo ra nền cai trị của nước Đức và nước Nga. Tôi cho rằng trường học ở Hoa Kỳ đã tránh được điều này; cũng như ở Thụy Sĩ và nhiều quốc gia khác. Biện pháp để có thể giữ trường học không rơi vào tình trạng tệ hại bậc nhất trên xem ra cũng khá đơn giản. Hãy làm giảm đến mức thấp nhất các biện pháp cưỡng bách trong uy quyền của thầy cô giáo, để cho nguồn gốc duy nhất của lòng tôn sư nơi học trò là phẩm chất trí thức và nhân cách của người thầy.

 

Hai là, cái được gọi là động cơ, khát vọng, hay nói một cách nhẹ nhàng hơn, mong muốn được thừa nhận và quan tâm, vốn sẵn có trong bản chất con người. Không có tác nhân kích thích tinh thần này, sự hợp tác của con người sẽ hoàn toàn không thể thực hiện được; nỗi ước vọng được nhìn nhận chắc chắn là một trong các mãnh lực ràng buộc quan trọng nhất của xã hội. Trong mối cảm xúc phức hợp này, hai lực lượng xây dựng và phá hủy luôn nằm kề cận bên nhau. Ước mong được tán thành và nhìn nhận là một động cơ lành mạnh, nhưng khao khát được người khác thừa nhận rằng ta là một cá thể giỏi hơn, mạnh hơn và khôn ngoan hơn những cá thể khác rất dễ dẫn đến một tâm lý vị kỷ thái quá, có thể làm tổn thương cá nhân và cộng đồng. Do đó, nhà trường và người thầy phải cảnh giác trước việc áp dụng những biện pháp dễ dãi để tạo ra tham vọng cá nhân nhằm khuyến khích tính chuyên cần của học sinh.

 

Lý thuyết Darwin về đấu tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên đã được nhiều người mang ra biện minh như là một khái niệm có thẩm quyền trong việc khuyến khích tinh thần cạnh tranh. Một số người cũng bằng phương thức này đã cố gắng chứng minh một cách ngụy biện về mặt khoa học sự thiết yếu của hành động cạnh tranh kinh tế có tính chất loại bỏ lẫn nhau giữa các cá nhân. Nhưng điều này hoàn toàn sai lầm, bởi vì con người có được sức mạnh trong cuộc đấu tranh sinh tồn của mình là nhờ vào một sự thật hiển nhiên rằng chúng ta là một sinh vật có đời sống hợp quần. Chỉ có rất ít cuộc giết nhau của những con kiến trong tổ là cần thiết cho sự tồn vong; và đối với từng cá nhân trong cộng đồng nhân loại thì cũng như vậy.

 

Vì vậy, chúng ta nên cảnh giác việc in vào tâm trí những người trẻ tuổi cái ý niệm thông thường rằng thành công là mục đích của cuộc đời; bởi vì người thành công thường là kẻ nhận được nhiều từ đồng loại của mình, và những gì anh ta nhận lại thường không tương ứng với những gì anh ta xứng đáng nhận nhờ phục vụ cộng đồng. Giá trị của một người là ở những gì người ấy đã cho đi, chứ không phải những gì người ấy có khả năng nhận được.

 

Động cơ quan trọng nhất trong học tập và trong đời sống chính là niềm vui có được qua công việc, sự hạnh phúc khi gặt hái thành quả và khi nhận thức giá trị của thành quả đối với cộng đồng. Trong việc khơi dậy và củng cố sức mạnh tâm lý ấy trong thanh niên, tôi cho rằng nhiệm vụ quan trọng nhất là của nhà trường. Chỉ một nền tảng tâm lý như thế mới dẫn đến khát vọng cao thượng trong việc giành lấy những thành tựu cao cả nhất của con người, đó là tri thức và kỹ năng thẩm mỹ.

 

Đánh thức sức mạnh tâm lý hữu ích này chắc chắn không dễ hơn là cưỡng bách hay khơi dậy tham vọng cá nhân, nhưng lại có giá trị hơn nhiều. Vấn đề là phát triển khuynh hướng giống như trẻ con đối với các hoạt động vui chơi và khát vọng thơ ngây trong việc nhận thức, đồng thời hướng dẫn học sinh tiếp cận các lãnh vực kiến thức quan trọng của xã hội. Giáo dục chủ yếu được thiết lập dựa trên khát vọng thành công và ước muốn được thừa nhận. Nếu nhà trường đạt được hiệu quả theo quan điểm như thế, thì nó sẽ được mọi thế hệ người học tôn trọng và các bổn phận mà nhà trường giao phó cho họ sẽ được tiếp nhận như một món quà. Tôi đã biết những đứa trẻ thích được đi học hơn là nghỉ hè.

 

Loại nhà trường như vậy đòi hỏi người thầy phải là một nghệ sĩ trong địa hạt chuyên môn của mình. Điều gì có thể góp phần xây dựng tinh thần này trong nhà trường? Có một biện pháp chung và đơn giản cho vấn đề này, cũng như cho việc duy trì và phát triển các đức tính tốt đẹp nơi cá nhân. Tuy nhiên, có một số điều kiện cần thiết nhất định mà ta có thể đáp ứng được.

 

Trước hết, người thầy phải được trưởng thành trong những ngôi trường như thế. Hai là, họ phải được tự do lựa chọn kiến thức phương pháp giảng dạy. Bởi vì có một thực tế là lòng yêu nghề của người thầy sẽ bị giết chết bởi những sức mạnh áp chế từ bên ngoài.

 

Nếu quý vị đã chăm chú theo dõi xuyên suốt những ý tưởng của tôi đến đây, thì chắc cũng sẽ thắc mắc ở một điểm. Tôi đã phát biểu trọn vẹn, theo ý kiến riêng của mình về việc thanh niên nên được giáo dục trong một bối cảnh tinh thần như thế nào. Nhưng tôi không nói gì cả về sự lựa chọn môn học và phương pháp giảng dạy. Giáo dục nhân văn nên chiếm ưu thế, hay giáo dục khoa học và kỹ thuật?
Đối với câu hỏi này, tôi xin trả lời như sau: theo ý kiến của tôi, tất cả những gì thuộc về vấn đề này đều nằm ở tầm quan trọng thứ cấp. Nếu một chàng trai đã tập thể dục và đi bộ để rèn luyện sức chịu đựng của cơ bắp và thể chất của mình, thì tức là anh ta sẽ có đủ sức khỏe cho mọi công việc lao động chân tay. Điều này cũng giống với việc rèn luyện tinh thần và kỹ năng. Vì vậy, không có gì sai khi định nghĩa giáo dục như sau: “Giáo dục là những gì còn lại khi người ta đã quên hết mọi điều được học ở nhà trường”. Vì lẽ đó, tôi không lo về chuyện phải đứng về bên nào trong cuộc xung đột giữa những kẻ theo trường phái giáo dục nhân văn cổ điển và những người đề cao nền giáo dục ưu tiên cho khoa học tự nhiên.

 

Mặt khác, tôi muốn phản đối ý tưởng cho rằng nhà trường phải trực tiếp giảng dạy những kiến thức và đem lại những thành quả cụ thể mà người học sau đó phải lập tức sử dụng được ngay trong cuộc sống. Cuộc sống có những yêu cầu đa dạng đến nỗi việc đào tạo như thế khó lòng có thể đem lại thành công cho nhà trường. Ngoài ra, đối với tôi, hơn thế nữa, thật đáng chê trách khi xem cá nhân như là một công cụ vô tri. Mục tiêu của nhà trường luôn luôn phải là mang lại cho thanh niên một nhân cách hài hòa, chứ không phải chỉ giúp họ trở thành một chuyên viên. Điều này, theo tôi, trong một ý nghĩa nào đó, cũng hoàn toàn đúng đối với các trường kỹ thuật, những trường mà người học sẽ dành trọn cuộc đời mình cho một nghề nghiệp chuyên môn cụ thể. Việc phát triển khả năng tổng quát về suy nghĩ và xét đoán độc lập, luôn luôn phải được đặt lên hàng đầu, chứ không phải việc thu nhận những kiến thức cụ thể. Nếu một người nắm vững các yếu tố cơ bản của các môn học và biết cách tự suy nghĩ và làm việc độc lập, chắc chắn anh ta sẽ tìm được lối đi cho chính mình, và ngoài ra, sẽ có khả năng thích nghi với sự tiến bộ và những đổi thay của hoàn cảnh tốt hơn những kẻ được đào tạo chủ yếu để gom góp những kiến thức vụn vặt.

 

Cuối cùng, tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa rằng những gì được phát biểu nơi đây, dưới một hình thức không có ý nghĩa nào khác hơn là một ý kiến cá nhân, được hình thành chỉ từ những kinh nghiệm cá nhân mà tôi đã thu thập được trong vai trò của một sinh viên và thầy giáo.

CHUYÊN MỤC THƠ VĂN:

Trần văn Kinh

. Nhớ thầy.

 

Thất thập mùa xuân lại nhớ thầy,

Xưa thầy thất thập vẫn hăng say.

Bát tuần lại có “Vân Trình”  (*) tuyển,

Tiếc nỗi cơ trời khó đổi thay!

—–

(*) Bút danh của cố GS Bùi Văn Nguyên.

 

              Trương Quang Đệ

 

 

NIỀM VUI BẤT NGỜ

 

Trong giờ giải lao giữa hai tiết học buổi sáng, tôi thong thả dạo bước trên con đường lát đá ở sân sau của Trường Đại học khoa học Huế, cái sân có hình dáng một vườn hoa kiểu Pháp. Khuôn viên đại học hiện nay nằm gọn trong ngôi trường thiên chúa giáo ngày xưa có tên là Trường Thiên Hựu – Providence. Cái tên ngày xưa ấy có ý nghĩa với tôi biết bao vào lúc này, bởi vì  nó phù hợp tuyệt vời với tâm trạng tôi khi đó. Rõ ràng đây là một khoảnh khắc hạnh phúc hiếm thấy trong cuộc sống thường ngày, gần như không bao giờ có thể xẩy đến. Ừ nhỉ, không biết có bao nhiêu địa danh đầy ý nghĩa và đầy gợi cảm đã biến mất theo đà tiến lên của lịch sử? Danh sách những tên như vậy chắc sẽ dài dặc khôn lường. Nếu một ngày nào đó con đường đi ngang trước nhà tôi mang tên một kẻ mu-dích hãnh tiến thì tôi làm sao nhỉ? Chắc sẽ chuyển đi ờ nơi khác, thế thôi. Mặc dầu, như dân gian nói: chạy trời không khỏi nắng!

Vậy là tôi đang ở  trong sân Trường Thiên Hựu –Providence  và đang lẳng lặng tận hưởng một khoảnh khắc hạnh phúc bất ngờ. Muôn vàn yếu tố nội tâm và ngoại cảnh kết hợp lại vào lúc đó để tạo ra một cảm giác khoan khoái chưa hề thấy. Trời hôm đó tuyệt đẹp, một ngọn gió nhẹ mát rượi lay khẽ những cây tùng thấp lún và những khóm hoa trong vườn. Tôi bước chậm rải trên những lối đi giữa đám cỏ non xanh mướt.

Tôi vừa hoàn thành một công trình tạc tượng: từ đống vật liệu tản mạn thô sơ tôi đã tạo nên một hình dáng tinh tế  lạ thường.  Tôi nói vậy qua ngôn ngữ hình ảnh hoặc làm một phép đẳng cấu toán học trong hai không gian khác nhau. Thực ra đó chỉ là công việc của một giáo viên dạy môn dịch.ngược từ tiếng Việt ra tiếng Pháp. Tôi phát cho sinh viên trích đoạn một tuyện ngắn Việt độc đáo và yêu cầu họ dịch ra tiếng Pháp. Sinh viên làm việc theo bốn nhóm và như vậy tôi thu được bốn bài dịch khác nhau được viết thành bốn cột song song lên chiếc bảng xanh khá lớn.  Tôi cho tiến hành việc sửa chữa tập thể những bài dịch lần lượt từ bài 1 đến bài 4. Sinh viên hào hứng tham gia tích cực vào việc chữa bài và bản thân họ ngạc nhiên thấy tính hiệu quả của công việc. Họ cảm thấy mỗi lúc một tự tin hơn và thấy mình té ra cũng làm được cái gì đó. Thế rồi điều kỳ diệu đã xẩy ra: tất cả những bài chữa chẳng qua là các bài dịch được giản lược; thầy cũng như trò không thêm vào một từ mới nào, một cấu trúc mới nào. Thầy và trò chỉ cân nhắc bỏ bớt những cách nói vụng về hay không cần thiết; chỉ thay đổi vị trí một số từ và mệnh đề ở vài chỗ nào đó trong các bài. Bốn bài chữa xuất hiện trên nền các bài cũ với dáng dấp rõ ràng hiển nhiên như có phép màu. Cả thầy lẫn trò cảm thấy ngơ ngác một hồi lâu. Rồi bằng một giọng nói không che giấu nổi lòng xúc động và một niềm tự hào kín đáo, thầy giáo tuyên bố một lời ngắn gọn, kiểu một công thức toán học: “Chữa văn, tức là giản lược ngôn từ và sắp xếp chúng lại theo cách khác”.

Suy cho cùng, một điều kỳ diệu như vậy khó xẩy ra hoặc có xẩy ra thì theo một xác suất vô cùng nhỏ bé. Cũng tương tự như xác suất xuất hiện sự sống trên hành tinh. Tự đáy lòng tôi nhận ra  cho riêng mình một sự thực đáng ghi nhớ trong đời. Những cố gắng có vẻ phi thường của tôi trong quá khứ đã làm xuất hiện một ngày gần xa nào đó vài kết quả. Trong khoảnh khắc hạnh phúc này tôi nhớ lại sự thém khát hiểu biết cao độ nung nấu lòng tôi suốt cả tuổi thanh xuân chìm đắm trong sự phi lí của đời sống trí tuệ và vật chất của một thời đại lịch sử.  Tôi kiên trì học các ngoại ngữ vào những dịp về nông thôn “ba cùng với bần cố nông” để cải tạo triệt để cái tư tưởng vồn có nguồn gốc tiểu tư sản của mình. Tài liệu học tập chẳng có gì ngoài mấy cuốn có đời sống dai dẳng kiểu “Assinil” như L’anglais sans peine, Tell us another, French without toil vv mà tôi kiến được ở các quầy sách cũ ở Hà nội.

Nhờ sự khát khao hiểu biết ấy mà tôi không rơi vào cuộc sống cuồng tín thô lỗ thường ngày. Tôi trở thành một nhà giáo “bền vững”, như một chiếc xe chạy mọi địa hình hay một chiếc command-car của Liên xô cũ, luôn sẵn sàng truyền đạt cho học sinh những thứ họ cần trong nhiều lĩnh vực khác nhau.Tôi tin chắc vào trí nhớ và khả năng nhận thức. Tôi bất kỳ lúc nào cũng phân biệt được cái thật, cái giả. Quan điểm chính trị, đạo đức, khoa học của tôi luôn không thay đổi, luôn nhất quán và không gì lay chuyển dầu lịch sử chảy theo dòng nào đi nữa. Bạn bè đồng nghiệp khó khăn hay gặp rủi ro đều nhìn tôi như một chỗ dựa tinh thần.

Tôi cố vượt qua hết thảy những  sự kiện duy ý chí, sùng bái cá nhân, sự đần độn hoá, căn bệnh dễ lây lan thường thấy ở những dân tộc có dân trí thấp. Tôi luôn cố giữ cho mình vẫn là mình đối diện với lối sống và tư duy cuốn theo chiều gió.

Khoảnh khắc hạnh phúc này giá bao nhiêu? Tôi vừa đi vừa nhẩm tính khối lượng khổng lồ những cố gắng của bản thân trong quá khứ. Suy cho cùng, một điều cần ghi nhớ mãi trong cuộc đấu tranh cô đơn và buồn tẻ đó: cứ giữ được mình nguyên si là chiến thắng!

 

Trương Quang Đệ

(Nguyên tác bằng tiếng Pháp: Un instant de bonheur).

 

 


Đỗ Anh Thơ – Hồi ký nhỏ về giáo dục hay là suy nghĩ trên hòn đá mồ côi ở vườn Đồng Mô

( Bài đã đăng trên Talawas)

 

Cuối cùng thì tôi cũng chọn mua được một khu vườn ở Đồng Mô, cách Ba Vì khoảng 6 km, dự định để an dưỡng tuổi già và để viết hồi ký. Công ty nhà đất rao bán, hứa như đinh đóng cột rằng: “Chỉ 4-5 tháng sau bác sẽ có Internet”. Nhưng 1 năm rồi 2 năm, điện thoại và nước sạch vẫn chưa tới nơi, nói gì đến “nét” và “mờ”. Tuy vậy, hàng tháng, tôi vẫn chịu đựng bao lời phàn nàn của vợ, mất 600-700 ngàn tiền taxi lên đó chơi. Thời gian đầu, tôi đi một tháng hai ngày, đêm nghỉ lại, để được ngắm ngọn Ba Vì và xem đàn gà, gà mẹ lẫn gà con ríu rít kéo nhau vào chuồng. Tôi ngồi trên hòn đá mồ côi to ở một góc vườn. Xung quanh còn hàng chục hòn đá khác. Ban đầu, tôi tưởng tượng đây là những hòn đá còn sót lại của Sơn tinh dùng để bắn Thủy tinh, vì chúng giống những viên đạn súng thần công khổng lồ.

Nhưng khi hoàng hôn đã tắt, ngọn Ba Vì mờ mờ trong sương, tôi lại nghĩ chúng sao mà giống như số phận của những người trí thức VN làm vậy! Hàng triệu năm trước, khi nứt từ những tảng đá mẹ, chắc chúng đều sắc cạnh lắm. Nhưng rồi chúng lăn xuống suối, bị nước xô sóng dạt, bào mòn dần rồi va đập lẫn nhau, đến nỗi biến thành những hòn đá mồ côi như hôm nay. Gió, mưa, cành lá rừng quất mạnh, chúng vẫn cứ trơ trơ ra đó, vô cảm với thời gian.

Nghĩ đến đó, tôi rưng rưng muốn khóc. Tôi nghĩ đến thân tôi, lên sáu, cha tôi đã bắt cắp sách đến trường học dự thính (hors classe) lớp đồng ấu (cours enfantin). Một hôm, quan đốc Hy[1] đến thanh tra trường, thầy giáo gọi chị tôi học lớp nhất (cours superieur) đưa tôi về. Tôi không chịu. Chị dọa: “Em học kém, nhà trường đuổi rồi!” Tôi khóc sướt mướt, chạy về nhà bỏ cả bữa cơm chiều. Hôm sau, chị tôi mới dắt tôi đến lớp lại. Cuối năm đó tôi được lên thẳng lớp dự bị (cours prepratoire) như các bạn chính thức. Hè năm 1945, đang học lớp nhì đệ nhị (cours moyen deux), nghe chính phủ Trần Trọng Kim cho học sinh cả hai lớp nhất và đệ nhị đi thi bằng tiểu học (certificat d’etude primaire), mẹ tôi thuê một thanh niên cõng tôi từ Nghi lộc lên Nam Đàn để thi. Nhưng kỳ thi đó bị hoãn.

Năm 1946 tôi thi đỗ vào College Nguyễn Công Trứ. Nhưng chỉ mấy tháng sau toàn quốc kháng chiến, thành phố Vinh bị tiêu thổ, trường sơ tán lên Đô Lương. Mẹ không thể lo đủ gạo cho tôi đi trọ học. Tôi phải về học ở trường tư thục Nghi lộc. Lúc đầu tôi còn chăm, từng chép tay cả quyển sách toán lớp 7 của thày Lê Hải Châu soạn. Nhưng sau vì tôi mê môn văn, bỏ hết thời gian vào thơ “yêu vụng nhớ thầm” nên môn toán kém dần. Tiếp theo, tôi bị thày Bùi Văn Nguyên phê vào học bạ: “Năng lực văn học bình thường mặc dù đứng đầu môn này”.

Lời thày như gáo nước lã, khiến cho tôi thêm tự ty. Nhưng trên cơ sở Pháp văn ở trình độ học xong livre unique và Anh văn học xong l’anglais vivant quatrieme, tôi thường xuyên ôn, để khỏi quên, cho dù khả năng nói rất tồi. Đến nay tôi vẫn cảm thấy, sở dĩ tôi vượt qua được số phận là do có vốn ngoại ngữ từ nhỏ. Tôi cho rằng chủ trương bỏ ngoại ngữ ở cấp 1 là một sai lầm. Ở lứa tuổi đó, các em tiếp thu tiếng nước ngoài không khác gì tiếng mẹ đẻ. Nên sau này trải qua bốn năm chục năm rồi, qua hàng chục đời bộ trưởng, ta vẫn không tạo được cho sinh viên có bản lĩnh nghe giảng, tham khảo giáo trình và thuyết trình chuyên đề bằng tiếng nước ngoài. Việc thày đọc, trò ghi là không thể tránh khỏi, là một tệ hại nhất thời đó, từ giáo dục đại học đến trung học chuyên nghiệp. Hậu quả còn di hại cho đến tận ngày nay: Ta vẫn không thể dạy cho sinh viên suy nghĩ phản tư một cách sáng tạo được (teach to think).

Trở lại về đời mình: cuối cấp ba, vào bộ đội không lọt, tôi buộc phải đi học tiếng Trung ở Khu học xá Trung ương. Không ngờ tiếng Tàu đã gắn bó suốt đời tôi. Tôi vừa cảm phục nền văn hóa Trung Quốc, vừa khinh ghét họ về thái độ nước lớn, nham hiểm mà bần tiện. Nhưng như hòn đá ban đầu đầy góc cạnh, tôi cũng bị mài tròn dần do cái thớt cối xay Xô-Trung. Ban đầu, tôi tưởng về ngành Dệt cùng ông anh cả một thời gian, rồi tìm cách chuyển sang nghiệp văn chương. Tôi có thói quen tự học tiếng Anh và Pháp qua tiếng Tàu. Tiếng này liên tưởng qua tiếng kia cùng một lúc. Không ngờ “giỏi” cái tiếng “nỉ hảo” đó, cùng với vốn liếng tiếng Pháp tiếng Anh ở mức “basic course” như trên đã níu tôi lại trong ngành giáo dục. Tôi lăn như một hòn đá, từ học ngành Dệt thoi, Thông gió điều tiết không khí với chuyên gia Trung Quốc, rồi được đẩy sang học kỹ thuật ươm tơ chỉ vì mình có khả năng duy nhất vừa nghe chuyên gia giảng, vừa soạn giáo trình vừa dạy cho học sinh. Tôi tự hào, làm việc quên cả sức khỏe và mệt mỏi[2]. Để biên soạn giáo trình, tôi cùng các bạn đồng nghiệp chuyển ngữ có sáng tạo vô số thuật ngữ cho ngành Dệt như tay đập(打手 – bras frappe’), quả lô (西林 – cylindre), guồng lại (整理 – re-reeling)… đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp giáo dục kỹ thuật Dệt non trẻ lúc bấy giờ[3]. Nhưng rồi chỉ vì nghĩ không ai có thể thay thế mình, hơn nữa ở nơi sơ tán, nước ao tù, cả xóm đều giặt đồ bẩn rồi lại múc lên ăn, tôi đã gánh về lọc và bị bí thư chi bộ vốn là học sinh cũ của mình quy kết là tiểu tư sản, hoãn kết nạp đảng mất sáu tháng. Thế là tôi bắt đầu phải câm lặng và an phận như hòn đá, để cho họ mặc sức lăn trên con đường đảng đã vạch.

Mãi cho tới khi được chuyển sang Viện nghiên cứu Dệt phụ trách phòng Thông tin Dự báo và Tổng biên tập tạp chí, có nguồn thông tin của thế giới vừa mở và nhờ năng lực xử lý của mình, nó đã giúp tôi có thêm khả năng phản tư. Hòn đá – khối óc chai lỳ – của tôi bắt đầu có lại ít nhiều cạnh sắc.

Tôi mạnh dạn loại bỏ những gì bị nhồi nhét, cái đầu tôi bắt đầu biết phản cảm phản tư và tỉnh táo hơn. Tôi ít khi để mắt tới đài báo tuyên truyền, nhất là báo An ninh, để cho môi trường sống của mình đỡ bị ô nhiễm thêm.

Nay về già, ngồi một mình trên hòn đá mồ côi ở vườn nhà. Lúc tỉnh, tôi kiểm điểm lại đời mình mà không cần sổ tay tu dưỡng của thày hiệu trưởng Võ Thuần Nho. Tôi thấy tiếc cho sự an phận và bất lực tuổi già của bạn bè cùng trang lứa, nay đã như lá mùa thu, không tiếp cận được internet, và tiếc hơn cho sự cam chịu của tuổi trẻ có “In” mà không có “Out”, như những hòn đá, đang bị đẽo gọt dần cho tròn, lăn đi theo một cơ chế vòng tròn xoay, xoay như hòn đá mồ côi, từ biển lên ngàn, từ đồi xuống suối… Không ai còn biết đá đến từ đâu, biết đá cũng đã từng có góc cạnh? Lúc say, tôi lại nghĩ đến việc dặn con xây cho mình một hòn non bộ, bên cạnh trồng mấy gốc lộc vừng, đặt một hòn đá mồ côi mà mình từng ngồi, ghi mấy dòng chữ: “Nơi đây yên nghỉ một ông đồ quê ở Nghệ An” với bài thơ tự chế diễu mình cho con cháu ghi nhớ:

Thày đồ cắp tráp ra về,
Giang sơn nửa gánh bộn bề ở trong.
Hỏi thày cá gỗ còn không,
Sao thày lận đận long đong thế này?

Nhưng rồi tôi lại chặc lưỡi: vật đổi sao dời, lòng nguời ly tán, thì ngay đến cả lăng tẩm nguy nga rồi cũng bị người ta đập bỏ, đào cho mất gốc nữa là thứ “đá mồ côi của ông đồ gàn” như mày. Con cháu mày sẽ phiêu dạt tận đâu, chắc gì còn biết tới hòn đá mồ côi nơi đất Đồng Mô này nữa.

 

[1] Thày Đào Đăng Hy có quyển Địa lý Nghệ An nổi tiếng thời bấy giờ.

[2] Tôi đã từng bị ngất hai lần khi đưa học sinh đi thực tập ở Ba Thá.

[3] Tôi rời trường KT3 năm 1970. Như vậy đã 40 năm. Năm 1985, từ bỏ chiếc ghế Tổng biên tập ở Viện, tôi có trở lại trường làm chuyên viên và 1990 về hưu, đi nghiên cứu Hán Nôm ở Văn Miếu Quốc tử Giám, chuyển hẳn sang một lĩnh vực nghiên cứu hoàn toàn mới: học thuyết Lão Trang và triết học đạo đức. Bởi vậy những thuật ngữ Dệt mà tôi nêu trên chỉ có tính chất minh họa, vì tôi đã cố quên nó, dọn khỏi đầu từ lâu cùng với triết học Marx-Lenin. Nay hồi tưởng lại, chưa chắc đã hoàn toàn chính xác và còn có được dùng trong giáo trình trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp I nữa hay không. Có gì sai sót mong bạn bè đồng nghiệp trường miễn thứ.

 

CHUYÊN MỤC: CHUYỆN XƯA ….CHUYỆN NAY

Nhận định của trường đại học Harvard ( Hoa Kỳ) về giáo dục Ðại học Việt Nam  

 

Ba năm trước đây, giám đốc chương trình Việt Nam của trường đại học Harvard, Hoa Kỳ đã cảnh cáo rằng nền giáo dục Việt Nam có quá nhiều khuyết điểm.

Một lớp học của trong một trường đại học ở Việt Nam. (Hình: Báo Sài Gòn Tiếp Thị)

Ông Thomas J. Valleyly cũng cho rằng nền đại học Việt Nam chưa sụp đổ sau mấy chục năm vận hành dưới chế độ cộng sản là nhờ sinh viên dựa vào kiến thức Internet để còn “nương tựa” vào một chiếc ghế của trường đại học. Lý do thứ hai được nêu là tinh thần hiếu học của sinh viên Việt Nam đã giúp cho nền giáo dục Việt Nam tránh được sự tẩy chay.

Tuy nhiên, phải chờ đến cuộc hội thảo tổ chức hôm 13 tháng 10 tại Hà Nội thì mới làm bùng nổ nhiều ý kiến mổ xẻ tương lai của nền giáo dục đại học Việt Nam. Cuộc hội thảo này do Liên Hiệp Các Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam tổ chức để thu thập ý kiến về dự luật giáo dục Việt Nam sắp ra đời.

Theo báo Sài Gòn Tiếp Thị, nhiều ý kiến bàn luận đều có cùng một điểm chung: Chỉ trích mạnh mẽ chính sách giáo dục tại Việt Nam và cho rằng chưa nên ban hành vì luật giáo dục Việt Nam “chưa mang tầm chiến lược và còn quá vụn vặt”.

Một số giáo sư đại học cho rằng cần phải “cải cách toàn diện nền giáo dục”. Giáo sư Hoàng Tụy chỉ trích xu hướng chạy theo thành tích của một nhóm “đầu nậu” giáo dục trong nước dẫn tới việc nhà nước cứ hô khẩu hiệu hoài vẫn không chống nổi nạn tham nhũng trong ngành giáo dục.

Ông Hoàng Tụy còn nói nền giáo dục đại học Việt Nam đã đi lạc lối, trật khỏi đường ray của nền giáo dục hiện đại của thế giới. Ông này cũng cho rằng “lạc hậu còn có thể cải cách được chứ đi lạc đường thì khó mà theo kịp nhịp độ phát triển về hoạt động giáo dục của thế giới kể cả các nước trong khu vực”.

Trong khi đó theo nhà văn Nguyên Ngọc thì dự thảo luật giáo dục Việt Nam “có nhiều điểm đi ngược xu thế thời đại và không nói gì tới cải cách giáo dục là phương châm hết sức quan trọng”.

Ông Nguyên Ngọc cũng đồng thời phê phán tính chất lặt vặt của hoạt động giáo dục Việt Nam.

Một trong những nhân vật được nhiều người biết là ông Trần Hồng Quân hiện là chủ tịch các trường đại học cao đẳng tư nhân Việt Nam, cựu bộ trưởng Bộ Giáo Dục thì cho rằng “dự thảo luật Giáo dục Việt Nam chưa phác thảo chiến lược phát triển giáo dục của nền đại học Việt Nam”. Ông Trần Hoàng Quân cũng phê phán ngành giáo dục trong nước thiếu công bằng xã hội.

Một số học giả còn nhận định rằng ngành giáo dục còn dầy dẫy tệ nạn thế mà một số viên chức thẩm quyền của ngành này lại toan tính sửa đổi chương trình sách giáo khoa của các trường đại học tốn kém tới 70,000 tỉ đồng, tương đương với 3 tỉ rưỡi đô. Theo ông Hoàng Tụy, đây là biểu hiện “tư duy tùy tiện” của giới lãnh đạo ngành giáo dục Việt Nam.

Còn theo báo Tuổi Trẻ, giáo sư Nguyễn Ðăng Hưng từng giảng dạy tại Bỉ cho rằng luật Giáo dục Việt Nam hô hào “hội nhập thế giới” nhưng lại không chú trọng đến các cuộc cách mạng giáo dục thành công ở xứ người. Ông Hưng chê trách sự hỗn loạn trong hoạt động giáo dục ở Việt Nam khi cho ra đời quá nhiều hệ đào tạo từ hệ chính quy, hệ tại chức đến hệ cộng đồng…

Báo Tuổi Trẻ cũng cho rằng các sinh viên hệ tại chức chỉ cần “học chơi chơi” rồi đợi lúc tốt nghiệp cũng “lãnh một bằng đại học chính quy như ai”. Tình hình này đã dẫn đến xáo trộn hồi năm rồi qua vụ chính quyền Ðà Nẵng nhất định không chịu tuyển mộ những người tốt nghiệp đại học hệ tại chức.

Báo Tuổi Trẻ còn liên kết với hàng loạt sự kiện cho thấy hậu quả tệ hại xảy ra vì ngành đại học Việt Nam đi “lệch pha”. Chẳng hạn như vụ sinh viên trường đại học Bách Khoa Sài Gòn ra trường mà không tìm được việc làm từ những năm cuối thập niên 1980. Mới đây là vụ trường Ðại Học Ðà Lạt buộc phải đóng cửa 4 ngành học gồm xã hội học, văn hóa học, Việt Nam học và sư phạm tin học vì không tuyển đủ sinh viên. Báo Tuổi Trẻ cho biết trong đợt thi tuyển năm học vừa qua, trường Ðại Học Ðà Lạt chỉ tuyển được 167 sinh viên trong khi chỉ tiêu cho phép thu nhận là 1,500 sinh viên.

Báo Tuổi Trẻ còn đi xa hơn khi cho rằng sự bất cập của nền đại học Việt Nam xuất phát từ sự yếu kém của ngành trung-tiểu học. Một lớp học sinh chuẩn bị bước vào đại học với phong cách học rập khuôn, không quan tâm khiến kiến thức sáng tạo đã dẫn tới điều tồi tệ cho môi trường giáo dục đại học. (P.L.)

 

CHUYÊN MỤC : SƯU TẦM NGỮ NGHĨA:

 

               BQM:

Trước năm 1945 ở các trường tiểu học co môn được đặt tên là CÁCH TRÍ nhằm day cho các em  những hiểu biết về sự vật đơn giản thông thường

Từ cách trí từ đâu ra, có nghĩa như thế nào? Chữ “ cách trí” là rút gọn của bốn chữ trong sách Đại học ( sách học cho người lớn) là : 致 知 格 物 ( Trí tri cách vật). Nguồn gốc ở chương Lễ kí trong cuốn “Đại học” của Tăng Sâm , đồ đệ xuất sắc của Khổng Tử . Cách có nghĩa là phân tích, vật là sự vật .Trí tri là truy cho tới tận cùng của sự hiểu biết. Nguyên văn là “Trí tri tại cách vật, vật cách nhi hậu tri chí” (trí thức biết được do tiếp xúc với sự vật, vật được tiếp xúc rồi sau đó tri thức mới đến), nói tắt là “Cách trí”. Đây là mệnh đề về phương pháp tu dưỡng đạo đức về các mặt thành ý, chính tâm, tu thân. Trịnh Huyền  đời Đông Hán  chú giải: “Cách là đến cùng, vật như là sự vật”. Nhưng từ đời Tống về sau, có nhiều cách giải thích. Phái duy tâm Trình – Chu  đời Tống nhấn mạnh rằng tri thức vốn có ở con người, nhưng ảnh hưởng của vật dụng làm cho mất đi, cần phải “cách vật” hoặc “tức vật cùng lí” để lấy lại. Trình Di  giải thích: “Cách như là xét đến cùng, vật như là lí. Như vậy là xét đến cùng lí vậy” (“Nhị Trình di thư”, Cuốn 18). Chu Hy thì giải thích “Nói muốn đạt đến cái biết của ta thì căn cứ vào vật và xét đến cùng cái lí của nó” (“Tứ Thư”, chương cuối tập chú). Phái duy vật, tiêu biểu là Diệp Thích đời Nam Tống và Vương Phu Chi thời Minh, Thanh lại giải thích khác. Vương nói “Xét rộng đến tướng số, xét ra đến cổ kim để tìm cho hết lí, đó gọi là cách vật. Hư tâm để được sáng tỏ, suy nghĩ để biết được những ẩn dấu, đó gọi là trí tri (“Thượng thư dẫn nghĩa”). Hai loại giải thích như trên đều có ảnh hưởng rộng trong đông đảo các nhà Nho ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam.

 

                     CHUYÊN MỤC ; SỨC KHỎE

                 Đoàn Gia Lễ ( sưu tầm)

 HẠT GẤC  Những điều cần biết

                 

 

Một món ăn quen thuộc ở VN là xôi gấc. Và hạt gấc độc hại thế nào không dám chắc, chỉ xin quý bạn hãy dè dặt hơn!

 

 
Trái GẤC giấu độc trong hạt

 

 

Một số người dân có thói quen khi sử dụng trái gấc, cất giữ lại hạt gấc sống hoặc đã qua nấu xôi để dành làm thuốc. Khi dùng, có người chặt đôi hạt gấc ra, mài với ít rượu hoặc giấm thanh bôi mụn nhọt, quai bị… Số khác, giã nhân hạt gấc rồi hoà ít rượu đắp lên chỗ đau để chữa sưng vú, trĩ… Gần đây còn có một số bài thuốc khuyến khích sử dụng hạt gấc thay thế mật gấu. Liệu hạt gấc có thần kỳ đến vậy không?

 

Lượng beta-caroten của gấc cao gấp đôi càrốt, còn lycopen cao gấp 70 lần cà chua, nhưng đừng quên hạt gấc lại mang độc tính cấp LD50.

Cây gấc có danh pháp khoa học momordica cochinchinensis, thuộc chi mướp đắng, được Gấc tìm thấy chủ yếu tại Việt Nam. Hoa có sắc vàng. Quả hình tròn, sắc xanh, khi chín chuyển sang đỏ cam. Vỏ gấc có gai rậm. Bổ ra mỗi trái thường có sáu múi, thịt gấc màu đỏ cam, hạt màu nâu thẫm. Trái gấc được sử dụng trong ẩm thực lẫn y học. Gần đây, trái gấc cũng đã bắt đầu được xuất khẩu dưới dạng nước ép, dầu gấc… Bộ phận chủ yếu của gấc được dùng làm thuốc là màng, hạt, rễ…

 

Dược tính trong hạt gấc

Để chế thuốc, cần sấy hay phơi khô cả hạt và màng gấc (lớp cơm bao quanh hạt) cho đến khi cầm hạt không thấy dính tay nữa, tức đã se màng, thì lấy dao nhọn bóc lấy màng đỏ. Với màng này người ta dùng chế ra dầu gấc, mà thành phần chủ yếu là beta-caroten, lycopen, alphatocopherol… Beta-caroten khi vào cơ thể sẽ biến thành vitamin A. Lượng beta-caroten của gấc cao gấp đôi càrốt. Dầu gấc được cho là có chức năng phòng chống thiếu vitamin, tăng khả năng miễn dịch, tăng sức đề kháng cơ thể, chống oxy hoá, chống lão hoá tế bào, có tác dụng dưỡng da… Còn lại hạt với lớp vỏ đen cứng thì đem phơi khô để dành dùng làm thuốc. Nghiên cứu hiện đại cho biết trong nhân hạt gấc có 55,3% chất lipít (béo), 16,6% chất protit (đạm), 1,8% tanin, 2,8% xenluloza, 6% nước, 2,9% chất vô cơ, 2,9% đường, 11,7% chất khoáng… Ngoài ra còn có một lượng nhỏ các men photphotoba, invedaxa… Đông y gọi hạt gấc là mộc miết tử (ba ba gỗ) vì nó dẹt, hình gần như tròn, vỏ cứng, mép có răng cưa, hai mặt có những đường vân lõm xuống, trông tựa như con ba ba nhỏ. Nhân hạt gấc vị đắng, hơi ngọt, tính ôn, hơi độc, vào hai kinh can và đại tràng có tác dụng chữa mụn nhọt, tiêu thũng. Nó được dùng trong những trường hợp té ngã, bị thương, sang độc, sưng vú, sưng thũng hậu môn…

 

Thận trọng khi dùng đường uống

Cho đến nay, y học cổ truyền chưa có những khuyến cáo chính thức nào về việc không sử dụng hạt gấc trong các bài thuốc dùng đường uống. Các sách dược điển đông y chỉ dẫn cũng rất khác nhau. Một số sách như Cây thuốc dân gian Việt Nam, Cây thuốc nam phòng và chữa bệnh… lưu truyền các bài thuốc có sử dụng thành phần hạt gấc đều lưu ý chỉ dùng bôi ngoài. Một số tài liệu còn căn dặn không nên dùng hạt gấc cho bệnh thuộc về nội chứng (chứng bệnh ở phần trong thân thể). Tuy nhiên, cũng có những tài liệu như Cây thuốc quý, Những bài thuốc dân gian nổi tiếng… lại hướng dẫn hạt gấc có thể dùng uống, mỗi ngày uống một nhân nướng chín.

 

Mới đây, khoa dược đại học Y dược TP.HCM đã có một nghiên cứu khoa học về thành phần dược tính của cao lỏng hạt gấc, trong đó xác định độc tính cấp LD50 (liều dùng hạt gấc khi cho chuột uống sẽ làm 50% bị chết), rất quan trọng để người bệnh và thầy thuốc lưu tâm khi sử dụng hạt gấc làm thuốc. Theo đó, dùng dưới liều 20g/kg không làm chuột chết, còn dùng trên 180g/kg tất cả chuột đều chết. LD50 tính bằng phương pháp Behrens và Karber là 92,27g bột hạt gấc/kg. Kết quả nghiên cứu này tuy chưa thật sự toàn diện nhưng đã chứng minh nhận định hạt gấc có độc trong các sách thuốc đông y là có cơ sở. Mà đã có độc tính thì không thể muốn dùng bao nhiêu cũng được. Dùng bôi ngoài, liều lượng chỉ nên 2 – 4g/ngày, khi dùng phải nướng chín hạt. Mọi người cần tránh sử dụng hạt gấc làm thuốc dùng trong qua đường uống một cách bừa bãi, chưa có sự tư vấn của thầy thuốc, vì có thể ngộ độc.

 

Theo ThS.DS Bùi Thị Diễm Trang Giảng viên thỉnh giảng bộ môn y học cổ truyền, đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch, TP.HCM

Lycopen của trái gấc cao gấp 70 lần cà chua

Lycopen có nhiều trong trái cây có màu đỏ như cà chua, đu đủ, càrốt, ổi ruột đỏ… Đặc biệt trong trái gấc, hàm lượng lycopen đã được kết luận cao gấp 70 lần cà chua. Một số nghiên cứu dịch tễ học của Mỹ về tác dụng của lycopen cho thấy ở những vùng người dân ăn nhiều loại trái có chứa lycopen thì tỷ lệ ung thư ống tiêu hoá (dạ dày, trực tràng, kết tràng…) thấp hơn những vùng người dân ăn ít hoặc không ăn. Tỷ lệ chết vì ung thư cũng giảm tới 50%. Trong một nghiên cứu kéo dài 12 năm trên một nhóm đối tượng ăn ít nhất hai lần nước xốt cà chua/tuần, cho thấy nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt giảm 35%. Tác dụng này còn mạnh hơn ở những người ung thư đang tiến triển. Lycopen còn có tác dụng trong điều trị bệnh viêm gan, xơ gan, hạ huyết áp, rối loạn lipid máu, chống khô mắt, mờ mắt…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Docago.wordpress.com số ra thứ 6 ngày  21/10/2011  (tức 25 tháng 9 năm Tân Mão)

(  LBT: Từ nay cho đến ngày quốc tế các nhà giáo(20/11), trong vòng một tháng, Docago.wordpress.com sẽ tập trung cho chủ đề giáo dục. Đề nghị các bạn đóng góp bài. Xin cảm ơn)

CHUYÊN MỤC:  VĂN HÓA  GIÁO DỤC ĐÔNG TÂY

GS.TSKH  Lê Ngọc Trà ( Bài lấy trên mạng)

 

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA GIÁO DỤC VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA

             Chưa bao giờ ở Việt Nam những cuộc thảo luận về giáo dục lại sôi nổi và rộng khắp như hiện nay. Đó không phải do ý muốn của Bộ Giáo dục – Đào tạo mà là do chính yêu cầu của cuộc sống. Việt Nam đã gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn kinh tế thị trường. Vấn đề này không còn bàn cãi nữa. Nhưng giáo dục trong xã hội chuyển sang kinh tế thị trường, và rộng hơn là trong bối cảnh toàn cầu hóa, thì lại đang đặt ra nhiều vấn đề tranh cãi gay gắt. Ở Việt Nam toàn cầu hóa gắn với ba yếu tố. Thứ nhất là sự sụp đổ của phe XHCN ở Đông Âu dẫn đến kết thúc chiến tranh lạnh. Quá trình này đã xóa bỏ những ranh giới của toàn cầu hóa ý thức hệ hay toàn cầu hóa cục bộ (tức sự “làm phẳng” trong nội bộ phe XHCN ), giúp Việt Nam mở cửa hội nhập với phần thế giới còn lại và cũng là phần đang phát triển manh mẽ nhất trong lịch sử hiện đại. Thứ hai là sự xóa bỏ nền kinh tế tập trung, bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường, kết quả rõ rệt nhất là việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới. Và thứ ba là ảnh hưởng của sự phát triển Công nghệ thông tin. Ba yếu tố này trong những mức độ khác nhau đã góp phần “làm phẳng” thế giới, tạo nên quá trình toàn cầu hóa. Như vậy đối với Việt Nam, toàn cầu hóa không mang tính chất cưỡng bức, áp đặt mà là một cơ hội, mang tính tất yếu. Trong bối cảnh đó, đặt vấn đề toàn cầu hóa và giáo dục hoàn toàn không chỉ có ý nghĩa tiêu cực. Toàn cầu hóa, kinh tế thị trường, công nghệ thông tin hay bất cứ hiện tượng nào của cuộc sống cũng đều có hai mặt. Cái chính là ở tỉ lệ của hai mặt đó cũng như sự khai thác, sử dụng của con người.

Toàn cầu hóa mang lại cho giáo dục Việt Nam nhiều cái lợi. Trước hết nó đặt giáo dục Việt Nam trong bức tranh chung của giáo dục các nước trên thế giới, để từ đó 2

giáo dục Việt Nam nhận ra mình đang đứng ở đâu, hay dở chỗ nào. Lâu nay trong một xã hội khép kín chúng ta dễ bằng lòng với chính mình, “mẹ hát con khen hay”. Việc du nhập kinh nghiệm của các nền giáo dục phát triển không chỉ có tác dụng nêu gương mà còn tạo ra những “cú hích” cần thiết để phá vỡ những khuôn mẫu đã cũ kỹ, lạc hậu, từ triết lý giáo dục, nội dung chương trình đến phương pháp giảng dạy, tổ chức trường học… Những kinh nghiệm tiên tiến ấy sẽ góp phần hiện đại hoá nền giáo dục Việt Nam, nối kết giáo dục Việt Nam với các nền giáo giáo dục trên thế giới, mở rộng tầm nhìn và bậc thang giá trị vượt ra biên giới quốc gia và dân tộc, hướng tới những chuẩn mực chung, có tính chất toàn nhân loại, từ đó đào tạo nên những con người không bị bó hẹp trong lối suy nghĩ cục bộ mà biết tư duy có tính chất toàn cầu, có tinh thần dân chủ, có khả năng hợp tác,có thể làm việc trong môi trường quốc tế. Toàn cầu hóa đã mang vào Việt Nam bức tranh hấp dẫn của các nền giáo dục tiên tiến. Bức tranh ấy lôi cuốn các nhà quản lý giáo dục, làm cho họ thấy cần phải thay đổi giáo dục Việt Nam cho thật nhanh, thay đổi cùng một lúc tất cả. Tuy nhiên, nguyện vọng tốt đẹp nhưng duy ý chí ấy đã đẻ ra phương châm “đi tắt đón đầu” theo kiểu “tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không thông qua chủ nghĩa tư bản” vốn đã một thời phổ biến trong tư duy giới lãnh đạo các nước XHCN và để lại những hậu quả nghiêm trọng. Nhiều chủ trương ồ ạt về giáo dục hiện nay như: hai vạn tiến sĩ, xếp loại đại học, đào tạo theo tín chỉ, tăng học phí ở giáo dục phổ thông phản ánh tâm lý muốn “nhảy vọt”, muốn bắt chước các nước tiên tiến, muốn nhanh chóng thực thi quan niệm xem giáo dục như một hoạt động dịch vụ, có tính chất thị trường mà quên rằng giáo dục đại học ở các nước ấy đã phát triển trước chúng ta hàng trăm năm, rằng cơ sở vật chất của trường học ở ta còn vô cùng nghèo nàn, rằng đồng lương của thầy giáo còn không đủ ăn. Nếu chúng ta đã muốn xây dựng những trường đại học lớn, tầm cỡ quốc tế thì phải bắt đầu từ việc xây dựng từng bộ môn, từng khoa và làm dần dần, chứ không phải là vội vã nhập các trường đại học hoàn chỉnh thành một vài đại học quốc gia để rồi một thời gian sau lại cho các trường tách ra. Gần đây việc nâng hàng loạt trường Cao đẳng lên thành Đại học, thậm chí một số khoa trung cấp lên thành khoa của trường đại học, nhiều người đang dạy trung cấp và cao đẳng bỗng dưng trở thành giảng viên đại học, đã bộc lộ cái nhìn thiển cận về giáo dục đại học, thể hiện cách làm duy ý chí, nóng vội, cẩu thả mà chắc chắn chúng ta sẽ phải trả giá trong một thời gian dài. 3

Văn hóa và giáo dục là những thứ hình thành dần dần, không phải muốn là có ngay một lúc. Toàn cầu hóa mang lại những bức tranh đẹp về nền giáo dục tiên tiến của các nước, như một làn sóng tràn vào làm xáo động giáo dục Việt Nam. Tuy nhiên học tập, bắt chước như thế nào nhất định phải dựa trên những điều kiện thực tế của Việt Nam. Chúng ta đã nói rằng toàn cầu hóa là cơ hội, là xu thế tất yếu. Trong bối cảnh đó một trong những cách ứng xử khôn ngoan nhất là phải chủ động. Chủ động lựa chọn những kinh nghiệm hay và phù hợp với thực tiễn của mình. Nhiều khi cái chúng ta cần bắt chước không phải là cái mà các nước tiên tiến đang làm mà là những kinh nghiệm của họ trong quá khứ, những kinh nghiệm để đi lên từ một nền giáo dục còn lạc hậu đến một nền giáo dục có đẳng cấp quốc tế. Đặc biệt chúng ta phải chủ động trong việc giữ gìn những giá trị đặc sắc của nền giáo dục dân tộc đã hình thành và phát triển hàng ngàn năm, từ đó giúp cho việc bồi dưỡng đạo đức và tâm hồn của thế hệ trẻ. Cần phải nhận thức một cách sâu sắc rằng toàn cầu hóa trong kinh tế khác toàn cầu hóa trong văn hóa và giáo dục. Thế giới có thể “phẳng” về kinh tế và công nghệ nhưng không thể “phẳng” về văn hóa và giáo dục. Bởi vì văn hóa và giáo dục là vấn đề con người, vấn đề đời sống tinh thần và nhân cách của cá nhân mà mỗi cá nhân là một số phận, một vũ trụ riêng tư không lặp lại, gắn với môi trường, với cộng đồng bằng trăm ngàn sợi dây liên hệ khác nhau. Chúng ta vẫn hay nói về bản sắc của văn hóa. Nhưng văn hóa không thể hình thành thiếu giáo dục. Bởi vậy muốn giữ gìn bản sắc văn hóa nhất định phải gìn giữ bản sắc của giáo dục, gìn giữ cái riêng trong việc đào tạo con người. Cái riêng ấy chủ yếu không nằm trong việc truyền bá tri thức mà nằm trong quá trình bồi dưỡng ý thức về các giá trị, quá trình làm cho cá nhân không chỉ thông minh và mạnh mẽ hơn mà còn nhân hậu hơn, có đời sống tâm hồn phong phú hơn. Rốt cuộc thì không phải công nghệ sẽ cứu thế giới, mà tình yêu, “cái đẹp sẽ cứu thế giới”( F. Dostoiepxki ).

Giáo dục Việt Nam đã có một truyền thống lâu đời dựa trên phương châm “Tiên học Lễ, hậu học Văn”. Đó là một di sản quí báu. Mỗi thời đại giải thích phương châm này theo cách của mình, nhưng cái chung nhất vẫn là đề cao những giá trị đạo đức, đề cao việc làm người. Nếu chúng ta hiểu “ Tiên học Lễ” không phải là giáo dục sự phục tùng, chỉ biết vâng lời, mà là giáo dục lòng kính trọng đối với người khác, sự tôn trọng những giá trị tốt đẹp, giáo dục lòng hiếu thảo và vị tha, tinh thần nhân ái, ý thức về cộng đồng, thì phải xem đây là truyền thống tốt đẹp cần được phát huy trong thời đại toàn cầu 4

hóa. Để tồn tại trong thời đại toàn cầu hóa mỗi dân tộc cần phải có cái riêng của mình. Sự đa dạng về văn hóa và giáo dục không chỉ có lợi cho việc bảo vệ bản sắc của mỗi dân tộc mà còn quan trọng với toàn nhân loại: thế giới sẽ trở nên nhạt nhẽo biết chừng nào nếu tất cả chỉ có một màu, mọi thứ đều giống nhau. Chúng ta đã có những truyền thống tốt đẹp như “Tiên học Lễ, hậu học Văn”, “Tôn Sư trọng Đạo”. Rất tiếc là những giá trị ấy đang bị mai một. Nếu không biết giữ gìn và phát huy, chúng rất dễ bị chìm đi trong làn sóng toàn cầu hóa, trong thời đại kinh tế tri thức. Một xã hội tiến đến công nghiệp hóa đang biến những người đi dạy học và chữa bệnh thành những người hành nghề chứ không còn là thầy, là lương y, từ mẫu. Trong khi mà nền kinh tế thị trường chưa đẻ ra được cơ chế kiểm soát tương ứng với nó, trong khi xã hội chưa đủ những ràng buộc pháp lý cần thiết đối với mỗi thành viên của nó thì rất nhiều thứ phải trông chờ vào sự lương thiện của con người. Nếu xã hội không tôn trọng thầy giáo và thầy giáo chỉ cư xử với học sinh như một người hành nghề thì điều gì sẽ xẩy ra. Giáo dục Việt Nam gắn chặt với văn hóa Việt Nam. Cũng như văn hóa, nó phải đóng góp vào gia tài chung của nhân loại phần riêng tốt đẹp của mình. Muốn chủ động lựa chọn kinh nghiệm của các nước và đóng góp phần mình vào dòng chảy chung của nhân loại, muốn hội nhập và hấp thu được cái lợi do công cuộc toàn cầu hóa mang lại, một trong những việc cần làm là phải có một quyết sách mạnh mẽ nhằm thúc đẩy việc học tiếng Anh trong nhà trường. Singapore đã phát triển một phần vì biết dùng tiếng Anh làm công cụ giao tiếp phổ biến. Gần đây nhất, Chính phủ mới của Hàn Quốc cũng đã có một chương trình đầy tham vọng, đưa Hàn Quốc trở thành một quốc gia sử dụng tiếng Anh hàng đầu Châu Á. Ngoại ngữ là công cụ bắt buộc phải có để làm việc trong môi trường toàn cầu hóa, là phương tiện tốt nhất để tiếp cận với tri thức hiện đại, để hiểu biết một cách chắc chắn, có gốc rễ. Có ngoại ngữ giỏi người ta tự tin và có bản lĩnh hơn. Đã đến lúc phải phổ cập tiếng Anh từ bậc tiểu học để khi lên đại học sinh viên không còn phải khó khăn trong việc sử dụng tài liệu bằng tiếng nước ngoài nữa, để mỗi lần xét chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư, ứng viên không phải bị thẩm định về ngoại ngữ nữa!

Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu và cũng là cơ hội để Việt Nam hội nhập, để giáo dục Việt Nam làm bạn với giáo dục các nước trên thế giới. Trên sân chơi quốc tế chúng ta vừa phải nhập cuộc, vừa phải tỉnh táo biết mình là ai, để không thu mình lại nhưng 5

cũng không bắt chước, rập khuôn vội vã. Làm thế nào để tiếp nhận và lớn lên qua làn sóng toàn cầu hóa. Đó là thách thức đối với giáo dục Việt Nam, trước hết là với những người có trách nhiệm lãnh đạo, với các nhà quản lý giáo dục hiện nay.

Đỗ Anh Thơ: Triết học học đường –

( Bài này đăng lần đầu trên Talawas năm 2005, sau đó nhiều mạng trong và ngoài nước đã đăng lại)

 

Đề cập tới hai chữ “triết học”, các em học sinh sinh viên đều có một cách nhìn giống nhau, cho rằng đây là một môn học khô khan, trừu tượng , khó hiểu. Do đó phần lớn thời gian khi ngồi trên ghế nhà trường các em đều học một cách đối phó, bị động, học thuộc lòng, không hề có chút nào động não. Do đó nên đến lúc ra trường công tác, làm những lao động ngành nghề khác nhau trong xã hội, các em hầu như đều biến thành những công cụ, những cỗ máy bị điều khiển, làm theo lệnh chỉ huy từ trên xuống, không bao giờ biết phản tư, phê phán, lật ngược vấn đề mà tìm ra những ý tưởng mới, sáng tạo mới. Đây là hậu quả của việc học tập rập khuôn theo sách vở thánh hiền kéo dài hàng nghìn năm nay ở đất nước ta, mà đến nay chúng ta vẫn đang theo. Lối mòn đó là xem lời của Khổng, Mạnh (nay thì lời của thầy, sách của Bộ do những nhóm “chuyên gia” già cả, không được cập nhật hóa soạn thảo) là chân lý tuyệt đối, buộc phải noi theo.

Bước sang thế kỷ 21, một trong những cải cách đầu tiên của ngành giáo dục là vấn đề rèn luyện cho các em có được cái tư duy “biết phủ định”. Ta không nên gọi đó là “nếp” suy nghĩ như lâu nay vẫn quen dùng mà phải gọi là “phương pháp”. Bởi vì đã là “nếp” nhăn trong bộ não là ngày càng hằn sâu, nó khác với phương pháp là phải luôn luôn thay đổi. Và chỉ có trên cơ sở biết phủ định, biết phản tư (criticism), biết tìm tòi những sai lầm trong nhận thức của bản thân mình và của người khác, thì ta mới có khả năng có giả tưởng, có sáng tạo và tìm ra được những ý tưởng mới.

Truy nguyên từ chữ Hy Lạp cổ, “philosophia” gồm có hai thành tố: “philo” có nghĩa là ham thích, “sophia” là tranh biện. Còn chữ triết học (哲學) thì tuy là chữ Hán nhưng được các học giả Nhật Bản sử dụng đầu tiên để dịch chữ “philosophia”. Sau đó Hoàng Đạo Quang, Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi… mới dùng nó để dịch hàng loạt sách triết học phương Tây, trở nên phổ biến rộng rãi như ngày nay. Đem chiết tự chữ “triết” ta cũng có hai thành tố là “chiết” và “khẩu”, nghĩa là dùng lời lẽ để bắt bẻ.

Bản thân danh từ philosophia có hàm nghĩa rất rộng. Đó là sự ham hiểu biết, yêu trí tuệ (love of wisdom). Bởi vậy, đề cập đến triết học còn có nghĩa là ta say mê tìm hiểu, nhận thức về ta, về thế giới xung quanh. Nó đồng nghĩa với khái niệm tìm hiểu “tính” (giống loài, trong đó có ta, có con người) và “thiên đạo” (vũ trụ) của triết học phương Đông.
Tìm hiểu cái gì? Như nhà triết học vĩ đại người Đức là Kant đã nói, đó là bốn vấn đề: ta biết và chưa biết cái gì, ta cần phải làm gì, ta có kỳ vọng gì, và con người ta là gì. Sự truy tìm đó là khôn cùng, bằng lý niệm và kinh nghiệm, bằng duy tâm và duy vật, bằng thực chứng và giả chứng (giả thiết), bằng phương pháp quy nạp và diễn dịch, v.v… Từ đó mà trên thế giới, trong lịch sử đã có hàng mấy chục học phái khác nhau, chống đối nhau, kế thừa nhau, hưng khởi rồi lụi tàn. Mỗi học phái đều có cái đúng cái sai khác nhau, và không có cái nào là chân lý, đúng tuyệt đối. Có thể nói “chân lý” là cái mà con người, từ thế hệ này sang thế hệ khác, truy cầu nhưng không bao giờ nắm bắt được. Đứng trên quan điểm đó nên Einstein, Whitehead… mới có thể tìm ra thuyết tương đối, cơ học lượng tử, chứng minh được những cái sai, cái bất cập của cơ học cổ điển của Newton, từng ngự trị gần ba trăm năm cho đến khi con người bước ra khỏi sức hút của quả đất thì mới lộ rõ cái sai. Với lý thuyết mới, ta giải thích được tại sao không gian lại cong đi mà thời gian thì co lại, mới có thể chứng minh được tiên đề song song là sai hoặc định luật tổng góc trong của hình tam giác có thể lớn hơn hoặc bé hơn 180 độ tuỳ theo mặt không gian lồi hay lõm, v.v…

Tất cả những điều đó đều nhờ có những bộ não luôn luôn biết lật đi lật lại vấn đề. Thế kỷ trước đã như vậy, bước sang thế kỷ 21, khi các ngành khoa học ngày càng giao thoa, giao diện (interdisciplinary, interface), tuỳ thuộc lẫn nhau mãnh liệt hơn bao giờ hết, thì con người lại cần phải có cách suy nghĩa như vậy. Hầu như mọi phát minh khoa học đều nẩy sinh trong miền giao thoa này. Triết học là môn khoa học lý luận về tư duy, càng có sự giao thoa, giao diện mạnh hơn rất nhiều lần. Ngày nay, người ta không còn bàn đến vấn đề là phải kết luận dứt khoát vật chất có trước hay tinh thần có trước, không còn phải phân định rạch ròi giữa duy vật và duy tâm… Người ta đã đi sâu hơn về mặt bản thể luận, về mặt ngoại vật lý (metaphysic) mà trước nay ta quen dùng theo thuật ngữ của giáo sư Hoàng Xuân Hãn là “siêu hình”. Trong khi đó ở Trung Quốc, họ lại mượn thuật ngữ của Kinh dịch là “hình nhi thượng” để diễn đạt khái niệm metaphysic, tức là những cái có trước vật chất, tồn tại trước sự sống, ví dụ như gien có trước khi em bé chào đời. Bởi thế, hiện nay không chỉ phương Tây mà ở Nhật, Trung Quốc cũng đang chú trọng nâng cao tu dưỡng triết học, nhất là phần meta, là cái gốc của nhận thức (Trung Quốc dùng chữ nguyên 元 cũng lại là một thuật ngữ của Kinh dịch, chỉ quẻ Càn) cho học sinh sinh viên. Triết học đây không còn bó hẹp trong triết học chính trị mà đã mở rộng ra tới triết học khoa học, triết học toán, triết học sinh vật, triết học môi trường (không chỉ là môi trường sống của con người mà còn cả quyền sống của muôn loài khác), triết học đạo đức, thậm chí cả triết học nữ quyền (feminism)… Thật vậy, với đà phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, không có cái gì mà con người không làm được, kể cả nhân bản vô tính, phục chế con người (human cloning, human reproductive cloning), nhưng đồng thời, nếu như không có triết học luân lý, đạo đức, nghĩa là không có tư duy đúng, nguyên lý luận đúng, thì con người cũng có thể đánh mất tất cả và sẽ đi đến chỗ diệt vong. Tư duy đúng ở đây không phải là lặp lại cái khuôn mẫu có sẵn, sáo rỗng, giáo điều, bảo thủ mà bản thân thuật ngữ của nó (dogmatism) đã nói lên tất cả. Tư duy đúng là tư duy mở, có tính tranh luận, ham hiểu biết, dám phủ định… như đã nói ở trên .

Cái hồ nước cho dù rộng mấy nhưng không có dòng chảy, không có sông suối, không thông ra biển cả… thì trước sau cũng trở thành cái hồ chết mà thôi. Đến đây, sẽ có rất nhiều học giả bảo thủ nêu lên các lý do nào là “hoà nhập” mà không “hoà tan”, v.v… để cho rằng những dòng triết học khoa học phương Tây, triết học hiện đại mang tính hiện sinh, thực dụng là tư bản suy đồi… Đó là những lời ngụy biện. Thật ra, lâu nay những nhà nghiên cứu triết học, kể cả các bậc có học vị cao, do thiếu cái nền học vấn khoa học cơ bản sâu (toán, lý, hoá trên đại học), thiếu hiểu biết kỹ thuật, nên luận đề của họ đưa ra đầy rẫy mâu thuẫn. Chỉ nói riêng mệnh đề nêu trên, lấy thí nghiệm Bernoulli, là thí nghiệm bơm một giọt mực vào một bình nước, để dẫn chứng. Quan sát hiện tượng, ta sẽ thấy nếu để yên, dòng mực thành một tia rồi tan dần, nhưng nếu đem bình lắc mạnh thì nó hòa lẫn ngay với nước. Điều đó chứng tỏ, dòng mực nếu không đủ nhiều, đủ mạnh, đủ đậm đặc… thì sự hoà tan không để lại chút dấu vết gì là điều tất yếu. Do vậy, trong một xã hội mở, muốn bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, chúng ta không thể lập hàng rào.

Giống như trong bình nước, ta chỉ có thể tìm những lối tư duy mới, cơ chế miễn dịch mới. Đó là phương pháp giảng dạy, đào tạo mới, trước hết là phương pháp tư duy (triết học) mới. Ta có thể lấy câu nói của George Polya (1888-1985), nhà toán học Mỹ gốc Hungary, bàn về phương pháp dạy toán, là phải “dạy cho học sinh suy nghĩ” (teach to think). Ban đầu là “làm thế nào để giải đề” (How to solve it) sau tiến lên một mức cao hơn là “khám phá con đường logic phát hiện toán học” (the logic of mathematical discovery) để cải tiến cách dạy và học các môn khoa học nói chung, triết học nói riêng. Ở nước ta, đây có lẽ là nội dung triết học học đường mà trước hết các bậc giáo sư phải được học và cập nhật để lột xác – cho dù có phần đã muộn.

 

Trần Văn Kinh.         TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA NHẬT BẢN.

( Bài đã đăng lần đầu trên Tạp chí Nghiên cứu Nhật bản của Trung Tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia- số 3/ 1988. Nay có vài chỗ lược bớt hoặc bổ sung nhỏ).

 

Đặc điêm địa lý và lịch sử:

Là một quốc đảo ở Đông Bắc Á, Nhật bản có những đặc điểm lớn về địa lý và lịch sử như sau:

+ Có nhiều núi non, với hơn 75% diện tích là rừng và núi, chỉ có 20% là đất nông nghiệp,

+ Có khí hậu tương đối ôn hòa. Lượng mưa cũng đáng kể : 1600-1700 mm/ năm. Phía nam Nhật Bản có điều kiện khí hậu gần giống như vùng Đông Nam Á.

+ Nằm tương đối cách biệt với lục địa, nhưng không quá xa các trung tâm văn minh của thế giới,

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, Nhật bản không bị sự xâm nhập ồ ạt của các luồng nhập cư hoặc sự chiếm đóng của nước ngoài nào, trừ sự chiếm đóng của Đồng Minh sau thế chiến thứ hai.

Những điều kiện đó dẫn đến một đặc điểm phát triển khái quát là:

 

Nhật Bản đủ xa lục địa để không chịu trực tiếp những ảnh hưởng đột biến của lục địa, nhưng lại đủ gần để có thể hưởng những thành quả của các nền văn minh đó một cách có chọn lọc.

Vì thế mà Nhật bản có một nần văn hóa rất đậm nét dân tộc với những đặc điểm lớn như sau:

 

  1. 1.    Một nền văn hóa có tính thuần nhất và tính cộng đồng cao.

Từ hàng ngàn năm trước, các hòn đảo Nhật bản đã là ngôi nhà chung của nhiều người nhập cư từ các nơi khác nhau trên lục địa. Những người Nhật đầu tiên từ Sibia đến còn để lại dấu tích trên những chiếc cầu xây bằng đất, các kiểu nhà ở.

Nhiều đặc điểm phong tục, văn hóa tương tự vùng phía Nam Trung quốc trong khi các đồ chế tác và lăng mộ gợi đến việc di cư của người Triều tiên, Mông Cổ và vùng phía bắc Trung quốc…

Trải qua nhiều thời đại lịch sử, sự pha trộn đó đã sản sinh ra một dân tộc có văn hóa thuần nhất, phân biệt với các nước khác.

Xã hội Nhật bản đã sản sinh ra một cộng đồng người tự giác, có kỷ luật, có ý thức chung và ngầm hiểu với nhau về những trách nhiệm phải hoàn thành hoặc kế thừa mà không cần có ai ra lệnh.

Chúng ta từng được nghe nhiều câu chuyện  trong thời gian nước Nhật bị tai họa động đất và sóng thần hồi đầu năm nay, như là câu chuyện sau đây: Khi chú công an tìm thấy em bé đã đói lả sau mấy ngày bị vùi dưới đống đổ nát, chú công an đã lấy suất ăn mang theo của mình đưa cho em bé. Em cám ơn rồi mang suất ăn đó bỏ vào hòm đựng thức ăn chung. Hỏi vì sao, em trả lời:  Bởi vì còn nhiều người cũng đói như em, em sẽ nhận phần ăn như mọi người khi đến giờ được phân phát.

Ở Nhật bản, điều quan trọng là truyền thống của một cộng đồng nhiều hơn là của một cá nhân. Hơn nữa, cộng đồng đó cũng lại là một cộng đồng hiếu học. Đặc trưng này đã đóng góp nhiều vào tính chất thuần nhất của xã hội Nhật bản.

Đương nhiên là chủ nghĩa cộng đồng Nhật bản có cả mặt tích cực và tiêu cực của nó. Về mặt tiêu cực, nó gợi cho ta nhớ lại sự mù quáng tuân theo chế độ chính trị quân phiệt, mà sản phẩm tiêu biểu của nó là chủ nghĩa phát xít Nhật trong Đại chiến Thế giới lần thứ hai. Nhưng về mặt tích cực, thực thể cộng đồng đó lại có những đóng góp to lớn vào việc hiện đại hóa nước Nhật trong thời đại Minh Trị từ năm 1868, và đặc biệt là sự thần kỳ phát triển kinh tế hậu chiến sau Đại chiến thứ hai.

 

  1. 2.    Dễ dàng tiếp thu văn hóa nước ngoài.

Học tập người khác luôn luôn được người Nhật coi trọng. Tứ hải giai huynh…..(bốn bể đều là anh- theo nghĩa là có nhiều điều cho mình học, khác với Tứ hải giai huynh đệ của Khổng Tử, có nghĩa là bốn bể coi nhau như anh em)

Có thể nói, nhân dân Nhật bản đã hấp thụ có chọn lọc nhiều phát kiên văn hóa của các dân tộc khác trên thế giới. Người Nhật không bảo thủ, không đóng cửa, nhưng không vì thế mà đánh mất cốt cách của dân tộc mình. Đã ba lần trong lịch sử, người Nhật tạo ra được những bước  tiến lớn mang tính đột biến trong lịch sử: Học tập nền văn minh Trung Quốc thế kỷ thứ VII, Duy tân thời Minh Trị 1968- 1900, và sự phát triển thần kỳ sau năm 1945. Cả 3 lần đó đều là 3 lần học tập và tiếp thu nền văn minh của nước ngoài một cách sáng tạo.

Hơn nữa, người Nhật cũng rất giỏi đồng hóa những yếu tố nước ngoài vào các sản phẩm của họ. Mẫu tự KANJI trong tiếng Nhật là cải tiến từ mẫu tự tượng hình của tiếng Trung quốc vốn rất phức tạp. So với chữ NÔM của ta, mẫu tự KANJI cũng đơn giản hơn nhiều. Kinh Phật KAMAKURA là một ví dụ khác của việc Nhật hóa.

Người Nhật coi trọng hoàn cảnh cụ thể nhiều hơn là chân lý phổ quát. Đạo Khổng ở Nhật có nhiều ứng dụng trong đời sống hơn là ở nơi đã sản sinh ra nó. Chữ tín trong các mối quan hệ, sự tự giác, nhận lấy việc khó, không đùn đẩy trách nhiệm, trái lại, sẵn sàng giúp đỡ người khác…là những đức tính của người Nhật. Chủ nghĩa tư bản ở Nhật cũng khác với chủ nghĩa tư bản châu Âu: Mỗi công ty như một cộng đồng và người ta chẳng những làm việc vì nó suốt đời,  mà còn vì nó cho các thế hệ sau.

 

  1. 3.    Sự tinh tế và khéo léo.

Một trong những phong cách thẩm mỹ của người Nhật là sự tế nhị, đơn giản và gián tiếp. Sự tế nhị hàm ý không thật hiển nhiên, đập ngay vào mắt, trái lại, phải có sự chú ý, xem xét, và trân trọng. Trà đạo của Nhật, nghệ thuật cây cảnh BONSAI, các mẫu sản phẩm và cách làm quảng cáo của họ… đều thể hiện sự tinh tế, nhỏ nhắn và khéo léo.

Tính tiết kiệm dường như cũng gắn liền với đầu óc tinh tế và khéo léo Những chiếc ô tô nhỏ nhắn vừa đủ dùng và tiết kiệm xăng, những mặt hàng điện tử đẹp, bền và tiết kiệm năng lượng…là thói quen của họ. Không thấy ở đâu họ có sự phô trương, lòe loẹt, lãng phí.

 

  1. 4.    Sự thờ cúng tổ tiên.      

Đạo Phật, đạo Shinto (thờ cúng tổ tiên và thánh thần), đạo Khổng, đạo Thiên chúa, đó là những tôn giáo lớn ở Nhật. Có một sự trộn lẫn của cả 4 thứ tôn giáo đó trong đời sống tinh thần của mỗi cá nhân , nhưng sự thờ cũng tổ tiên là có ảnh hưởng to lớn nhất. Có thể chính cái ảnh hưởng to lớn này đã là một cản trở đối với sự truyền bá rộng rãi hơn nữa của nhiều tôn giáo khác. Chẳng hạn ở Nhật chỉ có 1% dân số theo đạo Thiên chúa, mặc dù người Nhật coi đó cũng là một tôn giáo lớn.

 

  1. 5.    Đâu óc công nghệ.

Trước bất kỳ một công việc gì, dù trong hoàn cảnh nào, họ cũng giữ được sự bình tĩnh, không nhiều lời, không vội bàn đến những cái quá xa. Họ chia việc lớn ra làm nhiều việc nhỏ, lại chia việc nhỏ ra làm nhiều việc nhỏ hơn nữa, cứ thế mà bình tĩnh giải quyết, xong cái trước đến cái sau, để đi đến đích. Khẩu hiệu của họ là : “Cái gì mà con người có thể  tưởng tượng ra được thì công nghệ sẽ đạt tới.” (what the mankind can image, the technology can  reach!)

Đầu óc công nghệ của người Nhật có lẽ cũng gắn với một đức tính khác: sự bền bỉ và chăm chỉ. Trước đây, tôi từng được nghe một câu nói của họ: “Trước mắt người Nhật, toàn thế giới là những người lười“. Khi ở bên Nhật, tôi lại được nghe một câu nói khác: ” Trước mắt người Hàn Quốc, toàn thế giới là những lười, kể cả người Nhật“. Phải chăng vì thế mà nước Nhật và Hàn quốc đã làm nên những kỳ tích trong phát triển kinh tế và xã hội đó sao ? Và phải chăng việc học tập qua quýt, không đến đầu đến đũa, học lấy được, một năm mấy lớp, cốt cho có bằng để làm đẹp hồ sơ, bất kể chất lượng, bất kể thầy bà, sách vở, trường lớp, và phương pháp học ra sao…như vẫn xảy ra ở chúng ta lâu nay, cách làm đó rồi sẽ biến chúng ta thành những người “làm thầy thì dở, làm thợ thì dốt”, vô dụng trong xã hội, tiêu phí bao nhiêu thời gian và của cải của xã hội, và có tội với lịch sử.

 

Bàn về Đặc điểm Văn hóa Nhật bản là một việc làm rất khó, nhất là đối với người viết bài này. Tuy nhiên, muốn học tập người khác để có thể trở thành một nước hiện đại và phát triển, trước hết phải nghiên cứu đặc điểm văn hóa của họ, trước hết phải nâng cao tầm văn hóa của mình. Nghĩ như thế nên người viết muốn ghị lại những điều mà mình tìm hiểu được, dù có thể rất nông cạn. Mong được các bậc trí giả và bạn đọc vui lòng chỉ bảo cho .

Hà Nội mùa thu 2011

Trần Văn Kinh

 

CHUYÊN MỤC: THƠ VĂN

 

          ( Bài lấy trên mạng của tác giả Tạ Nghi Lễ)

 

Thời đã xa


Trở lại sân trường
Nắng ngẩn ngơ nhìn ta xa lạ
Chùm phượng đỏ hôm nao
Giờ chỉ xanh màu lá
Vết chân xưa mưa nắng cũng nhoà!

Chỗ ngồi kia đâu phải của riêng ta
Còn đâu nữa những giờ học
Thả hồn theo gió
Lời mắng nhẹ nhàng của thầy
Giờ đây nghe xa quá!
Kỉ niệm tràn về thật ngân nga!

Thật ư
Thời học trò đã xa
Tuổi thơ cũng vụt qua
Ta lặng lẽ bước đi trong niềm nhớ
Thầy cô bạn bè ơi!
Biết vao giờ gặp lại
Thời gian thì trôi mãi
Trôi xa!!

—————————————
Lời Của Thầy

Rồi các em một ngày sẽ lớn
Sẽ bay xa đến tận cùng trời
Có bao giờ nhớ lại các em ơi
Mái trường xưa một thời em đã sống

Nơi đã đưa em lên tầm cao ước vọng
Vị ngọt đầu đời bóng mát ca dao
Thuở học về cái nắng xôn xao
Lòng thơm nguyên như mùi mực mới

Dẫu biết rằng những tháng ngày sắp tới
Thầy trò mình cũng có lúc chia xa
Sao lòng thầy canh cánh nỗi thiết tha
Muốn gởi các em thêm đôi điều nhắn nhủ

Một lời khuyên biết thế nào cho đủ
Các em mang theo mỗi bước hành trình
Các em lúc nào cũng nhớ đừng quên:
Sống cho xứng với lương tâm phẩm giá…

Rồi các em mỗi người đi mỗi ngả
Chim tung trời bay bổng cánh thanh niên
Ở nơi đâu: rừng sâu, biên giới khắp ba miền
Ở nơi đâu có thầy luôn thương nhớ

CHUYÊN MỤC: CHUYỆN XƯA…CHUYỆN NAY

 

 

Các thầy đồ nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam

 

Nhân dịp chào mừng ngày Nhà giáo VN 20/11, mình xin mạn phép giới thiệu sơ lược một số nhà giáo nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam để mọi người có cái nhìn đầy tự hào về truyền thống hiếu học và tinh thần nghìn năm văn hiến của dân tộc ta.


1) CHU VĂN AN (1292 – 1370):

Tên thật là Chu An là một đại quan, được phong tước Văn Trinh Công nên đời sau quen gọi làChu Văn An. Quê ông ở làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay là huyện Thanh Trì – Hà Nội).

Là người tài giỏi, đức độ nên được nhiều người kính trọng. Đời vua Trần Minh Tông ông được giao chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám và phụ trách việc dạy dỗ các Hoàng tử, Vương tôn. Đến đời vua Trần Dụ Tông, ông dâng sớ xin chém đầu bảy tên nịnh thần nhưng không được chấp nhận nên cáo quan về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng. Khi ông mất Trần Nghệ Tông truy phong là Văn Trịnh Công rồi cho thờ ở Văn Miếu Quốc Tử Giám.

Ngay từ khi còn sống nhân dân luôn ca ngợi phẩm chất thanh cao tuyệt vời của ông và coi ông là người thầy vĩ đại. Cuộc đời của ông dù có trải qua bao nhiêu thăng trầm thì bản chất luôn là một thầy giáo mẫu mực. Ông được đánh giá là nhà sư phạm toàn diện nhất trong lịch sử đất nước. Trong suốt cuộc đời hành nghề giáo dục, Chu Văn An đã dạy hầu hết các học sinh từ thấp đến cao, từ bình dân đến quý tộc. Ông nỗ lực giảng giải các học thuyết kinh điển của Nho gia, tạo điều kiện để đưa lý thuyết Khổng Mạnh đi dần đến chỗ độc tôn. Ông có một phương pháp giảng dạy rất đặc biệt nên hấp dẫn được học trò và làm cho mọi người phải tôn kính. Tài, đức của ông làm cho quỷ thần cũng phải kính phục và đến để học tập. Phan Huy Chú đã ca ngợi: Học nghiệp thuần tuý, tiết tháo cao thượng, làng Nho nước Việt trước sau chỉ có một ông, các ông khác không thể nào so sánh được.

Cuộc đời thanh bạch và tiết tháo của ông là tấm gương sáng của thời phong kiến. Ông là một trong số rất ít bậc hiền nho được thờ ở Văn Miếu. Sự nghiệp của ông được ghi lại trong văn bia ở Văn Miếu- Quốc Tử Giám.

Những học trò nổi tiếng của ông: Phạm Sư MạnhLê Quát

2) VÕ TRƯỜNG TOẢN (? – 1792):

Quê làng Thanh Kệ (nay thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế), sau vào Nam, ngụ tại huyện Bình Dương, phủ Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là một học giả Nho giáo nổi tiếng tại miền Nam Việt Nam. Trong thời chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn Ánh, ông ở ẩn, mở trường dạy học, không tham gia vào chính sự. Học trò của ông khá đông và nhiều người nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, Ngô Tùng Châu, Phạm Đăng Hưng, Lê Bá Phẩm.

Nguyễn Phúc Ánh (Vua Gia Long sau này – NTL) mến mộ ông nên mỗi khi ghé Gia Định thường triệu ông đến đàm đạo. Võ Trường Toản tiến chúa Nguyễn 10 điều về phương lực cứu quốc và kiến quốc.

Võ Trường Toản được các sĩ phu Nam Bộ tôn là “Thái sơn Bắc đẩu”. Ông mất ngày mồng 9 tháng 6 năm Nhâm Tý (tức 27 tháng 7, 1792). Lúc mất ông được nhà Nguyễn tặng danh hiệu “Gia Ðịnh sử sĩ Sùng Đức Võ tiên sinh” để khắc vào bia mộ, và đôi liễn truy điệu:

Triều hữu huân danh, bán thuộc hà phần cực học;

Đẩu nam phong giáo, tề khâm nhạc lộc dư hay.

Để tưởng nhớ công đức của ông, học trò cũ đã viết đôi liễn:

Sinh tiên giáo huấn đắc nhân, vô tử nhi hữu tử

Một hậu thịnh danh tại thế, tuy vong giả bất vong”

(Dịch nghĩa:

Lúc sống dạy dỗ được người, không con cũng như có. 

Chết, tiếng tăm còn để, mất mà chẳng mất).

Hài cốt ông lúc đầu được chôn tại làng Hòa Hưng, huyện Bình Dương. Năm 1855, Phan Thanh Giản tâu xin lập miếu thờ ông tại làng Hòa Hưng. Đến đời Tự Đức năm 18 (1865), ông được cải táng về làng Bảo Thạnh, Ba TriBến Tre.

 

3) NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888):

Cụ Đồ Chiểu sinh ra ở phủ Tân Bình (Gia Định). Cuộc đời ông gặp rất nhiều đau khổ (đỗ tú tài nhưng bỏ thi Hội về chịu tang mẹ, trên đường về ốm nặng, khóc thương mẹ đến nỗi mù mắt, vợ chưa cưới bội ước). Vượt lên hoàn cảnh, ông mở trường dạy học, làm thuốc. Khi giặc Pháp xâm lược, Nguyễn Đình Chiểu vẫn giữ vững khí tiết, dùng văn chương làm vũ khí, ca ngợi nghĩa quân. Nguyễn Đình Chiếu đề cao trung, hiếu, tiết, nghĩa, bộc lộ lòng yêu nước, yêu nhân dân. Tác phẩm nổi tiếng: Lục Vân Tiên, Ngư tiều y thuật vấn đáp, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.

 

4) Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM (1491 – 1585):

Ông sinh năm Tân Hợi đời vua Lê Thánh Tông, tức năm Hồng Đức thứ 22 (1491), tại thôn Cổ Am, Hải Dương, nay là huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Sinh trưởng trong một danh gia vọng tộc, thân phụ ông là Thái bảo Nghiêm quận công Nguyễn Văn Định, thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan Thượng thư Nhữ Văn Lan, là người giỏi văn thơ và am hiểu lý số, nên Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã hấp thụ truyền thống gia giáo kỷ cương.

Vì ông đỗ trạng nguyên và được phong tước Trình Tuyền hầu nên dân gian gọi ông là Trạng Trình.

Làm quan được 7 năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần nhưng không được vua nghe nên xin cáo quan năm 1542.

Khi về trí sĩ, ông dựng am Bạch Vân và lấy hiệu Bạch Vân Cư Sĩ mở trường dạy học cạnh sông Hàn giang, do đó còn có tên Tuyết giang và học trò gọi ông là “Tuyết giang Phu tử”. Học trò của ông có nhiều người cũng nổi tiếng như Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, một nhà ngoại giao hay Nguyễn Dữ, tác giả Truyền Kỳ Mạn LụcLương Hữu KhánhNguyễn Quyền.

Trong hoàn cảnh lịch sử thế kỷ XVI, có thể nhận thấy rằng nhân dân Việt Nam đang có một sự trông ngóng về một con người có tài năng siêu việt và là chỗ dựa tinh thần cho mọi người. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất hiện và ngay lập tức được đón nhận. Người ta thấy rằng ông quả là bậc hiền tài mà họ trông chờ, ông mang đủ tư cách của một ông thầy đáng để cho họ quý trọng. Bằng vốn văn hoá phong phú của mình, ông đã cô đúc được rất nhiều triết lý của cuộc sống. Ông nêu ra được những phạm trù biện chứng, ông giáo dục đạo đức làm người và phê phán những thói hư tật xấu. Nhưng dù khen, chê hay dạy dỗ thì ngôn ngữ, phong cách và tư tưởng của ông vẫn rất bình dị, gần gũi. Đó cũng là một khía cạnh đáng quý trong con người ông. Thực ra những điều ông nói vẫn là sự thực mà ai cũng biết, ông chỉ là người cô đúc, hệ thống lại các triết lý đó rồi dựa vào đó để đi sâu phân tích, để triết lý được đầy đủ hơn. Nhờ vậy, ông đã làm nổi bật thực trạng xã hội và thức tỉnh được lương tri cao đẹp của con người trong cuộc sống xô bồ. Nhân dân luôn coi ông là một người thầy xuất sắc, một học giả uyên bác đã có công cảnh tỉnh họ, đã bày cho họ một lối ứng xử thích hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. Biết được những cách xử thế đó, nhân dân lao động có thể tồn tại vững vàng giữa bao nhiêu chuyện mất còn thị phi của chế độ phong kiến đang ở bước suy vong.

Ông mất năm Ất Dậu (1585) hưởng thọ 94 tuổi. Lễ tang ông có quan phụ chính triều đình là Ứng vương Mạc Đôn Nhượng dẫn đầu các quan đại thần về dự. Việc vua Mạc cử người được vua coi như cha về dự lễ tang nói lên sự trân trọng rất lớn của nhà Mạc với Trạng Trình. Trong buổi lễ tang ấy, Ứng vương đã thay mặt vua truy tặng Nguyễn Bỉnh Khiêm tước Thái phó Trình quốc công.

Nhận xét về Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà sử học Phan Huy Chú đã viết trong bộ sách lớn Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí: “Một bậc kỳ tài, hiền danh muôn thưở”.

 

La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp khi về thăm đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm, có bài thơ Quá Trình tuyền mục tự (Qua thăm đền cũ Trình tuyền) đã xem Trình tuyền là người có tài “Huyền cơ tham tạo hóa” (nắm được huyền vi xen vào công việc của tạo hóa).

 

5) LÊ QUÝ ĐÔN (1726 – 1784):

Tên thật Lê Danh Phương là quan của nhà Hậu Lê đồng thời có thể coi là một nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực.

Ông được mọi người biết đến với những công trình văn hoá, văn học xuất sắc và ông còn nổi tiếng là một nhà nho, một nhà giáo dục có đức độ, tài năng. Ông mở trường lớp, thu nhận học trò và dạy họ những kiến thức, những đạo đức làm người nên tình cảm của học trò đối với ông rất sâu sắc. Khi Lê Quý Đôn mất, Bùi Huy Bích – một học trò rất thành đạt của ông đã làm bốn bài văn tế thầy đã nói “Thông minh nhất đời, đọc rộng các sách, trước thuật văn chương đủ dạng đời và lưu truyền về sau. Nước ta trong vài trăm năm nay mới có người như vậy”, “Sự dạy bảo của thầy không liệt vào năm bậc luân thường nhưng năm bậc luân thường cũng từ đó mà sắp đặt. Trang phục của học trò không ghi trong tang lễ nhưng không phải tang lễ có thể ra trang phục…ơn dạy bảo sâu dày mà không thể báo đền, tình mến cảm triền miên mà không bao giờ hết được”.

 

6.-Nguyễn Thiếp (1723-1804)

Nguyễn Thiếp là cháu đời thứ 11 dòng họ ba trăm năm cự tộc ở xứ Nghệ. Những gì ông đã làm được đủ chứng minh một tấm lòng ưu dân, ái quốc, một nhân cách lớn của kẻ sĩ.

Nguyễn Thiếp, huý Minh, tự Quang Thiếp, hiệu tự đặt là Lạp Phong cư sĩ, Bùi Phong cư sĩ, Cuồng Ẩn, Hạnh Am tiên sinh, Nguỵêt Ao tiên sinh, La Giang phu tử. Riêng Nguyễn Huệ gọi ông là La Sơn phu tử, sau lại ban cho La Sơn tiên sinh. Thuỷ tổ quê ở Cương Gián (Nghi Xuân, Hà Tĩnh), lấy vợ lẽ lập chi họ Nguyễn ở xã Nguyệt Ao, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, phủ Đức Quang (nay là xã Kim Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh).

Lúc nhỏ Nguyễn Thiếp và ba anh em trai nhờ mẹ chăm sóc và chú kèm cặp nên đều học giỏi. Năm 19 tuổi ông theo chú là Nguyễn Hành (đang làm Hiến sát sứ Thái Nguyên), ra đó du học và được chú gửi cho bạn thân là Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm kèm cặp dạy dỗ thêm.

Chưa được một năm thì ông chú đột ngột mất ở lỵ sở, Nguyễn Thiếp phát bệnh điên bỏ đi và được một cụ già đưa về nhà chăm sóc, chữa trị, sau đó mới về được đến nhà. Năm sau, Nguyễn Thiếp ra thi hương trường Nghệ trúng hương giải khoa Quý Hợi (1743) nhưng ông lại không đi thi Hội mà đi ở ẩn, một phần do bệnh tật, nhưng chủ yếu là do thời cuộc lúc bấy giờ. Trong thì Chúa Trịnh Doanh chuyên quyền, vua Lê Hiển Tông chỉ có hư vị, ngoài thì tứ phương loạn lạc, nhân dân thì đói khổ điêu linh.

Ở ẩn khoảng 6 năm đọc sách và du ngoạn, năm Mậu Thìn (1748), ông ra Bắc Hà thi Hội và đậu Hội thi Tam trường. Sau đó ông vào Bố Chính dạy học, đến năm Bính Tuất (1756), lúc này đã 34 tuổi, Nguyễn Thiếp được bổ Huấn đạo Anh Đô (Phủ Anh Sơn, tỉnh Nghệ An).

Làm Huấn Đạo được 6 năm, ông được bổ làm tri huyện Thanh Chương. Đến năm Mậu Tý (1768), ông xin từ quan về ở ẩn tại trại Bùi Phong trên dãy Thiên Nhẫn, người ta gọi ông là Lục Niên tiên sinh.

Năm Bính Ngọ (1786), Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc diệt họ Trịnh, sai người đưa thư và vàng lụa lên sơn trại mời ông ra giúp việc nhưng ông từ chối đến ba lần. Tháng tư năm Mậu Thân (1788), trên đường ra Thăng Long trừ Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Huệ gửi thư mời ông xuống hội kiến ở Lam Thành, lời thư vẫn tha thiết, ông đành xuống núi nhưng vẫn chưa chịu ra giúp.

Sau khi lên ngôi Hoàng đế, vua Quang Trung kéo quân ra Thăng Long diệt giặc Thanh, đến Nghệ An nghỉ binh, nhà vua lại triệu Nguyễn Thiếp đến hỏi phương lược, kế sách đánh giặc ngoại xâm, Nguyễn Thiếp nói: “Người Thanh ở xa tới mệt nhọc không biết tình hình khó dễ thế nào. Vả nó có bụng khinh địch, nếu đánh gấp thì không ngoài mười ngày sẽ phá tan. Nếu trì hoãn một chút thì khó lòng mà được nó”.

Sau ngày đại thắng quân Thanh đầu xuân Kỷ Dậu (1789), vua Quang Trung về đến Nghệ An lại mời Nguyễn Thiếp đến bàn quốc sự. Lúc này vua Lê vẫn còn nhưng đối với Nguyễn Thiếp, vua Quang Trung là vị anh hùng dân tộc nên tôn nhà vua là Minh chủ.

Năm Tân Hợi (1791) tiếp chiếu triệu của vua Quang Trung, ông vào Phú Xuân, dâng tấu lên nhà vua bàn ba việc mà ông cho là thiết yếu nhất: một là bàn về quân đức; hai là bàn về nhân tâm; ba là luận về học pháp. Nhà vua uỷ cho ông tổ chức việc dịch ra quốc âm và chú thích sách tiểu học, tứ thư, kinh thư, thư dịch.

Năm Nhâm Tý (1792), vua Quang Trung đột ngột băng hà, sự nghiệp của Nguyễn Thiếp đành dở dang. Năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Thiếp đến Phú Xuân nhằm giúp Quang Toản, thì bị Nguyễn Ánh giữ lại. Nguyễn Ánh dụ ông ra giúp việc nhưng bị ông từ chối, ngầm cảm phục và iếp đãi tử tế và xuống chỉ cho ông về. Nguyễn Thiếp trả hết bổng lộc, sống cảnh nghèo túng trên trại Bùi Phong dạy học trò và đọc sách.

Ông mất năm 1804, thọ 81 tuổi. Nhà thờ Nguyễn Thiếp hiện ở xã Kim Lộc, Can Lộc.

           CHUYÊN MỤC:  SƯU TẦM NGỮ NGHĨA:

 

        BQM:

Chữ “ Thày” nếu để chỉ người dạy học thì được dịch sang tiếng TQ là  sư (师) , còn để chỉ người cha là phụ thân(父 亲). Thày trò là :sư sinh (师生), sư đồ (师徒), sư đệ (师弟). Nhưng khi nó kết hợp với chữ giáo(教 ) thì tiếng Việt nhiều khi khác với Tàu. Ví dụ : ta gọi chức danh thày giáo dạy đại học là giáo sư (教 师), nhưng TQ không có từ này, mà họ gọi là ( giáo thụ=教 授). Ta có chữ giáo viên như giáo viên nhân dân,  nhà giáo nhân dân. Nhà giáo (教 家) cũng không có trong tiếng TQ.. Còn nếu có vị đại giáo sư nào xem trò như con mà sang tạo them từ, gọi thày trò là sư tử (师子) thì nhầm to đấy. Trong trường hợp này (师) dược hiểu  như 狮 ( sư tử, lion). Nước sư tử (狮 子 国 ) là tên nước xưa gọi đất Srylanka hiện nay. Thành phố Sư Tử ( 狮 子市) là Singapore xuất phát từ  chữ Singapura trong tiếng Malay, vốn được lấy từ  chữ Phạn là singa (sư tử) và pura (thành phố). Từ đó, Singapore được biết với cái tên là Thành phố Sư Tử. Tên gọi này còn bắt nguồn từ một vị hoàng tử tên là Sang Nila Utama. Theo truyền thuyết, vị hoàng tử này nhìn thấy một con sư tử là sinh vật sống đầu tiên trên hòn đảo và do đó đặt tên cho hòn đảo là Thành phố Sư Tử (Singapura).

Ôi, thật là “ sư chử sư thị đeo lủng lẳng” biết đây mà lần!

  CHUYÊN MỤC : SỨC KHỎE- THƯ GIÃN

 

Sơ đồ tư duy cho người cao tuổi ( tài liệu lấy trên mạng)

( Nếu trên Docago không có hình, xin xem trên doanhtho.blogspot.com. Cảm ơn)

 

 

Docago.wordpress.com số ra thứ 3 ngày 18/10/2011 9 (tức 22 tháng 9 năm Tân Mão)

CHUYÊN MỤC:  VĂN HÓA  ĐÔNG TÂY

             Đỗ Anh Thơ( sưu tầm- biên soạn)

Chương 17

Chủ nghĩa dân chủ Jean-Jacques Rousseau

     

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

            Jean-Jacques Rousseau (17121778), sinh tại Geneva, là một nhà triết học thuộc trào lưu Khai sáng có ảnh hưởng lớn tới Cách mạng Pháp, sự phát triển của lý thuyết xã hội, và sự phát triển của chủ nghĩa dân tộc. Rousseau cũng có nhiều đóng góp cho âm nhạc cả trên phương diện lý luận và sáng tác. Ông cũng là người sáng tạo nên cách viết tiểu sử kiểu hiện đại với trọng tâm được đặt vào tính chủ thể. Ông cũng viết tiểu thuyết và đóng góp quan trọng cho trào lưu lãng mạn trong văn học.

Tiểu sử

Rouseau rời Geneva năm 1728 sau nhiều năm học việc nghề thư ký và tới Paris năm 1742. Là thư ký cho Đại sứ Pháp tại Venice từ 1743-1744. Sau đó ông về Pháp và có năm con với Thérèse Levasseur nhưng ông đều bỏ cho trại trẻ mồ côi nuôi. Trong thời gian này ông làm bạn với Diderot và có đóng góp cho tập Bách khoa thư với các bài về âm nhạc và quan trọng nhất là bài về kinh tế chính trị viết năm 1755.

Năm 1754, Rousseau quay về Geneva và bắt đầu cho ra đời tác phẩm Đối thoại về Nguồn gốc và Cơ sở của Sự Bất bình đẳng của Con người năm 1755. Do viết nhiều tiểu thuyết đả kích tôn giáo, ông buộc phải rời sang BernMôtiers (Thụy Sĩ), nơi ông viết Đề án Hiến Pháp cho đảo Corse và tiếp tục phải tị nạn với nhà triết học David Hume tại Anh. Ông về Pháp năm 1767 và cưới Thérèse năm 1768, đến 1770 ông trở về Paris. Ông tiếp tục viết nhưng các tác phẩm chỉ được xuất bản sau khi ông mất vì xuất huyết não vào ngày 2 tháng 7 năm 1778.

Rousseau nhận thấy có sự phân chia về bản chất giữa xã hộibản chất tự nhiên của con người. Ông cho rằng loài người là tốt về bản chất nếu sống ở trạng thái tự nhiên và rằng con người bị tha hóa bởi chính xã hội. Ông cho xã hội là nhân tạo và sự phát triển phụ thuộc lẫn nhau trong xã hội là cản trở đối với chất lượng cuộc sống của loài người.

Trong “Đối thoại giữa Khoa học và Nghệ thuật“, Rousseau tranh luận rằng cả khoa họcnghệ thuật đều không bổ ích cho con người. Tiếp theo, trong Bàn về Bất bình đẳng, ông tiếp tục theo vết tiến trình tha hóa của loài người từ trạng thái tự nhiên nguyên thủy lên xã hội hiện đại. Khi loài người buộc phải gắn kết với nhau chặt chẽ hơn, cũng là khi loài người trải qua quá trình ngày càng phụ thuộc lẫn nhau do phân chia lao động và dẫn đến bất bình đẳng, và do vậy cần phải có khế ước xã hội. .

Khế ước Xã hội

Khế ước Xã hội là tác phẩm phác họa trật tự chính trị hợp lý của ông. Xuất bản năm 1762, tác phẩm đã có nhiều ảnh hưởng tới triết học phương Tây. Rousseau cho rằng trạng thái tự nhiên bị tha hóa trở thành một tình trạng dã man không còn luật pháp hay đạo đức, nên loài người cần một thể chế để tồn tại, vì bên cạnh đó, sự cạnh tranh lẫn nhau loài người cũng phụ thuộc vào nhau. Theo Rousseau, bằng cách sát cánh bên nhau thông qua một khế ước xã hội và từ bỏ các quyền tự nhiên, cá nhân sẽ giải thoát cả hai áp lực nói trên, tức là vẫn tồn tại và vẫn tự do. Bởi vì khi đã trao quyền lực cho những người đại diện cho nguyện vọng và ý chí chung của quảng đại quần chúng, thì chính điều này đảm bảo cho cá nhân khỏi bị lệ thuộc vào ý chí của các cá nhân khác.

Mặc dù ông cho rằng chủ quyền phải thuộc về nhân dân, nhưng ông lại phân biệt chủ quyền và chính quyền. Chính quyền là người thực hiện chủ quyền, tức ý chí và nguyện vọng chung của quảng đại quần chúng. Tuy chính quyền chỉ là một phần nhỏ trong dân chúng, nhưng lại là những người nắm vững pháp luật nhất, họ chính là các quan tòa – những người áp đặt việc thực thi ý chí nguyện vọng chung của dân chúng. Ông cho rằng luật pháp phải do dân chúng trực tiếp lập ra, thay vì được lập ra thông qua các cơ quan đại diện.

Giáo dục

Quan điểm giáo dục của Rousseau được thể hiện qua cuốn tiểu thuyết Emile. Trong đó Emile trải qua giai đoạn giáo dục đầu tiên đến năm 12 tuổi, giáo dục giai đoạn này về bản chất là hoàn toàn tự nhiên. Giai đoạn hai từ 12 đến 16 là giai đoạn lý tính bắt đầu phát triển. Và giai đoạn cuối cùng là từ 15 tuổi trở đi để đứa trẻ tiếp tục phát triển thành người lớn. Ông cho rằng mục đích của giáo dục là học cách sống và điều này có thể đạt được khi có người bảo trợ chỉ dẫn con đường đi để có cuộc sống tốt đẹp.

Tuy nhiên, quan điểm của Rousseau cho giáo dục trẻ em nữ lại không như vậy. Sophie, người yêu của Emile, được giáo dục để tuân theo sự chỉ bảo của chồng, trong khi Emile được giáo dục để tự quyết định lấy cuộc sống của mình.

Tôn giáo

Rouseau cho rằng con người sinh ra về bản chất tự nhiên là tốt, và như vậy là hoàn toàn trái ngược với niềm tin về tội tổ tông của cả giáo phái Calvin ở Geneva và Công giáo ở Paris. Trong Khế ước Xã hội, ông cũng viết rằng những người tin vào Chúa Giê-xu sẽ không phải là những công dân tốt.

Ảnh hưởng

Rousseau có ảnh hưởng lớn đến cuộc Cách mạng Pháp, mặc dù ý tưởng chủ quyền thuộc về toàn thể nhân dân được thực hiện qua hình thức đại diện thay vì trực tiếp. Ông cũng là một trong những tác giả đầu tiên phê phán thể chế tư hữu và được xem là bậc tiền bối của chủ nghĩa xã hội hiện đại và chủ nghĩa cộng sản khoa học. Ông cũng là người sớm đặt câu hỏi liệu ý chí nguyện vọng của đa số liệu có phải lúc nào cũng đúng và mục tiêu của chính quyền theo ông là phải đảm bảo tự do, bình đẳng và công bằng cho tất cả cho dù có phải là ý chí của đa số hay không. So với các nhà khai sáng đương thời như VoltaireMontesquieu, tư tưởng chính trị của Rousseau cấp tiến hơn.

Ông cũng cho rằng nguyên tắc cơ bản của triết học chính trịchính trịđạo đức không được tách rời. Khi nhà nước không thực hiện đúng theo giá trị đạo đức thì cũng không thể thực hiện đúng các chức năng của mình và cũng không thể có quyền lực đối với một cá nhân được nữa. Nguyên tắc quan trọng thứ hai là tự do mà nhà nước được lập ra để gìn giữ.

Quan niệm về giáo dục của Rousseau mà trong đó đối tượng của giáo dục chính là những đứa trẻ mạnh khỏe cả về thể chất và tinh thần, cũng như việc ông không xem trọng sự cần thiết của giáo dục qua sách vở, cũng như việc ông nhấn mạnh sự cần thiết phải giáo dục cảm xúc cho trẻ em trước khi giáo dục lý tính đã là tiền đề cho lý thuyết giáo dục hiện đại đặt trẻ em làm trung tâm.

Các tác phẩm của Rousseau đều thể hiện rằng thiên nhiên giúp con người hình thành nên bản chất của mình, giúp con người thống nhất để vượt qua sự tù đày và giam cầm của xã hội. Chính vì vậy, ông khẳng định sự cần thiết của việc con người về với tự nhiên, sự cần thiết đặt con người ở nơi nằm ngoài những ràng buộc của xã hội và những định kiến của văn minh. Và như vậy, ý tưởng của ông chính là Chủ nghĩa Lãng mạn, mặc dầu chính bản thân ông xem mình là người của phong trào Khai sáng.

 

 

Căn nhà mà Jean-Jacques Rousseau ở cùng Mme de Warens năm 1735-6. Nay trở thành nhà lưu niệm Rousseau.

 
Tranh củaAllan Ramsayvẽ Rousseau  năm1766

 

               CHUYÊN MỤC : THƠ VĂN

       Thơ Trần văn Kinh

           Về hưu lại học chữ thánh hiền

    

Trót nợ ba sinh, luống miệt mài

Suốt đời khuôn phép, dám đơn sai

Về hưu, giở lại trang lề cũ

Đầu bạc, lần theo nét mực phai

Cửa Khổng, đài nghiên duyên dẫu ngắn

Sân Trình, ngọn bút nợ còn dài

Xuân tàn nào phải hoa tàn hết (*)

Sân trước vừa dâng một đóa mai.

——-

(*) Mượn ý thơ của Mãn Giác thiền sư:

“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

                Thơ Nguyễn Chân

NỊNH ĐẦM

Người tặng tôi ba chữ “giỏi nịnh đầm”!

Nào ai hay có thực tự thâm tâm ?

Nếu đầm thích, suốt đời tôi còn nịnh.

Nhược bằng không, chỉ xin chớ rủa thầm !

 

GALANTERIE

Un jour deux mots”très galant”on m’a dédiés.

 Qui sait du profond du coeur sont-ils proférés?

Mesdames! Si vous plait cette galanterie

Je vous répondrai jusqu’au terme de la vie.

Si non, de ne pas me maudire, je vous prie!

 

佞 女 流

            

           

             

             

            

            

 

NỊNH NỮ LƯU

“Thiện nịnh nữ nhân” khanh tặng ngã

Thuỳ tri khanh ngữ tự thâm tâm ?

                       Nữ lưu như quả do ưu ái

Ngã nguyện chung sinh nịnh tận cần

Như nhược bất ưng duy nhất thỉnh

                        Thâm trầm vật trớ ngã tri ân      (22.08.10)

 

VÔ DUYÊN

 

             Em tôi sắc nước hương trời

Tiếng nghe thánh thót như lời oanh ca

Khen em, em bảo : Thôi mà

         Xin đừng nịnh nữa, Em hoa mắt rồi !

 

                無  緣

國  色  天  香  兄  小  妹

嗓  喑  清  脆  似  鶯  歌

贊  揚  妹  告  誠   餘  了

休  佞  求  兄  妹  眼  花

 

          VÔ DUYÊN

             Quốc sắc thiên hương huynh tiểu muội

Tảng âm thanh thuý tự oanh ca

Tán dương muội cáo thành dư liễu

Hưu nịnh cầu huynh muội nhãn hoa.

MALCHANCEUX

               Ma soeur est d’une beauté élégante

Elle parle tel le loriot qui chante

       Je la louange, elle dit : C’est assez!

        Cette flâtterie m’a fait les yeux aveuglés

 NGUYỄN CHÂN 02.12.2010

                          Đỗ Anh Thơ :

          Truyện Tân Liễu Trai. Phần III- Thoa (kỳ 3)

 

Sáng ngày thứ ba hai vợ chồng Thoa chuẩn bị ra về thì trời đổ một cơn mưa bất chợt. Chỉ khoảng 10 phút là mưa tạnh. Hiền sợ lỡ phép nên cương quyết dắt xe ra ngõ. Mẹ Thoa bịn rịn chia tay con. Bà cụ mắt đỏ hoe, còn ông cậu thì nghĩ đến họ hàng mình, nay có thằng cháu rể cũng mát mặt với bà con trong xã.  Ông khoái chí rít một hơi thuốc lào rồi rung đùi. Đường trơn, Hiền không dám nổ máy xe mà đẩy nó lên dốc đê. Hai bánh xe kẹt cứng những bùn. Tú đang tát nước dưới ruộng, có cớ chạy lên giúp Thoa cùng đẩy xe. Hiền cảm ơn rối rít. Anh chúi đầu về phía trước giữ cho vững tay lái. Tú lại được dịp một tay đẩy, tay kia sờ soạng Thoa… từ trên đồi rồi xuống hang ,xuống vực, xuống suối có động lún phún rêu, có nước đang chảy róc rách…

Qua trạm bơm, tới đường đá dăm, Hiền dừng lại, tìm một cái que to để cời bùn. Tú xuống ruộng tháo gầu cùng Thoa múc đầy nước, đưa lên cho Hiền rửa bánh xe. Hiền đứng trên đê vừa lúi húi cạy bùn vừa nghĩ đến công việc. Chắc lại một vụ phá án mới nên cấp trên mới gọi anh về gấp. Còn Tú thì mỗi lần xuống mép nước lại tranh thủ điều tra khám phá hang động mà bọn buôn đang giấu diếm heroin. Tú đưa nước lên cho Hiền còn Thoa ngồi cạnh mép ruộng, chờ Tú xuống lấy nước tiếp.

Xe rửa sạch bùn thì lại chết máy. Đến lúc này Hiền mới sực nhơ ra là bộ đồ nghề bỏ quên ở nhà mẹ đẻ Thoa. Anh chạy vội trở lại. Thế là cả hai con nghiện lại được dịp diễn trò ngay dưới ruộng. Bằng đang xua vịt ra đồng, trông thấy định liều mạng xông lên đánh hội đồng, cướp tập thể.. May mà Hiền xuất hiện, nên chuyện đêm qua không tái diễn giữa ban ngày. Tuy nhiên, các hình ảnh hai ngày điều tra đều đã được họ lưu vào điện thoai cầm tay để đối chứng. Xe honda Hiền nổ giòn giã, Thoa chậm rãi cúi xuống nước rửa chân tay, chuẩn bị lên đê cùng chồng đi về. Bỗng cô thấy một con rắn nước bò trong bụi cỏ. Mắt cô hoa lên nhìn nó. Nó hiện lên trước mắt cô như hình ảnh Lục, tinh con rắn – cô gái mặc áo thiên thanh. Cô suýt ngất đi, may có tiếng Hiền giục cô mau lên xe…để đi về.

Đỗ Anh Thơ
( còn nữa )

 

               CHUYÊN MỤC: CHUYỆN XƯA …CHUYỆN NAY

    Phan Xuân Thành:
 Nhà thờ cụ Nguyễn Thức Tự

            (  Tin thày Hưu cháu đích tôn của cụ Nguyễn Thức Tự vừa ra đi. Là học của thày nhưng vì đường sá xa xôi không thể về nghiêng mình tước linh cữu thày đươc nên xin đăng lại bài viết

về ông nội của thày, như một cách suy tôn cái tiết tháo của dòng họ Nguyễn Thức vậy . Kính xin hương hồn thày xá cho – Docago )

 

               Nhà thờ cụ Nguyễn Thức Tự ở làng Đông Chữ, nay là xóm 11, xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc, Nghệ An, cách thành phố Vinh 20km về phía Đông Bắc. Nhà thờ gắn với tên tuổi thầy giáo Nguyễn Thức Tự. Tại đây, cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng được người thầy lừng danh đất Hồng  Lam truyền dạy kiến thức và đạo lý làm người.

Với chiều dài 5,1m, rộng 4,7m, mặt ngoảnh về hướng Nam, nhà thờ được làm vào năm 1903. Ngôi nhà có một gian hai chái, lợp ngói vảy. Phía bên phải khắc chữ “Cung”, bên trái khắc chữ “Thận”, nói lên tính cách cụ Nguyễn Thức Tự: Cung kính và thận trọng. Nội thất có sập thờ, đồ tế khí, những cuốn sách thuốc và tác phẩm bằng chữ Hán. Nhà thờ có cổng trụ, trên có hai con nghê chầu lại.

Nhà thờ thầy Nguyễn Thức Tự

 

Trong sân có cây nhãn và bia đá ghi “Thành Thái định vị xuân; Sơn sư Nguyễn Công Huệ điền; Đông nhị thập bát ngũ; Tây nhị thập bát ngũ tam xích; Nam nhị thập nhị ngũ nhất xích; Bắc nhị thập ngũ tam xích”. (Nghĩa là: Mùa xuân năm Đinh Mùi (1907), niên hiệu Thành Thái, ruộng đất của cụ Sơn phòng chánh sứ họ Nguyễn, phía Đông 36 thước, phía Tây 36 thước 3 tấc, phía Nam 24 thước 1 tấc, phía Bắc 20 thước 3 tấc).
Nguyễn Thức Tự tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp. Năm 1886, sau hai năm từ quan, cụ chính thức mở trường dạy học, đồng thời làm nghề bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Cụ đã từng dạy học ở Nam Đàn, Thanh Chương nhưng lâu nhất là ở quê nhà. Học trò đến trường của thầy Tự có đủ con em Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Bình, Nam Định.
Nội dung giảng dạy chủ yếu của thầy Tự là giáo dục tinh thần yêu nước cho các thế hệ học trò. Ngoài những kiến thức truyền thống rút ra từ học thuyết Khổng – Mạnh thì cốt lõi trong nội dung học tập là tinh thần yêu nước, tấm lòng canh cánh vì nước vì dân trong bầu nhiệt huyết muốn truyền thụ kiến thức cho môn sinh.

 

Theo cụ, muốn cứu nước phải học thành tài để có kiến thức nhằm mục đích giáo dục tư dân, làm cho đất nước giàu mạnh, đủ sức chống lại kẻ thù.
Hơn 30 năm dạy học (1886 – 1923), Nguyễn Thức Tự đã đào tạo trên 400 học trò thành đạt. Trong số đó nhiều người ra làm quan nhưng vẫn giữ được phẩm hạnh của người trí thức chân chính, yêu nước.

 

Đó là Hoàng giáp Đinh Văn Chấp, Hoàng giáp Nguyễn Đức Lý, Tiến sỹ Hoàng Kiệm, Nguyễn Mai, Lê Bá Hoa; các vị phó bảng như Vương Đình Trân, Nguyễn Văn Chấn, Nguyễn Thức Dinh, Nguyễn Viết Tuyển, Nguyễn Sinh Sắc, giải nguyên Phan Bội Châu…
Cụ Nguyễn Sinh Sắc có hoàn cảnh khác, mồ côi cha mẹ từ sớm. Năm 1878, Nguyễn Sinh Sắc được nhà nho Hoàng Đường đưa về nuôi dạy. Đúng như dự cảm của cụ Đường, cụ Sắc học tập tấn tới rất nhanh, thiên tư học tập bộc lộ ngày càng rõ.

 

Tiếng tăm học giỏi của Nguyễn Sinh Sắc được đồn đại khắp vùng. Sau một thời gian học tập, Nguyễn Sinh Sắc có thể đàm đạo văn thơ với những học sinh lớp trước. Cụ Hoàng Đường thương yêu cụ Sắc như con đẻ.

 

Sau 8 năm rèn dạy, cảm thấy trình độ của mình có hạn. Năm 1886, cụ quyết định gửi Nguyễn Sinh Sắc tới làng Đông Chữ, xã Thịnh Trường (nay là xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc) cách Hoàng Trù trên 30km để học với thầy giáo Nguyễn Thức Tự, người nổi tiếng uyên bác và có lòng yêu nước.
Lúc bấy giờ cùng dạy với thầy Nguyễn Thức Tự còn có tú tài Phạm Văn Thuấn, thầy Nguyễn Năng Chúc, Nguyễn Năng Phiên, Lê Văn Hoan, cử nhân Lê Xuân Huyên (anh rể cụ Tự).
Để thử khẩu khí Nguyễn Sinh Sắc, thấy Tự ra đề bài:
Thất thập tề thành giai bắc diện
Nhất thời trung phẩm độc thư sinh
(Tạm dịch: Liên hệ truyện thời Chiến Quốc, bảy mươi thành trì bị Hàn Tín chinh phục, chỉ có một thư sinh là Điền Hoành dám chống lại).
Từ bài phú này thầy giáo Nguyễn Thức Tự biết được tư chất, chí hướng học trò.
Năm 1900, khi cụ Nguyễn Thức Tự tròn 60 tuổi, học trò khắp nơi cùng nhau làm bức trướng mừng thầy. Bức trướng rộng 1,8m, cao 1,6m, làm bằng gỗ dổi, mặt trướng viết bằng chữ Hán.

 

Trang trí có dây hoa, xung quanh được chạm họa tiết viền hoa thị, hoa cúc, cuốn thư, kiếm, bầu rượu, hoa sen cỏ. Toàn bộ nội dung toát lên công lao to lớn của người thầy. Bài văn có đoạn: “… Năm Canh Tý thầy tinh sơn phòng sứ Nguyễn Tiên Sinh xuất thân nhà Nho.

 

Ngài không ưa khí chất yếu ớt, là một anh hào, thích sách, mài chí vào nghiên bút, nổi tiếng văn chương vượt lên hàng đầu tỉnh, trải qua kỳ ân khoa đạt được sự nghiệp thỏa chí,…

 

Khi ở quận, lúc tại triều, công danh một mạch không kém ai, lại một trông ngóng nơi trời mây, để trở về an nhàn nơi đậu cúc, giáo dục con trẻ có hướng có phương, dạy dỗ người đời không chán không mệt…”.
Phía dưới trướng ký tên 36 môn sinh, trong đó có Phan Bội Châu, cử nhân Nguyễn Sinh Huy (Nguyễn Sinh Sắc), Nguyễn Điểm, Nguyễn Thúc Dinh, tú tài Nguyễn Năng Cảnh, Hoàng Kiêm, Phan Sỹ Ngạc, Chánh tổng Nguyễn Can… Bức trướng được để trong nhà khách. Năm 1903, khi hoàn thành nhà thờ thì học trò đưa treo ở gian phía Tây để mọi người thưởng thức.
Ngày mồng 7/4 năm Quý Tỵ (năm 1893), cụ Hoàng Đường qua đời. Nghe tin này cụ Nguyễn Thức Tự bàng hoàng, nhờ học trò Nguyễn Sinh Sắc đem lễ vật hương, rượu thay mình phúng điếu cụ.
Năm 1901, sau bao nhiêu năm vất vả, cụ Sắc đi thi Hội trúng phó bảng, đền đáp công ơn người thầy, người cha kính yêu.
Nhà thờ Nguyễn Thức Tự là nơi chứng kiến những năm tháng tuổi học trò của Nguyễn Sinh Sắc. Đây cũng là nơi họp bí mật của Hội Duy Tân, Hội Phục Việt, là địa điểm thành lập huyện Đảng bộ Nghi Lộc lâm thời tháng 4/1930.

 

                    CHUYÊN MỤC :  SƯU TẦM NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT

 

              BQM.-

             Cái “mươn” của đồng bào Nghi Lộc

Mươn là dụng cụ xưa, dung để bày bày cơm khoai thức ăn ra để ăn như cái mâm gỗ của nông dân Nghi Lọc. Nó giống như cái chõng tre cũng hình chữ nhật nhưng ngắn hơn. Liếp tre đan thưa và rời, để có thể cọ rửa thường xuyên. Ăn xong, nó được treo lên vách.

Từ lâu tôi vẫn cứ thắc mắc là không biết từ này đồng bào quê tôi đã đọc trệch đi của từ “mâm” hay ngược lại, đó là những từ Việt cổ, cũng như nhừng từ khác ví dụ ló= lúa, tru= trâu, bù= bầu, nõ= lọ, gấy= gái, kẻ Vịnh= Yên Dũng= Vinh. Gắt= gặt= cắt, ván= phán= phản, rằn= chuồng… và vô số từ khác của quê tôi.

Hồi mới học năm thứ nhất cấp 2 với thầy Bùi Văn Nguyên, hè thầy bắt chúng tôi đi sưu tầm thổ âm Nghi Lộc vê nộp cho thầy. Nhưng đến năm sau thày đi học tiếp tú tài 2, rôi vào dạy Trường Phan Đình Phung nên không rõ công trình này thày có hoàn thành không ?

 

CHUYÊN MỤC : SỨC KHỎE- THƯ GIÃN 
Nếu bạn đang tự hỏi “Mình có bị bệnh đái tháo đường hay không?”, hãy truy cập vào websiteBệnh đái tháo đường là gì? để có câu trả lời cho mình và cho người thân, bạn bè của bạn.

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi bệnh đái tháo đường được phát hiện sớm để thực hiện việc điều trị, bạn sẽ có nhiều khả năng tránh được nguy cơ xuất hiện các biến chứng nguy hiểm của căn bệnh này. Và mặc dù sẽ sống chung với bệnh một thời gian dài, bạn vẫn có được cuộc sống chủ động và vui khỏe như bạn mong muốn.

Bạn hãy bắt đầu bằng việc kiểm tra xem gần đây bạn có các dấu hiệu dưới đây hay không nhé!

– Rất khát nước và uống nước rất nhiều (còn gọi là háo nước);

– Đi tiểu tiện nhiều hơn bình thường;

– Rất đói và ăn nhiều một cách bất thường;

– Giảm cân nhiều  trong một thời gian ngắn;

– Khó tập trung làm việc hay học tâp, cơ thể mệt mỏi, dễ nổi cáu;

– Nhìn mờ;

Nếu bạn nhận thấy mình có một hay nhiều hơn những dấu hiệu kể trên, hãy giành thời gian để đến kiểm tra sức khỏe tại những cơ sơ y tế tin cậy càng sớm càng tốt!

Website Bệnh đái tháo đường là gì? là một nguồn tin cậy mang đến cho bạn những hiểu biết cần thiết về bệnh đái tháo đường!

Những điều bạn không tìm thấy ở website này, hãy gửi những thắc mắc đó của bạn cho chúng tôi để nhận được giải đáp từ các chuyên gia.

Bạn là bệnh nhận đái tháo đường và đang quản lý bệnh tại nhà, hãy tham gia vào Đái Tháo Đường Network Việt Nam để chia sẻ cách quản lý bệnh của bạn với các thành viên khác của cộng đồng này, và tham khảo những lời khuyên của các chuyên gia, cập nhật những thông tin mới về đái tháo đường trong nước và quốc tế!

Khi có những hiểu biết về bệnh đái tháo đường, bạn sẽ tránh xa được nó, hoặc nếu nó đã đến, bạn có thể tiếp đón và chung sống một cách thân thiện!

Docago.wordpress.com số ra thứ 7 ngày 15/10/2011 9 (tức 19 tháng 9 năm Tân Mão)

 

CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

             Đỗ Anh Thơ( sưu tầm- biên soạn)

                Chương 16

Voltaire với tư tưởng chính trị xã hội

                         

François-Marie Arouet (21 tháng 11 năm 169430 tháng 5 năm 1778), nổi tiếng qua bút hiệu Voltaire, là một nhà văn học, tác giả, bình luận gia, nhà thần luậntriết gia người Pháp.

Voltaire hay nói bỡn nhưng rất nhạy bén khi phê bình hay tranh luận. Ông luôn phấn đấu phát huy quyền làm người, bảo vệ quyền tự do cá nhân, tự do tôn giáo và quyền được phán xử công minh. Ông thường công khai phát biểu đòi cải cách những bất công trong xã hội mặc dầu lúc bấy giờ triều đình Pháp rất khe khắt với những người chống đối.

Qua những bài bình luận có tính châm biếm, Voltaire thường chỉ trích Giáo hội và nhà nước Pháp. Ông được xem như một nhân vật có tiếng và quan trọng lúc sinh thời.

Tiểu sử

Voltaire sinh năm 1694 tại Paris ra trong một gia đình cha là một quan chức thuế và mẹ là quý tộc dòng dõi. Ông được giáo dục bởi các giáo sĩ dòng Tên, được học tiếng Hy Lạptiếng Latin. Sau này ông còn thành thạo các tiếng Anh, ÝTây Ban Nha. Ông ban đầu làm thư ký rồi sau chuyển hẳn sang nghiệp viết. Ông chủ yếu viết văn thơ chỉ trích xã hội đương thời và do vậy bị đày sang Anh. Nơi ông chịu nhiều ảnh hưởng và sau ba năm đi đày ông đã viết Lettres philosophiques (Những lá thư triết học về nước Anh).

Về Pháp ông ở tại lâu đài Château de Cirey tại mạn biên giới giữa vùng ChampagneLorraine. Chính nơi đây ông bắt đầu quan hệ với Émile của Châtelet, vợ của người chủ lâu đài. Voltaire cùng bà nữ hầu tước này đã sưu tập nhiều sách vở tài liệu và cùng nhau nghiên cứu chúng lại cùng nhau làm thí nghiệm “khoa học tự nhiên” ngay tại lâu đài. Bên cạnh say mê khoa học tự nhiên và là tín đồ của Newton ông cũng nghiên cứu sử học và viết Essay upon the Civil Wars in France (Luận văn về Nội chiến ở Pháp) bằng tiếng Anh. Với tiểu sử vua Karl XII của Thụy Điển ông bắt đầu quan điểm phản đối tôn giáo của mình. Ông cùng bà nữ hầu tước còn cùng nhau nghiên cứu triết học, nhất là siêu hình học. Ông cùng nghiên cứu Kinh thánh và cho rằng cần phân tách nhà thờ ra khỏi nhà nước.

Sau khi Nữ hầu tước mất, ông sang Phổ phục vụ Friedrich Đại Đế. Mặc dù cuộc sống vương giả nhưng Voltaire vẫn giữ thói chỉ trích của mình và với tác phẩm Diatribe du docteur Akakia (Chỉ trích Bác sĩ Akkakia; tên đầy đủ Histoire du Docteur Akakia et du Natif de St Malo) mà ông phê phán vị chủ tịch Viện Hàn lâm Berlin đã khiến Friedrich nổi giận. Ông quay về Pháp nhưng vua Louise XV của Pháp cấm ông trở về Paris nên ông quay sang Genève. Tuy ban đầu được đón chào nhưng ông lại viết luận văn chỉ trích triết học của Gottfried Leibniz qua tác phẩm Candide, ou l’Optimisme (Ngay thẳng, hay lạc quan; 1759) và ông lại rời thành phố.

Những câu nói bất hủ

  • “Jamais vingt volumes in-folio ne feront de révolution ; ce sont les petits livres portatifs à trente sous qui sont à craindre. Si l’Évangile avait coûté douze cents sesterces, jamais la religion chrétienne ne se serait établie.” (Lettre à d’Alembert, 5 tháng 4 năm 1766)

“Hai mươi tập sách khổ lớn không bao giờ làm nổi một cuộc cách mạng; chính những quyển sách nhỏ giá ba mươi xu mới thực sự đáng sợ. Nếu Sách Phúc Âm có giá là một ngàn hai trăm sestertius (tiền La Mã) thì Kitô giáo có lẽ sẽ không bao giờ phát triển như ngày nay.”

  • “Dans les commencements de la fondation des Quinze-Vingts… …aux sourds de juger de la musique.” (Petite digression)

“Khi mới thành lập bệnh viện Quinze-Vingts… …những kẻ điếc bình phẩm về âm nhạc.”

  • “Il vaut mieux hasarder de sauver un coupable plutôt que de condamner un innocent.” (Zadig)

“Thà mạo hiểm cứu vớt một kẻ phạm tội còn hơn lên án một người vô tội.”

  • “Que répondre à un homme qui vous dit qu’il aime mieux obéir à Dieu qu’aux hommes et qui, en conséquence, est sûr de mériter le ciel en vous égorgeant?” (Dictionnaire philosophique, mục từ “Fanatisme”)

“Trả lời thế nào đối với một người nói với bạn rằng anh ta tuân phục Chúa hơn là với người khác và cho rằng anh ta chắc chắn sẽ được lên thiên đàng khi cắt cổ bạn?”

  • “Je commence mon nom, vous finissez le vôtre.” (Voltaire s’adressant au chevalier de Rohan)

“Tôi bắt đầu bằng tên của tôi, ngài kết thúc bằng tên của ngài.”

  • “Le fanatique aveugle, et le chrétien sincère
    Ont porté trop souvent le même caractère;
    Ils ont même courage, ils ont mêmes désirs.
    Le crime a ses héros, l’erreur a ses martyrs.
    Du vrai zèle et du faux vains juges que nous sommes!
    Souvent les scélérats ressemblent aux grands hommes.”

    (La Henriade, chương 5, trang 169-202)

“Kẻ cuồng tín mù quáng, cùng tín đồ Cơ Đốc thành thật
Đều mang cùng tính cách;
Họ đều can đảm, đều có cùng ham muốn.
Tội ác có anh hùng của nó, sai lầm có tử sĩ của nó.
Lòng nhiệt thành và vô vọng là những gì chúng ta có!
Thường những kẻ côn đồ giống các vĩ nhân.”

  • “Nous laisserons ce monde-ci aussi sot et aussi méchant que nous l’avons trouvé en y arrivant.” (được trich bởi Schopenhauer)

“Chúng ta sẽ để lại một thế giới điên rồ và tàn ác như khi chúng ta được biết khi bước vào trước đó.”

  • “Quelques arpents de neige”: ainsi Voltaire désigna-t-il les terres françaises du Canada donnant des arguments à ceux qui préféraient que la France les cède à l’Angleterre. Rappelons qu’à l’époque toute la Louisiane – bien plus grande que l’actuel État de Louisiane – était française et dotée d’un climat bien plus clément.

“Một vài mẫu đất phủ băng tuyết”: đó là cách mà Voltaire gọi những vùng đất Canada thuộc Pháp khi ông đưa ra lập luận đối với những người muốn nước Pháp nhượng lại cho Đế quốc Anh. Lưu ý là vào thời điểm đó, toàn bộ vùng đất Louisiana – rộng hơn bang Louisiana hiện tại – là còn thuộc Pháp và có khí hậu tương ôn hoà hơn.

  • “Les beaux esprits se rencontrent.”

“Những tư tưởng lớn thường gặp nhau.”

  • “Un dictionnaire sans citations est un squelette.”

“Một từ điển không có các câu trích dẫn chỉ là một khung xương.”

  • “L’écriture est la peinture de la voix.”

“Viết lách chính là hội hoạ của phát ngôn.”

  • “On peut juger du caractère des hommes par leurs entreprises.”

“Có thể đánh giá tính cách của đàn ông thông qua sự mạo hiểm dấn thân của họ.”

  • “Plus les hommes seront éclairés, et plus ils seront libres.”

“Càng hiểu biết, con người càng tự do.”

  • “Si Dieu n’existait pas, il faudrait l’inventer.”

“Nếu Chúa không tồn tại thì cần phải phát minh ra ông ta.”

Vắn tắt về tác phẩm

 

Tượng Voltaire trong trang phục triết gia cổ La Mã

Voltaire để lại một di sản các tác phẩm đồ sộ bao gồm tiểu thuyết, kịch, thơ, luận văn và các công trình nghiên cứu khoa học và sử học. Ông còn viết nhiều sách, rất nhiều tờ rơi và trên 20000 thư từ trao đổi.

Quan điểm về tôn giáo

Qua các tác phẩm Voltaire thể hiện quan điểm rằng không cần đức tin để tin vào Chúa. Ông tin vào Chúa nhưng là niềm tin lý tính. Ông cũng phản đối đạo Ki-tô quyết liệt nhưng không nhất quán. Một mặt ông cho rằng Giê-su không tồn tại và các sách Phúc âm là nguỵ tạo nên chứa đầy mâu thuẫn nhưng mặt khác ông lại cho rằng cũng chính công đồng đó đã gìn giữ nguyên bản mà không thay đổi gì để giải thích cho những mâu thuẫn trong các sách Phúc âm. Ông cũng gọi người da đen là động vật (trong Essai sur les mœurs) và thấp kém so với con người cả về mặt thể chất và tinh thần. Ông cũng viét nhiều về các chủng thổ dân khác nhau và có quan điểm bài Do thái.

Triết học

 

Vua Louis 14 ( Pháp) trị vì thời Voltaire sống

Tác phẩm lớn nhất của ông để lại là Dictionnaire philosophique (Từ điển Triết học) tập hợp nhiều bài viết riêng của ông và các bài ông viết trong Encyclopédie (Bách khoa thư) của Diderot. Trong đó ông phản bác thể chế chính trị đương thời của Pháp, nhà thờ Công giáo, Kinh Thánh và thể hiện văn phong, tính cách riêng của mình, Voltaire. Qua đó ông nhấn mạnh vai trò của tôn giáo lý tưởng là giáo dục đạo đức chứ không phải giáo điều.

Ông cũng phản bác chế độ thuộc địa của Pháp ở Bắc Mỹ.

 

Tượng bán thân của Voltaire, 1778,do Jean-Antoine Houdon (17411828)

 

 

Voltaire trở nên nổi tiếng sau quyển Œdipe (1718)  này

 

 

Voltaire với vua  Friedrich II ( Phổ) Tranh của PrusseAdolph von Menzel :

Voltaire xem giai cấp tư sản Pháp quá nhỏ bế và yếu ớt, giai cấp quý tộc thì tham nhũng và ăn bám, còn người dân thường thì dốt nát và mê tín, và nhà thờ thì giúp thêm cho các nhà cách mạng bằng thuế thập phân.Voltaire cũng không tin tưởng ở chế độ dân chủ mà ông xem là chỉ tuyên truyền những tôn sùng của quần chúng. Theo ông chỉ có các đức quân vương Khai sáng với sự hỗ trợ của các nhà triết học như ông mới có thể dẫn tới sự thay đổi vì chỉ với những tính toán lợi ích hợp lý của nhà vua mới mang lại quyền lợi và thịnh vượng cho vương quốc và thần dân. Trong thư gửi Ekaterina II của NgaFriedrich II của Phổ ông nhấn mạnh đến vai trò của quân đội và sử dụng vũ lực để “mang lại trật tự” như ông viết ủng hộ việc chia tách Liên minh Ba Lan – Litva. Nhưng ông cũng phản đối việc sử dụng vũ lực để giải

 

 

 

Lâu đài  Sceaux. Nơi vua  Phổ thuờng tiếp Voltaire( tranh của  Adolph von Menzel).

quyết các vấn đề tranh chấp như trong Dictionnaire philosophique ông xem chiến tranh là “cỗ máy địa ngục” và người sử dụng chúng là “những kẻ giết người ngu ngốc”.

Voltaire còn được nhớ đến như một người tranh đấu cho quyền tự do cá nhân, tự do tôn giáo trong đó có quyền được xét xử công bằng và vạch rõ sự giả dối và không công bằng của chế độ ba đẳng cấp.Voltaire sống hai mươi năm cuối đời ở Ferney và mất ở Paris. Nay Ferney được đặt theo tên ông là Ferney-Voltaire. Lâu đài ông ở giờ là bảo tàng L’Auberge de l’Europe còn toàn bộ thư viện của ông vẫn được giữ nguyên tại bảo tàng quốc gia Nga tại Sankt-Peterburg.

 

Voltaire tại nơi ở của Frédéric II PotsdamPrusse. Phác họa của  Pierre Charles Baquoy, dẫn theo tư liệu của N. A. Monsiau.

 

 

 

 

Tường, điện thờ  nơi chôn thi hài của Voltaire

CHUYÊN MỤC: THƠ VĂN

Thơ Nguyễn Chân :

                 GÁI GOÁ MONG CHỒNG

(Tặng thi hữu Long An)

Sông xa đưa nước về trời.

Cánh chim bạt gió nhoà rồi còn đâu.

Biệt tăm cá lặn từ lâu,

Thương ai sớm tối ngồi câu bóng mình.

Tác giả tự dịch sang Hán văn và Pháp văn

寡婦望夫

長江水逝盡天涯

雁影狂風遠處埋

水底魚沉無隱跡

孤刑朝夕釣傷哀

 

QUẢ PHỤ VỌNG PHU

Trường giang thuỷ thệ tận thiên nhai

Nhạn ảnh cuồng phong viễn xứ mai

Thuỷ để ngư trầm vô ẩn tích

Cô hình triêu tịch điếu thương ai.

 

LA VEUVE QUI ATTEND SON MARI

(À la poétesse de LONG AN)

 

Le fleuve reconduit les eaux à l’horizon.

Le vent emporte l’oiseau dans l’espace sombre.

Dans les eaux disparut sans traces le poisson.

Pitié ! Celle qui persiste à pêcher son ombre !

(15.08.2004)

 

            Đỗ Cao Đàm ( sưu tầm)

Truyện ngắn   MẸ VÀ TÔI của Diệu Nga   

Mẹ tôi không muốn di cư sang Mỹ ở tuổi sáu mươi. “Già rồi, sang bên ấy chỉ ăn bám vợ chồng chúng mày!”. Bà nói khăng khăng như thế nhưng con gái xuống nước năn nỉ ỉ ôi, bà lại xiêu lòng. Ờ, nó nói cũng phải, mình qua bên ấy giữ cháu ngoại cũng vui, lại đỡ nhớ, khỏi phải chờ mong. Mình ở đây nó phải gửi tiền về cấp dưỡng, tốn kém lắm chớ chẳng không!” Dì tôi cười, nói như lẩy: “Nợ đòi rồi đấy, cứ sang mà trả cho xong!” Nghe mẹ kể lại lời dì, tôi cảm thấy hơi áy náy. Quả thật tôi cần mẹ không chỉ thuần túy vì tình cảm. Tôi cầu cứu bà sang để chăn bầy cháu bốn đứa. Dạo này buôn bán ế ẩm, tôi không kham nỗi tiền giữ trẻ, cũng không thể tiếp tế đều đặn cho mẹ nên rước bà qua là nhứt cử lưỡng tiện…

 

Căn nhà ba phòng của vợ chồng tôi, bề ngoài trông cũng khang trang với cây cảnh chung quanh và cửa garage tự động nhưng thật ra chỉ rộng 1100 sf. Trừ phòng ngủ chánh tương đối rộng rãi, hai phòng còn lại vuông vức, nhỏ xíu xiu. Đất ở  San Francisco  là đất vàng. Căn nhà cũ kỷ năm mươi tuổi này trị giá chừng sáu chục ngàn nhưng lô đất 4000 sf của nó giá hơn bốn trăm, dù là nằm ở vùng ngoại ô xa tít. Thành ra cứ rán giữ, rán nắm dù mệt muốn hụt hơi. Cửa tiệm fast food bán cho nhân viên các hãng xưởng gần đây cũng theo đà lay-off mà đi xuống. Đến đầu tháng là chúng tôi điên đầu với đủ thứ tiền phải thanh toán. Tư trang sắm từ những năm phồn thịnh buôn may bán đắt lặng lẽ nuối đuôi nhau đi hết, vào nằm im nơi các tiệm cầm đồ.

 

Chúng tôi không hề nghĩ đến giải pháp bán nhà vì đó là gia tài duy nhất, cũng là mối kinh doanh không sợ lỗ vốn; vả lại bây giờ đi mướn một apartment tồi tàn đủ chỗ chứa sáu người, giá thuê hàng tháng còn mắc hơn số tiền trả góp nhà. Trong tình thế kiệt quệ này, nếu có mẹ tôi lo cho tụi nhỏ, đưa đón đi học, quán xuyến việc nhà, tôi sẽ rảnh rang hơn để đi làm thêm lặt vặt buổi sáng, trưa về phụ tiệm ăn với chồng tôi. Buổi tối chúng tôi sẽ đi clean các tiệm ăn, chợ búa. Chịu khó một thời gian hi vọng kinh tế sẽ phục hồi trở lại. Mọi người đã hăm hở đón chào thiên niên kỷ mới, ai ngờ nó bắt đầu bằng sự xuống dốc!

 

Mẹ sang Mỹ vào mùa Thu. Trời khá lạnh đối với mẹ vì chưa quen nhưng màu xanh của biển trời đã thu hút mẹ. Lũ cháu xúm xít lấy bà vì ngày thường không ai gần gũi chúng cả. Chúng xổ tiếng Anh líu lo, thậm chí cô bé út mới bốn tuổi cũng không rành tiếng Việt. Bà cười dễ dãi: “Sẽ có cuộc trao đổi nhé! Bà dạy các cháu nói tiếng Việt, các cháu dạy cho bà nói tiếng Anh.” Thấy mẹ vui, tôi an lòng. Thế là bên cạnh cái giường hai tầng của hai cô bé gái là tấm nệm của bà ngoại. Ban đêm, ba bà cháu nói chuyện rì rầm; có khi hai cậu trai cũng gõ cửa xin vào để được hưởng không khí đầm ầm bên bà ngoại rất hiền và rất vui.

 

Mẹ như bà tiên có chiếc đũa thần đã biến căn nhà bừa bãi đầy phiền muộn của chúng tôi thành một tổ ấm ngăn nấp, sạch sẽ và đầy tiếng cười. Trước kia, chúng tôi chỉ dùng những thức ăn ế ẩm từ cửa hàng, lắm khi nuốt chẳng trôi. Mẹ bảo cứ bỏ thịt bỏ rau vào tủ lạnh cho bà. Thế là mỗi chiều về gia đình tôi được quây quần chung quanh bàn ăn có cơm canh nóng hổi, hương vị ngọt ngào. Chỉ sau và tháng, các con tôi khỏe mạnh ra, lễ phép ra và biết phụ giúp công việc lặt vặt trong nhà. Hai cậu con trai lớn, bà phân công lo vườn tược cây kiểng: “Thằng Hùng mười hai tuổi, lớn rồi, lo chăm sóc các cây lớn, tỉa lá, bón phận, Hậu cũng mười tuổi rồi, thay vì ôm máy chơi game, có thể phụ anh quét sân, tưới nước.” Bà hiền lành nhưng nói gì các cháu cũng nghe.

 

Chúng không còn là những đứa bé “vô tích sự” như thuở trước. Thật ra chúng không đến nỗi tệ nhưng vợ chồng tôi quần quật với công ăn việc làm, không có thì giờ dạy dỗ, chỉ vẽ. Bảo làm chuyện gì, chúng thực hiện qua loa lấy có, rầy mãi phát mệt thành ra không thèm sai biểu nữa, tự mình làm chóng xong mà vừa ý hơn. Con Hoa hãnh diện khoe với mẹ: “Bà dạy con nấu cơm. Con biết lặt rau, rửa chén, lại biết tráng trứng nữa cơ!” Tôi hôn con, thầm cám ơn mẹ đã cho gia đình tôi cơ hội để sống có hạnh phúc thay vì cứ mãi rầy rà, cãi vả, gây ó nhau trong một căn nhà bề bộn, dơ bẩn.

 

Mẹ vốn là một Phật tử thuần thành. Thỉnh thoảng bà giảng dạy cho tôi về đạo lý: “Hạnh phúc không phải là món quà từ đâu đến, không phải tự nhiên mà có, cũng chẳng thể do phúc đức mà được. Mình phải biết cách sống, biết cách hợp tác xây dựng thì mới có hạnh phúc.” Thuở ấy, đầu óc tôi quá dầy đặc với những con số để có thể hiểu lời mẹ khuyên, vả lại cũng không có thì giờ… Thôi thì để mẹ lo giùm. Mỗi chiều về nhìn các con ngoan, được ăn bữa cơm tối ngon, đối với tôi đã là đủ rồi. Tôi bận rộn với nợ nần đến nỗi không mấy khi chú ý đến tâm tình của mẹ. Bây giờ kiểm điểm lại mới nhớ rằng tôi ít hỏi thăm về sự buồn vui của bà. Thay đổi môi trường sống, bà bỏ lại sau lưng biết bao nhiêu thứ: chị em, họ hàng, lối xóm, sư ông, bằng hữu… Đôi khi, mắt mẹ thoáng buồn. Tôi chỉ hỏi qua loa: “Mẹ có mệt không?” Chao ôi, rõ tệ, miệng hỏi mà lòng vái thầm: “Mẹ đừng ngã bệnh, khổ con!” Là con một nên cách suy nghĩ của tôi thường ích kỷ như thế. Cái gì cũng qui về mình, cho mình thôi!

 

Thắm thoát, mẹ ở với chúng tôi đã được một năm rồi. Gia đình thì ổn thỏa nhưng tình trạng tài chánh càng ngày càng bết bát mặc dù vợ chồng tôi bỏ sức lao động gấp đôi. Giao kèo mướn cửa tiệm sắp hết hạn mà chẳng tìm được người sang lại. Không ký thêm thì mất tiệm, mất luôn năm mươi ngàn bỏ ra sang tiệm trước kia, nhưng tiếp tục thì ngày càng thua lỗ, chẳng kham được nữa. Chuyện gì đến, phải đến. Tháng sau đó, vợ chồng tôi lủi thủi dọn đồ về trả lại cửa hàng cho người ta sau mười năm làm chủ. Bây giờ hóa ra là kẻ làm công, lại làm những nghề linh tinh quét dọn. Tủi thân mà tức số phận mình. Mẹ an ủi: “Thôi, như thế đỡ lo con ạ. Tinh thần căng thẳng quá có khi phát dại, hóa cuồng! Trong cái dở có cái hay là thế!”

 

Chúng tôi lợi dụng thời gian tương đối rảnh rang này để sửa chữa căn nhà hư dột. Anh Thắng chịu khó và khéo tay nên cái gì cũng tự làm được, đỡ tốn tiền mướn thợ. Một hôm anh leo lên mái nhà để lợp lại mấy miếng ngói bể. Sơ ý thế nào chẳng rõ, anh trợt chân té xuống bất tỉnh. Chỉ có mình mẹ ở nhà! Bà bình tĩnh gọi 911, vắn tắt vài câu tiếng Anh: “He falls down from the roof. He stops breathing!” Và rành rọt đọc địa chỉ, số phone nhà cho họ. Ai ngờ bà âm thầm học chữ Anh mau đến thế! Bà đã cứu mạng chồng tôi! Thắng bị gãy chân và dập ống quyển. Phải nằm tại chỗ từ năm đến sáu tháng. Tình cảnh này đưa mẹ tôi vào môi trường mới. Bà tự nguyện thế chỗ cho chồng tôi để quét dọn, lau chùi các cửa tiệm hầu phụ giúp tôi về tài chánh. Mẹ hăng hái trong công việc. Tôi đoán rằng ở nhà mãi mẹ cũng buồn, nay được ra ngoài bà cảm thấy vui hơn. Bà có những người bạn mới: cô thâu ngân vui tính, bà lão phụ trách hàng rau cải, chú “Thoòng” chuyên khuân vác. Mẹ hòa mình với họ, với cuộc sống của những người lao động tay chân. Đâu ai biết rằng trước 1975, mẹ là giáo sự dạy Pháp văn tại một trường công lập lớn ở Sài Gòn. Các con tôi biết hoàn cảnh bi đát của gia đình nên mỗi đứa một tay, cùng nhau lo chuyện nhà. Mẹ tôi hài lòng thấy các cháu tự ý thức được trách nhiệm, biết thương mẹ thương cha.

 

Ngày anh Thắng trở lại công việc, tôi xin mẹ ở nhà nghỉ ngơi. Mẹ nói: “Con ơi, ra ngoài cũng vui, lại kiếm được đồng tiền. Từ ngày đi Mỹ đến nay đã gần hai năm, mẹ chưa gửi tiền về giúp các em, các cháu bên ấy. Tụi nó nghèo lắm mà chẳng có cách kiếm ra tiền cho kịp đà leo thang của vật giá. Bên này kiếm tiền dễ hơn. Có tiền, mẹ lại có phương tiện cúng dường, bố thí…” Tôi im lặng nghẹn ngào, chợt nhớ rằng mẹ chưa hề hỏi tôi một đồng xu nào và tôi quên bẵng rằng mẹ cũng có nhu cầu tiêu xài. Trên thế gian này, không có nhân viên nào làm việc cật lực mà không đòi hỏi thù lao như thế! Vô tình, tôi đã “đòi nợ” mẹ tôi một cách tận tình. Dì tôi cũng có lý khi bà mỉa mai tôi.

 

Trong lúc tôi đăm chiêu, mẹ nhẹ nhàng tiếp: “Mẹ đã xin được chân rửa chén trong nhà hàng. Rửa bằng máy chả cực nhọc gì!” “Trời đất ơi, rửa chén, cần sức lực của người đàn ông Mễ mới kham nỗi. Nồi niêu soon chảo to như cột đình, nặng như búa tạ, làm sao mẹ nhấc cho nổi!” Tôi xuống giọng tiếp: “Mẹ nhìn lại mẹ xem. Tay mẹ gầy yếu, lưng mẹ đã cong, bước đi không còn nhanh nhẹn. Dù họ cần người, mướn tạm, vài hôm cũng cho nghỉ việc thôi!” Bây giờ tôi mới có dịp nhìn kỹ mẹ. Bà già thật rồi, cái già đến nhanh quá. So với hồi mới qua, bà như tăng thêm năm, bảy tuổi. Mẹ tôi cúi đầu xuống thấp. Hình như bà cố giấu giọt lệ vừa ứa ra. Tôi nhẹ nâng cầm mẹ lên và nhìn sâu vào đôi cửa sổ tâm hồn ấy. Trời ơi, mắt mẹ đã kéo mây! Đôi mắt bồ câu đen láy ngày nào từng làm điên đảo các chàng trai cùng trang lứa, cột chân ba tôi vào tổ ấm gia đình, giờ đã một phần ngả màu đục lờ như nước gạo vo.

 

Tóc mẹ trắng bơ phờ, đuôi mắt nhăn như rẻ quạt, vầng trán sạm đen vết đồi mồi… Tôi mủi lòng xót xa. Hai mẹ con ôm nhau, nước mắt người này thấm ướt vai áo người kia. Tôi nhỏ nhẹ: “Con không dám trái ý mẹ, nhưng mẹ rán chờ. Con hứa sẽ tìm công việc nhẹ nhàng hợp với mẹ hơn, mẹ nhé! Vong hồn ba mà biết mẹ cực khổ thế này chắc khó siêu.” Trời cũng thương tình. Đâu chừng một tháng sau thì bà lão làm rau cải xin nghỉ việc về hưu. Mẹ tôi trở thành “bà cụ hàng rau”. Danh xưng và chức vụ gắn liền với mẹ tôi từ đấy. Vậy mà bà vui. Mỗi tháng bà lãnh được hơn ngàn bạc. Phân nửa số tiền, bà gửi về Việt Nam: phần cúng dường, phần bố thí, phần giúp đỡ các em, các cháu.

 

Số còn lại, bà dành dụm mấy kỳ lương, đưa tôi hơn ngàn bạc. “Mẹ thấy người ta dựng phòng trong garage cũng tiện lắm. Nếu chồng con không phiền, con lấy tiền này nhờ nó mua vật liệu, che tạm cho mẹ một căn phòng nhỏ. Con Hoa, con út bắt đầu lớn, tụi nó cần sự riêng tư. Mẹ cũng vậy, có phòng riêng mẹ sẽ dựng kệ thờ Phật, mỗi ngày mẹ có thể lễ bái, tụng kinh, niệm Phật…” Chồng tôi nghe kể lại, vui vẻ đáp: “Chuyện nhỏ! Mẹ muốn gì anh cũng xin vâng, nói chi việc ấy!” Từ đấy, mẹ lộ vẻ hoan hỉ lắm. Sáng tối hai thời, ít khi nào bà bỏ lỡ công phu. Bà như một người đạt được mục tiêu cho đời mình, không có gì để ưu tư, khắc khoải.

 

Mùa Đông năm ấy, thời tiết hơi khác thường. Ban ngày ấm áp xen kẽ với những đêm buốt giá mà nhiệt độ đôi khi hạ thấp đến không ngờ. Vợ chồng tôi mời mẹ tạm trở về phòng cũ vài ba tháng, ngoài garage lạnh quá dễ sinh bịnh. Mẹ nói: “Ở chỗ này quen rồi, dời đi khó ngủ.” “Mẹ nhớ vặn sưởi cho đủ ấm nhé!” “Ờ, tao biết mà!” Ngờ đâu mẹ đã không qua khỏi mùa Đông! Buổi sáng chẳng thấy mẹ dậy sửa soạn để đi làm, tôi bảo “đứa nào ra đánh thức bà dậy, nhanh lên kẻo trễ!” Con Hoa quấn mền đẩy cửa bước ra garage miệng kêu léo nhéo. “Ngoại ơi, ngoại à…” Không có tiếng trả lời… Nó bật đèn, tiến đến cạnh giường: ngoại quấn hai cái mền kín mít, nằm im ỉm. Nó lắc chân ngoại, bà chẳng đáp. Nó lôi cái mền xuống: mặt bà xám xịt, lạnh ngắt, đôi mắt khép hờ… “Mẹ ơi, mẹ! sao kỳ vầy nè!” Cả nhà đổ xô ra. Chồng tôi đạo Chúa, vội làm dấu thánh giá… Tôi xỉu ngay tại chỗ khi loáng thoáng nghe thằng Hùng la lên: “Sao bà không mở sưởi?” Cuộc điều tra của cảnh sát quấy rầy chúng tôi một thời gian, cuối cùng họ kết luận: “Bà cụ không thường mở sưởi; cái máy mua hai tháng về trước còn mới tinh chưa hề được sử dụng!”

 

Tôi như người mất hồn trong đám tang của mẹ. Sự hối hận như lưỡi dao có răng, nó cưa xé lòng tôi. Trái tim tôi cơ hồ rỏ máu thành những giọt lệ hồng. Bạn bè khuyên tôi nên đến chùa xin cúng thất, thiết lễ cầu siêu cho bà. Tôi chẳng thể nói năng chi cùng vị sư ở chùa, chỉ biết dập đầu lạy cầu cứu với đôi mắt sưng húp. Chồng tôi bình tĩnh hơn, anh buồn bã kể đầu đuôi tự sự. Câu chuyện khiến thầy thương tâm, thầy thường an ủi, khuyên giải sau những thời lễ cúng. Khi thấy tôi bắt đầu trở lại bình thường, thầy dành cho gia đình chúng tôi một thời pháp thoại. Thầy giảng về lý vô thường, khổ, không. Các con tôi tỏ ra thích thú với sự thật giản dị và sâu sắc này, chúng đòi được học giáo lý đạo Phật thay vì đi nhà thờ với ba. Riêng tôi, tôi nhớ mãi câu kết luận của thầy trong buổi nói chuyện ấy: “Con người ta sở dĩ đau khổ triền miên là tại mình muốn nắm giữ! Cái gì cũng khư khư ôm chặt. Làm sao giữ mãi được vì bản chất của chúng là vô thường, là không. Hãy buông bỏ hết đi, chừng nào bỏ được, chừng ấy mới có chân hạnh phúc!”

 

Phải rồi, nếu chúng tôi không bám chặt vào căn nhà thì mẹ tôi đã không phải vất vả đến thế, không đến nỗi chết cóng ngoài garage. Và gia đình tôi không lụy đến mức này. Tôi thỏ thẻ bàn với chồng: “Anh à, căn nhà này mình không giữ nỗi thì bán nó đi. Em tính rồi, sau khi thanh toán hết nợ nần mình cũng còn vài trăm ngàn. Dọn sang Texas, nhà cửa rẻ hơn, mình có thể tậu căn khác hoặc là giữ làm vốn, tính chuyện làm ăn…”Ờ nhỉ, hồi đó sao mình ngu quá, cứ ôm lấy nó mà cắm cổ đi cày trả nợ. Liệu giữ không được thì sớm buông đi… Nhờ ông thầy giảng dạy, mình mới sáng mắt ra!”

 

Sau khi dọn sang Texas, trước khi bắt tay vào công ăn việc làm, tôi đến quì dưới chân sư ông kể lể hết sự tình, xin sám hối thì lòng tôi mới có thể yên. Sư ông trầm ngâm và yên lặng nghe tôi vừa khóc rấm rức vừa kể về mẹ tôi, đệ tử mà người rất quí mến. Sư ông không hề cắt ngang bằng những câu hỏi. Người không phê phán gì, chỉ để yên cho tôi khóc, khóc oà vỡ như cái đập nước bị ngăn chận, nay có người tháo ra… Mãi một lúc lâu lắm sau đó, sư ông mới dạy: “Người mẹ nào cũng có trái tim Bồ Tát. Mẹ con hành Bồ Tát đạo ngay trong gia đình trước khi mở rộng ra trong cuộc sống với mọi người. Con hãy hảnh diện có bà mẹ như thế! Con sẽ không cảm thấy hối hận ray rứt nữa nếu con biết đi theo hướng đi của mẹ con, biết xả bỏ cái tôi vị kỷ để lo cho người chung quanh.” Tôi sụp xuống đảnh lễ người đã chỉ cho tôi tháo mở cái gút dây kết mối ân hận trong tôi. Tôi trở về Texas  với sự bình yên và tâm nguyện cao cả… Nhưng khi mùa Vu Lan về, cầm hoa trắng trên tay, tôi không thể ngăn được những giọt lệ hồng phát xuất từ trái tim tôi… Than ôi! Khi tôi biết nghĩ tới mẹ, biết giá trị của trái tim bồ tát, biết thương mẹ thì bà đã không còn nữa trên đời…

 

CHUYÊN MỤC: CHUYỆN XƯA …CHUYỆN NAY

 

NĐT( sưu tầm từ Thoibao.com)

 

     Vào tận nhà, sà tận giường sơn nữ

 

 

Người Dao ở Bản Cỏi (Xuân Sơn, Phú Thọ) từ hàng ngàn đời nay lưu truyền một phong tục hết sức kỳ lạ là tục “cạy cửa…ngủ thăm”.

Sơn nữ Dao đến tuổi trưởng thành tối đến đốt một ngọn đèn, buông màn sớm và lên giường nằm. Các chàng trai đến tuổi cặp kê có thể tìm đến để ngủ thăm. Nếu đèn trong buồng còn sáng, nghĩa là chưa ai đến ngủ thăm, chàng trai phải tự cạy cửa để vào nhà.

Ghé chơi bản ngủ thăm

Thật khó có thể tin, người Dao ở Bản Cỏi từ hàng ngàn đời nay lại lưu truyền một phong tục hết sức kỳ lạ là tục “cạy cửa…ngủ thăm”. Mỗi khi màn đêm buông, những chàng trai chưa vợ có thể cạy cửa nhà các thiếu nữ mới lớn để chui vào tán tỉnh trong tư thế chung chăn, chung gối với cô gái. Nếu mọi chuyện tốt đẹp, cô gái ưng bụng người đến cạy cửa nhà mình, sau 5 – 6 lần ngủ thăm, chàng trai sẽ mang bạc trắng, lợn béo, rượu cần sang hỏi cô gái làm vợ…

Vốn được nghe từ một người bạn sống trên vùng cao hôm xuống nhà chơi kể lại, tôi cũng bán tin bán nghi, nay nhân có chuyến công tác lên Phú Thọ, tôi thử một phen đi tới bản Cỏi để được tận mắt chứng kiến về cái phong tục diễm tình hoang sơ này cho hả dạ.

 

Mất hơn 2 tiếng đổ đèo leo dốc tôi mới đặt chân được tới được Bản Cỏi, đây là nơi xa nhất của xã Xuân Sơn, khung cảnh hết sức hoang sơ, gần như biệt lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Chỉ có vài chục nóc nhà sàn chụm tập trung dưới những ngọn núi cao chót vót quá tầm mắt. Bản Cỏi một bên giáp huyện Đà Bắc (Hòa Bình), mạn kia tựa vao huyện Phù Yên (Sơn La).

Lúc tới nơi trời cũng đã nhá nhem tối, khổ nỗi ở đây lại chẳng có lấy một nhà nghỉ hay phòng trọ cho khách thuê, tôi đành đánh liều vào xin ngủ lại ở một ngôi nhà sàn ở đầu bản. Sau khi giới thiệu, biết tôi là nhà báo, anh chủ nhà năm nay 37 tuổi, tên Hà Văn Dũng rất nhiệt tình mời tôi ở lại, còn gọi vợ lên cùng ngồi để tiếp chuyện.

Sau vài chén trà ấm, tôi mở lời hỏi về tập tục ngủ thăm kỳ lạ, nghe thấy tôi hỏi anh chủ nhà cười khoái chí “ra là nhà báo muốn viết về tập tục cạy cửa…ngủ thăm ở đây à”. Vừa tủm tỉm cười, anh Dũng vừa giải thích cho tôi nghe: “Tục cạy cửa ngủ thăm ở bản Cỏi có từ rất lâu đời rồi, những thiếu nữ đến tuổi cập kê, ban ngày đi làm ngoài đồng, ngoài nương, tối đến thắp một ngọn đèn, buông màn sớm và nằm trong đó. Các chàng trai trẻ đã để ý cô gái mà mình thích từ trước sẽ tìm đến nhà đó để tìm cơ hội vào cạy cửa để được ngủ thăm.

Nếu thấy đèn trong buồng của cô gái còn sáng nghĩa là cô gái đó vẫn đang chờ đợi người tình, muốn vào nhà, chàng trai phải tự cạy cửa. Khi vào được nhà người tình trong mộng, chàng ta sẽ nằm xuống giường cô gái và phải để tự bàn tay cô gái ấy tắt hay vặn nhỏ ngọn đèn.

Hai người chỉ được trò chuyện, tâm sự mà không được chạm vào người nhau. Vì người Dao ở đây quan niệm rằng: tình cảm không chỉ là chuyện riêng tư của đôi trai gái mà còn là mối quan tâm chung của thổ thần (thần đất, quán xuyến công việc của mỗi nhà), tổ tiên và gia đình. Do đó người con trai phải cạy cửa vào tận giường để tâm tình cùng người con gái trước sự chứng kiến của “ba bề, bốn bên”. Hành động cạy cửa cũng chính là dịp để thử tài khéo léo, giỏi giang của chàng trai.

Việc “vào tận nhà, sà tận giường” đối tượng cũng chính là dịp để người con trai tìm hiểu gia cảnh của người con gái mà mình có thể lấy làm vợ… Sau nhiều đêm tìm hiểu như thế, cô gái sẽ có quyền quyết định cho chàng trai đó “ngủ thật” hay không.

Nếu cô gái ưng bụng chàng trai đến ngủ thăm, để được “ngủ thật” cùng nhau, hai người phải thưa với bố, mẹ cả 2 bên gia đình để xem có hợp tuổi không. Khi thời gian “ngủ thật” bắt đầu, cũng là lúc chàng trai phải đến ở làm công cho gia đình cô gái. Cứ ngày đi làm cùng gia đình, tối về ngủ với cô gái mình có ý định tìm hiểu.

Trong thời gian này, chàng trai không được về nhà mình, muốn về phải được gia đình cô gái cho phép. Nếu cô gái không thích chàng trai nữa thì cô gái sẽ gói quần áo cùng với một gói cơm nắm cho vào địu để đuổi khéo”. Anh Dũng cũng cho tôi biết, hồi còn trẻ anh cũng đi ngủ thăm suốt, vất vả cạy cửa mãi mới lấy được vợ chứ chả phải chuyện dễ.

Để giúp tôi tận mắt chứng kiến phong tục độc đáo này, anh Dũng bảo cậu con trai năm nay 17 tuổi tên Lợi, lát nữa sau bữa cơm sẽ dẫn tôi đi, theo anh Dũng thì tối nào Lợi cũng cùng các trai bản đi cạy cửa các cô sơn nữ trong bản cả.

Bữa cơm thết đãi khách có thịt gà đồi, măng rừng cùng với rượu sắn đều là những thứ cây nhà lá vườn. Vợ anh Dũng nói với tôi rằng, ở đây giá có nhiều tiền cũng chả biết tiêu gì, vì đồ ăn đều tự cung tự cấp, chỉ thỉnh thoảng mua ít đồ tiêu dùng cho sinh hoạt thôi. Cơm nước xong xuôi, tôi giục Lợi dẫn đi xem cạy cửa ngủ thăm, Lợi có vẻ phấn khởi nói: “Anh yên tâm, tí nữa không chỉ cho anh xem, em còn dạy anh cách cạy cửa để vào ngủ thăm nữa. Câu nói của Lợi khiến tôi hết sức vui mừng. Chạy vào nhà mặc chiếc quần dài và cầm theo đèn pin, Lợi đưa tôi đi đến nhà các cô gái trong bản.

 

 

Đường ở bản Cỏi không có đèn đường gì hết, tối om, nếu không có đèn pin thì ngay cả người trong bản cũng khó mà đi lại, vì lối vào các nhà rất nhỏ lại toàn cây cối rậm rạp. Vừa đi Lợi vừa kể cho tôi rằng cậu ta biết đi cạy cửa từ lúc mới 13 tuổi, rồi cậu ta kể vanh vách tên, tuổi, nhan sắc của từng cô gái trong bản. Lần mò theo ánh sáng của chiếc đèn pin, Lợi dẫn tôi đến nhà của một cô gái tên Nga mà theo Lợi đây là cô gái đã có cảm tình với Lợi rồi.

Thấy phía trước có ánh đèn trong nhà, Lợi hí hửng: “May quá, anh em mình đi sớm nên chưa bị “mất phần””. Nói rồi Lợi dặn tôi, không cần nói gì cả, cứ nhìn theo cậu ta là biết cạy cửa ngủ thăm ra sao. Đưa cho tôi đèn pin, Lợi bắt đầu tiến đến trước bậc thềm khẽ nhấc cánh cửa nhà sàn lên, rồi đẩy nhẹ vào trong, tức thì chốt cửa rơi xuống và Lợi vẫy tay ra hiệu cho tôi đi vào cùng.

Vào trong nhà, nhìn thấy tôi đi cùng Lợi, cô gái người Dao tỏ vẻ ngạc nhiên, nhưng sau khi Lợi giới thiệu là người quen dưới xuôi lên chơi, cô gái tên Nga cũng mỉm cười và ra rót nước mời khách. Sau khi khẽ nói vào tai tôi: “Anh cứ ngồi yên ở ghế nhé, phải tắt đèn không có trai làng lại kéo tới”. Lợi cùng cô gái vén màn, ngồi lên giường tâm sự. Lúc này thay vì nói bằng tiếng Kinh, Lợi cùng bạn gái trò chuyện bằng tiếng người Dao. Vì vậy tôi chẳng nghe ra được chữ nào, mà đèn thì cũng tắt nên không nhìn thấy gì hết.

Ngồi một hồi lâu đèn lại bật sáng, Lợi đi xuống khỏi giường và bảo tôi: “Thôi, mình về đi anh”. Chào tạm biệt cô sơn nữ mà lòng tôi không khỏi thấp thỏm vì đã được xem cạy cửa rồi nhưng chưa biết ngủ thăm thế nào. Chắc cũng đoán được tôi còn tò mò, Lợi nói: “Tối nay em dẫn anh đi để biết cách thức đã, cạy cửa thì anh biết rồi nhé, còn khi vào được giường cùng cô gái rồi, anh phải hàn huyên tâm sự để lấy lòng cô gái, cái này anh là nhà báo chắc giỏi lắm. Khi nào thấy cô đáp chuyện vui vẻ và nắm tay mình có nghĩa là đã bằng lòng, lúc đó anh cũng có thể nắm tay hoặc ôm để thể hiện tình cảm. Tối nay coi như cho anh đi thử đã, ở lại đây, tối mai em để anh đi cạy cửa ngủ thăm”.

Trở về căn nhà sàn của anh Dũng lúc sương đêm đã bắt đầu giăng kín, cái lạnh vùng cao thấu vào da thịt, tôi chui vội vào chăn cho ấm. Vừa lim dim mắt, tôi vừa nghĩ lại về cái tục tìm kiếm bạn tình kỳ lạ ở nơi hẻo lánh, hoang sơ này, và mong sao nhanh đến tối mai để được thử một lần tự mình cạy cửa…ngủ thăm.

 

Sau khi được trai bản dạy cho cách cậy cửa và chứng kiến anh bạn đó “ngủ thăm”. Đêm hôm sau tôi quyết định đi thực hành khi đã được sự đồng ý của trưởng bản.

Buổi sáng sau đêm được chàng con trai chủ nhà dẫn đi chứng kiến cảnh ngủ thăm, trong thời gian chờ đợi đến tối để được tận tay cạy cửa nhà sơn nữ, tôi tìm gặp ông Phúc, trưởng bản Cỏi. Khi tôi hỏi ông xem tôi là người bên ngoài đến đi cạy cửa ngủ thăm liệu có vi phạm nội quy gì ở đây không, ông trưởng bản cho biết: “Cậu là người Kinh thì có thể tới cạy cửa bất cứ nhà cô gái nào cậu ưng mắt, miễn là cô ấy vẫn cô đơn chưa có trai bản nào đến nhà ngủ thật, nhưng phải giữ ý tứ và tuyệt đối trong sáng”.

Lúc về tôi kể với cậu thanh niên Lợi, người đã dạy cho tôi “bí kíp” cạy cửa tối hôm trước những gì ông trưởng bản nói, Lợi vui mừng ra mặt nói cho tôi hay: “Thật ra nhà ông trưởng bản cũng có một cô con gái đẹp lắm, ngặt nỗi ông Phúc cho đi học ở dưới xuôi, nên thanh niên ở bản cũng chẳng có cơ hội để bén mảng tới cạy cửa.

 

Nhưng mà anh yên tâm, em đã nhắm cho anh được một cô thuộc dạng “hoa khôi” rồi, tên Thơm, năm nay 16 tuổi, không chỉ em mà nhiều trai bản khác đến cạy cửa rồi nhưng Thơm chưa ưng ai cả, để lần này anh vào xem sao, thành công thì tốt mà không được cũng chả sao vì đâu phải mình anh “bại trận””.

Và rồi màn đêm cũng buông xuống, cả không gian chìm trong một màu đen tĩnh mịch, âm u của núi rừng Tây Bắc. Chỉ thấy tiếng suối ào ào chảy không ngừng nghỉ, văng vẳng đâu đó những âm thanh rên la, gào thét kỳ lạ của thú rừng.

Đêm nay trời bỗng đổ lạnh hơn, khoác thêm chiếc áo sơ mi ra ngoài chiếc áo phông, tôi cùng Lợi bắt đầu cuộc hành trình cạy cửa ngủ thăm. Đường đi đến nhà cô gái người Dao tên Thơm cũng khá xa, theo Lợi cũng phải tới 3km, ngoài ánh sáng từ chiếc đèn pin nạp điện Lợi cầm theo thì chỉ có những đốm sáng yếu ớt cứ lóe lên rồi lại vụt tắt của vô vàn các con đom đóm đang bay nhảy nơi núi rừng này.

Trong lúc đi, nhiều lần tôi bị vấp ngã do đường quá xấu, rất nhiều tảng đá lớn nằm ngổn ngang trên đường vì sạt lở từ trên núi lăn xuống, mà đường cũng ít người đi, nên không ai dọn cả, thành ra muốn đi hết đoạn đường tôi cứ phải áp sát theo phía sau người Lợi như lũ trẻ con vẫn chơi trò “rồng rắn lên mây” vậy.

Từ xa, ánh đèn lờ mờ của vài nóc nhà sàn cũng đã hiện ra, Lợi nói với tôi “phía trước là nhà em Thơm đó anh, bây giờ em soi đèn cho anh đi vào đến gần cửa rồi anh tự mình “tác chiến” nhé, em sang nhà con bé ngay bên cạnh thôi, nếu vào trong mà Thơm không ưng thì anh sang đây gọi em nhé”.

Đợi tôi đi đến thềm nhà, Lợi đổi hướng chiếu đèn và đi sang nhà bạn tình của anh chàng, thú thật là khi còn có một mình, tôi cũng hơi lúng túng. “Kể ra có hai đứa, chưa biết còn ỷ lại được cho nó, giờ đơn thương cũng thật ái ngại”.

 

Nghĩ bụng thế nhưng tôi cũng đánh liều bước đến trước cửa, đèn bên trong vẫn sáng, nhưng không thấy có tiếng động gì cả, tôi cố nhớ lại thật chính xác từng hành động cạy cửa của Lợi tối qua, tay tôi bấu vào chỗ gồ lên ở cánh cửa, khẽ tịnh tiến cửa lên phía trên để tạo độ trũng cho then cửa tuột ra và “kịch” tiếng then cửa rơi xuống nền nhà khiến tim tôi cùng lúc đập thình thịch. Vậy là tôi đã vượt qua được cửa ải đầu tiên.

 

 

Tôi hít một hơi dài, cố trấn tĩnh lại tinh thần, khẽ đẩy một cánh cửa để vừa đủ lọt người. Tôi bước vào, đảo mắt nhìn một lượt, căn nhà sàn khá rộng, trống trải, rất ít đồ đạc, chỉ có bộ bàn ghế uống nước đặt ở chính giữa và một chiếc dây thép buộc dọc ở góc nhà treo đầy quần áo dân tộc lẫn những bộ quần áo mà người dưới xuôi vẫn hay mặc.

 

Đến khi tôi đủ dũng cảm để lia mắt về phía chiếc phản gỗ buông màn trắng thì cũng là lúc bắt gặp ánh mắt sáng ngời của cô gái trong tư thế đang vén màn lên một cách ngơ ngác.

Biết Thơm đang khó hiểu vì sự xuất hiện của một chàng thanh niên đeo kính cận, từ đầu tóc cho đến trang phục đều khác xa so với các trai bản, tôi liền nói bằng một giọng trầm ấm nhất có thể “chào em, anh là anh họ của Lợi con chú Dũng mới lên đây, anh là người Kinh, em cho anh ngồi xuống giường với nhé”.

Trái với những lời Lợi nói rằng Thơm rất kén, khéo tôi bị đuổi ngay từ cửa, cô gái mỉm cười nói “anh ngồi đi, nhưng sao anh lại đến nhà em”. Tôi thật thà kể cho Thơm nghe về mục đích của mình là muốn đến đây tìm hiểu về phong tục kỳ lạ cạy cửa ngủ thăm của người Dao một lần cho biết.

Cô bé tỏ vẻ rất thích thú lắng nghe và hỏi tôi: “Anh đi một mình như thế không sợ à, lên dân tộc dễ bị chài lắm đấy”. Thấy Thơm đã có vẻ cởi mở, tôi cũng mạnh miệng “sợ gì, nếu lỡ có cô gái đẹp như em chài anh cũng muốn”. Nghe vậy, Thơm cười khúc khích.

Quả thật là tôi không tin mình lại may mắn đến vậy, lần đầu cạy cửa lại tìm được một sơn nữ đẹp như trăng rằm, đúng là vẻ đẹp của các cô gái miền núi thật khác với con gái dưới xuôi, Thơm để tóc dài, buộc bằng một chiếc vải lụa màu trắng, mái tóc được rẽ mái ôm gọn gàng quanh viền tai, đôi mắt đen với hàng lông mi rậm. Khuôn mặt trái xoan với má lúm đồng tiền làm nụ cười duyên dáng lạ kì, bảo sao thằng Lợi nói lũ thanh niên quanh bản này mê mẩn Thơm lắm.

Nói chuyện được một lúc, tôi thấy Thơm khẽ mỉm cười bước ra khỏi giường, tôi chưa hiểu chuyện gì, thì thấy ánh đèn chợt vụt tắt. Thơm nói khẽ trong màn đêm, “em tắt điện không lại có người khác vào”. Lúc màn đêm ập tới cũng là khi tôi biết, Thơm cũng có cảm tình với mình nên muốn giữ mình trò chuyện.

Trong bóng tối tĩnh lặng đó, tôi nghe rõ từng hơi thở của Thơm, cảm nhận thấy luồng hơi ấm tỏa ra từ người con gái đang ngồi bên cạnh. Bất giác, em nắm tay tôi, bàn tay mềm mại và mát lạnh của sơn nữ làm trái tim tôi cũng loạn nhịp. Tôi không ngờ cái tục lệ này lại mang một màu sắc lãng mạn đến kỳ lạ như vậy.

Với giọng thì thầm, Thơm nói với tôi thật thân tình: “Cái tục cạy cửa ngủ thăm này với trai bản thì thích chứ với con gái như em nhiều lúc cũng mệt lắm, nhiều người đến, dù không thích nhưng vẫn phải tiếp rồi lựa lời để chối từ. Có lúc đuổi mãi còn không chịu về, nhiều lần phải ngồi thi gan đến vài tiếng đồng hồ chẳng nói câu gì. Từng người đến rồi lại đi, không biết bao giờ em mới kiếm được một người để làm chồng”.

Tôi khẽ vỗ về Thơm, em ngả đầu ngon lành bên vai tôi, bất chợt tôi lại nhớ đến lời căn dặn của ông trưởng bản, tôi biết mình phải giữ đúng nét trong sáng của cái tục lệ tìm kiếm bạn tình hoang sơ này. Cũng không biết mình ngồi đó cùng Thơm bao lâu, thấy em dường như đã yên giấc, tôi khẽ đặt em nằm xuống gối, toan xuống giường để ra về, tay tôi lại bị nắm chặt một lần nữa, Thơm nói: “Anh đi về à”, tôi đặt nhẹ tay lên bên má mịn màng khẽ an ủi: “Anh phải về không chú Dũng lo, rồi anh sẽ quay lại thăm em”.

Bước ra khỏi cửa mà lòng tôi bứt rứt không yên, vậy là tôi đã thực sự biết cạy cửa ngủ thăm nhà sơn nữ, chưa lần nào đi viết mà tôi lại nhập vai đến vậy. Mùi hương từ mái tóc Thơm vẫn còn lan tỏa bên khứu giác, lòng tôi dấy lên một nỗi niềm khó nói thành lời. Lững thững dò dẫm định tìm đường sang nhà bên để gọi thằng Lợi về thì tôi đã thấy nó lao đến trước mặt ‘anh giỏi thế, tán được em Thơm à, sao ngồi lâu thế, em ngồi đợi gần 2 tiếng rồi đấy”, Lợi nói như sợ ai ăn cướp lời.

Tôi hỏi nó “anh tưởng mày chơi bên kia cơ mà” thì được Lợi cho biết, nó không được bạn tình ưng, cố lân la được một lúc thì bố mẹ cô gái kia về, nên nó đành ra đây ngồi đợi tôi.

Đường trở về nhà chú Dũng lần này sao mà nhanh quá, có lẽ vì tôi vẫn miên man với những suy nghĩ về Thơm. Không biết em có thể tìm được cho mình một người chồng yêu thương thực sự không, hay sẽ bị lợi dụng bởi chính cái tục lệ kỳ lạ cạy cửa… ngủ thăm này.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

           CHUYÊN MỤC: SƯU TẦM NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT

 

        BQM : Lại chuyện câu đối của GS V.K

 

                   Tài gửi thanh vân, chẳng phụ tinh anh từ họ Vũ

                   Đức soi hồng nhật, còn cao sự nghiệp dưới trời Nam

 

BQM đã ngán thơ phú và câu đối của gs V.K đến tận cổ rồi. Thế mà bạn Hien dang cứ gừi đến yêu cầu bình, nên có vài ý, góp phần cho sự trong sáng của tiếng Việt:

Trong Hán văn có từ “thanh vân” ( 青 云= mây xanh) để chỉ người đức cao vọng trọng ( high official position) hay người đi ở ẩn,  nhưng rất ít dùng. Trong tiếng Việt, nịnh nọt ai ta hay dùng từ “cho lên mây xanh”. Nôm na hơn là “ cho đi tàu bay giấy” . Ta cần biết rằng về vật lý bầu trời xanh (blue sky) không phải là mây, mà là bầu không bao la, trống rỗng. . do hiệu ứng quang học mà có. Vậy dung thanh vân để nịnh V.K là quá! Mà “tài” tại sao lại gửi? Như thế có khác gì là chửi rằng “ cái tài của ông rỗng tuếch”. Tội nghiệp cho cụ quá.

Còn nữa:  tại sao  đức lại soi hồng nhật?  Đức cụ soi tới mặt trời ư? Kết cấu ngữ pháp Việt sao mà kỳ vây? Ý của người viết chắc muốn nói là “ cái đức của cụ sáng rạng như ánh mặt trời”! Thật là thánh nhân.  Cuối cùng là Vũ đối với Nam nghe chẳng chuẩn tí nào!

Vậy có thơ rằng:

Ngán cho cái mũi vô duyên

Thơ thơ , thẩn thẩn, quèn quèn V. K.

Ai đưa lên ghế ngất nghêu,

Để nay tuổi tác càng nhiều…càng hâm?

CHUYÊN MỤC : SỨC KHỎE- THƯ GIÃN

 

 Theo  Phạm Thúy trên báo Dân trí

                       Cá không chỉ hương vị thơm ngon, dưỡng chất phong phú, mà còn là loại thực phẩm được ưa chuộng. Mách bạn 6 loại cá dưới đây còn có tác dụng trị bệnh.

Cá diếc

Có tác dụng tiêu phù, ích khí, kiện tì, giúp lưu thông huyết mạch, lợi sữa, thanh nhiệt, giải độc. Thường dùng cho sản phụ ít sữa, người bị sa dạ dày, người bị trĩ, người bị sưng phù…

 

Cá hố

Loại cá này có công dụng bổ ngũ tạng, khử gió, sát khuẩn, có lợi cho người bị suy nhược tì vị, tiêu hoá không tốt, hoặc da khô nẻ. Loại cá này cũng có thể dùng làm thực phẩm hỗ trợ trị liệu cho các bệnh viêm gan mãn tính. Ngoài ra, ăn các hố thường xuyên giúp làn da tươi nhuận, duy trì độ ẩm và tính đàn hồi cho da.

 

Cá chép

Có tác dụng tiêu phù, ích khí, thông mạch, lợi sữa. Loại cá này chủ trị các chứng tắc sữa và sưng phù.

 

Cá trắm cỏ

 

Loại cá này có công dụng bình gan, khử gió…thường được dùng để trị các chứng đau đầu do trúng gió, hoặc suy nhược. Tốt nhất khi ăn hấp.

 

Cá chạch

Loại cá này có công hiệu ích khí, thông tiểu tiện, giải độc…thường dùng để trị các chứng bí tiểu tiện, ra mồ hôi trộm nhiều sau khi ốm dậy…

 

Cá ngừ

 

Cá ngừ là loại cá rất tốt cho não bộ. Đặc biệt phần đầu cá không chỉ có giá trị dinh dưỡng phong phú, mà còn chứa các amino axit cơ thể dễ hấp thụ, chứa licethin cần cho sự phát triển tế bào, và loại protein đặc biệt. Đây là loại cá có tác dụng bổ trợ tốt cho quá trình phát triển EQ của trẻ.

 

Nguồn:The People

 

 

 

Docago.wordpress.com số ra thứ 4 ngày 12/10/2011 9 (tức 16 tháng 9 năm Tân Mão)

CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

             Đỗ Anh Thơ( sưu tầm- biên soạn)

Chương 15

Montesquieu với lý luận về pháp chính

 

Montesquieu năm 1728

                    Charles-Louis de Secondat, Nam tước de La Brède et de Montesquieu (Charles-Louis de Secondat, Nam tước vùng La Brède và xứ Montesquieu; 18 tháng 1 năm 1689 tại Bordeaux10 tháng 2 năm 1755 tại Paris) là một nhà bình luận xã hội và tư tưởng chính trị Pháp sống trong thời đại Khai sáng, ông thường được biết đến dưới tên Montesquieu. Ông nổi tiếng với lý thuyết tam quyền phân lập.

Cuộc đời:Sau khi tốt nghiệp chủng viện ông cưới Jeanne de Latrigue một giáo đồ Calvin khi ông mới 26 tuổi. Năm sau ông thừa kế tước hiệu Nam tước xứ Montesquieu và Chủ tịch Hội đồng Bordeaux. Ông bắt đầu được biết đến với tác phẩm Lettres persanes (Những lá thư của người Ba Tư, 1721), một tác phẩm chỉ trích xã hội đương thời dưới hình thức thư gửi của một người phương Đông đến thăm Paris. Ông xuất bản tiếp theo cuốn Considérations sur les causes de la grandeur des Romains et de leur décadence (Cân nhắc về các nguyên nhân của sự vĩ đại và sự diệt vong của La Mã, 1734). Cuốn De l’Esprit des Lois (Tinh thần Pháp luật) được xuất bản vô danh năm 1748 và nhanh chóng có nhiều ảnh hưởng không chỉ riêng nước Pháp. Bên cạnh việc quan tâm đến chính trị và xã hội ông còn đi nhiều nước châu Âu như Áo, Hungary và dành sống một thời gian tại ÝVương quốc Anh trước khi trở về Pháp. Thị lực ông giảm sút nhanh chóng những năm cuối đời và ông hoàn toàn mù hắn trước khi mất vì sốt cao năm 1755. Ông được chôn cất tại Paris, Pháp.

Các tác phẩm của Montesquieu phân chia xã hội Pháp thành ba tầng lớp: vua chúa, quý tộc và dân thường. Ông cũng quan sát thấy có hai loại quyền lực nhà nước là chuyên chế và hành chính. Quyền lực của nhà nước hành chính được chia thành lập pháp, hành pháptư pháp. Các quyền này được phân lập và phụ thuộc vào nhau để ảnh hưởng sao cho không một quyền nào có thể vượt quá hai quyền còn lại và ba quyền này được giao cho ba cơ quan khác nhau nắm giữ. Đây là quan điểm cấp tiến vì đã hoàn toàn loại bỏ ba đẳng cấp thời bấy giờ là tăng lữ, quý tộc và những người dân còn lại được gọi là Đẳng cấp thứ ba, tức là đã loại bỏ tàn tích của chế độ phong kiến. Tương tự ông cũng thấy có ba dạng nhà nước tồn tại dựa trên ba “nguyên tắc” xã hội là quân chủ (chính quyền được tự do do một người đứng đầu được thừa kế tức là vua hay nữ hoàng) dựa trên nguyên tắc danh dự; cộng hòa (chính quyền được tự do do người đứng đầu được bầu ra lãnh đạo) dựa trên nguyên tắc đức hạnh; và độc tài (chính quyền bị kiểm soát bởi các nhà độc tài) dựa trên nỗi sợ hãi. Ông cũng cho rằng thể chế chính quyền tốt nhất là quân chủ mà điển hình là nước Anh, ông dành bốn chương trong cuốn Tinh thần Pháp luật để bàn về nước Anh, nơi có nhà nước tự do ôn hòa, được duy trì bởi cán cân những quyền lực. Montesquieu lo rằng ở Pháp, giai cấp quyền lực trung gian (ví dụ như quý tộc) để điều hòa quyền lực của nhà vua, đang bị suy yếu.

Cũng như nhiều người đương thời, Montesquieu còn có nhiều quan điểm gây tranh cãi. Trong khi ông cho rằng phụ nữ có thể lãnh đạo chính quyền thì ông lại tin rằng họ sẽ lãnh đạo không hiệu quả bằng việc họ đứng đầu gia đình. Ông tin tưởng vào vai trò của quý tộc và quyền trưởng nam. Quan điểm của ông đã bị những người theo chủ nghĩa xét lại lạm dụng, ví dụ như, dù Montesquieu là một người đi trước thời đại trong việc phản đối chế độ nô lệ nhưng ông lại bị trích dẫn trong các văn bản là ông ủng hộ điều đó.

Trong cuốn Tinh thần Pháp luật ông cho rằng khí hậu có ảnh hưởng đến bản chất con người và xã hội và có những kiểu khí hậu như ôn đới ở Pháp là ưu việt hơn những nơi khác. Ông cho rằng người xứ nóng thì cũng nóng nảy còn người phương bắc thì cũng lạnh như băng cho nên khí hậu Trung Âu là lý tưởng nhất.

Tac phẩm bất hủ của ông là De l’esprit des lois (Tinh thần Pháp luật, viết năm 1748) năm 1748)

 

Tự do dắt dẫn nhân dân ( tranh của Eugene Delacroix-Pháp)

 

Tinh thần Pháp luật (tiếng PhápDe l’esprit des lois) là một luận thuyết về học thuyết chính trị được ông(Nam tước de Montesquieu) xuất bản dưới dạng ẩn danh vào năm 1748. Đầu tiên nó được xuất bản ẩn danh một phần vì Montesquieu muốn tác phẩm của mình tránh bị kiểm duyệt, sau đó nó nhanh chóng được dịch sang nhiều thứ tiếng khác. Thomas Nugent xuất bản bản tiếng Anh đầu tiên vào năm 1750. Năm 1751 Nhà thờ Công giáo liệt cuốn này vào Danh sách những Cuốn sách Bị Cấm. Tuy nhiên, luận thuyết chính trị của Montesquieu có ảnh hưởng rất lớn đến các tác phẩm của các học giả khác, mà đáng chú ý nhất có: Ekaterina II, người viết Nakaz (Hướng dẫn); Những Đại biểu Đại hội Hiến pháp Hoa Kỳ (Constitutional Convention delegates) của Hiến pháp Hoa Kỳ; và Alexis de Tocqueville, người đã áp dụng phương pháp của Monstequieu vào công trình nghiên cứu xã hội Hoa Kỳ, cuốn Dân chủ ở Mỹ (Democracy in America).

Montesquieu bỏ ra gần hai mươi năm nghiên cứu và viết cuốn sách này, bao quát các chủ đề vềchính trịluật, xã hội học, nhân loại học, và cung cấp hơn 3.000 trích dẫn[1]. Trong luận thuyết chính trị của mình, ông đã bênh vực chủ nghĩa hợp hiến và thuyết tam quyền phân lập, bãi bỏ nô lệ, bảo vệ quyền tự do công dân và nhà nước pháp quyền, và ý tưởng rằng các thể chế luật pháp và chính trị phải phản ảnh đặc tính địa lý và xã hội của từng cộng đồng riêng biệt.

 

 

                                                      Tượng Montesqieu

 

 

 

 

 

 

 

 

                           Đánh chiếm ngục Bastille

 

 

 

 

                                 Quê hương của Monstesqieu

 

 

 

                        Thảo luận về tư tưởng pháp quyền của Montesqieu ( cuộc vận động khởi mông)

                     CHUYÊN MỤC THƠ VĂN

           Thơ của cụ Nguyễn Chân

責於小路

爾很鬼机靈

引吾到處曾相會

天上監臨有月明

隻影夜深楢等待

一仍伶

月明月明

請照伊人已負情

Dịch thơ:

OÁN TÌNH

(Từ khúc)

Trách con đường nhỏ

Sao quá tinh ranh,

Đưa ta đến chỗ từng hò hẹn,

Chứng giám trên đầu có trăng thanh.

Lẻ bóng, khuya rồi, còn đợi mãi,

Vẫn một mình !

Trăng ơi, trăng hỡi !

Soi rõ cho ta kẻ phụ tình !

                        Nguyễn Chân 09/2011

Tác giả làm bài thơ này lấy hứng từ 2 bài :

1- Vọng Giang Nam (trong Tống Từ). Bài đó có câu

“…vì ta xua tan mây cạnh mặt trăng

Soi rõ mặt kẻ phụ tình…”

2- Ca từ của một bài hát trong phim Nga:

“;;;hỡi con đường nhỏ, thân yêu! Mi dẫn ta đi dâu

Gọi ta đến đâu? Người bạn gái vô tâm

Đã cướp mất tình yêu của ta…”

 

Tác giả tự dịch sang tiến Pháp :

 

RANCOEUR DE LA FILLE DÉCU EN AMOUR

Oh ! Sente mignonne et maligue !

Qui, au lieu des rendez-vous, me conduit,

Témoin est la Reine de Nuit,

Je l’attends, je l’attends,

Seule dans la nuit avancée,

Et reste toujours délaissée.

Lune ! Lune-Sainte- Marieuse !

Illumine moi le faciès

Du díciple de l’ìnidèlité !

   CHUYÊN MỤC: CHUYỆN XƯA…CHUYỆN NAY

   Đàm Cao( sưu tầm)

   TRÚC LÂM THẤT HIỀN

 

 

竹林七賢

Anh: Seven Sages in the forest of bamboos.

Pháp: Sept Sages dans la forêt de bambous.

 

Trúc lâm thất hiền, bảy nhà thơ, nhà văn Trung Quốc sống thời kì cuối

Ngụy đầu Tấn, thế kỉ thứ 3, ở ẩn trong rừng trúc, đánh đàn, uống rượu, ngâm

thơ, bàn triết học Lão Trang, nói chuyện huyền viễn để tỏ lòng chống đối

chế độ đen tối đương thời. Trong số đó, nổi tiếng nhất là Nguyễn Tịch và Kê

Khang. Nguyễn Tịch (210 – 263) có 82 bài “Vịnh hoài thi” nói lên nỗi bất mãn

của ông trước hiện thực và nỗi lo lắng buồn thương cho cuộc đời, nhưng lời lẽ

rất kín đáo. Ông “dùng khí mà làm thơ” (Lưu Hiệp), cho nên “khó biết ông nói

gì”, người đọc chỉ phỏng đoán. Bài “Đại nhân tiên sinh truyện” là một bài ca,

nhà thơ dùng hình tượng “Đại nhân tiên sinh” để tả tâm tình bi quan, tuyệt vọng

của mình trước “ngày cuối cùng”, “vũ trụ tan vỡ”, không tránh được. Kê Khang

(223 – 263) sở trường về tản văn, tác phẩm nhuốm màu sắc Lão Trang (Lao

Zhuang) rất đậm, nhưng tâm tình phẫn nộ, bất bình bộc lộ khá rõ. Tính ông lại

cương trực, “quá thanh cao” nên cuối cùng ông bị họ Tư Mã giết hại. Cả hai

ông đều nhất trí phủ định lễ giáo của Nho gia, vì họ Tư Mã và bọn tay sai lợi

dụng thứ Nho giáo này chuẩn bị lấy hình thức “vua nhường ngôi” che đậy việc

tiếm quyền. Ngoài ra, Lưu Linh cũng sống phóng túng, ngạo mạn, có bài “Tửu

đức tụng” được lưu truyền.

 

Trúc lâm Thất Hiền có tên kể ra sau đây:

 

Nguyễn Tịch (210-263)

Kê Khang (223-263)

 

Lưu Linh (220-300)

Sơn Đào (205-283)

Hướng Tú (221-300)

Vương Nhung (234-305).

Nguyễn Hàm

 

Trúc lâm chứa đặng bảy ông Hiền,

Vì bỏ tục trần mến cảnh Tiên.

Hồng cấu đã chui thân phải vấy,

Hơn thua cười kẻ biết nơi tiền.

 

1. NGUYỄN TỊCH (210 – 263):

 

Nguyễn Tịch, tên chữ là Tự Tông, người đất Trấn Lưu, con của Nguyễn

Vũ, một trong Kiến An Thất tử. Nguyễn Tịch có dung mạo khác thường, chí khí mở rộng, tự nhiên, một mình độc lập, phóng túng tự do, mà mừng giận không hiện ra nét mặt, thường đóng cửa ở trong nhà đọc sách, có khi hàng tháng không bước chân ra ngoài, có khi trèo lên núi ngao du sơn thủy hàng mấy ngày quên trở về.

Nguyễn Tịch đọc rất nhiều sách mà thích nhứt là sách Đạo Đức Kinh của

Lão Tử và Nam Hoa Kinh của Trang Tử.

Ông thích uống rượu, biết thổi sáo, giỏi đàn cầm, đương khi đắc ý chợt

quên hình hài mà siêu thần nhập hóa. Người đời cho ông có si tính hay máu

điên.Vì có cái cuồng danh đó mà Tư Mã Chiêu (con của Tư Mã Ý) đem lòng

ngưỡng mộ, muốn kết thân với Nguyễn Tịch, nhưng ông không chịu nên cố ý

say sưa luôn 60 ngày đêm để khỏi gặp Tư Mã Chiêu.

Bề ngoài của Nguyễn Tịch trông rất phóng đãng, nhưng bên trong rất

thuần chính. Hành động phóng đãng là giả vờ để tránh tai họa, bảo trọng lấy

thân mà thôi. Ông nhìn thấy triều đình càng lúc càng suy yếu, quan lại chuyên quyền, dua nịnh, ông rất đau lòng, nên đã kết tinh vào tác phẩm “Vịnh Hoài” của ông, một tập thơ bất hủ gồm 82 bài thi, một kiệt tác của thời bấy giờ. Tấm lòng của ông bao la, tầm mắt rộng lớn mà không gặp được người đồng khí tương cầu nên đã phát tiết bi thương trong thơ văn đến độ mãnh liệt.

Nguyễn Tịch có viết sách “Đạt Trang Luận”, trong đó, ông xác định Triết

lý tự nhiên, luôn luôn ý thức cái lý đồng nhứt trong sai thù.

Nguyễn Tịch có cặp mắt rất đặc biệt, khi vừa lòng ai thì nhìn với đôi

mắt xanh, còn không vừa lòng ai thì nhìn với đôi mắt trắng. Khi mẹ Nguyễn

Tịch mất, ông Kê Hỷ mang đồ lễ đến viếng, Nguyễn Tịch tiếp nhìn với đôi mắt

trắng dã. Hỷ ra về mà bụng không bằng lòng. Em của Kê Hỷ là Kê Khang nghe

biết chuyện đó, mới mang rượu và cắp đàn đến, thì Tịch rất vui, vừa ý lắm,

tiếp Kê Khang với đôi mắt xanh.

Năm thứ tư đời Cảnh nguyên, tức là năm 263, Nguyễn Tịch mất, hưởng

được 54 tuổi.

Kê Khang thường ca tụng Nguyễn Tịch rằng: Nguyễn Tự Tông, miệng

không bàn lỗi của người. Ta mỗi khi bắt chước điều ấy mà không kịp được,

cùng cực bẩm tính hơn người, với sự vật không thương tổn, chỉ có cái uống

rượu quá mức thôi.

 

2. KÊ KHANG (223 – 263):

Kê Khang, tự là Thúc Dạ, ở Tiêu Quận, sớm mồ côi, có kỳ tài, thân hình

cao lớn, có phong nghi, thiên chất tự nhiên, tánh tình điềm đạm, ít ham muốn,

khoan dung giản dị.

Ông tự học mà giỏi, sở trường về cái học Lão Trang.

Ông trước tác được hai bộ sách: Thích Tứ Luận và Thanh Vô Ai Lạc

Luận. Trong hai cuốn sách nầy, ông lấy chủ nghĩa tự nhiên để bài bác học

thuyết của Nho gia.

Ông quan niệm nhân cách của người quân tử có được không phải lấy lễ

giáo bên ngoài mà uốn nắn con người, đẽo gọt thiên nhiên. Ông cũng chống lại

 

tất cả các suy luận trí thức về phải trái, đúng sai. Ông chỉ cốt làm sao cho được

Tâm hư để noi theo Tánh mà sống, vì tự nhiên chính là đạo lý.

Sách Thế Thuyết có kể chuyện rằng: “Chung Hội (225-264) làm quan,

làm tướng, có viết sách, lấy làm tiếc vì chưa có dịp gặp Kê Khang, cho nên

ngày kia, Chung Hội cùng với vài người thân tín đến viếng Kê Khang.

Sở thích của Kê Khang là rèn đồ kim khí. Chung Hội đến thì thấy Kê

Khang đang rèn sắt dưới gốc cây lớn. Hướng Tú thì giúp Kê Khang thổi ống

bể, còn Kê Khang thì vẫn tiếp tục đập sắt như không có khách đến. Chung Hội

bị bẽ mặt, đứng nhìn một lát rồi bỏ đi.

Kê Khang hỏi: – Đã nghe gì mà tới? Đã thấy gì mà đi?

Chung Hội đáp:

– Tới vì nghe cái đã nghe, đi vì thấy cái đã thấy.”

Người đời Tấn rất thích cái vẻ đẹp thể chất và tinh thần của Kê Khang.

Người ta sánh ông với núi ngọc hoặc cây tùng.

Có lẽ vì vậy mà Chung Hội mới nói đã nghe và đã thấy.

Trước kia, có một hôm, Kê Khang đi chơi ở đất Lạc Tây, trọ ở Hoa

Dương Đình, đêm ngồi khảy đàn, chợt có một người khách đến tự xưng mình

là người thời cổ, rồi cùng Kê Khang bàn luận âm luật, lời lẽ rành rọt thấu đáo

lắm. Nhân đó, ông khách truyền cho Kê Khang khúc nhạc Quảng lăng tán, dặn

Kê Khang không truyền cho ai khác.

Về sau, khi Kê Khang bị Tư Mã Chiêu đem ra hành hình ở phía chợ đông,

Kê Khang quay nhìn bóng mặt trời rồi cầm đàn gảy nói rằng:

– Trước kia khúc Quảng lăng tán nầy có người tên Viên Hiếu Nê thường

theo ta để học nhưng ta không truyền được, nay khúc Quảng lăng tán nầy từ

nay mất đi.

 

Kê Khang bị Tư Mã Chiêu ra lịnh giết chết năm ông được 40 tuổi.

Các nhà phê bình đều cho rằng: thơ của Nguyễn Tịch và của Kê Khang

ý tứ rất khác nhau. Thơ của Nguyễn Tịch thì ý chỉ thâm thúy, của Kê Khang

thì khí vận tuấn thanh. Tài hoa của Nguyễn Tịch thì như mùa Xuân thơm ngát,

còn tâm tình của Kê Khang như mùa Thu trong trẻo. Nhưng có điều, là Nguyễn

Tịch dùng cái cuồng để làm kế bảo toàn tấm thân, còn Kê Khang lại bị cái

cuồng mà phải sát thân.

 

3. LƯU LINH (220 – 300):

Lưu Linh, tự là Bá Luân, người đất Bái, thân hình xấu xí, phóng tình tứ

chí, thường lấy sự coi nhỏ vũ trụ xem bằng muôn vật làm tâm, lạnh nhạt ít lời,

không quen giao du, cùng với Nguyễn Tịch và Kê Khang tương ngộ, tinh thần

hớn hở, dắt tay vào rừng. Lúc đầu không chút ý kiến gì về tài sản có không

nói: “Ta chết chôn cho ta.” Đấy khinh bỏ thân thể đến thế.

Lưu Linh hay uống rượu, nổi tiếng về rượu hơn hết trong Trúc lâm Thất

Hiền, uống rượu bao nhiêu cũng không say.

 

Một hôm, ông bảo vợ đi lấy rượu. Vợ ông đổ rượu đi và đập bể vò rượu,

khóc mà can rằng:” Ông uống rượu nhiều quá, không phải là cái đạo nhiếp

sinh, ông phải bỏ bớt rượu đi.” (Nhiếp sinh là thu nhiếp tinh thần để nuôi sức

khỏe).

Lưu Linh nói: “Phải, ta không thể tự cấm được, phải cầu quỉ thần lên để

thệ nguyện mới được. Vậy phải đủ rượu thịt làm lễ chứ!”

Vợ liền nghe lời, lo sắm sửa đủ các thứ.

Xong, Lưu Linh bèn quì mà khấn rằng:

“Thiên sanh Lưu Linh, (Trời sanh Lưu Linh,

Dĩ tửu vi danh, Lấy rượu làm danh,

Nhất ẩm nhất hộc, Mới uống một vò,

Ngũ đẩu giải tỉnh, Năm đấu giải tỉnh,

Phụ nhân chi ngôn, Lời nói đàn bà,

Thận bất khả thính.” Cẩn thận đừng nghe.)

Khấn xong thì đem rượu thịt ra, ăn uống li bì, say say tỉnh tỉnh.

Tuy Lưu Linh mê man phóng túng, nhưng khi gặp việc thì ứng biến

chẳng sai, ít khi thác ý vào văn thơ, duy có làm bài phú “Tửu đức tụng” nổi

tiếng, ca tụng người uống rượu.

Bài phú Tửu đức tụng, diễn nôm ra sau đây:

 

1. Chàng là một người đầy cao quí,

Đối với chàng, Trời Đất chỉ là một buổi sáng,

Và vĩnh hằng chỉ là một thoáng chốc.

Mặt trăng và mặt trời chỉ là những cánh cửa sổ,

Tám sa mạc là sân nhà chàng.

Chàng đi không để lại dấu vết,

Không ở tại một ngôi nhà nào.

Lấy trời làm nhà, lấy đất làm chiếu,

Chàng theo đuổi sự phóng túng của mình.

Khi dừng lại chỉ là để nâng lên chén rượu hay ôm bầu rượu,

Khi đi chỉ là để mang theo một bình rượu hay lấy đi chai rượu.

Rượu là công việc duy nhứt của chàng,

Chàng chẳng biết gì hơn nữa.

 

2. Một ông chúa trẻ thuộc nhà cao quí, và một quan về hưu,

Nghe nói đến những thói quen của ta,

Đã bài bác cách sống của ta.

Họ vung tay áo, nắm tay lại,

Mắt dữ dằn đảo qua đảo lại và răng thì nghiến chặt lại,

Họ dạy ta những phép tắc xã giao,

Phải thế nầy và không được thế kia, nghe như tiếng bầy ong,

Nhưng vào lúc đó, ông thầy kia,

Nắm lấy một cái vò, cầm lên một cái chén,

Đưa chén lên miệng nốc hết rượu, rồi vuốt râu nằm thẳng cẳng,

Lấy men làm gối, lấy cặn rượu làm gối dài.

 

3. Chẳng suy nghĩ gì, chẳng lo âu gì,

Hạnh phúc của chàng thật là toàn vẹn!

Thoắt thấy chàng say mèm, thoắt thấy chàng tỉnh rượu.

Lắng tai nghe, chàng không nghe thấy sấm rền,

Chú mắt nhìn, chàng chẳng thấy hình núi Thái sơn,

Không thấy lạnh giá và nóng bức cắn xé da thịt mình,

 

Cũng không thấy thành công và ham muốn gây những đam mê

Chàng cúi nhìn đám người đông như kiến cỏ,

Họ giống như bèo tấm trôi trên sông Giang sông Hàn,

Hai vị cao sang kia đứng cạnh,

Với chàng, chỉ giống con ong hay con sâu.

 

(Lê Diên dịch)

 

Đây là những tư tưởng tự nhiên rút ra ở hệ thống xuất thế của Lão

Trang, đem vào đời sống nghệ thuật đến mức cực đoan. Lưu Linh mượn rượu

để quên đời, quên cả hình hài để sống với một tâm trạng siêu thần nhập hóa

giả tạo. Phải chăng hoàn cảnh lịch sử xã hội thời đó đã gây ra không khí quá bi

quan như thế?

Lưu Linh thường hay quá chén, phóng túng, cởi bỏ quần áo, trần truồng

trong nhà. Người đời thấy vậy thì chê cười.

Lưu Linh nói: “Ta lấy Trời Đất làm nóc nhà, buồng nhà làm quần áo, các

ông sao lại chui vào quần áo của ta?”

Lưu Linh dẫu sống phóng túng, buông thả, nhưng vẫn ý thức cái gì là

của Trời Đất, cái gì là của thiên hạ.

 

4. SƠN ĐÀO (205 – 283):

Sơn Đào, tự là Cự Nguyên, người ở huyện Hoài, đất Hà Nội, đời nhà

Tấn (nay thuộc tỉnh Hồ Nam). Từ nhỏ, tánh tình ông rất chất phác, nhưng học

thức hơn người, được nhiều học giả danh vọng trong vùng kính trọng, thế mà

đến 40 tuổi, Sơn Đào vẫn là một viên quan nhỏ giữ chức Chủ Bạ trong quận.

Sơn Đào chơi thân với Nguyễn Tịch và Kê Khang.

Vợ Sơn Đào là Hàn Thị thấy ba người chơi thân với nhau thì hỏi dò

chồng. Sơn Đào đáp:

– Đó là hai người riêng ta có thể chơi thân.

 

Hàn Thị muốn biết rõ hai người bạn đặc biệt nầy của chồng, nên sửa

soạn một tiệc rượu để chồng đãi đằng hai bạn, còn Hàn Thị thì núp trong màn

nhìn ra quan sát, buổi tiệc kéo dài suốt đêm, Hàn Thị cũng thức suốt đêm để

theo dõi.

Sáng hôm sau, Sơn Đào vào phòng hỏi vợ:

– Nàng nghĩ sao về hai người bạn đó?

Hàn Thị đáp: – Về tài hoa thì chàng không bằng họ, nhưng về trí thức thì

chàng đáng là bạn của họ.

Sơn Đào nói:

– Chính họ cũng cho cái biết của ta là cao hơn.

Về sau, Sơn Đào cũng được điều về kinh đô, giữ chức: Thượng Thư Lại

Bộ Lang. Lúc ấy Ngụy đế là Tào Phương vừa nhỏ tuổi vừa bất tài, triều chính

lọt vào tay Thái Úy Tư Mã Ý và Đại tướng Tào Sảng. Hai người nầy kết bè kết

đảng định tiêu diệt phía đối phương mà độc chiếm quyền hành.

 

Sơn Đào nhìn thế cuộc biết chắc thế nào Tào Sảng cũng phải thua Tư

Mã Ý, vì Tào Sảng lỗ mảng ngang ngược, kém mưu trí hơn Tư Mã Ý nhiều.

Sơn Đào không muốn dính vào vòng đấu tranh của hai người ấy, nên

thường ẩn cư, ít giao thiệp với các triều thần.

Mỗi khi cao hứng, Sơn Đào thường mời các danh sĩ như: Kê Khang,

Nguyễn Tịch, Lưu Linh, Nguyễn Hàm, Hướng Tú, Vương Nhung vào trong

rừng trúc rong chơi, uống rượu và bàn lẽ huyền vi của Trời Đất, gác ngoài tai

mọi việc ở đời.

Trong Trúc lâm Thất Hiền thì Kê Khang là người có tiếng tăm và tài hoa

cao nhứt, dám khinh miệt cả bọn quyền quí, làm Sơn Đào rất bội phục.

Sau nầy, khi Sơn Đào làm ở Bộ Lại, có dâng thơ tiến cử Kê Khang. Kê

Khang chán ghét bọn quan lại tham ô nên không hề có ý muốn ra làm quan, nay

biết được Sơn Đào dâng thơ tiến cử mình, Kê Khang nổi giận liền viết một

bức thơ “Tuyệt giao Sơn Đào”, mỉa mai Sơn Đào còn ham danh lợi và tuyên bố

tuyệt giao với Sơn Đào. Sơn Đào rất hiểu rõ tánh ý của Kê Khang nên không hề

hờn giận.

Sau nầy, Kê Khang bị Chung Hội và Lữ Tấn vu oan, Tư Mã Chiêu tin

Chung Hội nên giết chết Kê Khang. Con của Kê Khang là Kê Thiệu bơ vơ

không nơi nương tựa, được Sơn Đào lo lắng chăm sóc.

Năm 265, con của Tư Mã Chiêu là Tư Mã Viêm chiếm lấy chánh quyền,

phế bỏ triều Ngụy của họ Tào, lên làm vua, lập ra nhà Tấn, Sơn Đào lại dâng

thư tiến cử Kê Thiệu: “Cha có tội không liên quan gì đến con, Kê Thiệu gồm

đủ đức tài, xứng đáng được trọng dụng.” Tư Mã Viêm chấp nhận, phong Kê

Thiệu chức Bí Thư Thừa.

Sơn Đào giỏi nhận xét nhân tài, trong hơn 20 năm ông làm việc ở Bộ Lại,

ông tiến cử lên triều đình nhiều hiền tài. Trong triều có quyền thần Giả Sung,

thường kéo bè kết đảng để củng cố thế lực, khen ngợi tên tâm phúc Lục Lượng

trước mặt Tư Mã Viêm, rằng Lục Lượng có tánh tình trung hậu, chí công vô

tư, nên xin cho Lục Lượng được cùng với Sơn Đào làm chức Tuyển Quan. Tư

Mã Viêm đồng ý.

Sơn Đào thì phản đối việc nầy, vì biết Lục Lượng chỉ là tên có tài nịnh

hót chớ không có thực tài, không xứng đáng với chức Tuyển Quan. Ít lâu sau,

quả nhiên tên Lục Lượng nhận hối lộ, bị phát hiện nên bị cách chức. Do đó, Tư

Mã Viêm càng trọng tư cách của Sơn Đào.

 

5. HƯỚNG TÚ (221 – 300):

Hướng Tú, tự là Tử Kỳ, người ở đất Hoài, nay là Hồ Nam, thuở nhỏ đã

quen biết Sơn Đào. Hướng Tú rất thông tuệ, hiểu biết rất sâu xa, theo cái học

của Lão Trang. Ông cùng với Quách Tượng đã chú giải sách Nam Hoa Kinh

của Trang Tử, vì lâu nay trải quan nhiều thế hệ của Đạo gia, nhưng chưa có ai

luận bàn về tôn chỉ và hệ thống hóa sách ấy cả.

Hướng Tú bàn và giải thích thêm những ý nghĩa sâu kín, phát minh thêm

ý lạ, làm nổi dậy phong trào Huyền học.

 

Người đương thời đọc sách ấy thì siêu nhiên tâm ngộ, chẳng ai không

mãn nguyện.

 

6. VƯƠNG NHUNG (234 – 305):

Vương Nhung có một đứa con vừa mới chết, bạn của Vương Nhung là

Sơn Giản đến viếng. Vương Nhung không cầm được nước mắt. Sơn Giản nói:

– Chỉ là đứa bé con, cớ sao lại khóc?

– Thánh nhân thì quên tình, thứ dân thì không biết tới, chỉ như bọn ta mới

có nhiều tình.

Sơn Giản tán đồng, rồi cũng khóc theo.

Lời nói của Vương Nhung cắt nghĩa rất rõ tại sao nhiều Huyền học gia

lại rất lưu tâm đến thuyết Chủ tình.

Trong nhiều trường hợp, không phải vì sự được mất của bản thân mà

họ tỏ ra vui buồn, mà chính trong cái cảnh tượng chung của cuộc sống hay của

Trời Đất.

 

7. NGUYỄN HÀM:

Nguyễn Hàm là cháu của Nguyễn Tịch, gọi Nguyễn Tịch bằng chú.

Hai người họ Nguyễn nầy đều thích uống rượu. Mỗi khi gặp nhau, họ không

cần lấy chén mà uống, chỉ ngồi quanh vò rượu mà uống trong vò. Có khi mấy

con lợn khát nước chạy đến, thì họ cho lợn cùng uống với họ.

Đấy là tình cảm cốt yếu của hạng người phong lưu, muốn sống với tinh

thần nghệ sĩ, với ý thức bình đẳng, không phân biệt giữa họ và vật trong Trời

Đất.

Tóm lại, Trúc lâm Thất Hiền là bảy ông Hiền nơi rừng trúc. Họ là những

nhà văn nhà thơ, vừa đi dạo, vừa bàn luận trong một khu rừng trúc nhỏ, dừng

lại để uống rượu, rồi lại đi dạo tiếp tục, rồi lại bàn luận, làm thơ, cho đến lúc

say mèm.

Họ bàn luận chỉ trích Khổng giáo, đề cao Lão Trang, mỗi người có một

cách, làm dẫy lên một trào lưu tư tưởng lãng mạn gọi là Phong lưu, ngụ ý sống

tự do theo tự nhiên, mà tư tưởng triết học thì chủ ở Lão Trang. Sống Phong lưu

là sống hòa nhịp với cảm xúc bồng bột hồn nhiên, không chờ trí thức kịp xen

vào. Cảm xúc ấy là của một tánh tình đã cảm thông với tạo vật thiên nhiên chớ

không phải cái tánh tình nhỏ hẹp hữu hạn tầm thường.

 

                CHUYÊN MỤC SƯU TẦM NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT

      BQM:

Sau khi chê hết lời câu đối của GS V.K tặng công ty Cao ngựa trắng, BQM nhận được phản hồi từ Hien dang nói rằng cụ V.K được tỉnh Cần Thơ mời vào chơi. Nhân đó ông Tạ Minh Tâm có tặng thày câu đối rằng

                    Cần Thơ quý nhà thơ họ Vũ, Cần Thơ cần lúa lại cần thơ. 

 

Và  cụ Huyền Khê Trịnh Quốc Hoàn làng Đa Sỹ Hà Đông đã đối lại như sau

:

                    Đa Sĩ nhiều tiến sĩ làng văn, Đa sĩ đa tài nên đa sĩ.

BQM xin góp lời bình:

                     Ông Tâm có học cụ V.K về cách làm thơ phú như thế nào, BQM không biết, nhưng rõ rang trình độ ông hơn thày khá xa, nếu ta so sánh câu này so với câu “ấm ớ hội tề” của cụ VK tặng cty cao ngựa trắng . Vế đối của cụ  Huyền Khê Trịnh Quốc Hoàn thì càng tuyệt.  Tuy nhiên, chữ “thơ” ta có thể hiểu ngầm là thư (书 sách, cần thơ là cần sách)    hay thi ( 诗 thơ) nên vế đối ở dưới chữ “ sĩ” cuối cùng có thể đọc trệch đi là “sỉ” (  耻   nghĩa là có nhiều người biết xấu hổ, biết nhục) thì hai câu này có them lời bình có thể đưa vào sách “Câu đối và giai thoại đời nay” có thể để đời.   Font chữ của BQM không có chữ sỉ mang chữ tâm, phải dung chữ sỉ này. Không sai, nhưng nội hàm kém hơn.

CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE THƯ GIÃN

Xuân Thiệu  ( sưu tầm)

MƯỜI NGUYÊN TẮC THÊM TUỔI THỌ

——————————————-

1/ Ở ĐỜI : Sự biếng nhác không làm cho thân thể khỏe mạnh.

2/SUY NGẨM: – Đối với những việc không vui vẻ của dĩ vảng và nghịch cảnh

Không thấy khó chịu. -Đối với những ngày sắp tới không có ước vọng quá cao nhưng

Luôn cầu bình an hạnh phúc .

3/ DƯỞNG: – Bảo dưởng, dinh dưởng, tu dưởng.

4/ QUÊN:- Quên tuổi tác, quên tiền tài danh vọng, quên buồn phiền.

5/PHÚC: – Có thân thể khỏe mạnh , có vui thú đọc sách, có bạn bè tri kỷ, có

người nhớ đến mình, làm những việc mà mình ưa thích.

6/VUI: – Về hưu không bận tâm suy nghĩ, con cái có cuộc sống độc lập,vô dục

tắc cương,vấn tâm mà không ân hận hay xấu hổ ,có nhiều hảo bằng hửu, tâm tính

luôn trẻ trung.

7/SUNG SƯỚNG: – Biết đủ thường sung sướng, biết giải trí khi nhàn rỗi, biết

đắc chí khi tìm niềm vui,biết vui khi hành thiện,bình an là vui nhất.

8/ CHÚT XÍU:-Nói năng dịu dàng nhẹ nhàng thêm chút nữa, đầu óc hoạt động

Them chút nữa,độ lượng nhiều hơn chút nữa,lòng rộng rãi thêm chút nữa, làm việc

nhiều thêm chút nữa, mỉn cười thêm chút nữa.

9/THƯỜNG:-Răng thường ngậm , nước miếng thường nuốt, mũi thường

vê, mắt thường động,mặt thường lau, chân thường xoa bóp.

10/ THỰC HIỆN 10 NGUYÊN TẮC SỐNG KHỎE;

-Ít thịt, nhiều rau-Ít mặn, nhiều chua-Ít đường, nhiều trái cây-Ít ăn, nhai

nhiều-Ít áo,tắm nhiều –Ít nói , làm nhiều-Ít muốn, bố thí nhiều-Ít ưu tư, ngủ nhiều hơn

– Ít đi xe, đi bộ nhiều- ít nóng dận , cười nhiều.

 

 

         TTCh( sưu tầm)

 

Thong_Tim.pps
1332K   View   Download