Docago.wordpress.com số ra thứ 4 ngày 5/10/2011 9 (tức 09 tháng 9 năm Tân Mão)

CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Đỗ Anh Thơ( sưu tầm- biên soạn)

          Chương 10

 Lý thuyết Thomas More về xã hội

 

 

. Thomas More còn gọi là thánh Thomas More ( 7- 2-1478— 6- 7 -1535) Sinh ra  trong một gia đình luật , tốt nghiệp đạihọc Oxford là nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng Anh , từng làmluật sư , nghị sĩ quốc hội, phó đại thần  tài chính,trưởng nghĩ hạ viện, đậiphps quan.Năm1535 dophản đối Henry 8kiemnhieem thủ lĩnh giáo hộimà bị xử tội chết. Năm1935 nhân kỷ niệm 400 trăm năm ngày mất của ông,giáo hoàng La Mã Pius XI đã phong thánh cho ông. 1980 đựoc giáo hoàng John Paul II phong  thánh tử vì đạo. Trong số 100 danh nhân vĩ đại của nước Anh ông đứng thứ 37.

Về ông, soạn giả không đủ thẩm quyền để viết mà xin giới thiệu những ý kiến của  linh mục Paul  Ngô Suốt

 

 

 

      Nhà thờ Thomas More ở Anh

‘”Thomas More (1478-1535), vị Thẩm Phán khôn ngoan, quan Chưởng ấn tối cao của Vua Henry thứ 8 ở nước Anh, một con ngưới lỗi lạc, tài đức, Ngài có thời khoá biểu để cấu nguyện, hết sức nghiêm ngặt. Dù bận rộn trăm bề, Ngài vẫu ưu tiên giáo dục con cái, nhất là ngôn ngữ mẹ đẻ. Ngài dành thời gian cho con cái dù vắng nhà, khi đọc thư con cái là lúc Ngài cảm thấy hạnh phúc nhất trong ngày, Ngài viết :

“Bố muốn từng đứa phải viết thư rồi gởi cho Bố  hàng ngày. Không được miễn trừ, không thể viện lý do là thiếu thời gian, người đưa thư đi sớm quá hay  không có gì để viết ! Không ai có thể bắt các con đừng viết, mọi người trong gia đình đều động viên, khuyến khích các con…Các con không cần phải tìm kiếm đề tài để viết cho Bố. Bố rất sung sướng khi nghe kể việc học hành hay các trò chơi các con tham dự. Có lẽ Bố sung sướng nhất, khi các con viết cho Bố mà không có chủ đề gì cả, các con cứ viết lung tung càng dài Bố càng thích. Nhất là các cô con gái cưng  của Bố, tự bản chất các cô có nhiều điều để nói mà không cần chủ đề…. Sẽ không có gì  nguy hại khi các con viết bằng tiếng Anh trước rồi chuyển sang tiếng La Tinh…”.

Thomas More vừa là một vị quan trung tín, tận tụy, liêm khiết, đồng thời Ngài cũng còn là một người cha, người chồng hết sức mẫu mực, thánh thiện. Ngài luôn sống trong tâm tình tạ ơn và phó thác vào Thiên Chúa. Một hôm trang trại rộng lớn của Ngài bị cháy rụi. Khi nghe tin đáng buồn này (đang làm việc xa nhà), Ngài viết thư cho vợ :

“…Chúng ta đã mất hết những kho nông sản, tiếc thật ! Nhưng biết đâu đây là cơ hội Chúa còn đoái hoài đến chúng ta, Ngài đã viếng thăm chúng ta. Chúng ta phải tri ân và vui vẻ vì Ngài  viếng thăm. Ngài đã ban cho chúng ta những thứ đó, nay Ngài lấy đi là quyền của Ngài, theo ý định của Ngài. Chúng ta phải luôn tri ân vì sự rộng rãi, tốt lành của Ngài đối với gia đình mình, cám ơn Ngài cho những mất mát hơn là những cái chúng ta sở hữu, Ngài khôn ngoan hơn chúng mình nhiều, Ngài  mang đến cho chúng ta lợi ích hơn hẳn chúng ta tự tìm. Mình hãy vui vẻ lên, đem tất cả những gì còn sót lại đến Thánh đường, rồi tạ ơn Chúa vễ những cái Ngài đã ban cho, những cái Ngài đã lấy đi và những cái Ngài còn để  lại. Nếu muốn Ngài có thể ban cho chúng ta cái khác, hay lấy thêm đi nữa, nhưng nên nhớ chúng ta phải luôn luôn hân hoan, chấp nhận theo ý của Ngài….”

Con người đang tiến lên tột đỉnh vinh quang, hết sức tận tụy trung thành với nhà vua, bỗng chốc bị tai họa thảm khốc giáng xuống. bởi vì Vua Henry thứ 8 muốn Thomas More phải trung thành với mình một cách tuyệt đối, tiếc rằng sự đòi hỏỉ vượt quá sức lực của Thomas. Số là vua Henry muốn hủy bỏ hôn ước của mình với Catherine của Aragon, để tái hôn với Anne Boleyn. Catherine không đồng ý, Đức Giáo Hoàng cũng bênh vực cho tính bất khả xâm phạm của cuộc hôn nhân này. Khi biết vua Henry bất chấp luật lệ của Rôma, Thomas More đã từ chức, trở về quê quán nhằm tránh xa cuộc tranh cãi dữ dội đang diễn ra tại triều đình.

Nhưng không chỉ đơn giản như thế, Vua Henry bắt mọi người phải tuyên thệ công nhận mình là con cháu của Henry và Anne. Điều này thì Thomas More có thể làm được, Ngài cho rằng nhà vua muốn tuyên bố thế nào cũng được. Nhưng trong lời tuyên thệ có đoạn công nhận hôn nhân trước kia của Vua  không phải là hôn nhân thật sự, cũng như bác bỏ tất cả mọi thẩm quyền từ bên ngoài  (nghĩa là phủ nhận quyền phán quyết tối cao về luân lý của Đức Giáo Hoàng). Thomas More can đảm từ chối, dứt khoát không tuyên thệ. Trong khi tất cả tu sĩ và giám mục đều tuyên thệ chỉ có Thomas More và Giám Mục John Fisher từ chối . Trong lúc bị tù ngục, lạnh lẽo, đói khát, đau khổ, cộng với áp lực từ gia đình, Thomas More vẫn một mực sống đúng với lương tâm của mình, không chịu đầu hàng bạo lực. Khi bà vợ (thứ) khuyên Ngài nên đồng ý đi, sẽ miễn chết đồng thời được phục hồi tất cả quyền hành xưa. Thánh nhân trả lời :”Ôi người vợ tốt lành của anh, em không biết được đâu ! Em có thật sự muốn anh đánh đổi cuộc sống vĩnh cữu cho hai chục năm ở dương thế này không? ”. Ngài chấp nhận tử đạo, trước khi đưa đầu vào máy chém, Ngải tuyên bố :” Tôi chết trong và cho đức tin của  Hội Thánh Công Giáo, hãy cầu nguyện cho tôi, tôi sẽ cầu nguyện lại cho quý vị. Hãy cầu nguyện cho Đức vua để Thiên Chúa vui lòng gởi cho ngài một vị Chưởng ấn tốt lành. Tôi chết như một đầy tớ trung thành của Đức vua, nhưng Thiên Chúa trên hết và trước hết ”. Hai Thánh tử đạo Thomas More và Giám Mục John Fisher được Giáo hội mừng kính cùng ngày (22 tháng sáu).

Nếu như không được nghe chính Thánh nhân giải thích, có lẽ chúng ta không hiểu được nguyên nhân hay động lực nào khiến Ngài có lòng yêu thương vợ con hết mực, tốt lành với tất cả mọi người, tận tụy với công việc, một mực tri ân, kính sợ Thiên Chúa cùng trung thành với Giáo hội một cách lạ lùng, tuyệt vời như thế. Khi được hỏi tại sao bận rộn với công việc của một Thủ Tướng nhưng Ngài vẫn tham dự Thánh lễ và rước lễ hàng ngày. Ngài trả lời “Tôi tham dự Thánh Lễ để  nhận lãnh ân sủng cùng chỉ thị của Chúa trao ban cho tôi, để tôi biết phải làm gì trong ngày đó”.

Quá xứng đáng là ngọn đèn cho mỗi gia trưởng, Thomas More phản ánh trung thực, hoàn chỉnh, mẫu gương của người môn đệ Chúa, con cái Hội Thánh. Nếu cuộc sống con người là một chuỗi những chọn lựa. Thomas More đã lựa chọn lý tưởng, chuẩn bị phương hướng để đạt đến đích điểm, lý tưởng của đời mình một cách khôn ngoan hơn những người khôn ngoan khác. Tuy là học giả lỗi lạc, kiến thức uyên thâm, được mọi người nể vì, tôn phục, nhưng Thánh nhân luôn khiêm tốn và phục tùng Thiên Chúa Tối Cao triệt để. Luôn đến với Thánh Thể để nghe  Lời Chúa dạy, đem áp dụng trong ngày.

Khiêm tốn và vui tươi là hai nhân đức đặc biệt của thánh nhân, khi sửa soạn đưa đầu vào máy chém Ngài vẫn khôi hài. Luôn luôn tín thác và yêu mến Thiên Chúa là hai động cơ chính của cuộc sống thánh nhân. Khi bị hành hạ và sống khổ sở trong tù Ngài thường tuyên bố rằng Thiên Chúa quá tốt lành với Ngài, nên có cảm tưởng như đang sống hạnh phúc và vui thú ở Thiên Đàng với Chúa.

Qua cuộc đời tuyệt diệu của Thánh Thomas More, chúng ta có bài học lý thú : biết đặt điều gì là ưu tiên, trên hết. Nền tảng, nghĩa vụ của mọi người Kitô hữu đều giống nhau, dù là Giáo dân, Linh mục hay Tu sĩ đều đòi hỏi phải nhận ra Thiên Chúa là Đấng Tối Cao của vạn vật, và sự trung tín đòi hỏi mọi người không chỉ nhẫn nại trong vui tươi, lạc quan, nhưng kể cả thái độ anh hùng khi cần thiết.

Tóm lại, gia đình là Giáo hội thu nhỏ, người gia trưởng là Giáo Hoàng của Giáo Hội thu nhỏ ấy, do đó vai trò, trọng trách của gia trưởng  không thể thay thế. Hậu qủa  tốt, xấu, hay, dở của gia đình, thân thuộc đều do sự chọn lựa, chuẩn bị phương hướng, cách thế thực hiện của người chủ gia đình. Ước chi mọi người đều học hỏi, tiêm nhiễm được ít nhiều các đức tính tuyệt vời của Thánh Tử Đạo Thomas More, vị thánh của các gia trưởng. Đến với Thánh Thể là công việc đầu tiên trong ngày, luôn sống trong tâm tình tri ân và phó thác vào Thiên Chúa. Dù chịu chết chứ không tử bỏ Hội Thánh, phản bội lại lương tâm, đó là những điểm son của Thánh Nhân, bên cạnh những nhân đức yêu thương đồng loại, hy sinh cho con cái, gia đình… cũng là những bài học hết sức quý hiếm cho các bậc gia trưởng chúng ta. Nhất là các bạn gia trưởng trẻ tuổi. “
 

 

 

 

 

 

Nhóm tượng đài  Thomas More xây dựngbởi Leslie Cubitt Bevis trước nhà thở Chelsea Old Church, Cheyne Walk,thành phố  London.

 

 

 

 

 

 

 

 

              Chương 11

                Nicolaus Copernicus với học thuyết thiên văn nhật tâm

.

 

 

                                              Nicolaus Copernicus

Nicolaus Copernicus (19 tháng 2, 1473 – 24 tháng 5, 1543) là một nhà thiên văn học đã nêu ra hình thức hiện đại đầu tiên của thuyết nhật tâm (Mặt Trời ở trung tâm) trong cuốn sách mang tính mở đầu một kỷ nguyên của ông, cuốn Về sự chuyển động quay của các thiên thể (De revolutionibus orbium coelestium). Copernicus sinh năm 1473 tại thành phố Toruń, ở Hoàng gia Phổ, một tỉnh tự trị của Vương quốc Ba Lan (1385–1569). Ông học tập ở Ba LanÝ, và dành phần lớn cuộc đời làm việc ở Frombork, Hoàng gia Phổ, nơi ông mất năm 1543.

Copernicus là một trong những học giả có hiểu biết về nhiều phương diện ở thời mình. Ông là một nhà toán học, thiên văn học, luật gia, nhà tâm lý học, học giả kinh điển, nhà cai trị, viên chức hành chính, nhà ngoại giao, nhà kinh tế, và người lính. Trong số những khả năng của mình, ông đã lựa chọn thiên văn học làm nghề nghiệp chính, sự phát triển thuyết nhật tâm (mặt trời ở trung tâm chứ không phải trái đất là trung tâm) của ông được coi là giả thuyết khoa học quan trọng nhất trong lịch sử. Nó đã đánh dấu bước chuyển sang thiên văn học hiện đại và từ đó là khoa học hiện đại, khuyến khích các nhà thiên văn trẻ, các nhà khoa học và các học giả có thái độ hoài nghi với những giáo điều đã tồn tại từ trước.

 

 

 

Toà thị chính Toruń

Khi Copernicus lên mười, cha ông, một nhà buôn đồng giàu có và là một công dân được kính trọng ở Toruń, qua đời. Mẹ ông, Barbara Watzenrode, có lẽ đã chết trước cha ông và ít được biết tới. Người cậu đằng mẹ của Copernicus là Lucas Watzenrode, một giáo sỹ và sau này là giám mục ủy viên Địa hạt giám mục Warmia, nuôi dạy ông và ba anh chị em ruột sau khi cha mẹ họ qua đời. Địa vị của ông chú đã giúp Copernicus có một nghề nghiệp trong nhà thờ, cho phép ông dành thời gian để nghiên cứu thiên văn. Copernicus có một người anh và hai chị em gái:

Andreas trở thành giáo sỹ ở Frombork

Barbara trở thành một tu sỹ dòng thánh Benedict

Katharina cưới một nhà buôn và là ủy viên hội đồng thành phố, Barthel Gertner

Năm 1491 Copernicus vào Học viện Kraków (hiện là Trường đại học Jagiellonian) có thể ông đã làm quen với thiên văn học lần đầu tiên ở đây, và được Albert Brudzewski dạy dỗ. Môn khoa học này nhanh chóng cuốn hút ông, như được ghi lại trong những cuốn sách của ông mà sau này những người Thụy Điển đã chiếm lấy làm chiến lợi phẩm vào thời kì “Potop” (“đại nạn Ba Lan”) và mang về thư viện trường đại học Uppsala). Sau bốn năm ở Kraków, và một giai đoạn ngắn ở nhà tại Toruń, ông đến Ý, nơi ông học luậty học tại các trường đại học ở BolognaPadua. Ông chú giám mục tài trợ chi phí cho việc học tập của ông và hy vọng ông cũng sẽ trở thành một giám mục. Tuy nhiên, khi đang học luật giáo sỹluật dân sự tại Ferrara, Copernicus đã gặp nhà thiên văn học nổi tiếng Domenico Maria Novara da Ferrara. Copernicus tham dự các buổi thuyết trình của ông và trở thành học trò và người trợ tá của ông. Những quan sát đầu tiên của Copernicus được tiến hành năm 1497, cùng với Novara, chúng được ghi lại trong cuốn sách kinh điển của ông Về chuyển động quay của các thiên thể (De revolutionibus orbium coelestium).

 

 

Tượng Copernicus ngồi, của Bertel Thorvaldsen, đặt trước Viện hàn lâm khoa học Ba Lan tại Warszawa

Năm 1497 chú của Copernicus được phong chức giám mục Warmia, và Copernicus được bổ nhiệm làm giáo sỹ ở nhà thờ Frombork, nhưng ông ở lại Ý để đợi Lễ kỷ niệm vĩ đại (Roman Jubilee) vào năm 1500. Copernicus đến Roma, nơi ông đã quan sát thấy một hiện tượng nguyện thực và giảng một số bài về thiên văn học và toán học.

Vì vậy ông chỉ có thể tới thăm Frombork vào năm 1501. Ngay khi vừa tới nơi, ông đã yêu cầu và nhận được giấy phép quay trở lại Ý để hoàn thành các nghiên cứu tại Padua (với Guarico và Fracastoro) và tại Ferrara (với Giovanni Bianchini), nơi ông nhận được bằng tiến sỹ luật giáo sỹ năm 1503. Người ta cho rằng chính Padua là nơi ông đã gặp những đoạn văn của CiceroPlato về quan niệm cổ đại về chuyển động của Trái Đất, và từ đó hình thành trực giác đầu tiên về lý thuyết của chính mình trong tương lai. Những lần quan sát và những ý tưởng thích hợp cho lý thuyết của ông đã bắt đầu năm 1504.

Sau khi hoàn thành việc nghiên cứu, ông rời Ý đến sống và làm việc ở Frombork. Một khoảng thời gian trước khi quay trở lại Warmia, ông đã nhận được một vị trí ở Học viện Nhà thờ của Hội Thánh Linh (Holy Cross) ở Wrocław, Silesia, và ông đã từ chức này vài năm trước khi chết. Mặc dầu trong cả phần đời còn lại, ông đã thực hiện các quan sát và tính toán thiên văn nhưng chúng chỉ diễn ra trong giờ nghỉ và không được coi là nghề nghiệp của ông.

Copernicus đã làm việc nhiều năm với Nghị viện Phổ về cải cách triều đình và xuất bản một số nghiên cứu về giá trị tiền tệ; với tư cách thống đốc Warmia, ông tách thuế và thương mại ra khỏi tư pháp. Chính lần này (bắt đầu năm 1519, năm sinh của Thomas Gresham là năm Copernicus tiến tới với một trong những sự lặp lại sớm nhất về lý thuyết được gọi là Luật Gresham. Trong những năm này, ông cũng phải đi lại nhiều để giải quyết các công việc hành chính và ngoại giao, cho Tổng giám mục Warmia.

Năm 1514 ông viết Commentariolus — một bản viết tay ngắn nói về những ý tưởng của ông về những lý thuyết Nhật tâm – chỉ để trao đổi với những người bạn. Sau đó ông tiếp tục thu thập các bằng chứng cho một nghiên cứu chi tiết hơn. Trong thời gian chiến tranh giữa Quân kị sĩ Teutonic và Vương quốc Ba Lan (15191524) Copernicus đã bảo vệ thành công Olsztyn với cương vị chỉ huy các lực lượng hoàng gia bị bao vây bởi các lực lượng của Albert xứ Brandenburg.

Năm 1533 Albert Widmannstadt thực hiện nhiều bài diễn giảng ở Roma, giới thiệu phác thảo lý thuyết của Copernicus. Những bài giảng này được nhiều hồng y giáo chủ quan tâm, trong đó có cả Giáo hoàng Clement VII.

 

 

Nhà thiên văn học Copernicus: Đối thoại với Thượng đế., tranh vẽ của Jan Matejko

Tới năm 1536 lý thuyết của Copernicus đã hoàn thiện, và một số lời đồn đại về lý thuyết của ông đã đến tai những bậc trí thức trên toàn Châu Âu. Copernicus nhận được nhiều lời mời xuất bản từ nhiều nơi trên lục địa này.

Trong một bức thư đề ngày Roma, 1 tháng 11, 1536, Hồng y Nicola Schönberg xứ Capua đã yêu cầu Copernicus thông báo thêm về các ý tưởng của ông và muốn có một bản dành riêng cho hồng y; “Vậy thì, người có học thức, không muốn trở nên lạc lõng, Tôi yêu cầu ông trình bày thật rõ ràng khám phá của mình cho thế giới trí thức, và gửi tôi trong thời gian ngắn nhất những lý thuyết của ông về Vũ trụ, cùng với những bảng biểu và những thông tin liên quan tới vấn đề này.” Một số người cho rằng bức thư này có thể đã khiến Copernicus lợi dụng nó để xuất bản (tác phẩm của ông), trong khi một số người khác cho rằng bức thư này cho thấy Nhà thờ muốn đảm bảo rằng những ý tưởng của ông phải được xuất bản.

Dù nhiều người yêu cầu, Copernicus vẫn trì hoãn việc xuất bản cuốn sách của ông; lý do chính có thể vì những lời chỉ trích đối với việc đưa ra công khai tác phẩm mang tính cách mạng này. Về vấn đề này, các nhà sử học về khoa học như Lindberg và Numbers nói rằng: “Nếu Copernicus thực sự có lo ngại về việc xuất bản cuốn sách, thì chính những phản ứng của các nhà khoa học chứ không phải của giới giáo sỹ khiến ông lo lắng. Một giáo sỹ khác trước ông – Nicole Oresme (một giám mục) ở thế kỷ 14 và Nicholas xứ Cusa (một hồng y giáo chủ) thế kỷ 15 – đã tranh luận một cách tự do về khả năng chuyển động của Trái Đất, và không có lý do để cho rằng việc ý tưởng này tái xuất hiện vào thế kỷ 16 có thể gây nên sự náo động tôn giáo.”.

Vào năm 1539, Copernicus vẫn đang hoàn thành kiệt tác của mình (kể cả nếu ông không tin chắc rằng mình muốn xuất bản nó) khi Georg Joachim Rheticus, một nhà toán học vĩ đại người Wittenberg, tới Frombork. Philipp Melanchthon đã sắp xếp cho Rheticus tới thăm nhiều nhà thiên văn học và nghiên cứu cùng với họ. Rheticus đã trở thành một học trò của Copernicus và đã ở lại với ông nhiều năm, trong thời gian này ông viết một cuốn sách, Narratio prima, phác thảo các nét chính của lý thuyết. Năm 1542, dưới tên Copernicus, Rheticus xuất bản một luận văn về lượng giác học (sau này được thêm vào cuốn sách thứ hai cuốn Về các chuyển động (De revolutionibus)). Dưới áp lực mạnh mẽ của Rheticus, và thấy rằng thái độ đầu tiên của mọi người đối với tác phẩm của ông là khả quan, Copernicus cuối cùng đã đồng ý trao cuốn sách cho người bạn thân của ông là Tiedemann Giese, giám mục xứ Chełmno (Kulm), để chuyển cho Rheticus in ở Nürnberg.

Truyền thuyết nói rằng bản in đầu tiên của cuốn Về những chuyển động đã được đặt vào tay Copernicus đúng vào ngày ông chết, vì vậy ông đã có thể vĩnh biệt opus vitae (“tác phẩm để đời”) của ông. Có lẽ ông đã tỉnh lại sau khi bị đột quỵ-gây ra hôn mê, nhìn vào cuốn sách và chết êm ái. Copernicus được chôn tại nhà thờ Frombork. Những nỗ lực tìm kiếm xương cốt ông của các nhà khảo cổ học đã không mang lại thành công và mặc dù họ đã tìm thấy nhiều ngôi mộ đáng chú ý từ nhiều thời đại khác nhau. Ngày 3 tháng 10 năm 2005, các nhà khảo cổ học đã thông báo rằng vào tháng 8 họ đã tìm thấy xương sọ của Copernicus (xem Phần mộ dưới đây).

Hệ nhật tâm của Copernicus và các lý thuyết có sớm hơn

Trước đó, đã có nhiều tài liệu viết về lý thuyết hệ nhật tâm.

Những dấu vết đầu tiên về một mô hình nhật tâm được tìm thấy trong nhiều bản Kinh Vệ Đà bằng tiếng Phạn được viết ở Ấn Độ cổ trước thế kỷ thứ 7 TCN: các cuốn Vệ Đà, Aitareya BrahmanaShatapatha Brahmana. Bài luận Vishnu Purana bằng tiếng Phạnthế kỷ thứ 1 viết kỹ về nhiều khái niệm nhật tâm.

Philolaus (thế kỷ thứ 4 TCN) cũng có một trong những giả thuyết đầu tiên về chuyển động của Trái Đất, có lẽ có cảm hứng từ các lý thuyết của Pythagoras về Trái Đất hình cầu.

Aristarchus xứ Samos vào thế kỷ thứ 3 TCN đã phát triển một số lý thuyết Heraclides Ponticus (nói về chuyển động của Trái Đất trên trục của nó) từ đó cho thấy, đối với những gì từng được biết, nó là mô hình chính thức đầu tiên về một hệ nhật tâm. Tác phẩm của ông về hệ nhật tâm nay đã thất truyền, do đó người ta chỉ có thể đoán ông đã đi tới những kết luận đó như thế nào. Theo Plutarch, thì có lẽ việc đáng chú ý nhất là một người cùng thời với Aristarchus đã buộc tội ông là nghịch đạo khi “bắt Trái Đất quay”.

AryabhataẤn Độ đã đi trước khám phá của Copernicus 1000 năm và đã thiết lập một mô hình nhật tâm mà trong đó Trái Đất quay quanh trục của nó và chu kỳ của Trái Đất và các hành tinh được xác định theo Mặt Trời đứng yên. Ông cũng là người đầu tiên phát hiện ra rằng ánh sáng từ Mặt Trăng và các hành tinh khác là phản chiếu lại ánh sáng Mặt Trời, và rằng các hành tinh quay theo một quỹ đạo hình elíp quanh Mặt Trời.

Tác phẩm của những nhà thiên văn học Ả Rập thế kỷ thứ 14 ibn al-Shatir cũng chứa đựng những khám phá tương tự của Copernicus, và người ta cho rằng Copernicus có thể đã bị ảnh hưởng từ đó.

Copernicus đã trích dẫn Aristarchus và Philolaus trong một bản chép tay đầu tiên của cuốn sách của ông hiện vẫn còn, cho rằng: “Philolaus tin vào sự chuyển động của Trái Đất, và một số người nói rằng Aristarchus xứ Samos ủng hộ ý kiến này.” Vì một số lý do còn chưa biết, ông đã bỏ đoạn này trước khi xuất bản cuốn sách.

Ý tưởng đến với Copernicus không phải từ việc quan sát các hành tinh, mà từ đọc sách của hai tác giả đó. Trong Cicero ông đã thấy trích dẫn lý thuyết của Hicetas. Plutarch cũng trích dẫn từ Pythagoras, Heraclides Ponticus, PhilolausEcphantes. Các tác giả đó đã đề xuất một Trái Đất chuyển động quanh một Mặt Trời ở trung tâm. Copernicus không coi ý tưởng của mình có nguồn gốc từ Aristarchus như đã được nói đến ở trên. Khi cuốn sách của Copernicus được xuất bản, nó có một lời nói đầu, được đưa lên mà không có ý kiến của ông, của nhà thần học Andreas Osiander. Giáo sỹ này cho rằng Copernicus viết cuốn sách về nhật tâm cho rằng Trái Đất chuyển động chỉ là một giả thuyết toán học, chứ không phải cho rằng đó là khả năng hay thậm chí là sự thật. Điều này hiển nhiên được viết ra để làm dịu đi phản ứng tôn giáo chống lại cuốn sách, nhưng không có bằng chứng cho thấy Copernicus đã coi hình thức nhật tâm chỉ đơn giản thích hợp về mặt toán học, không liên quan tới thực tế. Các lý thuyết của Copernicus phủ nhận lời giải thích Mặt Trời quay quanh Trái Đất trong Cựu Ước (Joshua 10:13).

Có tranh cãi rằng trong khi phát triển toán học về hệ nhật tâm, Copernicus đã sử dụng không chỉ toán học Hy Lạp mà cả toán học và thiên văn học truyền thống Hồi giáo, đặc biệt là các tác phẩm của Nasir al-Din Tusi, Mu’ayyad al-Din al-‘Urdi và ibn al-Shatir.

Hệ Ptolemy

Lý thuyết thông dụng ở Châu Âu khi Copernicus đang hoàn thành tác phẩm của mình là lý thuyết do Ptolemy viết ra trong cuốn Almagest của ông, đã xuất hiện vào khoảng năm 150. Hệ Ptolemy được hình thành từ nhiều lý thuyết coi Trái Đất là trung tâm đứng yên của vũ trụ. Các ngôi sao được gắn vào một mặt cầu bên ngoài và nó quay nhanh, ở mức độ tương đối với nhau, trong khi các hành tinh được đặt trên những mặt cầu nhỏ hơn và mỗi hành tinh có một mặt cầu riêng biệt. Để giải thích những điều kỳ lạ của quan điểm này, như chuyển động thụt lùi quan sát thấy ở nhiều hành tinh, một hệ thống các ngoại luân (epicycles) được đem ra sử dụng, theo đó hành tinh quay trên một trục nhỏ trong khi vẫn quay trên một trục lớn xung quanh Trái Đất. Một số hành tinh bị ấn định là có những ngoại luân “chính” (nhờ thế có thể quan sát được chuyển động thụt lùi) và “phụ” (chỉ đơn giản quay một chiều).

Một lý thuyết phụ trợ của Ptolemy sử dụng các mặt cầu đồng tâm: các mặt cầu bên trong mặt cầu mà hành tinh đang quay, cũng có thể quay một chút. Các nhà thiên văn cũng hay sử dụng nhiều biến thể như thuyết lệch tâm — theo đó trục quay được bù thêm và không hoàn toàn nằm ở tâm – hay được thêm các ngoại luân vào các ngoại luân.

Cống hiến duy nhất của Ptolemy cho lý thuyết này là ý tưởng về một sự cân bằng – một sự bổ sung rắc rối cho thấy rằng, khi đo chuyển động của Mặt Trời, thỉnh thoảng ta sử dụng trục trung tâm của vũ trụ, nhưng thỉnh thoảng lại đưa ra một vị trí khác. Điều này có một ảnh hưởng bao trùm khiến cho một số quỹ đạo trở nên “lắc lư,” một sự thực đã làm Copernicus rất bối rối (sự lắc lư đó nêu ra sự đáng ngờ của ý tưởng về những “mặt cầu” mà các hành tinh quay trên đó). Cuối cùng, sau mọi sự phức tạp đó, các nhà thiên văn vẫn không thể làm quan sát thực tế và lý thuyết trùng khớp với nhau. Vào thời của Copernicus hệ Ptolemy kiểu mới nhất là của Peurbach (1423-1461) và Regiomontanus (1436-1476).

Lý thuyết của Copernicus

Lý thuyết chính của Copernicus được xuất bản trong cuốn, De revolutionibus orbium coelestium (Về chuyển động quay của các thiên thể) vào năm ông mất, 1543, mặc dù ông đã tiến gần tới lý thuyết này từ nhiều thập kỷ trước.

 

 

Bức tượng của Copernicus cạnh Collegium Novum (“Trường mới”) Đại học Jagiellonian, tại Krakow

Cuốn sách này đánh dấu sự chấm dứt của thuyết địa tâm (và thuyết nhân tâm) coi Trái Đất ở trung tâm vũ trụ. Copernicus cho rằng Trái Đất là một hành tinh quay xung quanh Mặt Trời một vòng trên một năm, và quay quanh trục một vòng trên một ngày. Ông đã khám phá được vị trí chính xác của những hành tinh đã được biết và giải thích sự tiến động của những điểm phân một cách chính xác bởi sự thay đổi vị trí một cách chậm chạp của trục quay của Trái Đất. Ông cũng đưa ra giải thích rõ ràng về nguyên nhân gây ra các mùa: rằng trục của Trái Đất không vuông góc với với hành tinh trên quỹ đạo của nó. Ông cộng thêm vào sự chuyển động của Trái Đất, theo đó trục của nó được giữ hướng về đúng một điểm trên bầu trời trong suốt cả năm; từ thời Galileo Galilei, đã có thừa nhận rằng Trái Đất “không” giữ nguyên một hướng khi nó chuyển động.

Copernicus cũng thay thế những vòng cân bằng của Ptolemy bằng nhiều ngoại luân. Đây là nguồn chính cho rằng hệ của Copernicus thậm chí còn có nhiều ngoại luân hơn hệ của Ptolemy. Với sự thay đổi này, hệ của Copernicus chỉ có một kiểu chuyển động tròn duy nhất, sửa chữa lại những điều mà ông cho là không chính xác trong hệ của Ptolemy. Nhưng khi Copernicus đặt Mặt Trời vào vị trí trung tâm của mặt cầu của trời, ông không cho nó là trung tâm của vũ trụ mà chỉ ở gần nó.

Về mặt thực nghiệm, hệ của Copernicus không tốt hơn kiểu của Ptolemy. Copernicus nhận thức được điều này và không thể đưa ra “bằng chứng” quan sát trong cuốn sách của mình, thay vào đó ông lại dựa vào những tranh luận về một hệ chính xác và đúng đắn hơn. Từ khi cuốn sách được xuất bản tới khoảng năm 1700, rất ít nhà thiên văn tin vào hệ của Copernicus, mặc dù cuốn sách đó được truyền bá khá rộng (khoảng 500 bản sách được cho là vẫn còn tồn tại, đó là một con số lớn so với tiêu chuẩn khoa học của thời đó). Tuy nhiên, nhiều nhà thiên văn học, đã chấp nhận một số khía cạnh của lý thuyết so với những thuyết khác, và hệ của ông đã có ảnh hưởng lớn đối với những nhà khoa học về sau này như Galileo và Johannes Kepler, những người đã chấp nhận, và đấu tranh cho nó và (đặc biệt là trường hợp của Kepler) tìm cách cải thiện nó. Những quan sát của Galileo về các tuần của Sao Kim đã cho thấy bằng chứng quan sát thực nghiệm đầu tiên cho lý thuyết của Copernicus.

Hệ của Copernicus có thể được nói gọn trong bảy đề xuất, như chính Copernicus đã tập hợp trong một Compendium của cuốn De revolutionibus orbium coelestium được tìm thấy và xuất bản năm 1878.

Bảy phần của lý thuyết Copernicus là:

Không có một trung tâm của vũ trụ

Trung tâm của Trái Đất không phải là trung tâm vũ trụ

Trung tâm của vũ trụ gần Mặt Trời

Khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trời là không thể nhận thấy nếu so sánh với khoảng cách tới các ngôi sao

Chuyển động quay của Trái Đất giải thích cho chuyển động thấy hàng ngày của các ngôi sao

Những chuyển động quan sát thấy hàng năm của Mặt Trời được gây ra khi Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời

Chuyển động thụt lùi của các hành tinh được gây ra bởi chuyển động của Trái Đất, mà người quan sát đứng trên nó

Dù những ý kiến này có phải là “cách mạng” hay “bảo thủ” chúng là chủ đề tranh luận cho tới cuối thế kỷ 20. Thomas Kuhn đã cho rằng Copernicus đưa “một số tính chất thiên văn học vốn trước đó được cho là của Trái Đất sang cho Mặt Trời.” Một số nhà sử học khác từ đó cho rằng Kuhn đã đánh giá thấp cái gọi là “cách mạng” của công trình của Copernicus, và nhấn mạnh khó khăn mà Copernicus có thể gặp phải khi đưa lý thuyết thiên văn học của mình ra mà chỉ đơn giản dựa vào hình học, mà không có bằng chứng thực nghiệm.

 

 

Trang bìa của De revolutionibus Orbium Coelestium (phần VI, ấn bản của Basel)

Tác phẩm chính của Copernicus, Về chuyển động của các thiên thể (1543), là thành quả của hàng thập kỷ lao động. Nó có một lời mở đầu vô danh do Andreas Osiander, một nhà thần học và là bạn của Copernicus viết, cho rằng lý thuyết này, bị coi là một công cụ cho phép có được những tính toán đơn giản và chính xác hơn, không có ứng dụng bên ngoài phạm vi thiên văn học. Cuốn sách thực của Copernicus được bắt đầu bởi một bức thư của người bạn ông (lúc ấy đã qua đời) là Nicola Schönberg, Tổng giám mục Capua, thúc giục Copernicus xuất bản lý thuyết của mình. Sau đó, trong một bài mở rất dài, Copernicus dành tặng cuốn sách cho Đức cha Paul III, giải thích động cơ bên ngoài trong việc viết cuốn sách vì khả năng còn hạn chế của các nhà thiên văn học trước đó trong việc đưa ra một lý thuyết đầy đủ về các hành tinh, và chỉ ra rằng nếu hệ của ông làm tăng độ chính xác của các dự đoán thiên văn học nó sẽ cho phép Nhà thờ phát triển một loại lịch chính xác hơn. Lúc ấy, việc cải cách lịch Julian được coi là cần thiết và là một trong những nguyên nhân chính khiến nhà thờ trợ cấp cho thiên văn học.

Tác phẩm này được chia làm sáu cuốn:

Cái nhìn chung về lý thuyết nhật tâm, và một sự trình bày ngắn gọn về ý tưởng của ông về thế giới.

Đa số là lý thuyết, trình bày các nguyên tắc của thiên văn hình cầu và một danh sách các ngôi sao (là một nền tảng cho những tranh cãi phát triển lên trong những cuốn sách tiếp theo).

Đa phần dành cho những chuyển động thực tế của Mặt Trời và những hiện tượng liên quan.

Miêu tả Mặt Trăng và những chuyển động quỹ đạo của nó.

Giải thích cụ thể về hệ thống mới.

Trình bày cụ thể về hệ thống mới.

Copernicus và chủ nghĩa của Copernicus

 

Nicolaus Copernicus lúc còn trẻ

Lý thuyết của Copernicus có tầm quan trọng đặc biệt trong lịch sử văn minh loài người. Nhiều tác giả cho rằng chỉ hình học của Euclidvật lý của Isaac NewtonThuyết tiến hoá của Charles Darwin là có thể có ảnh hưởng ở mức so sánh được đối với văn hoá loài người nói chung và khoa học nói riêng.

Nhiều ý nghĩa đã được gán cho lý thuyết của Copernicus một phần từ ý nghĩa khoa học đúng đắn của nó. Tác phẩm của ông ảnh hưởng tới cả tôn giáokhoa học, giáo điều cũng như tự do của vấn đề khoa học. Vị trí của Copernicus với tư cách là một nhà khoa học thường được so sánh với Galileo Galilei.

Công trình của Copernicus phản đối giáo điều tôn giáo được chấp nhận sau đó: nó có thể cho thấy rằng không cần thiết phải có một (Đức Chúa) tuyệt đối trao linh hồn, quyền lực và cuộc sống cho thế giới và con người – khoa học có thể giải thích mọi điều được cho là của Chúa.

Tuy nhiên, chủ nghĩa của Copernicus cũng mở một lối đi cho tính nội tại, quan điểm cho rằng một lực lượng siêu nhiên, hay một vị thần thánh, thâm nhập vào mọi vật tồn tại – một quan điểm từ đó được phát triển thêm trong nhiều triết học hiện đại. Chủ nghĩa nội tại cũng dẫn tới chủ nghĩa chủ quan: với lý thuyết rằng có thể nhận thức rằng những tạo vật thực tế, rằng không có thực thể tồn tại độc lập với nhận thức. Vì thế một số người cho rằng Chủ nghĩa Copernicus đánh đổ những nền tảng của khoa học Trung Cổ và siêu hình học.

Một hệ quả của Chủ nghĩa Copernicus là quy luật khoa học không cần thiết phải phù hợp với thực tế. Sự đối nghịch này với hệ của Aristotles vốn đặt cao tầm quan trọng của nguồn gốc của hiểu biết thông qua các giác quan.

Khái niệm của Copernicus đánh dấu một sự cách mạng khoa học. Thực vậy một số cho rằng nó đứng ngang bằng với sự khởi xướng của “cuộc cách mạng khoa học” [5]. Immanuel Kant mang tính biểu tượng của cách mạng do Copernicus khởi xướng – chủ nghĩa duy lý ưu việt của nó – công nhận rằng chính sự hợp lý của con người là cách làm sáng tỏ về những hiện tượng quan sát được. Những nhà triết học gần đây cũng tìm thấy những giá trị triết học trong chủ nghĩa Copernicus.

Trích dẫn :Goethe

“Trong tất cả các khám phá và ý kiến, không có cái nào có ảnh hưởng đến tinh thần hơn học thuyết của Copernicus. Thế giới mới được biết là tròn thì phải bị đòi hỏi từ bỏ đặc quyền lớn lao của địa vị trung tâm vũ trụ. Có lẽ không bao giờ nhân bị đòi hỏi lớn lao như thế — vì khi chấp nhận điều này thì nhiều việc bị tan tành mây khói! Việc gì sẽ xảy ra với Eden của chúng ta, thế giới của sự ngây thơ, lòng mộ đạo, và thi ca; bằng chứng từ giác quan; sự tin tưởng đến một niềm tin thơ – đạo? Không đáng ngạc nhiên khi những người đương thời không muốn từ bỏ những ý niệm này và chống đối bằng mọi cách một học thuyết mà những người tin tưởng cho phép và đòi hỏi một tầm nhìn tự do và ý tưởng vĩ đại chưa bao giờ được biết, hay tưởng tượng nổi.”

Nietzsche

“Tôi thấy hài lòng khi nghĩ về sự đúng đắn của vị quý tộc Ba Lan lật đổ nghị quyết của một cuộc họp (nghị viện) với sự phủ quyết đơn giản; và Copernikus người Ba Lan dường như từ sự đúng đắn này chống lại tất cả các kiểu ý kiến của những người khác theo cách đúng đắn và rộng lớn nhất.”

Copernicus

“Vì tôi không say mê lắm với những quan điểm của riêng mình nên tôi không coi trọng suy nghĩ của người khác về chúng. Tôi biết rằng những ý kiến của một nhà triết học không phải là chủ đề cho sự phán xét của những người bình thường, bởi vì đó chính là sự nỗ lực của ông ta nhằm tìm kiếm sự thực trong mọi vấn đề, trong phạm vi sự cho phép của Chúa trời với loài người. Tuy vậy, tôi cho rằng cần xa lánh những quan điểm hoàn toàn sai trái. Những người biết rằng sự kết luận của nhiều thế kỷ đã đưa tới việc thừa nhận quan điểm rằng trái đất đứng yên ở trung tâm vũ trụ, như trung tâm của nó là trung tâm của vũ trụ, Tôi phản đối, coi đó là một tuyên bố điên cuồng nếu tôi đưa ra điều xác nhận rằng trái đất chuyển động.

“Khi một con chuyển động êm đềm về phía trước, các thủy thủ thấy chuyển động của nó được phản ánh qua mọi sự vật bên ngoài, tuy nhiên mặt khác họ cũng có thể cho rằng mình đang đứng yên, cùng với mọi vật trên thuyền. Theo một số cách, chuyển động của trái đất có thể là điều không thể nghi ngờ đưa lại cảm giác rằng toàn thể vũ trụ đang chuyển động.

“Vì thế cùng với những lý thuyết cổ đại, vốn không còn chính xác nữa, chúng tay hãy cho phép các lý thuyết mới đó được xuất hiện, đặc biệt khi chúng tỏ ra rất chính xác, đơn giản và mang lại nhiều thông tin quan sát quý báu. Khi các lý thuyết còn được quan tâm, không ai có thể chờ đội một sự chính xác hoàn toàn từ thiên văn học, thiên văn học không thể cung cấp điều đó, ít nhất anh ta chấp nhận các ý tưởng chính xác được đưa ra cho một mục đích nào khác, và việc quay lưng lại với nó chính là điều ngu xuẩn lớn hơn việc quan tâm tới nó. Tạm biệt.”

Bài đọc thêm:        Tuyên bố của Thượng viện Ba Lan ra ngày 12 tháng 6 năm 2003

“Ở thời điểm kỷ niệm năm trăm ba mươi năm ngày sinh và bốn trăm sáu mươi năm ngày mất của Mikołaj Kopernik, Thượng viện Cộng hòa Ba Lan bày tỏ sự kính trọng sâu sắc nhất và cầu nguyện cho con người Ba Lan kiệt xuất đó, một trong những nhà khoa học vĩ đại nhất trong lịch sử Thế giới. Mikołaj Kopernik, nhà thiên văn học nổi tiếng thế igới, tác giả của công trình mang tính đột phá “O obrotach sfer niebieskich” là người đã “Bắt Mặt trời đứng yên và Trái đất chuyển động”. Ông đã tự nâng mình thành một nhà toán học, kinh tế học, luật sư, bác sĩ và linh mục cũng như là một người bảo vệ Lâu đài Olsztyn trong cuộc chiến tranh Ba Lan-Teutonic kiệt xuất của đất nước. Ký ức về những thành tựu của ông sẽ tồn tại lâu dài và trở thành một nguồn cảm hứng cho các thế hệ tương lai.”

( Allgemeine Deutsche Biographie )

“Vấn đề quốc tịch của Copernicus đã trở thành chủ đề của nhiều cuốn sách khác nhau; một sự tranh cãi về quốc tịch của người sáng lập ra quan niệm hiện tại của chúng ta về thế giới giữa Ba Lan và Đức, nhưng như đã được chỉ ra rằng về quốc tịch cha mẹ của Copernicus chúng ta không thể chắc chắn đươợcđiều gì; cha ông dường như khi sinh là một người slavơ, mẹ ông là một người Đức; ông đã sinh ra tại một thành phố; nơi chính quyền quản lý nó và người dân sử dụng hệ thống giáo dục Đức, tuy nhiên ông sinh ra với giấy tờ của Ba Lan; ông đã học tập tại Cracow ở thủ đô Ba Lan, sau đó tại Italia và sống tới cuối đời ở Frauenburg với tư cách một tăng hội; ông viết sách bằng tiếng Latinh và tiếng Đức. Trong khoa học ông là một con người, không thuộc về một quốc gia, công việc của ông, những nỗ lực của ông thuộc về cả thế giới, và chúng ta không quá quan tâm tới việc thực tế Copernicus là một người Ba Lan hay người Đức, mà coi ông là một người có tâm hồn tự do, một nhà thiên văn học vĩ đại, người cha của ngành thiên văn học mới, tác giả của một cái nhìn đúng đắn về thế giới.”

Tháng 8, 2005, một nhóm các nhà khảo cổ học do Jerzy Gąssowski, giám đốc một viện khảo cổ họcnhân loại họcPułtusk chỉ huy đã khám phá ra nơi mà họ cho là mộ của Copernicus sau khi kiểm tra bên dưới sàn Nhà thờ Frombork. Kết quả này có được sau một năm tìm kiếm, và việc phát hiện này chỉ được thông báo vào ngày 3 tháng 10, sau khi họ đã tiến hành

 

 

Nhà thờ Frombork – Nơi chôn cất Copernicus

tìm kiếm thêm. Gąssowski nói ông “hầu như tin chắc 100% rằng đó là Copernicus”. Các chuyên gia pháp y đã sử dụng xương sọ để tái tạo một khuôn mặt rất giống với những đặc điểm trong bức chân dung của Copernicus, trong đó có cái mũi gẫy và vết sẹo trên mắt trái. [6]. Các chuyên gia cũng quả quyết rằng xương sọ này là của một người đàn ông đã chết khi khoảng 70 tuổi – tuổi của Copernicus khi ông qua đời. Mộ ở tình trạng xấu và không phải tất cả xương cốt đều còn. Các nhà khảo cổ học hy vọng tìm thấy họ hàng của Copernicus để xác định bằng DNA.

Bối cảnh lịch sử về vấn đề quốc tịch của Copernicus

 

( Đồng tiền Ba Lan có in hình Copernicus trước khi vào EU)

Vì sự không chắc chắn của các nhà địa lý, tới nay vẫn còn vấn đề đang tranh cãi về việc Copernicus là người Đức hay người Ba Lan. Cha của Copernicus, cũng tên là Nicolaus và có thể là họ Koppernigk, từng là một công dân của Kraków, sau này là thủ đô Ba Lan, nhưng ông đã rời thành phố năm 1460 để chuyển tới Toruń. Thành phố này là một phần của Liên minh Hanseatic, cũng như là Liên bang Phổ mà chỉ vài năm trước khi Copernicus ra đời đã xảy ra một cuộc khởi nghĩa (ngay sau đó dẫn tới Cuộc chiến mười ba năm khi họ yêu cầu vua Ba Lan sáp nhập Phổ vào lãnh thổ của ông) để giành độc lập từ Teutonic Knights, những người đã cai trị vùng này trong hai trăm năm, áp đặt thuế nặng nề làm chậm phát triển kinh tế trong tỉnh. Với Hiệp ước Toruń lần hai năm 1466, thành phố này và phần phía tây của Phổ được gọi là Royal Prussia trở nên có quan hệ với Vương quốc Ba Lan, vốn đã ủng hộ cuộc khởi nghĩa, trong khi phần đông vẫn nằm dưới quyền cai quản của Teutonic Order trở thành Ducal Prussia sau đó.Copernicus, được gọi Mikołaj Kopernik trong tiếng Ba Lan và Nikolaus Kopernikus trong tiếng Đức, sinh ở Toruń và sống gần trọn cuộc đời làm việc ở Royal Prussia, một nơi tự trị và là một vùng đất của Hoàng gia Ba Lan – nó có nghị viện riêng, triều đình, ngân khố (mà Copernicus có tham gia) và quân đội. Ông cũng trông nom việc bảo vệ Allenstein/Olsztyn với vị trí chỉ huy các lực lượng của nhà vua Ba Lan khi đội quân của Albert xứ Brandenburg bao vây thành trì.

Vào thế kỷ 19, với sự nổi lên của chủ nghĩa quốc gia Đức, những cố gắng nhằm tuyên bố rằng Copernicus chính là người Đức và bác bỏ những quan hệ của ông với Ba Lan, tuy nhiên, sau năm 1945 những cố gắng đó đã hoàn toàn thất bại. Để đối lại, người Ba Lan gắng tuyên bố rằng Copernicus thực sự là người Ba Lan và cố gắng bác bỏ những nguồn gốc Đức có thể có của ông. Có lẽ gia đình ông về mặt chủng tộc là người Đức, và chắc chắn Copernicus nói thạo tiếng Đức, trong khi không có minh chứng trực tiếp về việc ông biết tiếng Ba Lan. Ngôn ngữ chính của ông dùng khi viết là tiếng Latinh. Tuy nhiên, Copernicus sinh ở Đông Phổ, sau này là Hoàng gia Phổ hay Phổ Ba Lan vì những mối quan hệ của nó với Vương quốc Ba Lan. Ông đã trở thành một người dân tỉnh Prussian Ermland hay Warmia, một địa phận giám mục được miễn trừ, trong suốt phần đời còn lại ông là một thần dân trung thành của Catholic Prince-Bishops vào thời điểm khi đa số người Phổ và Đức đã theo đạo Tin lành. Hiện nay ông được chấp nhận chung là người Ba Lan. Cùng lúc đó, cần nhớ rằng trong thời Copernicus, quốc tịch có ít ý nghĩa hơn hiện nay, và mọi người thường không nghĩ rằng họ là người Ba Lan hay người Đức[3]. Vì thế, trong hoàn cảnh hiện tại, Copernicus có thể được coi là người Đức Ba Lan về mặt chủng tộc, nhưng đặt một con người trong lịch sử vào hoàn cảnh hiện đại thì không có ý nghĩa gì. Điều quan trọng là đặt Copernicus trong hoàn cảnh lịch sử và khoa học của ông.

( Nguồn trích dẫn : Bách khoa mở Wikipedia.com )

 

 

CHUYÊN MỤC THƠ VĂN

           Thơ Trần văn Kinh\

 

7. Chiếc máy tạo khuôn

 

Vẫn còn lấp lánh vàng son

Vẫn còn mua bán thì còn dập khuôn

Tò mò gặng hỏi càn khôn

Ở đâu khuôn sáo cũ mòn đeo đai

 

Đã riêng một vẻ hinh hài

Thì cho riêng nốt chút tài mà yêu

Rửa tai nghe tiếng gió chiều

Mới hay hoa lá có nhiều màu xanh

 

Lung linh sắc biếc trên cành

Phải đâu hoa nhựa mà đành giống nhau

Vô thương, vô cảm, vô sầu

Nằm trong chiếc tủ kính màu vậy thôi

 

Màu xanh thật, sống ngoài trời

Nghe màu xanh giả dạy đời cách xanh

Con chim non biết ngọn ngành

Hơi sương hương nắng trên cành nó yêu

 

 

               Hiếu Bình ( sưu tầm)

Màn cầu hôn của đôi trẻ gốc Việt

01/10/2011 22:37

Nam Trần ngỏ lời cầu hôn Trang Janie giữa vòng vây đám đông – Ảnh Chụp qua Youtube

Chuyện tình của hai cựu sinh viên trường ĐH California (Los Angeles, Mỹ) làm nóng cư dân mạng bởi màn cầu hôn độc đáo.

Bắt đầu đoạn phim trên http://www.youtube.com/watch?v=c0dGRDvmO54, chàng trai tỏ vẻ rất hân hoan trước thời khắc quan trọng và giới thiệu sẽ cầu hôn với bạn gái bằng vũ điệu Flash Mob (nhóm người nhảy ở nơi công cộng một cách ngẫu hứng).

Khi cô gái vừa xuất hiện ở điểm hẹn hò là khuôn viên trường ĐH California, cũng là lúc giai điệu ca khúc Can’t take my eyes off you (tạm dịch: Chẳng thể nào rời mắt khỏi em) của Clay Aiken vang lên. Cô ngơ ngác không hiểu và nhìn xung quanh để xác định xem tiếng nhạc cất lên từ đâu. Ngay sau đó, hơn 200 người với đủ mọi lứa tuổi đang tản mát ngồi, đứng khắp nơi liền tập hợp để hòa chung vào vũ điệu Flash Mob với nhiều kiểu nhảy lạ mắt… khiến cô gái vô cùng bất ngờ.

Đến đoạn điệp khúc với những câu hát ngọt ngào: “I need you, baby/To warm a lonely night/I love you, baby…” (tạm dịch: anh cần em trong đời, để đêm thôi không còn cô đơn, anh yêu em…), chàng trai  cùng tham gia vào đội hình nhảy khiến người bạn gái thật sự xúc động và liên tục đưa tay lau nước mắt.

Vũ điệu Flash Mob kết thúc sau gần 4 phút, chàng trai nắm chặt tay bạn gái bước vào giữa vòng tròn đông người để nói lời cầu hôn: “Em nhớ nơi mình gặp lần đầu không? Sảnh đó ở phía trên kia, nhưng không đủ chỗ để nhảy. Anh muốn em biết rằng anh muốn sống bên em trọn đời, cùng làm mọi việc với nhau. Anh rất yêu em, và nếu em cho phép, anh muốn làm em được hạnh phúc. Anh hứa những ngày tới của chúng ta sẽ tràn đầy niềm vui, tiếng cười, sự phiêu lưu và cả những điệu nhảy. Em là cô gái đẹp nhất anh từng thấy và em đã sở hữu trái tim anh. Em sẽ cưới anh chứ?”. Và chàng trai quỳ xuống trao nhẫn cho cô. Cô gái bật khóc, ôm bạn trai và trả lời rằng, “Duh” (Dĩ nhiên ạ!). Đám đông xung quanh reo hò, cổ vũ chúc mừng hạnh phúc của đôi bạn trẻ.

Ngay sau khi xuất hiện trên YouTube vào ngày 24.9, màn cầu hôn này đã trở thành tâm điểm thu hút chú ý của cộng đồng mạng. Tính đến tối 30.9, chỉ chưa đầy một tuần nhưng sắp đạt mốc 1 triệu lượt truy cập. Đồng thời đoạn phim này cũng được cư dân mạng chia sẻ cho nhau và xuất hiện ở khắp các mạng xã hội khác…

Không những vậy, màn cầu hôn bằng vũ điệu Flash Mob này cũng thu hút giới truyền thông ở Mỹ. Trang tin của Đài truyền hình KTLA-TV tại Los Angeles đã xếp đoạn phim này vào top 5 tin tức nổi bật nhất trong ngày. Còn Kênh truyền hình CNN đã mời cặp đôi này xuất hiện trên bản tin sáng American Morning để kể về tình yêu của mình. Theo bản tin này, đôi bạn trẻ này cho biết họ là người Mỹ gốc Việt, chàng trai tên Nam Trần, đang là thành viên ban nhạc Thomas Apartment, chơi guitar bass. Còn cô gái tên Trang Janie, là chuyên viên trang điểm cho các thành viên ban nhạc và ca sĩ.

Nam Trần chia sẻ trên CNN, khuôn viên trường ĐH California chính là nơi anh và Trang Janie lần đầu tiên gặp nhau và ghi dấu nhiều kỷ niệm của hai người. Vì cả hai đều yêu nhạc, yêu những điệu nhảy nên cầu hôn bằng Flash Mob sẽ là cách giúp hai người gần nhau hơn. Anh cho rằng màn cầu hôn vừa qua giống như một vở nhạc kịch giữa đời thực. Trang Janie kể thêm những bài hát và điệu nhảy là một phần quan trọng trong mối quan hệ của hai người.

                           CHUYÊN MỤC CHUYỆN XƯA…CHUYỆN NAY

 

 

Trương Quang Đệ:

 

                      SUY NGHĨ VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM QUA CÁC

             TRẢI NGHIỆM CÁ NHÂN

 

 

Tôi đi học từ năm 1942, lần lượt qua các lớp đồng ấu (cours enfantin), lớp dự bị (cours préparatoire) và lới sơ đẳng (cours élémentaire). Tháng ba năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, tôi tiếp tục lớp sơ đẳng dưới thời Trần Trọng Kim và nhận bằng yếu lược vào năm đó. Năm học 1945-1946, dưới chính thể dân chủ cộng hoà, tôi học lớp nhì, sau vài tháng được lên lớp nhất cho đến hết năm và dự thi tiểu học do chính thể mới tổ chức.

Bây giờ nhớ lại, thấy một điều kỳ lạ trong những năm 45-46-47 của thế kỉ trước là sự chuyển tiếp nhẹ nhàng, tự giác, hồ hởi tự nguyện, không bị một ý thức hệ nào áp đặt. Các thầy cô thời đó khi dạy, khi coi thi, khi chấm thi đều đàng hoàng nhất mực, công bằng và nhân ái. Anh họ tôi tên là Bùi Khuyến, vừa đỗ thành chung năm ấy được Ty Giáo dục của chính thể mới bổ dụng làm giáo viên tiểu học trường làng, dạy đồng thời lóp nhì và lớp nhất. Anh kể: “Dạo ấy Ty trưởng là một vị thân sĩ hoàng phái, không nắm được đường lối cách mạng ra sao. Nhưng ông căn dặn các thầy cô trong tỉnh phải cố gắng theo kịp thời cuộc”. Những giờ Việt văn thầy cô say sưa nói về ca dao tục ngữ, về các bài thơ yêu nước, về các vị anh hùng cưu quốc. Giờ Pháp văn vẫn được duy trì và các thầy cô hứng thú nói về Paris, về cuốn “Vô gia đình”, về Paul và Virginie. Rõ ràng một khi con người được thực sự giải phóng thì cả thầy lẫn trò biết mình phải làm gì, không cần ai chỉ thị hay áp đặt. Điều mới mẻ đối với cả thầy lẫn trò là việc hoạt động ngoại khoá diễn ra sôi nổi hơn trước nhiều: cắm trại, trình diễn văn nghệ, mít tinh, hội họp, thi sáng tác văn thơ…

Những năm 47-49, chiến tranh diễn ra ác liệt ở Bình Trị Thiên. Chúng tôi không còn biết học ở đâu nữa. Vùng tạm chiếm cũng như vùng tự do hay vùng tranh chấp, các trường đều đóng cửa. Ở các vùng quê khó tìm ra giấy bút, sách vở. Bọn trẻ chúng tôi tụ tập dăm bảy đứa ngồi học với nhau khi kiếm được một tờ báo cũ hay một cuốn sách thiếu nhi.

Đến cuối năm 1949 tôi mới được gửi ra Hà tĩnh học năm thứ nhất PTCS ở Hương Khê. Đội ngũ giáo viên đến từ các trường ở Huế, Vinh và từ miền Bắc. Chương trình học là chương trình Hoàng Xuân Hãn nổi tiếng được soạn thay cho chương trình Pháp-Việt cũ. Dạo ấy chưa hình thành ý thức hệ XHCN chính thống, tư tưởng chủ đạo của chính quyền mới là độc lập dân tộc với phương châm dành cho văn hoá giáo dục là: dân tộc, khoa học, đại chúng do báo Tiên Phong khởi xướng năm 1946. Lúc đó ở Liên khu IV ông Phạm Đình Ái làm giám đốc Khu Giáo Dục. Đội ngũ thầy cô thời điểm ấy sắc sảo đáng ngạc nhiên. Nhiều thầy cô đảm nhiệm dạy nhiều môn khác nhau với chất lượng ngang nhau. Nhiều người còn nhớ đến các thầy Lê Quang Huỳnh và Lê Quang Long. Thầy Huỳnh dạy hết các môn xã hội và ngoại ngữ (Anh, Pháp). Thầy Long vừa dạy các môn tự nhiên (Hoá, Sinh vật…) vừa dạy cá nôn xã hội và ngoại nghữ (Việt văn, tiếng Anh, tiếng Pháp….). Địa hạt văn hoá tư tưởng dạo đó hoàn toàn cởi mở. Hội nghiên cứu chủ ngĩa Mác (tên gọi tổ chức Đảng trong thời hoạt động không công khai sau khi giải tán) tổ chức những cuộc tranh luận thâu đêm giữa thấy và trò về thời cuộc. Người thì bênh vực chủ nghĩa Mác, ca ngợi Staline, Dimitrov, Rosa Luxembourg. Kẻ thì hăng hái phản bác, coi chủ nghĩa xã hội kiểu Liên xô là thiếu dân chủ. Nhưng không ai thành kiến với những người ấy cả, không ai coi họ là phản động hay nguy hiểm cả. Chương trình Hoàng Xuân Hãn mô phỏng chương trình Pháp với các hệ tú tài phân ban thuộc trường trung học chuyên khoa: Tú tài triết, tú tài vạn vật…Trong lớp, thầy và trò đàm đạo, tranh luận thẳng thắn, sôi nổi. Học sinh tự học là điều tự nhiên, vì thầy cô cho bài tập không hạn chế vào những điều học ở lớp mà phải tham khảo nhiều tài liệu khác. Điều tối kị là sao chép nguyên si những đoạn văn mà không chú dẫn rõ ràng. Thi cử được tổ chức nghiêm chỉnh, các cuộc hỏi thi vấn đáp công khai cho người quan tâm đến dự. Qua các cuộc thi vấn đáp, người bên ngoài có thể biết học sinh nào xuất sắc hay kém cỏi. Việc thi đỗ, thi rớt mọi người có thể kiểm tra.

Cuối năm 1950, thời cuộc nghiêng về chủ nghĩa xã hội do thắng lơi của Mao Trạch Đông ở Trung Quốc. Ở Việt Nam, trong các vùng do chính quyền cách mạnng kiểm soát, có chủ trương thay đổi lớn về giáo dục, tạm gọi là Cải cách giao duc lần I. Trong hệ thống giáo dục mới, về cơ cấu trường lớp và chương trình, ảnh hưởng Liên xô là chủ yếu (thực ra là ảnnh hưởng của truyền thống Nga). Từ hệ thống 12 năm phổ thông rút lại thành 9 năm : 4 năm tiểu học (cấp I), 3 năm PTCS (cấp II) và 2 năm PTTH (cấp III). Phương châm giáo dục là học chữ kết hợp lao động chân tay giản đơn. Bỏ hẳn ngoại ngữ. Nội dung học “hậu kim bác cổ”. Cho điểm theo năm bậc từ 1 đến 5. Tình hình đó kéo dài cho đến năm 1975.

Dạo đó tôi học xong ĐHSP (Khoa Toán) và được phân công đi dạy trường cấp ba trong ba năm ở Thanh Hoá.  Tôi nhớ thời còn là sinh viên, tôi dự nhiều buổi gặp gỡ Thủ tướng Pham văn Đồng. Lần gặp nào tôi cũng nghe thủ tướng phàn nàn về sự xa rời thực tế của nhà trường  chúng ta. Nhà thơ Tố Hữu phụ trách văn hoá giáo dục thì trong nhiều hội nghị phê phán nhà trường ta không chú trọng lao động chân tay, chỉ lí thuyết suông. Có hôm ông Tạ Quang Bủu, bộ trưởng ĐH và THCN mạnh dạn phát biểu: ” Nhân có anh Tố Hữu đây, anh chỉ ra cụ thể các trường đại học phải làm gì cho đúng đường lối?”. Ông Tố Hữu tránh không trả lời câu hỏi đó. Người ta thấy ông bực mình vì quả thực ông chỉ biết nói vậy chứ giải pháp thì đâu phải việc của ông? Và các trường cứ loay hoay như vậy cho đến ngày đổi mới.

Tôi nhớ mãi một chuyện xẩy ra khi tôi dạy ở Trường cấp III Lam sơn, Thanh Hoá. Tôi làm giáo viên chủ nhiệm đưa lớp tôi đi lao động một tháng trời ở một làng gần Sầm sơn. Có một em học sinh tên là X. lao động cực kì xuất sắc. Năng suất gặt, đập lúa, đào mương, đắp đập …đều vượt xa các bạn kể cả những nông dân chính cống. Khi chúng tôi sắp trở lại trường, người ta tổ chức một cuộc mít tinh để tuyên dương những gương sáng lao động và tuyên truyền ý thức lao động cho cánh trẻ. Học sinh X. là đối tượng sẽ được tôn vinh đầu tiên. Đến phút tuyên dương, người ta không thấy X. đâu cả. Có người cho biết X. ốm nặng không dậy được. Ít lâu sau khi tôi đến thăm X. tại nhà, anh ta tâm sự với tôi là chẳng đau ốm gì, chẳng qua muốn tránh mặt không muốn nhận phần thưởng mà thôi. X. nói: “Các thầy dạy chúng em phải học tập nông dân, cố gắng nắm bắt kĩ thuật của họ, kiến thức của họ. Em đã làm cho mọi người thấy rằng em vượt họ dễ dàng từ lâu. Chúng em đi học cốt để hiểu biết, để rèn luyện trí não, để giúp nông dân thoát cảnh đói nghèo lạc hậu, chứ đâu phải để rèn luyện cơ bắp và chìm mãi trong cảnh lạc hậu!”.

Phản ứng của X. là phản ứng chung của giáo viên và học sinh với đường lối giáo dục thô thiển thời đó.Ai cũng thấy kiểu đóng cửa trường đi lao động triền miên như vậy là không hay. Ai cũng thấy học 9 năm, cho điểm năm bậc là không hay. Ai cũng thấy chương trình kiểu Nga (sách thời Nga hoàng in lại) là lạc hậu vì Nga không biết đến cải cách Erlanghen năm 1936 ở Đức. Càng ngày những bức xúc ngấm ngầm hay công khai cũng được Bộ Giáo dục cảm nhận  và năm 1964 Bộ mở hội nghị cải cách giáo dục ở Bãi Cháy. Tôi vinh dự được tham gia hội nghị đó. Hội nghị diễn ra trong một tình huống “nghịch lí về tư tưởng”. Sau báo cáo của Bộ và của nhiều cơ quan liên quan về tình hình giáo dục, đặc biệt về sự hình thành nền giáo dục xã hội chủ nghĩa trên cơ sở lao động chân tay, đào tạo những lớp người sống tự cung tự cấp (tự túc một phần lương thực), những người tham dự nhận thấy không còn cơ hội để nói lên bức xúc của mình nữa. Một “sự cố” đáng lưu ý là có một người trí tuệ có lẽ không bình thường nêu lên câu hỏi: “Xin Bộ giải thích tại so nền giáo dục của ta ưu việt là vậy mà phải cải cách?”. Tôi nhớ là bộ trưởng, các thứ trưởng và cả Thủ tướng Phạm văn Đồng đều bất ngờ trước câu hỏi kì cục đó. Sau một hồi lúng túng, các vị lãnh đạo cũng tìm ra được câu trả lời. Đó là dầu giáo dục ta đã rất ưu việt, nhưng sự vật bao giờ cũng đi lên, vậy cải cách để phù hợp với xu hướng tiến lên đó. Từ đó về sau, người ta tiếp tục nói về cải cách nhưng nội dung tư tưởng không rõ ràng. Sau 1975, hệ thống chín năm rồi mười năm chuyển lại hệ thống mười hai năm ngày trước, lớp vỡ lòng chuyển thành lớp 1. Suốt thời gian dài này, một mặt có nhiều cuộc cải cách sách giáo khoa để đưa vào những nội dung cập nhật và thường là quá tải, mặt khác có hai xu hướng nổi bật trong giáo dục mà đáng tiếc không có sự tổng kết nào để thấy được lô gích vấn đề. Xu hướng thứ nhất là xu hướng “công nghệ” của Hồ Ngọc Đại, rèn luyện tư duy học sinh theo suy luận hình thức của Bourbaki. Xu hướng này được nhiều nơi hưởng ứng vì thấy mới lạ và “trí tuệ” nhưng do những mâu thuẫn nội tại, vả lại không được các giới có thẩm quyền ủng hộ, đành phải im lặng rút lui. Xu hướng thứ hai ảnh hưởng tư tưởng cách mạng văn hoá Trung Quốc, lấy mô hình “thầy thuốc chân đất” làm chuẩn, loay hoay tạo ra những trường vừa học vừa làm mà đỉnh cao là Trường Thanh niên Lao Động Xã Hội Chủ Nghĩa Hoà Bình, thành trì của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Nhà thơ Tố Hữu nhiều lần về thăm trường này và tuyên bố đó là mô hình giáo dục cho toàn quốc. Ông cũng khuyến khích các địa phương mở ra những trường vừa học vừa làm như vậy. Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, thứ trưởng bộ Giáo dục lúc đó là người hăng hái mở rộng mô hình Hoà bình cho nhiều tỉnh thành toàn quốc, trong đó có trường vừa học vừa làm Tân Lâm ở Quảng Trị. Bản thân tôi cũng như nhiều đồng nghiệp khác vào thời đó luôn có mặc cảm là mình đi không đúng đường lối, mình chỉ chăm lo chuyên môn lí thuyết “tư sản” trong khi cần phải biến thanh thiếu niên thành những người lao động chân tay càng giản đơn càng tốt. Không ai dám nghĩ là mình phải rèn luyện trí tuệ cho học sinh, còn nói gì đến óc thẩm mỹ hay ý thức phê phán, phản biện! Trong hoàn cảnh như vậy, cơ sở trường lớp từ tiểu học đến đại học chỉ có thể ở trong trạng thái nhếch nhác, cư xá sinh viên quá tải, bẩn thỉu, điều kiện sống của thầy giáo và học sinh dưới mức trung bình của toàn dân. Vào những năm bảy mươi ở miền Trung lưu truyền giai thoại sau: Một vị cách mạng lão thành, sống qua nhiều năm trong ngục tù thực dân kể cả Côn Đảo, đến nói chuyện với sinh viên Trường ĐHSP Vinh về truyền thống cách mạng. Cuối buởi nói chuyện một sinh viên hỏi: “Trong các nhà tù người ta cho các bác ăn uống ra sao?”. Nhà cách mạng trả lời ngay: “Hết sức kham khổ tồi tệ….”, rồi ông nói thêm :”Nhưng suy cho cùng còn khá hơn các cháu hiện nay nhiều!”

Rõ ràng việc đào tạo các thế hệ tương lai trong các điều kiện nhếch nhác như vậy chỉ có thể tạo ra những người không có ý htức trách nhiệm cao với cuộc sống được.

Một trong những ý nghĩ ám ảnh nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ngày trước là làm sao để có “bản sắc dân tộc, chống lai căng và mọi hình thức phóng khoáng khác. Vì ám ảnh ấy người ta không phân biệt thành tựu của nhân loại với những thành tựu trong các nước phương Tây, loại bỏ tính quốc tế, tính toàn cầu của các thành tựu khoa học, coi những học thuyết mà phe xã hội chủ nghĩa không có là tư sản. Đối với ngoại ngữ tâm lí chung là dè dặt thậm chí cảnh giác thù nghịch, coi ngoai ngữ là con dao hai lưỡi.  Sau 1954  miền Bắc không cho các trường dạy tiếng Anh, tiếng Pháp nữa (trừ Trường Albert Sarraut tồn tại cho đến khi Mỹ đánh phá miền Bắc năm 1964). Lí do đơn giản: những thứ tiếng đó là của thế giới tư bản. Sau đó một vài năm, lác đác một số trường ở các thành thị bắt đầu dạy tiếng Nga và tiếng Hoa. Thực ra việc học tiếng Nga không được mặn mà lắm vì nhiều sự kiện chính trị chi phối. Nhưng năm 60 do chống tư tưởng xét lại nên người ta cảnh giác với sách báo Nga. Tiếng Hoa thì đến năm 1978 do mâu thuẫn với Trung Quốc nên cũng bỏ không dạy nữa.

Thời tôi tham gia ban phụ trách Khoa Pháp thuộc ĐHSPNN Hà nội, mỗi lần đi họp tôi đều được cấp trên nhắc nhở dặn dò rằng sinh viên ngoại ngữ nhiễm tính độc hại bên ngoài nên rất phức tạp, cần theo dõi để giáo dục, không được lơ là. Hễ có vụ lộn xộn nào xẩy ra người ta qui ngay cho “dân ngoại ngữ”, không cần tìm hiểu đích xác ra sao.

Về chất lượng giáo dục, có thể hình dung điều nghịch lí sau đây: Học sinh, sinh viên được đào tạo trong nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ưu việt thì thường bị cảm nhận như yếu kém về hiểu biết và năng lực thực hành. Có nhiều vị lãnh đạo cao cấp khi nói công khai thì ca ngợi giáo dục xã hội chủ nghĩa nhưng trong nhà hay ở nơi riêng tư thì tỏ ra lo lắng thấy con cái học hành kém hẳn thời đại họ, tức là thời Pháp thuộc. Nhà văn Nguyễn Đình Thi thường chê cánh nhà văn trẻ , những người được hưởng nền giáo dục mới, là tù mù, không biết Kant mà cũng chẳng biết Bacon là ai, cái gì cũng ù ù cạc cạc.

Sự yếu kém về kiến thức văn hoá đó làm cho cán bộ ta, nhất là cán bộ đối ngoại, hết sức lúng túng trong công tác. Anh Vũ Quang Chuyên, giảng viên Khoa tiếng Anh, ĐHSP Hà nội những năm 60-70 của thế kỉ trước được trên luôn luôn mời làm đủ việc, do anh thạo tiếng Anh và có trình độ văn hoá cao. Anh đóng vai nghị sĩ để đi họp ở Úc, có nghị sĩ nào của ta làm được việc đó đâu? Anh đóng vai đại úy đi họp ban liên hợp ở Tân Sơn  Nhất. Có một sĩ quan quân đội Sài gòn hỏi khăm anh: “Tuổi tác như anh mà chỉ là đại úy thì chậm quá đấy!” Anh cười: “Tôi chỉ là lính văn phòng, lên cấp chậm.”. Anh còn đóng nhiều vai giáo sư để dự hội thảo quốc tế vì các giáo sư thực thụ thì không làm được việc đó. Anh còn đóng vai giám đốc công ty nữa. Qua trường hợp đóng vai của anh Chuyên ta thấy lỗ hổng giáo dục của ta quá lớn. Trong việc hợp tác quốc tế, cán bộ ta từ thấp đến cao đều phải dùng phiên dịch, không ai nói và cũng không được phép nói thẳng với đối tác bằng ngoại ngữ. Dạo công tác ở Hà nội và ở Huế, tôi thường được gọi đi làm phiên dịch cho cán bộ tỉnh và bộ. Vì trình độ văn hoá hạn chế nên cán bộ ta ít hấp dẫn được đối tác. Hãy hình dung các chị ở Trung ương Hội Phụ nữ lúng túng thế nào khi phải nói chuyện với Jane Fonda.  Có vị lãnh đạo tỉnh khoe với khách rằng gạo Viêt Nam ngon nhất thế giới. Có vị lại nói rằng xe điện ngầm Matscơva chạy đến 350 km/h và dừng lại mỗ ga mười lăm phút.

Về giáo dục đại học, theo quan điểm giáo dục xã hội chủ nghĩa và theo mô hình xô viết, chế độ chỉ cần các trường chuyên ngành để đào tạo những người làm việc cho bộ máy chuyên môn và kinh tế nhà nước. Từ đó ngành nào có trường đại học ngành ấy: Đại học ngân hàng, Đại học ngoại giao, Đại học thuỷ lợi vv. Các trường đại học đa ngành vốn phục vụ việc bồi dưỡng dân trí thì không phát triển. Những trường gọi là Đại học tổng hợp là các cơ sở trang trí và thực chất là các trường khoa học cơ bản. Loại trường này đào tạo một số cán bộ nghiên cứu nhưng đường lối không rõ rệt. Nhưng sinh viên tốit nghiệp ĐHTH nếu được nhận về một cơ sở nghiên cứu nào đó phải được đào tạo lại bằng cách cho ra nước ngoài học tiếp. Trong thời gian họ học ĐHTH không có chăm sóc gia đặc biệt gì.

Phương pháp giảng dạy và học tập ở đại học không khác mấy so với trung học phổ thông.  Vẫn thầy đọc trò chép, không thảo luận tranh luận gì, càng không có nghiên cứu gì nghiêm chỉnh. Chị Hoàng Xuân Sính, khi dạy ở ĐHSP nhiều lần nói vui là ta không có đại học, chỉ có trường cấp bốn mà thôi. Ai cũng thấy chị nói đúng nhưng giải pháp nào để thoát khỏi tình trạng đó, thì không dám bàn cãi.

Do không có các đại học đa ngành tự chủ nên các trường không thể có sáng kiến xây dựng những môn học, ngành học đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội. Người dân muốn học cái gì mình cần thì gần như chịu chết. Ở miền Bắc suốt một thời gian dài người dân không biết học ngoại ngữ ở đâu. Cho đến nay sự phân biệt giữa một bên là nâng cao dân trí, bên kia là đào tạo ngành nghề vẫn còn chưa sáng tỏ Người ta hay nói về bản sắc văn hoá, về di sản nhưng trong chương trình học những thứ đó không hề được phản ánh. Chẳng hạn người ta không hề đòi hỏi sinh viên khoa học xã hội phải có kiến thức cổ ngữ. Chẳng hạn sinh viên khoa Văn phải đọc được chữ Hán, chữ Nôm, sinh viên khoa Sử phải biết ngoài chữ Hán, chữ Phạn (hay Pâli để hiểu văn hoá Chăm), mà phải biết tiếng Pháp nữa. Nói chung giáo dục đại học ta quá dễ dãi, chỉ phục vụ được cho người cần bằng cấp chứ không đủ cho người muốn làm việc.

Nền giáo dục XHCN theo kiểu lao động và đạo đức toàn diện không thực hiện được mục tiêu của nó nên biến tướng thành một thứ đối cực :giáo dục vì bằng cấp và luyện thi gà chọi. Đáng ra nhà trường là trung tâm kiến thức văn hoá thì lại trở thánh những nơi luyện thi bắt buộc, học ở lớp thì ít mà học thêm thì nhiều. Một nhà trường bình thường bỗng dưng thành tổ hợp lớp chuyên lớp chọn. Nền giáo dục đáng ra nhắm tới các mục tiêu XHCN thì chỉ co thành các chỗ phục vụ thi cử bằng cấp. Phương châm thầm lặng nhưng chủ đạo là học để thi, không thi không học, học cốt để lấy bằng, không vì hiểu biết. Vừa qua tôi có dịp nói chuyện với ông Michel Félix, giáo sư kinh tế thuộc Đại học Lille 3, được mời sang dạy và mở chuyên đề ở Hà nội, Đà nẵng và Huế. Dự các lớp chuyên đề của ông là sinh viên, cán bộ các ngành kinh tế và cả cán bộ quản lí. Ông cho biết học viên Việt Nam không hề đặt câu hỏi hay tranh luận, phản bác gì hết. Ông cũng không rõ họ nhận thức được gì hay không, chỉ thấy họ ngồi yên lặng nghe rồi về nhà. Một thời gian dài Bộ bó tay trước tình hình đó. Rồi Bộ gần như đồng loã với xu hướng bằng cấp, thi cử mà ra sức tạo ra những kì thi rùm beng để chỉ đạt những mục tiêu không có ý nhgĩa gì. Những việc vặt chỉ cần giao cho các trường thì Bộ cũng muốn làm lấy. Tôi có cảm tưởng các cơ quan thuộc Bộ rất khoái tổ chức thu cử, xét duyệt, ra qui chế này nọ. Có những qui chế thật “lãng mạn” như thi vào ngoại ngữ phải thi ba môn Toán, văn, ngoại ngữ. Thi Văn, Toán để làm gì? Trong khi học sinh đã tốt nghiệp phổ thông, tức là có trình độ cơ bản về hai môn đó rồi. Tuyển sinh vào ngành ngoại ngữ cốt chọn những người giỏi ngoại ngữ hơn người khác. Tôi nhớ có một em thí sinh người Nghệ An được điểm mười môn Pháp văn nhưng toán kém đành bị loại. Ai cũng tiếc. Việc thích tổ chức thi cử cồng kềnh tốn kém là một thị hiếu thiếu lành mạnh. Trong lúc tôi đang viết những dòng này thì Bộ đang tổ chức kì thi THPT rầm rộ theo từng cụm mà theo các báo thì vô cùng tốn kém. Phải thuê xe chở học sinh vùng xa về các cụm. Phải nhờ công an hộ tống đề thi, bài thi đi hàng trăm cây số vì việc chấm chéo đòi hỏi phải di chuyển như vậy. Để đạt kết quả quan trọng như thế nào? Ai cũng biết trước là thế nào các tỉnh cũng phải có học sinh đỗ khoảng 90% trở lên. Vậy rầm rộ tốn kém để làm gì? Đáng ra theo đúng nhân văn XHCN, cần tránh xa những việc diễu võ dương oai đó. Chỉ cần xây dựng lòng tin đối với các trường, với từng con người giáo viên, để họ căn cứ vào điểm quanh năm mà xét năng lực học sinh. Nếu có sai sót hay lạm dụng thì cĩng không đến mức phải phế bỏ cả công lao giáo dục cả năm của nhà giáo.

Một câu hỏi nghiêm chỉnh được đặt ra là, xét trình độ sinh viên tốt nghiệp hiện nay, và thực tế sử dụng như thế nào trong các ngành hoạt động, các nghiên cứu điều tra cho biết phải đào tạo lại hoàn toàn. Vậy thi vào đại học bị làm khó để làm gì? Theo tôi vấn đề đặt ra hiện nay là tạo thuận lợi cho đầu vào (thi cử nhẹ nhàng, xét năng lực dựa trên kết quả học ở nhà trường vv), và xiết chặt đầu ra, làm cho đầu ra thích ứng với nhu cầu xã hội.Giáo dục chắc chắn phải có nhiệm vụ đào tạo con người, cing cấp cho con người hiểu biết và kỹ năng làm việc, kỹ năng sống trong cộng đồng. Nhưng một nhiệm vụ giáo dục khá quan trọng chưa ai nêu rõ là hạn chế và loại bỏ những trường hợp ngồi nhầm lớp, nhầm chỗ trong phân công xã hội. Thời xưa, mỗi người tự nhận thấy mình sức lực ra sao rồi mới tính chuyện làm việc này việc nọ. Chẳng hạn thấy mình học được khoa học mới thi vào trường Bàch Khoa. Thời nay điều kì lạ là có người không có năng lực trí tuệ nhưng vẫn có tham vọng học cái này cái nọ, làm ông này ông nọ. Sở dĩ có tình hình đó là trong một thời gian dài, cách đề bạt cán bộ của nước ta và những nước xã hội chủ nghĩa nói chung đều lấy tiêu chí “chính trị tư tưởng” làm chuẩn. Miễn là có quá trình hoạt động nào đó thì anh có thể làm thống đốc ngân hàng hay giám đốc viện nghiện cứu. Có những khoa hệ trọng ở bệnh viện bỗng thấy chủ nhiệm khoa mới được đề bạt là người không biết tí gì, có thể làm chết người như chơi. Ở ĐHSPNN Hà nội nơi tôi công tác nhiều năm, có một thời gian khoa trưởng khoa Nga lại không biết tiếng Nga, khoa trưởng khoa Anh lại không biết tiếng Anh. Ngày nay may thay hiện tượng đó không còn tồn tại nữa hay ít ra cũng dưới những hình thức kín đáo hơn. Nhưng dầu sao việc đánh giá con người khách quan và nghiêm chỉnh vẫn phải đặt ra thường xuyên.

Để đảm bảo việc đánh giá và sắp xếp nhân lực một cách hệ thống, các đại học nên có khoa dự bị (chuẩn bị cho học sinh vào học đại học đúng theo khả năng) và nên thành lập nhiều trường dự bị đại học. Qua một hay hai năm ở các lớp dự bị, học sinh được tranh bị ngoại ngữ tương đối hoàn chỉnh và các kiến thức cũng như phương pháp học tập cần thiết cho việc học đại học. Nếu ai không đạt thì chuyển đi làm việc khác hoặc theo học các trường nghề ngắn hạn.

 

Suy cho cùng, vấn đề then chốt chưa được sáng tỏ hiện nay là vấn đề quản lí. Tức là vấn đề con người. Trong các kế hoạch, chương trình, dự án…chỉ thường thấy con số, chẳng hạn đến năm nào đó ta sẽ có bao nhiêu tiến sĩ, mấy trường chuẩn quốc gia vv. Không thấy bóng dáng con người. Mà thực ra chính những con người cụ thể tạo ra bước phát triển của xã hội. Có lẽ người ta muốn dùng câu:”Có những con số này sẽ có cái này” thay cho câu:”Có người này mới có cái này”. Do quản lí bằng con số nên bộ muốn ôm hết từ chương trình sách giáo khoa đến thi cử, bồi dưỡng giáo viên vv. Bộ không nghĩ rằng để cho các cơ sở tự chủ thì họ sẽ làm tốt hơn nhiều. “Thế thì sẽ loạn cho mà coi!”, người ta thường doạ như vậy khi nói đến tự chủ đại học hay tự chủ địa phương hay xoá bỏ độc quyền nhà nước về sách giáo khoa chẳng hạn.

Tôi nhớ lại thời mà hiện nay người ta gọi là thời bao cấp, thực ra là thời xã hội chủ nghĩa chính thống chưa biến dạng như hiện nay. Thời đó ở miền Bắc nhiều đồ dùng cá nhân như xe đạp, máy khâu, radio … phải được đăng kí sử dụng , muốn mua bán, trao đổi phải chịu nhiều thủ tục phiền hà. Người dân kêu ca đề nghị xoá bỏ việc đăng kí thì các cơ quan chức năng trả lời ngay:”Có mà loạn à?” “Ai biết anh dùng nó vào việc gì?”. Thời cấm chợ ngăn sông cũng vậy. Người ta thành thực nghĩ rằng nếu hàng hoá lưu thông tự do thì sinh ra loạn lạc. Tâm trạng lãnh đạo cả một thời bị niềm tin như vậy khống chế. Ngày nay trong nền kinh tế thị trường cởi mở, phóng khoáng, không ai còn sợ loạn lạc nữa và thấy cơ hội cho sáng kiến cá nhân đua nở. Những người quản lí kinh tế thấy việc quản lí trở nên nhẹ nhành, hiệu quả, khoa học, trí tuệ.

Tiếc rằng nền giáo dục vẫn chưa thoát ra được cách làm cũ kỹ của thời xã hội chủ nghĩa chính thống. Con người vẫn gặp nhiều rào cản, thầy cô giáo, học sinh, sinh viên vẫn chịu nhiều bó buộc. Con ngáo ộp “Có mà loạn!” vẫn ám ảnh nhiều người. Để các đại học tự chủ à? Có mà loạn! Để thầy cô đánh giá lấy học sinh mình à? Có mà loạn! Bỏ độc quyền sách giáo khoa à? Có mà loạn!

Thực tế kinh tế thị trường cở mở đã chứng minh tính uyển chuyển của nó, động viên được hết thảy những tài năng của dân chúng. Mong sao có một ngày giáo dục cũng cởi mở đầy hứa hẹn như vậy.

 

Tháng 6 năm 2009

 

TQĐ

 CHUYÊN MỤC SƯU TẦM NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT

 

BQM:

                                             Những từ lấp láy trong tiếng Việt

 

Lấp láy là theo cách gọi của GS Bùi Văn Nguyên(* )từ hồi ông dạy tôi ở lớp đệ nhất  trung học năm 1947 , Nghi lộc.

Từ lấp láy hay láy thường là tính từ ( có một ít là danh từ và động từ) mà phụ âm hoặc nguyên âm đươc lặp lại để tạo thành từ kép ( cặp đôi có khi cặp bốn), từ sau thường không có nghĩa, hoặc có nghĩa phụ giúp cho âm điệu từ mượt mà, màu sắc dịu hơn, cấp độ hòa hoãn hơn ,ví dụ như :vội vàng, nhờn nhợt, xanh xao, buồn bã, ỡm ờ…. Từ láy bốn như:

Khấp kha khấp khểnh

Ngất nga ngất ngưởng.

Láy như thế thường để chỉ cấp độ so sánh trong câu mieu tả.

Ví như :

Để tả Mã Giám sinh, Nguyễn Du đã hạ câu :

Ghế trên ngồi tót sỗ sang,

Với Tú Bà, ông viết:

                                                         Thoạt trông nhờn nhợt màu da,

                                                          Ăn gì to lớn đẫy đà lám sao!

Thât là những câu muôn thở, vạch trần bộ mặt  bọn buôn người từ cổ chí kim vậy

Thày Bùi văn Nguyên đã thống kê được khoảng 700 từ . Chúng được ghép với nhau  theo âm luật là : Hỏi . sắc,  không

Huyền , nặng , ngã .

Hồi đó thày đã chỉ ra cho chúng tôi có bảy trường hợp ngoại lệ như : nhanh nhẹn , bầu bí…tức là không theo quy luật trên. Sau này, không hiểu  trong giáo trình ngữ văn Đại học, giáo sư Nguyên có công bố thêm khám phá gì mới nữa không? Chỉ biết rằng với quãng thời gian dài trên sáu mươi năm, tiếng Việt chúng ta đã phát triển phong phú lên rất nhiều. Riêng từ lấp láy đã có đén gần hai nghìn từ.

Nay ngồi viết bài này, tôi thống kê vội vàng đã có trên hai chuc trường hợp ngoại lệ. Có thể còn sót rất nhiều và đôii từ có nguồn gốc Hán, tôi  đánh dấu(hv ) . Đó là :

Bầu bí, cà kê , chích chòe, công cộng(hv),  dâm dật(hv), đùn đẩy,, gồng gánh, gắng gượng,  hoàng hôn(hv),hài hước ( hv), hú họa, hối hận( hv), khe khẽ,lia lịa, nhanh nhẹn, ngon ngọt, nhiễu nhương, sống sượng, xào xáo, rằn ri… 

 

(*)  GS Bùi văn Nguyênn, quê ở làng Hưng Vận, xã Nghi Hưng, huyện Nghi  Lộc, tỉnh Nghệ An chứ không phải là huyện Can Lộctỉnh Hà Tĩnh như trên mang Vietgle đã ghi.

Ông được Nhà nước Việt Nam phong chức danh Giáo sư Văn học năm 1984, nhà giáo ưu tú và mất ngày 2-4-2003, hưởng thọ 88 tuổi.

             Tác phẩm

Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam (1961, 1962) hợp soạn.

            Nguyễn Trãi (1979).

           Chủ nghĩa yêu nước trong văn học thời khởi nghĩa Lam Sơn (1980).

              Văn chương Nguyễn Bỉnh Khiêm (1988).

              Bạch Vân Quốc ngữ thi tập (1989).

Và rất nhiều chuyên đề về văn học cổ và văn học dân gian Việt Nam…

 

                        CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE_ THƯ GIÃN

 

             Đỗ Cao Đàm ( sưu tầm)

 

Nuôi chồng

 

Nhà sắp có khách, bà vợ tay chống nạnh hất hàm hỏi ông chồng :

– Bộ ông định mặc quần đùi để tiếp khách hay sao vậy ?
Ông chồng hậm hực trả lời :

– Phải, tôi muốn mọi người đều biết bà đã nuôi tôi như thế nào !

Bà vợ không phải tay vừa đáp ngay :

– Được, nếu vậy ông hãy cởi luôn cái quần đùi ra đi, để cho họ thấy ông có đáng để nuôi không !

Ông chồng: !!!!!!

 

Nhiều vợ

 

Một phụ nữ luôn tranh đấu cho Nữ Quyền, gặp một anh thanh niên Hồi giáo có bốn vợ, liền nói với giọng trách móc:
– Tại sao đàn ông Hồi giáo các anh được quyền lấy 4 vợ. Còn phụ nữ thì không được lấy bốn chồng?.
Anh thanh niên điềm tĩnh trả lời:
– Cô có thấy cái xe hơi bốn bánh kia không?
– Thấy thì làm sao?
– Bốn cái bánh xe ấy chỉ cần có một cái bơm thôi. Ngược lại có bao giờ cô thấy một bánh xe cần đến bốn cái bơm bao giờ.
Anh ta nói tiếp
– Tui lấy bốn vợ còn ít đấy. Có người mệnh danh là ” Cải lão Hoàn Đồng ” còn biết cái hội daouu.com. Họ còn lấy nhiều dzợ hơn tui nữa. Vì họ không lấy xe hơi ra làm ví dụ như tui, mà họ lấy xe nhà binh 18 bánh.
Người Phụ nữ !?!!

 

Vế đối  

Trong giờ sinh học, thầy giáo đang giảng bài thì có hứng và ra 1 vế đối :

“Con bò cạp cạp con bò cạp, cạp đúng chỗ bò mà bò đúng chỗ cạp”.

Một học sinh ấp úng, thầy mời đứng dậy, cậu học trò đối :

“Thầy sinh vật vật cô sinh vật, vật đúng chỗ sinh mà sinh đúng chỗ vật”.

Thầy đỏ mặt tía tai, một học trò khác :

“Anh tiểu thương thương chị tiểu thương, thương đúng chỗ tiểu mà tiểu đúng chỗ thương”

Anh học trò khác thêm vào chút xíu:

“Anh cà phê cà chị cà phê, cà đúng chỗ phê mà phê đúng chỗ cà”

Bí mật Osin nữ
Sau kỳ nghỉ hè, bà vợ phát hiện có 2 cái quần lót lạ trong tủ áo. Bà giận dữ hỏi chồng
– Nói cho em biết đây là quần của ai ?
– Anh không biết .
Bà vợ phát cáu, gọi cô hầu lên chất vấn :
– Ai là chủ nhân của cặp quần lót này ?
– Thưa bà, làm sao tôi biết được, chúng không phải của tôi.  Tôi không bao giờ mặc quần lót, không tin bà cứ hỏi ông thì biết …

 

 

 

 

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s