Docago.wordpress.com số ra thứ 4 ngày 12/10/2011 9 (tức 16 tháng 9 năm Tân Mão)

CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

             Đỗ Anh Thơ( sưu tầm- biên soạn)

Chương 15

Montesquieu với lý luận về pháp chính

 

Montesquieu năm 1728

                    Charles-Louis de Secondat, Nam tước de La Brède et de Montesquieu (Charles-Louis de Secondat, Nam tước vùng La Brède và xứ Montesquieu; 18 tháng 1 năm 1689 tại Bordeaux10 tháng 2 năm 1755 tại Paris) là một nhà bình luận xã hội và tư tưởng chính trị Pháp sống trong thời đại Khai sáng, ông thường được biết đến dưới tên Montesquieu. Ông nổi tiếng với lý thuyết tam quyền phân lập.

Cuộc đời:Sau khi tốt nghiệp chủng viện ông cưới Jeanne de Latrigue một giáo đồ Calvin khi ông mới 26 tuổi. Năm sau ông thừa kế tước hiệu Nam tước xứ Montesquieu và Chủ tịch Hội đồng Bordeaux. Ông bắt đầu được biết đến với tác phẩm Lettres persanes (Những lá thư của người Ba Tư, 1721), một tác phẩm chỉ trích xã hội đương thời dưới hình thức thư gửi của một người phương Đông đến thăm Paris. Ông xuất bản tiếp theo cuốn Considérations sur les causes de la grandeur des Romains et de leur décadence (Cân nhắc về các nguyên nhân của sự vĩ đại và sự diệt vong của La Mã, 1734). Cuốn De l’Esprit des Lois (Tinh thần Pháp luật) được xuất bản vô danh năm 1748 và nhanh chóng có nhiều ảnh hưởng không chỉ riêng nước Pháp. Bên cạnh việc quan tâm đến chính trị và xã hội ông còn đi nhiều nước châu Âu như Áo, Hungary và dành sống một thời gian tại ÝVương quốc Anh trước khi trở về Pháp. Thị lực ông giảm sút nhanh chóng những năm cuối đời và ông hoàn toàn mù hắn trước khi mất vì sốt cao năm 1755. Ông được chôn cất tại Paris, Pháp.

Các tác phẩm của Montesquieu phân chia xã hội Pháp thành ba tầng lớp: vua chúa, quý tộc và dân thường. Ông cũng quan sát thấy có hai loại quyền lực nhà nước là chuyên chế và hành chính. Quyền lực của nhà nước hành chính được chia thành lập pháp, hành pháptư pháp. Các quyền này được phân lập và phụ thuộc vào nhau để ảnh hưởng sao cho không một quyền nào có thể vượt quá hai quyền còn lại và ba quyền này được giao cho ba cơ quan khác nhau nắm giữ. Đây là quan điểm cấp tiến vì đã hoàn toàn loại bỏ ba đẳng cấp thời bấy giờ là tăng lữ, quý tộc và những người dân còn lại được gọi là Đẳng cấp thứ ba, tức là đã loại bỏ tàn tích của chế độ phong kiến. Tương tự ông cũng thấy có ba dạng nhà nước tồn tại dựa trên ba “nguyên tắc” xã hội là quân chủ (chính quyền được tự do do một người đứng đầu được thừa kế tức là vua hay nữ hoàng) dựa trên nguyên tắc danh dự; cộng hòa (chính quyền được tự do do người đứng đầu được bầu ra lãnh đạo) dựa trên nguyên tắc đức hạnh; và độc tài (chính quyền bị kiểm soát bởi các nhà độc tài) dựa trên nỗi sợ hãi. Ông cũng cho rằng thể chế chính quyền tốt nhất là quân chủ mà điển hình là nước Anh, ông dành bốn chương trong cuốn Tinh thần Pháp luật để bàn về nước Anh, nơi có nhà nước tự do ôn hòa, được duy trì bởi cán cân những quyền lực. Montesquieu lo rằng ở Pháp, giai cấp quyền lực trung gian (ví dụ như quý tộc) để điều hòa quyền lực của nhà vua, đang bị suy yếu.

Cũng như nhiều người đương thời, Montesquieu còn có nhiều quan điểm gây tranh cãi. Trong khi ông cho rằng phụ nữ có thể lãnh đạo chính quyền thì ông lại tin rằng họ sẽ lãnh đạo không hiệu quả bằng việc họ đứng đầu gia đình. Ông tin tưởng vào vai trò của quý tộc và quyền trưởng nam. Quan điểm của ông đã bị những người theo chủ nghĩa xét lại lạm dụng, ví dụ như, dù Montesquieu là một người đi trước thời đại trong việc phản đối chế độ nô lệ nhưng ông lại bị trích dẫn trong các văn bản là ông ủng hộ điều đó.

Trong cuốn Tinh thần Pháp luật ông cho rằng khí hậu có ảnh hưởng đến bản chất con người và xã hội và có những kiểu khí hậu như ôn đới ở Pháp là ưu việt hơn những nơi khác. Ông cho rằng người xứ nóng thì cũng nóng nảy còn người phương bắc thì cũng lạnh như băng cho nên khí hậu Trung Âu là lý tưởng nhất.

Tac phẩm bất hủ của ông là De l’esprit des lois (Tinh thần Pháp luật, viết năm 1748) năm 1748)

 

Tự do dắt dẫn nhân dân ( tranh của Eugene Delacroix-Pháp)

 

Tinh thần Pháp luật (tiếng PhápDe l’esprit des lois) là một luận thuyết về học thuyết chính trị được ông(Nam tước de Montesquieu) xuất bản dưới dạng ẩn danh vào năm 1748. Đầu tiên nó được xuất bản ẩn danh một phần vì Montesquieu muốn tác phẩm của mình tránh bị kiểm duyệt, sau đó nó nhanh chóng được dịch sang nhiều thứ tiếng khác. Thomas Nugent xuất bản bản tiếng Anh đầu tiên vào năm 1750. Năm 1751 Nhà thờ Công giáo liệt cuốn này vào Danh sách những Cuốn sách Bị Cấm. Tuy nhiên, luận thuyết chính trị của Montesquieu có ảnh hưởng rất lớn đến các tác phẩm của các học giả khác, mà đáng chú ý nhất có: Ekaterina II, người viết Nakaz (Hướng dẫn); Những Đại biểu Đại hội Hiến pháp Hoa Kỳ (Constitutional Convention delegates) của Hiến pháp Hoa Kỳ; và Alexis de Tocqueville, người đã áp dụng phương pháp của Monstequieu vào công trình nghiên cứu xã hội Hoa Kỳ, cuốn Dân chủ ở Mỹ (Democracy in America).

Montesquieu bỏ ra gần hai mươi năm nghiên cứu và viết cuốn sách này, bao quát các chủ đề vềchính trịluật, xã hội học, nhân loại học, và cung cấp hơn 3.000 trích dẫn[1]. Trong luận thuyết chính trị của mình, ông đã bênh vực chủ nghĩa hợp hiến và thuyết tam quyền phân lập, bãi bỏ nô lệ, bảo vệ quyền tự do công dân và nhà nước pháp quyền, và ý tưởng rằng các thể chế luật pháp và chính trị phải phản ảnh đặc tính địa lý và xã hội của từng cộng đồng riêng biệt.

 

 

                                                      Tượng Montesqieu

 

 

 

 

 

 

 

 

                           Đánh chiếm ngục Bastille

 

 

 

 

                                 Quê hương của Monstesqieu

 

 

 

                        Thảo luận về tư tưởng pháp quyền của Montesqieu ( cuộc vận động khởi mông)

                     CHUYÊN MỤC THƠ VĂN

           Thơ của cụ Nguyễn Chân

責於小路

爾很鬼机靈

引吾到處曾相會

天上監臨有月明

隻影夜深楢等待

一仍伶

月明月明

請照伊人已負情

Dịch thơ:

OÁN TÌNH

(Từ khúc)

Trách con đường nhỏ

Sao quá tinh ranh,

Đưa ta đến chỗ từng hò hẹn,

Chứng giám trên đầu có trăng thanh.

Lẻ bóng, khuya rồi, còn đợi mãi,

Vẫn một mình !

Trăng ơi, trăng hỡi !

Soi rõ cho ta kẻ phụ tình !

                        Nguyễn Chân 09/2011

Tác giả làm bài thơ này lấy hứng từ 2 bài :

1- Vọng Giang Nam (trong Tống Từ). Bài đó có câu

“…vì ta xua tan mây cạnh mặt trăng

Soi rõ mặt kẻ phụ tình…”

2- Ca từ của một bài hát trong phim Nga:

“;;;hỡi con đường nhỏ, thân yêu! Mi dẫn ta đi dâu

Gọi ta đến đâu? Người bạn gái vô tâm

Đã cướp mất tình yêu của ta…”

 

Tác giả tự dịch sang tiến Pháp :

 

RANCOEUR DE LA FILLE DÉCU EN AMOUR

Oh ! Sente mignonne et maligue !

Qui, au lieu des rendez-vous, me conduit,

Témoin est la Reine de Nuit,

Je l’attends, je l’attends,

Seule dans la nuit avancée,

Et reste toujours délaissée.

Lune ! Lune-Sainte- Marieuse !

Illumine moi le faciès

Du díciple de l’ìnidèlité !

   CHUYÊN MỤC: CHUYỆN XƯA…CHUYỆN NAY

   Đàm Cao( sưu tầm)

   TRÚC LÂM THẤT HIỀN

 

 

竹林七賢

Anh: Seven Sages in the forest of bamboos.

Pháp: Sept Sages dans la forêt de bambous.

 

Trúc lâm thất hiền, bảy nhà thơ, nhà văn Trung Quốc sống thời kì cuối

Ngụy đầu Tấn, thế kỉ thứ 3, ở ẩn trong rừng trúc, đánh đàn, uống rượu, ngâm

thơ, bàn triết học Lão Trang, nói chuyện huyền viễn để tỏ lòng chống đối

chế độ đen tối đương thời. Trong số đó, nổi tiếng nhất là Nguyễn Tịch và Kê

Khang. Nguyễn Tịch (210 – 263) có 82 bài “Vịnh hoài thi” nói lên nỗi bất mãn

của ông trước hiện thực và nỗi lo lắng buồn thương cho cuộc đời, nhưng lời lẽ

rất kín đáo. Ông “dùng khí mà làm thơ” (Lưu Hiệp), cho nên “khó biết ông nói

gì”, người đọc chỉ phỏng đoán. Bài “Đại nhân tiên sinh truyện” là một bài ca,

nhà thơ dùng hình tượng “Đại nhân tiên sinh” để tả tâm tình bi quan, tuyệt vọng

của mình trước “ngày cuối cùng”, “vũ trụ tan vỡ”, không tránh được. Kê Khang

(223 – 263) sở trường về tản văn, tác phẩm nhuốm màu sắc Lão Trang (Lao

Zhuang) rất đậm, nhưng tâm tình phẫn nộ, bất bình bộc lộ khá rõ. Tính ông lại

cương trực, “quá thanh cao” nên cuối cùng ông bị họ Tư Mã giết hại. Cả hai

ông đều nhất trí phủ định lễ giáo của Nho gia, vì họ Tư Mã và bọn tay sai lợi

dụng thứ Nho giáo này chuẩn bị lấy hình thức “vua nhường ngôi” che đậy việc

tiếm quyền. Ngoài ra, Lưu Linh cũng sống phóng túng, ngạo mạn, có bài “Tửu

đức tụng” được lưu truyền.

 

Trúc lâm Thất Hiền có tên kể ra sau đây:

 

Nguyễn Tịch (210-263)

Kê Khang (223-263)

 

Lưu Linh (220-300)

Sơn Đào (205-283)

Hướng Tú (221-300)

Vương Nhung (234-305).

Nguyễn Hàm

 

Trúc lâm chứa đặng bảy ông Hiền,

Vì bỏ tục trần mến cảnh Tiên.

Hồng cấu đã chui thân phải vấy,

Hơn thua cười kẻ biết nơi tiền.

 

1. NGUYỄN TỊCH (210 – 263):

 

Nguyễn Tịch, tên chữ là Tự Tông, người đất Trấn Lưu, con của Nguyễn

Vũ, một trong Kiến An Thất tử. Nguyễn Tịch có dung mạo khác thường, chí khí mở rộng, tự nhiên, một mình độc lập, phóng túng tự do, mà mừng giận không hiện ra nét mặt, thường đóng cửa ở trong nhà đọc sách, có khi hàng tháng không bước chân ra ngoài, có khi trèo lên núi ngao du sơn thủy hàng mấy ngày quên trở về.

Nguyễn Tịch đọc rất nhiều sách mà thích nhứt là sách Đạo Đức Kinh của

Lão Tử và Nam Hoa Kinh của Trang Tử.

Ông thích uống rượu, biết thổi sáo, giỏi đàn cầm, đương khi đắc ý chợt

quên hình hài mà siêu thần nhập hóa. Người đời cho ông có si tính hay máu

điên.Vì có cái cuồng danh đó mà Tư Mã Chiêu (con của Tư Mã Ý) đem lòng

ngưỡng mộ, muốn kết thân với Nguyễn Tịch, nhưng ông không chịu nên cố ý

say sưa luôn 60 ngày đêm để khỏi gặp Tư Mã Chiêu.

Bề ngoài của Nguyễn Tịch trông rất phóng đãng, nhưng bên trong rất

thuần chính. Hành động phóng đãng là giả vờ để tránh tai họa, bảo trọng lấy

thân mà thôi. Ông nhìn thấy triều đình càng lúc càng suy yếu, quan lại chuyên quyền, dua nịnh, ông rất đau lòng, nên đã kết tinh vào tác phẩm “Vịnh Hoài” của ông, một tập thơ bất hủ gồm 82 bài thi, một kiệt tác của thời bấy giờ. Tấm lòng của ông bao la, tầm mắt rộng lớn mà không gặp được người đồng khí tương cầu nên đã phát tiết bi thương trong thơ văn đến độ mãnh liệt.

Nguyễn Tịch có viết sách “Đạt Trang Luận”, trong đó, ông xác định Triết

lý tự nhiên, luôn luôn ý thức cái lý đồng nhứt trong sai thù.

Nguyễn Tịch có cặp mắt rất đặc biệt, khi vừa lòng ai thì nhìn với đôi

mắt xanh, còn không vừa lòng ai thì nhìn với đôi mắt trắng. Khi mẹ Nguyễn

Tịch mất, ông Kê Hỷ mang đồ lễ đến viếng, Nguyễn Tịch tiếp nhìn với đôi mắt

trắng dã. Hỷ ra về mà bụng không bằng lòng. Em của Kê Hỷ là Kê Khang nghe

biết chuyện đó, mới mang rượu và cắp đàn đến, thì Tịch rất vui, vừa ý lắm,

tiếp Kê Khang với đôi mắt xanh.

Năm thứ tư đời Cảnh nguyên, tức là năm 263, Nguyễn Tịch mất, hưởng

được 54 tuổi.

Kê Khang thường ca tụng Nguyễn Tịch rằng: Nguyễn Tự Tông, miệng

không bàn lỗi của người. Ta mỗi khi bắt chước điều ấy mà không kịp được,

cùng cực bẩm tính hơn người, với sự vật không thương tổn, chỉ có cái uống

rượu quá mức thôi.

 

2. KÊ KHANG (223 – 263):

Kê Khang, tự là Thúc Dạ, ở Tiêu Quận, sớm mồ côi, có kỳ tài, thân hình

cao lớn, có phong nghi, thiên chất tự nhiên, tánh tình điềm đạm, ít ham muốn,

khoan dung giản dị.

Ông tự học mà giỏi, sở trường về cái học Lão Trang.

Ông trước tác được hai bộ sách: Thích Tứ Luận và Thanh Vô Ai Lạc

Luận. Trong hai cuốn sách nầy, ông lấy chủ nghĩa tự nhiên để bài bác học

thuyết của Nho gia.

Ông quan niệm nhân cách của người quân tử có được không phải lấy lễ

giáo bên ngoài mà uốn nắn con người, đẽo gọt thiên nhiên. Ông cũng chống lại

 

tất cả các suy luận trí thức về phải trái, đúng sai. Ông chỉ cốt làm sao cho được

Tâm hư để noi theo Tánh mà sống, vì tự nhiên chính là đạo lý.

Sách Thế Thuyết có kể chuyện rằng: “Chung Hội (225-264) làm quan,

làm tướng, có viết sách, lấy làm tiếc vì chưa có dịp gặp Kê Khang, cho nên

ngày kia, Chung Hội cùng với vài người thân tín đến viếng Kê Khang.

Sở thích của Kê Khang là rèn đồ kim khí. Chung Hội đến thì thấy Kê

Khang đang rèn sắt dưới gốc cây lớn. Hướng Tú thì giúp Kê Khang thổi ống

bể, còn Kê Khang thì vẫn tiếp tục đập sắt như không có khách đến. Chung Hội

bị bẽ mặt, đứng nhìn một lát rồi bỏ đi.

Kê Khang hỏi: – Đã nghe gì mà tới? Đã thấy gì mà đi?

Chung Hội đáp:

– Tới vì nghe cái đã nghe, đi vì thấy cái đã thấy.”

Người đời Tấn rất thích cái vẻ đẹp thể chất và tinh thần của Kê Khang.

Người ta sánh ông với núi ngọc hoặc cây tùng.

Có lẽ vì vậy mà Chung Hội mới nói đã nghe và đã thấy.

Trước kia, có một hôm, Kê Khang đi chơi ở đất Lạc Tây, trọ ở Hoa

Dương Đình, đêm ngồi khảy đàn, chợt có một người khách đến tự xưng mình

là người thời cổ, rồi cùng Kê Khang bàn luận âm luật, lời lẽ rành rọt thấu đáo

lắm. Nhân đó, ông khách truyền cho Kê Khang khúc nhạc Quảng lăng tán, dặn

Kê Khang không truyền cho ai khác.

Về sau, khi Kê Khang bị Tư Mã Chiêu đem ra hành hình ở phía chợ đông,

Kê Khang quay nhìn bóng mặt trời rồi cầm đàn gảy nói rằng:

– Trước kia khúc Quảng lăng tán nầy có người tên Viên Hiếu Nê thường

theo ta để học nhưng ta không truyền được, nay khúc Quảng lăng tán nầy từ

nay mất đi.

 

Kê Khang bị Tư Mã Chiêu ra lịnh giết chết năm ông được 40 tuổi.

Các nhà phê bình đều cho rằng: thơ của Nguyễn Tịch và của Kê Khang

ý tứ rất khác nhau. Thơ của Nguyễn Tịch thì ý chỉ thâm thúy, của Kê Khang

thì khí vận tuấn thanh. Tài hoa của Nguyễn Tịch thì như mùa Xuân thơm ngát,

còn tâm tình của Kê Khang như mùa Thu trong trẻo. Nhưng có điều, là Nguyễn

Tịch dùng cái cuồng để làm kế bảo toàn tấm thân, còn Kê Khang lại bị cái

cuồng mà phải sát thân.

 

3. LƯU LINH (220 – 300):

Lưu Linh, tự là Bá Luân, người đất Bái, thân hình xấu xí, phóng tình tứ

chí, thường lấy sự coi nhỏ vũ trụ xem bằng muôn vật làm tâm, lạnh nhạt ít lời,

không quen giao du, cùng với Nguyễn Tịch và Kê Khang tương ngộ, tinh thần

hớn hở, dắt tay vào rừng. Lúc đầu không chút ý kiến gì về tài sản có không

nói: “Ta chết chôn cho ta.” Đấy khinh bỏ thân thể đến thế.

Lưu Linh hay uống rượu, nổi tiếng về rượu hơn hết trong Trúc lâm Thất

Hiền, uống rượu bao nhiêu cũng không say.

 

Một hôm, ông bảo vợ đi lấy rượu. Vợ ông đổ rượu đi và đập bể vò rượu,

khóc mà can rằng:” Ông uống rượu nhiều quá, không phải là cái đạo nhiếp

sinh, ông phải bỏ bớt rượu đi.” (Nhiếp sinh là thu nhiếp tinh thần để nuôi sức

khỏe).

Lưu Linh nói: “Phải, ta không thể tự cấm được, phải cầu quỉ thần lên để

thệ nguyện mới được. Vậy phải đủ rượu thịt làm lễ chứ!”

Vợ liền nghe lời, lo sắm sửa đủ các thứ.

Xong, Lưu Linh bèn quì mà khấn rằng:

“Thiên sanh Lưu Linh, (Trời sanh Lưu Linh,

Dĩ tửu vi danh, Lấy rượu làm danh,

Nhất ẩm nhất hộc, Mới uống một vò,

Ngũ đẩu giải tỉnh, Năm đấu giải tỉnh,

Phụ nhân chi ngôn, Lời nói đàn bà,

Thận bất khả thính.” Cẩn thận đừng nghe.)

Khấn xong thì đem rượu thịt ra, ăn uống li bì, say say tỉnh tỉnh.

Tuy Lưu Linh mê man phóng túng, nhưng khi gặp việc thì ứng biến

chẳng sai, ít khi thác ý vào văn thơ, duy có làm bài phú “Tửu đức tụng” nổi

tiếng, ca tụng người uống rượu.

Bài phú Tửu đức tụng, diễn nôm ra sau đây:

 

1. Chàng là một người đầy cao quí,

Đối với chàng, Trời Đất chỉ là một buổi sáng,

Và vĩnh hằng chỉ là một thoáng chốc.

Mặt trăng và mặt trời chỉ là những cánh cửa sổ,

Tám sa mạc là sân nhà chàng.

Chàng đi không để lại dấu vết,

Không ở tại một ngôi nhà nào.

Lấy trời làm nhà, lấy đất làm chiếu,

Chàng theo đuổi sự phóng túng của mình.

Khi dừng lại chỉ là để nâng lên chén rượu hay ôm bầu rượu,

Khi đi chỉ là để mang theo một bình rượu hay lấy đi chai rượu.

Rượu là công việc duy nhứt của chàng,

Chàng chẳng biết gì hơn nữa.

 

2. Một ông chúa trẻ thuộc nhà cao quí, và một quan về hưu,

Nghe nói đến những thói quen của ta,

Đã bài bác cách sống của ta.

Họ vung tay áo, nắm tay lại,

Mắt dữ dằn đảo qua đảo lại và răng thì nghiến chặt lại,

Họ dạy ta những phép tắc xã giao,

Phải thế nầy và không được thế kia, nghe như tiếng bầy ong,

Nhưng vào lúc đó, ông thầy kia,

Nắm lấy một cái vò, cầm lên một cái chén,

Đưa chén lên miệng nốc hết rượu, rồi vuốt râu nằm thẳng cẳng,

Lấy men làm gối, lấy cặn rượu làm gối dài.

 

3. Chẳng suy nghĩ gì, chẳng lo âu gì,

Hạnh phúc của chàng thật là toàn vẹn!

Thoắt thấy chàng say mèm, thoắt thấy chàng tỉnh rượu.

Lắng tai nghe, chàng không nghe thấy sấm rền,

Chú mắt nhìn, chàng chẳng thấy hình núi Thái sơn,

Không thấy lạnh giá và nóng bức cắn xé da thịt mình,

 

Cũng không thấy thành công và ham muốn gây những đam mê

Chàng cúi nhìn đám người đông như kiến cỏ,

Họ giống như bèo tấm trôi trên sông Giang sông Hàn,

Hai vị cao sang kia đứng cạnh,

Với chàng, chỉ giống con ong hay con sâu.

 

(Lê Diên dịch)

 

Đây là những tư tưởng tự nhiên rút ra ở hệ thống xuất thế của Lão

Trang, đem vào đời sống nghệ thuật đến mức cực đoan. Lưu Linh mượn rượu

để quên đời, quên cả hình hài để sống với một tâm trạng siêu thần nhập hóa

giả tạo. Phải chăng hoàn cảnh lịch sử xã hội thời đó đã gây ra không khí quá bi

quan như thế?

Lưu Linh thường hay quá chén, phóng túng, cởi bỏ quần áo, trần truồng

trong nhà. Người đời thấy vậy thì chê cười.

Lưu Linh nói: “Ta lấy Trời Đất làm nóc nhà, buồng nhà làm quần áo, các

ông sao lại chui vào quần áo của ta?”

Lưu Linh dẫu sống phóng túng, buông thả, nhưng vẫn ý thức cái gì là

của Trời Đất, cái gì là của thiên hạ.

 

4. SƠN ĐÀO (205 – 283):

Sơn Đào, tự là Cự Nguyên, người ở huyện Hoài, đất Hà Nội, đời nhà

Tấn (nay thuộc tỉnh Hồ Nam). Từ nhỏ, tánh tình ông rất chất phác, nhưng học

thức hơn người, được nhiều học giả danh vọng trong vùng kính trọng, thế mà

đến 40 tuổi, Sơn Đào vẫn là một viên quan nhỏ giữ chức Chủ Bạ trong quận.

Sơn Đào chơi thân với Nguyễn Tịch và Kê Khang.

Vợ Sơn Đào là Hàn Thị thấy ba người chơi thân với nhau thì hỏi dò

chồng. Sơn Đào đáp:

– Đó là hai người riêng ta có thể chơi thân.

 

Hàn Thị muốn biết rõ hai người bạn đặc biệt nầy của chồng, nên sửa

soạn một tiệc rượu để chồng đãi đằng hai bạn, còn Hàn Thị thì núp trong màn

nhìn ra quan sát, buổi tiệc kéo dài suốt đêm, Hàn Thị cũng thức suốt đêm để

theo dõi.

Sáng hôm sau, Sơn Đào vào phòng hỏi vợ:

– Nàng nghĩ sao về hai người bạn đó?

Hàn Thị đáp: – Về tài hoa thì chàng không bằng họ, nhưng về trí thức thì

chàng đáng là bạn của họ.

Sơn Đào nói:

– Chính họ cũng cho cái biết của ta là cao hơn.

Về sau, Sơn Đào cũng được điều về kinh đô, giữ chức: Thượng Thư Lại

Bộ Lang. Lúc ấy Ngụy đế là Tào Phương vừa nhỏ tuổi vừa bất tài, triều chính

lọt vào tay Thái Úy Tư Mã Ý và Đại tướng Tào Sảng. Hai người nầy kết bè kết

đảng định tiêu diệt phía đối phương mà độc chiếm quyền hành.

 

Sơn Đào nhìn thế cuộc biết chắc thế nào Tào Sảng cũng phải thua Tư

Mã Ý, vì Tào Sảng lỗ mảng ngang ngược, kém mưu trí hơn Tư Mã Ý nhiều.

Sơn Đào không muốn dính vào vòng đấu tranh của hai người ấy, nên

thường ẩn cư, ít giao thiệp với các triều thần.

Mỗi khi cao hứng, Sơn Đào thường mời các danh sĩ như: Kê Khang,

Nguyễn Tịch, Lưu Linh, Nguyễn Hàm, Hướng Tú, Vương Nhung vào trong

rừng trúc rong chơi, uống rượu và bàn lẽ huyền vi của Trời Đất, gác ngoài tai

mọi việc ở đời.

Trong Trúc lâm Thất Hiền thì Kê Khang là người có tiếng tăm và tài hoa

cao nhứt, dám khinh miệt cả bọn quyền quí, làm Sơn Đào rất bội phục.

Sau nầy, khi Sơn Đào làm ở Bộ Lại, có dâng thơ tiến cử Kê Khang. Kê

Khang chán ghét bọn quan lại tham ô nên không hề có ý muốn ra làm quan, nay

biết được Sơn Đào dâng thơ tiến cử mình, Kê Khang nổi giận liền viết một

bức thơ “Tuyệt giao Sơn Đào”, mỉa mai Sơn Đào còn ham danh lợi và tuyên bố

tuyệt giao với Sơn Đào. Sơn Đào rất hiểu rõ tánh ý của Kê Khang nên không hề

hờn giận.

Sau nầy, Kê Khang bị Chung Hội và Lữ Tấn vu oan, Tư Mã Chiêu tin

Chung Hội nên giết chết Kê Khang. Con của Kê Khang là Kê Thiệu bơ vơ

không nơi nương tựa, được Sơn Đào lo lắng chăm sóc.

Năm 265, con của Tư Mã Chiêu là Tư Mã Viêm chiếm lấy chánh quyền,

phế bỏ triều Ngụy của họ Tào, lên làm vua, lập ra nhà Tấn, Sơn Đào lại dâng

thư tiến cử Kê Thiệu: “Cha có tội không liên quan gì đến con, Kê Thiệu gồm

đủ đức tài, xứng đáng được trọng dụng.” Tư Mã Viêm chấp nhận, phong Kê

Thiệu chức Bí Thư Thừa.

Sơn Đào giỏi nhận xét nhân tài, trong hơn 20 năm ông làm việc ở Bộ Lại,

ông tiến cử lên triều đình nhiều hiền tài. Trong triều có quyền thần Giả Sung,

thường kéo bè kết đảng để củng cố thế lực, khen ngợi tên tâm phúc Lục Lượng

trước mặt Tư Mã Viêm, rằng Lục Lượng có tánh tình trung hậu, chí công vô

tư, nên xin cho Lục Lượng được cùng với Sơn Đào làm chức Tuyển Quan. Tư

Mã Viêm đồng ý.

Sơn Đào thì phản đối việc nầy, vì biết Lục Lượng chỉ là tên có tài nịnh

hót chớ không có thực tài, không xứng đáng với chức Tuyển Quan. Ít lâu sau,

quả nhiên tên Lục Lượng nhận hối lộ, bị phát hiện nên bị cách chức. Do đó, Tư

Mã Viêm càng trọng tư cách của Sơn Đào.

 

5. HƯỚNG TÚ (221 – 300):

Hướng Tú, tự là Tử Kỳ, người ở đất Hoài, nay là Hồ Nam, thuở nhỏ đã

quen biết Sơn Đào. Hướng Tú rất thông tuệ, hiểu biết rất sâu xa, theo cái học

của Lão Trang. Ông cùng với Quách Tượng đã chú giải sách Nam Hoa Kinh

của Trang Tử, vì lâu nay trải quan nhiều thế hệ của Đạo gia, nhưng chưa có ai

luận bàn về tôn chỉ và hệ thống hóa sách ấy cả.

Hướng Tú bàn và giải thích thêm những ý nghĩa sâu kín, phát minh thêm

ý lạ, làm nổi dậy phong trào Huyền học.

 

Người đương thời đọc sách ấy thì siêu nhiên tâm ngộ, chẳng ai không

mãn nguyện.

 

6. VƯƠNG NHUNG (234 – 305):

Vương Nhung có một đứa con vừa mới chết, bạn của Vương Nhung là

Sơn Giản đến viếng. Vương Nhung không cầm được nước mắt. Sơn Giản nói:

– Chỉ là đứa bé con, cớ sao lại khóc?

– Thánh nhân thì quên tình, thứ dân thì không biết tới, chỉ như bọn ta mới

có nhiều tình.

Sơn Giản tán đồng, rồi cũng khóc theo.

Lời nói của Vương Nhung cắt nghĩa rất rõ tại sao nhiều Huyền học gia

lại rất lưu tâm đến thuyết Chủ tình.

Trong nhiều trường hợp, không phải vì sự được mất của bản thân mà

họ tỏ ra vui buồn, mà chính trong cái cảnh tượng chung của cuộc sống hay của

Trời Đất.

 

7. NGUYỄN HÀM:

Nguyễn Hàm là cháu của Nguyễn Tịch, gọi Nguyễn Tịch bằng chú.

Hai người họ Nguyễn nầy đều thích uống rượu. Mỗi khi gặp nhau, họ không

cần lấy chén mà uống, chỉ ngồi quanh vò rượu mà uống trong vò. Có khi mấy

con lợn khát nước chạy đến, thì họ cho lợn cùng uống với họ.

Đấy là tình cảm cốt yếu của hạng người phong lưu, muốn sống với tinh

thần nghệ sĩ, với ý thức bình đẳng, không phân biệt giữa họ và vật trong Trời

Đất.

Tóm lại, Trúc lâm Thất Hiền là bảy ông Hiền nơi rừng trúc. Họ là những

nhà văn nhà thơ, vừa đi dạo, vừa bàn luận trong một khu rừng trúc nhỏ, dừng

lại để uống rượu, rồi lại đi dạo tiếp tục, rồi lại bàn luận, làm thơ, cho đến lúc

say mèm.

Họ bàn luận chỉ trích Khổng giáo, đề cao Lão Trang, mỗi người có một

cách, làm dẫy lên một trào lưu tư tưởng lãng mạn gọi là Phong lưu, ngụ ý sống

tự do theo tự nhiên, mà tư tưởng triết học thì chủ ở Lão Trang. Sống Phong lưu

là sống hòa nhịp với cảm xúc bồng bột hồn nhiên, không chờ trí thức kịp xen

vào. Cảm xúc ấy là của một tánh tình đã cảm thông với tạo vật thiên nhiên chớ

không phải cái tánh tình nhỏ hẹp hữu hạn tầm thường.

 

                CHUYÊN MỤC SƯU TẦM NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT

      BQM:

Sau khi chê hết lời câu đối của GS V.K tặng công ty Cao ngựa trắng, BQM nhận được phản hồi từ Hien dang nói rằng cụ V.K được tỉnh Cần Thơ mời vào chơi. Nhân đó ông Tạ Minh Tâm có tặng thày câu đối rằng

                    Cần Thơ quý nhà thơ họ Vũ, Cần Thơ cần lúa lại cần thơ. 

 

Và  cụ Huyền Khê Trịnh Quốc Hoàn làng Đa Sỹ Hà Đông đã đối lại như sau

:

                    Đa Sĩ nhiều tiến sĩ làng văn, Đa sĩ đa tài nên đa sĩ.

BQM xin góp lời bình:

                     Ông Tâm có học cụ V.K về cách làm thơ phú như thế nào, BQM không biết, nhưng rõ rang trình độ ông hơn thày khá xa, nếu ta so sánh câu này so với câu “ấm ớ hội tề” của cụ VK tặng cty cao ngựa trắng . Vế đối của cụ  Huyền Khê Trịnh Quốc Hoàn thì càng tuyệt.  Tuy nhiên, chữ “thơ” ta có thể hiểu ngầm là thư (书 sách, cần thơ là cần sách)    hay thi ( 诗 thơ) nên vế đối ở dưới chữ “ sĩ” cuối cùng có thể đọc trệch đi là “sỉ” (  耻   nghĩa là có nhiều người biết xấu hổ, biết nhục) thì hai câu này có them lời bình có thể đưa vào sách “Câu đối và giai thoại đời nay” có thể để đời.   Font chữ của BQM không có chữ sỉ mang chữ tâm, phải dung chữ sỉ này. Không sai, nhưng nội hàm kém hơn.

CHUYÊN MỤC SỨC KHỎE THƯ GIÃN

Xuân Thiệu  ( sưu tầm)

MƯỜI NGUYÊN TẮC THÊM TUỔI THỌ

——————————————-

1/ Ở ĐỜI : Sự biếng nhác không làm cho thân thể khỏe mạnh.

2/SUY NGẨM: – Đối với những việc không vui vẻ của dĩ vảng và nghịch cảnh

Không thấy khó chịu. -Đối với những ngày sắp tới không có ước vọng quá cao nhưng

Luôn cầu bình an hạnh phúc .

3/ DƯỞNG: – Bảo dưởng, dinh dưởng, tu dưởng.

4/ QUÊN:- Quên tuổi tác, quên tiền tài danh vọng, quên buồn phiền.

5/PHÚC: – Có thân thể khỏe mạnh , có vui thú đọc sách, có bạn bè tri kỷ, có

người nhớ đến mình, làm những việc mà mình ưa thích.

6/VUI: – Về hưu không bận tâm suy nghĩ, con cái có cuộc sống độc lập,vô dục

tắc cương,vấn tâm mà không ân hận hay xấu hổ ,có nhiều hảo bằng hửu, tâm tính

luôn trẻ trung.

7/SUNG SƯỚNG: – Biết đủ thường sung sướng, biết giải trí khi nhàn rỗi, biết

đắc chí khi tìm niềm vui,biết vui khi hành thiện,bình an là vui nhất.

8/ CHÚT XÍU:-Nói năng dịu dàng nhẹ nhàng thêm chút nữa, đầu óc hoạt động

Them chút nữa,độ lượng nhiều hơn chút nữa,lòng rộng rãi thêm chút nữa, làm việc

nhiều thêm chút nữa, mỉn cười thêm chút nữa.

9/THƯỜNG:-Răng thường ngậm , nước miếng thường nuốt, mũi thường

vê, mắt thường động,mặt thường lau, chân thường xoa bóp.

10/ THỰC HIỆN 10 NGUYÊN TẮC SỐNG KHỎE;

-Ít thịt, nhiều rau-Ít mặn, nhiều chua-Ít đường, nhiều trái cây-Ít ăn, nhai

nhiều-Ít áo,tắm nhiều –Ít nói , làm nhiều-Ít muốn, bố thí nhiều-Ít ưu tư, ngủ nhiều hơn

– Ít đi xe, đi bộ nhiều- ít nóng dận , cười nhiều.

 

 

         TTCh( sưu tầm)

 

Thong_Tim.pps
1332K   View   Download

 

 

 

 

 

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s