Docago.wordpress.com số ra thứ 3 ngày 18/10/2011 9 (tức 22 tháng 9 năm Tân Mão)

CHUYÊN MỤC:  VĂN HÓA  ĐÔNG TÂY

             Đỗ Anh Thơ( sưu tầm- biên soạn)

Chương 17

Chủ nghĩa dân chủ Jean-Jacques Rousseau

     

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

            Jean-Jacques Rousseau (17121778), sinh tại Geneva, là một nhà triết học thuộc trào lưu Khai sáng có ảnh hưởng lớn tới Cách mạng Pháp, sự phát triển của lý thuyết xã hội, và sự phát triển của chủ nghĩa dân tộc. Rousseau cũng có nhiều đóng góp cho âm nhạc cả trên phương diện lý luận và sáng tác. Ông cũng là người sáng tạo nên cách viết tiểu sử kiểu hiện đại với trọng tâm được đặt vào tính chủ thể. Ông cũng viết tiểu thuyết và đóng góp quan trọng cho trào lưu lãng mạn trong văn học.

Tiểu sử

Rouseau rời Geneva năm 1728 sau nhiều năm học việc nghề thư ký và tới Paris năm 1742. Là thư ký cho Đại sứ Pháp tại Venice từ 1743-1744. Sau đó ông về Pháp và có năm con với Thérèse Levasseur nhưng ông đều bỏ cho trại trẻ mồ côi nuôi. Trong thời gian này ông làm bạn với Diderot và có đóng góp cho tập Bách khoa thư với các bài về âm nhạc và quan trọng nhất là bài về kinh tế chính trị viết năm 1755.

Năm 1754, Rousseau quay về Geneva và bắt đầu cho ra đời tác phẩm Đối thoại về Nguồn gốc và Cơ sở của Sự Bất bình đẳng của Con người năm 1755. Do viết nhiều tiểu thuyết đả kích tôn giáo, ông buộc phải rời sang BernMôtiers (Thụy Sĩ), nơi ông viết Đề án Hiến Pháp cho đảo Corse và tiếp tục phải tị nạn với nhà triết học David Hume tại Anh. Ông về Pháp năm 1767 và cưới Thérèse năm 1768, đến 1770 ông trở về Paris. Ông tiếp tục viết nhưng các tác phẩm chỉ được xuất bản sau khi ông mất vì xuất huyết não vào ngày 2 tháng 7 năm 1778.

Rousseau nhận thấy có sự phân chia về bản chất giữa xã hộibản chất tự nhiên của con người. Ông cho rằng loài người là tốt về bản chất nếu sống ở trạng thái tự nhiên và rằng con người bị tha hóa bởi chính xã hội. Ông cho xã hội là nhân tạo và sự phát triển phụ thuộc lẫn nhau trong xã hội là cản trở đối với chất lượng cuộc sống của loài người.

Trong “Đối thoại giữa Khoa học và Nghệ thuật“, Rousseau tranh luận rằng cả khoa họcnghệ thuật đều không bổ ích cho con người. Tiếp theo, trong Bàn về Bất bình đẳng, ông tiếp tục theo vết tiến trình tha hóa của loài người từ trạng thái tự nhiên nguyên thủy lên xã hội hiện đại. Khi loài người buộc phải gắn kết với nhau chặt chẽ hơn, cũng là khi loài người trải qua quá trình ngày càng phụ thuộc lẫn nhau do phân chia lao động và dẫn đến bất bình đẳng, và do vậy cần phải có khế ước xã hội. .

Khế ước Xã hội

Khế ước Xã hội là tác phẩm phác họa trật tự chính trị hợp lý của ông. Xuất bản năm 1762, tác phẩm đã có nhiều ảnh hưởng tới triết học phương Tây. Rousseau cho rằng trạng thái tự nhiên bị tha hóa trở thành một tình trạng dã man không còn luật pháp hay đạo đức, nên loài người cần một thể chế để tồn tại, vì bên cạnh đó, sự cạnh tranh lẫn nhau loài người cũng phụ thuộc vào nhau. Theo Rousseau, bằng cách sát cánh bên nhau thông qua một khế ước xã hội và từ bỏ các quyền tự nhiên, cá nhân sẽ giải thoát cả hai áp lực nói trên, tức là vẫn tồn tại và vẫn tự do. Bởi vì khi đã trao quyền lực cho những người đại diện cho nguyện vọng và ý chí chung của quảng đại quần chúng, thì chính điều này đảm bảo cho cá nhân khỏi bị lệ thuộc vào ý chí của các cá nhân khác.

Mặc dù ông cho rằng chủ quyền phải thuộc về nhân dân, nhưng ông lại phân biệt chủ quyền và chính quyền. Chính quyền là người thực hiện chủ quyền, tức ý chí và nguyện vọng chung của quảng đại quần chúng. Tuy chính quyền chỉ là một phần nhỏ trong dân chúng, nhưng lại là những người nắm vững pháp luật nhất, họ chính là các quan tòa – những người áp đặt việc thực thi ý chí nguyện vọng chung của dân chúng. Ông cho rằng luật pháp phải do dân chúng trực tiếp lập ra, thay vì được lập ra thông qua các cơ quan đại diện.

Giáo dục

Quan điểm giáo dục của Rousseau được thể hiện qua cuốn tiểu thuyết Emile. Trong đó Emile trải qua giai đoạn giáo dục đầu tiên đến năm 12 tuổi, giáo dục giai đoạn này về bản chất là hoàn toàn tự nhiên. Giai đoạn hai từ 12 đến 16 là giai đoạn lý tính bắt đầu phát triển. Và giai đoạn cuối cùng là từ 15 tuổi trở đi để đứa trẻ tiếp tục phát triển thành người lớn. Ông cho rằng mục đích của giáo dục là học cách sống và điều này có thể đạt được khi có người bảo trợ chỉ dẫn con đường đi để có cuộc sống tốt đẹp.

Tuy nhiên, quan điểm của Rousseau cho giáo dục trẻ em nữ lại không như vậy. Sophie, người yêu của Emile, được giáo dục để tuân theo sự chỉ bảo của chồng, trong khi Emile được giáo dục để tự quyết định lấy cuộc sống của mình.

Tôn giáo

Rouseau cho rằng con người sinh ra về bản chất tự nhiên là tốt, và như vậy là hoàn toàn trái ngược với niềm tin về tội tổ tông của cả giáo phái Calvin ở Geneva và Công giáo ở Paris. Trong Khế ước Xã hội, ông cũng viết rằng những người tin vào Chúa Giê-xu sẽ không phải là những công dân tốt.

Ảnh hưởng

Rousseau có ảnh hưởng lớn đến cuộc Cách mạng Pháp, mặc dù ý tưởng chủ quyền thuộc về toàn thể nhân dân được thực hiện qua hình thức đại diện thay vì trực tiếp. Ông cũng là một trong những tác giả đầu tiên phê phán thể chế tư hữu và được xem là bậc tiền bối của chủ nghĩa xã hội hiện đại và chủ nghĩa cộng sản khoa học. Ông cũng là người sớm đặt câu hỏi liệu ý chí nguyện vọng của đa số liệu có phải lúc nào cũng đúng và mục tiêu của chính quyền theo ông là phải đảm bảo tự do, bình đẳng và công bằng cho tất cả cho dù có phải là ý chí của đa số hay không. So với các nhà khai sáng đương thời như VoltaireMontesquieu, tư tưởng chính trị của Rousseau cấp tiến hơn.

Ông cũng cho rằng nguyên tắc cơ bản của triết học chính trịchính trịđạo đức không được tách rời. Khi nhà nước không thực hiện đúng theo giá trị đạo đức thì cũng không thể thực hiện đúng các chức năng của mình và cũng không thể có quyền lực đối với một cá nhân được nữa. Nguyên tắc quan trọng thứ hai là tự do mà nhà nước được lập ra để gìn giữ.

Quan niệm về giáo dục của Rousseau mà trong đó đối tượng của giáo dục chính là những đứa trẻ mạnh khỏe cả về thể chất và tinh thần, cũng như việc ông không xem trọng sự cần thiết của giáo dục qua sách vở, cũng như việc ông nhấn mạnh sự cần thiết phải giáo dục cảm xúc cho trẻ em trước khi giáo dục lý tính đã là tiền đề cho lý thuyết giáo dục hiện đại đặt trẻ em làm trung tâm.

Các tác phẩm của Rousseau đều thể hiện rằng thiên nhiên giúp con người hình thành nên bản chất của mình, giúp con người thống nhất để vượt qua sự tù đày và giam cầm của xã hội. Chính vì vậy, ông khẳng định sự cần thiết của việc con người về với tự nhiên, sự cần thiết đặt con người ở nơi nằm ngoài những ràng buộc của xã hội và những định kiến của văn minh. Và như vậy, ý tưởng của ông chính là Chủ nghĩa Lãng mạn, mặc dầu chính bản thân ông xem mình là người của phong trào Khai sáng.

 

 

Căn nhà mà Jean-Jacques Rousseau ở cùng Mme de Warens năm 1735-6. Nay trở thành nhà lưu niệm Rousseau.

 
Tranh củaAllan Ramsayvẽ Rousseau  năm1766

 

               CHUYÊN MỤC : THƠ VĂN

       Thơ Trần văn Kinh

           Về hưu lại học chữ thánh hiền

    

Trót nợ ba sinh, luống miệt mài

Suốt đời khuôn phép, dám đơn sai

Về hưu, giở lại trang lề cũ

Đầu bạc, lần theo nét mực phai

Cửa Khổng, đài nghiên duyên dẫu ngắn

Sân Trình, ngọn bút nợ còn dài

Xuân tàn nào phải hoa tàn hết (*)

Sân trước vừa dâng một đóa mai.

——-

(*) Mượn ý thơ của Mãn Giác thiền sư:

“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

                Thơ Nguyễn Chân

NỊNH ĐẦM

Người tặng tôi ba chữ “giỏi nịnh đầm”!

Nào ai hay có thực tự thâm tâm ?

Nếu đầm thích, suốt đời tôi còn nịnh.

Nhược bằng không, chỉ xin chớ rủa thầm !

 

GALANTERIE

Un jour deux mots”très galant”on m’a dédiés.

 Qui sait du profond du coeur sont-ils proférés?

Mesdames! Si vous plait cette galanterie

Je vous répondrai jusqu’au terme de la vie.

Si non, de ne pas me maudire, je vous prie!

 

佞 女 流

            

           

             

             

            

            

 

NỊNH NỮ LƯU

“Thiện nịnh nữ nhân” khanh tặng ngã

Thuỳ tri khanh ngữ tự thâm tâm ?

                       Nữ lưu như quả do ưu ái

Ngã nguyện chung sinh nịnh tận cần

Như nhược bất ưng duy nhất thỉnh

                        Thâm trầm vật trớ ngã tri ân      (22.08.10)

 

VÔ DUYÊN

 

             Em tôi sắc nước hương trời

Tiếng nghe thánh thót như lời oanh ca

Khen em, em bảo : Thôi mà

         Xin đừng nịnh nữa, Em hoa mắt rồi !

 

                無  緣

國  色  天  香  兄  小  妹

嗓  喑  清  脆  似  鶯  歌

贊  揚  妹  告  誠   餘  了

休  佞  求  兄  妹  眼  花

 

          VÔ DUYÊN

             Quốc sắc thiên hương huynh tiểu muội

Tảng âm thanh thuý tự oanh ca

Tán dương muội cáo thành dư liễu

Hưu nịnh cầu huynh muội nhãn hoa.

MALCHANCEUX

               Ma soeur est d’une beauté élégante

Elle parle tel le loriot qui chante

       Je la louange, elle dit : C’est assez!

        Cette flâtterie m’a fait les yeux aveuglés

 NGUYỄN CHÂN 02.12.2010

                          Đỗ Anh Thơ :

          Truyện Tân Liễu Trai. Phần III- Thoa (kỳ 3)

 

Sáng ngày thứ ba hai vợ chồng Thoa chuẩn bị ra về thì trời đổ một cơn mưa bất chợt. Chỉ khoảng 10 phút là mưa tạnh. Hiền sợ lỡ phép nên cương quyết dắt xe ra ngõ. Mẹ Thoa bịn rịn chia tay con. Bà cụ mắt đỏ hoe, còn ông cậu thì nghĩ đến họ hàng mình, nay có thằng cháu rể cũng mát mặt với bà con trong xã.  Ông khoái chí rít một hơi thuốc lào rồi rung đùi. Đường trơn, Hiền không dám nổ máy xe mà đẩy nó lên dốc đê. Hai bánh xe kẹt cứng những bùn. Tú đang tát nước dưới ruộng, có cớ chạy lên giúp Thoa cùng đẩy xe. Hiền cảm ơn rối rít. Anh chúi đầu về phía trước giữ cho vững tay lái. Tú lại được dịp một tay đẩy, tay kia sờ soạng Thoa… từ trên đồi rồi xuống hang ,xuống vực, xuống suối có động lún phún rêu, có nước đang chảy róc rách…

Qua trạm bơm, tới đường đá dăm, Hiền dừng lại, tìm một cái que to để cời bùn. Tú xuống ruộng tháo gầu cùng Thoa múc đầy nước, đưa lên cho Hiền rửa bánh xe. Hiền đứng trên đê vừa lúi húi cạy bùn vừa nghĩ đến công việc. Chắc lại một vụ phá án mới nên cấp trên mới gọi anh về gấp. Còn Tú thì mỗi lần xuống mép nước lại tranh thủ điều tra khám phá hang động mà bọn buôn đang giấu diếm heroin. Tú đưa nước lên cho Hiền còn Thoa ngồi cạnh mép ruộng, chờ Tú xuống lấy nước tiếp.

Xe rửa sạch bùn thì lại chết máy. Đến lúc này Hiền mới sực nhơ ra là bộ đồ nghề bỏ quên ở nhà mẹ đẻ Thoa. Anh chạy vội trở lại. Thế là cả hai con nghiện lại được dịp diễn trò ngay dưới ruộng. Bằng đang xua vịt ra đồng, trông thấy định liều mạng xông lên đánh hội đồng, cướp tập thể.. May mà Hiền xuất hiện, nên chuyện đêm qua không tái diễn giữa ban ngày. Tuy nhiên, các hình ảnh hai ngày điều tra đều đã được họ lưu vào điện thoai cầm tay để đối chứng. Xe honda Hiền nổ giòn giã, Thoa chậm rãi cúi xuống nước rửa chân tay, chuẩn bị lên đê cùng chồng đi về. Bỗng cô thấy một con rắn nước bò trong bụi cỏ. Mắt cô hoa lên nhìn nó. Nó hiện lên trước mắt cô như hình ảnh Lục, tinh con rắn – cô gái mặc áo thiên thanh. Cô suýt ngất đi, may có tiếng Hiền giục cô mau lên xe…để đi về.

Đỗ Anh Thơ
( còn nữa )

 

               CHUYÊN MỤC: CHUYỆN XƯA …CHUYỆN NAY

    Phan Xuân Thành:
 Nhà thờ cụ Nguyễn Thức Tự

            (  Tin thày Hưu cháu đích tôn của cụ Nguyễn Thức Tự vừa ra đi. Là học của thày nhưng vì đường sá xa xôi không thể về nghiêng mình tước linh cữu thày đươc nên xin đăng lại bài viết

về ông nội của thày, như một cách suy tôn cái tiết tháo của dòng họ Nguyễn Thức vậy . Kính xin hương hồn thày xá cho – Docago )

 

               Nhà thờ cụ Nguyễn Thức Tự ở làng Đông Chữ, nay là xóm 11, xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc, Nghệ An, cách thành phố Vinh 20km về phía Đông Bắc. Nhà thờ gắn với tên tuổi thầy giáo Nguyễn Thức Tự. Tại đây, cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng được người thầy lừng danh đất Hồng  Lam truyền dạy kiến thức và đạo lý làm người.

Với chiều dài 5,1m, rộng 4,7m, mặt ngoảnh về hướng Nam, nhà thờ được làm vào năm 1903. Ngôi nhà có một gian hai chái, lợp ngói vảy. Phía bên phải khắc chữ “Cung”, bên trái khắc chữ “Thận”, nói lên tính cách cụ Nguyễn Thức Tự: Cung kính và thận trọng. Nội thất có sập thờ, đồ tế khí, những cuốn sách thuốc và tác phẩm bằng chữ Hán. Nhà thờ có cổng trụ, trên có hai con nghê chầu lại.

Nhà thờ thầy Nguyễn Thức Tự

 

Trong sân có cây nhãn và bia đá ghi “Thành Thái định vị xuân; Sơn sư Nguyễn Công Huệ điền; Đông nhị thập bát ngũ; Tây nhị thập bát ngũ tam xích; Nam nhị thập nhị ngũ nhất xích; Bắc nhị thập ngũ tam xích”. (Nghĩa là: Mùa xuân năm Đinh Mùi (1907), niên hiệu Thành Thái, ruộng đất của cụ Sơn phòng chánh sứ họ Nguyễn, phía Đông 36 thước, phía Tây 36 thước 3 tấc, phía Nam 24 thước 1 tấc, phía Bắc 20 thước 3 tấc).
Nguyễn Thức Tự tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp. Năm 1886, sau hai năm từ quan, cụ chính thức mở trường dạy học, đồng thời làm nghề bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Cụ đã từng dạy học ở Nam Đàn, Thanh Chương nhưng lâu nhất là ở quê nhà. Học trò đến trường của thầy Tự có đủ con em Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Bình, Nam Định.
Nội dung giảng dạy chủ yếu của thầy Tự là giáo dục tinh thần yêu nước cho các thế hệ học trò. Ngoài những kiến thức truyền thống rút ra từ học thuyết Khổng – Mạnh thì cốt lõi trong nội dung học tập là tinh thần yêu nước, tấm lòng canh cánh vì nước vì dân trong bầu nhiệt huyết muốn truyền thụ kiến thức cho môn sinh.

 

Theo cụ, muốn cứu nước phải học thành tài để có kiến thức nhằm mục đích giáo dục tư dân, làm cho đất nước giàu mạnh, đủ sức chống lại kẻ thù.
Hơn 30 năm dạy học (1886 – 1923), Nguyễn Thức Tự đã đào tạo trên 400 học trò thành đạt. Trong số đó nhiều người ra làm quan nhưng vẫn giữ được phẩm hạnh của người trí thức chân chính, yêu nước.

 

Đó là Hoàng giáp Đinh Văn Chấp, Hoàng giáp Nguyễn Đức Lý, Tiến sỹ Hoàng Kiệm, Nguyễn Mai, Lê Bá Hoa; các vị phó bảng như Vương Đình Trân, Nguyễn Văn Chấn, Nguyễn Thức Dinh, Nguyễn Viết Tuyển, Nguyễn Sinh Sắc, giải nguyên Phan Bội Châu…
Cụ Nguyễn Sinh Sắc có hoàn cảnh khác, mồ côi cha mẹ từ sớm. Năm 1878, Nguyễn Sinh Sắc được nhà nho Hoàng Đường đưa về nuôi dạy. Đúng như dự cảm của cụ Đường, cụ Sắc học tập tấn tới rất nhanh, thiên tư học tập bộc lộ ngày càng rõ.

 

Tiếng tăm học giỏi của Nguyễn Sinh Sắc được đồn đại khắp vùng. Sau một thời gian học tập, Nguyễn Sinh Sắc có thể đàm đạo văn thơ với những học sinh lớp trước. Cụ Hoàng Đường thương yêu cụ Sắc như con đẻ.

 

Sau 8 năm rèn dạy, cảm thấy trình độ của mình có hạn. Năm 1886, cụ quyết định gửi Nguyễn Sinh Sắc tới làng Đông Chữ, xã Thịnh Trường (nay là xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc) cách Hoàng Trù trên 30km để học với thầy giáo Nguyễn Thức Tự, người nổi tiếng uyên bác và có lòng yêu nước.
Lúc bấy giờ cùng dạy với thầy Nguyễn Thức Tự còn có tú tài Phạm Văn Thuấn, thầy Nguyễn Năng Chúc, Nguyễn Năng Phiên, Lê Văn Hoan, cử nhân Lê Xuân Huyên (anh rể cụ Tự).
Để thử khẩu khí Nguyễn Sinh Sắc, thấy Tự ra đề bài:
Thất thập tề thành giai bắc diện
Nhất thời trung phẩm độc thư sinh
(Tạm dịch: Liên hệ truyện thời Chiến Quốc, bảy mươi thành trì bị Hàn Tín chinh phục, chỉ có một thư sinh là Điền Hoành dám chống lại).
Từ bài phú này thầy giáo Nguyễn Thức Tự biết được tư chất, chí hướng học trò.
Năm 1900, khi cụ Nguyễn Thức Tự tròn 60 tuổi, học trò khắp nơi cùng nhau làm bức trướng mừng thầy. Bức trướng rộng 1,8m, cao 1,6m, làm bằng gỗ dổi, mặt trướng viết bằng chữ Hán.

 

Trang trí có dây hoa, xung quanh được chạm họa tiết viền hoa thị, hoa cúc, cuốn thư, kiếm, bầu rượu, hoa sen cỏ. Toàn bộ nội dung toát lên công lao to lớn của người thầy. Bài văn có đoạn: “… Năm Canh Tý thầy tinh sơn phòng sứ Nguyễn Tiên Sinh xuất thân nhà Nho.

 

Ngài không ưa khí chất yếu ớt, là một anh hào, thích sách, mài chí vào nghiên bút, nổi tiếng văn chương vượt lên hàng đầu tỉnh, trải qua kỳ ân khoa đạt được sự nghiệp thỏa chí,…

 

Khi ở quận, lúc tại triều, công danh một mạch không kém ai, lại một trông ngóng nơi trời mây, để trở về an nhàn nơi đậu cúc, giáo dục con trẻ có hướng có phương, dạy dỗ người đời không chán không mệt…”.
Phía dưới trướng ký tên 36 môn sinh, trong đó có Phan Bội Châu, cử nhân Nguyễn Sinh Huy (Nguyễn Sinh Sắc), Nguyễn Điểm, Nguyễn Thúc Dinh, tú tài Nguyễn Năng Cảnh, Hoàng Kiêm, Phan Sỹ Ngạc, Chánh tổng Nguyễn Can… Bức trướng được để trong nhà khách. Năm 1903, khi hoàn thành nhà thờ thì học trò đưa treo ở gian phía Tây để mọi người thưởng thức.
Ngày mồng 7/4 năm Quý Tỵ (năm 1893), cụ Hoàng Đường qua đời. Nghe tin này cụ Nguyễn Thức Tự bàng hoàng, nhờ học trò Nguyễn Sinh Sắc đem lễ vật hương, rượu thay mình phúng điếu cụ.
Năm 1901, sau bao nhiêu năm vất vả, cụ Sắc đi thi Hội trúng phó bảng, đền đáp công ơn người thầy, người cha kính yêu.
Nhà thờ Nguyễn Thức Tự là nơi chứng kiến những năm tháng tuổi học trò của Nguyễn Sinh Sắc. Đây cũng là nơi họp bí mật của Hội Duy Tân, Hội Phục Việt, là địa điểm thành lập huyện Đảng bộ Nghi Lộc lâm thời tháng 4/1930.

 

                    CHUYÊN MỤC :  SƯU TẦM NGỮ NGHĨA TIẾNG VIỆT

 

              BQM.-

             Cái “mươn” của đồng bào Nghi Lộc

Mươn là dụng cụ xưa, dung để bày bày cơm khoai thức ăn ra để ăn như cái mâm gỗ của nông dân Nghi Lọc. Nó giống như cái chõng tre cũng hình chữ nhật nhưng ngắn hơn. Liếp tre đan thưa và rời, để có thể cọ rửa thường xuyên. Ăn xong, nó được treo lên vách.

Từ lâu tôi vẫn cứ thắc mắc là không biết từ này đồng bào quê tôi đã đọc trệch đi của từ “mâm” hay ngược lại, đó là những từ Việt cổ, cũng như nhừng từ khác ví dụ ló= lúa, tru= trâu, bù= bầu, nõ= lọ, gấy= gái, kẻ Vịnh= Yên Dũng= Vinh. Gắt= gặt= cắt, ván= phán= phản, rằn= chuồng… và vô số từ khác của quê tôi.

Hồi mới học năm thứ nhất cấp 2 với thầy Bùi Văn Nguyên, hè thầy bắt chúng tôi đi sưu tầm thổ âm Nghi Lộc vê nộp cho thầy. Nhưng đến năm sau thày đi học tiếp tú tài 2, rôi vào dạy Trường Phan Đình Phung nên không rõ công trình này thày có hoàn thành không ?

 

CHUYÊN MỤC : SỨC KHỎE- THƯ GIÃN 
Nếu bạn đang tự hỏi “Mình có bị bệnh đái tháo đường hay không?”, hãy truy cập vào websiteBệnh đái tháo đường là gì? để có câu trả lời cho mình và cho người thân, bạn bè của bạn.

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi bệnh đái tháo đường được phát hiện sớm để thực hiện việc điều trị, bạn sẽ có nhiều khả năng tránh được nguy cơ xuất hiện các biến chứng nguy hiểm của căn bệnh này. Và mặc dù sẽ sống chung với bệnh một thời gian dài, bạn vẫn có được cuộc sống chủ động và vui khỏe như bạn mong muốn.

Bạn hãy bắt đầu bằng việc kiểm tra xem gần đây bạn có các dấu hiệu dưới đây hay không nhé!

– Rất khát nước và uống nước rất nhiều (còn gọi là háo nước);

– Đi tiểu tiện nhiều hơn bình thường;

– Rất đói và ăn nhiều một cách bất thường;

– Giảm cân nhiều  trong một thời gian ngắn;

– Khó tập trung làm việc hay học tâp, cơ thể mệt mỏi, dễ nổi cáu;

– Nhìn mờ;

Nếu bạn nhận thấy mình có một hay nhiều hơn những dấu hiệu kể trên, hãy giành thời gian để đến kiểm tra sức khỏe tại những cơ sơ y tế tin cậy càng sớm càng tốt!

Website Bệnh đái tháo đường là gì? là một nguồn tin cậy mang đến cho bạn những hiểu biết cần thiết về bệnh đái tháo đường!

Những điều bạn không tìm thấy ở website này, hãy gửi những thắc mắc đó của bạn cho chúng tôi để nhận được giải đáp từ các chuyên gia.

Bạn là bệnh nhận đái tháo đường và đang quản lý bệnh tại nhà, hãy tham gia vào Đái Tháo Đường Network Việt Nam để chia sẻ cách quản lý bệnh của bạn với các thành viên khác của cộng đồng này, và tham khảo những lời khuyên của các chuyên gia, cập nhật những thông tin mới về đái tháo đường trong nước và quốc tế!

Khi có những hiểu biết về bệnh đái tháo đường, bạn sẽ tránh xa được nó, hoặc nếu nó đã đến, bạn có thể tiếp đón và chung sống một cách thân thiện!

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s