Docago.wordpress.com số ra thứ 6 ngày  21/10/2011  (tức 25 tháng 9 năm Tân Mão)

(  LBT: Từ nay cho đến ngày quốc tế các nhà giáo(20/11), trong vòng một tháng, Docago.wordpress.com sẽ tập trung cho chủ đề giáo dục. Đề nghị các bạn đóng góp bài. Xin cảm ơn)

CHUYÊN MỤC:  VĂN HÓA  GIÁO DỤC ĐÔNG TÂY

GS.TSKH  Lê Ngọc Trà ( Bài lấy trên mạng)

 

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA GIÁO DỤC VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA

             Chưa bao giờ ở Việt Nam những cuộc thảo luận về giáo dục lại sôi nổi và rộng khắp như hiện nay. Đó không phải do ý muốn của Bộ Giáo dục – Đào tạo mà là do chính yêu cầu của cuộc sống. Việt Nam đã gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn kinh tế thị trường. Vấn đề này không còn bàn cãi nữa. Nhưng giáo dục trong xã hội chuyển sang kinh tế thị trường, và rộng hơn là trong bối cảnh toàn cầu hóa, thì lại đang đặt ra nhiều vấn đề tranh cãi gay gắt. Ở Việt Nam toàn cầu hóa gắn với ba yếu tố. Thứ nhất là sự sụp đổ của phe XHCN ở Đông Âu dẫn đến kết thúc chiến tranh lạnh. Quá trình này đã xóa bỏ những ranh giới của toàn cầu hóa ý thức hệ hay toàn cầu hóa cục bộ (tức sự “làm phẳng” trong nội bộ phe XHCN ), giúp Việt Nam mở cửa hội nhập với phần thế giới còn lại và cũng là phần đang phát triển manh mẽ nhất trong lịch sử hiện đại. Thứ hai là sự xóa bỏ nền kinh tế tập trung, bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường, kết quả rõ rệt nhất là việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới. Và thứ ba là ảnh hưởng của sự phát triển Công nghệ thông tin. Ba yếu tố này trong những mức độ khác nhau đã góp phần “làm phẳng” thế giới, tạo nên quá trình toàn cầu hóa. Như vậy đối với Việt Nam, toàn cầu hóa không mang tính chất cưỡng bức, áp đặt mà là một cơ hội, mang tính tất yếu. Trong bối cảnh đó, đặt vấn đề toàn cầu hóa và giáo dục hoàn toàn không chỉ có ý nghĩa tiêu cực. Toàn cầu hóa, kinh tế thị trường, công nghệ thông tin hay bất cứ hiện tượng nào của cuộc sống cũng đều có hai mặt. Cái chính là ở tỉ lệ của hai mặt đó cũng như sự khai thác, sử dụng của con người.

Toàn cầu hóa mang lại cho giáo dục Việt Nam nhiều cái lợi. Trước hết nó đặt giáo dục Việt Nam trong bức tranh chung của giáo dục các nước trên thế giới, để từ đó 2

giáo dục Việt Nam nhận ra mình đang đứng ở đâu, hay dở chỗ nào. Lâu nay trong một xã hội khép kín chúng ta dễ bằng lòng với chính mình, “mẹ hát con khen hay”. Việc du nhập kinh nghiệm của các nền giáo dục phát triển không chỉ có tác dụng nêu gương mà còn tạo ra những “cú hích” cần thiết để phá vỡ những khuôn mẫu đã cũ kỹ, lạc hậu, từ triết lý giáo dục, nội dung chương trình đến phương pháp giảng dạy, tổ chức trường học… Những kinh nghiệm tiên tiến ấy sẽ góp phần hiện đại hoá nền giáo dục Việt Nam, nối kết giáo dục Việt Nam với các nền giáo giáo dục trên thế giới, mở rộng tầm nhìn và bậc thang giá trị vượt ra biên giới quốc gia và dân tộc, hướng tới những chuẩn mực chung, có tính chất toàn nhân loại, từ đó đào tạo nên những con người không bị bó hẹp trong lối suy nghĩ cục bộ mà biết tư duy có tính chất toàn cầu, có tinh thần dân chủ, có khả năng hợp tác,có thể làm việc trong môi trường quốc tế. Toàn cầu hóa đã mang vào Việt Nam bức tranh hấp dẫn của các nền giáo dục tiên tiến. Bức tranh ấy lôi cuốn các nhà quản lý giáo dục, làm cho họ thấy cần phải thay đổi giáo dục Việt Nam cho thật nhanh, thay đổi cùng một lúc tất cả. Tuy nhiên, nguyện vọng tốt đẹp nhưng duy ý chí ấy đã đẻ ra phương châm “đi tắt đón đầu” theo kiểu “tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không thông qua chủ nghĩa tư bản” vốn đã một thời phổ biến trong tư duy giới lãnh đạo các nước XHCN và để lại những hậu quả nghiêm trọng. Nhiều chủ trương ồ ạt về giáo dục hiện nay như: hai vạn tiến sĩ, xếp loại đại học, đào tạo theo tín chỉ, tăng học phí ở giáo dục phổ thông phản ánh tâm lý muốn “nhảy vọt”, muốn bắt chước các nước tiên tiến, muốn nhanh chóng thực thi quan niệm xem giáo dục như một hoạt động dịch vụ, có tính chất thị trường mà quên rằng giáo dục đại học ở các nước ấy đã phát triển trước chúng ta hàng trăm năm, rằng cơ sở vật chất của trường học ở ta còn vô cùng nghèo nàn, rằng đồng lương của thầy giáo còn không đủ ăn. Nếu chúng ta đã muốn xây dựng những trường đại học lớn, tầm cỡ quốc tế thì phải bắt đầu từ việc xây dựng từng bộ môn, từng khoa và làm dần dần, chứ không phải là vội vã nhập các trường đại học hoàn chỉnh thành một vài đại học quốc gia để rồi một thời gian sau lại cho các trường tách ra. Gần đây việc nâng hàng loạt trường Cao đẳng lên thành Đại học, thậm chí một số khoa trung cấp lên thành khoa của trường đại học, nhiều người đang dạy trung cấp và cao đẳng bỗng dưng trở thành giảng viên đại học, đã bộc lộ cái nhìn thiển cận về giáo dục đại học, thể hiện cách làm duy ý chí, nóng vội, cẩu thả mà chắc chắn chúng ta sẽ phải trả giá trong một thời gian dài. 3

Văn hóa và giáo dục là những thứ hình thành dần dần, không phải muốn là có ngay một lúc. Toàn cầu hóa mang lại những bức tranh đẹp về nền giáo dục tiên tiến của các nước, như một làn sóng tràn vào làm xáo động giáo dục Việt Nam. Tuy nhiên học tập, bắt chước như thế nào nhất định phải dựa trên những điều kiện thực tế của Việt Nam. Chúng ta đã nói rằng toàn cầu hóa là cơ hội, là xu thế tất yếu. Trong bối cảnh đó một trong những cách ứng xử khôn ngoan nhất là phải chủ động. Chủ động lựa chọn những kinh nghiệm hay và phù hợp với thực tiễn của mình. Nhiều khi cái chúng ta cần bắt chước không phải là cái mà các nước tiên tiến đang làm mà là những kinh nghiệm của họ trong quá khứ, những kinh nghiệm để đi lên từ một nền giáo dục còn lạc hậu đến một nền giáo dục có đẳng cấp quốc tế. Đặc biệt chúng ta phải chủ động trong việc giữ gìn những giá trị đặc sắc của nền giáo dục dân tộc đã hình thành và phát triển hàng ngàn năm, từ đó giúp cho việc bồi dưỡng đạo đức và tâm hồn của thế hệ trẻ. Cần phải nhận thức một cách sâu sắc rằng toàn cầu hóa trong kinh tế khác toàn cầu hóa trong văn hóa và giáo dục. Thế giới có thể “phẳng” về kinh tế và công nghệ nhưng không thể “phẳng” về văn hóa và giáo dục. Bởi vì văn hóa và giáo dục là vấn đề con người, vấn đề đời sống tinh thần và nhân cách của cá nhân mà mỗi cá nhân là một số phận, một vũ trụ riêng tư không lặp lại, gắn với môi trường, với cộng đồng bằng trăm ngàn sợi dây liên hệ khác nhau. Chúng ta vẫn hay nói về bản sắc của văn hóa. Nhưng văn hóa không thể hình thành thiếu giáo dục. Bởi vậy muốn giữ gìn bản sắc văn hóa nhất định phải gìn giữ bản sắc của giáo dục, gìn giữ cái riêng trong việc đào tạo con người. Cái riêng ấy chủ yếu không nằm trong việc truyền bá tri thức mà nằm trong quá trình bồi dưỡng ý thức về các giá trị, quá trình làm cho cá nhân không chỉ thông minh và mạnh mẽ hơn mà còn nhân hậu hơn, có đời sống tâm hồn phong phú hơn. Rốt cuộc thì không phải công nghệ sẽ cứu thế giới, mà tình yêu, “cái đẹp sẽ cứu thế giới”( F. Dostoiepxki ).

Giáo dục Việt Nam đã có một truyền thống lâu đời dựa trên phương châm “Tiên học Lễ, hậu học Văn”. Đó là một di sản quí báu. Mỗi thời đại giải thích phương châm này theo cách của mình, nhưng cái chung nhất vẫn là đề cao những giá trị đạo đức, đề cao việc làm người. Nếu chúng ta hiểu “ Tiên học Lễ” không phải là giáo dục sự phục tùng, chỉ biết vâng lời, mà là giáo dục lòng kính trọng đối với người khác, sự tôn trọng những giá trị tốt đẹp, giáo dục lòng hiếu thảo và vị tha, tinh thần nhân ái, ý thức về cộng đồng, thì phải xem đây là truyền thống tốt đẹp cần được phát huy trong thời đại toàn cầu 4

hóa. Để tồn tại trong thời đại toàn cầu hóa mỗi dân tộc cần phải có cái riêng của mình. Sự đa dạng về văn hóa và giáo dục không chỉ có lợi cho việc bảo vệ bản sắc của mỗi dân tộc mà còn quan trọng với toàn nhân loại: thế giới sẽ trở nên nhạt nhẽo biết chừng nào nếu tất cả chỉ có một màu, mọi thứ đều giống nhau. Chúng ta đã có những truyền thống tốt đẹp như “Tiên học Lễ, hậu học Văn”, “Tôn Sư trọng Đạo”. Rất tiếc là những giá trị ấy đang bị mai một. Nếu không biết giữ gìn và phát huy, chúng rất dễ bị chìm đi trong làn sóng toàn cầu hóa, trong thời đại kinh tế tri thức. Một xã hội tiến đến công nghiệp hóa đang biến những người đi dạy học và chữa bệnh thành những người hành nghề chứ không còn là thầy, là lương y, từ mẫu. Trong khi mà nền kinh tế thị trường chưa đẻ ra được cơ chế kiểm soát tương ứng với nó, trong khi xã hội chưa đủ những ràng buộc pháp lý cần thiết đối với mỗi thành viên của nó thì rất nhiều thứ phải trông chờ vào sự lương thiện của con người. Nếu xã hội không tôn trọng thầy giáo và thầy giáo chỉ cư xử với học sinh như một người hành nghề thì điều gì sẽ xẩy ra. Giáo dục Việt Nam gắn chặt với văn hóa Việt Nam. Cũng như văn hóa, nó phải đóng góp vào gia tài chung của nhân loại phần riêng tốt đẹp của mình. Muốn chủ động lựa chọn kinh nghiệm của các nước và đóng góp phần mình vào dòng chảy chung của nhân loại, muốn hội nhập và hấp thu được cái lợi do công cuộc toàn cầu hóa mang lại, một trong những việc cần làm là phải có một quyết sách mạnh mẽ nhằm thúc đẩy việc học tiếng Anh trong nhà trường. Singapore đã phát triển một phần vì biết dùng tiếng Anh làm công cụ giao tiếp phổ biến. Gần đây nhất, Chính phủ mới của Hàn Quốc cũng đã có một chương trình đầy tham vọng, đưa Hàn Quốc trở thành một quốc gia sử dụng tiếng Anh hàng đầu Châu Á. Ngoại ngữ là công cụ bắt buộc phải có để làm việc trong môi trường toàn cầu hóa, là phương tiện tốt nhất để tiếp cận với tri thức hiện đại, để hiểu biết một cách chắc chắn, có gốc rễ. Có ngoại ngữ giỏi người ta tự tin và có bản lĩnh hơn. Đã đến lúc phải phổ cập tiếng Anh từ bậc tiểu học để khi lên đại học sinh viên không còn phải khó khăn trong việc sử dụng tài liệu bằng tiếng nước ngoài nữa, để mỗi lần xét chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư, ứng viên không phải bị thẩm định về ngoại ngữ nữa!

Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu và cũng là cơ hội để Việt Nam hội nhập, để giáo dục Việt Nam làm bạn với giáo dục các nước trên thế giới. Trên sân chơi quốc tế chúng ta vừa phải nhập cuộc, vừa phải tỉnh táo biết mình là ai, để không thu mình lại nhưng 5

cũng không bắt chước, rập khuôn vội vã. Làm thế nào để tiếp nhận và lớn lên qua làn sóng toàn cầu hóa. Đó là thách thức đối với giáo dục Việt Nam, trước hết là với những người có trách nhiệm lãnh đạo, với các nhà quản lý giáo dục hiện nay.

Đỗ Anh Thơ: Triết học học đường –

( Bài này đăng lần đầu trên Talawas năm 2005, sau đó nhiều mạng trong và ngoài nước đã đăng lại)

 

Đề cập tới hai chữ “triết học”, các em học sinh sinh viên đều có một cách nhìn giống nhau, cho rằng đây là một môn học khô khan, trừu tượng , khó hiểu. Do đó phần lớn thời gian khi ngồi trên ghế nhà trường các em đều học một cách đối phó, bị động, học thuộc lòng, không hề có chút nào động não. Do đó nên đến lúc ra trường công tác, làm những lao động ngành nghề khác nhau trong xã hội, các em hầu như đều biến thành những công cụ, những cỗ máy bị điều khiển, làm theo lệnh chỉ huy từ trên xuống, không bao giờ biết phản tư, phê phán, lật ngược vấn đề mà tìm ra những ý tưởng mới, sáng tạo mới. Đây là hậu quả của việc học tập rập khuôn theo sách vở thánh hiền kéo dài hàng nghìn năm nay ở đất nước ta, mà đến nay chúng ta vẫn đang theo. Lối mòn đó là xem lời của Khổng, Mạnh (nay thì lời của thầy, sách của Bộ do những nhóm “chuyên gia” già cả, không được cập nhật hóa soạn thảo) là chân lý tuyệt đối, buộc phải noi theo.

Bước sang thế kỷ 21, một trong những cải cách đầu tiên của ngành giáo dục là vấn đề rèn luyện cho các em có được cái tư duy “biết phủ định”. Ta không nên gọi đó là “nếp” suy nghĩ như lâu nay vẫn quen dùng mà phải gọi là “phương pháp”. Bởi vì đã là “nếp” nhăn trong bộ não là ngày càng hằn sâu, nó khác với phương pháp là phải luôn luôn thay đổi. Và chỉ có trên cơ sở biết phủ định, biết phản tư (criticism), biết tìm tòi những sai lầm trong nhận thức của bản thân mình và của người khác, thì ta mới có khả năng có giả tưởng, có sáng tạo và tìm ra được những ý tưởng mới.

Truy nguyên từ chữ Hy Lạp cổ, “philosophia” gồm có hai thành tố: “philo” có nghĩa là ham thích, “sophia” là tranh biện. Còn chữ triết học (哲學) thì tuy là chữ Hán nhưng được các học giả Nhật Bản sử dụng đầu tiên để dịch chữ “philosophia”. Sau đó Hoàng Đạo Quang, Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi… mới dùng nó để dịch hàng loạt sách triết học phương Tây, trở nên phổ biến rộng rãi như ngày nay. Đem chiết tự chữ “triết” ta cũng có hai thành tố là “chiết” và “khẩu”, nghĩa là dùng lời lẽ để bắt bẻ.

Bản thân danh từ philosophia có hàm nghĩa rất rộng. Đó là sự ham hiểu biết, yêu trí tuệ (love of wisdom). Bởi vậy, đề cập đến triết học còn có nghĩa là ta say mê tìm hiểu, nhận thức về ta, về thế giới xung quanh. Nó đồng nghĩa với khái niệm tìm hiểu “tính” (giống loài, trong đó có ta, có con người) và “thiên đạo” (vũ trụ) của triết học phương Đông.
Tìm hiểu cái gì? Như nhà triết học vĩ đại người Đức là Kant đã nói, đó là bốn vấn đề: ta biết và chưa biết cái gì, ta cần phải làm gì, ta có kỳ vọng gì, và con người ta là gì. Sự truy tìm đó là khôn cùng, bằng lý niệm và kinh nghiệm, bằng duy tâm và duy vật, bằng thực chứng và giả chứng (giả thiết), bằng phương pháp quy nạp và diễn dịch, v.v… Từ đó mà trên thế giới, trong lịch sử đã có hàng mấy chục học phái khác nhau, chống đối nhau, kế thừa nhau, hưng khởi rồi lụi tàn. Mỗi học phái đều có cái đúng cái sai khác nhau, và không có cái nào là chân lý, đúng tuyệt đối. Có thể nói “chân lý” là cái mà con người, từ thế hệ này sang thế hệ khác, truy cầu nhưng không bao giờ nắm bắt được. Đứng trên quan điểm đó nên Einstein, Whitehead… mới có thể tìm ra thuyết tương đối, cơ học lượng tử, chứng minh được những cái sai, cái bất cập của cơ học cổ điển của Newton, từng ngự trị gần ba trăm năm cho đến khi con người bước ra khỏi sức hút của quả đất thì mới lộ rõ cái sai. Với lý thuyết mới, ta giải thích được tại sao không gian lại cong đi mà thời gian thì co lại, mới có thể chứng minh được tiên đề song song là sai hoặc định luật tổng góc trong của hình tam giác có thể lớn hơn hoặc bé hơn 180 độ tuỳ theo mặt không gian lồi hay lõm, v.v…

Tất cả những điều đó đều nhờ có những bộ não luôn luôn biết lật đi lật lại vấn đề. Thế kỷ trước đã như vậy, bước sang thế kỷ 21, khi các ngành khoa học ngày càng giao thoa, giao diện (interdisciplinary, interface), tuỳ thuộc lẫn nhau mãnh liệt hơn bao giờ hết, thì con người lại cần phải có cách suy nghĩa như vậy. Hầu như mọi phát minh khoa học đều nẩy sinh trong miền giao thoa này. Triết học là môn khoa học lý luận về tư duy, càng có sự giao thoa, giao diện mạnh hơn rất nhiều lần. Ngày nay, người ta không còn bàn đến vấn đề là phải kết luận dứt khoát vật chất có trước hay tinh thần có trước, không còn phải phân định rạch ròi giữa duy vật và duy tâm… Người ta đã đi sâu hơn về mặt bản thể luận, về mặt ngoại vật lý (metaphysic) mà trước nay ta quen dùng theo thuật ngữ của giáo sư Hoàng Xuân Hãn là “siêu hình”. Trong khi đó ở Trung Quốc, họ lại mượn thuật ngữ của Kinh dịch là “hình nhi thượng” để diễn đạt khái niệm metaphysic, tức là những cái có trước vật chất, tồn tại trước sự sống, ví dụ như gien có trước khi em bé chào đời. Bởi thế, hiện nay không chỉ phương Tây mà ở Nhật, Trung Quốc cũng đang chú trọng nâng cao tu dưỡng triết học, nhất là phần meta, là cái gốc của nhận thức (Trung Quốc dùng chữ nguyên 元 cũng lại là một thuật ngữ của Kinh dịch, chỉ quẻ Càn) cho học sinh sinh viên. Triết học đây không còn bó hẹp trong triết học chính trị mà đã mở rộng ra tới triết học khoa học, triết học toán, triết học sinh vật, triết học môi trường (không chỉ là môi trường sống của con người mà còn cả quyền sống của muôn loài khác), triết học đạo đức, thậm chí cả triết học nữ quyền (feminism)… Thật vậy, với đà phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, không có cái gì mà con người không làm được, kể cả nhân bản vô tính, phục chế con người (human cloning, human reproductive cloning), nhưng đồng thời, nếu như không có triết học luân lý, đạo đức, nghĩa là không có tư duy đúng, nguyên lý luận đúng, thì con người cũng có thể đánh mất tất cả và sẽ đi đến chỗ diệt vong. Tư duy đúng ở đây không phải là lặp lại cái khuôn mẫu có sẵn, sáo rỗng, giáo điều, bảo thủ mà bản thân thuật ngữ của nó (dogmatism) đã nói lên tất cả. Tư duy đúng là tư duy mở, có tính tranh luận, ham hiểu biết, dám phủ định… như đã nói ở trên .

Cái hồ nước cho dù rộng mấy nhưng không có dòng chảy, không có sông suối, không thông ra biển cả… thì trước sau cũng trở thành cái hồ chết mà thôi. Đến đây, sẽ có rất nhiều học giả bảo thủ nêu lên các lý do nào là “hoà nhập” mà không “hoà tan”, v.v… để cho rằng những dòng triết học khoa học phương Tây, triết học hiện đại mang tính hiện sinh, thực dụng là tư bản suy đồi… Đó là những lời ngụy biện. Thật ra, lâu nay những nhà nghiên cứu triết học, kể cả các bậc có học vị cao, do thiếu cái nền học vấn khoa học cơ bản sâu (toán, lý, hoá trên đại học), thiếu hiểu biết kỹ thuật, nên luận đề của họ đưa ra đầy rẫy mâu thuẫn. Chỉ nói riêng mệnh đề nêu trên, lấy thí nghiệm Bernoulli, là thí nghiệm bơm một giọt mực vào một bình nước, để dẫn chứng. Quan sát hiện tượng, ta sẽ thấy nếu để yên, dòng mực thành một tia rồi tan dần, nhưng nếu đem bình lắc mạnh thì nó hòa lẫn ngay với nước. Điều đó chứng tỏ, dòng mực nếu không đủ nhiều, đủ mạnh, đủ đậm đặc… thì sự hoà tan không để lại chút dấu vết gì là điều tất yếu. Do vậy, trong một xã hội mở, muốn bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, chúng ta không thể lập hàng rào.

Giống như trong bình nước, ta chỉ có thể tìm những lối tư duy mới, cơ chế miễn dịch mới. Đó là phương pháp giảng dạy, đào tạo mới, trước hết là phương pháp tư duy (triết học) mới. Ta có thể lấy câu nói của George Polya (1888-1985), nhà toán học Mỹ gốc Hungary, bàn về phương pháp dạy toán, là phải “dạy cho học sinh suy nghĩ” (teach to think). Ban đầu là “làm thế nào để giải đề” (How to solve it) sau tiến lên một mức cao hơn là “khám phá con đường logic phát hiện toán học” (the logic of mathematical discovery) để cải tiến cách dạy và học các môn khoa học nói chung, triết học nói riêng. Ở nước ta, đây có lẽ là nội dung triết học học đường mà trước hết các bậc giáo sư phải được học và cập nhật để lột xác – cho dù có phần đã muộn.

 

Trần Văn Kinh.         TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA NHẬT BẢN.

( Bài đã đăng lần đầu trên Tạp chí Nghiên cứu Nhật bản của Trung Tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia- số 3/ 1988. Nay có vài chỗ lược bớt hoặc bổ sung nhỏ).

 

Đặc điêm địa lý và lịch sử:

Là một quốc đảo ở Đông Bắc Á, Nhật bản có những đặc điểm lớn về địa lý và lịch sử như sau:

+ Có nhiều núi non, với hơn 75% diện tích là rừng và núi, chỉ có 20% là đất nông nghiệp,

+ Có khí hậu tương đối ôn hòa. Lượng mưa cũng đáng kể : 1600-1700 mm/ năm. Phía nam Nhật Bản có điều kiện khí hậu gần giống như vùng Đông Nam Á.

+ Nằm tương đối cách biệt với lục địa, nhưng không quá xa các trung tâm văn minh của thế giới,

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, Nhật bản không bị sự xâm nhập ồ ạt của các luồng nhập cư hoặc sự chiếm đóng của nước ngoài nào, trừ sự chiếm đóng của Đồng Minh sau thế chiến thứ hai.

Những điều kiện đó dẫn đến một đặc điểm phát triển khái quát là:

 

Nhật Bản đủ xa lục địa để không chịu trực tiếp những ảnh hưởng đột biến của lục địa, nhưng lại đủ gần để có thể hưởng những thành quả của các nền văn minh đó một cách có chọn lọc.

Vì thế mà Nhật bản có một nần văn hóa rất đậm nét dân tộc với những đặc điểm lớn như sau:

 

  1. 1.    Một nền văn hóa có tính thuần nhất và tính cộng đồng cao.

Từ hàng ngàn năm trước, các hòn đảo Nhật bản đã là ngôi nhà chung của nhiều người nhập cư từ các nơi khác nhau trên lục địa. Những người Nhật đầu tiên từ Sibia đến còn để lại dấu tích trên những chiếc cầu xây bằng đất, các kiểu nhà ở.

Nhiều đặc điểm phong tục, văn hóa tương tự vùng phía Nam Trung quốc trong khi các đồ chế tác và lăng mộ gợi đến việc di cư của người Triều tiên, Mông Cổ và vùng phía bắc Trung quốc…

Trải qua nhiều thời đại lịch sử, sự pha trộn đó đã sản sinh ra một dân tộc có văn hóa thuần nhất, phân biệt với các nước khác.

Xã hội Nhật bản đã sản sinh ra một cộng đồng người tự giác, có kỷ luật, có ý thức chung và ngầm hiểu với nhau về những trách nhiệm phải hoàn thành hoặc kế thừa mà không cần có ai ra lệnh.

Chúng ta từng được nghe nhiều câu chuyện  trong thời gian nước Nhật bị tai họa động đất và sóng thần hồi đầu năm nay, như là câu chuyện sau đây: Khi chú công an tìm thấy em bé đã đói lả sau mấy ngày bị vùi dưới đống đổ nát, chú công an đã lấy suất ăn mang theo của mình đưa cho em bé. Em cám ơn rồi mang suất ăn đó bỏ vào hòm đựng thức ăn chung. Hỏi vì sao, em trả lời:  Bởi vì còn nhiều người cũng đói như em, em sẽ nhận phần ăn như mọi người khi đến giờ được phân phát.

Ở Nhật bản, điều quan trọng là truyền thống của một cộng đồng nhiều hơn là của một cá nhân. Hơn nữa, cộng đồng đó cũng lại là một cộng đồng hiếu học. Đặc trưng này đã đóng góp nhiều vào tính chất thuần nhất của xã hội Nhật bản.

Đương nhiên là chủ nghĩa cộng đồng Nhật bản có cả mặt tích cực và tiêu cực của nó. Về mặt tiêu cực, nó gợi cho ta nhớ lại sự mù quáng tuân theo chế độ chính trị quân phiệt, mà sản phẩm tiêu biểu của nó là chủ nghĩa phát xít Nhật trong Đại chiến Thế giới lần thứ hai. Nhưng về mặt tích cực, thực thể cộng đồng đó lại có những đóng góp to lớn vào việc hiện đại hóa nước Nhật trong thời đại Minh Trị từ năm 1868, và đặc biệt là sự thần kỳ phát triển kinh tế hậu chiến sau Đại chiến thứ hai.

 

  1. 2.    Dễ dàng tiếp thu văn hóa nước ngoài.

Học tập người khác luôn luôn được người Nhật coi trọng. Tứ hải giai huynh…..(bốn bể đều là anh- theo nghĩa là có nhiều điều cho mình học, khác với Tứ hải giai huynh đệ của Khổng Tử, có nghĩa là bốn bể coi nhau như anh em)

Có thể nói, nhân dân Nhật bản đã hấp thụ có chọn lọc nhiều phát kiên văn hóa của các dân tộc khác trên thế giới. Người Nhật không bảo thủ, không đóng cửa, nhưng không vì thế mà đánh mất cốt cách của dân tộc mình. Đã ba lần trong lịch sử, người Nhật tạo ra được những bước  tiến lớn mang tính đột biến trong lịch sử: Học tập nền văn minh Trung Quốc thế kỷ thứ VII, Duy tân thời Minh Trị 1968- 1900, và sự phát triển thần kỳ sau năm 1945. Cả 3 lần đó đều là 3 lần học tập và tiếp thu nền văn minh của nước ngoài một cách sáng tạo.

Hơn nữa, người Nhật cũng rất giỏi đồng hóa những yếu tố nước ngoài vào các sản phẩm của họ. Mẫu tự KANJI trong tiếng Nhật là cải tiến từ mẫu tự tượng hình của tiếng Trung quốc vốn rất phức tạp. So với chữ NÔM của ta, mẫu tự KANJI cũng đơn giản hơn nhiều. Kinh Phật KAMAKURA là một ví dụ khác của việc Nhật hóa.

Người Nhật coi trọng hoàn cảnh cụ thể nhiều hơn là chân lý phổ quát. Đạo Khổng ở Nhật có nhiều ứng dụng trong đời sống hơn là ở nơi đã sản sinh ra nó. Chữ tín trong các mối quan hệ, sự tự giác, nhận lấy việc khó, không đùn đẩy trách nhiệm, trái lại, sẵn sàng giúp đỡ người khác…là những đức tính của người Nhật. Chủ nghĩa tư bản ở Nhật cũng khác với chủ nghĩa tư bản châu Âu: Mỗi công ty như một cộng đồng và người ta chẳng những làm việc vì nó suốt đời,  mà còn vì nó cho các thế hệ sau.

 

  1. 3.    Sự tinh tế và khéo léo.

Một trong những phong cách thẩm mỹ của người Nhật là sự tế nhị, đơn giản và gián tiếp. Sự tế nhị hàm ý không thật hiển nhiên, đập ngay vào mắt, trái lại, phải có sự chú ý, xem xét, và trân trọng. Trà đạo của Nhật, nghệ thuật cây cảnh BONSAI, các mẫu sản phẩm và cách làm quảng cáo của họ… đều thể hiện sự tinh tế, nhỏ nhắn và khéo léo.

Tính tiết kiệm dường như cũng gắn liền với đầu óc tinh tế và khéo léo Những chiếc ô tô nhỏ nhắn vừa đủ dùng và tiết kiệm xăng, những mặt hàng điện tử đẹp, bền và tiết kiệm năng lượng…là thói quen của họ. Không thấy ở đâu họ có sự phô trương, lòe loẹt, lãng phí.

 

  1. 4.    Sự thờ cúng tổ tiên.      

Đạo Phật, đạo Shinto (thờ cúng tổ tiên và thánh thần), đạo Khổng, đạo Thiên chúa, đó là những tôn giáo lớn ở Nhật. Có một sự trộn lẫn của cả 4 thứ tôn giáo đó trong đời sống tinh thần của mỗi cá nhân , nhưng sự thờ cũng tổ tiên là có ảnh hưởng to lớn nhất. Có thể chính cái ảnh hưởng to lớn này đã là một cản trở đối với sự truyền bá rộng rãi hơn nữa của nhiều tôn giáo khác. Chẳng hạn ở Nhật chỉ có 1% dân số theo đạo Thiên chúa, mặc dù người Nhật coi đó cũng là một tôn giáo lớn.

 

  1. 5.    Đâu óc công nghệ.

Trước bất kỳ một công việc gì, dù trong hoàn cảnh nào, họ cũng giữ được sự bình tĩnh, không nhiều lời, không vội bàn đến những cái quá xa. Họ chia việc lớn ra làm nhiều việc nhỏ, lại chia việc nhỏ ra làm nhiều việc nhỏ hơn nữa, cứ thế mà bình tĩnh giải quyết, xong cái trước đến cái sau, để đi đến đích. Khẩu hiệu của họ là : “Cái gì mà con người có thể  tưởng tượng ra được thì công nghệ sẽ đạt tới.” (what the mankind can image, the technology can  reach!)

Đầu óc công nghệ của người Nhật có lẽ cũng gắn với một đức tính khác: sự bền bỉ và chăm chỉ. Trước đây, tôi từng được nghe một câu nói của họ: “Trước mắt người Nhật, toàn thế giới là những người lười“. Khi ở bên Nhật, tôi lại được nghe một câu nói khác: ” Trước mắt người Hàn Quốc, toàn thế giới là những lười, kể cả người Nhật“. Phải chăng vì thế mà nước Nhật và Hàn quốc đã làm nên những kỳ tích trong phát triển kinh tế và xã hội đó sao ? Và phải chăng việc học tập qua quýt, không đến đầu đến đũa, học lấy được, một năm mấy lớp, cốt cho có bằng để làm đẹp hồ sơ, bất kể chất lượng, bất kể thầy bà, sách vở, trường lớp, và phương pháp học ra sao…như vẫn xảy ra ở chúng ta lâu nay, cách làm đó rồi sẽ biến chúng ta thành những người “làm thầy thì dở, làm thợ thì dốt”, vô dụng trong xã hội, tiêu phí bao nhiêu thời gian và của cải của xã hội, và có tội với lịch sử.

 

Bàn về Đặc điểm Văn hóa Nhật bản là một việc làm rất khó, nhất là đối với người viết bài này. Tuy nhiên, muốn học tập người khác để có thể trở thành một nước hiện đại và phát triển, trước hết phải nghiên cứu đặc điểm văn hóa của họ, trước hết phải nâng cao tầm văn hóa của mình. Nghĩ như thế nên người viết muốn ghị lại những điều mà mình tìm hiểu được, dù có thể rất nông cạn. Mong được các bậc trí giả và bạn đọc vui lòng chỉ bảo cho .

Hà Nội mùa thu 2011

Trần Văn Kinh

 

CHUYÊN MỤC: THƠ VĂN

 

          ( Bài lấy trên mạng của tác giả Tạ Nghi Lễ)

 

Thời đã xa


Trở lại sân trường
Nắng ngẩn ngơ nhìn ta xa lạ
Chùm phượng đỏ hôm nao
Giờ chỉ xanh màu lá
Vết chân xưa mưa nắng cũng nhoà!

Chỗ ngồi kia đâu phải của riêng ta
Còn đâu nữa những giờ học
Thả hồn theo gió
Lời mắng nhẹ nhàng của thầy
Giờ đây nghe xa quá!
Kỉ niệm tràn về thật ngân nga!

Thật ư
Thời học trò đã xa
Tuổi thơ cũng vụt qua
Ta lặng lẽ bước đi trong niềm nhớ
Thầy cô bạn bè ơi!
Biết vao giờ gặp lại
Thời gian thì trôi mãi
Trôi xa!!

—————————————
Lời Của Thầy

Rồi các em một ngày sẽ lớn
Sẽ bay xa đến tận cùng trời
Có bao giờ nhớ lại các em ơi
Mái trường xưa một thời em đã sống

Nơi đã đưa em lên tầm cao ước vọng
Vị ngọt đầu đời bóng mát ca dao
Thuở học về cái nắng xôn xao
Lòng thơm nguyên như mùi mực mới

Dẫu biết rằng những tháng ngày sắp tới
Thầy trò mình cũng có lúc chia xa
Sao lòng thầy canh cánh nỗi thiết tha
Muốn gởi các em thêm đôi điều nhắn nhủ

Một lời khuyên biết thế nào cho đủ
Các em mang theo mỗi bước hành trình
Các em lúc nào cũng nhớ đừng quên:
Sống cho xứng với lương tâm phẩm giá…

Rồi các em mỗi người đi mỗi ngả
Chim tung trời bay bổng cánh thanh niên
Ở nơi đâu: rừng sâu, biên giới khắp ba miền
Ở nơi đâu có thầy luôn thương nhớ

CHUYÊN MỤC: CHUYỆN XƯA…CHUYỆN NAY

 

 

Các thầy đồ nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam

 

Nhân dịp chào mừng ngày Nhà giáo VN 20/11, mình xin mạn phép giới thiệu sơ lược một số nhà giáo nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam để mọi người có cái nhìn đầy tự hào về truyền thống hiếu học và tinh thần nghìn năm văn hiến của dân tộc ta.


1) CHU VĂN AN (1292 – 1370):

Tên thật là Chu An là một đại quan, được phong tước Văn Trinh Công nên đời sau quen gọi làChu Văn An. Quê ông ở làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay là huyện Thanh Trì – Hà Nội).

Là người tài giỏi, đức độ nên được nhiều người kính trọng. Đời vua Trần Minh Tông ông được giao chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám và phụ trách việc dạy dỗ các Hoàng tử, Vương tôn. Đến đời vua Trần Dụ Tông, ông dâng sớ xin chém đầu bảy tên nịnh thần nhưng không được chấp nhận nên cáo quan về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng. Khi ông mất Trần Nghệ Tông truy phong là Văn Trịnh Công rồi cho thờ ở Văn Miếu Quốc Tử Giám.

Ngay từ khi còn sống nhân dân luôn ca ngợi phẩm chất thanh cao tuyệt vời của ông và coi ông là người thầy vĩ đại. Cuộc đời của ông dù có trải qua bao nhiêu thăng trầm thì bản chất luôn là một thầy giáo mẫu mực. Ông được đánh giá là nhà sư phạm toàn diện nhất trong lịch sử đất nước. Trong suốt cuộc đời hành nghề giáo dục, Chu Văn An đã dạy hầu hết các học sinh từ thấp đến cao, từ bình dân đến quý tộc. Ông nỗ lực giảng giải các học thuyết kinh điển của Nho gia, tạo điều kiện để đưa lý thuyết Khổng Mạnh đi dần đến chỗ độc tôn. Ông có một phương pháp giảng dạy rất đặc biệt nên hấp dẫn được học trò và làm cho mọi người phải tôn kính. Tài, đức của ông làm cho quỷ thần cũng phải kính phục và đến để học tập. Phan Huy Chú đã ca ngợi: Học nghiệp thuần tuý, tiết tháo cao thượng, làng Nho nước Việt trước sau chỉ có một ông, các ông khác không thể nào so sánh được.

Cuộc đời thanh bạch và tiết tháo của ông là tấm gương sáng của thời phong kiến. Ông là một trong số rất ít bậc hiền nho được thờ ở Văn Miếu. Sự nghiệp của ông được ghi lại trong văn bia ở Văn Miếu- Quốc Tử Giám.

Những học trò nổi tiếng của ông: Phạm Sư MạnhLê Quát

2) VÕ TRƯỜNG TOẢN (? – 1792):

Quê làng Thanh Kệ (nay thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế), sau vào Nam, ngụ tại huyện Bình Dương, phủ Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là một học giả Nho giáo nổi tiếng tại miền Nam Việt Nam. Trong thời chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn Ánh, ông ở ẩn, mở trường dạy học, không tham gia vào chính sự. Học trò của ông khá đông và nhiều người nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, Ngô Tùng Châu, Phạm Đăng Hưng, Lê Bá Phẩm.

Nguyễn Phúc Ánh (Vua Gia Long sau này – NTL) mến mộ ông nên mỗi khi ghé Gia Định thường triệu ông đến đàm đạo. Võ Trường Toản tiến chúa Nguyễn 10 điều về phương lực cứu quốc và kiến quốc.

Võ Trường Toản được các sĩ phu Nam Bộ tôn là “Thái sơn Bắc đẩu”. Ông mất ngày mồng 9 tháng 6 năm Nhâm Tý (tức 27 tháng 7, 1792). Lúc mất ông được nhà Nguyễn tặng danh hiệu “Gia Ðịnh sử sĩ Sùng Đức Võ tiên sinh” để khắc vào bia mộ, và đôi liễn truy điệu:

Triều hữu huân danh, bán thuộc hà phần cực học;

Đẩu nam phong giáo, tề khâm nhạc lộc dư hay.

Để tưởng nhớ công đức của ông, học trò cũ đã viết đôi liễn:

Sinh tiên giáo huấn đắc nhân, vô tử nhi hữu tử

Một hậu thịnh danh tại thế, tuy vong giả bất vong”

(Dịch nghĩa:

Lúc sống dạy dỗ được người, không con cũng như có. 

Chết, tiếng tăm còn để, mất mà chẳng mất).

Hài cốt ông lúc đầu được chôn tại làng Hòa Hưng, huyện Bình Dương. Năm 1855, Phan Thanh Giản tâu xin lập miếu thờ ông tại làng Hòa Hưng. Đến đời Tự Đức năm 18 (1865), ông được cải táng về làng Bảo Thạnh, Ba TriBến Tre.

 

3) NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888):

Cụ Đồ Chiểu sinh ra ở phủ Tân Bình (Gia Định). Cuộc đời ông gặp rất nhiều đau khổ (đỗ tú tài nhưng bỏ thi Hội về chịu tang mẹ, trên đường về ốm nặng, khóc thương mẹ đến nỗi mù mắt, vợ chưa cưới bội ước). Vượt lên hoàn cảnh, ông mở trường dạy học, làm thuốc. Khi giặc Pháp xâm lược, Nguyễn Đình Chiểu vẫn giữ vững khí tiết, dùng văn chương làm vũ khí, ca ngợi nghĩa quân. Nguyễn Đình Chiếu đề cao trung, hiếu, tiết, nghĩa, bộc lộ lòng yêu nước, yêu nhân dân. Tác phẩm nổi tiếng: Lục Vân Tiên, Ngư tiều y thuật vấn đáp, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.

 

4) Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM (1491 – 1585):

Ông sinh năm Tân Hợi đời vua Lê Thánh Tông, tức năm Hồng Đức thứ 22 (1491), tại thôn Cổ Am, Hải Dương, nay là huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Sinh trưởng trong một danh gia vọng tộc, thân phụ ông là Thái bảo Nghiêm quận công Nguyễn Văn Định, thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan Thượng thư Nhữ Văn Lan, là người giỏi văn thơ và am hiểu lý số, nên Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã hấp thụ truyền thống gia giáo kỷ cương.

Vì ông đỗ trạng nguyên và được phong tước Trình Tuyền hầu nên dân gian gọi ông là Trạng Trình.

Làm quan được 7 năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần nhưng không được vua nghe nên xin cáo quan năm 1542.

Khi về trí sĩ, ông dựng am Bạch Vân và lấy hiệu Bạch Vân Cư Sĩ mở trường dạy học cạnh sông Hàn giang, do đó còn có tên Tuyết giang và học trò gọi ông là “Tuyết giang Phu tử”. Học trò của ông có nhiều người cũng nổi tiếng như Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, một nhà ngoại giao hay Nguyễn Dữ, tác giả Truyền Kỳ Mạn LụcLương Hữu KhánhNguyễn Quyền.

Trong hoàn cảnh lịch sử thế kỷ XVI, có thể nhận thấy rằng nhân dân Việt Nam đang có một sự trông ngóng về một con người có tài năng siêu việt và là chỗ dựa tinh thần cho mọi người. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất hiện và ngay lập tức được đón nhận. Người ta thấy rằng ông quả là bậc hiền tài mà họ trông chờ, ông mang đủ tư cách của một ông thầy đáng để cho họ quý trọng. Bằng vốn văn hoá phong phú của mình, ông đã cô đúc được rất nhiều triết lý của cuộc sống. Ông nêu ra được những phạm trù biện chứng, ông giáo dục đạo đức làm người và phê phán những thói hư tật xấu. Nhưng dù khen, chê hay dạy dỗ thì ngôn ngữ, phong cách và tư tưởng của ông vẫn rất bình dị, gần gũi. Đó cũng là một khía cạnh đáng quý trong con người ông. Thực ra những điều ông nói vẫn là sự thực mà ai cũng biết, ông chỉ là người cô đúc, hệ thống lại các triết lý đó rồi dựa vào đó để đi sâu phân tích, để triết lý được đầy đủ hơn. Nhờ vậy, ông đã làm nổi bật thực trạng xã hội và thức tỉnh được lương tri cao đẹp của con người trong cuộc sống xô bồ. Nhân dân luôn coi ông là một người thầy xuất sắc, một học giả uyên bác đã có công cảnh tỉnh họ, đã bày cho họ một lối ứng xử thích hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. Biết được những cách xử thế đó, nhân dân lao động có thể tồn tại vững vàng giữa bao nhiêu chuyện mất còn thị phi của chế độ phong kiến đang ở bước suy vong.

Ông mất năm Ất Dậu (1585) hưởng thọ 94 tuổi. Lễ tang ông có quan phụ chính triều đình là Ứng vương Mạc Đôn Nhượng dẫn đầu các quan đại thần về dự. Việc vua Mạc cử người được vua coi như cha về dự lễ tang nói lên sự trân trọng rất lớn của nhà Mạc với Trạng Trình. Trong buổi lễ tang ấy, Ứng vương đã thay mặt vua truy tặng Nguyễn Bỉnh Khiêm tước Thái phó Trình quốc công.

Nhận xét về Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà sử học Phan Huy Chú đã viết trong bộ sách lớn Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí: “Một bậc kỳ tài, hiền danh muôn thưở”.

 

La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp khi về thăm đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm, có bài thơ Quá Trình tuyền mục tự (Qua thăm đền cũ Trình tuyền) đã xem Trình tuyền là người có tài “Huyền cơ tham tạo hóa” (nắm được huyền vi xen vào công việc của tạo hóa).

 

5) LÊ QUÝ ĐÔN (1726 – 1784):

Tên thật Lê Danh Phương là quan của nhà Hậu Lê đồng thời có thể coi là một nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực.

Ông được mọi người biết đến với những công trình văn hoá, văn học xuất sắc và ông còn nổi tiếng là một nhà nho, một nhà giáo dục có đức độ, tài năng. Ông mở trường lớp, thu nhận học trò và dạy họ những kiến thức, những đạo đức làm người nên tình cảm của học trò đối với ông rất sâu sắc. Khi Lê Quý Đôn mất, Bùi Huy Bích – một học trò rất thành đạt của ông đã làm bốn bài văn tế thầy đã nói “Thông minh nhất đời, đọc rộng các sách, trước thuật văn chương đủ dạng đời và lưu truyền về sau. Nước ta trong vài trăm năm nay mới có người như vậy”, “Sự dạy bảo của thầy không liệt vào năm bậc luân thường nhưng năm bậc luân thường cũng từ đó mà sắp đặt. Trang phục của học trò không ghi trong tang lễ nhưng không phải tang lễ có thể ra trang phục…ơn dạy bảo sâu dày mà không thể báo đền, tình mến cảm triền miên mà không bao giờ hết được”.

 

6.-Nguyễn Thiếp (1723-1804)

Nguyễn Thiếp là cháu đời thứ 11 dòng họ ba trăm năm cự tộc ở xứ Nghệ. Những gì ông đã làm được đủ chứng minh một tấm lòng ưu dân, ái quốc, một nhân cách lớn của kẻ sĩ.

Nguyễn Thiếp, huý Minh, tự Quang Thiếp, hiệu tự đặt là Lạp Phong cư sĩ, Bùi Phong cư sĩ, Cuồng Ẩn, Hạnh Am tiên sinh, Nguỵêt Ao tiên sinh, La Giang phu tử. Riêng Nguyễn Huệ gọi ông là La Sơn phu tử, sau lại ban cho La Sơn tiên sinh. Thuỷ tổ quê ở Cương Gián (Nghi Xuân, Hà Tĩnh), lấy vợ lẽ lập chi họ Nguyễn ở xã Nguyệt Ao, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, phủ Đức Quang (nay là xã Kim Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh).

Lúc nhỏ Nguyễn Thiếp và ba anh em trai nhờ mẹ chăm sóc và chú kèm cặp nên đều học giỏi. Năm 19 tuổi ông theo chú là Nguyễn Hành (đang làm Hiến sát sứ Thái Nguyên), ra đó du học và được chú gửi cho bạn thân là Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm kèm cặp dạy dỗ thêm.

Chưa được một năm thì ông chú đột ngột mất ở lỵ sở, Nguyễn Thiếp phát bệnh điên bỏ đi và được một cụ già đưa về nhà chăm sóc, chữa trị, sau đó mới về được đến nhà. Năm sau, Nguyễn Thiếp ra thi hương trường Nghệ trúng hương giải khoa Quý Hợi (1743) nhưng ông lại không đi thi Hội mà đi ở ẩn, một phần do bệnh tật, nhưng chủ yếu là do thời cuộc lúc bấy giờ. Trong thì Chúa Trịnh Doanh chuyên quyền, vua Lê Hiển Tông chỉ có hư vị, ngoài thì tứ phương loạn lạc, nhân dân thì đói khổ điêu linh.

Ở ẩn khoảng 6 năm đọc sách và du ngoạn, năm Mậu Thìn (1748), ông ra Bắc Hà thi Hội và đậu Hội thi Tam trường. Sau đó ông vào Bố Chính dạy học, đến năm Bính Tuất (1756), lúc này đã 34 tuổi, Nguyễn Thiếp được bổ Huấn đạo Anh Đô (Phủ Anh Sơn, tỉnh Nghệ An).

Làm Huấn Đạo được 6 năm, ông được bổ làm tri huyện Thanh Chương. Đến năm Mậu Tý (1768), ông xin từ quan về ở ẩn tại trại Bùi Phong trên dãy Thiên Nhẫn, người ta gọi ông là Lục Niên tiên sinh.

Năm Bính Ngọ (1786), Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc diệt họ Trịnh, sai người đưa thư và vàng lụa lên sơn trại mời ông ra giúp việc nhưng ông từ chối đến ba lần. Tháng tư năm Mậu Thân (1788), trên đường ra Thăng Long trừ Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Huệ gửi thư mời ông xuống hội kiến ở Lam Thành, lời thư vẫn tha thiết, ông đành xuống núi nhưng vẫn chưa chịu ra giúp.

Sau khi lên ngôi Hoàng đế, vua Quang Trung kéo quân ra Thăng Long diệt giặc Thanh, đến Nghệ An nghỉ binh, nhà vua lại triệu Nguyễn Thiếp đến hỏi phương lược, kế sách đánh giặc ngoại xâm, Nguyễn Thiếp nói: “Người Thanh ở xa tới mệt nhọc không biết tình hình khó dễ thế nào. Vả nó có bụng khinh địch, nếu đánh gấp thì không ngoài mười ngày sẽ phá tan. Nếu trì hoãn một chút thì khó lòng mà được nó”.

Sau ngày đại thắng quân Thanh đầu xuân Kỷ Dậu (1789), vua Quang Trung về đến Nghệ An lại mời Nguyễn Thiếp đến bàn quốc sự. Lúc này vua Lê vẫn còn nhưng đối với Nguyễn Thiếp, vua Quang Trung là vị anh hùng dân tộc nên tôn nhà vua là Minh chủ.

Năm Tân Hợi (1791) tiếp chiếu triệu của vua Quang Trung, ông vào Phú Xuân, dâng tấu lên nhà vua bàn ba việc mà ông cho là thiết yếu nhất: một là bàn về quân đức; hai là bàn về nhân tâm; ba là luận về học pháp. Nhà vua uỷ cho ông tổ chức việc dịch ra quốc âm và chú thích sách tiểu học, tứ thư, kinh thư, thư dịch.

Năm Nhâm Tý (1792), vua Quang Trung đột ngột băng hà, sự nghiệp của Nguyễn Thiếp đành dở dang. Năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Thiếp đến Phú Xuân nhằm giúp Quang Toản, thì bị Nguyễn Ánh giữ lại. Nguyễn Ánh dụ ông ra giúp việc nhưng bị ông từ chối, ngầm cảm phục và iếp đãi tử tế và xuống chỉ cho ông về. Nguyễn Thiếp trả hết bổng lộc, sống cảnh nghèo túng trên trại Bùi Phong dạy học trò và đọc sách.

Ông mất năm 1804, thọ 81 tuổi. Nhà thờ Nguyễn Thiếp hiện ở xã Kim Lộc, Can Lộc.

           CHUYÊN MỤC:  SƯU TẦM NGỮ NGHĨA:

 

        BQM:

Chữ “ Thày” nếu để chỉ người dạy học thì được dịch sang tiếng TQ là  sư (师) , còn để chỉ người cha là phụ thân(父 亲). Thày trò là :sư sinh (师生), sư đồ (师徒), sư đệ (师弟). Nhưng khi nó kết hợp với chữ giáo(教 ) thì tiếng Việt nhiều khi khác với Tàu. Ví dụ : ta gọi chức danh thày giáo dạy đại học là giáo sư (教 师), nhưng TQ không có từ này, mà họ gọi là ( giáo thụ=教 授). Ta có chữ giáo viên như giáo viên nhân dân,  nhà giáo nhân dân. Nhà giáo (教 家) cũng không có trong tiếng TQ.. Còn nếu có vị đại giáo sư nào xem trò như con mà sang tạo them từ, gọi thày trò là sư tử (师子) thì nhầm to đấy. Trong trường hợp này (师) dược hiểu  như 狮 ( sư tử, lion). Nước sư tử (狮 子 国 ) là tên nước xưa gọi đất Srylanka hiện nay. Thành phố Sư Tử ( 狮 子市) là Singapore xuất phát từ  chữ Singapura trong tiếng Malay, vốn được lấy từ  chữ Phạn là singa (sư tử) và pura (thành phố). Từ đó, Singapore được biết với cái tên là Thành phố Sư Tử. Tên gọi này còn bắt nguồn từ một vị hoàng tử tên là Sang Nila Utama. Theo truyền thuyết, vị hoàng tử này nhìn thấy một con sư tử là sinh vật sống đầu tiên trên hòn đảo và do đó đặt tên cho hòn đảo là Thành phố Sư Tử (Singapura).

Ôi, thật là “ sư chử sư thị đeo lủng lẳng” biết đây mà lần!

  CHUYÊN MỤC : SỨC KHỎE- THƯ GIÃN

 

Sơ đồ tư duy cho người cao tuổi ( tài liệu lấy trên mạng)

( Nếu trên Docago không có hình, xin xem trên doanhtho.blogspot.com. Cảm ơn)

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s