Docago.wordpress.com số ra thứ 3 ngày 25/10/2011 (tức 29 tháng 9 năm Tân Mão)

(  LBT: Từ nay cho đến ngày quốc tế các nhà giáo(20/11), trong vòng một tháng, Docago.wordpress.com sẽ tập trung cho chủ đề giáo dục. Đề nghị các bạn đóng góp bài. Xin cảm ơn)

            

CHUYÊN MỤC: VĂN HÓA GIÁO DỤC ĐÔNG TÂY

 

ALBERT EINSTEIN BÀN VỀ GIÁO DỤC

                          Phạm Thị Ly dịch
Ngày lễ kỷ niệm nói chung là ngày chúng ta dành cho sự hồi tưởng, nhất là để tưởng niệm những nhân vật đã đạt được nhiều thành tựu đặc biệt trong việc phát triển đời sống văn hóa. Buổi lễ thân mật này được dành cho những người tiền nhiệm của chúng ta, ắt là không được quá sơ sài, đặc biệt là khi một kỷ niệm như vậy về quá khứ lại rất thích hợp để khơi gợi những điều tốt đẹp. Nhưng lễ kỷ niệm này đáng lẽ phải do một người mà cả thời thanh xuân của người ấy đã gắn bó với đất nước này và thân thuộc với cả quá khứ của nó đứng ra thực hiện, chứ không phải một người lang thang qua nhiều quốc gia và thu thập kinh nghiệm của mình trong đủ mọi thứ xứ sở khác nhau như tôi. Bởi vậy, tôi cũng không có gì nhiều để phát biểu, ngoài việc nói về những vấn đề trong quá khứ đã từng và trong tương lai sẽ tiếp tục gắn với những vấn đề của giáo dục, không phụ thuộc vào không gian và thời gian.

 

Trong khi cố gắng nói về điều này, tôi không thể đòi hỏi rằng mình phải có vị trí của một người có thẩm quyền để phát biểu, đặc biệt là thẩm quyền về trí thông minh và điều thiện- điều này nghĩa là, con người của mọi thời đại đều phải giải quyết những vấn đề của giáo dục và chắc chắn là đã lặp đi lặp lại rất rõ ràng quan điểm của họ về những vấn đề này.  Làm sao tôi, một  kẻ ngoại đạo trong lĩnh vực giáo dục, có thể can đảm giải nghĩa những vấn đề mà mình chẳng có cơ sở gì ngoại trừ kinh nghiệm cá nhân và sự tin chắc của bản thân mình về những điều ấy? Nếu đó thực sự là một vấn đề khoa học, họa may người ta còn có thể im lặng trước những mối quan tâm như thế. Nhưng những vấn đề về con người thì khác. Giáo dục tương tự như bức tượng cẩm thạch đứng trong sa mạc và liên tục bị đe dọa chôn vùi bởi cát chảy. Luôn luôn cần có những bàn tay chăm sóc để bức tượng cẩm thạch ấy tiếp tục tỏa sáng trong ánh mặt trời. Tôi thấy mình cũng cần góp một bàn tay vào chăm sóc bức tượng ấy.

 

Xưa nay nhà trường bao giờ cũng là phương tiện quan trọng nhất để chuyển giao sự phong phú của truyền thống từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngày nay, điều này thậm chí còn rõ ràng hơn so với các thời đại trước đây, bởi vì trong sự phát triển của đời sống kinh tế hiện đại, chức năng chuyển giao truyền thống và giáo dục của gia đình  đã suy yếu đi nhiều. Do vậy sự tiếp diễn lành mạnh của xã hội loài người vẫn phải tùy thuộc vào học đường với tầm quan trọng còn to lớn hơn cả trước đây.

 

Nhiều khi người ta nhìn nhận mục tiêu của nhà trường đơn giản chỉ là chuyển giao một khối lượng tối đa tri thức nào đó cho thế hệ trẻ. Điều này không đúng. Tri thức thì khô cứng và bất động, trong lúc nhà trường phục vụ cho những con người sinh động. Nhà trường phải giúp từng cá nhân phát triển những phẩm chất và năng lực có giá trị đối với lợi ích chung của cộng đồng. Nhưng điều này không có nghĩa là cá tính sẽ bị triệt tiêu và cá nhân trở thành công cụ đơn thuần của cộng đồng như là con ong hay cái kiến. Bởi lẽ một cộng đồng gồm những thành viên bị tiêu chuẩn hóa và thiếu vắng sự độc đáo và mục đích cá nhân sẽ là một cộng đồng nghèo nàn, không có khả năng phát triển. Trái lại, mục tiêu của giáo dục phải là huấn luyện cho mọi cá nhân đạt đến hành động và suy nghĩ độc lập, đồng thời đạt đến chỗ nhận thức rõ ràng ý nghĩa quan trọng nhất trong đời sống của mình là phục vụ cộng đồng. Theo nhận xét của tôi, hệ thống trường học của người Anh đã đạt đến gần sự nhận thức về lý tưởng này hơn cả.
Nhưng làm cách nào chúng ta có thể đạt được lý tưởng ấy? Liệu có thể thực hiện được mục tiêu này bằng cách răn dạy những bài giảng đạo đức? Không thể được. Ngôn từ là – và chỉ là – những âm thanh rỗng tuếch; con đường dẫn đến diệt vong đã từng được đồng hành bởi những lời lẽ đầu môi chót lưỡi về lý tưởng. Nhưng nhân cách không hình thành từ những gì được nghe và nói, mà từ hành động và sự lao động không ngừng.

 

Do đó, biện pháp quan trọng nhất của giáo dục bao giờ cũng phải nhất quán với những giá trị có thể thôi thúc con người đạt được một thành tựu thực sự. Điều này đúng với việc tập làm văn của một một em học sinh tiểu học, cũng như luận văn tốt nghiệp của một vị tiến sĩ, đúng với việc học thuộc lòng một bài thơ, viết một bài tiểu luận, dịch một đoạn văn, cũng như giải một bài toán, hay tập luyện một môn thể dục thể thao.

Đằng sau mọi thành tựu luôn có một động cơ làm nền tảng, và ngược lại, động cơ ấy được nuôi dưỡng và củng cố nhờ sự hoàn tất mỹ mãn các nhiệm vụ. Ở đây, có những khác biệt to lớn, và đồng thời, những khác biệt ấy đóng một vai trò quan trọng bậc nhất đối với giá trị giáo dục của nhà trường. Động cơ đưa đến thành tựu có thể bắt nguồn từ sự sợ hãi và cưỡng bách, từ khát vọng quyền uy và danh tiếng, hay từ lòng say mê tìm hiểu, từ khao khát chân lý và tri thức, tính hiếu kỳ mà mọi đứa trẻ lành mạnh đều có, nhưng thường sớm lụi tàn.

 

Ảnh hưởng của giáo dục đối với học sinh thông qua việc thực hiện một nhiệm vụ có thể rất đa dạng; tùy thuộc vào sự sợ hãi hình phạt, nỗi đam mê vị kỷ, hay những khao khát khoái lạc và thỏa mãn có tồn tại đằng sau công việc mà đứa trẻ thực hiện hay không. Không ai có thể khẳng định rằng việc quản lý của nhà trường và thái độ của người thầy không tạo ra một ảnh hưởng nào đó đến việc hun đúc nền tảng tâm lý của học sinh.

 

Đối với tôi, điều tệ hại nhất của nhà trường chủ yếu là việc dùng sự khiếp sợ, sự cưỡng bách, và quyền hành giả tạo làm phương pháp giáo dục. Cách thức đối xử như thế sẽ hủy hoại những cảm xúc lành mạnh, lòng trung thực và tính tự tin nơi học sinh. Nó sản sinh ra loại người chỉ biết phục tòng. Không có gì ngạc nhiên khi loại trường học đó đã tạo ra nền cai trị của nước Đức và nước Nga. Tôi cho rằng trường học ở Hoa Kỳ đã tránh được điều này; cũng như ở Thụy Sĩ và nhiều quốc gia khác. Biện pháp để có thể giữ trường học không rơi vào tình trạng tệ hại bậc nhất trên xem ra cũng khá đơn giản. Hãy làm giảm đến mức thấp nhất các biện pháp cưỡng bách trong uy quyền của thầy cô giáo, để cho nguồn gốc duy nhất của lòng tôn sư nơi học trò là phẩm chất trí thức và nhân cách của người thầy.

 

Hai là, cái được gọi là động cơ, khát vọng, hay nói một cách nhẹ nhàng hơn, mong muốn được thừa nhận và quan tâm, vốn sẵn có trong bản chất con người. Không có tác nhân kích thích tinh thần này, sự hợp tác của con người sẽ hoàn toàn không thể thực hiện được; nỗi ước vọng được nhìn nhận chắc chắn là một trong các mãnh lực ràng buộc quan trọng nhất của xã hội. Trong mối cảm xúc phức hợp này, hai lực lượng xây dựng và phá hủy luôn nằm kề cận bên nhau. Ước mong được tán thành và nhìn nhận là một động cơ lành mạnh, nhưng khao khát được người khác thừa nhận rằng ta là một cá thể giỏi hơn, mạnh hơn và khôn ngoan hơn những cá thể khác rất dễ dẫn đến một tâm lý vị kỷ thái quá, có thể làm tổn thương cá nhân và cộng đồng. Do đó, nhà trường và người thầy phải cảnh giác trước việc áp dụng những biện pháp dễ dãi để tạo ra tham vọng cá nhân nhằm khuyến khích tính chuyên cần của học sinh.

 

Lý thuyết Darwin về đấu tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên đã được nhiều người mang ra biện minh như là một khái niệm có thẩm quyền trong việc khuyến khích tinh thần cạnh tranh. Một số người cũng bằng phương thức này đã cố gắng chứng minh một cách ngụy biện về mặt khoa học sự thiết yếu của hành động cạnh tranh kinh tế có tính chất loại bỏ lẫn nhau giữa các cá nhân. Nhưng điều này hoàn toàn sai lầm, bởi vì con người có được sức mạnh trong cuộc đấu tranh sinh tồn của mình là nhờ vào một sự thật hiển nhiên rằng chúng ta là một sinh vật có đời sống hợp quần. Chỉ có rất ít cuộc giết nhau của những con kiến trong tổ là cần thiết cho sự tồn vong; và đối với từng cá nhân trong cộng đồng nhân loại thì cũng như vậy.

 

Vì vậy, chúng ta nên cảnh giác việc in vào tâm trí những người trẻ tuổi cái ý niệm thông thường rằng thành công là mục đích của cuộc đời; bởi vì người thành công thường là kẻ nhận được nhiều từ đồng loại của mình, và những gì anh ta nhận lại thường không tương ứng với những gì anh ta xứng đáng nhận nhờ phục vụ cộng đồng. Giá trị của một người là ở những gì người ấy đã cho đi, chứ không phải những gì người ấy có khả năng nhận được.

 

Động cơ quan trọng nhất trong học tập và trong đời sống chính là niềm vui có được qua công việc, sự hạnh phúc khi gặt hái thành quả và khi nhận thức giá trị của thành quả đối với cộng đồng. Trong việc khơi dậy và củng cố sức mạnh tâm lý ấy trong thanh niên, tôi cho rằng nhiệm vụ quan trọng nhất là của nhà trường. Chỉ một nền tảng tâm lý như thế mới dẫn đến khát vọng cao thượng trong việc giành lấy những thành tựu cao cả nhất của con người, đó là tri thức và kỹ năng thẩm mỹ.

 

Đánh thức sức mạnh tâm lý hữu ích này chắc chắn không dễ hơn là cưỡng bách hay khơi dậy tham vọng cá nhân, nhưng lại có giá trị hơn nhiều. Vấn đề là phát triển khuynh hướng giống như trẻ con đối với các hoạt động vui chơi và khát vọng thơ ngây trong việc nhận thức, đồng thời hướng dẫn học sinh tiếp cận các lãnh vực kiến thức quan trọng của xã hội. Giáo dục chủ yếu được thiết lập dựa trên khát vọng thành công và ước muốn được thừa nhận. Nếu nhà trường đạt được hiệu quả theo quan điểm như thế, thì nó sẽ được mọi thế hệ người học tôn trọng và các bổn phận mà nhà trường giao phó cho họ sẽ được tiếp nhận như một món quà. Tôi đã biết những đứa trẻ thích được đi học hơn là nghỉ hè.

 

Loại nhà trường như vậy đòi hỏi người thầy phải là một nghệ sĩ trong địa hạt chuyên môn của mình. Điều gì có thể góp phần xây dựng tinh thần này trong nhà trường? Có một biện pháp chung và đơn giản cho vấn đề này, cũng như cho việc duy trì và phát triển các đức tính tốt đẹp nơi cá nhân. Tuy nhiên, có một số điều kiện cần thiết nhất định mà ta có thể đáp ứng được.

 

Trước hết, người thầy phải được trưởng thành trong những ngôi trường như thế. Hai là, họ phải được tự do lựa chọn kiến thức phương pháp giảng dạy. Bởi vì có một thực tế là lòng yêu nghề của người thầy sẽ bị giết chết bởi những sức mạnh áp chế từ bên ngoài.

 

Nếu quý vị đã chăm chú theo dõi xuyên suốt những ý tưởng của tôi đến đây, thì chắc cũng sẽ thắc mắc ở một điểm. Tôi đã phát biểu trọn vẹn, theo ý kiến riêng của mình về việc thanh niên nên được giáo dục trong một bối cảnh tinh thần như thế nào. Nhưng tôi không nói gì cả về sự lựa chọn môn học và phương pháp giảng dạy. Giáo dục nhân văn nên chiếm ưu thế, hay giáo dục khoa học và kỹ thuật?
Đối với câu hỏi này, tôi xin trả lời như sau: theo ý kiến của tôi, tất cả những gì thuộc về vấn đề này đều nằm ở tầm quan trọng thứ cấp. Nếu một chàng trai đã tập thể dục và đi bộ để rèn luyện sức chịu đựng của cơ bắp và thể chất của mình, thì tức là anh ta sẽ có đủ sức khỏe cho mọi công việc lao động chân tay. Điều này cũng giống với việc rèn luyện tinh thần và kỹ năng. Vì vậy, không có gì sai khi định nghĩa giáo dục như sau: “Giáo dục là những gì còn lại khi người ta đã quên hết mọi điều được học ở nhà trường”. Vì lẽ đó, tôi không lo về chuyện phải đứng về bên nào trong cuộc xung đột giữa những kẻ theo trường phái giáo dục nhân văn cổ điển và những người đề cao nền giáo dục ưu tiên cho khoa học tự nhiên.

 

Mặt khác, tôi muốn phản đối ý tưởng cho rằng nhà trường phải trực tiếp giảng dạy những kiến thức và đem lại những thành quả cụ thể mà người học sau đó phải lập tức sử dụng được ngay trong cuộc sống. Cuộc sống có những yêu cầu đa dạng đến nỗi việc đào tạo như thế khó lòng có thể đem lại thành công cho nhà trường. Ngoài ra, đối với tôi, hơn thế nữa, thật đáng chê trách khi xem cá nhân như là một công cụ vô tri. Mục tiêu của nhà trường luôn luôn phải là mang lại cho thanh niên một nhân cách hài hòa, chứ không phải chỉ giúp họ trở thành một chuyên viên. Điều này, theo tôi, trong một ý nghĩa nào đó, cũng hoàn toàn đúng đối với các trường kỹ thuật, những trường mà người học sẽ dành trọn cuộc đời mình cho một nghề nghiệp chuyên môn cụ thể. Việc phát triển khả năng tổng quát về suy nghĩ và xét đoán độc lập, luôn luôn phải được đặt lên hàng đầu, chứ không phải việc thu nhận những kiến thức cụ thể. Nếu một người nắm vững các yếu tố cơ bản của các môn học và biết cách tự suy nghĩ và làm việc độc lập, chắc chắn anh ta sẽ tìm được lối đi cho chính mình, và ngoài ra, sẽ có khả năng thích nghi với sự tiến bộ và những đổi thay của hoàn cảnh tốt hơn những kẻ được đào tạo chủ yếu để gom góp những kiến thức vụn vặt.

 

Cuối cùng, tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa rằng những gì được phát biểu nơi đây, dưới một hình thức không có ý nghĩa nào khác hơn là một ý kiến cá nhân, được hình thành chỉ từ những kinh nghiệm cá nhân mà tôi đã thu thập được trong vai trò của một sinh viên và thầy giáo.

CHUYÊN MỤC THƠ VĂN:

Trần văn Kinh

. Nhớ thầy.

 

Thất thập mùa xuân lại nhớ thầy,

Xưa thầy thất thập vẫn hăng say.

Bát tuần lại có “Vân Trình”  (*) tuyển,

Tiếc nỗi cơ trời khó đổi thay!

—–

(*) Bút danh của cố GS Bùi Văn Nguyên.

 

              Trương Quang Đệ

 

 

NIỀM VUI BẤT NGỜ

 

Trong giờ giải lao giữa hai tiết học buổi sáng, tôi thong thả dạo bước trên con đường lát đá ở sân sau của Trường Đại học khoa học Huế, cái sân có hình dáng một vườn hoa kiểu Pháp. Khuôn viên đại học hiện nay nằm gọn trong ngôi trường thiên chúa giáo ngày xưa có tên là Trường Thiên Hựu – Providence. Cái tên ngày xưa ấy có ý nghĩa với tôi biết bao vào lúc này, bởi vì  nó phù hợp tuyệt vời với tâm trạng tôi khi đó. Rõ ràng đây là một khoảnh khắc hạnh phúc hiếm thấy trong cuộc sống thường ngày, gần như không bao giờ có thể xẩy đến. Ừ nhỉ, không biết có bao nhiêu địa danh đầy ý nghĩa và đầy gợi cảm đã biến mất theo đà tiến lên của lịch sử? Danh sách những tên như vậy chắc sẽ dài dặc khôn lường. Nếu một ngày nào đó con đường đi ngang trước nhà tôi mang tên một kẻ mu-dích hãnh tiến thì tôi làm sao nhỉ? Chắc sẽ chuyển đi ờ nơi khác, thế thôi. Mặc dầu, như dân gian nói: chạy trời không khỏi nắng!

Vậy là tôi đang ở  trong sân Trường Thiên Hựu –Providence  và đang lẳng lặng tận hưởng một khoảnh khắc hạnh phúc bất ngờ. Muôn vàn yếu tố nội tâm và ngoại cảnh kết hợp lại vào lúc đó để tạo ra một cảm giác khoan khoái chưa hề thấy. Trời hôm đó tuyệt đẹp, một ngọn gió nhẹ mát rượi lay khẽ những cây tùng thấp lún và những khóm hoa trong vườn. Tôi bước chậm rải trên những lối đi giữa đám cỏ non xanh mướt.

Tôi vừa hoàn thành một công trình tạc tượng: từ đống vật liệu tản mạn thô sơ tôi đã tạo nên một hình dáng tinh tế  lạ thường.  Tôi nói vậy qua ngôn ngữ hình ảnh hoặc làm một phép đẳng cấu toán học trong hai không gian khác nhau. Thực ra đó chỉ là công việc của một giáo viên dạy môn dịch.ngược từ tiếng Việt ra tiếng Pháp. Tôi phát cho sinh viên trích đoạn một tuyện ngắn Việt độc đáo và yêu cầu họ dịch ra tiếng Pháp. Sinh viên làm việc theo bốn nhóm và như vậy tôi thu được bốn bài dịch khác nhau được viết thành bốn cột song song lên chiếc bảng xanh khá lớn.  Tôi cho tiến hành việc sửa chữa tập thể những bài dịch lần lượt từ bài 1 đến bài 4. Sinh viên hào hứng tham gia tích cực vào việc chữa bài và bản thân họ ngạc nhiên thấy tính hiệu quả của công việc. Họ cảm thấy mỗi lúc một tự tin hơn và thấy mình té ra cũng làm được cái gì đó. Thế rồi điều kỳ diệu đã xẩy ra: tất cả những bài chữa chẳng qua là các bài dịch được giản lược; thầy cũng như trò không thêm vào một từ mới nào, một cấu trúc mới nào. Thầy và trò chỉ cân nhắc bỏ bớt những cách nói vụng về hay không cần thiết; chỉ thay đổi vị trí một số từ và mệnh đề ở vài chỗ nào đó trong các bài. Bốn bài chữa xuất hiện trên nền các bài cũ với dáng dấp rõ ràng hiển nhiên như có phép màu. Cả thầy lẫn trò cảm thấy ngơ ngác một hồi lâu. Rồi bằng một giọng nói không che giấu nổi lòng xúc động và một niềm tự hào kín đáo, thầy giáo tuyên bố một lời ngắn gọn, kiểu một công thức toán học: “Chữa văn, tức là giản lược ngôn từ và sắp xếp chúng lại theo cách khác”.

Suy cho cùng, một điều kỳ diệu như vậy khó xẩy ra hoặc có xẩy ra thì theo một xác suất vô cùng nhỏ bé. Cũng tương tự như xác suất xuất hiện sự sống trên hành tinh. Tự đáy lòng tôi nhận ra  cho riêng mình một sự thực đáng ghi nhớ trong đời. Những cố gắng có vẻ phi thường của tôi trong quá khứ đã làm xuất hiện một ngày gần xa nào đó vài kết quả. Trong khoảnh khắc hạnh phúc này tôi nhớ lại sự thém khát hiểu biết cao độ nung nấu lòng tôi suốt cả tuổi thanh xuân chìm đắm trong sự phi lí của đời sống trí tuệ và vật chất của một thời đại lịch sử.  Tôi kiên trì học các ngoại ngữ vào những dịp về nông thôn “ba cùng với bần cố nông” để cải tạo triệt để cái tư tưởng vồn có nguồn gốc tiểu tư sản của mình. Tài liệu học tập chẳng có gì ngoài mấy cuốn có đời sống dai dẳng kiểu “Assinil” như L’anglais sans peine, Tell us another, French without toil vv mà tôi kiến được ở các quầy sách cũ ở Hà nội.

Nhờ sự khát khao hiểu biết ấy mà tôi không rơi vào cuộc sống cuồng tín thô lỗ thường ngày. Tôi trở thành một nhà giáo “bền vững”, như một chiếc xe chạy mọi địa hình hay một chiếc command-car của Liên xô cũ, luôn sẵn sàng truyền đạt cho học sinh những thứ họ cần trong nhiều lĩnh vực khác nhau.Tôi tin chắc vào trí nhớ và khả năng nhận thức. Tôi bất kỳ lúc nào cũng phân biệt được cái thật, cái giả. Quan điểm chính trị, đạo đức, khoa học của tôi luôn không thay đổi, luôn nhất quán và không gì lay chuyển dầu lịch sử chảy theo dòng nào đi nữa. Bạn bè đồng nghiệp khó khăn hay gặp rủi ro đều nhìn tôi như một chỗ dựa tinh thần.

Tôi cố vượt qua hết thảy những  sự kiện duy ý chí, sùng bái cá nhân, sự đần độn hoá, căn bệnh dễ lây lan thường thấy ở những dân tộc có dân trí thấp. Tôi luôn cố giữ cho mình vẫn là mình đối diện với lối sống và tư duy cuốn theo chiều gió.

Khoảnh khắc hạnh phúc này giá bao nhiêu? Tôi vừa đi vừa nhẩm tính khối lượng khổng lồ những cố gắng của bản thân trong quá khứ. Suy cho cùng, một điều cần ghi nhớ mãi trong cuộc đấu tranh cô đơn và buồn tẻ đó: cứ giữ được mình nguyên si là chiến thắng!

 

Trương Quang Đệ

(Nguyên tác bằng tiếng Pháp: Un instant de bonheur).

 

 


Đỗ Anh Thơ – Hồi ký nhỏ về giáo dục hay là suy nghĩ trên hòn đá mồ côi ở vườn Đồng Mô

( Bài đã đăng trên Talawas)

 

Cuối cùng thì tôi cũng chọn mua được một khu vườn ở Đồng Mô, cách Ba Vì khoảng 6 km, dự định để an dưỡng tuổi già và để viết hồi ký. Công ty nhà đất rao bán, hứa như đinh đóng cột rằng: “Chỉ 4-5 tháng sau bác sẽ có Internet”. Nhưng 1 năm rồi 2 năm, điện thoại và nước sạch vẫn chưa tới nơi, nói gì đến “nét” và “mờ”. Tuy vậy, hàng tháng, tôi vẫn chịu đựng bao lời phàn nàn của vợ, mất 600-700 ngàn tiền taxi lên đó chơi. Thời gian đầu, tôi đi một tháng hai ngày, đêm nghỉ lại, để được ngắm ngọn Ba Vì và xem đàn gà, gà mẹ lẫn gà con ríu rít kéo nhau vào chuồng. Tôi ngồi trên hòn đá mồ côi to ở một góc vườn. Xung quanh còn hàng chục hòn đá khác. Ban đầu, tôi tưởng tượng đây là những hòn đá còn sót lại của Sơn tinh dùng để bắn Thủy tinh, vì chúng giống những viên đạn súng thần công khổng lồ.

Nhưng khi hoàng hôn đã tắt, ngọn Ba Vì mờ mờ trong sương, tôi lại nghĩ chúng sao mà giống như số phận của những người trí thức VN làm vậy! Hàng triệu năm trước, khi nứt từ những tảng đá mẹ, chắc chúng đều sắc cạnh lắm. Nhưng rồi chúng lăn xuống suối, bị nước xô sóng dạt, bào mòn dần rồi va đập lẫn nhau, đến nỗi biến thành những hòn đá mồ côi như hôm nay. Gió, mưa, cành lá rừng quất mạnh, chúng vẫn cứ trơ trơ ra đó, vô cảm với thời gian.

Nghĩ đến đó, tôi rưng rưng muốn khóc. Tôi nghĩ đến thân tôi, lên sáu, cha tôi đã bắt cắp sách đến trường học dự thính (hors classe) lớp đồng ấu (cours enfantin). Một hôm, quan đốc Hy[1] đến thanh tra trường, thầy giáo gọi chị tôi học lớp nhất (cours superieur) đưa tôi về. Tôi không chịu. Chị dọa: “Em học kém, nhà trường đuổi rồi!” Tôi khóc sướt mướt, chạy về nhà bỏ cả bữa cơm chiều. Hôm sau, chị tôi mới dắt tôi đến lớp lại. Cuối năm đó tôi được lên thẳng lớp dự bị (cours prepratoire) như các bạn chính thức. Hè năm 1945, đang học lớp nhì đệ nhị (cours moyen deux), nghe chính phủ Trần Trọng Kim cho học sinh cả hai lớp nhất và đệ nhị đi thi bằng tiểu học (certificat d’etude primaire), mẹ tôi thuê một thanh niên cõng tôi từ Nghi lộc lên Nam Đàn để thi. Nhưng kỳ thi đó bị hoãn.

Năm 1946 tôi thi đỗ vào College Nguyễn Công Trứ. Nhưng chỉ mấy tháng sau toàn quốc kháng chiến, thành phố Vinh bị tiêu thổ, trường sơ tán lên Đô Lương. Mẹ không thể lo đủ gạo cho tôi đi trọ học. Tôi phải về học ở trường tư thục Nghi lộc. Lúc đầu tôi còn chăm, từng chép tay cả quyển sách toán lớp 7 của thày Lê Hải Châu soạn. Nhưng sau vì tôi mê môn văn, bỏ hết thời gian vào thơ “yêu vụng nhớ thầm” nên môn toán kém dần. Tiếp theo, tôi bị thày Bùi Văn Nguyên phê vào học bạ: “Năng lực văn học bình thường mặc dù đứng đầu môn này”.

Lời thày như gáo nước lã, khiến cho tôi thêm tự ty. Nhưng trên cơ sở Pháp văn ở trình độ học xong livre unique và Anh văn học xong l’anglais vivant quatrieme, tôi thường xuyên ôn, để khỏi quên, cho dù khả năng nói rất tồi. Đến nay tôi vẫn cảm thấy, sở dĩ tôi vượt qua được số phận là do có vốn ngoại ngữ từ nhỏ. Tôi cho rằng chủ trương bỏ ngoại ngữ ở cấp 1 là một sai lầm. Ở lứa tuổi đó, các em tiếp thu tiếng nước ngoài không khác gì tiếng mẹ đẻ. Nên sau này trải qua bốn năm chục năm rồi, qua hàng chục đời bộ trưởng, ta vẫn không tạo được cho sinh viên có bản lĩnh nghe giảng, tham khảo giáo trình và thuyết trình chuyên đề bằng tiếng nước ngoài. Việc thày đọc, trò ghi là không thể tránh khỏi, là một tệ hại nhất thời đó, từ giáo dục đại học đến trung học chuyên nghiệp. Hậu quả còn di hại cho đến tận ngày nay: Ta vẫn không thể dạy cho sinh viên suy nghĩ phản tư một cách sáng tạo được (teach to think).

Trở lại về đời mình: cuối cấp ba, vào bộ đội không lọt, tôi buộc phải đi học tiếng Trung ở Khu học xá Trung ương. Không ngờ tiếng Tàu đã gắn bó suốt đời tôi. Tôi vừa cảm phục nền văn hóa Trung Quốc, vừa khinh ghét họ về thái độ nước lớn, nham hiểm mà bần tiện. Nhưng như hòn đá ban đầu đầy góc cạnh, tôi cũng bị mài tròn dần do cái thớt cối xay Xô-Trung. Ban đầu, tôi tưởng về ngành Dệt cùng ông anh cả một thời gian, rồi tìm cách chuyển sang nghiệp văn chương. Tôi có thói quen tự học tiếng Anh và Pháp qua tiếng Tàu. Tiếng này liên tưởng qua tiếng kia cùng một lúc. Không ngờ “giỏi” cái tiếng “nỉ hảo” đó, cùng với vốn liếng tiếng Pháp tiếng Anh ở mức “basic course” như trên đã níu tôi lại trong ngành giáo dục. Tôi lăn như một hòn đá, từ học ngành Dệt thoi, Thông gió điều tiết không khí với chuyên gia Trung Quốc, rồi được đẩy sang học kỹ thuật ươm tơ chỉ vì mình có khả năng duy nhất vừa nghe chuyên gia giảng, vừa soạn giáo trình vừa dạy cho học sinh. Tôi tự hào, làm việc quên cả sức khỏe và mệt mỏi[2]. Để biên soạn giáo trình, tôi cùng các bạn đồng nghiệp chuyển ngữ có sáng tạo vô số thuật ngữ cho ngành Dệt như tay đập(打手 – bras frappe’), quả lô (西林 – cylindre), guồng lại (整理 – re-reeling)… đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp giáo dục kỹ thuật Dệt non trẻ lúc bấy giờ[3]. Nhưng rồi chỉ vì nghĩ không ai có thể thay thế mình, hơn nữa ở nơi sơ tán, nước ao tù, cả xóm đều giặt đồ bẩn rồi lại múc lên ăn, tôi đã gánh về lọc và bị bí thư chi bộ vốn là học sinh cũ của mình quy kết là tiểu tư sản, hoãn kết nạp đảng mất sáu tháng. Thế là tôi bắt đầu phải câm lặng và an phận như hòn đá, để cho họ mặc sức lăn trên con đường đảng đã vạch.

Mãi cho tới khi được chuyển sang Viện nghiên cứu Dệt phụ trách phòng Thông tin Dự báo và Tổng biên tập tạp chí, có nguồn thông tin của thế giới vừa mở và nhờ năng lực xử lý của mình, nó đã giúp tôi có thêm khả năng phản tư. Hòn đá – khối óc chai lỳ – của tôi bắt đầu có lại ít nhiều cạnh sắc.

Tôi mạnh dạn loại bỏ những gì bị nhồi nhét, cái đầu tôi bắt đầu biết phản cảm phản tư và tỉnh táo hơn. Tôi ít khi để mắt tới đài báo tuyên truyền, nhất là báo An ninh, để cho môi trường sống của mình đỡ bị ô nhiễm thêm.

Nay về già, ngồi một mình trên hòn đá mồ côi ở vườn nhà. Lúc tỉnh, tôi kiểm điểm lại đời mình mà không cần sổ tay tu dưỡng của thày hiệu trưởng Võ Thuần Nho. Tôi thấy tiếc cho sự an phận và bất lực tuổi già của bạn bè cùng trang lứa, nay đã như lá mùa thu, không tiếp cận được internet, và tiếc hơn cho sự cam chịu của tuổi trẻ có “In” mà không có “Out”, như những hòn đá, đang bị đẽo gọt dần cho tròn, lăn đi theo một cơ chế vòng tròn xoay, xoay như hòn đá mồ côi, từ biển lên ngàn, từ đồi xuống suối… Không ai còn biết đá đến từ đâu, biết đá cũng đã từng có góc cạnh? Lúc say, tôi lại nghĩ đến việc dặn con xây cho mình một hòn non bộ, bên cạnh trồng mấy gốc lộc vừng, đặt một hòn đá mồ côi mà mình từng ngồi, ghi mấy dòng chữ: “Nơi đây yên nghỉ một ông đồ quê ở Nghệ An” với bài thơ tự chế diễu mình cho con cháu ghi nhớ:

Thày đồ cắp tráp ra về,
Giang sơn nửa gánh bộn bề ở trong.
Hỏi thày cá gỗ còn không,
Sao thày lận đận long đong thế này?

Nhưng rồi tôi lại chặc lưỡi: vật đổi sao dời, lòng nguời ly tán, thì ngay đến cả lăng tẩm nguy nga rồi cũng bị người ta đập bỏ, đào cho mất gốc nữa là thứ “đá mồ côi của ông đồ gàn” như mày. Con cháu mày sẽ phiêu dạt tận đâu, chắc gì còn biết tới hòn đá mồ côi nơi đất Đồng Mô này nữa.

 

[1] Thày Đào Đăng Hy có quyển Địa lý Nghệ An nổi tiếng thời bấy giờ.

[2] Tôi đã từng bị ngất hai lần khi đưa học sinh đi thực tập ở Ba Thá.

[3] Tôi rời trường KT3 năm 1970. Như vậy đã 40 năm. Năm 1985, từ bỏ chiếc ghế Tổng biên tập ở Viện, tôi có trở lại trường làm chuyên viên và 1990 về hưu, đi nghiên cứu Hán Nôm ở Văn Miếu Quốc tử Giám, chuyển hẳn sang một lĩnh vực nghiên cứu hoàn toàn mới: học thuyết Lão Trang và triết học đạo đức. Bởi vậy những thuật ngữ Dệt mà tôi nêu trên chỉ có tính chất minh họa, vì tôi đã cố quên nó, dọn khỏi đầu từ lâu cùng với triết học Marx-Lenin. Nay hồi tưởng lại, chưa chắc đã hoàn toàn chính xác và còn có được dùng trong giáo trình trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp I nữa hay không. Có gì sai sót mong bạn bè đồng nghiệp trường miễn thứ.

 

CHUYÊN MỤC: CHUYỆN XƯA ….CHUYỆN NAY

Nhận định của trường đại học Harvard ( Hoa Kỳ) về giáo dục Ðại học Việt Nam  

 

Ba năm trước đây, giám đốc chương trình Việt Nam của trường đại học Harvard, Hoa Kỳ đã cảnh cáo rằng nền giáo dục Việt Nam có quá nhiều khuyết điểm.

Một lớp học của trong một trường đại học ở Việt Nam. (Hình: Báo Sài Gòn Tiếp Thị)

Ông Thomas J. Valleyly cũng cho rằng nền đại học Việt Nam chưa sụp đổ sau mấy chục năm vận hành dưới chế độ cộng sản là nhờ sinh viên dựa vào kiến thức Internet để còn “nương tựa” vào một chiếc ghế của trường đại học. Lý do thứ hai được nêu là tinh thần hiếu học của sinh viên Việt Nam đã giúp cho nền giáo dục Việt Nam tránh được sự tẩy chay.

Tuy nhiên, phải chờ đến cuộc hội thảo tổ chức hôm 13 tháng 10 tại Hà Nội thì mới làm bùng nổ nhiều ý kiến mổ xẻ tương lai của nền giáo dục đại học Việt Nam. Cuộc hội thảo này do Liên Hiệp Các Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam tổ chức để thu thập ý kiến về dự luật giáo dục Việt Nam sắp ra đời.

Theo báo Sài Gòn Tiếp Thị, nhiều ý kiến bàn luận đều có cùng một điểm chung: Chỉ trích mạnh mẽ chính sách giáo dục tại Việt Nam và cho rằng chưa nên ban hành vì luật giáo dục Việt Nam “chưa mang tầm chiến lược và còn quá vụn vặt”.

Một số giáo sư đại học cho rằng cần phải “cải cách toàn diện nền giáo dục”. Giáo sư Hoàng Tụy chỉ trích xu hướng chạy theo thành tích của một nhóm “đầu nậu” giáo dục trong nước dẫn tới việc nhà nước cứ hô khẩu hiệu hoài vẫn không chống nổi nạn tham nhũng trong ngành giáo dục.

Ông Hoàng Tụy còn nói nền giáo dục đại học Việt Nam đã đi lạc lối, trật khỏi đường ray của nền giáo dục hiện đại của thế giới. Ông này cũng cho rằng “lạc hậu còn có thể cải cách được chứ đi lạc đường thì khó mà theo kịp nhịp độ phát triển về hoạt động giáo dục của thế giới kể cả các nước trong khu vực”.

Trong khi đó theo nhà văn Nguyên Ngọc thì dự thảo luật giáo dục Việt Nam “có nhiều điểm đi ngược xu thế thời đại và không nói gì tới cải cách giáo dục là phương châm hết sức quan trọng”.

Ông Nguyên Ngọc cũng đồng thời phê phán tính chất lặt vặt của hoạt động giáo dục Việt Nam.

Một trong những nhân vật được nhiều người biết là ông Trần Hồng Quân hiện là chủ tịch các trường đại học cao đẳng tư nhân Việt Nam, cựu bộ trưởng Bộ Giáo Dục thì cho rằng “dự thảo luật Giáo dục Việt Nam chưa phác thảo chiến lược phát triển giáo dục của nền đại học Việt Nam”. Ông Trần Hoàng Quân cũng phê phán ngành giáo dục trong nước thiếu công bằng xã hội.

Một số học giả còn nhận định rằng ngành giáo dục còn dầy dẫy tệ nạn thế mà một số viên chức thẩm quyền của ngành này lại toan tính sửa đổi chương trình sách giáo khoa của các trường đại học tốn kém tới 70,000 tỉ đồng, tương đương với 3 tỉ rưỡi đô. Theo ông Hoàng Tụy, đây là biểu hiện “tư duy tùy tiện” của giới lãnh đạo ngành giáo dục Việt Nam.

Còn theo báo Tuổi Trẻ, giáo sư Nguyễn Ðăng Hưng từng giảng dạy tại Bỉ cho rằng luật Giáo dục Việt Nam hô hào “hội nhập thế giới” nhưng lại không chú trọng đến các cuộc cách mạng giáo dục thành công ở xứ người. Ông Hưng chê trách sự hỗn loạn trong hoạt động giáo dục ở Việt Nam khi cho ra đời quá nhiều hệ đào tạo từ hệ chính quy, hệ tại chức đến hệ cộng đồng…

Báo Tuổi Trẻ cũng cho rằng các sinh viên hệ tại chức chỉ cần “học chơi chơi” rồi đợi lúc tốt nghiệp cũng “lãnh một bằng đại học chính quy như ai”. Tình hình này đã dẫn đến xáo trộn hồi năm rồi qua vụ chính quyền Ðà Nẵng nhất định không chịu tuyển mộ những người tốt nghiệp đại học hệ tại chức.

Báo Tuổi Trẻ còn liên kết với hàng loạt sự kiện cho thấy hậu quả tệ hại xảy ra vì ngành đại học Việt Nam đi “lệch pha”. Chẳng hạn như vụ sinh viên trường đại học Bách Khoa Sài Gòn ra trường mà không tìm được việc làm từ những năm cuối thập niên 1980. Mới đây là vụ trường Ðại Học Ðà Lạt buộc phải đóng cửa 4 ngành học gồm xã hội học, văn hóa học, Việt Nam học và sư phạm tin học vì không tuyển đủ sinh viên. Báo Tuổi Trẻ cho biết trong đợt thi tuyển năm học vừa qua, trường Ðại Học Ðà Lạt chỉ tuyển được 167 sinh viên trong khi chỉ tiêu cho phép thu nhận là 1,500 sinh viên.

Báo Tuổi Trẻ còn đi xa hơn khi cho rằng sự bất cập của nền đại học Việt Nam xuất phát từ sự yếu kém của ngành trung-tiểu học. Một lớp học sinh chuẩn bị bước vào đại học với phong cách học rập khuôn, không quan tâm khiến kiến thức sáng tạo đã dẫn tới điều tồi tệ cho môi trường giáo dục đại học. (P.L.)

 

CHUYÊN MỤC : SƯU TẦM NGỮ NGHĨA:

 

               BQM:

Trước năm 1945 ở các trường tiểu học co môn được đặt tên là CÁCH TRÍ nhằm day cho các em  những hiểu biết về sự vật đơn giản thông thường

Từ cách trí từ đâu ra, có nghĩa như thế nào? Chữ “ cách trí” là rút gọn của bốn chữ trong sách Đại học ( sách học cho người lớn) là : 致 知 格 物 ( Trí tri cách vật). Nguồn gốc ở chương Lễ kí trong cuốn “Đại học” của Tăng Sâm , đồ đệ xuất sắc của Khổng Tử . Cách có nghĩa là phân tích, vật là sự vật .Trí tri là truy cho tới tận cùng của sự hiểu biết. Nguyên văn là “Trí tri tại cách vật, vật cách nhi hậu tri chí” (trí thức biết được do tiếp xúc với sự vật, vật được tiếp xúc rồi sau đó tri thức mới đến), nói tắt là “Cách trí”. Đây là mệnh đề về phương pháp tu dưỡng đạo đức về các mặt thành ý, chính tâm, tu thân. Trịnh Huyền  đời Đông Hán  chú giải: “Cách là đến cùng, vật như là sự vật”. Nhưng từ đời Tống về sau, có nhiều cách giải thích. Phái duy tâm Trình – Chu  đời Tống nhấn mạnh rằng tri thức vốn có ở con người, nhưng ảnh hưởng của vật dụng làm cho mất đi, cần phải “cách vật” hoặc “tức vật cùng lí” để lấy lại. Trình Di  giải thích: “Cách như là xét đến cùng, vật như là lí. Như vậy là xét đến cùng lí vậy” (“Nhị Trình di thư”, Cuốn 18). Chu Hy thì giải thích “Nói muốn đạt đến cái biết của ta thì căn cứ vào vật và xét đến cùng cái lí của nó” (“Tứ Thư”, chương cuối tập chú). Phái duy vật, tiêu biểu là Diệp Thích đời Nam Tống và Vương Phu Chi thời Minh, Thanh lại giải thích khác. Vương nói “Xét rộng đến tướng số, xét ra đến cổ kim để tìm cho hết lí, đó gọi là cách vật. Hư tâm để được sáng tỏ, suy nghĩ để biết được những ẩn dấu, đó gọi là trí tri (“Thượng thư dẫn nghĩa”). Hai loại giải thích như trên đều có ảnh hưởng rộng trong đông đảo các nhà Nho ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam.

 

                     CHUYÊN MỤC ; SỨC KHỎE

                 Đoàn Gia Lễ ( sưu tầm)

 HẠT GẤC  Những điều cần biết

                 

 

Một món ăn quen thuộc ở VN là xôi gấc. Và hạt gấc độc hại thế nào không dám chắc, chỉ xin quý bạn hãy dè dặt hơn!

 

 
Trái GẤC giấu độc trong hạt

 

 

Một số người dân có thói quen khi sử dụng trái gấc, cất giữ lại hạt gấc sống hoặc đã qua nấu xôi để dành làm thuốc. Khi dùng, có người chặt đôi hạt gấc ra, mài với ít rượu hoặc giấm thanh bôi mụn nhọt, quai bị… Số khác, giã nhân hạt gấc rồi hoà ít rượu đắp lên chỗ đau để chữa sưng vú, trĩ… Gần đây còn có một số bài thuốc khuyến khích sử dụng hạt gấc thay thế mật gấu. Liệu hạt gấc có thần kỳ đến vậy không?

 

Lượng beta-caroten của gấc cao gấp đôi càrốt, còn lycopen cao gấp 70 lần cà chua, nhưng đừng quên hạt gấc lại mang độc tính cấp LD50.

Cây gấc có danh pháp khoa học momordica cochinchinensis, thuộc chi mướp đắng, được Gấc tìm thấy chủ yếu tại Việt Nam. Hoa có sắc vàng. Quả hình tròn, sắc xanh, khi chín chuyển sang đỏ cam. Vỏ gấc có gai rậm. Bổ ra mỗi trái thường có sáu múi, thịt gấc màu đỏ cam, hạt màu nâu thẫm. Trái gấc được sử dụng trong ẩm thực lẫn y học. Gần đây, trái gấc cũng đã bắt đầu được xuất khẩu dưới dạng nước ép, dầu gấc… Bộ phận chủ yếu của gấc được dùng làm thuốc là màng, hạt, rễ…

 

Dược tính trong hạt gấc

Để chế thuốc, cần sấy hay phơi khô cả hạt và màng gấc (lớp cơm bao quanh hạt) cho đến khi cầm hạt không thấy dính tay nữa, tức đã se màng, thì lấy dao nhọn bóc lấy màng đỏ. Với màng này người ta dùng chế ra dầu gấc, mà thành phần chủ yếu là beta-caroten, lycopen, alphatocopherol… Beta-caroten khi vào cơ thể sẽ biến thành vitamin A. Lượng beta-caroten của gấc cao gấp đôi càrốt. Dầu gấc được cho là có chức năng phòng chống thiếu vitamin, tăng khả năng miễn dịch, tăng sức đề kháng cơ thể, chống oxy hoá, chống lão hoá tế bào, có tác dụng dưỡng da… Còn lại hạt với lớp vỏ đen cứng thì đem phơi khô để dành dùng làm thuốc. Nghiên cứu hiện đại cho biết trong nhân hạt gấc có 55,3% chất lipít (béo), 16,6% chất protit (đạm), 1,8% tanin, 2,8% xenluloza, 6% nước, 2,9% chất vô cơ, 2,9% đường, 11,7% chất khoáng… Ngoài ra còn có một lượng nhỏ các men photphotoba, invedaxa… Đông y gọi hạt gấc là mộc miết tử (ba ba gỗ) vì nó dẹt, hình gần như tròn, vỏ cứng, mép có răng cưa, hai mặt có những đường vân lõm xuống, trông tựa như con ba ba nhỏ. Nhân hạt gấc vị đắng, hơi ngọt, tính ôn, hơi độc, vào hai kinh can và đại tràng có tác dụng chữa mụn nhọt, tiêu thũng. Nó được dùng trong những trường hợp té ngã, bị thương, sang độc, sưng vú, sưng thũng hậu môn…

 

Thận trọng khi dùng đường uống

Cho đến nay, y học cổ truyền chưa có những khuyến cáo chính thức nào về việc không sử dụng hạt gấc trong các bài thuốc dùng đường uống. Các sách dược điển đông y chỉ dẫn cũng rất khác nhau. Một số sách như Cây thuốc dân gian Việt Nam, Cây thuốc nam phòng và chữa bệnh… lưu truyền các bài thuốc có sử dụng thành phần hạt gấc đều lưu ý chỉ dùng bôi ngoài. Một số tài liệu còn căn dặn không nên dùng hạt gấc cho bệnh thuộc về nội chứng (chứng bệnh ở phần trong thân thể). Tuy nhiên, cũng có những tài liệu như Cây thuốc quý, Những bài thuốc dân gian nổi tiếng… lại hướng dẫn hạt gấc có thể dùng uống, mỗi ngày uống một nhân nướng chín.

 

Mới đây, khoa dược đại học Y dược TP.HCM đã có một nghiên cứu khoa học về thành phần dược tính của cao lỏng hạt gấc, trong đó xác định độc tính cấp LD50 (liều dùng hạt gấc khi cho chuột uống sẽ làm 50% bị chết), rất quan trọng để người bệnh và thầy thuốc lưu tâm khi sử dụng hạt gấc làm thuốc. Theo đó, dùng dưới liều 20g/kg không làm chuột chết, còn dùng trên 180g/kg tất cả chuột đều chết. LD50 tính bằng phương pháp Behrens và Karber là 92,27g bột hạt gấc/kg. Kết quả nghiên cứu này tuy chưa thật sự toàn diện nhưng đã chứng minh nhận định hạt gấc có độc trong các sách thuốc đông y là có cơ sở. Mà đã có độc tính thì không thể muốn dùng bao nhiêu cũng được. Dùng bôi ngoài, liều lượng chỉ nên 2 – 4g/ngày, khi dùng phải nướng chín hạt. Mọi người cần tránh sử dụng hạt gấc làm thuốc dùng trong qua đường uống một cách bừa bãi, chưa có sự tư vấn của thầy thuốc, vì có thể ngộ độc.

 

Theo ThS.DS Bùi Thị Diễm Trang Giảng viên thỉnh giảng bộ môn y học cổ truyền, đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch, TP.HCM

Lycopen của trái gấc cao gấp 70 lần cà chua

Lycopen có nhiều trong trái cây có màu đỏ như cà chua, đu đủ, càrốt, ổi ruột đỏ… Đặc biệt trong trái gấc, hàm lượng lycopen đã được kết luận cao gấp 70 lần cà chua. Một số nghiên cứu dịch tễ học của Mỹ về tác dụng của lycopen cho thấy ở những vùng người dân ăn nhiều loại trái có chứa lycopen thì tỷ lệ ung thư ống tiêu hoá (dạ dày, trực tràng, kết tràng…) thấp hơn những vùng người dân ăn ít hoặc không ăn. Tỷ lệ chết vì ung thư cũng giảm tới 50%. Trong một nghiên cứu kéo dài 12 năm trên một nhóm đối tượng ăn ít nhất hai lần nước xốt cà chua/tuần, cho thấy nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt giảm 35%. Tác dụng này còn mạnh hơn ở những người ung thư đang tiến triển. Lycopen còn có tác dụng trong điều trị bệnh viêm gan, xơ gan, hạ huyết áp, rối loạn lipid máu, chống khô mắt, mờ mắt…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s