Archive | Tháng Mười Một 2011

Docago.wordpress.com số 24 ra thứ 3 ngày 29/11/2011 tức 5 tháng 11 Tân Mão

             CHUYÊN MỤC :VĂN HÓA ĐÔNG TÂY:  

                        Đỗ Anh Thơ         

                     Lời soạn giả

                         Ban đầu soạn giả muốn sưu tầm biên soạn để đưa lên blog của mình theo trình tự thời gian từ văn hóa cổ đại, trung đại  đến hiện đại để  bạn đọc có một cái nhin tổng quát về  Hình ảnh văn hóa tư tưởng trên thế giới. Nhưng nhận thấy như vậy phải rất lâu bạn đọc mới có được những tóm lược về quan điểm triet học hiên nay.

                            Bo vậy, bắt đầu từ số này soạn giả sẽ đưa lên mạng  theo các chủ đề bất kỳ.  Về nội dung  hai cuốn sách Trí tuệ Khổng Tử và Trí tuệ Lão tử của soạn giả cũng vậy, các câu trích dẫn và bình có khi nằm ở đầu có khi nằm ở cuối sách. Mong bạn đọc tự tìm dõi mục lục sách để tra cứu nếu cần                          

                              Lý thuyết về sự đụng độ của các nền văn minh của Samuel P.Huntington.

               Đây là một mô hình lý thuyết đầy tham vọng lý giải và dự báo sự biến động chính trị – xã hội của thế giới từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc. Mô hình này, như một số nhà lý luận đánh giá, có nhiều điểm không đáng phải bàn luận về phương diện triết học: không ít nhà triết học Nga, Trung Quốc, Đài Loan, Châu Âu và các nước phương Tây khác đã chỉ ra những lập luận khiên cưỡng và tâm lý tiêu cực trong cách hiểu của Huntington về văn hóa và trật tự thế giới sau chiến tranh lạnh. Nhưng điều trớ trêu là, đông đảo dân chúng Mỹ và cả ở những nước khác chẳng những không tính đến lời phê phán về sự bất hợp lý của quan niệm về sự đụng độ của các nền văn minh, mà ngược lại, còn tỏ ra ngưỡng mộ Huntington một cách thời thượng và tin rằng, sự kiện 11/9/2001 là một xác nhận cho dự báo chủ quan của Huntington. Với trường hợp này, vai trò của lý luận triết học trong kỷ nguyên toàn cầu có nhiều điểm đáng phải bàn luận.

Chúng ta đều biết, sự đụng độ của các nền văn minh và việc thiết lập trật tự thế giới là cuốn sách được xuất bản lần đầu vào năm 1996, nhưng quan điểm cốt lõi của nó thì đã được công bố trước đó ba năm, trên tờ Tạp chí Foreing Affairs, số 3 năm 1993 dưới tiêu đề Sự đụng độ của các nền văn minh: thông qua những kỳ thị tâm lý cộng đồng phức tạp, Huntington cố chứng minh rằng, ngày nay, kể từ sau chiến tranh lạnh, nguồn gốc cơ bản của các xung đột trên thế giới sẽ không còn là hệ tư tưởng hay kinh tế nữa. Ranh giới quan trọng nhất chia rẽ loài người và là nguồn gốc của các xung đột sẽ là văn hoá. “Sự đụng độ giữa các nền văn minh sẽ trở thành nhân tố chi phối chính trị thế giới. Ranh giới giữa các nền văn minh sẽ là chiến tuyến tương lai”. Theo Huntington, hiện nhân loại có khoảng bảy hoặc tám nền văn minh lớn: phương Tây, Không giáo, Nhật Bản, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Slave Đông chính giáo, Mỹ latinh và có thể cả châu Phi nữa. “Những xung đột quan trọng nhất trong tương lai sẽ nổ ra dọc theo các đường ranh giới phân cách các nền văn minh này”.

Trong số những đánh giá về Huntington, chúng tôi muốn dẫn ra một ý kiến mà theo chúng tôi, là điển hình cho cách nhìn tỉnh táo trước quan niệm về sự đụng độ của các nền văn minh – đánh giá của William L.Mcbride, Giáo sư Đại học Perdu, Mỹ, Tổng thư ký Liên đoàn quốc tế các hội triết học (FISP). Tại Hội thảo Toàn cầu hóa và sự đối thoại giữa các nền văn hóa ở Mátxcơva, tổ chức vào tháng 6/2002, William L.Mcbride đã trực diện phê phán cách cảm thụ thế giới của Huntington là “dung tục và kém tinh tế”. Ông nhận xét: “Rất tiếc là Huntington, một nhà tư tưởng theo nghĩa xấu của từ này, như người ta đã nói, lại có ảnh hưởng lớn như thế đến lối suy nghĩ của các nhà ngoại giao và những người tham gia vào tương tác toàn cầu. Tác phẩm của ông ta là thí dụ điển hình cho sự thu hút của lối suy nghĩ tầm thường, nhưng bề ngoài có vẻ như sáng sủa”.

Công bằng mà nói, Iý thuyết về sự đụng độ của các nền văn minh có một số phân tích sắc sảo và xét trên câu chữ trong tác phẩm thì Huntington không chủ tâm kích động các nền văn hoá hay văn minh xung đột với nhau. Nhưng điều đáng ngại ở Hunlington chính là quan điểm triết học của ông. Trong cuốn sách viết năm 1996, Huntington đã vô tình để lộ ra giá trị định hướng đối với toàn bộ suy nghĩ của mình mà ông thích gọi bằng một thuật ngữ tiếng Đức là Weltanschauung, nghĩa là thế giới quan về văn minh, vũ trụ và các mối quan hệ cua con người. Khi nói về chủ đề cuốn sách đó là văn hóa, bản sắc văn hóa mà ở mức độ rộng nhất là bản sắc văn minh”, Huntington viết: “Một Weltanschauung ảm đạm cho kỷ nguyên hiện đại này được thể hiện sinh động bằng triết lý của nhân vật theo chủ nghĩa dân tộc người Venesie trong tiểu thuyết Vũng biển chết của Michael Dibdin: Người ta chẳng bao giờ có bạn mà lại không có kẻ thù, người ta ghét cái không giống mình, nghĩa là người ta yêu cái giống mình. Đây chỉ là những chân lý cũ mà chúng ta đang cố gắng khám phá lại sau một thế kỷ loanh quanh lảng tránh”.

Huntington không ngớt lời ca ngợi quan điểm này và rất vô tư khi coi đó là thế giới quan chủ đạo cho tư tưởng của mình. Có cảm giác giật mình khi đông đảo người đọc mê cái triết lý đầy cực đoan này. “Người ta ghét cái không giống mình, nghĩa là người ta yêu cái giống mình”. Có đúng là nhân loại vẫn thường cư xử với nhau như vậy hay không? Thật khó tin. Lập luận của Huntington đã chọc vào tâm lý đố kỵ của con người như những lời xúc xiểm. Dĩ nhiên, một vài cá nhân cụ thể thì có thể cư xử với nhau như vậy. Thậm chí, có thể có những chính khách nào đó vì đầu óc cuồng tín hay không bình thường mà cũng cư xử như vậy. Nhưng chẳng lẽ các dân tộc và toàn nhân loại lại cũng thiếu sáng suốt như thế. Thật điên rồ nếu sự đụng độ thực tế của các nền văn minh lại bắt đầu từ đây (Ai dám chắc rằng những kẻ cướp máy bay trên bầu trời nước Mỹ ngày 11/9/2001 lại chưa đọc sách của Huntington?).

Vấn đề đặt ra đối với vai trò của triết học trong kỷ nguyên toàn cầu là ở chỗ, ngày nay, có thể có những thứ lý luận dung tục, sai lạc, tầm thường lại chiếm được vũ đài thông tin và định hướng dư luận theo những giá trị kém cỏi. Trong khi đó, có những tư tưởng sáng suốt, những triết lý lành mạnh, những giá trị cao đẹp lại không tìm được chỗ đứng trong đời sống tinh thần nhân loại. Trước đây, khi Internet chưa phổ biến, những lý luận tầm thường, những giá trị lệch lạc của tâm lý con người khó tìm được đồng minh và do vậy, chỉ có ảnh hưởng một cách cục bộ trong một số cá nhân hoặc trong một vài cộng đồng đơn lẻ nào đó. Ngày nay, các phương tiện thông tin đại chúng đã đủ khả năng lôi kéo toàn bộ những thứ không bình thường của cư dân trên trái đất vào một “góc tối chung” của toàn nhân loại. Điều kiện đó là mảnh đất màu mỡ cho những lý thuyết dị dạng xuất hiện và được phổ biến rộng rãi, nhanh chóng. Không loại trừ khả năng là, tới đây, sẽ có những lý thuyết quái thai xuất hiện.

Nêu lúc đó các nhà triết học và những đầu óc lành mạnh khác không biết cách ngăn chặn cái ác, cái xấu thì tiếng nói nhân đạo, những định hướng giá trị sáng suốt rất có thể sẽ rơi vào thiểu số và trở thành trò cười trước đám đông dung tục và thô lỗ. Mà thời nào cũng vậy, cái xấu, cái ác đường như bao giờ cũng tinh vi, thủ đoạn hơn còn cái đẹp, cái thiện thì lại thường ngờ nghệch, cả tin hơn.

Dĩ nhiên, trong lịch sử văn minh nhân loại cũng đã từng xuất hiện những tư tưởng không bình thường, thậm chí những lý luận sa đọa, tư tưởng Quốc xã Đức hồi đầu thế kỷ XX là một thí dụ. Nhưng ngày đó chưa có Internet và Multimedia, chưa có blog-online và nhạc hip-hop, chưa có HIV/AIDS và virus H5N5, chưa có chủ nghĩa khủng bố và sự tàn bạo kiểu Al Queda… nghĩa là chưa có sự hỗn loạn kiểu toàn cầu hóa – sự xáo trộn giá trị toàn cầu khi thế giới chỉ còn là một cái làng bé nhỏ (trong đó, theo hình dung của Thomas Friedman, Tây âu chỉ là một trại dưỡng lão, Mỹ Latinh là một khu phố vui nhộn, nơi ngày làm việc mãi 10 giờ tối mới bắt đầu, Ả Rập là con hẻm tối tăm ít người dám dấn thân vào, còn châu Phi là con phố bị phong toả, nơi tuổi thọ giảm sút, những toà nhà mới đều là những phòng khám bệnh. Trong một không gian chật chội và bức bối như thế, ngày nay, hàng triệu người hàng ngày muốn giãi bày mọi đầu trên blog-online, từ triết lý nghiêm túc đến những tâm tư bệnh hoạn – Jim Chisholm, cố vấn của Hiệp hội báo chí thế giới (WAN) đã than phiền như vậy tại Hội thảo cấp cao của giới báo chí gồm hơn 60 quốc gia, tổ chức tại Athen, Hy Lạp hồi tháng 11/2005. Cũng tại đây, Eric Le Boueher, Tổng biên tập tờ Le Monde còn nhận xét rằng, thanh niên bây giờ đọc sách báo không giống như bố mẹ chúng, nghĩa là rất có thể cách tiếp thu các giá trị triết học cũng đã khác trước, dù chỉ mới cách nhau có một thế hệ. Nếu bầu không khí tinh thần của thế kỷ XXI đúng là như thế thì vai trò của triết học đang đứng trước một thách thức lớn. Dự báo của Lucien Seve về một ngày mà triết học trở thành thổ ngữ của một nhóm thổ dân sống trong một vùng ngoại vi hẻo lánh của xã hội phải chăng đã đến rồi?

Chưa bao giờ như lúc này, tiếng nói triết học có trọng trách rất lớn nhưng lại thật khó tìm được vị trí đáng phải có của nó trong việc dẫn dắt dư luận xã hội. Những kinh nghiệm đắt giá của quá khứ dường như chưa được con người thực sự chú ý. Bài học về sự cuồng tín, cực đoan của tư tưởng Holocaust trong Chiến tranh thế giới lần thứ II, bài học về sự không đánh giá đúng vai trò của ý thức dân tộc trong chiến tranh Việt Nam 1954 – 1975, bài học được Hội nghị thượng đỉnh trái đất Reo – 91 cảnh báo về sự lãng quên vai trò của tự nhiên trong các tham vọng phát triển kinh tế, bài học được UNESCO nhắc nhở về tinh thần duy khoa học (seientism) thái quá đến mức lãng quên vai trò của văn hóa và con người trong các thập kỷ 70 – 80 của thế kỷ trước… – đáng ra phải là “sự trừng phạt thấm đòn” để con người học được từ đó nhiều hơn. Rất tiếc, triết học trong kỷ nguyên toàn cầu, hoá ra, vẫn không đủ khôn khéo để nhắc nhở loài người tôn trọng giá trị quý báu của những bài học đã từng phải trả giá trong quá khứ và tỉnh táo với những tham vọng của mình. Nói như Habermas, triết học đã không đủ làm cho “các tiến trình của luật pháp quốc tế có hiệu lục và điều đó khiến cho “những luận điệu có tính chất đạo đức” vẫn có ảnh hưởng quá lớn so với vai trò thực của nó trong thế kỷ XXI. Nên chú ý rằng, những tín điều đạo đức mà Habermas nói tới là những tín điều đạo đức của “một siêu cường gây chiến khắp toàn cầu”, nghĩa là thứ đạo đức được quan niệm, sử dụng và định hướng hành vi theo những cách hoàn toàn chủ quan. Thật đáng suy nghĩ khi Mahathir Mohamad, nguyên Thủ tướng Malaysia, tại Hội nghị Châu Á – Thái Bình Dương, Kham Lumpur, ngày 13/01/2003, đã không ngần ngại phê phán cách mà nhân loại đang hành xử với chủ nghĩa khủng bố. ông nói: “Động cơ của chủ nghĩa khủng bố chắc chắn không phải là tôn giáo, mà rất có thể là lãnh thổ. Tình hình thế giới hiện không quá xấu, nhưng thế giới đã xử lý sai tình hình”.

“Động cơ của chủ nghĩa khủng bố là lãnh thổ điều này thì còn phải bàn. Song, “tình hình thế giới không đến nỗi quá xấu, nhưng thế giới đã xử lý sai về nó” thì hẳn là một ý tưởng không tồi. Triết học ngày nay có vai trò gì và nhà triết học đã trốn đi đâu nếu Mahathir Mohamad nói đúng?

Quả thực, W. Mcbride đã không quá khi cho rằng, trong thời đại toàn cầu hóa, các nhà tư tưởng sáng suất và vị tha có lẽ vì quá khiêm tốn nên đã không lên tiếng. Người có tiếng nói khả dĩ làm thay đổi được thế giới như Habermas thì lại “duy tâm thái quá đến mức đề ra một thứ đạo đức vừa không thể có được, lại vừa đi quá xa khỏi thế giới hiện thực sang thế giới trừu tượng”. Những lý thuyết “dung tục”, những quyết sách vĩ mô vụ lợi trắng trợn, những cách hành xử thiếu tư duy triết học sáng suốt… vì thế có cơ hội để nảy nở.

Vậy, trong kỷ nguyên toàn cầu, triết học sẽ có bộ mặt như thế nào? Theo quan sát của chúng tôi, bức tranh triết học những năm tới đây phải chăng sẽ tiếp tục định hình theo cách nó đã thể hiện hơn một thập niên qua: trong khi tiếng nói của các nhà triết học có danh tiếng và thường được đánh giá cao trên các Tạp chí triết học hay tại các hội nghị, hội thảo quốc tế (chẳng hạn, Jurgen Habermas, Peter Kemp, Tomonobu Imamichi, Edgar Mong, Michei Vadee, Jacques Derrida…) không ảnh hưởng nhiều đến công chúng ngoài giới triết học, thì tiếng nói của các nhà lý luận kiểu như Samuel Huntington, Franeis Fukuyama, Alvin Tofler… lại có ảnh hưởng mạnh hơn đáng kể trong nhiều tầng lớp xã hội, từ các chính khách có trọng trách lớn đến sinh viên tại các Trường Đại học?

Có thể Samuel Huntington, Francis Fukuyama, Alvin Tofler… là những nhà lý luận tài ba. Song, dẫu vậy cũng vẫn cần phải xem xét nghiêm túc vai trò của dòng các sản phẩm lý luận có chất triết học nhưng lại không trình bày tư tưởng theo kiểu hàn lâm. Với các tác phẩm của S Huntington, F.Fukuyama, A.Tofler (chẳng hạn, Sự đụng độ của các nền văn minh và việc thiết lập trật tự thế giới, Sự cáo chung của lịch sử và con người cuối cùng, Làn sóng thứ ba, Cú sóc tương lai…, rõ ràng, sẽ là thiếu hụt và hẹp hòi nếu loại bỏ chúng ra khỏi phạm vi những tác phẩm triết học. Gọi đó là triết học, không có gì sai. Nhưng nếu gọi lối tiếp cận của các tác phẩm đó không phải là tiếp cận triết học, mà là tiếp cận liên ngành hay tiếp cận đa ngành thì cũng vẫn đúng. Vấn đề là ở chỗ, những tác phẩm đó được đông đảo người đọc đón nhận.

Ngày nay, những suy tư triết học của những người không làm triết học, kiểu như Thomas Friedman (nhà báo, người đã đoạt giải Pulitzer, nổi tiếng với các tác phẩm về toàn cầu hóa như Chiếc xe Lexus và cây Ôliu, Thế giới phẳng) đôi khi lại gợi mở ra những vấn đề đích thực triết học. “Thế giới phẳng” là thuật ngữ do Friedman sáng tạo ra với hàm ý là, ngày nay, toàn cầu hoá đã làm cho đời sống nhân loại không còn “lập thể” hay “stereo” như trước kia nữa. Tuy bị chê là hàm hồ, song thuật ngữ này lại khá đắt để chỉ thế giới toàn cầu hóa. Trong thế giới này, giảng đường của các Trường Đại học sẽ là mảnh đất sống còn của những dòng triết học hàn lâm – những tư tưởng kinh điển của tất cả các trường phải có uy tín, còn mạng toàn cầu là nơi trôi nổi của hầu hết những suy tư triết học thứ cấp. Nhưng càng ngày, những tư tưởng thực sự có giá trị về phương diện triết học đã xuất hiện càng nhiều trên mạng.

Tình huống của triết học trong thế giới ngày nay gần giống như tình huống trong câu chuyện ngụ ngôn về nhà thông thái và anh lái đò: trên con sông nước chảy xiết với những đợt sóng dữ dằn, khi biết anh lái đò ngốc nghếch về triết học, nhà thông thái bèn cất lời khuyên: nếu không biết triết học là gì, coi như anh đã mất nửa cuộc đời. Những tưởng anh lái đò đau khổ vì sự thất học của mình, nhưng không, anh ta vẫn yêu đời mà chọc lại nhà triết học: nếu không biết bơi, có thể ngài sẽ mất cả cuộc đời (khi cơn sóng toàn cầu hoá ập đến?).

Phải chăng cuộc sống vẫn đi về phía trước với tất cả sự vô tư của nó, còn nhà triết học thì không hiếm khi lại bi quan hơn hoặc ảo tưởng hơn về vai trò và vị thế của mình? Vẫn biết rằng, nếu thiếu hụt về triết học, người ta sẽ phải trả giá. Nhưng, trong kỷ nguyên toàn cầu mà ảo tưởng về vị thế của triết học thì cũng nguy hiểm không kém. Nếu trong kỷ nguyên toàn cầu, thế giới ít nhiều đã “phẳng” hơn, theo đúng hình dung của Thomas Friedman, thì triết học chắc cũng không thể “tròn” như trước được nữa.

 Nguồn : Theo bài viết của Hồ Sĩ Quý,

    

 

 

 

Advertisements

Docago.wordpress.com số 23 ra thứ 6 25/11/2011 tức mồng 1 tháng 11 năm Tân Mão )

 

CHUYÊN MỤC : VĂN HÓA GIÁO DỤC ĐÔNG TÂY

 

Đỗ Anh Thơ :      Dịch lý thời tiết tháng 11 âm lịch

 

Tháng 11 có 16 quẻ xuất hiện môt hào dương( nhất dương sinh) ổn định ở Phục 地雷復 (Sơn Địa- Phục)   雷 頤  Sơn Lôi- Di    100001 ,      Quẻ Truân  (水 雷 屯  Thủy Lôi Truân 100000        rồi lần lượt các quẻ có 2 hào dương  tranh chấp nhau là  Quẻ Di (山100010  )       ,

 

   Quẻ Ích : ( 風雷益 PhongLôi- Ích 100011) ,  Quẻ

 

Chấn  ( 震  為  雷 Chấn vi Lôi 100100) , Quẻ Phệ hạp(  火雷噬嗑 Hỏa Lôi- Phệ Hạp 100101) , Quẻ Tùy(澤雷隨Trạch Lôi- Tùy 100110)

 ,     Quẻ Vô vọng ( 天雷無妄 Thiên Lôi- Vô vọng 100111)    , Quẻ  Minh Di ( 地火明夷 Địa Hỏa- Minh Di 101000)

, Quẻ Bí   (  山火賁 Sơn Hỏa – Bí 101000) , Quẻ

Ký Tế    ( 水火既濟 Thủy Hỏa- Ký Tế, 101010) ,

 

Quẻ Gia nhân : ( 風 火 家 人 Phong Hoả- Gia nhân 101011 ,  Que Phong  (雷火豐 Lôi Hỏa -Phong  101100   , Quẻ Ly  (  離為火 Ly vi Hỏa  101101) ,   Quẻ Cách   (澤火革Trạch Hỏa – Cách  101110)    , Quẻ Đồng nhân : ( 天火同人 Thiên Hỏa- Đồng nhân101111)

 

Như vậy, hôm nay là ngày đầu tien của tháng 11 năm Tân Mão, tác giả xin phép được trình bày về quẻ Phục

 

I .- Quẻ Phục         地雷復   100000

 

      

 

Quẻ này xếp thứ 24 của thượng kinh 

 

卦辭

復:亨。 出入無疾,朋來無咎。 反復其道,七日來復,利有攸往。

 

Phiên âm :

 

 Quái từ  : Phục : Hanh ,xuất nhập vô tật ,bằng lai vô cữu .Phản phục kỳ đạo ,thất nhật lai phục , lợi hữu du vãng

 

Dịch :

 

Lời của quẻ : Phục  là trở lại , hanh thông, ra vào ít tật bệnh, bạn bè lui tới, không lỗi lầm. Đạo trời cứ bảy ngày quay lại một lần, lợi mọi việc  .

 

 Giảng  và bình :

 

Quẻ này tượng trưng cho tháng tý ( tháng 11 ),tháng bắt đầu có một hào dương, ngược lại với quẻ Bác. Nó chiếm hào  sơ cửu là vị trí kiên định .

Tuy vậy trong quẻ Phục , mới có môt hào dương ở quẻ đơn bên dưới biến dịch .Trên thì chưa, viết theo toán nhị phân là 100000 .Như vậy có nghĩa là thời tiết đã bắt đầu có ánh nắng ,có hơi ẩm nhưng chưa nhiều. Gặp năm trời đất thuận hòa thì  cây đã chuẩn bị nhú chồi non .Người người hoàn tất nhà cửa để đón một chu kỳ mới, có nhà đã dạm ngõ, cưới xin .Sâu bọ có loài   đã nở .Đặc biệt con người thì  khoảng thời gian này đã dễ thụ thai .Nếu đậu sẽ sinh con vào tháng 8 năm sau .Ấm thuận. Nếu sinh vào tháng này tức là thụ thai vào tháng ba trước đó .Con cái nhìn chung khỏe mạnh , thông minh ,nhưng cũng dễ bị cộng hưởng bởi hàn triều ( gió mùa lạnh tràn xuống như nước triều). Những người này thường dễ bị chứng nhức đầu mỗi lần mùa đông tới do áp suất động của không khí thay đổi .Như  trên đã nói sau quẻ Phục, có tới 15 quẻ thêm một hào dương ở  trên tranh chấp nhau để chiếm vị trí nhân hào của quẻ dưới .

       Người xưa tin rằng ngày xưa tới tiết đông chí ( thường rơi vào tháng này ) sấm còn nấp dưới đất  nên vua kiêng không đi ra ngoài và ra lệnh đóng cửa quan ải, không cho khách và người buôn đi qua để giữ cho khí dương mới sinh được vẹn tròn .

Theo sơ đồ mà soạn giả xác lập ,thì đây là khoảng điểm uốn của chu kỳ .Do đó cần đề phòng trong cuộc sống có sự cộng hưởng mạnh bởi sức khoẻ, sinh hoạt nam nữ, bia rươu thái quá, tâm lý bức xúc   …Thời gian này đối với kẻ đã già hoặc trẻ có bệnh về tim mạch ,dễ đột quỵ vì áp huyết tăng do áp suất động của không khí ( v2g/2g ) tăng ,nhiệt độ giảm, đặc biệt vào nửa đêm về sáng hoặc đầu hôm tùy theo chu kỳ thụ thai hoặc ngày sinh.Vì cộng hưởng sinh lý khi mới có một ít dương sinh .Chu kỳ  này khoa tử vi thường đoán là hạn của tuổi 61 hoặc 73 .

                         Tuy nhiên ,có kẻ tránh được hạn không rơi vào  đúng năm tuổi .Đó là do không bị cộng hưởng .Cũng có thể do di truyền ,do sinh vào chu kỳ thuận âm hơn .Khoa tử vi xét về khía cạnh này về lý thuyết khá khoa học nhưng mới do kinh nghiệm .Ta chưa có công trình thống kê, nghiên cứu sâu về xác suất về chu kỳ rụng trứng của đàn bà, sức khỏe đàn ông,ngày tháng năm sinh  nên thường bác bỏ .

                        Trong quái tư có nói thất nhật lai phục七日來復, soan giả nghĩ rằng đúng .Thất đây là phiếm chỉ ,là chu kỳ ngắn, so với chu kỳ 9 ,12 …Vì sau quẻ  hào dương thứ hai xuất hiện rồi tiếp tục biến thiên, có khi như quẻ Cách ,Ly ,Đồng nhân xuất hiện tới bốn hào dương tranh chấp nhau để chiếm vị trí hào 2  nên ta có thể thấy tần suất xuất hiện trong tháng vừa lớn ( tổng cộng 16 quẻ ) nhưng thời gian lại không đềum thiếu quy luật, khi rét rất dài từ 4 đến 5 ngày ,lúc trưa nóng nhiều cụ già tắm nước lạnh đến đêm đã gặp lạnh ập đến .

                        Soạn giả nhấn mạnh đến  sự tranh chấp của hào dương trong giai đoạn này như là yếu tố ảnh hưởng thời tiết ,tâm sinh lý mà bỏ qua những  cách giải thích cố chấp của nhiều học giả theo thoán truyện  như âm là tiểu nhân đứng trên , ở trong triều, còn dương là quân tử lại đứng dưới ,ở ngoài …

 

Cũng cần nhớ  ,có nhiều loài phát triển không phải về mùa xuân mà là về mùa thu ( tháng 7 ) ví dụ loài rươi – một loại giun nhiều đốt mà đốt sinh sản đi tìm nhau vào tiết mưa ngâu .

Bởi vậy có năm mãi tới  tháng 11 mới thấy rươi  là trời đất không thuận .

Các hiện tượng bão tố cũng vậy , tới tháng này mà vẫn có thể có bão di chuyển rất lạ .Nếu  không khí lạnh ở bắc yếu, không đủ sức chặn lại thì vẫn có thể vào miền bắc nước ta . Vì vậy việc dự đoán  sự biến thiên ,cộng hưởng ,sự tranh chấp của gió mùa khô lạnh phương Bắc và nóng ẩm phương Nam đó là điều rất khó .

 

 

 

 

 

 

Docago.wordpress.com só 22 ra thứ 3, ngày 22/11/2011( tức ngày 27 thang10 Tân Mão)

CHUYÊN MỤC: VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Đỗ Anh Thơ ( sưu tầm biên soạn)

Chương 18.- Thuyết chủ quyền quốc gia của  Jean Bodin

                                                         Jean Bodin

Jean Bodin (1530-1596) là chính trị gia, pháp lật gia người Phap, là  nguời xây dựng nên học thuyết chủ quyền quốc gia của phương Tây.

Trong bối cảnh chiến tranh tôn giáo vẫn tiếp diễn ở Pháp, một số tín đồ Thiên Chúa giáo yêu nước hơn là yêu Giáo Hội La Mã đã thành lập đảng chính trị Politiques với đường lối tôn vương. Các thành viên của đảng này đưa ra ý kiến là hòa bình chỉ có thể được tái lập bằng cách tập trung quyền lực chính trị và nâng cao vai trò của nhà vua. Cách chấm dứt chiến tranh tôn giáo nhanh nhất là công nhận nguyên tắc tự do tín ngưỡng của toàn thể công dân. Thành viên đảng Politiques là những người đầu tiên xác định quốc gia có thể bao gồm công dân theo nhiều tôn giáo khác nhau.
Quan điểm chính quyền không nên cưỡng bức nhân dân theo bất cứ một tôn giáo nào của đảng Politiques đã tạo ra nhiều kẻ thù trong giai đoạn đó. Vào giai đoạn đầu, các thành viên còn bàn cải nhiều về quyền hạn của nhà vua. Nhưng dần dần về sau, có lẽ vì ngao ngán chiến tranh, họ thiên về chính thể quân chủ tuyệt đối. Họ không thấy có cách nào khác hơn là tập trung quyền hành vào tay của vua để tái lập hòa bình. Lịch sử cho thấy lúc hiểm nghèo con người cần đến các lãnh tụ quả quyết, và sự kiện này giúp cho nhóm Politiques tin tưởng hơn vào phương pháp giải quyết chiến tranh của họ.
Nói đến đảng Politiques là phải nhắc đến Luật Sư Jean Bodin (1530-1596). Bodin phủ nhận các quan niệm cho là con người vốn sống trong thời đại vàng son, và xã hội của loài người ngày càng đi thụt lui. Ông dẫn chứng lịch sử và lý luận rằng vạn vật thay đổi theo chiều hướng thăng tiến. Hiện tại tốt

                   Nhà thờ lớn ở Florence tiêu biểu cho thời kỳ văn nghệ phục hưng, thời kỳ Jean Bodin sống

 

hơn quá khứ và tương lai còn tốt hơn nữa nếu nhân loại biết học hỏi và áp dụng các kinh nghiệm lịch sử. Tuy là định lý về khí hậu ảnh hưởng con người của ông thiếu chính xác (người miền Nam thông minh nhưng thụ động, người miền Bắc kém thông minh nhưng thích hoạt động, người miền Trung là khá hơn cả), ý kiến của Bodin về lãnh vực quốc trị đáng cho chúng ta học hỏi.
Qua Sáu Sách về chính thể Cộng Hòa (Six Livres de la République) phát hành năm 1577, Bodin quan niệm rằng gia đình là cộng đồng đầu tiên của nhân loại bao gồm vợ chồng, con cái và tư sản. Quyền tư hữu là quyền tự nhiên của gia đình – tức là quyền hiển nhiên của con người – mà chính quyền phải công nhận và bảo vệ. Uy quyền của quốc gia cũng bắt nguồn từ gia đình, và uy quyền trong gia đình nằm trong tay người cha. Gia đình cũng sẽ loạn như quốc gia nếu người cha không biết sử dụng uy quyền của mình.
Các yếu tố như kinh tế, tôn giáo, v.v., dần dần kết hợp các gia đình thành cộng đồng rồi phát triển thành quốc gia. Quốc gia xuất hiện khi quyền tự quyết (lập pháp và hành pháp) được xác định rõ rệt. Quyền tự quyết giúp cho chính quyền đạt được các mục tiêu của quốc gia. Chủ đích của quốc gia

  Ngụ ngôn người mù ( tranh của họa sĩ Prucer Hà lan )

 

là bảo vệ sự an lạc về tinh thần cũng như vật chất của công dân. Theo Bodin, sự tự do có nghĩa là công dân được bảo vệ và không bị bắt làm nô lệ. Công dân phải tuân theo luật pháp nhưng không có quyền lập pháp bởi vì – theo Bodin – diện tích rộng lớn của quốc gia đòi hỏi sự tập trung quyền hành để dể kiểm soát.
Ðặt nhiều kỳ vọng vào chế độ quân chủ, Bodin khuyên là nhà vua phải biết uyển chuyển khi lập pháp nhằm hướng về quyền lợi chung và để tránh được nội loạn. Pháp luật phải được thay đổi theo nhu cầu; tuy nhiên Bodin nhấn mạnh rằng sự bất nhất không cần thiết của luật pháp có thể dẫn đến sự đối kháng. Ông cũng viết là sự cách biệt quá đáng giữa người nghèo và kẻ giàu có thể tạo ra các xung đột chính trị. Bodin không cho biết là chính quyền phải làm gì để giảm bớt sự cách biệt giàu nghèo.
Vì nhu cầu tái tạo hòa bình ở Pháp lúc đó, Bodin sẵn sàng ủng hộ chế độ quân chủ tuyệt đối thay vì chế độ dân chủ. Mặc dầu tập trung nhiều quyền hành vào tay nhà vua, Bodin cũng vạch ra một số giới hạn mà chính quyền không nên vượt qua. Vua không thể tướt đoạt tài sản của nhân dân và chỉ có thể đóng thuế khi được dân đồng ý. Song song, những vị vua soán ngôi một cách bất hợp pháp có thể bị nhân dân truất phế.
Y¨ niệm sáng giá nhất của Bodin có lẽ là lý thuyết quyền tự quyết của quốc gia hoàn toàn độc lập với nguyện vọng của Thượng Ðế. Quốc gia không tồn tại bởi vì ý muốn của Thượng Ðế mà là vì nhu cầu đời sống của nhân loại. Mặc dầu quốc gia có nhiệm vụ giúp đỡ đời sống tinh thần của nhân dân, mục đích chính của quốc gia là ổn định đời sống vật chất của nhân dân bởi vì đó là vấn đề sinh tử. Bodin đã tách rời vai trò của quốc gia ra khỏi ảnh hưởng tôn giáo và đưa chính quyền vào một vị thế độc lập với Giáo Hội. Ngoại trừ một số khía cạnh xã hội liên quan đến vấn đề tinh thần, tôn giáo mất dần ảnh hưởng trong nhiều lãnh vực quốc sự”.

Docago.wordpress.com số 21 thứ 6 ngày 18/11/2011( tức 23 tháng 10 Tân Mão)

                    CHUYÊN MỤC VĂN HÓA GIÁO DỤC ĐÔNG TÂY

                     Kiểm tra 20 trường Đại học

Để chuẩn bị cho việc kiểm tra, Bộ GD-ĐT yêu cầu các trường báo cáo về tình hình thực hiện cam kết thành lập trường. Báo cáo của các trường gửi về Bộ GD-ĐT trước ngày 30/12/2011. Riêng đối với các trường được kiểm tra trong năm 2011 sẽ phải hoàn thành báo cáo trước ngày 25/11/2011.

20 trường đại học thực hiện kiểm tra trong tháng 11 này, trong đó 10 trường phía Bắc là ĐH Công nghiệp Hà Nội; ĐH Kỹ thuật Y tế Hải Dương; ĐH Kinh tế-Quản trị Kinh doanh (ĐH Thái Nguyên); ĐH Điều Dưỡng Nam Định; ĐH Lương Thế Vinh; ĐH Hà Hoa Tiên; ĐH Chu Văn An; ĐH Nguyễn Trãi; ĐH Đại Nam; ĐH Hòa Bình.

10 trường đại học phía Nam là ĐH Công nghiệp TPHCM; ĐH Tài chính – Marketing; ĐH Sài Gòn; ĐH Quốc tế Sài Gòn; ĐH dân lập Cửu Long; ĐH Hoa Sen; ĐH Kinh tế – Công nghiệp Long An; ĐH Kinh tế – Tài chính TP Hồ Chí Minh; ĐH Bà Rịa – Vũng Tàu; Học viện Hàng không.

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguyễn Hưng Quốc: Giáo dục: Tai hại của tham nhũng

 

 

Các quan chức Việt Nam cho rằng các vụ tham nhũng trong lãnh vực giáo dục

“không nhiều và quy mô không lớn”

Liên quan đến lãnh vực giáo dục ở Việt Nam, vào cuối tháng 5 vừa qua, có

một sự kiện thu hút sự chú ý

của quần chúng: cuộc hội thảo quốc tế về chống tham nhũng  tại Hà Nội vào ngày

 28 tháng 5.

Cuộc hội thảo do hai đơn vị cùng đứng ra tổ chức: Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam và Đại sứ quán

Thuỵ Điển tại Hà Nội. Đọc các bài tường thuật đăng tải trên báo chí Việt Nam về cuộc hội thảo ấy, chúng

ta bắt gặp một sự mâu thuẫn khá thú vị: trong khi các quan chức Việt Nam, từ Thứ trưởng Bộ Giáo dục

 và Đào tạo đến Thanh tra Chính phủ đều khẳng định vấn đề tham nhũng trong lãnh vực giáo dục tại

 Việt Nam không có gì trầm trọng, ý kiến của các chuyên gia cả Việt Nam lẫn quốc tế đều ngược lại.

Ông Rolf Bergman, Đại sứ Thuỵ Điển thì cho “tham nhũng vẫn tràn lan”; Đại sứ Úc thì cho biết tham

 nhũng làm thất thoát khoảng 1-2% tốc độ tăng GDP mỗi năm của Việt Nam; Đại sứ Thuỵ Sĩ thì nhắc

nhở mọi người là theo “chỉ số công bố của Tổ chức minh bạch quốc tế năm 2009, Việt Nam được 2,77 điểm , đứng thứ hạng không cao trong số 180 nước so sánh.”

Các quan chức Việt Nam, ngược lại, cho các vụ tham nhũng trong lãnh vực giáo dục “không nhiều và

quy mô không lớn”: “Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, từ năm 2006 đến nay có 8 hành vi tham nhũng tại

các cơ sở giáo dục thuộc quản lý của Bộ GD&ĐT; 2 hành vi tham nhũng tại các cơ sở thuộc quản lý của Bộ, ngành khác; 13 sở

GD&ĐT có phát hiện hành vi tham nhũng  tại một số cơ sở do mình quản lý. Những hành vi này đã

được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm.”

Ngoài các số liệu chắc chắn là không đáng tin nêu trên, một trong các lập luận mà giới chức Việt Nam

đưa ra để biện hộ cho nhận định của họ là ngân sách giáo dục, sau khi trừ tiền lương, còn lại rất ít. Mà

tiền cấp ít thì cơ hội tham nhũng  cũng ít.

Thật ra, lập luận như thế hoàn toàn không thuyết phục. Thứ nhất, không có chứng cứ nào cho thấy ngân

sách ít thì tham nhũng ít cả. Đã đành là không có cán bộ nào trong lãnh vực giáo dục có thể bỏ túi cả

mấy chục triệu đô la như các cán bộ trong lãnh vực đầu tư hay xây dựng. Nhưng điều đó không có nghĩa

là ngân sách ít thì có ít người tham nhũng. Tham nhũng vài trăm ngàn đô, vài chục ngàn đô, thậm chí,

vài ngàn đô thì cũng vẫn là tham nhũng.

Thứ hai, ngân sách giáo dục thường phân tán, ở nhiều cấp và nhiều trường khác nhau; tính chất phân tán

 ấy là điều kiện thuận lợi cho tham nhũng: mỗi nơi cắn xé một ít. Rất khó kiểm soát và kiểm tra.

Thứ ba, nói đến tham nhũng, không thể giới hạn trong số tiền của nhà nước. Vòi vĩnh một cách bất chính

 tiền bạc của phụ huynh học sinh cũng là tham nhũng. Buôn bán bằng cấp, học vị, học hàm và chức tước

 trong ngành giáo dục cũng là tham nhũng. Mà ở khía cạnh này, cơ hội để tham nhũng lại nhiều vô cùng:

 không có lãnh vực nào có nhiều người tham gia như là trong lãnh vực giáo dục.

Ở Việt Nam hiện nay có hơn 22 triệu học sinh. Cộng với hàng trăm ngàn sinh viên đại học và hậu đại

 học. Rồi còn số lượng cực lớn các giáo viên và giáo sư nữa. Tất cả đều là những nguồn tiền, dù nhỏ, cho

 những kẻ tham nhũng.

Bởi vậy, tham nhũng trong lãnh vực giáo dục khá phổ biến và cũng khá đa dạng. Theo Tiến sĩ Nguyễn

Đình Cử thuộc Viện Dân số và các vấn đề xã hội, Đại học Kinh tế Quốc dân, chỉ riêng trong hệ thống giáo

 dục phổ thông, có đến 9 hình thức tham nhũng khác nhau: “chạy trường (năm 2006, muốn vào học

 trường Phổ thông Trung học Lê Quý Đôn, TP.HCM, mất 2000 USD); chạy điểm (vụ chạy điểm 553 triệu

 đồng ở Bạc Liêu); tham nhũng qua dạy thêm; lạm thu phí giáo dục; độc quyền xuất bản sách giáo khoa;

tham nhũng trong tuyển dụng, đề bạt và luân chuyển giáo viên; rút ruột các công trình xây dựng (kiên cố

hoá trường học phát hiện 14% phòng học gây thất thoát hơn 27 tỷ đồng); xà xẻo khi mua thiết bị dạy học;

xà xẻo kinh phí dự án giáo dục.”

Nguyễn Đình Cử chỉ giới hạn ở cấp phổ thông, từ tiểu học đến trung học. Còn ở đại học thì sao? Thì chắc

chắn cũng đầy tham nhũng. Tham nhũng từ khâu tuyển sinh đến khâu tốt nghiệp. Muốn bảo vệ luận án

thành công? Phải có quà cáp cho cả giáo sư hướng dẫn đến các giáo sư phản biện. Những điều này báo

 chí trong nước đã nói đến khá nhiều.

Viết đến đây, tôi sực nhớ một lần, năm 1996, nhà phê bình Đỗ Lai Thuý chở tôi đến chơi ở nhà giáo sư

Trần Quốc Vượng. Buổi tối. Hôm đó Giáo sư Trần Quốc Vượng vừa mới được bổ làm chủ nhiệm Khoa

Văn hoá học ở trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Lâu rồi, tôi hoàn toàn không nhớ tối đó chúng tôi nói

chuyện gì với nhau. Mà, thật ra, nói chuyện cũng không nhiều. Cuộc nói chuyện thường xuyên bị ngắt

quãng bởi các cú điện thoại gọi đến Trần Quốc Vượng. Không biết những người bên kia nói gì. Tôi chỉ

nghe giọng Trần Quốc Vượng gắt lên: “Để mai tính, mày!” hay “Bây giờ tao đang có khách!” Sau đó, có

tiếng gõ cửa. Trần Quốc Vượng vừa mở cửa vừa la lớn: “Tao đã nói là tao đang có khách mà! Khách Việt

 kiều đấy nhé! Về đi!” Thế nhưng mấy người kia vẫn vào. Vẫn cười cười. Và vẫn nói chuyện. Từ dáng

điệu đến giọng nói đều có vẻ gì vừa nịnh nọt vừa bẽn lẽn.

Qua câu chuyện của họ, tôi biết họ đang vận động cho các chức vụ trong cái Khoa mới vừa được thành

 lập. Trần Quốc Vượng, tính tình bỗ bã, vừa gắt gỏng vừa xua tay. Mấy người kia vẫn năn nỉ. Đỗ Lai Thuý

 ngồi cắm cúi đọc cuốn sách anh mang theo. Tôi nhìn mông lung lên kệ sách và mấy bức tranh treo trên

 tường, nhưng vẫn lắng nghe câu chuyện với tất cả sự tò mò của một tên Việt kiều lần đầu tiên về nước.

Trước, lúc ở Việt Nam, tôi cũng đã từng đi dạy học; nhưng, thú thực, tôi hoàn toàn không biết gì về

những kiểu vận động cửa sau như vậy. Dạy học ở ngoại quốc, tôi lại càng không biết những vụ như vậy.

Tối hôm đó, lần đầu tiên trong đời tôi biết thế nào là “chạy chọt”.

Dĩ nhiên, kể lại chuyện trên, tôi không muốn nói Trần Quốc Vượng dính dáng đến tham nhũng. Không.

 Tuyệt đối tôi không có ý ấy. Tính cách ông không phải là người như vậy. Ông cũng không cần làm vậy.

 Điều làm tôi ngạc nhiên và để lại trong tôi ấn tượng sâu đậm nhất là cách thức vận động chức vụ ở Việt

 Nam: Luồn cúi và đi cửa sau. Trong lãnh vực giáo dục mà còn thế, huống gì các lãnh vực khác béo bở

 hơn? Trí thức mà còn thế, huống gì những người không phải là trí thức?

Đồng ý số tiền đút lót trong lãnh vực giáo dục chắc không nhiều. Nhưng số tiền nhỏ không có nghĩa là

tác hại của chúng cũng nhỏ. Ngược lại. Có thể nói không ở đâu tham nhũng lại có tác hại lâu dài và sâu

sắc cho bằng tham nhũng trong giáo dục. Một cán bộ ngành xây dựng tham nhũng, cùng lắm, làm cho

 công trình giảm chất lượng đi một tí. Giảm thì sửa. Một cán bộ thuế vụ tham nhũng, ngân sách nhà nước

 sẽ bị giảm đi một tí. Giảm thì bù. Một cán bộ hải quan tham nhũng, một số mặt hàng lậu có thể tràn vào

 nước; hại thì có hại, nhưng nói thực tình, trừ ma tuý, chúng cũng chẳng làm chết ai cả.

Còn tham nhũng trong giáo dục?

Qua cách chạy điểm và buôn bán bằng cấp, người ta sẽ tạo ra vô số những trí thức giả, vừa kém tài vừa

kém tư cách, những kẻ sẽ góp phần phá huỷ bất cứ một dự án tốt đẹp nào của xã hội. Dạy học, họ sẽ là

 những thầy cô giáo dốt. Làm việc, họ sẽ là những cán bộ tồi. Khi cái dốt và cái tồi ngồi cao hơn vị trí

vốn có của chúng, chúng trở thành gian.

Nhưng tai hại nhất là ở hai điểm này:

Thứ nhất, chúng tạo ra hoặc khoét sâu thêm các bất công trong xã hội. Nói đến chuyện bình đẳng, hầu

như ai cũng thừa nhận: quan trọng nhất là sự bình đẳng trong các cơ hội giáo dục. Có cơ hội giáo dục là

 có cơ hội thăng tiến. Có cơ hội thăng tiến là có tương lai. Có tương lai là có tất cả. Với sự xuất hiện của

 tham nhũng, cơ hội giáo dục của rất nhiều người sẽ bị cướp mất: vì nghèo, họ không thể vào học được

 các trường có chất lượng cao; hay vì nghèo, không thể học thêm ngay với các thầy cô giáo đang đứng

 lớp, do đó, không thể có điểm cao; và cũng do đó, mất hẳn tự tin, chẳng hạn.

Nhưng tai hại thứ hai này mới thực sự lớn: chúng làm cho trẻ em, ngay từ nhỏ, đã mất hẳn niềm tin vào

công lý. Thi tuyển vào trường, các em biết kết quả không thuộc ở khả năng hay sự cố gắng của bản thân

 mà chủ yếu tuỳ thuộc vào quà cáp của bố mẹ. Ngồi trong lớp học, các em biết rõ thái độ của thầy cô giáo đối với mình sẽ khác hẳn đi không phải do hạnh kiểm bản thân mà do sự hào phóng của bố mẹ các em. Những bài học đầu đời, do đó, là những bài học xấu: mọi chuyện đều, có khi chỉ, được giải quyết bằng tiền. Và đồng tiền khôn luôn luôn là đồng tiền đi cửa sau.

Với những bài học đầu đời như vậy, tương lai các em sẽ ra sao?

Và đất nước sẽ ra sao?

Tôi không dám nghĩ tới.

Xin nhường câu trả lời cho quý bạn đọc
.

Docago.wordpress.com só 20 ra ngày 16/11/2011( tức 21 tháng 10 Tân Mão)

   

  

CHUYÊN MỤC : VĂN HÓA GIÁO DỤC ĐÔNG TÂY

An Lộc sưu tầm

                                            

Nhà giáo Mỹ lương thấp, phải đi làm thêm bên ngoài 
Saturday, November 12, 2011 3:22:52 PM

Christine Armario/AP

Chuyển ngữ: Lê Tâm/Người Việt

 

Ban ngày, thầy Wade Brosz dạy môn Lịch Sử Mỹ tại một trường trung học có tiếng ở Florida. Nhưng đến tối, ông là huấn luyện viên cho trung tâm thể dục “24 Hour Fitness”.

Nhà giáo Michelle Hartman dạy trong lớp tiểu học ở thành phố Plantation, tiểu bang Florida. (Hình: AP Photo/J Pat Carter)

Ông Brosz xin làm việc nơi này ba tối mỗi tuần sau khi lương dạy học của ông không được tăng, các lớp Mùa Hè bị cắt giảm trầm trọng, và tiền thưởng của tiểu bang dành cho những người có chứng chỉ cao cấp bị hủy bỏ. Ông tính ra rằng mức thu nhập của ông và bà vợ, cũng là một nhà giáo, bị giảm khoảng $20,000 dưới mức dự liệu.

“Công việc thứ nhì của tôi là để có được số tiền bị mất qua những cắt giảm của tiểu bang,” theo ông Brosz, một giáo sư trung học có chứng chỉ công nhận của hội đồng quốc gia. “Ðể có đủ tiền trang trải mọi thứ đang ngày càng khó khăn hơn cho chúng tôi. Tôi khởi sự làm việc huấn luyện viên cá nhân này vì giờ giấc thoải mái.”

Có việc làm thứ nhì bên cạnh việc dạy học không phải là điều gì mới lạ đối với giới nhà giáo, những người từ trước đến nay vẫn thường lãnh lương thấp hơn các nghề nghiệp khác. Theo thống kê năm 1981, có khoảng 11% giới nhà giáo làm thêm việc ở bên ngoài; con số này tăng lên vào khoảng 20%, tức là một trong năm người, ngày hôm nay. Họ làm những việc như pha rượu, chạy bàn, dạy kèm, lái xe buýt chở học sinh, và ngay cả đi cắt cỏ.

Nay, với tình trạng cắt giảm ngân sách trầm trọng ở một số học khu, các nhà giáo như ông Brosz, những người chưa từng phải nghĩ đến việc phải đi làm thêm, nay đang theo dõi các rao vặt cần người. Con số các nhà giáo dạy trong các trường công lập cho biết đi làm thêm việc thứ nhì ngoài việc dạy học đã tăng lên từ niên khóa 2003-2004 đến 2007-2008.

Tuy không có các dữ kiện thu thập trên toàn quốc trong vài năm trở lại đây, báo cáo từ các tiểu bang và học khu cho thấy con số này có thể đã tăng cao hơn nữa từ khi cuộc suy thoái kinh tế bắt đầu.

Một thí dụ rõ ràng là ở tiểu bang Texas, số nhà giáo đi làm thêm tăng từ 22% năm 1980 lên 41% năm 2010.

“Ðó phần lớn là vì tình hình kinh tế,” theo lời Sam Sullivan, một giáo sư tại đại học Sam Houston State University, nơi thực hiện cuộc thăm dò.

Bà Rita Haecker, chủ tịch Hiệp Hội Các Nhà Giáo Tiểu Bang Texas, nói rằng việc cắt giảm ngân sách giáo dục đã khiến nhiều nhà giáo phải lấy ngày nghỉ ở nhà không lương. Ðiều này làm nặng thêm áp lực tài chánh có sẵn vì không giống như trước đây, nhiều nhà giáo nay là nguồn cung cấp tài chánh duy nhất cho gia đình, vì họ một mình phải nuôi con hay người phối ngẫu bị mất việc, theo bà Haecker.

“Ðiều này ảnh hưởng đến tinh thần của nhà giáo trong lớp học,” bà nói. “Chúng tôi không muốn thấy các nhà giáo phải lo lắng về việc phải trả các món chi phí trong nhà giữa lúc đang giảng dạy.”

Mức lương trung bình của một nhà giáo trường công lập trên toàn quốc niên khóa 2009-2010 là $55,350, một con số thật ra không tăng so với số lương của hai thập niên qua, sau khi điều chỉnh mức lạm phát. Lương của các nhà giáo mới vào nghề có khi còn thấp hơn nhiều; so với những người tốt nghiệp các ngành nghề khác, số lương khởi đầu của họ thường ít hơn khoảng $10,000 hoặc có khi còn chênh lệch nhiều hơn nữa.

“Tôi nghĩ người ta thường cảm thấy có nhu cầu phải bù đắp thêm cho tiền lương dạy học để duy trì mức sống trung lưu,” theo lời Lawrence Mishel, giám đốc viện nghiên cứu chính sách kinh tế Economic Policy Institute, nơi đã công bố một bản nghiên cứu năm nay cho thấy mức lương trung bình hàng tuần của nhà giáo năm 2010 khoảng 12% thấp hơn mức lương những người có cùng mức học vấn và kinh nghiệm.

Tổ Chức Hợp Tác Kinh Tế và Phát Triển (OECD), vốn thu thập dữ kiện về sức học của học sinh khắp thế giới, hồi đầu năm nay khuyến cáo chính phủ Mỹ là phải tìm cách cải thiện nghề giáo để gia tăng sự học hành của học sinh. Ðề nghị của OECD bao gồm việc tuyển chọn kỹ càng hơn, tăng lương và huấn luyện nhiều hơn. Tại những quốc gia nơi học sinh vượt qua học sinh ở Mỹ trong các lãnh vực đọc hiểu, toán và khoa học, kể cả Nhật và Nam Hàn, các nhà giáo lãnh lương cao hơn các đồng nghiệp của họ ở Mỹ.

Tuy việc đi làm thêm không là điều đặc thù với giới nhà giáo, họ thường có việc thứ nhì, và đôi khi cả việc thứ ba, ở mức cao hơn những người trong ngành nghề khác. Một nhà nghiên cứu ước tính rằng con số đi làm thêm của phía nhà giáo có thể cao gấp bốn lần hơn những người làm việc toàn thời gian trong các ngành nghề khác có bằng cấp đại học và trả lương năm.

Bà Eleanor Blair Hilty, một giáo sư ngành Giáo Dục tại đại học Western Carolina University, cho hay phần lớn các nhà giáo kiếm thêm khoảng $5,000 từ các công việc bên ngoài. Vậy mà, khi được hỏi rằng nếu được tăng lương ở trường con số tương đương họ có nghỉ làm thêm hay không, phần lớn trả lời không.

Giáo Sư Hilty cho rằng các nhà giáo này cảm thấy có được những sự hài lòng khác bên cạnh tài chánh.

“Ðây là những điều cho thấy rằng nghề giáo đang có nhiều vấn đề,” Giáo Sư Hilty nói, cho rằng các nhà giáo thấy mình không có sự độc lập và không có quyền quyết định những gì họ dạy cũng như cách thức dạy học. “Họ thấy rằng các công việc làm thêm kia coi vậy mà thích thú hơn.”

Chính sách về cho phép các nhà giáo làm thêm bên ngoài thay đổi tùy theo học khu; một số nơi không có hướng dẫn gì bằng văn bản; một số khác chỉ nói rằng đừng để công việc bên ngoài ảnh hưởng đến việc dạy học.

Ở tiểu bang North Carolinia, một cuộc điều tra thực hiện năm 2007 cho thấy có 72% nhà giáo nơi đây đi làm thêm bên ngoài, kể cả việc làm sau giờ dạy ở trường hay việc làm Mùa Hè mà thôi.

“Ai cũng biết là người khác đang làm thêm bên ngoài và họ cũng hiểu rằng nhà giáo phải làm vậy mới sống được nhưng không ai muốn nói về điều này.”

Michelle Hartman, một nhà giáo dạy môn khoa học và ngôn ngữ ở Plantation, tiểu bang Florida, làm thêm hai việc khác, một là việc đánh đàn ở nhà thờ địa phương, trong các buổi lễ hàng tuần, các đám cưới và đám tang; còn việc nữa là lau chùi dọn dẹp hai ngày một tuần trong văn phòng kế toán của cha mình.

Cô giáo Michelle Hartman, có bằng cao học giáo dục và 15 năm dạy học, nhưng vẫn phải đi làm thêm ngoài giờ mới đủ tiền chi trả. (Hình: AP Photo/Alan Diaz)

Người mẹ một mình nuôi con này có bằng Cao Học giáo dục và đã đi dạy từ 15 năm nay. Nhưng bà cho hay không thể nào bỏ bất cứ việc làm thêm nào, vốn theo bà cho thêm khoảng $6,000 mỗi năm, để phụ thêm vào mức lương nhà giáo là $46,000 một năm.

“Có những ngày tôi rất mệt mỏi,” theo bà Hartman. “Nhưng dù thế nào đi nữa, khi vào lớp tôi vẫn phải cố gắng hết sức cho học sinh của mình.”

Tuy vậy đi làm thêm bên ngoài thế nào cũng có ảnh hưởng đến việc dạy học. Ngoài việc giảng dạy trong lớp, nhà giáo còn phải chấm bài và chuẩn bị bài giảng, những việc mà họ thường làm ở nhà. Một cuộc nghiên cứu về nhà giáo đi làm thêm ở Texas nêu ra trường hợp của một nhà giáo phải chấm bài ở trong nhà hàng, nơi bà làm thêm.

“Ðúng là họ dành 100% cho học sinh, nhưng họ vẫn cảm thấy mệt mỏi,” theo lời Dave Henderson, một giáo sư nghỉ hưu, người từng nghiên cứu vấn đề này trong nhiều năm qua.

 

 

 

 

 

 

Blogger Đỗ Anh Thơ kính báo

                                          

Nhận thấy vấn đề văn hóa giáo dục và phấn đấu giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là những vấn đề lớn và cấp thiết của nước nhà, đòi hỏi mọi công dân phải tham gia, nên mấy tháng gần đây chúng tôi đã mở thêm 2 blog là docago.wordpress.com và kwod.wordpress.com( keyword online dictionary) để tạo thêm sân chơi bổ ích, như CLB trên mạng cho moi người tham gia đọc, viết và thư giãn. Tuy nhiên, qua theo dõi, số lượng người truy cập không nhiều, ý kiến gửi về ít, bởi vậy từ nay hai blog này chỉ làm nhiệm vụ cất giữ dữ liệu lâu dài để chỉnh sửa bổ sung cho tác giả. Mọi bài vở liên quan về các chủ đề nêu trên sẽ không định kỳ được post lên doanhtho.blogspot.com . Tiêu đề vẫn giữ nguyên .

Kính báo

Đỗ Anh Thơ

Docago.wordpress.com số 19 ra thứ 2 ngày 14/11/2011 (tức 19 tháng 10 năm Tân Mão)

 

 

CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

             

Hệ thống giáo dục Hoa Kỳ
            Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (Mỹ) là đất nước có diện tích lớn đứng thứ tư thế giới sau Nga, Canada, và Trung Quốc, nằm ở Bắc Mỹ gồm 50 bang với diện tích khoảng 9.628.382 km2.. Khí hậu chủ yếu là ôn đới, vùng Hawaii và Florida có khí hậu nhiệt đới, vùng Great Plains phía tây của sông Mississippi và Great Basin của vùng Tây Nam có khí hậu khô. Với dân số 281.4220.000 người ( 48,9 % là nam giới, 51,1 % là nữ ) Mỹ được coi là đất nước phát triển nhất trên thế giới về mọi mặt: kinh tế, giáo dục, công nghệ khoa học…

      Chương trình Tiểu học và Trung học
Tại Hoa Kỳ, tất cả mọi trẻ em đều phải đến trường, và độ tuổi đầu đến trường do mỗi bang quy định. Thông thường, học sinh bắt đầu đến trường vào khoảng năm đến sáu tuổi và kết thúc chương trình trung học vào lúc 18 tuổi.

» Trường tiểu học: sáu năm, từ mẫu giáo đến hết lớp năm
» Trường trung học cơ sở: ba năm, từ lớp sáu đến hết lớp tám
» Trường trung học phổ thông: bốn năm, từ lớp chín đến hết lớp mười hai

Các trường tiểu học và trung học đều tồn tại hai hệ thống các trường công lập và tư thục. Theo thống kê, khoảng 10% học sinh theo học tại các trường tư thục, khoảng 85% theo học tại các trường tư thục và một số ít học sinh được cha mẹ tự dạy học tại nhà.

Các trường công lập do chính phủ tài trợ nên học sinh theo học tại những trường này không phải trả học phí. Học sinh quốc tế tham gia chương trình giao lưu văn hoá cũng được hưởng sự ưu đãi này. Trường tư thục học phí khá cao, chất lượng giảng dạy không thua kém các trường công lập. Trang thiết bị phục vụ việc học tập và ăn ở rất tốt. Học sinh quốc tế của các trường tư thục thường ở tại ký túc xá của trường hoặc sống cùng các gia đình người Mỹ.

Chương trình sau phổ thông
Bao gồm các trường Colleges, Universities, Schools và Institutes. Ở Mỹ, các trường có thể được gọi bởi bất kỳ cái tên nào ở trên. Tuy nhiên, các colleges thường có xu hướng nhỏ hơn và chỉ cung cấp bằng cử nhân đại học, trong khi university thì cung cấp thêm cả các bằng sau đại học. Một “institute” (học viện) thường tập trung vào các chương trình lấy bằng trong một nhóm các ngành có liên quan chặt chẽ với nhau, ví dụ: học viện kỹ thuật, học viện thời trang, học viện nghệ thuật và thiết kế….

Các trường đại học (Universities): Dạy các chương trình cử nhân 4 năm. bao gồm các trường đại học của tiểu bang (state university) hoặc đại học tư thục (Private university)

Trường cao đẳng (thường là các trường Cao đẳng cộng đồng): Thường cấp bằng 2 năm, gọi là Associate of Arts (A.A) hoặc Associate of Science (A.S). Các trường cao đẳng cộng đồng học phí và điều kiện nhập học thường thấp hơn so với các trường đại học 4 năm, và nhiều trường cao đẳng cộng đồng cho phép sinh viên chuyển tiếp dễ dàng hơn

» Các chương trình đại học : Hệ thống đại học của Mỹ được coi là một trong những hệ thống đại học tốt nhất trên thế giới, vì thế sinh viên nhiều nơi trên thế giới đều muốn được đến học ở Mỹ. Đặc điểm của giáo dục đại học Mỹ là trong chương trình đào tạo bao gồm phần giáo dục đại cương, các môn tự chọn, các môn học bắt buộc và hệ thống tín chỉ xuyên suốt trong hệ thống đào tạo. Việc áp dụng hệ thống tín chỉ trong đào tạo là một sáng kiến quan trọng cho phép sinh viên có thể chủ động và linh hoạt trong các chương trình và cơ sở đào tạo.
» Chương trình sau đại học

 

Hệ thống nhà trường tại Úc

Hệ thống giáo dục của Úc có danh tiếng lớn, với các giáo viên chất lượng cao, một chương trình học đa dạng, học sinh từ nhiều nguồn gốc khác nhau và các không gian học tập khuyến khích mọi học sinh phát huy thế mạnh của mình.

Các thông tin dưới đây sẽ đưa ra cho bạn một bức tranh tổng quan rõ ràng về nền giáo dục tại bang Victoria, Úc, bất kể đó là tại các trường vùng miền hay các trường tại Melbourne. Các hệ thống giáo dục khác nhau lại khác nhau, vì vậy hệ thống này có thể khác với hệ thống tại đất nước của bạn.

Độ tuổi

Việc đi học tại bang Victoria, Úc là bắt buộc đối với các trẻ em tuổi từ sáu đến 16 tuổi. Tuy nhiên, kể từ năm 2011, tuổi tốt nghiệp bậc học phổ thông đang được tăng lên thành 17 tuổi. Trong hệ thống giáo dục của Úc, học sinh đi học trong tổng thời gian là 13 năm.

Học sinh tiểu học là ở tuổi từ năm đến 12 tuổi. Các khối lớp được chia thành Mẫu Giáo và từ Lớp 1 – Lớp 6.

Học sinh phổ thông cơ sở và phổ thông trung học là ở tuổi từ 12 đến 20 tuổi. Các khối lớp được chia thành từ Lớp 7 – Lớp 12.

Các loại trường

Hệ thống nhà trường của Úc có đủ loại trường khác nhau, gồm:

  • Các trường tiểu học
  • Các trường phổ thông cơ sở và phổ thông trung học
  • Các trường P-12 (từ Mẫu Giáo đến Lớp 12) hay K-12 (Mầm Non đến Lớp 12).

Hầu hết các trường công lập bang Victoria là cho cả hai giới nhưng cũng có một số trường chỉ cho một giới.

Sĩ số lớp học và tỉ lệ

Theo các thống kê của Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế (Organisation for Economic Co-operation and Development – OECD), tại các trường phổ thông cơ sở và phổ thông trung học trên toàn thế giới:

  • sĩ số lớp học trung bình là 24 học sinh
  • tỉ lệ học sinh/giáo viên là 11,75.

Các trường của bang Victoria là tương đương hoặc tốt hơn. Tại các trường phổ thông cơ sở và phổ thông trung học của bang Victoria trong năm nay:

  • sĩ số lớp học trung bình là 21,6 học sinh
  • tỉ lệ học sinh/giáo viên là 11,8.

Một ngày điển hình ở trường

Học sinh đi học năm ngày một tuần, từ khoảng 8:30 sáng đến 3:30 chiều, từ thứ Hai đến thứ Sáu. Vào một ngày điển hình ở trường, học sinh thường chuyển từ lớp học này sang lớp học khác, hơn là chỉ học trong một phòng, hay thậm chí chuyển ra bên ngoài lớp học bằng các phương pháp giảng dạy giao tiếp tương tác của chúng tôi.

Năm học

Có bốn kỳ trong một năm học của bang Victoria. Năm học thường bắt đầu vào cuối tháng Một hay đầu tháng Hai và diễn ra cho tới giữa tháng Mười Hai. Có một thời gian nghỉ ngắn giữa các kỳ và dịp nghỉ hè dài vào tháng Mười Hai và tháng Một.

Chương trình học và chương trình của nhà trường

Chương trình học của nhà trường tại Victoria tùy thuộc vào khối lớp của học sinh:

  • Các Tiêu Chuẩn Học Tập Thiết Yếu của Bang Victoria đối với Lớp Mẫu Giáo đến Lớp 10
  • Chương Trình lấy Bằng Tốt Nghiệp Phổ Thông Trung Học của Bang Victoria đối với năm Lớp 11 và Lớp 12.

Tất cả các trường còn đưa ra các chương trình ngoại khóa với nhiều lựa chọn và trải nghiệm.

Chúng tôi dạy các học sinh của chúng tôi như thế nào

Phương pháp giảng dạy của chúng tôi chú trọng đến học sinh và đưa đến các kết quả học tập tốt hơn và một thời gian ở nhà trường vui vẻ hơn.

Tất cả các giáo viên của bang Victoria đều tốt nghiệp đại học. Một phần của bằng cấp của họ là họ các kinh nghiệm thực hành tại các trường thông qua một chương trình sắp xếp thực tập có giám sát, còn được gọi là ‘các vòng giảng dạy’.

Bạn sẽ thường nói chuyện với thày, cô giáo của bạn bằng cách gọi chức danh và tên họ của họ. Ms, Mrs hay Mr X. Các giáo viên thường nói chuyện với học sinh bằng tên thường gọi của các em.

Chúng tôi quản lý các trường của chúng tôi như thế nào

Hiệu trưởng nhà trường là người lãnh đạo và quản lý nhà trường và chương trình giáo dục của trường. Mỗi trường đều có một hội đồng gồm các đại diện của phụ huynh, cộng đồng và nhân viên, giúp đảm bảo là nhà trường đang hoạt động với hết khả năng của mình.

Các không gian học tập

Các trang thiết bị và không gian học tập tuyệt vời là một đặc điểm chính của các trường công lập bang Victoria. Tất cả các trường đều có các trung tâm học tập, thể thao và giải trí chuyên dụng.

Hệ thống máy vi tính

Tỉ lệ trung bình của chúng tôi về số lượng học sinh trên mỗi máy vi tính hiện này là 1 trên 3 (1:3). Nhiều chương trình của chính phủ tiểu bang và liên bang đang cải thiện khả năng tiếp cận đến máy vi tính trong các nhà trường và thậm chí giảm tỉ lệ này hơn nữa.

Quần áo đồng phục

Hầu hết các trường của bạn đều có một bộ đồ đồng phục mà bạn phải mặc. Thường có bộ đồ đồng phục cho mùa đông và mùa hè, với quần áo mang màu của nhà trường.

Quần áo của con trai:

  • quần dài hoặc quần sóc
  • áo sơ mi và áo cộc tay hay áo ngoài (áo chui cổ)

Quần áo của con gái:

  • váy hoặc quần dài
  • áo sơ mi và áo cộc tay.

Trong các trường của bang Victoria, học sinh có thể mặc quần áo riêng theo tôn giáo hay văn hóa của các em. Ví dụ, các học sinh nữ người Hồi Giáo có thể quấn khăn đầu.

Các lớp ngôn ngữ

Có các lớp Ngôn Ngữ không phải là Tiếng Anh (Languages other than English – LOTE) từ khối Mẫu Giáo đến Lớp 12. Các lớp ngôn ngữ được các giáo viên LOTE đủ trình độ chuyên môn giảng dạy và thường dài tổng cộng là 150 phút mỗi tuần.

22 ngôn ngữ được giảng dạy tại các trường tiểu học công và 19 trường phổ thông cơ sở và phổ thông trung học công lập Bang Victoria. Trên 40 ngôn ngữ được giảng dạy thông qua VCác Trường Ngôn Ngữ của Bang Victoria (Victorian School of Languages – VSL).

Nguồn gốc ngôn ngữ của học sinh

Gần 25 phần trăm học sinh tại các trường của chúng tôi có các nguồn gốc ngôn ngữ không phải là Tiếng Anh, đó là lý do tại sao chúng tôi có một chương trình ESL phong phú đến vậy và nhiều trường của chúng tôi có nhân viên là các Nhân Viên Trợ Giáo Đa Văn Hóa.

Mỗi trường lại khác nhau. Một số trường có học sinh chủ yếu là thuộc nguồn gốc Anglo-Saxon, trong khi các trường khác có một sự pha trộn gồm nhiều nguồn gốc sắc tộc khác nhau trong các lớp học của nhà trường.