Docago.wordpress.com số 16 ra thứ 6 ngày 8/11/2011 (tức 13 tháng 10 năm Tân Mão)

Docago.wordpress.com số 16 ra thứ 6 ngày 8/11/2011 (tức 13 tháng 10 năm Tân Mão)

 (  LBT: Từ nay cho đến ngày quốc tế các nhà giáo(20/11), trong vòng một tháng, Docago.wordpress.com sẽ tập trung cho chủ đề giáo dục và để bạn đọc dễ tra cứu, chuyên mục thơ văn sẽ đăng ở doanhtho.blogspot.com. Chuyên mục sưu tầm ngữ nghĩa tiếng Việt-Hán dăng ở Kwod.wordpress.com.  Đề nghị các bạn đóng góp bài. Xin cảm ơn)

            

 

CHUYÊN MỤC : VĂN HÓA- GIÁO DỤC ĐÔNG TÂY

 

Đỗ Cao Đàm

                 TÂM SỰ NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM

Đã hơn 40 năm tham gia công tác đào tạo nên tuy đã rời bục giảng gần 15 năm nhưng vấn đề giáo dục luôn luôn là mối quan tâm lớn nhất trong tôi, trong thời đại khoa học và kỹ thuật phát triển như vũ bão như hiện nay tựa như chiếc tàu cao tốc chậm chân là nó đã chạy mất tiêu, nhìn cảnh chúng ta loay hoay với các mô hình đào tạo mà mãi không xác định được hướng đi mà thấy bức xúc, trong các trường ĐH có trường bỏ hẳn các chương trình đào tạo cũ, bệ nguyên xi chương trình đào tạo của nước ngoài, giảng theo các giáo trình nước ngoài, các giáo viên lâu năm vốn được đào tạo từ trong nước và các nước xã hội chủ nghĩa cũ không thông thạo tiếng Anh nên phải qua phiên  dịch, người dịch hoặc không thông thạo chuyên môn hoặc không có chuyên môn nên dịch không thoát ý, đọc giáo trình dịch như thế thầy cũng khổ, trò cũng khổ, chưa kể cách học cách giảng các chương trình nước ngoài người ta cũng khác xa ta, như vậy từ bỏ hẳn các bài giảng cũ mà chúng ta đã thành thạo để học theo cái mới của nước ngoài đâu có dễ  . Trong khi đó những thông tin không vui lại đến dồn dập: nhiều tỉnh nói không với các sinh viên tốt nghiệp đại học tại chức, tốt nghiệp các trường ĐH dân lập, rồi lại lưu truyền trên mạng học lớp một còn khó hơn học cao học, lớp một học bù đầu bù tai các bé phải ôm cặp sách dầy cộm đến trường còn học cao học lại ngồi chơi. Các nước có nền đào tạo tiên tiến thì tuổi thơ vừa học vừa chơi, chơi mà vẫn học còn thạc sĩ, tiến sĩ phải học cật lực. Những cơ cở sản suất khi tuyển dụng vào vị trí công việc mà kỹ sư làm tốt thì không bao giờ người ta tuyển các người có bằng cao học vì không phải trả lương cao nên chỉ những người làm công việc nghiên cứu hoặc ở các cơ sở giảng dạy mới đi học cao học, ở nước ta lấy bằng cấp để lên chức lên lương nên xuất hiện nhiều nạn bằng dởm bằng giả là thế. Những địa phương nói không với bằng tại chức và dân lập có thể chưa đúng hoàn toàn nhưng điều đó là tiếng chuông cảnh báo về chất lượng đào tạo ĐH hiện nay.

Một lần đi bên Quốc lộ 1 nhìn thấy một tòa nhà đơn độc chơ vơ trên một cánh đồng rộng không bóng cây, khi tôi đang thắc mắc sao có đám đất rộng như thế mà không sử dụng thì người ta nói với tôi rằng đây là một trường đại học ( ĐH ), tôi không khỏi ngạc nhiên và bỡ ngỡ về một cơ sở đào tạo đại học của nước ta lại đơn giản đến như vậy giữa những thập niên đầu của thế kỷ 21. Những năm vừa qua việc nâng cấp và mở thêm nhiều trường ĐH mới là nhằm đáp ứng tiêu chí 450 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2020 theo Nghị quyết 14/2005. Theo số liệu năm 2009 nước ta đã có  376 trường đại học cao đẳng ( đến nay đã có 400 trường ), Bộ GD&ĐT quản lý 54 trường (14,4%). Các bộ, ngành khác quản lý 116 trường (30,8%). UBND các tỉnh, TP là cơ quan chủ quản của 125 trường (33,2%). Có 81 trường dân lập, tư thục (21,5%) có thể nói trường ĐH nở ra như nấm sau mưa, việc này đã dẫn đến hệ lụy chất lượng thấp kém đến nỗi Quốc hội, trong năm 2010 phải thành lập Ủy ban giám sát và ra Nghị quyết về việc thành lập các trường và chất lượng đào tạo ĐH. Năm nay nhiều ngành nhiều trường không tuyển sinh được theo chỉ tiêu cho dù có dùng đủ các biện pháp chiêu sinh.

Những năm trước mô hình đào tạo ĐH của ta theo mô hình Liên Xô cũ và mô hình Trung Quốc các trường đại học mang tính chuyên ngành cao do đó quy mô các trường thường nhỏ; xu thế hiện nay ngược lại, các nước đang xây dựng những trường đại học có quy mô lớn đa ngành để có thể đầu tư trang thiết bị hiện đại, trở thành những trung tâm nghiên cứu khoa học mang tầm cỡ quốc gia, một phòng thí nghiệm được trang bị hiện đại có thể phục vụ nhiều ngành nghề thí dụ phòng thí nghiệm thủy lực, sức bền, trắc đạc, hóa, vật lý vv… có thể sử dụng cho các ngành xây dựng như thủy lợi, giao thong, xây dựng, kiến trúc … nếu xé lẻ các phòng thí nghiệm đó cho các trường nhỏ thì sẽ không thể đầu tư hiện đại được vì rất tốn kém, tương tự như vậy như thư viện, trung tâm tin học … đều có yêu cầu trang bị hiện đại phục vụ đa ngành,  ngoài ra các trường có quy mô lớn sẽ tập trung được sức mạnh về trí thức của các chuyên ngành, dễ xây dựng được đội ngũ cán bộ hùng mạnh và sẽ giải quyết được những vấn đề lớn đặt ra cho khoa học kỹ thuật, như vậy việc thành lập các trường đại học từng địa phương nhỏ rõ rang không phải là hướng đi tối ưu hiện nay, rõ ràng việc mở đại học theo phong trào hoặc mang một ý đồ nào đó không phải xuất phát từ việc phát triển xã hội. Tại sao trong thời gian rất ngắn mà các trường đại học ở nước ta lại mọc lên như “nấm sau mưa”?,  rất đơn giản là: lợi nhuận khổng lồ được thu về một cách rất dễ dàng và nhanh chóng! Người ta chỉ việc lập bộ hồ sơ xin cấp phép mở trường, rồi tuyển sinh, rồi thu học phí, thu lợi nhuận (bỏ vào túi riêng của một vài người) mặc cho trường lớp, cơ sở vật chất, phương tiện dạy học không có, giáo viên cơ hữu thiếu đa số là thỉnh giảng ( như vậy không phải trả lương nhiều ), tài liệu, sách báo tham khảo phục vụ học tập cho sinh viên lại càng không có, cơ sở vật chất nghèo nàn, như vậy làm sao đuổi kịp chuyến tầu cao tốc khoa học kỹ thuật.

 

Xu thế mở trường đại học lớn đã có ở nước ta khi bộ Giáo dục và đào tạo thành lập các trường đại học Quốc gia nhưng đó mới chỉ là hình thức lắp ghép cơ học, đó là một hệ thống giáo dục ĐH khá phức tạp với 2 ĐH quốc gia, 3 ĐH vùng, bên dưới là các “trường ĐH thành viên” trực thuộc cũng như hàng loạt các trường ĐH đơn ngành, đa ngành, và trường CĐ do các bộ ngành và các tỉnh quản lý, đã mang đến những lẫn lộn nhất định về tên gọi cũng như tính chính thể của hệ thống. Hai ĐH quốc gia cũng chưa thật sự có được quyền tự chủ theo đúng nghĩa của nó.

Về vấn đề này, có lẽ chúng ta nên học hỏi ở hệ thống quản trị ĐH Trung Quốc, nơi các trường ĐH không tách rời khỏi nhà nước mà là một bộ phận không thể thiếu của dự án hiện đại hóa quốc gia của Trung Quốc. Một số trường ĐH hàng đầu như ĐH Thanh Hoa hay ĐH Bắc Kinh đã mang đến những thay đổi hết sức đáng khâm phục. Kết quả là 2 ĐH này trong khoảng 5 năm trở lại đây luôn nằm trong nhóm 100 trường ĐH hàng đầu thế giới theo xếp hạng của Tạp chí Times Higher Education. Đa số sinh viên ĐH Thanh Hoa được tuyển chọn là những học sinh phổ thông xuất sắc nhất Trung Quốc. Nhiều nhà khoa học, kỹ sư, nhà kinh doanh, nhà chính trị hàng đầu của Trung Quốc tốt nghiệp từ Thanh Hoa, trong đó có Hồ Cẩm Đào. Năm 2003, Thanh Hoa có 12 trường đại học và 48 khoa, 41 viện nghiên cứu, 35 trung tâm nghiên cứu, 167 phòng thí nghiệm bao gồm 15 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, ĐH Thanh Hoa có 7 700 giáo viên, 14 000 sinh viên ĐH và 19 000 cao học.

Nhớ lời bác Hồ dậy “ vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi ích 100 năm trồng người “ vì vậy công tác giáo dục và đào tạo là vì lợi ích lâu dài của đất nước là vun đắp nguồn nguyên khí của Quốc gia, chúng ta không làm tốt công tác đó hôm nay là có tội với thế hệ mai sau, thiết nghĩ trong tình trạng nay chúng ta nên làm tốt công tác kiểm tra đánh giá lại các trường đào tạo với thái độ thực sự cầu thị, giữ vững chất lượng các trường ĐH, nếu không đạt chuẩn cần mạnh dạn loại bỏ, đặt lợi ích trăm năm của dân tộc lên hàng đầu

CHUYÊN MỤC THƠ VĂN

(lấy từ doanhtho.blogspot.com)

Trần Văn Kinh : Viết nhân kỷ niêm 55 năm ngày thành lập trương KT3

(Tặng các bạn Trường KT3 cũ)

Lẫy lừng một thuở, mái trường xưa
Một góc Thành Nam (*), một bóng cờ (**)
Lấp biển, vá trời, trò chẳng ngán
Giương oai, diễu võ, được thầy ưa
Năm mươi năm lẻ như bừng tỉnh
Một thoáng thời trai vẫn thấy mơ
Chút nghĩa cũ càng ai nhắn giúp
Chẳng quên thì nhớ, chớ phân bua….
TVK
——-

(*) TP Nam Định
(**) Cờ của Truờng Trung cấp kỹ thuật 3 cũ, nay là
Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I.

1

Trần văn Kinh: Thăm trường cũ.

 

Thăm trường cũ.

(Trường Cấp II Nguyễn Du – Nghi xuân- Hà tĩnh)

 

Xa truờng từ buổi vị thành niên

Trải mấy can qua, mấy độ Thiền

Cảnh cũ tình xưa, mờ cát bụi

May sao đời vẫn nhớ Tiên Điền (*)

TVK

Khu tưởng niêm Nguyễn Du

Nghi xuân 1993.

 

CHUYÊN MỤC : CHUYÊN XƯA… CHUYÊN NAY

ĐÁM GIỖ XƯA VÀ NAY

Bài lấy trên Thời báo online của Duy Thức

Thành phố tôi ở nhà cửa xây dựng san sát, ồn ào không có được một phút yên tịnh. Vốn đây là trại gia binh của lính quốc gia cũ, ngày trước thuộc trại Phòng vệ Phủ thủ tướng.

Một thời gian bị cháy còn phân nửa. Tôi mua lại căn nhà của nhà thơ Hà Thúc Sinh trước năm 75 khoảng bảy năm ở cho đến nay qua nhiều biến cố lịch sử. Tôi cũng thế. Người cũ lớp chết, lớp đi nơi khác, chỉ còn lại vài ba nhà phần nhiều đã cất lại mới do nguời mới sang lại. Người Bắc sau 75 vào Nam tràn về ở khá đông. Xóm này nhiều tôn giáo, chỉ riêng tôi thờ Trời Đất Tổ tiên Ông Bà và tự xưng là người theo Thần đạo VN có gốc thời vua Hùng. Từ chuyện thờ thần Đồng Cổ, đến nay tôi soạn lại bộ Thần Đạo Đại Việt thành sách và kinh dày khoảng mười ngàn trang, đã xong.

Xóm bề ngang khoảng năm mét cho đường xe chạy qua, từ lúc tôi ở đến nay bầu tổ trưởng thay đổi khoảng năm, bảy ông bà rồi.

Hôm qua là ngày giỗ ông tổ trưởng cũ, ông này chạy từ Nam vang về, tính hiền hòa nhưng từ lúc lên được tổ trưởng thì tích cực lắm, cũng như các ông tổ trưởng khác, dựa vào nhà nước mà ra oai với dân. Sau phường bắt làm việc nhiều quá, ông nổi cáu và dường như bỏ ngang không làm để cho người khác tiếp tục càn quét, tích cực làm khổ bà con hơn. Ông tổ trưởng gần kế nhà tôi chết khá lâu, con làm nghề chạy xe ôm. Hôm nay là ngày kỵ của ông nên mời bạn bè tứ xứ về nhậu, xe đậu nghẹt cả xóm để vui chơi mừng ngày giỗ.

Rồi thì lớp ăn nhậu la hét, ca hát karaoke ồn ào như vỡ chợ, nói cười oang oang to tiếng điếc cả xóm trên, xóm dưới.

Một bà già độc thân, già héo đau tim chịu không nổi kêu lên:

– Ông cha chết mà vui sướng gì, la hét ăn nhậu ồn ào mất dạy như thế.

Người khác cũng nói:

– Ngày trước có ca hát vui vẻ thì Lệnh vua hành quân trống kêu dồn… vừa gõ bàn vừa hát. Còn bây giờ 306, 307 gì đó micro bắc loa vang dội cả khu phố, điếc tai loạn xà bì hết. Thật chẳng giống ai, không biết ông cha nó ở dưới âm phủ có nghe được không.

Xe cộ bà con của ông tổ trưởng tới càng đông. Mấy thằng cháu chạy cầu thang đùng đùng. Cha tụi nó đeo đuổi mộng giang hồ, chứa gái làm phim nghèo đã đi gỡ lịch trên ba, bốn năm rồi nên ngày giỗ ông tổ trưởng không thấy về. Chúng hát nhạc mới lẫn lộn Đêm Hỏa Châu hay Con đường trắng ở Huế, cả đĩa nhạc chào đón Xuân rộn ràng của ca sĩ Ánh Tuyết thật là rối loạn như đám giặc chòm.

Rượu bia loại chai xanh, loại giả bia, loại rượu uống từng can, từng thùng mặc sức tuôn chảy đầy cổ họng đến tận hai, ba giờ khuya chưa yên cho bà con nghỉ ngơi.

Chuyện ăn giỗ theo kiểu mới này ở khắp thôn làng thành thị đều giông giống nhau. Điều này tự nhiên bắt tôi nhớ tới một đám giỗ ở Tân An ngày xưa, cách đây gần năm mươi năm còn gì. Chuyện theo ông giám đốc trường Tân Thanh đi dự đám giỗ miệt vườn, thật là một ấn tượng thanh nhã khiến lòng dạ tôi đến nay vẫn còn cảm khái, ngậm ngùi.

Trước đây mỗi lần có đám tang hay đám giỗ, phần lớn bà con cúng kiếng rộn ràng, cỗ bàn la liệt. Người dự đám ở thôn quê, nhất là đám giỗ của các ông chủ điền chủ đất ruộng đồng chó chạy cong đuôi, cò bay mỏi cánh cũng không hết được.

Khi đó tôi học lớp đệ nhị ở trường Tân Thanh, ông giám đốc thương vì làm thơ Đường hay, đối đáp với người lớn lưu loát nên đi đâu ông cũng dắt tôi theo như con.

Ông là Thái Sanh Khương, em của Thái Sanh Bính, nhà vô địch cờ tướng bấy giờ.

Ông Thái Sanh Khương như dân Tây, nói tiếng Tây như bắp rang với các vị giáo sư như Tam Ích, Bùi Giáng, Thiên Giang. Nhất là lúc các ông tranh luận về quan điểm sống, sống theo thời hay theo cách mạng, hay tệ hơn là tiền học phí phải trả của học sinh, tiền giáo sư hàng tháng chưa có… Chúng tôi chỉ nghe lõm bõm, rồi đi chơi chỗ khác hơn là đứng đó dựa cột mà nghe.

Ngày đó nhà có đám giỗ ông bà dưới Tân An, ông Thái Sanh Khương dắt tôi về đó ăn đám giỗ. Vì lúc đó cách đây gần năm, sáu mươi năm nên tôi quên mất làng nào. Chỉ biết ông đi đâu, tôi đi đấy.

Về đến ngôi nhà ngói lớn đã nghe rập ràng tiếng hát, tiếng đàn tranh, đàn cò, đàn nguyệt í o í èo cộng liu xê xáng líu ú vang vang. Tôi vốn mê nhạc cổ nhưng không ưa cải lương. Thật ra cha tôi, ông Hai Điểu gần như có lập gánh và nhiều lần có chân trong các gánh cải lương thời đó, nhất là gánh Mai Hoa.

Tôi không ưa cải lương mà chỉ thích tiếng đàn tranh, đàn nguyệt, đàn tì mà thôi. Tôi thích nghe cổ nhạc nhưng rất ghét điệu vọng cổ và các tài tử ráng gân cổ để ca khóc bài vọng cổ nỉ non, yếu đuối, nhất là các vở cải lương, hễ mở TV bây giờ mà coi, lúc nào cũng thấy các ca sĩ, diễn viên nam hay nữ rên la khóc lóc trông thảm hại làm sao. Cứ khóc là có cải lương rồi.

Trên thế giới có lẽ không có loại ca kịch nào khóc lóc thê thảm hơn nữa. Đó là điệu mất nước, cả thời bây giờ cũng vậy thôi. Nhưng lạ thay có một hình ảnh nàng ca kỹ cải lương mà hầu như từ lúc nghe cô ca hát, tôi không bao giờ quên. Gia đình ông Thái Sanh Khương mướn đàn ca tài tử về gây nguồn cảm khái và xôm tụ cho đám giỗ lớn, cả làng cùng đi dự kìa.

Đêm đó về quê lội bộ vào đồng không mông quạnh cả ngày mới đến làng nhà ông, tôi khá mệt. Bỗng tôi thấy xuất hiện dưới ánh đèn măng xông sáng rực như ban ngày, một người đàn ông với cây đàn thùng tròn cẩn ốc xà cừ thật xưa, thật đẹp. Tiếng đàn như có gắn điện ngân xa. Một cô gái dáng thanh tú, tóc mây xõa dài xuống hai vai, mặc áo dài xanh như trong đêm dạ hội.

Nét mặt, lời ca sao thần tiên kỳ ảo quá. Tôi có vẻ lãng mạn cứ đứng chen trong đám dân làng nghe hát, nhưng thật sự tôi nhìn cô hát thì phải hơn. Chiêm ngưỡng cô đứng đấy dịu dàng, diễm tình xiết bao khiến tôi như bị thâu mất hồn phách trong tà áo xanh, mà khi ra về nhớ lại ghi ra mấy vấn thơ:

Trăng mười sáu tuổi trong hoa

Em mười sáu tuổi trong tà áo xanh

Kể từ đó tôi say mê những nàng ca kỹ. Sau này tôi có viết lại truyện Nàng Ca Kỹ Bến Tân Quy đăng ở báo Ngàn Khơi của Nguyễn Hữu Đông và Trần Dạ Từ-Nhã Ca rất ăn khách.

Trần Dạ Từ nói với tôi lúc đăng truyện ấy:

-Mày viết hay lắm. Cố lên mà sống bằng ngòi bút.

Đại khái như vậy.

Cô Thanh ca hát suốt đêm dài, càng lúc càng lộng lẫy, càng mơ màng, càng làm quyến luyến mọi người, nhất là tôi.

Ông Thái Sanh Khương, giám đốc trường Tân Thanh là dân công tử thời bấy giờ, dường như ông đi Tây học rồi trở về VN, không biết có đi kháng chiến không mà bị mất một cánh tay. Lúc dạy Pháp văn, ông vừa ngậm thuốc, dáng người cao lớn quắc thước. Ông uống bia, hút thuốc đều chỉ dùng một tay. Đàn tranh mười sáu dây rất điệu nghệ cũng chỉ nhấn vuốt, móc chạy dây cũng chỉ có một tay mà dồn dập từng cơn âm thanh như sóng cồn cửa bể nhấp nhô, ì ầm rộn rã trong đêm khuya.

Cho đến gần sáng tôi ngủ lúc nào không biết trên bộ ván ngựa, tấm mền ai đắp lúc nào không hay. Đến sáng bạch, trời lên cả con sào tôi mới tỉnh dậy. Tôi giật mình nhìn xung quanh, không khí đám giỗ rộn rịp tưng bừng, hằng mấy mươi người đang bưng dọn cỗ bàn.

Ông Khương thay vì mặc đồ tây như mọi khi ở trường, đã thay bộ khăn đống áo dài trông bệ vệ như người xưa. Ông đang thắp hương khấn vái lên bàn thờ gia tiên, kính cẩn và uy nghiêm lắm. Từ đó trong tôi phục ông Khương vô cùng. Ông dân Tây mà không bỏ lề thói phong lưu của dân Nam bộ, ông lại giữ tròn đạo hiếu như người xưa, cao quý đáng kính thay. Tôi đảo mắt nhìn ra ngoài vườn, lúc này mùi cam quýt thơm bát ngát. Cây trái xum xuê ra hoa ra quả. Mảnh đất thiêng liêng của gia tộc ông Khương có lẽ là nhà phú hộ bậc nhất làng này.

Tôi đi ra ngoài bờ ao nuôi cá, không thấy hai người tài tử hồi đêm khuya đâu cả. Giống như trong giấc mơ, họ là tiên hay hồ ly chỉ hiện một đêm của giấc liêu trai đó mà thôi.

Tôi không dám hỏi ông Khương về cô ca kỹ đó. Tôi sợ ông cười mình đa sầu đa cảm, ủy mị hay ghê hơn nữa là chưa chi đã mê đào cải lương, đồng nghĩa với mê đắm sắc đẹp…

Tôi vào nhà trong coi đám dân làng đàn hát ồn ào vui vẻ, chợt thấy một thanh niên quen quen đã cùng tôi đứng suốt đêm nghe cô Thanh hát, đúng hơn là ca tài tử. Tôi hỏi anh ta:

– Cái cô hát hồi khuya đâu rồi anh?

Anh ta nhìn tôi nói trỏng:

– Cô hát đó hả? Ai mà biết cổ đi đâu.

Hay là cô ta mệt quá nên ngủ trễ hơn mình. Tôi nghĩ như thế rồi lại xao xuyến trong lòng tự hỏi. Người đàn ông đàn kìm cho cô ta hát là ai nhỉ? Là anh, là cậu hay chỉ là nhạc sĩ thôi… Chẳng lẽ lại là người tình, người yêu của cô ta. Lòng tôi tự nhiên không thích anh ta là chồng hay người yêu của cô Thanh. Ý nghĩ thật lạ lẫm làm sao.

Cuối cùng lúc đám giỗ đã xong, phải ở ngôi nhà cổ đó ba ngày, ba đêm rồi ông Khương mới từ giã bà con để cùng tôi ra về.

Ông nói :

– Đám giỗ vui quá, bà con không muốn mình lên Saigon. Họ muốn thầy ở đây chơi với họ hoài.

Ông Khương không hề nhắc đến cô ca sĩ và anh nhạc sĩ đàn kìm khiến dọc đường tôi cứ ngó quanh dáo dác. Biết đâu trên cánh đồng xanh bát ngát này tôi tìm thấy bóng dáng cô gái mặc áo xanh và người đàn tài tử nọ.

Ông Khương thấy tôi thấp thỏm, bỗng hỏi:

– Con có ăn no không ?

Ông biết tôi mồ côi không cha mẹ, ngủ trộm ở trường bị ông bắt gặp. Tôi nghe ông hỏi lại nghĩ khác. Giá mà ông kể chuyện nàng ca kỹ tên Thanh cho mình biết, nàng ở đâu và có hát trong gánh cải lương nào không thì tốt hơn. Trước khi bạo gan hỏi về cô Thanh, tôi bỗng táo bạo hỏi ông:

– Ông đốc ơi. Tại sao ông lại bị mất một cánh tay?

– Ờ đó là… thầy bị kẹt cửa xe hơi mà thôi. Kẹt hồi ở bên Tây lận.

Tôi không dám nói gì nữa cho đến khi về đến Saigon mới hỏi:

– Còn mấy người đàn ca tài tử đó, họ còn ở Tân An không?

Ông Khương nói:

– Ai gọi thì họ tới. Họ ca cho các đám cưới đám giỗ nhiều hơn đám ma. Họ chơi tài tử nay đây mai đó để sống cho trọn kiếp giang hồ của họ thôi. Có lẽ ở xóm trên cũng có đám giỗ nên họ chỉ ca hát có một đêm rồi sáng sớm họ đi nơi khác rồi.

Tôi ra về lòng buồn buồn, bỗng nhớ tới câu thơ trong Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị: Giang Châu Tư Mã đượm mùi áo xanh. Bước trên đường tôi cứ nghĩ mình là Tư Mã để lẩm bẩm:

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách

Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu

Người xuống ngựa khách dừng chèo

Hình ảnh đàn ôm che nửa mặt hoa cứ ám ảnh tôi. Cảnh tình ấy gợi cho tôi nỗi nhớ nhung như tương tư cô gái tên Thanh đó mãi đến bây giờ đã gần năm mươi năm rồi. Có lẽ đối với tôi, đó là hình ảnh thơ đầu tiên của một nàng ca kỹ đất Tân An thuở nọ.

Đám giỗ tuyệt vời quá khiến tôi không dám nghĩ tới những đám giỗ đời nay ở quê hay ở thành phố ăn uống ồn ào thô tục, đôi khi ca hát thì chỉ có rống lên Trường Sơn đông Trường Sơn Tây. Cái gạt nước xua tan đi nỗi nhớ hay lại 306, 307 trong đám giỗ bộn bề xương thịt của trâu dê gà vịt và rượu uống như ngưu ẩm. Và rồi thì đánh đấm chửi mắng nhau liên miên của cái nền văn hóa ẩm thực ngày nay.

             CHUYÊN MỤC:  SƯU TẦM NGỮ NGHĨA

( lấy từ kwod.wordpress.com)

   BQM: Chuyện vui chiết tự

 

0

             

Nhìn chữ Hán nhiều khi ta rất dễ dàng suy ra ngữ nghĩa

Ví dụ  chữ  nguyên 元  gồm chữ nhất一  với chữ 兀nghĩa là đứng đầu , khởi thủy. Chữ Thiên (天) gồm chữ nhât  (一)   với chữ đại(大) nghĩa là cực lớn, chí cao, cao nhất..    chữ thái (太)  là chữ đại 大với dấu chấm ở dưới có nghĩa lón ( vừa ).

Nhưng gặp những trường hợp bất nhất ( 不 一) như  phi (丕) cũng là lớn, chữ đại (大) thêm dấu chấm trên đầu lại thành khuyển (犬)  là con chó thì BQM phải giơ tay hàng . Than ôi ! Rối rắm cái chữ Tàu, cái tư duy Tàu

 

 

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s