Archive | Tháng Mười Hai 2011

Bài lấy từ BBC:Ý tưởng về Viện Khổng Tử cho Việt Nam


Tượng Khổng Tử ở Nam Kinh

Một trong những ý tưởng được phía Trung Quốc nêu ra gần đây để tăng cường quan hệ hai nhà nước là mở viện Khổng Tử tại Việt Nam như đã làm tại nhiều nơi trên thế giới.

Đề tài này vừa được nêu lại trong chuyến thăm tháng 12 của Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình dù hồi 2009, Thủ tướng Việt Nam đ̃a cho phép “thí điểm thành lập một BấmHọc viện Khổng Tử tại Việt Nam” nhưng không rõ sẽ đặt ở đâu và bao giờ xây dựng.


Nay, theo nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân, nêu ý kiến của số trí thức mà ông nói là khá đông tại Việt Nam hiện nay, chuyện mở Viện Khổng Tử tại Việt Nam sẽ gặp nhiều thách thức.

Ông Lại Nguyên Ân, người có nhiều tác phẩm về giai đoạn giao thời khi văn hóa Nho giáo bị Phương Tây lấn át tại Việt Nam đầu thế kỷ 20, cho rằng chỉ để nghiên cứu Khổng giáo thôi thì công việc của một viện như thế sẽ rất bó hẹp.

Còn nếu để quảng bá văn hóa chính thống hiện nay tại Trung Quốc, một trung tâm Khổng Tử, nếu được khai trương, sẽ dễ vấp phải các chủ đề nhạy cảm trong quan hệ chính trị và ngoại giao Việt – Trung hiện nay.

Trước hết, ông Lại Nguyên Ân, hiện ở Hà Nội cho BBC biết về bối cảnh các các nước khác quảng bá văn hóa của họ ở Việt Nam:

Ông Lại Nguyên Ân: Hiện nay các nước đều đang mở các trung tâm để giới thiệu, truyền bá văn hóa của họ ở các thành phố lớn của Việt Nam. Pháp có Alliance Francaise, Nga có nhà văn hóa Nga, Đức có Viện Goethe, Anh và Nhật cũng tương tự. Tôi nghĩ trung tâm văn hóa Khổng Tử, tuy mang tên Khổng Tử nhưng chắc là dạng như thế, sẽ để thỏa mãn nhu cầu giao lưu của những người muốn tìm hiểu văn hóa Trung Quốc ở Việt Nam thì ở khía cạnh đó là điều bình thường.

“Tôi không nghĩ là thế hệ những người cộng sản chính thống ở Việt Nam hiện nay lại có bước ngoặt là quay lại học Khổng giáo”

Lại Nguyên Ân

Nhưng hiện nay trong quan hệ Việt Nam và Trung Quốc có những vấn đề khác, nhạy cảm như chuyện biên giới trên biển, trên đất liền, chuyện về kinh doanh, ảnh hưởng văn hóa hai bên. Ngoài những chuyện bình thường thì cũng có những vấn để nổi lên, nên trong dư luận của giới trí thức Việt Nam có một số lo ngại. Người ta nghĩ rằng Viện Khổng Tử đó có thể lại là một bàn đạp để truyền hóa một văn hóa, mà trên thực tế văn hóa đó đã được chuyển hóa, truyền bá vào Việt Nam hàng ngàn năm.

Với ảnh hưởng của nó thì Việt Nam đã học được không ít nhưng đồng thời cũng vẫn giữ được những thuộc tính văn hóa của người Việt Nam. Ở khía cạnh đó thì cũng có những lo ngại và những lo ngại đó nói cho cùng có lý do chính đáng. Tuy nhiên, những lo ngại đó cũng không phải là đáng tới mức người ta phải ngăn chặn Viện đó nếu được thành lập ở Việt Nam.

BBC: Ông và một số người quan tâm đến văn hóa châu Á ở Việt Nam có phải lo ngại rằng khi mở Viện Khổng Tử thì các ấn bản như như bản đồ Trung Quốc, cờ, và biển đảo mà Trung Quốc coi là của họ và Việt Nam cũng coi là của mình thì ngay lập tức sẽ gây ra tranh cãi?

Vâng, tôi tin là như thế. Những nước như Pháp, Anh, Nga chẳng hạn thì họ cũng phải xử lý các nhà văn hóa của họ để không làm mếch lòng, đụng chạm đến người Việt Nam thì nó mới hoạt động được. Còn nếu người Trung Quốc mở trung tâm văn hóa Khổng Tử ở đây mà lại truyền bá nguyên những chuẩn chính thống họ đang duy trì trên truyền thông của họ thì nó sẽ thành vấn đề với công chúng Việt Nam

Khổng Tử (551 – 479 trước Công nguyên) được thờ ở các văn miếu và văn chỉ tại Việt Nam thời phong kiến

BBC:Về các trung tâm dạy tiếng Trung tại Việt Nam thì chuyện tìm hiểu văn hóa Trung Quốc có được đón nhận rộng rãi không?

Ở Hà Nội, TP HCM đều có các trung tâm dạy tiếng Trung nhưng chủ yếu đều mang tính thương mại, đáp ứng cho những người có nhu cầu buôn bán, giao lưu qua biên giới. Ở TP. HCM còn có một cộng đồng tương đối đông người Hoa nữa. Chuyện học tiếng Hoa chủ yếu là do nhu cầu giao tiếp kinh tế thôi, chưa có gì là truyền bá văn hóa Trung Quốc cả. Còn các trường đại học dạy chuyên về ngoại ngữ thì cùng ngôn ngữ tiếng Trung cũng có nội dung văn hóa nhưng đó lại là chuyện khác.

BBC: Trong các nghiên cứu của ông về giai đoạn Tân thư, khi văn hóa Pháp du nhập Việt Nam đầu thế kỷ 20, và bỏ dần Nho giáo thì đã có câu hỏi về tính hữu dụng hay lợi ích của việc duy trì một số nét của Nho giáo. Vậy bây giờ có nhu cầu đó không và nếu Viện Khổng Tử được mở trong tương lai do Trung Quốc lập ra chỉ truyền bá Nho giáo và những ưu điểm của Nho giáo thì ông thấy có được không?

Tôi nghĩ là nếu Viện đó chỉ bó gọn vào những vấn đề của Khổng giáo thôi thì chính Viện đó sẽ thiếu sức sống rõ rệt. Tôi nghĩ là họ sẽ không chọn cách đó mà sẽ làm như người Đức chọn ông Goethe và thông qua tên ông Goethe để đặt viện cho giao lưu Đức – Việt. Có lẽ họ sẽ chỉ chọn tên ông Khổng Tử để làm tất cả các việc liên quan đến văn hóa Trung Quốc, và ở đấy có giao lưu giữa người Việt và người Trung Hoa về văn hóa. Chứ còn nếu khuôn lại trong phạm vi ông Khổng Tử và Khổng giáo thôi thì sẽ rất hẹp.

Vì hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà cả và trong vùng Đông Nam Á trong giới học thuật người ta vẫn tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của Khổng giáo, từ nguồn cho đến suốt trong lịch sử xã hội.

Sự đánh giá cả tích cực và tiêu cực về ảnh hưởng đó vẫn còn mãi trong giới nghiên cứu không chỉ ở Việt Nam mà cả ở các nước trong vùng Đông Á này. Thành thử ra tôi tin là họ sẽ không chọn góc độ đó, họ sẽ chỉ mượn cái tên thôi.

BBC: Liệu ý tưởng về một Khổng Tử kiểu mới có cần thiết cho Việt Nam bây giờ không?

Những ý tưởng trình bày về một Khổng Tử kiểu mới sẽ lạc lõng ở Việt Nam. Vì Khổng Tử kiểu cũ, trong truyền thống người Việt Nam đem về, tại các Văn Miếu, và Văn Chỉ ở các tỉnh, những người theo Nho học đến đó, giao tiếp xung quanh các học thuyết của Khổng tử. Nhưng thực ra, trong quá khứ chỉ có những người đi học ở các trường sở của Nho giáo đó mới trở thành môn đồ của những Văn Miếu, Văn Chỉ đó.

Nho học đã bị chấm dứt từ những năm 1906 -1907 nên sau đó, dần dần thế hệ những môn sinh chính cống của Khổng tử đã không còn nữa, họ đã chết hết cả rồi.

Nên ngày nay tại các Văn Miếu hay Văn Chỉ có những người đến đó, theo tôi, vì họ có ngưỡng vọng thế thôi chứ rất ít người có thể giao lưu với nhau về các vấn đề học thuật của Khổng giáo. Những vấn đề đó trên thực tế chỉ còn có một số nhà nghiên cứu chuyên tâm biết. Cả nước Việt Nam có thể chỉ có đếm đấu đến con số 100 người là cùng.

Tượng Khổng Tử bị một cơ sở làm gốm sứ ở Khúc Dương, tỉnh Hà Bắc của Trung Quốc vứt bỏ

Thành ra tôi không nghĩ ví dụ các Viện Khổng Tử nếu hoàn toàn gắn vào thuyết Khổng Tử lại có thể tạo học thuyết hay tạo ra ảnh hưởng gì đó tại Việt Nam.

BBC: Báo Anh, tờ The Economist cuối năm nay 2011 cũng nói ngay tại Trung Quốc, Đảng Cộng sản cũng không ủng hộ 100% Khổng Tử. Tượng Khổng Tử 9,5 mét ở Thiên An Môn bị bê đi sau một thời gian, còn giới doanh nhân Trung Quốc lại thích Tôn Tử, và muốn dùng binh pháp của ông vào bành trướng kinh doanh, vậy chuyện Đảng Cộng sản Trung Quốc muốn truyền bá Khổng giáo ở Việt Nam, những người cộng sản Việt Nam có thích không?

Tôi nghĩ những người cộng sản Việt Nam ở thế hệ hiện nay họ cũng chỉ còn biết Khổng Tử một cách rất chung chung. Trên thực tế, dù họ vẫn tiếp tục những tôn chỉ của nó nhưng những phạm trù học thuyết thì họ đã xa lâu lắm rồi. Chỉ có cha ông họ biết thôi.

Thành thử tôi không nghĩ là thế hệ những người cộng sản chính thống hiện nay lại có bước ngoặt là quay lại học Khổng giáo, để lĩnh hội giáo lý, tôn chỉ của nó. Tôi không tin là họ sẽ làm như thế.

Advertisements

Docago.wordpress.com số 46

CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Đỗ Anh Thơ: Trí tuệ Trang tử (2)

Chương VI

Câu 6-2 :

Sách bệ hạ đọc đó là cám bạ của cổ nhân

君之所 读者,古人之 糟 魄已

(   Quân chi sở độc giả ,cổ nhân chi tao phách dĩ )

 

桓公读书于堂上。轮扁斲轮于堂下(1),释椎凿而上,问桓公曰:“敢问,公之所读者何言邪?”公曰:“圣人之言也。”曰:“圣人在乎?”公曰:“已死 矣。”曰:“然则君之 所读 者,古 人之糟魄已夫(2)!”桓公曰:“寡人读书,轮人安得议乎!有说则可,无说则死。”轮扁曰:“臣 也以臣之事观之。斲 轮,徐 则甘而不 固(3), 疾 则苦而不入(4)。不徐不疾,得之于手而 应于 心,口不能言,有数存焉于其间。臣不能以喻臣之子,臣之子亦不能受之于臣,          是以行年 七 十而老 斲 轮。古之人与其不可传也死矣,然 则君之所读者,古人之糟 魄已夫!”

Chú giải :

(1) Trác : đẽo ,gọt .

(2) Tao phách : cám bã .

(3) Cam:nghĩa là ngọt .Nhưng ở đây cam nhi bất cố có nghĩa là trơn nhẵn thì lắp  không chắc .

(4) Khổ : đắng ,khó .Khổ nhi bất nhập : có nghĩa là thô ráp thì lắp không vào không khớp .

 

Phiên âm :

 

          Tề Hoàn công vu đường thượng .Luân Biển trác luân vu đuờng hạ ,thích trùy tạc nhi thượng ,vấn   Hoàn công viết : “ cảm vấn  ,công chi sở độc giả hà ngôn da ?  ”.Công viết : “Thánh nhân chi ngôn dã .”Viết :“     Thánh nhân tại hồ ? ” Công viết : “Dĩ tử hĩ .” Viết : “ Nhiên tắc quân chi sở độc giả ,cổ nhân chii tao phách dĩ phù .” Hoàn công   viết: “  quả nhân độc thư ,luân nhân an đắc nghị hồ !hữu thuyết tắc khả ,vô thuyết tắc tử .”Luân Biển viết : thần dã dĩ thần chi sự quan chi .Trác luân ,     dư tắc cam nhi  bất cố ,tật tắc khổ nhi bất nhập .Bất dư bất tật ,đắc chi vu thủ nhi ứng vu tâm ,khẩu bất năng ngôn ,hữu số tồn yên vu kỳ gian .Thần bất bất năng dĩ dụ thần chi tử .Thần chi tử diệc bất năng thụ chi vu thần ,thị dĩ hành niên thất thập nhi lão trác luân .Cổ chi nhân dữ kỳ bất khả truyền dã tử hĩ ,nhiên tắc quân chi sở độc gỉa ,cổ nhân chi tao phách dĩ phù ! ”.

 

 

 

Dịch :

 

       Có một hôm Tề Hoàn công đọc sách ở trên nhà ,dưới nhà có người đóng xe tên là Biển đang đẽo bánh xe .Anh ta bỏ búa và đục ,bước lên  hỏi Hoàn công :

“ Dám hỏi nhà vua đang đọc những lời gì vậy ?

Hoàn công đáp :

– Đọc nhũng lời thánh nhân

– Những thánh nhân đó có còn sống không ?

– Chết cà rồi !.

– Vậy thì sách mà nhà vua đọc đó là cám bã của cổ nhân  vậy  .

Tề Hoàn công bảo : :

“ Trẫm đang đọc sách mà nhà ngươi ,một tên đẽo bánh lại dám luận bàn sao ?Ngươi hãy giảng giải cho ta nghe ,nếu có lý thì ta tha cho ,nếu sai thì sẽ bị chém đó !”

Người đẽo bánh xe nói :

“ Thần xin lấy nghề đẽo gọt bánh xe của thần làm ví dụ :động tác làm mà chậm rãi , gọt tỉa tỉ mỉ thì nhiều khi lỏng  lắp không chắc ,động tác làm mà nhanh ,thì thô thiển  thì lắp vô không khớp  .Phải không chậm không nhanh ,tay thuận mà ứng hợp với tâm mình ,trong miêng tuy không nói ra ,ngược lại kỷ xảo thì tồn tại            trong đó .Thần không thể dùng nó để nói ra cho con của thần rõ cái ảo diệu này ,con của thần cũng không thể từ thần mà tiếp thu được cái tinh xảo đó  .Nên thần đến nay , sống      đã bảy mươi năm ,già lão rồi mà vẫn đang phải cứ đẽo bánh xe .Người  xưa không thể có lời truyền lại cho chúng thần đạo lý đó vì họ đã chết  .Vậy nên thần mới nói sách  mà nhà vua đọc ,         chính là cám bã của người xưa mà thôi .”

Bình :

 

Chân lý ,hay nói cách khác là ý nghĩa đích thực  lời nói của “thánh nhân” xưa, qua sách vở thật ra ta không thể nắm bắt được , nó đã bị khúc xạ ,bóp méo …theo thời gian ,nhiều ý kiến chủ quan của người đời sau .Ranh giới giữa chânngụy,thịphi , khoa họckhông khoa học …đố ai mà chứng minh cho được .Chỉ có cuộc sống ,năm tháng ta  mới khảo chứng được cái đúng sai trong từng giai đoạn rất ngắn mà thôi . Khi còn sống ,có những “ thánh nhân ” đã nêu lên thuyết này ,thuyết nọ ,in ra hàng tỷ quyển sách  để cho mọi người nhật tụng mà không biết sau đó tuy còn sống ,nó đã biến mất ,vào trong lò nấu giấy ,làm mũ cối … tự bao giờ !Huống hồ lúc đã chết ! Lời của ông lão đẽo bánh xe mới đúng làm sao !

Bánh xe lăn trên đường đời ,từ vuông sang tròn ,từ gỗ sang đồng sắt ,từ bánh cao su đặc đến bánh       vỏ có ruột bơm không khí rồi nay đến bánh cao su ruột liền  ,đệm hơi ,đệm từ  …rồi còn gì nữa ? Nó đã nghiền nát biết  bao nhiêu lời được gọi là sách kinh điển xưa nay .Thế mà ta vẫn cứ khăng khăng là đúng !

Đồ Cá Gỗ hiện nay đọc và viết những lời Khổng tử ,Mạnh tử ,Lão tử ,Trang tử  … nhờ có phương tiện thông tin mạng hiện đại ,đầu óc mít đặc của Cá Gỗ đã được  tiếp cận them tới hàng chục thư viện ảo ,có hàng trăm quyển sách ,của hàng trăm tác giả …cho một công trình biên khảo không nhằm mục đích chứng minh đúng sai mà để giúp cho cuộc sống cân bằng động ,đa chiều ,nhưng vẫn không biết   cái mà mình  đang nói có phải là cám bã hay không !

 

 

 

 

 

 

Câu 6-3                Hùm sói  cũng  có nhân đức đấy .

虎狼,仁也

( Hổ lang nhân dã )

Nguyên văn :
商大宰(1)荡问仁于庄子。庄子曰:“虎狼,仁 也。”曰:“何谓也?”庄子曰:父子相亲(2),何为不仁?”

 

Chú giải :

 

(1) Thương thái tể : tức quan thái tể  nước Tống . Vì sau khi Chu Vũ vương và Chu công Đán kiêm tính được phươngNamđã chuyển con cháu vua Trụ         (nhà Thương )     lên phương Bắc  ,phong cho một khoảng đất nhỏ ,sau trở thành nước Tống .

(2) Tương thân : thương yêu nhau

Phiên âm :

 

Thương thái tể Đãng  vấn nhân vu Trang tử .        Trang tử viết :  “ Hổ lang ,nhân dã .” Viết : “ Hà vị dã ? “ Trang tử viết : “ Phụ tử tương thân hà vi bất nhân ? ”

 

                 Dich :

             Quan thái tể nước Tống tên là Đãng hỏi Trang tử về nhân đức .

Trang tử trả lời : “ Hùm sói cũng có nhân đức đấy !”

Đãng hỏi tiếp : “ nói như vậy là sao  ?”

Trang tử nói : “Cha con chúng  thương yêu nhau chẳng nhân là gì ?

 

Bình :

 

             Chữ nhân (仁)  gồm có chữ  nhị và nhân đứng .Nó biểu thị quan hệ giữa người với người ,trước hết là tình thương yêu trong gia đình rồi ra đến xã hội ,         nhân quần .Tiêu chí ,chủ thuyết là vậy ,nhưng giữa người và người ,thật ra đối xử với nhau hơn lang sói .  Để bảo vệ quyền lợi của mình ,vua chúa xưa đã dùng vạc dầu ,tùng xẻo thịt kẻ thù cho tới chết .Ngày nay ,gọi là xã hội văn minh ,con người dùng tới súng đạn ,thuốc độc ,ghế điện …để tiêu diệt lẫn nhau .Vì vậy có thể nói :nhân nghĩa chỉ là những từ hoa mỹ của kẻ mạnh , để ru ngủ người bị áp bức mà thôi .Cách giải thích “ nhân ” của Trang tử đúng là những lời châm biếm ,bóc trần cái giả dối của con người vậy .

Dưới con mắt của ông ,cái tàn bạo của vua Trụ cũng chẳng khác gì cái nhân nghĩa ,giả dối của Văn Vũ vương nhà Chu ,những bậc “ thánh nhân ”mà Nho gia – đại diện là Khổng tử – đã hết lời ca ngợi .

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Docago.wordpress.com số 45

CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Đỗ Anh Thơ: Trí tuệ Trang tử (2)

Chương VI

Thiên đạo ,Thiên vận ,Khắc ý ,Thiện tính .

天 道 ﹐天  运   , 刻意 ,  缮  性

     

   Câu 6-1 : Khổng tử đến phía Tây để gửi  sách vào thư quán nhà Chu .

孔子西藏书于周室

                    ( Khổng tử tây tàng thư vu Chu thất  )

 

Nguyên văn :

 

 

孔子西藏(1)书于周室。子路谋曰:“由闻周之徵藏史有老聃者,免而归居,夫子欲藏书,则试往因焉。”孔子曰:“善。”
往见老 聃,而老聃不许,于是 繙 (2)十二经(3)以 说。老聃中其说(4),曰:“大谩(5),愿闻其要。”孔子曰:“要在仁义。”老聃曰:“请问,仁义,人之性 邪?”孔子曰:“然。君 子不仁则 不 成,不义则不生。仁义,真人之性也,又将 奚为矣?”老聃曰:“请问,何谓仁义?”孔子曰:“中心物恺,兼 爱无私,此仁 义之 情也。”老 聃曰:“意,几乎后言!夫兼 爱,不亦 迂乎!无私焉,乃私也。夫子若欲使天 下无失其牧乎?则天地固有常 矣,日月固 有明 矣,星辰固 有列矣,禽兽固有群矣,树木固有立 矣。夫子亦放德而行,循道而趋,已至矣;又何偈偈乎揭 仁 义,若击鼓而求亡子焉? 意,夫子 乱人 之 性 也!”

Chú giải :

 

(1)   Tây tàng :  Khổng tử ở nước Lỗ ,phía Đông   ( Sơn  Đông  )  ,nhà Chu  ở về phía Tây nên Trang tử mới châm bieemslaf cất dấu ở tây .

(2) Phiên :lật ,giở từng trang sách ;nghĩa như phiên  ( 翻 譯 = phiên dịch ). Thuyết : ở đây là trình bày .

( 3) Thập nhị kinh : Sách Khổng tử ( đời Xuân Thu ) chỉ có lục kinh ( sáu quyển sách như sơi dọc , dệt nên khung  học thuyết Nho gia ) tức là Thi ,Thư ,Lễ ,Nhạc ,Xuân Thu ,Dịch .Đời Hán thêm lục vĩ ( sáu quyển làm thành sợi ngang ,bổ sung thêm )  .  Đây  gọi chung cả hai thành thập nhị kinh .Bởi vậy các học giả đời sau mới cho rằng : đoạn truyện này không phải của Trang tử mà là một người sống vào đời Hán  viết .

(4) Trung kỳ thuyết : Nguyễn Hiến Lê dịch là “ nghe xong đồng ý ” có lẽ không ổn .Soạn giả theo mạch văn ở dưới hiểu là “giữa chừng ngắt lời trình bày ”.

(5) Mạn : lừa dối ,bịp bợm .Có khi đọc là man .Ở đây nghĩa là lan man .

 

Phiên âm

 

                Khổng tử tây tàng thư vu Chu thất .Tử Lộ mưu viết : “Do văn Chu chi trưng tàng sử hữu          Lão Đam giả ,miễn nhi quy cư   ,phu tử dục tàng thư ,tắc thí vãng nhân yên .” Khổng tử viết : “ Thiện “

               Vãng kiến Lão Đam ,nhi Lão Đam bất hứa ,vu thị phiên thập nhị kinh dĩ thuyết .Lão Đam trung kỳ thuyết ,viết : “ Đại man ,nguyện văn kỳ yếu .”   .Khổng tử viết :” yếu tại nhân nghiã .”Lão Đam viết :” Thỉnh vấn ,      nhân nghĩa ,nhân chi tính da ? ” Không tử viết : “ Nhiên .Quân tử bất nhân tắc bất thành ,bất nghĩa tắc bất sinh .Nhân nghĩa ,chân nhân chi tính dã ,hựu tương hề vi hĩ ? . Lão Đam viết : “ Thỉnh vấn ,hà vị nhân nghĩa ? ” .Khổng tử viết : Trung tâm vật khải ,kiêm ái vô tư ,thử nhân nghĩa chi tình .” Lão Đam viết : “ Ý ,ki hồ hậu ngôn !        phù kiêm ái ,bất diệc vu hồ !vô tư yên ,nãi tư dã .Phu tử nhược dục sử thiên hạ vô thất kỳ mục hồ ? tắc  thiên địa cố hữu  thường hĩ , nhật nguyệt cố hữu minh hĩ ,tinh thần cố hữu liệt hĩ ,cầm thú cố hữu quần hĩ ,thụ mộc cố hữu lập hĩ .Phu tử diệc phóng đức nhi hành ,tuần đạo nhi xu ,dĩ chí hĩ ; hựu hà kệ kệ hồ yết nhân nghĩa ,nhược kích cổ nhi cầu vong tử yên ? Ý ,phu tử loạn nhân chi tính dã !”

 

Dịch

Khổng tử đi về Tây để gửi sách của mình vào thư quán nhà Chu .Tử Lộ bầy kế : “ Con nghe nói sử quan coi kho sách nhà Chu là Lão Đam ,nay  đã từ quan mà về ẩn cư nơi  quê nhà .Thầy muốn  gửi sách thì thử đến hỏi ông ấy xem sao ” .Khổng tử nói : “ ý kiến  hay đó .”

                Ông bèn đến yết kiến Lão Đam .Lão Đam không nhận .Khổng tử liền lật hết trang  này đến trang  khác của mười hai quyển kinh để trình bày .Giữa chừng ,Lão Đam ngắt lời Khổng tử mà rằng   : “  Lan man ,rườm rà quá ,,xin ông cho nghe nội dung chủ yếu của chúng là gì ? ” Khổng tử đáp : “ Chủ yếu là về nhân nghĩa .” Lão Đam nói : “Xin hỏi ,nhân nghĩa là bản tính của con người hay sao ?”Khổng tử trả lời : “ Đúng ! Quân tử nếu như bất nhân thì không thành danh ,nếu như bất nghĩa thì không sống         được trên đời  .Nhân nghĩa quả thực là bản tính        của con người ,rời bỏ nó  thì còn có thể làm được gì  nữa ?.” Lão Đam nói : “ Xin hỏi thêm ,thế nào là nhân nghĩa ?” Khổng tử đáp : “         Trong lòng ngay thẳng mà vui cùng ngoại vật ,kiêm ái ( yêu thương lẫn nhau ) mà không thiên lệch riêng tư  ,đó là thực chất tình nhân nghĩa ”Lão tử nói :“ Ôi ! những lời lẽ sau cùng của ông mới phù phiếm làm sao  ! Kiêm ái cả thiên hạ là câu nói  sáo rỗng .Chỉ có vô tư đối với mọi người mới thực là mong          nhiều người yêu mình .Ông muôn người trong thiên hạ đều không mất đi điều kiện nuôi dưỡng tự mình sao ? Thì hãy nhìn trời đất vốn có quy luật tự thân vận động  kia ,         mặt trăng ,mặt trời vốn sáng rọi kia ,các tinh tú trên trời vốn tự bày đặt thành hàng lối  ,cầm thú  quần tụ thành bầy đàn  ,cây cối vốn đứng thẳng trên mặt đất đó  mà xem . Ông hãy nên hành xử thuận theo trạng thái tự nhiên   ,tiến thủ dựa theo quy luật như thế là cực kỳ  tốt đẹp rồi  ,hà tất còn cần  phải nêu  gương nhân nghĩa !Như thế chẳng giống như  là đánh trống đi tìm người chạy trốn sao ? Tiếng trống đánh càng to càng làm cho người ta chạy trốn xa them hay sao ? Ôi ! ông đã làm loạn bản tính con người rồi đó ! ”

 

Bình :

 

Đây là một đoạn văn rất hay trong  ngoại thiên ,phần mà ta chưa chắc đã chính là của Trang tử .Ông nhắc tới thuyết nhân nghĩa ,kiêm ái …của phái Nho Mặc với lời lẽ châm biếm cực kỳ sâu sắc .     Hay nhất là chữ tàng . Nó có nghĩa là cất là dấu .Dùng chữ dấu có lẽ còn hay hơn vì theo Trang tử những lời nhân nghĩa ,yêu thương lẫn nhau ấy chẳng qua đều là lời lừa bịp giả trá …giả trá đến tột cùng .

Đồ Cá Gỗ ngồi cặm cụi biên soạn hết Khổng đến Mạnh …chủ yếu chỉ với một mục đích cho não chậm lão hóa , để  sẻ chia cùng   bạn đọc ,nghiền ngẫm ,phân biệt cái giả dối ,rao giảng đạo đức của xưa và nay .Tại sao  có lúc ,người ta  đã phê phán Khổng tử ,đạp ông “Hiền” ông “Thánh”  xuống tận bùn đen  …nay lại tung họ lên tận trời cao ? .  Cục đá ,cây gỗ …dù có đẽo gọt thành tượng thì bản chất vẫn là đá ,là gỗ ,là vật chất tự nhiên vốn dĩ ma thôi .

Thế mà ,Đồ Cá Gỗ cứ xong một quyển sách lại   gửi về quê cho đứa cháu ngoại  ,mới học hết cấp hai một bộ , muốn lưu lại cho con cháu .Thật nực cười cho ông Đồ gàn , y như là chuyện   Khổng Tử dấu  sách vào thư viện nhà Chu  này vậy !

 

 

Docago.wordpress.com số 44

CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Đỗ Anh Thơ : Trí tuệ Trang tử (2)

Chương V

Câu 5-2  :

Nguyên văn

 

Cai trị  sẽ dẫn đến loạn ,   là mối họa của bề tôi , là nguồn gốc cướp bóc  của vua chúa .

 

治,乱之率也,北面之 祸也,南 面之贼也。”

(Trị loạn chi suát ,bắc diện chi họa dã ,nam diện chi tặc dã )

diện chi tặc dã )

 

Nguyên văn

 

尧之师曰许由 许由之师曰齧缺,齧缺之 师曰王 倪,王倪之师曰被衣(1)。
尧问于许由曰:“齧缺可以配天乎(2)?吾藉王倪以要(3)之”。许由曰:“殆哉圾(4) 乎天下!齧 缺之为人也,聪明叡 知,给数(5)以敏,其 性过 人,而又乃以人受天 。彼审乎禁过,而 不知 过之所由生。与之配天乎?彼且乘人而无天。方 且本身而异形,方且尊知而火驰,方且为绪使,方且为物 絯 (6),方且四 顾 而 物 应,方 且 应 众 宜 ,方 且与物 化而 未始 有 恒。夫何足以配 天 乎?  虽然,有族,有祖,可以为众父 ,而不可 以 为 众父父。治,乱之率也,北面之 祸也,南 面之贼也 (7)。”

 

Chú giải :

 

(1) Mấy tên người ở đây ,trừ Hứa Do có trong sử sách ,còn lại như Niết Khuyết ,Vương Nghê ,Bị Y đều là nhân vật hư cấu .

(2) Phối thiên : phối hợp với trời ,có nghĩ là làm vua .

(3) Tịch : ở đây có nghĩa là nhờ cậy.Yếu :  như “yêu “ ( 邀 ) nghĩa là mời đón .

(4) Ngập :.bụi bặm .Ở đây như chữ ngập 岌  là nguy hiểm  .

(5) Cấp như tiệp (捷 ) = báo tin.

Số : nghĩa là nhiều lần .Cấp số có nghĩa là vui mừng báo tin .

(6) Cai : bó buộc

(7) Bắc diện ,nam diện : Khi thiết triều ,vua ngoảnh mặt về hướng nam ,bề tôi chầu về hướng bắc ,nên chữ bắc  diên ám chỉ bầy tôi ,nam diện chỉ vua chúa .

 

 

 

Phiên âm :

 

Nghiêu chi sư viết Hứa Do .Hứa Do chi sư viết Niết Khuyết ,Niết Khuyết chi sư viết Vương Nghê ,Vương Nghê chi sư viết Bị Y .Nghiêu vấn vu Hứa Do viết  : “ Niết Khuyết khả dĩ phối thiên hồ ? Ngô tịch Vương Nghê dĩ yếu chi “.Hứa Do viết : “Đãi tai ngập hồ thiên hạ ! Niết Khuyết chi vi nhân dã ,thông minh duệ tri ,cấp số dĩ mẫn ,kỳ tính quá nhân ,nhi hựu nãi dĩ nhân thụ thiên .Bỉ thẩm hồ cấm quá ,nhi bất tri quá chi sở do sinh .Dữ  chi phối thiên hồ ? Bỉ thả thừa nhân nhi vô thiên .Phương thả bản thân nhi dị hình ,phương thả tôn tri nhi hỏa trì ,phương thả        vi tự sử  ,phương thả vi vật cại ,        phương tha tứ cố nhi vật ứng ,phương thả ứng chúng nghi ,phương thả dữ vật hóa nhi vị thủy hữu hằng .Phù hà túc dĩ phối thiên hồ ? Tuy nhiên ,hữu tộc ,hữu tổ ,khả dĩ vi chúng phu ,nhi bất khả dĩ vi chúng phu phu .trị ,loạn suất dã ,        bắc diện nhi họa dã ,nam diện chi tặc dã .”

 

                  Dịch :

 

Thày của vua Nghiêu là Hứa Do ,thày của Hứa Do tên là Niết Khuyết ,thày của Niết Khuyết gọi là Vương nghê ,thày của Vương Nghê là Bị Y .

Vua Nghiêu hỏi Hứa Do rằng : “Niết Khuyết có thể làm vua được chăng ? Tôi muốn  nhờ ông Vương Nghê là thày đến mới ông ấy ra làm thiên tử .” Hứa Do nói :” E rằng như thế thiên hạ cũng sẽ nguy mất ! Niết Khuyết làm con người vì người như thế ,tai thông mắt tỏ ,trí tuệ siêu quần , hành động nhanh nhẹn ,mẫn tiệp ,thiên phú của ông ấy hơn người mà ta lại dùng tâm trí nhân vi để đối đãi ,điều hành cái tự nhiên phú cho sao ?Ông ấy hiểu rõ phải làm thế nào để ngăn lầm lỗi ,nhưng ông ấy không hiểu nguyên nhân  sinh ra lầm lỗi .Để ông ấy làm thiên tử sao ? ông ấy sẽ lấy  việc làm của người ( nhân vi )mà vứt bỏ thiên nhiên ,sẽ lấy bản thân làm trung tâm vạn vật để thay đổi hình tích vốn có của tự nhiên ,sẽ suy tôn tài trí mà   vội vàng thúc đẩy trí và vật đều cùng tiến tới .Ông ấy sẽ bị sự việc nhỏ sai khiến ,bị ngoại vật câu thúc ,ngoảnh cổ khắp bốn phương ,ứng tiếp ngoại vật ,sẽ ứng tiếp vạn vật mà buông thả cái hợp lý khắp nơi ,sẽ can dự  vào sự thay đổi của vạn vật mà không có một chuẩn tắc nào cả .Người như thế làm sao có thể làm vua được ?     Tuy nhiên như vậy ,có sự tụ hợp  người đồng tộc thì sẽ có tiên tổ cả một toàn tộc ; có thể thành thủ lãnh dân chúng một vùng ,ngược lại không thể thành vua thống trị bốn phương .Cai trị tất   trước hết  sẽ dẫn dắt thiên hạ đến đại loạn  ,đó là mối họa của bầy tôi  ,là cái gốc  cướp bóc  của vua chúa .

 

 

 

 

                                

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Câu 5-3

Vua Vũ hỏi  : vì sao ông (Tử Cao) lại từ quan về cày ruông ?

禹问曰:吾 子辞为诸侯而耕 ,其故何   ?

( Ngô tử từ vi chư hầu nhi canh ,kỳ cô hà ?)

 

Nguyên văn :
尧治天下,伯成子(1)高立为诸侯。尧授舜,舜授禹,伯成子高辞为诸侯而耕。禹往见之,则耕在野。禹趋就下风(2),立而问焉,曰:“昔尧治天下,吾子立为诸 侯。尧授舜,舜授 予,而吾 子辞为诸侯而耕。敢问,其故何也?”子高曰:“昔尧治天下,不赏而民劝,不罚而民畏。今子赏罚而民且不仁,德自此衰,刑自此 立,后 世之乱自此始矣。夫子阖行邪?无落吾事!”俋 俋 (3)乎耕而不顾。

 

Chú giai :

 

(1) Bá Thành Tử Cao : tên hư cáu

(2) Hạ phong : đây có ngĩa là  hạ phương 下方 : về phía dưới .

(3) Hạp : lấp ,đóng cửa .Ở đây như chữ hạp (盍 ) : sao lại không .

(3) Ấp ấp :hùng hục

 

Phiên âm

 

             Nghiêu trị thiên hạ ,Bá Thành Tử Cao lập vi chư hầu .Nghiêu thụ Thuấn ,Thuấn thụ Vũ ,Bá Thành Tử Cao từ vi chư hầu nhi canh .Vũ vãng kiến chi ,tắc canh tại dã .Vũ xu tựu hạ phong ,lập nhi vấn yên ,viết : “ Tích Nghiêu trị thiên hạ ,ngô tử lập vi chư hầu .Nghiêu thụ Thuấn ,Thuấn thụ dư ,nhi ngô tử từ vi chư hầu nhi canh .Cảm vấn ,kỳ cố hà dã ?” Tử Cao viết : “ Tích Nghiêu trị thiên hạ ,bất thưởng nhi dân khuyến ,bất phạt nhi dân úy .Kim tử thưởng phạt nhi dân thả bất nhân ,đức tự thử suy ,      hình tự thử lập ,hậu thế chi loạn tự thử thủy hĩ .Phu tử hạp hành da ? vô lạc ngô sự ! “ Ấp ấp hồ canh nhi bất cố .

 

Dịch :

Vua Nghiêu trị vì thiên hạ ,phong Bá Thành Tử Cao làm chư hầu .Sau đó Nghiêu truyền ngôi cho Thuấn ,Thuấn truyền ngôi cho Vũ ,Bá Thành Tử cao bỏ tước chư hầu về cày ruộng .Vũ đến hỏi thăm ,đúng lúc Tử Cao đang cày ngoài đồng .Vũ liền ráo bước tới ,đứng  dươí thấp mà hỏi : “Trước đây vua Nghiêu trị nước ,ông làm chư hầu .Vua Nghiêu truyền ngôi cho vua Thuấn ,vua Thuấn truyền ngôi cho tôi thì ông từ chức chư hầu về cày ruộng .Xin hỏi là vì sao ?.” Tử Cao nói : “Xưa vua Nghiêu trị thiên hạ ,không ban thưởng gì nhưng dân đều gắng sức ,không trừng phạt nhưng tự dân đều kính sợ  .Nay ông thi hành cách  thưởng phạt mà dân lại bất nhân , đạo đức  suy đồi. Vì thế ông phải định ra hình luật .Cái loạn của đời sau cũng từ đó mà bắt đầu nẩy sinh . Sao ông không đi đi ?      đừng có quấy rầy ta nữa !”.Nói rồi Tử Cao cui xuống ,           tiếp tục cặm cụi cày ,không thèm  ngó  ngàng tới vua Vũ nữa .

 

 

 

Docago.wordpress.com số 43

CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Đỗ Anh Thơ: Trí tuệ Trang tử (2)

ChươngV: Trời đất

天地

                                (  Thiên địa )

Câu 5.-1         Hoang đế mất viên ngọc đen

黄帝遗其玄珠

( Hoàng đế di kỳ huyền châu )

Nguyên văn

 

黄帝游乎赤水(1)之北,登乎昆仑之丘而南望,还归,遗其玄珠(2)。使知索(3)之而不得,使离朱(4)索之而不得,使喫诟索之而不得也⑥,乃使象罔⑦,象罔得之。黄帝曰:“异哉!象罔乃可以得之乎?”

Chú giaỉ

 

(1) Sông Xích Thủy : tên sông do Trang tử hư cấu

(2) Huyền Châu : ngọc đen , ở đây chỉ đạo .

(3) Tri  : tên hư cấu ,nghĩa  là thông minh

(4) Ly Chu : tên hư cấu nghĩa là tinh mắt

(5) Khiết Cấu : tên hư cấu giỏi biện luận .

(6)Tượng Võng : tên hư cấu ,nghĩa là .sự vô tâm  .

 

Phiên âm :

 

                 Hoàng Đế du vu Xich Thủy chi bắc ,đăng vu Côn Lôn chi khâu ,hòan quy ,di kỳ huyền châu .Sử Trí tố chi nhi bất đắc ,sử Ly Chu tố chi nhi bất đắc ,sử Khiết Cấu tố chi nhi bất đắc dã ,nãi sử Tượng Võng ,       Tượng Võng đắc chi .Hoàng Đế viết : “ Dị tai ! Tượng Võng nãi khả dĩ đắc chi hồ ?”

 

        Dịch :

 

                 Hoàng Đế đi chơi  bắc sông Xích Thủy ,lên núi Côn Lôn ,khi quay về đánh rơi mất viên ngọc huyền .Ngài sai Trí là người thông minh lanh lợi đi tìm không thấy .Sai  Ly Chu  tinh mắt đi tìm không thấy ,liền sai Khiết Cấu giỏi suy đoán đi  tìm cũng không thấy .Ngài bền sai Tượng Võng là anh chàng vô tâm đi tìm thì thấy .Hoàng Đế bèn nói : “ Tượng Võng mà tìm thấy ngọc thì lạ thật “

 

Bình :

 

Huyền Châu là ngọc đen .Ở đây Trang tử dùng nó để chỉ đạo huyền vi .Bởi vậy cho nên những kẻ chỉ dựa vào  trí thông minh ,tinh mắt  hoặc tài suy đoán đều không thây không hiểu được  nó .Chỉ có con người đã đạt đến cảnh giới vô ngã thì mới ngộ được mà thôi .

Ông chủ trương vứt bỏ hết trí năng ,động cơ ,dục vọng  để sống môt cuộc đời thuần phác …thì mới mong có thể tìm được cái lý tự nhiên (đạo vô vi ) ,cái nguyên lý hư rỗng vậy .