Archive | Tháng Một 2012

Docago.wordpress.com số 60

CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Đỗ Anh Thơ ( Dịch,chú giải và bình luận) : Truyện Từ Văn Trường của Viên Hoành Đạo

Đoạn 2 bản sơ thảo

Nguyên văn

….会得白鹿(14)属(15)文长作表,表上,永陵(16)喜。公以是益奇之,一切疏计(17),皆出其手。文长自负才略,好奇计,谈兵多中。视一世事无可当意者,然竟不偶(18)。 文长既已不得志于有司,遂乃放浪麴 糱 (19),恣情山水,走齐、鲁、燕、赵(20)之地,穷览朔漠(21)_。其所见山奔海立,沙起雷行,雨鸣树偃,幽谷大都,人物鱼鸟,一切可惊可愕之状,一一皆达之于诗。其胸中又有勃然不可磨灭之气,英雄失路、托足无门之悲,故其为诗如嗔(22)如笑,如水鸣峡,如种出土,如寡妇之夜哭,羁人(23)之寒起。虽其体格,时有卑者,然匠心独出,有王者气,非彼巾帼(24)而事人者所敢望也。文有卓识,气沈而法严,不以模拟损才,不以议论伤格,韩、曾之流亚(25)也。文长既雅不与时调合,当时所谓骚坛(26)主盟者,文长皆叱而怒之,故其名不出于越,悲夫!

Chú giải:

(14)会得白鹿( Hội đắc bạch lộc)  : Năm Gia Tĩnh thứ 37, Hồ Tông Hiến bắt được một con hươu trắng cho đó là điềm lành, bảo Từ Văn Trường viết biểu tâu lên vua.

(15) 属 chú ( zhu) : nối liền, ở đây nghĩa như chúc 囑 nghĩa là dặn bảo

(16)永陵 Vĩnh Lăng (rong ling): tức Minh Thế tong ( ông này chôn ở Vĩnh lăng) nên đời sau dung hai chữ này để chỉ ông

(17)疏计(sơ kế) viết biểu chương tâu lên vua

(18)不偶 bất ngẫu _ không hợp đôi. Ở đây nghĩa như bất ngộ 不遇  nghĩa là không gặp ( thời)

(19) 麴 糱  chúc nghiệt ( zhu nie): rượu

(20) 齐、鲁、燕、赵 :   Tề, Lỗ, Yên, Triệu.Các tên nước xưa. Tề , Lỗ nay là vùng Sơn Đông, Yên, Triệu nay là vùng Hà Bắc , Sơn Tây

(21)朔漠 Sóc mạc ( shuo mo): Sóc : phương bắc

Mạc : Vùng đất cát (sa mạc) . Sóc mạc : sa mạc phương bắc

(22) 嗔 Trấn ( zhen) : tức giận

(23)羁人 Ki nhân ( ji ren) : người ở nhờ ,ở đâu

(24) 巾帼 Cân quốc ( jin guo) Cân: khăn trùm . Quốc đồ trang sức trên tóc. Cân quốc dung để chỉ đàn bà con gái.

(25)流亚 lưu á ( liu ya) :nghĩa như lang thang, lưu lạc

(26)骚坛 Tao đàn (zao tan) : văn đàn.

Dịch:

…vừa đúng lúc này Hồ Tông Hiến bắt được một con hươu trắng, cho đó là một điềm lành, Hồ  bảo Từ viết một tờ biểu tâu lên vua. Minh Thế Tông xem biểu rất vừa ý. Từ đó, Hồ Tông Hiến càng xem trọng ông. Tất cả moi tấu chương, biểu báo gửi lên vua, Hồ đều giao cho Từ chấp bút. Từ văn Trường càng tự phụ về tài năng của mình, hay hiến kế lạ, bàn luận tình hình quân sự đều trúng ý của Hồ. Vì thế, ông thường tỏ ra không vừa ý với mọi việc trên đời và cho rằng chẳng qua vì mình không gặp thời nên không thi thố được tài năng mà thôi.

Từ Văn Trường vốn đã bất đắc ý với chốn quan trường nên thường rượu chè,  chơi lang bạt đó đây, từ Tề, Lỗ đến Yên, Triệu, lên tới tận vùng sa mạc phương bắc. Những vùng ông đi qua, từ những vùng thế núi non hung vĩ như ngựa phi, nước sông như rồng cuồn, đá dựng đứng như vút bay lên trời cao, sám chớp mưa gào, cây cối ngả nghiêng như say đổ… đứng cạnh những hang núi tịch liêu, đên những nơi đô thị sàm uất, với những hình thù người, chim cá  kỳ di…Tất cả đều được ông ghi chép lại trong thơ văn. Trong lồng ngực ông có sẵn ngọn lửa khí khái không thể dập tắt của một anh hung không gặp thời, nỗi bi thương của khách  không nhà. Không nơi dung thân…nên thơ ông viết ra có khi tựa như những lời cuồng nộ, có khi lại như nhưng câu cợt đùa, như nguồn nước suối phun trào trong khe sâu, lại như những hạt giống đang nảy mầm trong bùn lầy… như tiễng người đàn bà góa khóc trong đêm khuya…như khách đi đường không nhà, lang thang  canh khuya mưa rét.

Tuy thể tài thơ ông cách điệu, có đôi chỗ không đạt, nhưng ý tứ độc đáo, có khí thế vương gỉả, không như những câu chuyện đàn bà.  Văn chương ông có kiến giải sâu sắc, thâm trầm, két cấu nghiêm ngặt không dễ gì mô phỏng hoặc bắt bẻ . Có thể xếp ông ngang với những nhân vật như Hàn Dũ , Tăng Củng.

Tất nhiên, Từ Văn Trường không hợp với thế tục, đương thời thường bị các lãnh tụ trên văn đàn  chi trích chê bai thơ văn ông, nên tiếng tăm của ông không vượt ra khỏi vùng Giang Triết . Đó là một điều đáng buồn lắm vậy.

( còn nữa)

Advertisements

Docago.wordpress.com số 58- 59

                  CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

          Đỗ Anh Thơ ( dịch, chú giải và bình luận)
                             Truyện Từ Văn Trường

                      徐渭(文长)传

                              của  Viên Hoành Đạo  袁宏 道

     Đoạn 1

                          徐渭,字文长,为山阴诸生(1),声名籍甚(2)。薛公蕙校越(3)时,奇其才,有国士之目;然数奇(4),屡试辄蹶(5)。    中丞(6) 胡公宗宪(7)闻之,客诸幕(8)。文长每见,则葛衣乌巾,纵谈天下事,胡公大喜。是时公督数(9)边兵,威镇东南;介胄之士(10),膝语蛇行(11),不敢举头,而文长以部下一诸生傲之;议者方(12)之刘真长、杜少陵(13)云
        Chú giải
                                       Viên Hoành Đạo ( 袁宏 道 1568- 1610) tự Trung Lang nieuj Thạch công người huyện Công An tỉnh Hồ Bắc, năm 16 tuổi đã đỗ tú tài , khá nổi tiếng. Cùng với anh là Viên Tông Đạo và em là Viên Trung Đạo lập thi xã (hội thơ), đương thời goi là  Tam Viên( ba anh em họ Viên).Năm  25 tuổi (Vạn Lịch thứ 20    ) đỗ tiến sĩ làm quan đến chức lang trung. Văn thơ ông rất mực thước và hào sang và dược tuyển thành Viên Trung lang tập. Minh sử Văn uyển có  truyện ý về ông.
                                      (1)  诸生(Chư sinh –zhu sheng). Tên gọi học sinh trúng cách thi hương đời Minh, tục gọi là tú tài( 秀 才)
(2) 籍甚 Tịch thậm ( jie shen ): Tiếng tăm vang khắp xa gần.
                                       (3) 薛公蕙校越Tiết công Huệ hiệu Vietj ( jue gong hui xiao yue): Ông Tiết Huệ được cử làm quan chấm thi chư sinh( tú tài) ở đăt Việt.
 Tiết  Huệ người huyện Hào tỉnh An Huy, tự là Quân Thái 君 采    đỗ tiến sĩ năm Chính Đức thứ 9 từng làm quan đến chức Lang trung Ty khảo công bộ Lại. Năm Gia Tĩnh có tội bị cách chức . Người đương thời thường gọi là Tây Nguyên tiên sinh.
 Việt : đất  vùng   Thiệu Hưng Triết giang ngày nay
(4) 数奇:  Số ký ( shu ji): Không gặp vận may, không gặp thời
(5) 屡试辄蹶Lậu thí triếp quyết( lou shi zhe jue): quyết : vấp ngã. Nghĩa là nhiều lần thi trượt.
          (6)   中丞: Trung thừa ( zhong cheng) : chức quan. Đời Minh gọi chức Tuần phủ 巡撫là Trung thừa
         (7) 胡公宗宪 Hồ công Tông Hiến : ông Hồ Tông Hiến ( hu gong zong xian) Người huyện Tích Khê tỉnh An Huy . Đậu tiến sĩ đời Gia Tĩnh làm Ngự sử tuần án Triết giang lên tới chức Thượng thư bộ binh.
(8) 客诸幕Khách chư mạc ( ke zhu mo): tức mạc tân , mạc khách, mac lieu   là khách quý cùng ngồi với chủ sau màn để đàm đạo.
(9) 督数 như đốc trách, đảm trách
(10)  介胄之士  Giới trụ chi sĩ nghĩa là quân sĩ
(11)  膝语蛇行   Tất ngữ:  quỳ để thưa bẩm
Xà hành bò trốn như rắn
12 方  phương ở đây có nghĩa là so sánh với
              13 刘真长 长 Lưu Trấn Trường thừa tướng đời Tấn Giản Văn đế.
       杜少陵Đỗ Thiếu lăng tức Đỗ Phủ
                    Dịch:
                   Từ Vị tự Văn Trường là tú tài ở huyện Sơn Âm rất nổi tiếng. Khi  Tiết Huệ nhận chức khảo quan vùng Triết Giang, đã từng kinh ngạc về tài học của Từ Vị, xem ông như là một quốc sĩ . Thế nhưng vận mệnh của Từ Vị không may, nhiều lần đi thi vẫn  không đỗ.
                        Về sau, tuần phủ Hồ Tông Hiến nghe tiêng tăm của ông, mời ông về nhà làm khách quý trong nhà.  Mỗi lần gặp tuần phủ, Từ Vị đều mặc áo vải, chít khăn đen, nhưng lại bàn những chuyện dọc ngang trời đất. Hồ TôngHiến rất vui. Lúc này họ  Hồ đang đảm trách việc binh nơi biên viễn, oai phong lừng lẫy khắp vùng đông nam. Tướng sĩ gặp Hồ đều phải quỳ gối xưng tên, khep nép đi qua như  rắn không dám ngửng đầu. Thế mà Từ Văn Trưởng chỉ là thân phận anh tú tài lại có thể ngang nhiên, đàm đạo thế sự một cách sảng khoái tự tin cùng Hồ Tông Hiến. Vì thế người đời  thường so sánh ông với Lưu Trấn Trường và Đỗ Thiếu lăng.
                                            ( còn nữa )

Docago.wordpress.com thông báo

Sang năm 2012 , do quỹ thời gian làm việc với đầu óc còn minh mẫn của Docago không còn nhiều. Nó có thể dao động từ vài trăm cho đến vài nghìn ngày  Với quỹ thời gian như vậy sẽ được Docago đếm ngược. Kế hoạch rửa tay gác bút cũng vậy. Ngoài những bồ thóc giống ( có thứ đã chớm bị mọt) tiếp tục phơi, Docago sẽ mỗi ngày dịch và bình vài dòng đến vài trang… trong “Cổ văn quan chỉ” hoặc Thơ Đường…để cùng với bạn bè trao đỏi thơ văn trên doanhtho.blogspot.com và Docago.wordpress.com.  Ở đây,các bạn sẽ gặp lại một Nguyễn Chân uyên bác ba bốn ngữ, một Trần Văn Kinh với thơ trữ tình lai láng, một Trần Trọng Chiêm ( đuơc bạn bè gọi đùa là hòa thượng Thích Thịt Chó ) có một kho tư liệu Hà Nội xưa đồ sộ, một Đặng Vũ Hiền ( HD) nhà ảo thuật về pps, một An Lộc còn đang mang ”cá gỗ” cùng “cà có đuôi” dưa đi bán xưa người, một Nguyễn Hữu Khao nổi tiếng về Âm Dương viên thạch, một Hiếu Bình với nàng thơ chiếm kỷ lục về cân năng và vòng eo……Họ hường xủyên góp bai, góp vui. Mời các bạn ở trong nước, ở nước ngoài từng thích đọc chuyên mục văn hóa Đông Tây và tìm những phút thư giãn tinh thần …hãy đến với hai blog văn hóa giáo dục  này

Đỗ Anh Thơ

(  tức Docago )

E-mail : dnanhthodo62@gmail.com

ĐT : 0906265335

Docago.wordpress.com số 57

       CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

        Đỗ Anh Thơ: Trí tuệ Trang tử (2) 

                            Chương IX

                               Câu 9-4

                  Tại sao ông biết đươc  ?

                         子何以知之?

                     ( Thà dĩ tri chi ?)

 

Nguyên văn :

 

东野稷以御见庄公(1),进退中绳,左右旋中规。庄子以为文弗过也,使之鉤百而反。颜阖遇之,入见曰:“稷之马将败。”公密而不应。少焉,果败而反。公曰:“子何以知之?” 曰“其 马 力竭矣,而犹求焉,故曰败。”

           Chú thích :

 

(1)         Đây là Lỗ Trang công

 

          Phiên âm :

 

              Đông Dã Tắc dĩ ngự kiến Trang công ,tiến thoái trung thằng ,tả hữu toàn trung quy .Trang tử dĩ vi văn phất quá dã ,sử chi câu bách nhi phản .Nhan Hạp quá chi ,nhập kiến viết : “ Tắc chi mã tương bại .”       Công mật nhi bất ứng .Thiểu yên ,quả  bại nhi phản .Công viết : “ Tử hà dĩ tri chi ?” Viết : “ kỳ mã lực kiệt hĩ ,nhi do cầu yên ,cố viết bại .”

   Dịch :

               Đông Dã Tắc nhờ tài đánh xe ngựa nên được yết kiến Lỗ Trang công .Ông ta biểu diễn cho      ngựa tiến lui thẳng như đường  dây ,rẽ phải trái thành vòng tròn như có thước quay . Trang công cho rằng những đường thêu hoa cũng không đều  được như vậy nên bảo Tắc cho nó chạy tiếp quay đi quay lại một trăm  vòng hình móc câu .

          Nhan Hạp đi qua thấy vậy ,vào gặp Trang công ,nói :     “ Ngựa của Tắc sẽ kiệt sức mất ” .

             Trang công làm thinh .

             Quả nhiên ,lát sau ngựa phải quay lại

          Lúc đó Trang công mới nói : “ Làm sao mà ông biết trước được vậy  ? ”

             Nhan Hạp trả lời : “ Ngựa của Đông Dã Tắc đã dùng hết sức rồi mà còn bắt nó quần như vậy  nên  tôi biết sẽ  thất bại .”

 

                               Hết . Kỳ sau  bắt đầu đăng toàn văn quyển Trí tuệ Lão tử của tác giả Đỗ Anh Thơ. Mời các bạn theo dõi

 

 

 

 

 

                       

               

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                        

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Docago.wordpress.com số 56

              CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

                     Đỗ Anh Thơ: Tri tuệ Trang tử(2)

                             Chương IX

                         

 Câu 9-3 :

                  Kỷ Sánh tử luyện gà chọi cho vua

                          纪 渻 子为王养斗鸡

           ( Kỷ Sánh tử vi vương dưỡng đấu kê )

 

          Nguyên Văn :

 

纪 渻 子为王养斗鸡。十日而问:“鸡已乎?”

曰:“未也,方虚憍(1)而恃气。”十日又问,曰:“未也,犹应向景。”十日又问,曰:“未 也,犹 疾视而盛气。”十日又问,曰:“几 (2)矣。鸡虽有鸣者,已无变矣,望之似木鸡矣,其德全矣,异鸡无敢应者,反走矣。”

 

             Chú giải :

            ( 1) Chữ này Từ nguyên phiên thiêt là cơ –yêu -> kiêu như kiêu 驕 =  kiêu căng ,ngựa lồng lên .

                      (2)Cơ hĩ : ở đây hiểu như gần được ông ,gần thành công .

 

             Phiên âm :

 

           Kỷ Sảnh tử vi  vương  dưỡng đấu kê .Thập nhật nhi viết : “ Kê dĩ hồ ?” Viết : “  Vị dã ,phương hư kiêu nhi thị khí ,Thập nhật hựu vấn ,viết : “            Vị dã ,do ứng hướng cảnh .”Thập nhật hựu vấn ,viết :vị dã ,do tật thị nhi thịnh khí .”Thập nhật hựu vấn ,viết : “ Cơ hĩ  .Kê tuy hữu minh giả ,dĩ vô biến hĩ ,vọng chi tự mộc kê hĩ ,kỳ đức toàn hĩ ,dĩ kê vô cảm  ứng  giả ,phản tẩu hĩ .”

 

              Dịch :

 

           Kỷ Sảnh tử huấn luyện gà chọi cho vua Tề Tuyên công .Mới mười ngày ,vua đã hỏi đươc chưa .

            Sảnh tử đáp : “ Chưa  ,  ý chí nó còn kiêu căng tự đắc , háu đá lắm .”

            Mười ngày sau ,vua lại hỏi ,ông trả lời : “ chưa ,nó nghe tiếng gà khác còn kêu ,thấy bóng còn nhảy .”

            Tiếp mười ngày sau nữa ,vua lại hỏi ,ông trả lời : “ Còn có tật  quay đầu ngó  đối thủ  , vẻ còn hăng .”

              Lại qua mười ngày ,vua hỏi ,ông trả lời : “ Gần được rồi .Gà khác kêu thách đâú  nó đã không ó vẻ gì phản ứng ,giống như giống như gà gỗ vậy .Đức hạnh của nó có thể nói đã hoàn bị ,gà lạ không dám đấu nữa mà quay đầu chạy .”

 

 

 

 

 

 

 

                   Bình :

 

              Ý tưởng chuyện ngụ ngôn của Trang tử ( và có thể của cả người đời sau chắp nối thêm ) thật thiên biến vạn hóa  , khó mà bắt chước  .

                 Đời sau xếp Nam hoa kinh vào loaị kỳ thư thật dúng .Nó không giống như sách bán chạy ngày nay ( best seller book ) bởi vì tính hàm súc , triết lý ,ý tại ngôn ngoại

( ý ngoài lời ) của nó .

 

 

                           

                 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Docago.wordpress số 55

CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Đỗ Anh Thơ: Trí tuệ Trang tử(2)

Chương IX

 

Đạt tới sự sống tự do và

cây trong núi .

 

达生 , 山木

( Đạt sinh .Sơn mộc )

 

 

 

Câu  9-1

Kẻ biết dưỡng sinh cũng như người chăn cừu ,nhìn con đi sau cùng  mà vụt roi .

善养生者,若牧羊然,视其后者而鞭之

( Thiện dưỡng sinh giả ,nhược mục dương nhiên ,thị kỳ hâu nhi tiên chi )

 

Nguyên văn :

田开之见周威公(1)。威公曰:“吾闻祝肾学生,吾子与祝肾游,亦何闻焉?”田开之曰:“开之操拔(2) 篲 (3) 以侍门庭,亦何闻于夫子!”威公 曰: “田子无让,寡人愿闻之。”开之曰:“闻 之夫子曰:‘善养生者,若牧羊然,视其后者而鞭之。’

 

Phiên âm :

(1) Chu Uy công : con Chu Hoàn công

(2)Thao bạt : quét .

(3)Tuệ :cái chổi

 

Phiên âm :

 

         Điền Khai chi kiến Chu Uy công .Uy công viết : “ Ngô văn Chúc Hiền học sinh ,ngô tử dữ Chúc Hiền du ,diệc hà văn yên ? Điền Khai chi viết : “ Khai chi thao bạt tuệ dĩ thị môn đình ,diệc hà văn vu phu tử ! Uy công viết : “ Điền tử vô nhượng ,quả nhân nguyện văn chi .” Khai chi viết : “Văn chi phu tử viết : “ Thiện dưỡng sinh giả ,nhược mục dương nhiên ,thị kỳ hậu giả  nhi tiên chi .”

 

Dịch :

Điền Khai đến yết kiến Chu Uy công .Uy công

hỏi : Tôi nghe nói ông Chúc Hiền học được phép dưỡng sinh ,ông học ông ấy có nghe được thêm điều gì không ?”

Điền Khai đáp : “ Khi tôi cầm chổi hầu ở cửa có  nghe thầy tôi nói gì gđâu ! .”

Uy công nói :” thầy đừng khiêm tốn quá ,tôi muốn nghe mà .”

Điền Khai nói : “ Tôi nghe thày tôi nói rằng ,kẻ biết dưỡng sinh cũng như người chăn cừu ,cứ nhằm con tụt lại sau cùng mà đánh roi ”

 

Bình

Người chăn bầy gia súc thường đuổi con đi sau cùng vì biết rằng đuổi con luời biếng nhất thì nó sẽ chạy lên thúc cả đàn .Con người có hai cửa chính tiếp nhận  với tự nhiên là miệng ăn và mũi thở .Tập điều hòa được ăn uống và nhịp thở thì sẽ thúc giục các bộ phận cơ thể khác như tim phổi , bộ máy tiêu hóa và mọi dục vọng cá nhân vận đông cân bằng ,được hạn chế , ít bị ảnh hưởng bởi môi trường ,giảm bớt bệnh tật  .

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Câu 9-2 :

Ông tự làm mình sinh bệnh chứ ma quỷ nào có thể hại ông .

公则自伤,鬼恶能伤公

( Công tắc tự thương ,quỷ ác năng thương công)

Nguyên văn :

 

桓公(1)田(2)于泽,管仲(3)御,见鬼焉。 公抚管仲之 手曰:“仲父何 见?”对 曰:臣 无 所见。”公反,诶诒为病,数日不出。
齐士有皇子告敖者曰:“公则自伤,     鬼恶能伤

公!夫 忿滀之气,散而不反,则为不足; 上而不 下,则使人善怒;                 下而不上,则使人善

忘; 不  上不下,中身当心(8),则为病。”

 

 

Chú thích :

 

(1)  Đây là Tề Hoàn công .

(2)   Như điền lạp  (田 臘 ) : đi săn

(3) Quản Trọng : tức Quản Di Ngô ( ?-645 ) chính trị gia thời Xuân Thu ,được Bảo Thúc Nha tiến cử làm tể tướng ,  giúp Tề Hoàn công ,          chỉnh đốn đất nước ,đánh dẹp các chư hầu ,dựng nên nghiệp bá ,được vua kính trong ,xưng hô như bậc cha chú  ( Trọng phụ ) .

(4) Hĩ thai :bơ phờ ,  hồn phách thất lạc  ,

 

Phiên âm :

 

Hoàn công điền vu trạch ,Quản Trọng ngự ,kiến quỷ yên .Công phủ Quản Trọng chi thủ  , chi thủ ,viết : “ Trọng phụ hà kiến ?”Đối viết : “ Thần vô sở kiến ”.Công phản ,hĩ thai vi bệnh ,số nhật bất xuất .

Tề sĩ hữu Hoàng tử Cáo Ngao giả viết : “ Công tắc tự thương ,quỷ ác năng thương công !  Phù phẫn bệnh súc chi khí ,tán nhi bất phản ,tắc vi bất túc :    thượng nhi bất hạ ,tắc sử nhân thiện nộ ; hạ nhi bất thượng tắc sử nhân thiện vong ; bất thượng bất hạ ,trung thân đương tâm ,tắc vi bệnh .”

 

Dịch :

 

Tề Hoàn công đi săn trên một cái đầm ,Quản Trọng đánh xe ngự theo .Hoàn công bỗng nhiên thấy quỷ bèn vỗ vào tay Quản Trọng hỏi :

-Trọng phụ có thấy gì không ?

Quản Trọng đáp :

–       Thần không thấy gì cả .

Về tới cung ,Tề Hoàn công tâm thần tản loạn rồi phát bệnh ,mấy ngày không ra triều .

Một bậc cao sĩ nước Tề tên  là Hoàng tử Cáo Ngao đến thăm nói :

– Nhà vua tự làm cho mình sinh bệnh chứ có ma quỷ nào làm cho vua sinh bệnh được đâu .Khi tà khí bên ngoài làm cho sinh khí ta bị ly tán không quay về thân thể   không đủ thì tinh thần bị nhiễu loạn . Khí nó tụ lại ,bốc lên không thể hạ xuống ,      sẽ làm cho người ta sinh giận dữ ;khí hạ xuống mà không đi lên  sẽ làm cho người ta hay quên ; không bốc lên không hạ xuống ,tụ vào tim mà không tan thì sẽ sinh bệnh .”

Bình :

 

Thấy ma quỷ là sự tự kỷ ám thị ,có khi do tâm thần phân lập hoặc do mê tín .Còn phép dưỡng sinh ,giúp ta chống stress ,là sự điều hòa nhịp thở ,gạt hết mọi ưu phiền , ham muốn công danh ,không còn đau khổ giận hờn ,vui sưỡng cuồng nhiệt ,     làm cho khí huyết  lưu thông .Đây là cách mà đông y gọi là thiền định ,là sự tự điều chỉnh huyết áp .Trong “Kinh Dịch với cuộc sống con người ” soạn giả gọi đó là tránh  xung cộng hưởng .Nó có thể giúp ta chữa một số bệnh tật mà không cần dùng thuốc .

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Docago.wordpress.com số 54

 

                  CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

      Đỗ Anh Thơ: Trí tuệ Trang tử(2)

                            Chương VIII

Câu 8-3

          Tôi làm sao bỏ cái vui như vua mà quay về với cảnh lao khổ cõi đời người được .

 

          吾安能弃南面王乐 而复 为 人间之劳乎!

( Ngô an năng khí nam diện vương lạc nhi phục vi nhân gian chi lao hồ !)

 

【原文】
庄子之楚,见空髑髅 (1),髐(2)然有形,撽 以马 捶,因而问之,曰:“夫子贪生失理,而为此乎?将子有亡国之事,斧钺之诛,而 为此 乎?将 子有不善之行,愧遗父母妻子之丑,而为此乎?将子有冻馁之患,而为此乎?将子之春秋故及此乎?”于是语卒,援髑髅, 枕而卧。
夜 半,髑髅见梦 曰:“子之谈者似 辩士。视 子所言,皆生人之累也,死则无此矣。子欲闻死之说乎?”庄子曰:“然。”髑髅曰:“死,无君于上,无臣于 下;亦无四时之事,从然以 天地为春秋,虽南面王乐,不能过也。”庄子不信,曰:“吾使司命复生子形,为子骨肉肌肤,反子 父母妻子闾里知 识,子 欲之乎?”髑 髅

深 矉 蹙(3)曰:“吾安能弃南面王乐 而复 为 人间之劳乎!”

 

         Chú giải :

 

(1)         Độc lâu : đầu lâu .

               (2)   Hao : chữ này trong từ điển Thiều Chửu không có .Từ nguyên phiên thiết là hy giao-> hao ,nghĩa là xương trắng hếu .

                ( 3) Tần : trợn mắt .Túc : buồn .Nhưng còn có chữ tần túc 頻蹙 : nghĩa là buồn  buồn xịu

 

    

         Nguyên văn :

 

           Trang tử chi Sở ,kiến không độc lâu ,hao nhiên hữu hình ,ngạo dĩ mã chủy ,nhân nhi vấn chi ,viết : “ Phu tử tham sinh thất lý ,nhi vi thử hồ ? tương tử hữu vong quốc chi sự ,phủ việt chi chu ,nhi vi thử hồ ? tương tử hữu bất thiện chi hành ,  quý  di phụ mẫu thê tử chi sửu ,nhi vi thử hồ ? tương tử hữu đông nỗi chi hoạn nhi vi thử hồ ? tương tử chi xuân thu cố cập thử hồ ? ” Vu thị ngữ túy ,viện độc lâu , chẩm nhi ngọa.

            Dạ bán ,độc lâu kiến mộng viết : “ Tử chi đàm giả tự biện sĩ .Thị tử sở ngôn ,giai sinh nhân chi lụy dã ,tử tắc vô thử hĩ .Tử dục văn tử chi thuyết hồ ? ”Trang tử viết :

 “ nhiên ”. Độc lâu viết : “ Tử ,vô quân vu thượng ,vô thần vu hạ ; diệc vô tứ thời chi sự ,tòng nhiên dĩ thiên địa vi xuân thu ,tuy nam diện vương lạc ,bất năng quá dã .”Trang tử bất tín ,viết : “ ngô sử tư mệnh phục sinh tử hình ,vi tử cốt nhục cơ phu ,phản tử phụ mẫu thê tử lư lý tri thức ,tử dục chi hồ ? “ Độc lâu thâm tần  túc viết :” Ngô an năng khi nam diện vương lạc nhi phục vi nhân gian chi lao hồ !”

      

            Dịch :

 

                Trang tử trên đương đến nước Sở gặp một mảnh sọ dừa khô trắng hếu , bỗng nó hiện nguyên hình  thành         cái đầu lâu nguyên vẹn   .Trang tử lấy roi ngựa ,gõ cái đầu lâu và hỏi : “ ông tham cầu cuộc sống ,đánh mất chân lý nên mới đến như thế này sao ?      Hay là ông đánh mất nước ,bị chết dưới đao phủ ,nên như thế này ? hay là ông có hành vi không đúng , làm cho cha mẹ ,vợ con ô nhục ,nên xấu hổ mà chết   như thế này ? Hay là ông gặp phải tai nạn đói rét mà như thế này ? Hay là ông đã hưởng tận tuổi trời rồi chết như thế này ?”

                 Trang tử nói xong ,lấy cái đầu lâu làm gối  mà nằm ngủ .

                         Đến nửa đêm ,đầu lâu hiện lên báo mộng rằng   : “Trước hết ,lời thôt ra của ông  thật giống như của một kẻ thích  biện luận .Xem những câu nói đó ,toàn là điều tục lụy của người sống ,kẻ chết không có những lo lắng như thế .Ông có muốn nghe đạo lý người đã chết không ? ”

             Trang tử bảo : “ vâng !”

                     Cái đầu lâu nói : “ Người một khi đã chết ,trên không có vua cai quản ,dưới không có quan lại           áp bức ,cũng không có chuyện bốn mùa gian khổ ,chỉ sống thung dung nhàn hạ , dài lâu với trời đất .Đó là niềm  vui hơn cả làm vua chúa   .Trang tử không tin ,nói : “Nếu tôi xin thần linh cho ông sống lại  ,có    đầy đủ xương cốt da thịt ,trở về với cha mẹ ,vợ con ,chơi với bạn bè làng xóm như xưa thì ông có mong không ?” .Đầu lâu trừng mắt cau mày ,rồi buồn rầu nói :

       “  Tôi làm sao mà có thể bỏ cái vui như làm vua chúa này mà quay về với cảnh lao khổ cõi đời con người được .”

 

  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                     

 

            

 

         Câu 8-4

                        

                      Ông quả  thực buồn vì không được nuôi dưỡng ,tôi quả thực vui vì được ăn chăng  ?

                          若果养乎?予果欢乎?”

                     ( Nhược quả dưỡng hồ ? Dư quả thực hoan hồ ?)

 

              Nguyên văn :

 

列子行,食于道从(1),见百岁髑髅,攓蓬而指之曰(2):“唯予与汝知而未尝死、未尝生也。若果养(3)乎?予果欢乎?”

 

 

              Chú giải : 

           

                       (1)Đạo : ở đây nghĩa là đường .  Thực vu đạo ong : ăn dọc đường .

                       (2) Kiển bồng : phát cỏ lau

                       ( 3) Dưỡng : ở đây có nghĩa là buồn không được nuôi dưỡng .

 

              Phiên âm :

 

          Liệt tử hành ,thực vu đạo tòng ,kiến bách tuế  độc lâu ,kiển bồng nhi chỉ chi viết : “Duy dư dữ nhữ tri nhi vị thưởng tử ,vị thưởng sinh dã .Nhược quả dưỡng hồ ? dư quả hoan hồ ? ”

 

              Dịch:

 

         Liệt tử ra ngoài đi chơi ,ngồi ăn bên vệ đường  ,thấy   một cái đầu lâu  người chết trên một trăm năm nằm trong cỏ ,ông vạch  lau ,chỉ cái đầu lâu mà nói : “ Chỉ có tôi và ông biết rằng ông chưa từng chết cũng chưa từng sống .Ông quả thật buồn vì không được nuôi dưỡng chăng ? tôi quả thật vui vì có ăn chăng ? ”