Docago.wordpress.com số 60

CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Đỗ Anh Thơ ( Dịch,chú giải và bình luận) : Truyện Từ Văn Trường của Viên Hoành Đạo

Đoạn 2 bản sơ thảo

Nguyên văn

….会得白鹿(14)属(15)文长作表,表上,永陵(16)喜。公以是益奇之,一切疏计(17),皆出其手。文长自负才略,好奇计,谈兵多中。视一世事无可当意者,然竟不偶(18)。 文长既已不得志于有司,遂乃放浪麴 糱 (19),恣情山水,走齐、鲁、燕、赵(20)之地,穷览朔漠(21)_。其所见山奔海立,沙起雷行,雨鸣树偃,幽谷大都,人物鱼鸟,一切可惊可愕之状,一一皆达之于诗。其胸中又有勃然不可磨灭之气,英雄失路、托足无门之悲,故其为诗如嗔(22)如笑,如水鸣峡,如种出土,如寡妇之夜哭,羁人(23)之寒起。虽其体格,时有卑者,然匠心独出,有王者气,非彼巾帼(24)而事人者所敢望也。文有卓识,气沈而法严,不以模拟损才,不以议论伤格,韩、曾之流亚(25)也。文长既雅不与时调合,当时所谓骚坛(26)主盟者,文长皆叱而怒之,故其名不出于越,悲夫!

Chú giải:

(14)会得白鹿( Hội đắc bạch lộc)  : Năm Gia Tĩnh thứ 37, Hồ Tông Hiến bắt được một con hươu trắng cho đó là điềm lành, bảo Từ Văn Trường viết biểu tâu lên vua.

(15) 属 chú ( zhu) : nối liền, ở đây nghĩa như chúc 囑 nghĩa là dặn bảo

(16)永陵 Vĩnh Lăng (rong ling): tức Minh Thế tong ( ông này chôn ở Vĩnh lăng) nên đời sau dung hai chữ này để chỉ ông

(17)疏计(sơ kế) viết biểu chương tâu lên vua

(18)不偶 bất ngẫu _ không hợp đôi. Ở đây nghĩa như bất ngộ 不遇  nghĩa là không gặp ( thời)

(19) 麴 糱  chúc nghiệt ( zhu nie): rượu

(20) 齐、鲁、燕、赵 :   Tề, Lỗ, Yên, Triệu.Các tên nước xưa. Tề , Lỗ nay là vùng Sơn Đông, Yên, Triệu nay là vùng Hà Bắc , Sơn Tây

(21)朔漠 Sóc mạc ( shuo mo): Sóc : phương bắc

Mạc : Vùng đất cát (sa mạc) . Sóc mạc : sa mạc phương bắc

(22) 嗔 Trấn ( zhen) : tức giận

(23)羁人 Ki nhân ( ji ren) : người ở nhờ ,ở đâu

(24) 巾帼 Cân quốc ( jin guo) Cân: khăn trùm . Quốc đồ trang sức trên tóc. Cân quốc dung để chỉ đàn bà con gái.

(25)流亚 lưu á ( liu ya) :nghĩa như lang thang, lưu lạc

(26)骚坛 Tao đàn (zao tan) : văn đàn.

Dịch:

…vừa đúng lúc này Hồ Tông Hiến bắt được một con hươu trắng, cho đó là một điềm lành, Hồ  bảo Từ viết một tờ biểu tâu lên vua. Minh Thế Tông xem biểu rất vừa ý. Từ đó, Hồ Tông Hiến càng xem trọng ông. Tất cả moi tấu chương, biểu báo gửi lên vua, Hồ đều giao cho Từ chấp bút. Từ văn Trường càng tự phụ về tài năng của mình, hay hiến kế lạ, bàn luận tình hình quân sự đều trúng ý của Hồ. Vì thế, ông thường tỏ ra không vừa ý với mọi việc trên đời và cho rằng chẳng qua vì mình không gặp thời nên không thi thố được tài năng mà thôi.

Từ Văn Trường vốn đã bất đắc ý với chốn quan trường nên thường rượu chè,  chơi lang bạt đó đây, từ Tề, Lỗ đến Yên, Triệu, lên tới tận vùng sa mạc phương bắc. Những vùng ông đi qua, từ những vùng thế núi non hung vĩ như ngựa phi, nước sông như rồng cuồn, đá dựng đứng như vút bay lên trời cao, sám chớp mưa gào, cây cối ngả nghiêng như say đổ… đứng cạnh những hang núi tịch liêu, đên những nơi đô thị sàm uất, với những hình thù người, chim cá  kỳ di…Tất cả đều được ông ghi chép lại trong thơ văn. Trong lồng ngực ông có sẵn ngọn lửa khí khái không thể dập tắt của một anh hung không gặp thời, nỗi bi thương của khách  không nhà. Không nơi dung thân…nên thơ ông viết ra có khi tựa như những lời cuồng nộ, có khi lại như nhưng câu cợt đùa, như nguồn nước suối phun trào trong khe sâu, lại như những hạt giống đang nảy mầm trong bùn lầy… như tiễng người đàn bà góa khóc trong đêm khuya…như khách đi đường không nhà, lang thang  canh khuya mưa rét.

Tuy thể tài thơ ông cách điệu, có đôi chỗ không đạt, nhưng ý tứ độc đáo, có khí thế vương gỉả, không như những câu chuyện đàn bà.  Văn chương ông có kiến giải sâu sắc, thâm trầm, két cấu nghiêm ngặt không dễ gì mô phỏng hoặc bắt bẻ . Có thể xếp ông ngang với những nhân vật như Hàn Dũ , Tăng Củng.

Tất nhiên, Từ Văn Trường không hợp với thế tục, đương thời thường bị các lãnh tụ trên văn đàn  chi trích chê bai thơ văn ông, nên tiếng tăm của ông không vượt ra khỏi vùng Giang Triết . Đó là một điều đáng buồn lắm vậy.

( còn nữa)

3 thoughts on “Docago.wordpress.com số 60

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s