Docago.worgpress.com số 68 : Đỗ Anh Thơ : Văn minh các dòng sông lớn trên thế giới (*)

                    Chương 1: Sông Tigris và Euphrates: cái nôi của văn minh nhân loại.

 

Lưu vực của hai con song Tigris và Euphrate

 

Hai con song này phát nguyên từ bán đảo Tiểu Á Tế Á

( Trung Cận Đông), chúng từ tây bắc cuồn cuộn chảy về đông nam, từ  nam phần Iraq đổ vào vịnh Perse ( Ba tư)  là nơi xuất hiện rất sớm nhiều quốc gia có nền văn minh nổi tiếng như Mesopotamie (Lưỡng  hà),,BabylonAssyria, PheoniciaPalestine…  Văn minh Tây Á cũng là sự tổng hợp, hội tụ của nhiều nền văn minh trong vùng. Những nền văn minh ấy vừa có sắc thái riêng, vừa có sự kế thừa và phát triển, đồng thời tác động lẫn nhau.

Khi Hy lạp chưa bước vào ngưỡng cửa văn minh, thì trên lưu vực hai con sông này ( Lưỡng Hà) đã trải qua  một nền văn minh được khoảng 2000 năm rồi. Hai con song này phát

nguyên từ bán đảo Tiểu Á Tế Á ( Trung Cận Đông) là nơi xuất hiện rất sớm nhiều quốc gia có nền văn minh nổi tiếng như  Mésopotamie (Luơng hà) , BabylonAssyriaPheoniciaPalestine… gọi chung là văn minh Tây Á. Văn minh Tây Á là sự tổng hợp, hội tụ của nhiều nền văn minh trong vùng. Những nền văn minh ấy vừa có sắc thái riêng, vừa có sự kế thừa và phát triển, đồng thời tác động lẫn nhau.

Hai con sông này – Tigris dài 2045km, Euphrate  dài 2750 km đều nằm trên bán đảo Tiểu Á Tế Á ( Trung Đông) chảy cuồn cuộn từ Tây Bắc theo hướng Đông Nam, rồi từ phía nam Iraq đổ vào vịnh Perse ( Ba Tư).  Chúng  xuất phát riêng rẽ từ cao nguyên Anatolia (*) và cao nguyên Iran (**) tới vùng đất trung hạ lưu bằng phẳng mà ta quen gọi là Lưỡng Hà , phạm vi địa lý tương đương với nước Iran ngày nay. Người ta quen gọi theo tên thời cổ là vùng Sumer ( nghĩa là đất đai- kalam người Sumer) và Uruk. Người cổ Hy Lạp gọi là μέσος “giữa” và ποταμός “sông” (Mesopotamia) để chỉ lưu vực giữa hai con sông, tức lưỡng hà. Còn theo kinh thánh thì thủy tổ loài người Adam và Eva  đã  sống trong tự nhiên ở vườn Eden ( có sách của ta dịch là “địa đàng” còn TQ phiên âm là 伊 甸-Y điện), giữa bốn con song trong đó có sông Pishon và Gibon. Ngừoi ta cho đó là Tigris và Euphate. Ngoài ra, song Tigris còn được cho là sông thần Abram ( Abraham) người sau gọi là song Canaan ( biên giới Palestin) vì đó là nơi họ lớn lên.

Lưỡng Hà là tên gọi của một vùng địa lý và của một nền văn minh trước kia mà lãnh thổ là các nước Iraq, đông Syria, đông nam Thổ Nhĩ Kỳ, và tây nam Iran hiện nay. Tương tự, trong tiếng Ả rập nó được gọi là بين نهرين Bayn Nahrain “giữa hai con sông”. Vùng địa lý ày được cung cấp nước từ hai con sông đó,  được gọi là “Cái nôi của Văn minh”,  bởi chính tại đây những xã hội tri thức đầu tiên đã phát triển từ cuối thiên niên kỷ thứ 4 trước Công Nguyên. Từ Lưỡng Hà (mesopotamia) đã được tạo ra trong giai đoạn Hy Lạp và không hề có biên giới xác định rõ ràng  đã được người Seleucid sử dụng. Vùng này đã từng trở thành một tỉnh của Đế chế La Mã trong một thời gian ngắn ở thời Trajan, với tên gọi Provincia Mesopotamia. Các nhà học giả đã cho rằng thuật

—————————————————-

(*)Anatolia plateau- bao gồm vùng đất Thổ nhĩ kỳ bắc giáp Hắc hải nam giáp Đia Trung hải , đông lân cận núi  Nội đà tư sơn và cao nguyên Armenia, tây đến vùng đất tây bộ Thổ nhĩ kỳ ngày nay.

(**)Plateau of Iran- Vùng đất Nam Á ,biển Arabia, vịnh Persique, Caucase, biển Caspienne, vùng giữa cao nguyên Trung Á và Palmir hiện nay

 

ngữ biritum/birit narim trong tiếng Akkad tương ứng với một khái niệm địa lý và đã xuất hiện ở thời vùng này đang trải qua giai đoạn Aramaic hoá. Tuy nhiên, một điều cũng được nhiều người chấp nhận rằng những xã hội Lưỡng Hà sớm đơn giản chỉ phản ánh toàn bộ những vùng bồi tích đất phù sa, kalam , đất đai trong tiếng Sumer . Những thuật ngữ gần đây hơn như “Đại Lưỡng Hà” hay “Lưỡng Hà Syria” đã được chấp nhận với nghĩa chỉ một vùng địa lý rộng hơn tương đương vùng Cận Đông hay Trung Đông. Những tên khác sau này đều là các thuật ngữ do người Châu Âu đặt cho nó khi họ tới xâm chiếm vùng đất này vào giữa thế kỷ 19.

Vùng đất Lưỡng Hà bắt đầu từ sự xuất hiện của nền văn minh tại miền nam Iraq vào thiên niên kỷ thứ 4 trước Công Nguyên cho tới khi Alexander Đại Đế tới đây vào thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên (đây được coi là thời điểm bắt đầu sự Hy Lạp hoá vùng Cận Đông, vì thế cũng đánh dấu sự “chấm dứt” của Lưỡng Hà). Thông thường, mọi người cho rằng có một sự nối tiếp văn hoá và đồng nhất không gian cho toàn bộ thời gian lịch sử địa lý này, dù còn một số điểm chưa rõ ràng. Lưỡng Hà là nơi tồn tại của một số vương quốc cổ nhất thế giới, với trình độ tổ chức xã hội ở mức cao và phức tạp. Vùng này là một trong bốn nền văn minh phát sinh dọc theo các con sông nổi tiếng trên thế giới, nơi phát minh ra chữ viết, cùng với đồng bằng châu thổ sông Nile tại Ai Cập, châu thổ sông Indus tại Tiểu lục địa Ấn Độ và châu thổ sông Hoàng Hà tại Trung Quốc.

Đây là nơi giao lưu , tiếp xúc và xung đột của các dân tộc cua ba đại lục á, Phi và Âu châu. Nó không chỉ xuất hiện nền nông nghiệp nguyên thủy mà còn hình thành một loạt quốc gia nô lệ Sumaer, vương quốc Akkad….

Lưỡng Hà cũng là nơi phát sinh của nhiều thành phố có tầm quan trọng lịch sử như UrukNippurNineveh và Babylon cũng như nhiều vương quốc rộng lớn khác như vương quốc AkkadianVương triều Ur thứ ba và Đế chế Assyri. Một số nhà lãnh đạo nổi tiếng trong lịch sử Lưỡng Hà là Ur-Nammu(Vua xứ Ur), Sargon (người thành lập nên Vương quốc Akkad), Hammurabi(người thành lập quốc gia Babylon cổ), Tiglath-Pileser I (người thành lập Đế chế Assyri), và Tigranes Đại Đế (người thành lập Đế chế Armenia).

Như vậy, “Lưỡng Hà cổ đại” bao gồm giai đoạn từ cuối thiên niên kỷ thứ 4 TCN cho tới khi những người Achaemenid trỗi dậy vào thế kỷ thứ 6 TCN Khoảng thời gian dài này có thể được phân chia thành những giai đoạn như sau:

“Các nền văn hoá” HassunaSamarra và Halaf (Cuối thời Đồ đá mới)

Giai đoạn Ubaid (khoảng 5900 TCN – 4000 TCN)

Giai đoạn Uruk (khoảng 4000 TCN – 3100 TCN)

Giai đoạn Jemdet Nasr (khoảng 3100 TCN – 2900 TCN)

Các triều đại thành bang sớm (khoảng 2900-2350 TCN)

Đế chế Akkadia (khoảng 2350 BC – 2193 TCN).

Vương triều Ur thứ ba (“Sự phục hưng của Sumer” hay “Giai đoạn Tân Sumer”) (khoảng 2119 TCN – 2204 TCN)

Vương quốc Assyria sớm khoảng thế kỷ thứ 20 tới thế kỷ thứ 18 TCN

Triều đại Babylon đầu tiên khoảng thế kỷ thứ 18 tới thế kỷ thứ 17 TCN

Triều đại KassiteGiai đoạn giữa Assyria khoảng thế kỷ thứ 16 tới 12 TCN

Thời kỳ đen tối khoảng thế kỷ thứ 12 tới 10 TCN

Tân Đế chế Assyria khoảng thế kỷ thứ 10 tới 7 TCN

Tân Đế chế Babylon khoảng thế kỷ thứ 7 tới 6 TCN

Ngày tháng thuộc thiên niên kỷ thứ hai và thứ ba trước Công nguyên chỉ gần đúng; so sánh Bảng niên đại Cận Đông Cổ Đại.

Triều đại Ur khoảng 2563–2387 TCN

2563–2524: Mesannepadda

2523–2484: A’annepadda

2483–2448: Meskiagnunna

2447–2423: Elulu

2422–2387: Balulu

Triều đại Lagash khoảng 2494–2342 TCN

2494–2465: Ur-Nanshe

2464–2455: Akurgal

2454–2425: Ennatum

2424–2405: Enannatum I

2402–2375: Entemena

2374–2365: Enannatum II

2364–2359: Enentarzi

2358–2352: Lugal-anda

2351–2342: Uru-inim-gina

Triều đại Uruk khoảng 2340-2316 TCN

2340–2316: Lugal-zaggesi

Triều đại Akkad khoảng 2334-2154 TCN

2334–2279: Sargon

2278–2270: Rimush

 

 

Ngôn ngữ và chữ viết

Ngôn ngữ viết sớm nhất tại Lưỡng Hà là tiếng Sumer, một tử ngữ. Các học giả đồng ý rằng nhiều ngôn ngữ khác cũng đã được sử dụng ở Lưỡng Hà trong thời kỳ đầu song song với tiếng Sumer. Sau này Tiếng Semittiếng Akkad, dần trở thành ngôn ngữ phổ thông, dù tiếng Sumer vẫn được giữ lại sử dụng trong hành chínhtôn giáovăn học, và khoa học. Nhiều biến thể khác nhau của tiếng Akkad vẫn được sử dụng cho tới cuối thời kỳ Tân Babalon. Sau đó, tiếng Aramaic, vốn đã trở thành phổ thông tại Lưỡng Hà, trở thành ngôn ngữ chính thức của triều đại Achaemenid thuộc Đế chế Ba Tư. Tiếng Akkad bị bỏ rơi, nhưng cả nó và tiếng Sumer vẫn được sử dụng trong các ngôi đền trong một số thế kỷ.

Các thư viện và bảo tàng

Một trong những bộ sưu tập văn bản chữ hình nêm lớn nhất thuộc các văn khố của Ashurbanipal, nhà lãnh đạo Assyria. Khoảng năm 650 TCNông đã quyết định thành lập một thư viện tại Nineveh. Bởi vì mọi ngôi đền tại Babylonia đều có thư viện, ông đã cử các sứ thần tới thu thập các văn bản khắc tại đó. Nếu ngôi đền nào từ chối trao những văn bản của mình, các vị sứ thần sẽ tiến hành sao chụp lại. Chỉ một thời gian ngắn, thư viện hoàng gia tại Nineveh đã trở thành thư viện lớn nhất ở Assyria. Đa số những gì chúng ta hiện biết về Lưỡng Hà cổ đại đều có được ở thư viện này.

Vua Babylon, Nebuchadnezzar II, đã thành lập một bảo tàng, nơi trưng bày một số bức tượng, các đồ vật và một số văn bản. Đây là một ví dụ về văn học Babylon.

Khoa học và kỹ thuật

Cư dân Lưỡng Hà đã phát triển nhiều kỹ thuật như gia công kim loạilàm kínhdệt vải, trồng cấy và tích trữ nước cũng như tưới tiêu. Họ cũng là những cư dân đầu tiên trên trái đất tiến vào thời kỳ đồ đồng. Ban đầu họ sử dụng đồng đỏđồng thau và vàng, sau này họ sử dụng sắt. Những cung điện được trang trí bằng hàng trăm cân những kim loại quý giá đó. Tương tự, đồng đỏ, đồng thau và sắt cũng được dùng làm áo giáp cũng như các loại vũ khí khác nhau như kiếmdao gămgiáo, và chùy.

Toán học

Người dân Lưỡng hà sử dụng hệ thống số đếm cơ số 60. Đây là nguồn gốc của giờ 60 phút và ngày 24 giờ hiện nay, cũng như vòng tròn 360 độ. Lịch Summer cũng tính theo tuần bảy ngày. Sự hiểu biết toàn học này đã được sử dụng trong việc lập bản đồ.

Thiên văn học

Những nhà thiên văn học Babylon rất chú tâm nghiên cứu các ngôi sao và bầu trời, và đa số họ đã có thể dự đoán các kỳ nhật nguyệt thực và các điểm chí. Con người cho rằng mọi hiện tượng thiên văn học đều có một mục đích nào đó. Đa số chúng có liên quan tới tôn giáo và các điềm báo hiệu. Các nhà thiên văn Lưỡng Hà đã tạo ra lịch 12 tháng dựa trên những vòng quay của mặt trăng. Họ chia năm làm hai mùa: mùa hè và mùa đông. Những nguồn gốc của thiên văn học có lẽ bắt đầu từ thời điểm này.

             Tôn giáo và thánh thần:

Lưỡng Hà là tôn giáo cổ nhất được ghi chép tới ngày nay. Người dân Lưỡng Hà tin rằng thế giới là một cái đĩa phẳng, được bao quanh bởi một khoảng không gian to lớn và trống rỗng, phía trên thế giới là thiên đường. Họ cũng tin rằng nước có mặt ở mọi nơi, ở trên, dưới, và hai bên, và rằng vũ trụ đã sinh ra từ trong biển cả vô biên đó. Tôn giáo Lưỡng Hà là đa thần giáo, người dân ở đây tin vào rất nhiều vị thần.

Năm 2300 trước Công Nguyên, giống dân Semitic-Akkadians tức giống Do Thái-Ả Rập dưới sự lãnh đạo của vua Sargon đã chiếm toàn vùng Lưỡng Hà Châu. Hai nền văn hóa Semitic – Akkadian và Sumerians hòa đồng và phát triển trong 300 năm. Tới năm 2000 trước Công Nguyên, giống dân Armonites chinh phục các quốc gia đô thị trong vùng Lưỡng Hà Châu và lập nên đế quốc Babylon. Mỗi một ngôi đền, mỗi một ngọn tháp hay một khu vườn treo  là một bản sao của các lâu đài trên thiên đàng . Tại các đền thờ, các tu sĩ làm lễ và đọc sách Thánh Kinh mà họ gọi là Enuma Elish. Thánh kinh thường được viết dưới dạng thơ có nội dung ca tụng các vị thần đã chiến thắng sự hỗn mang trong vũ trụ  Trong số các vị thần đó có thần El mà tượng của “ngài” là một con bò đực mạ vàng . Babylon là tiếng ghép lại từ hai chữ Bab và Ili, có nghĩa là Cái Cổng của Trời . “Tư tưởng cốt yếu của người Babylon là: không có vật gì tự nhiên mà có. Trước khi có thần thánh và con người, một vật tự hữu thiêng liêng đã có từ trước vô cùng . Đó là tư tưởng sơ khởi về một Thiên Chúa cho các đạo thuộc hệ thống Độc Thần Giáo sau này. Những quan niệm của người Babylon về thiên đàng, về thánh kinh, về đất thánh (Holy place) và về thần quyền (sacred power) là những yếu tố quan trọng làm nền móng cho cả 3 đạo Do Thái, Kitô và đạo Hồi.
Dù những niềm tin được miêu tả như ở trên là điều thông thường đối với mọi người dân Lưỡng Hà, vẫn có một số khác biệt theo từng vùng. Từ của người Summer để chỉ vũ trụ là an-ki, gồm tên nam thần An và nữ thần Ki. Con của họ là Enlil, vị thần không khí. Họ tin rằng Enlil là vị thần có nhiều quyền lực nhất. Ông ta là người đứng đầu các thần Pantheon, tương tự thần Zeus của người Hy Lạp và thần Jupiter của người La Mã. Người Sumer cũng tự đặt ra một số câu hỏi triết học như: Chúng ta là ai? Chúng ta đang ở đâu? Tại sao chúng ta lại ở đây. Họ cho rằng những câu hỏi đó sẽ được các vị thần linh của họ giải đáp.

Nếu ai đó bị ốm, họ sẽ cầu nguyện  thì được lành bệnh. vì thế người dân phải trông đợi sự giúp đỡ của các thánh thần.

 

 

Thần Khorsabad. Hiện vật hiện đặt tại bảo tàng                         Louvre

 

Anu là vị thần bầu trời của người Sumer. Ông lấy nữ thần Ki, nhưng trong một số tôn giáo Lưỡng Hà, ông có một người vợ tên là Uraš.

Marduk là vị thần chính của Babylon. Người dân ca ngợi ông, vì thế ông sẽ cho phép Babylon từ một nước nhỏ trở thành một Đế chế hùng mạnh.

Gula,*Utu (cũng được gọi là Šamaš hay Sahamash) là vị thần mặt trời.

Ishtar là nữ thần tình yêu và tình dục.

Enlil là vị thần nhiều quyền lực nhất trong tôn giáo Lưỡng Hà. Vọ ông là Ninlil, và các con của ông gồm InannaIškurNanna-SuenNergal,NinurtaPabilsagNushuUtuUraš Zababa và Ennugi.

Nabu là vị thần chữ viết Lưỡng Hà. Ông rất tử tế, và được kính trọng vì tài viết chữ của mình. Ở một số nơi, ông được cho là người kiểm soát thiên đường và trái đất.

Iškur (hay Adad) là vị thần của các cơn bão.

Ninurta là vị thần chiến tranh của người Sumer. Ông cũng là vị thần của những người anh hùng.

Inanna, vị nữ thần tình yêu và chiến tranh của Sumer, cũng là vợ của Ninurta.

Pazuzu, cũng được gọi là Zu, là vị thần ma quỷ, người đã lấy trộm những tờ giấy số mệnh của Enlil và vì thế bị giết. Ông cũng là người mang đến bệnh dịch không thể cứu chữa.

Tang lễ

Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy hàng trăm ngôi mộ ở một số nơi tại Lưỡng Hà. Những ngôi mộ ấy kể lại cho chúng ta nhiều điều về phong tục tang lễ Lưỡng Hà. Tại thành phố Ur, đa số mọi người được chôn trong những ngôi mộ gia đình bên dưới nhà họ. Trẻ em được đặt trong những chiếc bình lớn và được mang tới nhà nguyện gia đình. Những người khác được chôn trong nghĩa trang chung của thành phố. Một số người được quấn trong những chiếc chiếu và thảm. Trong đa số các ngôi mộ, một số đồ vật cá nhân của người chết được chôn cùng họ, và có 17 ngôi mộ có những đồ vật quý, vì thế chúng được cho là những ngôi mộ của hoàng gia.

Ziggurat

Ziggurat là những ngôi đền to lớn được xây dựng để cúng tế các vị thần. Chúng được xây bằng đất sét và bùn và có ba hay bốn phần. Chúng được xây rất cao để luôn được giữ khô ráo bởi ở thời ấy thường xuyên xảy ra những trận lũ lụt. Cần nhiều nhân công để xây dựng một ziggurat. Ít nhất phải có đủ người để đào đất sét, làm gạch, và xếp những viên gạch đó lại với nhau. Những viên gạch được làm bằng bùn và sậy ép. Chỉ ziggurat tại Ur còn tồn tại tới ngày nay bởi những người xây dựng chúng sau này đã nhân ra rằng việc nung đất sét sẽ khiến những viên gạch có tuổi thọ lâu hơn.

Những ziggurat được xây dựng theo hình kim tự tháp, với những bậc thang dẫn lên mặt phẳng trên đỉnh – rất giống những vườn treo. Chúng được xây trông giống như những ngọn núi, vì người dân muốn có được số cây gỗ và các khoáng chất phong phú như ngọn núi Zargos, nằm giữa Lưỡng hà và nước Iran hiện nay, cũng như bởi núi là nơi trú ngụ của các vị thần, và việc xây dựng một hòn núi giả khiến con người gần gũi hơn với các vị thánh thần cũng như sẽ thường xuyên được thừa huệ hơn khi luôn có các vị thần bên cạnh.

Âm nhạc và ca hát

Những bài hát được sáng tác để ca ngợi các vị thần thánh, nhưng cũng có nhiều bài hát ghi lại các sự kiện quan trọng. Dù âm nhạc và các bài hát là để tiêu khiển cho các vị vua và các quan cai trị, chúng cũng được nhiều người dân thường hâm mộ và họ thường hát, nhảy múa tại nhà riêng hay tại các khu chợ. Những bài hát được dạy cho trẻ em và trẻ em lại truyền lại cho các thế hệ sau đó. Nhờ thế những bài hát được lưu truyền cho tới khi có ai đó viết lại chúng. Những bài hát đó là phương tiện lưu trữ các thông tin quan trọng qua nhiều thế kỷ về cácsự kiện lịch sử còn lại đến chúng ta ngày nay.

Oud (tiếng Ả Rập: العود) là một nhạc cụ dây nhỏ. Bức tranh cổ nhất về Oud có từ giai đoạn Uruk ở phía Nam Lưỡng Hà hơn 5000 năm trước. Nó hiện ở tại Bảo tàng Anh và do Tiến sĩ Dominique Collon tìm thấy. Hình ảnh thể hiện một phụ nữ ngồi bên các nhạc cụ trên một chiếcthuyền, chơi bằng tay phải. Nhạc cụ này đã xuất hiện hàng trăm lần trong lịch sử Lưỡng Hà và tái hiện ở cả thời Ai Cập cổ đại từ vương triều thứ 18 trở về sau, nhạc cụ có các biến thể cổ dài và ngắn mới.

Oud được coi là tiền thân của sáo Châu Âu. Tên của nó xuất phát từ العود al-‘ūd (gỗ) trong tiếng Ả Rập, có lẽ là loại cây có gỗ dùng chế tạo ra oud.

 

Giải trí của vua chúa và cuộc sống gia đình của dân

 

Các vị vua Assyri thường đi săn bắn. Những cảnh đấm bốc và đấu vật thường được thể hiện trong nghệ thuật, và polo cũng có thể là môn thể thao phổ thông, dù khi chơi một người sẽ ngồi lên vai của người kia thay vì cưỡi ngựa. [3]. Họ cũng chơi trò board game tương tự như hiện nay.

Tỷ lệ tử vong trẻ em lên tới từ 75 đến 95 phần trăm, chỉ con cái hoàng gia và các gia đình giàu có cũng như các thợ chuyên môn, học giả, các bác sĩ, thầy tu vân vân được tới trường. Đa số trẻ em trai được tiếp tục làm công việc của cha mình hay đi ra ngoài học buôn bán[4]. Trẻ em gái ở nhà cùng mẹ, học nội trợ và chăm sóc những đứa em nhỏ hơn. Một điều khá lạ ở thời điểm đó, phụ nữ cũng có quyền. Họ có thể sở hữu tài sản và nếu có lý do, có thể ly hôn.

 Trồng trot nông nghiệp

Nguồn cung cấp lương thực tại Lưỡng Hà khá phong phú nhờ vị trí giữa hai con sông, cũng là nguồn gốc tên gọi của vùng này, sông Tigris và sông Euphrates. Những vùng đất gần sông màu mỡ hơn và thuận lợi hơn cho trồng cấy, nhiều vùng đất ở xa nguồn nước khô và thường không có người ở. Điều này giải thích tại sao sự phát triển hệ thống tưới tiêu rất quan trọng đối với những người dân định cư tại Lưỡng Hà. Những phát kiến mới của Lưỡng Hà còn bao gồm việc kiểm soát nước bằng đập và sử dụng kênh dẫn nước.

Những người định cư đầu tiên ở vùng đất màu mỡ Lưỡng Hà đã sử dụng những chiếc cày gỗ để làm mềm đất trước khi trồng cấy lúa mạch,hànhnhocủ cải, và táo. Những người dân Lưỡng Hà cũng là một trong những người đầu tiên biết làm bia và nấu rượu.

Thời tiết khó đoán định của Lưỡng Hà là một trở ngại đối với những người nông dân; mùa màng thường bị thất bát vì thế những nguồn lương thực dự trữ như bò và cừu cũng được phát triển.

Nhờ khả năng trồng cấy lương thực tài tình, những người dân Lưỡng Hà không phải phụ thuộc vào nô lệ để làm việc đồng áng, chỉ trừ một số ngoại lệ nhỏ. Cũng có nhiều nguy cơ có thể gặp khi sử dụng nô lệ (ví dụ bỏ trốn/hay nổi loạn). Họ sống ở những vùng đất được gọi là vùng đất hình trăng lưỡi liềm màu mỡ.

Quyền lực và chiến tranh

Những người dân Lưỡng Hà tin rằng vua và nữ hoàng của họ là con cháu của thần linh, nhưng không giống những người Ai Cập cổ đại, họ không bao giờ tin rằng các vị vua đó là những vị thần thực sự[5]. Đa số các vị vua đều tự

 

phong là “vua của vũ trụ” hay “vua vĩ đại”. Một cái tên khác cũng thường được dùng là “người chăn dắt“, bởi các vị vua phải trông nom thần dân của mình.

Nebuchadrezzar II là vị vua hùng mạnh nhất tại Babylonia. Ông cho rằng mình là con trai của thần Nabu. Ông đã cưới con gái Cyaxeres, vì thế các triều đại Median và Babylonia có mối quan hệ gia đình với nhau. Tên của Nebuchadnezzar có nghĩa: Nabo, bảo vệ vương triều!

Belshedezzar là vị vua cuối cùng của Babylonia. Ông là con trai của Nabonidus và Nictoris, con gái Nebuchadnezzar.

Vị vua đầu tiên của triều đại Ur (khoảng năm 2560 TCN) là Mesanepada. Ông đã biến Ur thành thành phố chính của Sumer.thành thành phố của người Ur vào khoảng 2563–2387 TCN

Chiến tranh

Khi Assyria lớn mạnh thành một đế chế, nó bị chia thành những phần nhỏ hơn, được gọi là các tỉnh. Mỗi tỉnh được đặt tên theo thành phố chính tại đó, như Nineveh, SamariaDamascus và Arpad. Tất cả tỉnh đều có thủ hiến riêng, thủ hiến đảm nhiệm vai trò thu thuế: ông cũng giữ nhiệm vụ tập trung binh sĩ cho chiến tranh, và cung cấp nhân lực khi xây dựng đền miếu. Thủ hiến cũng có trách nhiệm thực thi luật pháp. Nhờ vậy họ có thể dễ dàng kiểm soát được một đế chế như Assyria. Dù Babylon là một thành bang khá nhỏ của Sumer, và nó đã lớn mạnh lên rất nhiều sau thời kỳ cai trị của Hammurabi. Ông được gọi là “người tạo luật pháp”, và Babylon nhanh chóng trở thành một trong những thành phố chính của Lưỡng Hà. Sau này nó được gọi là Babylonia, có nghĩa “cổng ngõ của các vị thánh.” Nó cũng đã trở thành trung tâm học vấn lớn nhất thời đại.

Khi các thành bang bắt đầu phát triển, vùng ảnh hưởng của chúng chồng lấn lẫn nhau, tạo ra những cuộc xung đột, đặc biệt về đất đai và những con kênh. Những cuộc xung đột đó đã được ghi lại trên những bảng ghi chép hàng trăm năm trước khi cuộc chiến lớn nổ ra – cuộc chiến đầu tiên được ghi lại xảy ra vào khoảng năm 3200 TCN, nhưng chỉ sau năm 2500 TCN những cuộc chiến tranh mới trở thành điều thường nhật. Ở thời điểm này chiến tranh kết hợp vào bên trong hệ thống chính trị Lưỡng Hà, một thành bang trung lập có thể hành động như một trọng tài cho hai bên tranh chấp. Điều đó giúp hình thành các liên minh giữa các thành bang, dẫn tới việc thành lập các thành bang theo vùng[6].

Khi các đế chế thành hình, chúng tiếp tục tiến hành chiến tranh với nước ngoài. Ví dụ, vua Sargon, đã chinh phục tất cả các thành phố củaSumer, một số thành phố tại Mari, và sau đó gây chiến với Bắc Syria.

Nhiều bức tường cung điện Babylonia được trang hoàng bằng những bức tranh thể hiện những trận thắng trước kẻ thù, binh lính đối địch hoặc đang bỏ chạy trong tuyệt vọng, hoặc đang trốn tránh trong những đám lau sậy.

Một vị vua Sumer, Gilgamesh, được cho là hai phần ba thần thánh và chỉ một phần ba con người. Có những câu chuyện huyền thoại và những bài thơ về ông, được truyền lại qua nhiều thế hệ, bởi ông đã tiến hành nhiều cuộc phiêu lưu mạo hiểm được cho là rất quan trọng và giành thắng lợi trong nhiều cuộc chiến.

Luật pháp

Vua Hammurabi, như được đề cập ở trên, là người nổi tiếng với Bộ luật Hammurabi (được tạo ra khoảng năm 1780 TCN), đây là một trong những bộ luật sớm nhất được tìm thấy cũng như là một ví dụ được bảo tồn tốt nhất nhất về kiểu văn bản này từ thời Lưỡng Hà cổ đại. XemHammurabi và Luật Hammurabi.

Trong luật Hammurabi có 282 điều tàn bạo. Vì vậy người dân sẽ phải khiếp sợ mà tuân thủ.

Kiến trúc Nghệ thuật Hội họa Điêu khắc

Mẩu đá với các chữ tượng hình, 3500 TCN

Mặt nạ, 2500-2400 TCN<>bảo tàng LouvreParis

 

 

Việc nghiên cứu kiến trúc Lưỡng Hà cổ đại dựa trên những bằng chứng khảo cổ học, những bức tranh thể hiện các công trình và những văn bản miêu tả lại việc xây dựng. Những văn bản của các học giả thời trước thường được lưu giữ trong các đền, trên những bức tường thành phố, trên những cánh cổng và trên những công trình lăng mộ, nhưng thỉnh thoảng chúng cũng xuất hiện trên các công trình nhà cửa dân cư.[7]Việc nghiên cứu bề mặt kiến trúc cũng cho phép có cái nhìn về hình thức thành thị tại các thành phố ở buổi đầu lịch sử Lưỡng Hà. Những tàn tích nổi tiếng nhất từ thời Lưỡng Hà là các tổ hợp đền tại Uruk từ thiên niên kỷ thứ 4 trước Công Nguyên, những đền đài và cung điện từ các địa điểm thuộc Triều đại sớm tại thung lũng Sông Diyala như Khafajah và Tell Asmar, những tàn tích của Triều đại Ur thứ 3 tại Nippur (điện thờEnlil) và Ur (điện thờ Nanna), những tàn tích giữa Thời đồ đồng tại các địa điểm ở Syria và Thổ Nhĩ Kỳ EblaMariAlalakhAleppo và Kultepe, những cung điện giai đoạn cuối thời đồ đồng ở Bogazkoy (Hattusha), UgaritAshur và Nuzi, các cung điện thời kỳ đồ sắt và các đền đài tạiAssyria (Kalhu/Nimrud, KhorsabadNineveh), Babylonian (Babylon), Urartian (Tushpa/Van Kalesi, CavustepeAyanisArmavirErebuni,Bastam) và các dịa điểm Neo-Hittite (KarkamisTell HalafKaratepe). Các ngôi nhà thường là tàn tích còn sót lại của Babylonia cổ tại Nippur và Ur. Trong số những văn bản về việc xây dựng công trình và mục đích của chúng, Gudea từ thiên niên kỷ thứ 3 trước Công Nguyên là đáng chú ý nhất, cũng như những văn bản ghi chép hoàng gia Assyria và Babylonia từ Thời đồ sắt.

Nhà cửa và cung điện

Những vật liệu sử dụng xây dựng nhà cửa tại Lưỡng Hà tương tư như vật liệu ta dùng ngày nay: gạch bùn, vữa bùn và cửa gỗ, tất cả chúng đều có sẵn ở xung quanh thành phố[8], dù gỗ có hiếm hơn. Đa số nhà đều có phòng trung tâm hình vuông và các phòng khác bao xung quanh, nhưng nhà nói chung khác biệt nhau nhiều về kích thước và vật liệu sử dụng tùy theo gia đình [1]. Những phòng nhỏ không đồng nghĩa với việc chủ nhà nghèo khó; trên thực tế những người nghèo nhất xây nhà bằng các vật liệu nhanh hỏng như lau sậy lấy từ bên ngoài thành phố, nhưng có rất ít bằng chứng trực tiếp về điều này[9].

Các cung điện của tầng lớp trên tại Lưỡng Hà ở thời kỳ đầu là những phức hợp công trình lớn, và thường được trang hoàng rực rỡ. Những công trình như vậy còn có thể thấy tại các di chỉ châu thổ Sông Diyala River như Khafajah và Tell Asmar. Các cung điện có từ thiên niên kỷ thứ 3 trước Công Nguyên đó được dùng cho những định chế kinh tế xã hội bậc cao, vì thế, ngoài chức năng ở và nhà riêng, chúng còn là xưởng chế tạo đồ thủ công, kho thực phẩm, sân tổ chức nghi lễ, và thường có cả các điện thờ. Ví dụ, cái gọi là “giparu” (hay Gig-Par-Ku trong tiếng Sumer) tại Ur nơi những vị nữ tu của thần Mặt trăng Nanna trú ngụ là một phức hợp lớn với nhiều sân, một số điện thờ, những phòng chôn cất của các nữ tu, một phòng nghi lễ lớn, vân vân. Một phức hợp tương tự là một cung điện Lưỡng Hà đã được khai quật tạiMari ở Syria, có niên đại từ giai đoạn Babylonia Cũ.

Các cung điện Assyria từ Thời đồ sắt, đặc biệt tại Kalhu/Nimrud, Dur Sharrukin/Khorsabad và Ninuwa/Nineveh, đã trở nên nổi tiếng nhờ những hình ảnh và những đoạn văn miêu tả trên các bức tường của chúng, tất cả đều được khắc trên những phiến đá. Những hình ảnh đó hoặc thể hiện cảnh thờ cúng hoặc miêu tả về quân đội của nhà vua hay các thành tựu dân sự. Những cánh cổng và những lối vào quan trọng được trang trí bằng nhiều hình khắc các vị thần trong thần thoại để tránh điều không may. Bố cục kiến trúc các cung điện thời đồ sắt cũng được tổ chức xung quanh một sân nhỏ. Thường phòng thiết triều của vua có cửa trông ra một sân nghi lễ lớn, nơi những vị triều thần gặp gỡ và tổ chức các lễ nghi triều đình.

Số lượng lớn các đồ vật bằng ngà tìm thấy ở nhiều cung điện Assyria cho thấy mối quan hệ buôn bán thường xuyên với những quốc gia Neo-Hittite Bắc Syria thời kỳ đó. Một bằng chứng khác là những dải hình repousse đồng trang trí trên những cánh cổng gỗ.

Buôn bán và tiền tệ

Từng có một sự khác biệt lớn giữa tiền bạc và sự giàu có giữa người giàu và người dân thường. Người dân thường phụ thuộc nhiều vào Mùa màng, vì họ có rất ít tiền. Người giàu có nhiều nô lệ và cũng có nhiều tiền bạc. Đơn vị tính khá phức tạp ví như

talent =60 mina 3,600 shekel 30 kg bạc

mina = 60 shekel 500 gam bạc

shekel =8.333 gam bạc

8 miếng mỏng (slice) bạc trị giá 12 hạt ngũ cốc (grain)

24 cây đậu xanh (chickpea)

180 hạt lúa mạch (barleycorn)

Những đồng xu bạc không phải là bạc nguyên chất  nóchỉ chiếm khoảng 87%.

Nhiều đồng tiền xu khác làm bằng đồng.

 

Lịch sử cận đại

Lưỡng Hà sau này thuộc quyền kiểm soát của Đế chế Achaemenid Ba Tư, trở thành hai vùng thuộc quyền kiểm soát của hai vị phó vươngBabylonia ở phía nam và Athura (từ Assyria) ở phía bắc. Trong thời kỳ này, 500-330 TCN, Ba Tư, một quốc gia sử dụng ngôn ngữ Indo-European, đã sắp đủ điều kiện để trở thành một đế chế hùng mạnh trên thế giới.

Sau khi vị vua đã Hy Lạp hóa của Macedonia là Alexandros Đại đế chinh phục toàn bộ Ba Tư, các vùng đất của các vị phó vương trở thành một phần của Đế chế Seleucid, cho tới trước khi nó bị Đại Armenia tiêu diệt năm 42 TCN.

Đa phần Lưỡng Hà sau này trở thành một phần của Đế chế Parthia của Ba Tư, kéo dài tới năm 224. Ctesiphon trở thành thủ đô của Đế chế Parthia. Tuy nhiên, vùng phía tây bắc thuộc Rome. Ở thời Tetrarchy vùng này được chia thành hai tỉnh: Osrhoene (xung quanh Edessa, là vùng biên giới ngày nay giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Syria) và Lưỡng Hà (nằm xa hơn ở phía đông bắc).

Ở thời Đế chế Ba Tư của người Sassanid, phần lớn hơn của Lưỡng Hà được gọi là Del-e Iranshahr có nghĩa “Trái tim Iran” và thủ phủCtesiphon (đối diện Seleukia bên kia sông Tigris), thủ đô của Ba Tư, nằm tại Lưỡng Hà.

Đầu thế kỷ thứ 7, các vị hoàng đế Hồi giáo của Đế chế Ả Rập lên nắm quyền tại Damascus và sáp nhập toàn bộ Đế chế Sassanid. Vì thế Lưỡng Hà được tái thống nhất dưới quyền quản lý của người Ả Rập, nhưng được chia thành hai tỉnh: phía bắc với Mosul (cũng được gọi là Nineveh) là thủ đô, và phía nam, với thủ đô Bagdad. Sau này Bagdad cũng trở thủ đô của vị hoàng đế Hồi giáo. Bagdad đã trở thành trung tâm của Đế chế Ả Rập cho tới tận năm 1258.

Giai đoạn 1508-1534, người nhà Safavid Ba Tư nắm quyền kiểm soát Lưỡng Hà.

Năm 1535, người Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman chiếm Baghdad. Trong thời Đế chế Ottoman, Lưỡng Hà được chia thành ba khu vực hay ba lãnh thổ riêng biệt: MosulBagdad và Basra, gồm cả lãnh thổ Kuwait hiện nay.

Cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất Lưỡng Hà thuộc quyền quản lý của người Anh trong một thời gian ngắn, người Anh đã lập nên một chính phủ của người Hashemite ở Syria và Iraq hiện nay.

Năm 1920 quy chế quốc gia cho Iraq được Anh Quốc đồng thuận sau sự giải tán của Đế chế Ottoman, với những biên giới hiện nay và cảKuwait. Kuwait, một vùng bảo hộ của Anh, nguyên từng là một phần của tỉnh Basra thời Đế chế Ottoman, và được trao quyền độc lập từ Anh năm 1961.

Đầu thập kỷ 1990 các lực lượng liên quân đã tung ra cuộc tấn công vào Iraq được gọi là Chiến dịch Bão táo Sa mạc, để trả đũa việc Tổng thống Saddam Hussein xâm chiếm Kuwait.

Bài chi tiết: Văn minh Lưỡng Hà

Lưỡng Hà là vùng thung lũng giữa hai con sông Tigre và sông Euphrate. Vùng này nổi tiếng là vùng đất phì nhiêu, thuận lợi cho nền sản xuất nông nghiệp như trồng nhoôliu,đại mạch và nhiều loại sản vật nông nghiệp khác. Những cư dân đầu tiên sinh sống ở vùng này bắt đầu từ rất sớm. Vùng Lưỡng Hà có khí hậu nóng ẩm, thực vật phong phú đa dạng. Hàng năm, vào tháng 5, nước lũ của hai con sông tràn ngập, sau khi nước rút, một lượng phù sa dày trải dài trên đồng bằng rộng lớn và bằng phẳng. Yếu tố môi trường thuận lợi cho các cư dân khác nhau đổ về và sự đa dạng về nguồn gốc cũng là yếu tố khiến cho vùng này rất khó thống nhất về mặt lãnh thổ.

Chính nơi đây, những cư dân đầu tiên, di cư từ phương Đông, từ thiên niên kỷ IV trước Công Nguyên sinh sống và sáng lập nên nền văn minh cổ đại đầu tiên ở lưu vực này. Những cư dân này được gọi là người Sumer.

Sự phát triển của sản xuất nông nghiệp, kéo theo sự phân hóa xã hội Sumer. Vào đầu thiên niên kỷ thứ III trước Công Nguyên, trên vùng đồng bằng phía Nam của Lưỡng Hà đã xuất hiện các đô thị. Những đô thị kết hợp với các vùng sản xuất nông nghiệp phụ cận xung quanh hình thành các quốc gia độc lập vào buổi ban đầu. Người đứng đầu các quốc gia là Patêsi. Hội đồng bô lão và Hội nghị nhân dân có quyền bầu các quan chức và quyết định các vấn đề quan trọng. Thế kỷ 25 trước Công Nguyên, quốc gia Lagatethống nhất được vùng Lưỡng Hà và sau đó quyền bá chủ Sumer lại rơi vào tay quốc gia Uruk.

Văn minh cổ Babylon

 

 

Tranh vẽ Vườn treo Babylon

Cuối thiên niên kỷ thứ III trước Công Nguyên, lợi dụng sự suy sụp của Lưỡng Hà, hai tộc người Elam và người Amorites xâm lược tàn phá và cướp bóc. Người Amorites xây dựng hai quốc gia về phía Nam của Lưỡng Hà là Ixine và Laxa; ở phía Bắc của Lưỡng Hà cũng hình thành các quốc gia Esnunna và Marie. Đến lượt các quốc gia trên tranh giành và gây chiến với nhau liên miên, gây nên cảnh đổ nát hoang tàn.

Vào khoảng đầu thế kỷ XIX trước Công Nguyên, người Amorites thống nhất Bắc Lưỡng Hà và hình thành quốc gia cổ Babylon (khác với Tân Babylon sau này) và họ đã thống nhất được khu vực Lưỡng Hà. Quốc gia Babylon cổ nằm trên đường giao lưu quan trọng nối châu Á rộng lớn sang Địa Trung Hảichâu Phi và châu Âu.

Sự cường thịnh và hùng mạnh đạt đến cao điểm vào thời kỳ 17921750 trước Công Nguyên, dưới triều đại vua Hammourabi. Nhà nước cổ Babylon thống nhất trên một diện tích lãnh thổ toàn bộ Lưỡng Hà và bị suy sụp vào khoảng cuối thiên niên kỷ thứ II trước Công Nguyên bởingười Catsites nổi dậy và làm chủ hầu hết lãnh thổ của Babylon.

[sửa]Thành tựu văn minh Babylon

 

 

Một phiến đá văn bản luật thời Babylon. Hiện vật củaCabinet des médaillesThư viện quốc gia Pháp

  • Kinh tế Babylon có những sắc thái đặc biệt do giao điểm của các con đường Đông Tây cũng như sự trù phú của đồng bằng Lưỡng Hà. Nông nghiệp phát triển nhờ vào các yếu tố thuận lợi cũng như thành tựu thủy lợicủa thời kỳ này. Người Babylon không những tự cung cấp được lương thực mà còn có một lượng dồi dào để thông thương buôn bán với các khu vực khác. Vua Hammourabi ra lệnh đào một con sông tưới cho cả vùng rộng lớn Akkad.

Thủ công nghiệp có nghề làm gạch, luyện kimđồ trang sức, đệt, da, đóng thuyền, xây dựng… bên cạnh một nền thương mại phát triển giúp cho vùng Babylon càng thêm giàu có và phát triển.

  • Xã hội nổi bật bởi sự ra đời của bộ luật Hammorabi chia cư dân thành ba hạng người: dân tự do, tiện dân và nô lệ. Nguồn nô lệ chủ yếu được cấp từ nguồn tù binhchiến tranh, mua bán.
  • Chính trị từ thời Hammorabi, các vua Babylon tự coi mình là hiện thân của thần thánh. Vua tự đồng nhất mình với việc kế vị các vị thần cho nên vương quyền và thần quyền hòa quyện với nhau, tạo thành một chế độ độc đoán chuyên chế và thần bí.
  • Văn hoá của Babylon cổ là sự giao hòa giữa hai yếu tố Sumer và Akkad. Sự ra đời bộ luật Hammorabi và được khắc trên một tấm đá bazan cao 2,25 mét, đường kính đáy gần 2 mét. Phía trên mặt trước của tấm đá được khắc hình thần Mặt Trời ngồi trên ngai trao bộ luật cho vua Hammorabi đứng đón một cách trịnh trọng. Phiến đá này được người Pháp tìm thấy ở kinh đo của xứ Elam cổ, hiện nay đang được lưu giữ ở bảo tàng Louvre.
  • Nghệ thuật của Babylon cổ đạt đến trình độ điêu luyện trên nền tảng của hai yếu tố Sumer và Akkad. Nghệ thuật hội họa gắn chặt với nghệ thuật kiến trúc.
  • Kiến trúc Của người Ả Rập có nhiều thành tựu đáng trọng. Huyền thoại các cung điện nguy nga tráng lệ và những câu chuyện cổ tích thần tiên đã tô điểm cho thế giới Ả Rập thần bí và là những tuyệt tác của nhân loại.

Kiến trúc Ả Rập là tinh hoa pha trộn và sáng tạo của các luồng kiến trúc Địa Trung Hải và văn minh sông Hằng xa xội. Thành phố Babylon được bao quanh bởi một bức tường màu vàng dài 13 km và có 300 tháp canh.

Đỉnh cao và chiếm về mức độ vĩ đại là một trong bảy kỳ quan cổ của người Babylon: Vườn treo Babylon.

Văn minh cổ Assyria và Tân Babylone

 

 

Đế chế Tân Assyria

Xem bài chính: Assyria và Babylonia

Assyria là vùng đất có lịch sử xa xưa ở phía thượng nguồn sông Tigris, tên gọi lúc đầu của thủ đô chính là thành phố cổ Assur. Về sau, giống như vương quốc, đế chế tiến lên khai phá một phần phía Bắc Lưỡng Hà (một phần phía Nam Babylonia. Thủ đô là Nineveh.

Thực chất Assyria là một vùng nhiều đồi núi, trải dài theo sông Tigris cho đến tận cao nguyên Gordiaean hoặc ngọn núi Carduchian của Armenia, có một thời được gọi là “Vùng núi của Ashur”.

Các vị vua của Assyria cai trị một vương quốc rộng lớn trong ba giai đoạn lịch sử, được gọi theo cổ xưa, giữa và vương quốc Assyria mới (Neo-Assyrian). Nhưng phát triển rực rỡ nhất của Assyria chính là thời kỳ Tân Assyria, niên đại: 911 – 12 TCN.

[sửa]Ngôn ngữ

Thời cổ đại, dân chúng Assyria nói một thứ thổ ngữ Assyrian của ngôn ngữ hệ Akkadian, một nhánh của hệ Semitic. Bản khắc đầu tiên, gọi là Assyria Cổ xưa (OA), được làm ra dưới thời Cổ Assyria (Old Assyrian). Đến thời Tân Assyria ngôn ngữ hàng ngày của Assyria đã vững chắc là tiếng Syria. Vào thời cổ đại, người Assyria luôn sử dụng ngôn ngữ Samer trong các tác phẩm văn học của họ.

[sửa]Thành tựu văn hóa Tân Assyria

 

 

 có cánh với mặt người của Assyria

Những tác phẩm hội họa của Assyria được truyền lại cho đến ngày nay, chủ yếu là các tác phẩm dưới thời Tân Assyria. Chạm khắc đá ở các bức tường hoàng gia có nguồn gốc nước ngoài chính là các chiến lợi phẩm của các vị vua. Có rất nhiều di vật chạm khắc đá ở gần khu hoàng gia ở Nimrud (Kalhu) và Khorsabad (Dur-Sharrukin).

Nghệ thuật điêu khắc đặc biệt phát triển rực rỡ dưới thời Tân Assyria. Di vật còn lại bao gồm có bức tượng Bò có cánh mặt người Lamassi hay những linh vật sheducanh gác trước cổng đi vào cung điện của vua.

Thiên văn học của Tân Assyria cũng có những tiến bộ kinh ngạc, người Assyria đã biết chế tạo thấu kính (Nimrud lens) và những quan niệm về vũ trụ đang được các nhà cổ sử khám phá và khẳng định.

Di sản khoa học và văn hóa tự người Assyria không có nhiều, nhưng họ biết kế thừa từ các thành tựu của Babylonia cổ và phát huy lên. Rất nhiều văn học của Babylonia, với nguồn gốc từ văn minh Samer được bảo quản và giữ gìn ở các thư viện của Syria. Người Assyria cũng nghiên cứ về sự vận động của các vì sao và có những dự báo về chúng. Người Assyria cũng dành được rất nhiều các thành tựu về kỹ nghệ, họ biết xây đập nước và các kênh đào mà cho đến nay vẫn còn giá trị. Tuy nhiên, người Assyria vẫn giữ các nét đặc trưng khá biệt lập ở các nhóm cư dân cho đến ngày nay ở phía Bắc Iraq ngày nay. Họ vẫn giữ gìn các phẩm chất đặc trưng Ả RậpKusdishThổ Nhĩ Kỳ hàng xóm qua giao lưu. Tôn giáo của người Assyria chủ yếu là đạo Cơ Đốc.

Văn minh Tân Babylonia qua các thời kỳ

Qua một trăm năm thống trị của Asyria, người dân Babylonia vẫn hướng về nền văn minh rực rỡ của mình. Cuối cùng, vào năm 627 TCN, với việc triều đại cuối, Ashurbanipal bị chết, Babylonia đã dành lại được sự thống trị của mình với Nabopolazzar, cuối cùng vương quốc Babylonia được phục hồi mở ra thời kỳ Tân Babylonia, năm 612 TCN.

 

 

Tháp Babel huyền thoại

Thời kỳ 11 của Babylon (Tân Babylonia hay Chaldean)

Nabu-apla-usur (Nabopolassar626 – 605 TCN

Nabu-kudurri-usur (Nebuchadnezzar) II 605 – 562 TCN

Amel-Marduk 562 TCN – 560 TCN

Nergal-šar-usur (Nergal-sharezer560 TCN – 556 TCN

Labaši-Marduk 556 TCN

Nabu-na’id (Nabonidus556 TCN – 539 TCN

Thời kỳ Tân Babylonia có những thành tựu nổi bật cùng với thành tích của vua Nabopolassar, ông đã tích cực tái thiết lại Babylon do bị tàn phá bởi các thời kỳ dưới sự cai trị trước đó của người Assyria. Mục đích của Nabopolassar là xây dựng thủ đô của đế chế mới trở nên lộng lẫy hơn và tham vọng để trở thành kỳ quan trên thế giới. Các đền đài cũ được xây dựng lại, các cung điện với vẻ tráng lệ, nguy nga kinh ngạc đượng xây dựng lên dưới thời ông cùng với rất nhiều đền thờ các vị thần của Babylon được dựng lên (theo sử cũ Hy Lạp do Diodorus của Sicilia và Herodotus viết). Cung điện của Nabopolassar được xây dựng bởi các chất liệu cực kỳ quý hiếm và rộng lớn. Bên cạnh thành phố có những công trình lộng lẫy như Vườn treo BabylonTháp Babel huyền thoại với đường kính chân tháp đến 91 mét.

Vào, năm 539 TCN, thời vua Nabonidus, Tân Babylonia bị Đế quốc Ba Tư xâm lược và nền văn minh Babylonia sụp đổ.

Văn minh Phoenicia và Palestine

 

 

 

Bảng chữ cái Phoenicia

Phoenicia là một nền văn minh ở phía Bắc của Canaan cổ xưa, với trung tâm kéo dài suốt bờ biển của Liban và Syria ngày nay. Văn minh Phoenicia có một nền kinh tế buôn bán hàng hải dọc bờ biển Địa Trung Hải phát triển sớm từ thiên niên kỷ thứ 3 trước Công Nguyên. Người Phoenicia có một nền nông nghiệp sớm như đánh bắt cá, chăn nuôi, các loại cây trồng: ôliunho và lúa mì. Người Phoenicia rất gan dạ và can đảm, họ giỏi trong nghề hàng hải và buôn bán.

Dải đất Phoenicia nằm giữa các nền văn minh: Lưỡng HàAi CậpHy Lạp nên có rất nhiều điều kiện thông thương và phát triển. Họ làm chủ con đường buôn bán từ Đông sang Tây từ đầu thiên niên kỷ thứ 1 trước Công Nguyên cho đến thế kỷ thứ 6 TCN. Vào thời điểm này, con đường tơ lụa , hương liệu …từ  Bách Viêt ( ven biển dọc nam song Dương tử qua Trung cận đông đã hình thành. Từng đoàn lạc đà từ đó thồ sang chủ yêu là thảm và chở về là các mặt hàng tinh xảo đó.

Văn hóa của văn minh Phoenicia thường được xem như là trung gian chuyển tải giữa các nền văn minh lớn và họ cũng rất thành công trong các văn hóa nghệ thuật của mình. Nghệ thuật tạo hình của người Phoenicia có một chỗ đứng vững chắc và để lại nhiều ảnh hưởng lên vùng Trung Đông và Ả Rập… Tôn giáo của người Phoenicia gắn chặt với tôn giáo Lưỡng Hà và thần linh của người Phoenicia là vị thần Baal nổi tiếng hung ác và gây hại, nên người Phoenicia có tập tục phải làm lễ hiến tế vị thần này.

Thành tích nổi bật nhất của người Phoenicia là hệ thống chữ viết với bảng chữ cái Phoenicia. Ban đầu họ vay mượn chữ tượng hình của người Ai Cập và chữ hình nêm của người Lưỡng Hà để ghi chép, nhưng về sau họ giản lược đi chỉ còn 22 ký tự về sau trở thành 22 phụ âm và nguyên âm.     Công trình bảng chữ cái này được người Phoenicia phát minh ra trong khoảng từ thế kỷ 14 TCN đến thế kỷ 12 TCN. Trong quá trình giao lưu, buôn bán, hệ thống chữ cái này được truyền vào Hy Lạp cổ đại và từ đó hệ thống chữ cái phát triển thành nhiều nhánh khác nhau.

     Israel và Judah cổ xưa

 

 

1759 bản đồ phân định của Israel

Có rất nhiều nguồn về các tài liệu cổ và hiện dại có nói đến lịch sử của Israel và Judah. Ví dụ, những văn bản như Kinh Cựu Ước (Tanakh), tập hợp Talmud của người Do Thái, những bản viết của Nicolaus, của Damascus… Phát hiện khảo cổ đã khám phá ra các chứng cứ và vết tích lien quan giữa người Ai Cập cổ đại, người Assyria và người Babylon.

Palestine như là một vùng nhiều xung đột về cách viết và quan điểm. Nhưng một thực tế không thể chối cãu rằng vùng này cũng là một trung tâm văn minh cổ có lịch sử gắn liền với nhiều trung tâm văn minh khác ở vùng Trung Cận Đông và Đại Trung Hải.

Khởi đầu nó được nhắc đến trong  Kinh Cựu Ước là vào năm 1800 TCN, tức là thời kỳ của Abraham  và Shem.

Sau dố là thời kỳ 12 bộ lạc của Israel tiếp đến là thời kỳ Ai Cập cổ đại thống trị từ năm 1630 TCN ( triều đại Hyksos ). Sự cai trị của người Ai Cập cổ khiến người Do Thái rời bỏ đất Israel   (sự kiện Exodus). Họ di cư đến Canaan vào khoảng1200 TCN và chiếm được một lãnh thổ rộng lớn ở vùng SyriaLiban và Judar.

Năm 922 TCN Vương quốc Israel bị chia cắt, Judar ở về phía Nam của vương quốc. Về sau Vương quốc Israel bị sụp đổ bởi người Assyria vào năm 721 TCN.

    Như vậy, văn minh Lưỡng hà vẫn tồn tại một bí ẩn là tại sao chỉ trong “khoảnh khắc”, người Sumer trở nên thông minh và sáng tạo ra một nền văn minh không thua kém bất kỳ nền văn minh nào ở thế kỷ 20 này.

Theo lịch sử thì người Samuier “đột nhiên” xuất hiện nhưng cũng “đột nhiên” biến mất khỏi hạ du sông Tigre  sông Euphrate. Từ khi nào họ đã phát minh” ra chữ hình nêm với kỹ thuật kiến trúc bảo tháp.

Điều này,  cho đến ngày nay chưa có nhà khoa học nào giải đáp là sự thách thức đối với các nhà khảo cổ học.

 

 

( Cột ghi những chữ hình nêm )

 

( hình đất nung người Sumer)

Theo các nhà lịch sử  các nhà khảo cổ học thì thành phố Samuier không chỉ là cội nguồn văn minh phương Đông cổ đại mà còn là cội nguồn của nền văn minh thế giới hiện đại.

Một điều nữa khiến các nhà khoa học đau đầu là tại sao thành phố Samuier nằm ở khu vực có môi trường tồi tệ – thời tiết khô hạn, nóng nực, sông nước hung hãn… không hề thích hợp với việc sinh sống của con người – lại là nền văn minh sớm nhất của con người  là cội nguồn của nền văn minh thế giới hiện đại?

 

 

 

 

Những chữ hình nêm và kiến trúc được người Samuier “phát minh”

 

Họ phát minh ra một nền văn minh rực rỡ như chữ viết  các loại kỹ thuật như: cày ruộng, xây dựng, tưới tiêu, pháp luật, thiên văn học, toán học  cả phương pháp quản lý dân chủ Nhà nước, thành phố… trong khoảng thời gian cực ngắn?.

 

Một thành phố văn minh đến không ngờ cách đây 4.000 năm

 

Gần đây, một nhà khoa học vVũ trụ Mỹ  tiến sỹ Thaytacasag cho rằng: “Văn minh Sumer đã dựa vào một loài sinh vật gọi là Oyanasi hình thể giống cá, có 2 đầu, chân tay tiếng nói giống như người. Chính loài sinh vật này đã dạy người Sumer văn hóa, nghệ thuật, khoa học, pháp luật, kiến trúc, nguyên lý hình học, hái lượm hoa quả, phân biệt thực vật… ”.

Tuy nhiên, lý giải trên không được chấp nhận bởi không có cơ sở khoa học mà chỉ như một câu chuyện cổ tích.

Còn nhà ngôn ngữ học kiêm nghiên cứu lịch sử cổ đại Trung Đông quốc tịch Mỹ tên là Caglia Xijin, giải thích: “Cội nguồn nền văn hóa Sumer có thể là dựa vào sự giúp đỡ của người ngoài hành tinh bởi nhân một lần bị người ngoài hành tinh xâm chiếm, biến thành đất thuộc địa, nền văn minh Sumer chính là di sản văn hóa của họ được giữ lại trên mảnh đất thuộc địa này”.

Nhưng giải thích của Caglia Xijin cũng không được chấp nhận bởi thoạt nghe đã thấy không… thật. Dù hiện có rất nhiều câu chuyện về việc có người ngoài hành tinh nhưng sự đổ bộ lên quả đất vẫn chưa được người ta tin.

Cuối cùng, cội nguồn của nền văn minh này dù có nhiều lý giải khác nhau nhưng câu trả lời cuối cùng vẫn chưa xuất hiện  nhân loại thế giới vẫn phải chờ các nhà khảo cổ, nhà khoa học, nhà lịch sử tiếp tục khảo sát  nghiên cứu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s