Docago.wordpress.com CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY số 74 : Đỗ Anh Thơ : Văn minh sông Hoàng ( tiếp theo) và văn minh sông Dương tử

                     Tiền văn minh lưu vực Hoàng hà chứa đựng những truyền thuyết và dọc lưu vực sông Hoàng có rất nhiều công trình kiến trúc vĩ đại. Ta có thể kể:

1.      Vạn Lý Trường Thành (: 萬里長城 ) có nghĩa là “Thành dài vạn dặm) là bức tường thành nổi tiếng của Trung Quốc liên tục được xây dựng bằng đất và đá từ thế kỷ 5 TCN cho tới thế kỷ 16, để bảo vệ Đế quốc Trung Quốc khỏi những cuộc tấn công của người Mông Cổngười Turk, và những bộ tộc du mục khác đến từ những vùng hiện thuộc Mông Cổ và Mãn Châu. Một số đoạn tường thành được xây dựng từ thế kỷ thứ 5 TCN, trong đó nổi tiếng nhất là phần tường thành do Hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc là Tần Thủy Hoàng ra lệnh xây từ năm 220 TCN và 200 TCN, nằm ở phía bắc xa hơn phần Vạn Lý Trường Thành hiện nay của Trung Quốc xây dưới thời nhà Minh, và hiện chỉ còn sót lại ít di tích.

Bức thành trải dài 6.352 km , từ Sơn Hải Quan trên bờ Biển Bột Hải ở phía đông, tại giới hạn giữa Trung Quốc bản thổ (“đất Trung Quốc gốc”) và Mãn Châu, tới Lop Nur ở phần phía đông nam Khu tự trị người Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương.

Trường thành dưới thời nhà Tần. Đỏ: thành, Cam: ranh giới quốc gia của Trung Quốc ngày nay.

Trường thành dưới triều Hán.

Tần Thủy Hoàng

Trường thành dưới thời nhà Minh.

Vạn Lý Trường Thành vào mùa đông, đoạn gần Bắc Kinh

Tranh vẽ Vạn Lý Trường Thành vào năm 1900

 Vạn lý trường thành là một tường thành có tính chất phòng thủ biên giới phía bắc được xây dựng và duy trì bởi nhiều triều đại trong nhiều khoảng thời gian trong lịch sử Trung Quốc. Mục đích chính của nó là bảo vệ người Trung Quốc khỏi sự di cư của người Mông Cổ và người Thổ Nhĩ Kỳ. Có năm đoạn thành chính:

208 TCN (nhà Tần)

thế kỷ thứ 1 TCN (nhà Hán)

thế kỷ thứ 7 (nhà Tùy)

1138 – 1198 (Thời Nam Tống)

1368 – 1640 (từ vua Hồng Vũ đến vua Vạn Lịch của nhà Minh)

Đoạn tường thành chính đầu tiên được xây dựng dưới thời cai trị của Tần Thuỷ Hoàng, vị Hoàng đế đầu tiên của nhà Tần với thời gian tồn tại ngắn ngủi. Bức tường này không được xây dựng bởi nỗ lực của một nhóm mà là việc ghép nối nhiều đoạn tường thành của các vùng, từng được xây dựng ở thời Chiến Quốc, vào nhau. Bức tường được nối vào nhau ở thời gian đó làm bằng đất nện với những tháp canh được xây ở các khoảng cách đều nhau. Nó nằm xa hơn về phía bắc so với Vạn lý trường thành hiện tại với điểm cực đông nằm ở Bắc Triều Tiên hiện nay. Chỉ còn ít phần của nó còn sót lại – các bức ảnh cho thấy những ụ đất thấp, dài.

Triều đình bắt người dân phải làm việc để đắp thành, và các công nhân luôn bị nguy hiểm vì có thể bị bọn cướp tấn công. Bởi vì có nhiều người đã chết khi xây dựng thành, nó được đặt cho cái tên khủng khiếp, “Nghĩa địa dài nhất Trái đất”. Có lẽ khoảng một triệu công nhân đã chết khi xây dựng bức tường thành.

Bức tường dài tiếp theo được nhà Hán, nhà Tùy, và giai đoạn Thập Quốc xây dựng tiếp với cùng kiểu thiết kế. Nó được làm bằng đất nện với nhiều tháp canh nhiều tầng được xây cách nhau vài dặm. Các bức tường thành cũng đã bị hư hại nhiều và đã lẫn vào phong cảnh xung quanh, bị ăn mòn bởi gió và nước mưa.

Về mặt quân sự, những bức tường này có ý nghĩa về mặt phân chia ranh giới hơn là công sự bảo vệ có giá trị. Chắc chắn rằng chiến lược quân sự của Trung Quốc không diễn ra quanh việc giữ vững bức tường thành.

Vạn Lý Trường Thành ngày nay được xây ở thời nhà Minh, bắt đầu khoảng năm 1368 và kết thúc khoảng năm1640. Mục đích đầu tiên của bức tường là để ngăn bước những giống người bán du mục phía bên ngoài (như người Mông Cổ).

Vạn Lý Trường Thành thời nhà Minh bắt đầu từ điểm phía đông tại Sơn Hải Quan, gần Tần Hoàng Đảo, ở tỉnh Hà Bắc gần Vịnh Bột Hải. Kéo dài qua chín tỉnh và 100 huyện, 500km cuối cùng vẫn còn nhưng đã thành những đống gạch vụn, và hiện nay nó kết thúc ở điểm cuối phía tây di tích lịch sử Gia Dục Quan (嘉峪关), nằm ở phía tây bắc tỉnhCam Túc tại biên giới với Sa mạc Gobi và những ốc đảo của Con đường tơ lụa. Gia Dục Quan được xây để tiếp đón những nhà du hành dọc theo Con đường tơ lụa. Mặc dù Vạn Lý Trường Thành kết thúc ở Gia Dục Quan, tại đó có rất nhiều “phong hoả đài” (烽火台) trải dài về phía Gia Dục Quan dọc theo Con đường tơ lụa. Những đài quan sát đó dùng dấu hiệu bằng khói để cảnh báo có xâm lược.

Năm 1644người Mãn Kokes vượt qua bức tường thành nhờ dụ hàng được Ngô Tam Quế mở cửa  Sơn Hải Quan để cho người Mãn Châu vượt qua. Truyền thuyết kể rằng quân Mãn Châu mất ba ngày mới vượt hết qua đèo. Sau khi người Mãn Châu chinh phục Trung Quốc, bức tường thành không còn giá trị chiến lược nữa, đa phần bởi vì người Mãn Châu đã mở rộng quyền kiểm soát chính trị của họ ra xa phía bắc, còn xa hơn cả triều Trung Quốc trước đó.

Gia Dục Quan đang được sửa chữa

Bức tường thành được bổ sung những điểm đóng quân bảo vệ, để những người lính bảo vệ có thế rút lui nếu quân địch quá đông.

Các vật liệu được sử dụng là những thứ có sẵn gần nơi xây dựng. Gần Bắc Kinh bức tường được làm bằng những khối đá vôi khai thác tại mỏ. Ở những nơi khác có thể là đá granite hay gạch nung. Nếu sử dụng những vật liệu đó, đầu tiên họ dựng hai bức tường sau đó nén đất và gạch đá vào giữa cùng một lớp phủ cuối cùng bên ngoài để tạo thành một khối duy nhất. Ở một số vùng các khối đó được gắn với nhau bằng một hỗn hợp chất dính của gạo và lòng trắng trứng.

Bức tường thành nằm trong các danh sách “Bảy kỳ quan thời Trung cổ của Thế giới”, nhưng nó không nằm trong danh sách truyền thống Bảy kỳ quan thế giới mà người Hy Lạp cổ đại công nhận, chỉ nằm quanh vùng Địa trung hải.

Nó được công nhận là Di sản thế giới của UNESCO năm 1987.

Người Trung Quốc có câu nói 不到长城非好汉, (Bất đáo Trường Thành phi hảo hán) nghĩa là chưa đến trường thành chưa phải là hảo hán. Câu này đã được khắc bia tại trường thành.

Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc trong một hình radar màu giả chụp từ phi thuyền không gian vào tháng 4, 1994

Trong cuốn sách Cuốn sách thứ hai về những kỳ quan của Richard Halliburton năm 1938 có nói Vạn Lý Trường Thành là vật nhân tạo duy nhất có thể nhìn thấy được từ Mặt Trăng, và một truyện tranh tên là “Tin hay không tin của Ripley” ở thời gian đó cũng đưa ra tuyên bố tương tự. Niềm tin này kéo dài và trở thành một truyền thuyết đô thị, thỉnh thoảng thậm chí xuất hiện cả trong những cuốn sách giáo khoaArthur Waldron, tác giả cuốn lịch sử Vạn Lý Trường Thành đáng tin cậy nhất trong mọi ngôn ngữ đã chỉ ra rằng sự tin tưởng vào việc Vạn Lý Trường Thành có thể nhìn thấy được từ mặt trăng cũng giống như sự phấn khích của một số người khi tin rằng có những “kênh đào” trên bề mặt Sao Hỏa vào cuối thế kỷ 19. Trên thực tế, nó không thể nhìn thấy bằng mắt thường nếu không có kính viễn vọng đặt ở Mặt Trăng, chưa nói đến nhìn từ Sao Hỏa.

Khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trăng dài một nghìn lần lớn hơn khoảng cách từ Trái Đất đến con tàu vũ trụ bay trên quỹ đạo gần Trái Đất. Nếu Vạn lýtrường thành có thể nhìn thấy được từ Mặt Trăng, thì sẽ dễ dàng nhìn thấy nó từ quỹ đạo gần Trái Đất. Trên thực tế, từ quỹ đạo gần Trái Đất, nó rõ ràng là hơi thấy được, và chỉ trong những điều kiện tốt. Và nó cũng không rõ rệt hơn nhiều vật thể khác do con người tạo ra.

Một nhà du hành tàu con thoi thông báo rằng “chúng tôi có thể thấy những vật nhỏ như những đường băng sân bay nhưng Vạn Lý Trường Thành hầu như không nhìn thấy được từ khoảng cách 180 dặm Anh (290 km) trở lên.” Nhà du hành vũ trụ William Pogue cho rằng ông đã thấy nó từ Skylab nhưng thực tế ông đang nhìn vào Đại Vận Hà gần Bắc Kinh. Ông phát hiện ra Vạn Lý Trường Thành với ống nhòm, nhưng nói rằng “nó không thể nhìn thấy được bằng mắt thường nếu không có thiết bị hỗ trợ.” . Nhà du hành vũ trụ Dương Lợi Vĩ người Trung Quốc sau 21,5 giờ bay vòng quanh Trái Đất đến 14 lần, trở lại mặt đất đã xác minh trên truyền hình là không nhìn thấy được Vạn Lý Trường Thành từ không gian. Điều này dẫn đến việc Trung Quốc phải đính chính lại sách giáo khoa đã đăng thông tin này.

2.- Thập tam lăng

Lối vào Thập tam lăng.

Thập Tam Lăng triều Minh là quần thể lăng mộ 13 vua đời Minh (13681644), cách Bắc Kinh 50 km về phía tây bắc. Thập Tam Lăng được xây dựng từ năm 1409 cho đến 1644, rộng trên 40 km vuông với tường thành bao bọc dài 40 km. Mỗi lăng mộ toạ lạc trên một gò cao và nối với lăng mộ khác bằng lối đi gọi là “thần đạo”. Hai bên thần đạo có hai hàng tượng lính gác, lạc đà, voi, và quái thú bằng đá để canh giữ lăng. Cổng đá vào lăng xây năm 1540, cao 14 mét, và rộng 19 mét.

3.- Cố cung

Tử Cấm Thành (紫禁城) Bắc KinhTrung Quốc hay Cố Cung (故宮) (theo cách gọi ngày nay), nằm ngay giữa trung tâm thành phố Bắc Kinh trước đây, là cung điện của các triều đại từ giữa nhà Minh đến cuối nhà Thanh Trung Quốc. Viện bảo tàng nằm trong Cố Cung được gọi là Viện bảo tàng Cố Cung (故宫博物院, Cố cung bác vật viện). Diện tích Tử Cấm Thành là 720.000 m², gồm 800 cung và 8.886 phòng. Do đó, UNESCOđã xếp Cố Cung vào loại quần thể cổ bằng gỗ lớn nhất thế giới và được công nhận là Di sản thế giới tại Trung Quốc vào năm 1987 với tên gọi làCung điện triều Minh và triều Thanh tại Bắc Kinh và Thẩm Dương . Khu Tử Cấm Thành tọa lạc tại chính nam của Quảng trường Thiên An Môn. Có thể đi vào Cố Cung qua Thiên An Môn. Tử Cấm Thành được hoàng thành bao bọc xung quanh.

Tử Cấm Thành được thiết kế bởi nhiều kiến trúc sư và nhà thiết kế. Kiến trúc sư trưởng là Thái Tín và thái giám Nguyễn An, một người Việt Nam đã nói ở trên.

Một số hình ảnh về cố cung

Nhắc đến Hoàng Hà soạn giả không thể không đưa ra một bài thơ để kết thúc chương này. Đó là bài  Tương tiến tửu ( mời rượu ) của Lý Bạch, nó chứa đầy tính nhân văn, tình  bạn và tư tưởng Lão Trang.

李白  將進酒
1   君不見                Quân bất kiến
2   黃河之水天上來  Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai
3   奔流到海不復回  Bôn lưu đáo hải bất phục hồi
4   君不見                Quân bất kiến

5   高堂明鏡悲白髮  Cao đường minh kính bi bạch phát
6   朝如青絲暮成雪  Triêu như thanh ty mộ thành tuyết
7   人生得意須盡歡  Nhân sinh đắc ý tu tận hoan
8   莫使金樽空對月  Mạc sử kim tôn không đối nguyệt
9   天生我材必有用  Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng
10  千金散盡還復來  Thiên kim tán tận hoàn phục lai
11  烹羊宰牛且為樂  Phanh dương tể ngưu thả vi lạc
12  會須一飲三百杯  Hội tu nhất ẩm tam bách bôi
13  岑夫子                Sầm phu tử
14  丹丘生                Đan Khâu sinh
15  將進酒                Tương tiến tửu
16  君莫停                Quân mạc đình
17  與君歌一曲         Dữ quân ca nhất khúc
18  請君為我側耳聽  Thỉnh quân vị ngã trắc (khuynh) nhĩ thính
19  鐘鼓饌玉不足貴  Chung cổ soạn ngọc bất túc quý
20  但願長醉不願醒  Đản nguyện trường túy bất nguyện tỉnh
21  古來聖賢皆寂寞  Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch
22  惟有飲者留其名  Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh
23  陳王昔時宴平樂  Trần vương tích thời yến Bình Lạc
24  斗酒十千恣讙謔  Đẩu tửu thập thiên tứ hoan hước
25  主人何為言少錢  Chủ nhân hà vi ngôn thiểu tiền
26  徑須沽取對君酌  Kính tu cô thủ đối quân chước
27  五花馬                Ngũ hoa mã
28  千金裘                Thiên kim cầu
29  呼兒將出換美酒  Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu
30  與爾同消萬古愁  Dữ nhữ đồng tiêu vạn cổ sầu

Dịch
Anh chẳng thấy Hoàng Hà nước nọ
Tự trên trời chảy đổ ra khơi
Ra khơi thôi thế là thôi
Về nguồn trở lại có đời nào đâu
Anh chẳng thấy nhà cao gương sáng
Những buồn tênh vì mảng tóc thưa
Sớm còn xanh mượt như tơ
Tối đà như tuyết bạc phơ bời bời
Khi đắc ý cứ chơi cho phỉ
Dưới vầng trăng đừng để chén không
Có thân âu hẳn có dùng
Ngàn vàng tiêu hết lại hòng kiếm ra
Trâu dê mổ tiệc hoa trần thiết
Ba trăm chung cạn hết một lần
Sầm phu tử Dan Khâu quân
Rượu kèo xin chớ ngại ngần uống ngay
Hát nột khúc vì ai an ủy
Lắng tai nghe ý vị khôn cùng
Quý gì soạn ngọc cổ chung
Muốn say say mãi tỉnh không thú gì
Bao hiền thánh xưa kia lặng lẽ
Chí anh say tiếng để đời đời
Trần vương Bình Lạc mua vui
Mười ngàn đấu rượu chơi bời thỏa thuê
Chủ ông hỡi chớ e tiền ít
Mua rượu về chén tít cùng ta
Cừu thiên kim ngựa ngũ hoa
Đem đi đổi rượu khề khà uống chơi
Sầu đâu dằng dặc muôn đời

Trần Trọng Kim (dịch)

Chương 5..- Trường Giang : Mênh mông chỉ thấy dòng sông bên trời .

 Trường Giang ( 長江) hay sông Dương Tử (扬子江) là con sông dài nhất châu Á và đứng thứ ba trên thế giới sau sông Nile ở châu Phisông Amazon ở Nam Mỹ.

Sông Trường Giang dài khoảng 6.385 km, bắt nguồn từ phía tây Trung Quốc – tỉnh (Thanh Hải) và chảy về phía đông đổ ra Nam Hải, Trung Quốc.


Diễn tiến nền văn minh lưu vực song Dương tử.Tên gọi Dương Tử nguyên thủy là tên gọi của người dân khu vực hạ lưu sông này để chỉ khúc sông chảy qua đó. Vì được phổ biến qua những nhà truyền giáo châu Âu nên tên “Dương Tử” đã được dùng trong tiếng Anh để chỉ cả con sông (Yangtse, Yangtze Kiang). Con sông này đôi khi còn được họ gọi là Thủy lộ Vàng (Golden Waterway).

Trường giang mang nhiều tên khác nhau tùy theo khu vực mà nó chảy qua. Ở cao nguyên Thanh TạngTây Tạng, nó được gọi là Vbri-chu (འབྲི་ཆུ་ trong tiếng Tây Tạng, nghĩa là “dòng sông bò yak cái”). Ở thượng nguồn, thuộc tỉnh Thanh Hải nó được gọi là Đà Đà hà (沱沱河), Đương Khúc hà (當曲河), Thông Thiên hà (通天河). Đoạn từ Thanh Hải chảy đến Nghi Tân tỉnh Tứ Xuyên được gọi là Kim Sa giang (金沙江). Đoạn từ Nghi Tân đến Nghi Xương được gọi là Xuyên giang (川江). Đoạn từ Nghi Đô tỉnh Hồ Bắc đến Nhạc Dương tỉnh Hồ Nam được gọi là Kinh giang (荊江) (xưa là đất Kinh Châu). Cuối cùng, khi chảy qua khu vực Dương Châu tỉnh Giang Tô nó mới được gọi là Dương Tử giang (揚子江). Như vậy con song ở vùng Thanh Tang được gọi là Hà. Tới dươi Tứ Xuyên vùng người Bách Việt sinh sống nó mới mang tên giang. Chữ “giang” (江) âm Hán cổ của 江 là “kroong” có nguồn gốc phát âm từ các ngôn ngữ trong hệ ngôn ngữ Nam Á (như ” Kraong” trong tiếng Champa hay “krung” trong tiếng Môn cổ, như “sông” của Việt Nam.

 Chiều dài, lượng nước chảy, diện tích, lưu vực của Trường giang ảnh hưởng rất lớn kinh tế đến Trung Quốc từ xưa cho tới nay. Từ vùng cao nguyên tỉnh Thanh Hải, chảy về hướng nam, dọc theo ranh giới cao nguyên Tây Tạng vào địa phận tỉnh Vân Nam, sau đó rẽ sang hướng đông bắc vào tỉnh Tứ Xuyên, qua các tỉnh Hồ BắcGiang TâyAn Huy và Giang Tô rồi đổ ra biển ở giữa Hoàng Hải và Nam Hải.

 Đến tháng 6 năm 2003 công trình đập Tam Hiệp đã nối liền hai bờ song này.

Con sông này cũng là nơi sinh sống duy nhất của một số động vật trong danh sách đỏ như cá heo sông Trung Quốc (năm 1998 chỉ còn khoảng 7 con) hay cá kiếm Trung Quốc (cá tầm thìa).

 Trường Giang là đầu mối giao thông quan trọng của Trung Quốc. Nó nối liền Trung Hoa lục địa với bờ biển. Việc vận chuyển trên sông rất đa dạng từ vận chuyển than, hàng hóa tiêu dùng và hành khách. Các chuyến tàu thủy trên sông trong vài ngày sẽ đưa ta qua các khu vực có phong cảnh đẹp như khu vực Tam Hiệp ngày càng trở nên phổ thông hơn làm cho du lịch Trung Quốc phát triển.

Những trận ngập lụt dọc theo hai bờ sông đã từng là vấn đề lớn, lần gần đây nhất là năm 1998, nhưng gây thảm họa lớn hơn cả là năm 1954Trận ngập lụt sông Dương Tử này đã giết chết khoảng 30.000 người. Những trận ngập lụt nặng nề nhất diễn ra năm 1911 giết chết khoảng 100.000 người, năm 1931 (145.000 người chết) và năm 1935 (142.000 người chết).

Các thành phố nổi tiếng dọc bờ sông

Nghi Tân, Lô Châu, Trùng Khánh, Phong Đô, Nghi Xương (Bạch Đế Thành), Sa Thị tức Kinh Châu cũ

Trấn Giang,Vũ Hán( Hán Dương, Hán Khẩu và Vũ Xương hợp thành), Cửu Giang, Tô Châu, Quý Trì, Nam Kinh, Thượng Hải

Một số sông nhánh

Đà Giang, Tương Giang, Hán Thủy, Nhã Lung Giang, Mạnh Giang, Gia Lăng Giang, Ô Giang, Cám Giang, Tư Thủy, Dân Giang,

Các hồ nổi tiếng

Hồ Động Đình gắn với tên tuổi nhiều nhà thơ nổi tiếng như Thôi HiệuLý Bạch

Đồng bằng Giang Nam

Văn minh sông Dương tử: Nói tới văn minh lưu vực song Dương tử là ta nói đến nền vưn minh của Bách Việt với đặc trưng là chữ viết hình khối, hình tượng biểu đạt  tư duy theo trục tung (chồng lên nhau), khái niệm về âm dương (sinh thực khí nam nữ), văn minh phong thủy, bói toán theo mai rùa, 8 quẻ Dịch chồng lên nhau thành 64 quẻ, thờ cúng thần linh và tổ tiên, chôn người chết bằng chum hoặc cây gỗ được khoét rỗng,  làm thuyền độc mộc, xây dựng đền chùa bằng gỗ…kỹ thuật đúc đồng ( trống đồng…) Họ tiếp thu tôn giáo Đạo Phật từ Nepan, Ấn Độ Tây tạng…truyền sang( phái đại thừa) và hòa nhập với Thiền , Lão và đạo Nho.

Bách Việt bao hàm các dân tộc Việt cổ không bị Hán hóa

hoặc bị Hán hóa mà một phần đã từng sống ở vùng đất mà ngày nay thuộc lãnh thổ phía nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam giữa thiên kỷ I TCN và thiên niên kỷ I CN.

Theo nghiên cứu về di truyền, ban đầu ở đây là chủng người hải đảo

( Australoit) sinh sống. Các bộ tộc du muc ( Mongoloit) từ phương bắc đã tràn xuống đây và quá

trình hòa huyết giữa Bách Việt và Hán diễn ra đã trên 2000 năm

đi liền với sự xâm chiếm đất đai. Việt là từ cổ chỉ vùng đất mà các

dân tộc này đã sinh sống. Trong tiếng Trung Quốc cổ, các chữ

yue (越, 粵, 鉞) đã thường được dùng thay thế nhau cho nghĩa

“Việt”. Từ Bách Việt lần đầu tiên thấy chép là trong Sử Ký

(Ngô Khởi Truyện) của Tư Mã Thiên. Văn minh Bách Việt rực

rõ nhất là nghề trồng lúa, nuôi tằm, kỹ thuật dệt tơ lụa là làm

đồ gốm sứ, chế tác đồ     đồng…Là vùng thời tiết gió lạnh

khô sa mạc giao tranh với gió xích đạo gây nên bão lũ ngập

nươc nên các công trình gỗ đã bị hủy hoại nhanh và bị vùi dưới

các lớp phù sa ( tầng văn hóa). Hiện ta chỉ còn khai quật tìm được

những hiện vật bằng đồng( như trống đồng) đất nung( sành sứ) bia

đá nữa mà thôi, nên hầu hết chỉ còn biết căn cứ vào ghi chép của

người Hán, nên độ tin cậy không lớn.

Bình gốm có vân khắc hình con quỳ

Sách Hán thư (漢書) viết: “Trong vòng bảy hoặc tám nghìn dặm từ Giao Chỉ tới Cối Kê (thuộc vùng Bắc Chiết Giang), ở đâu cũng có Bách Việt, mỗi nhóm có các thị tộc của mình.” Nhà sử học Trung Quốc La Hương Lâm (羅香林) đã cho rằng các dân tộc này có cùng tổ tiên với nhà Hạ. Tuy nhiên, các di chỉ khảo cổ học có niên đại thuộc thời đại Đồ Đá Mới (Neolithic) tại Quảng Tây và ở miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là các ngôi mộ chum được tìm thấy  thổ dân bản xứ có nguồn gốc ở phía Nam và có quan hệ gần gũi với các nền văn hóa Hòa Bình (9000-5600 TCN) và Bắc Sơn (8300-5900 TCN) ở Việt Nam .

Các nhà ngôn ngữ dân tộc học cho rằng phát âm của từ 越 (Việt, Yue, Yueh) có thể có liên quan đến một loại sợi cây gai dầu (hemp) được làm tại nơi này.  Việt (越) cũng có liên quan đến chữ “việt” (鉞 – cái rìu lớn, một thứ binh khí thời xưa), thường được coi là biểu tượng của hoàng gia hoặc quyền lực hoàng đế. Nhiều rìu đá đã được tìm thấy tại vùng Hàng Châu, và còn có bằng chứng đó là một phát minh của vùng đất phía Nam. Cổ sử Trung Quốc gọi tên là Việt lần đầu tiên trong lịch sử, Việt là tên một loại vũ khí độc đáo của người Việt cổ đồng thời cũng có nghĩa là vượt, vượt sông Hoàng Hà xuống lưu vực phía Nam. Các sách cổ nói đến nhiều nhóm người Việt, trong đó có Câu  Ngô (句吳), Ư  Việt (於越), Dương Việt (揚越), Mân Việt (閩越), Nam Việt (南越), Đông Việt(東越), Sơn Việt (山越), Lạc Việt (雒越, người Việt Nam ngày nay) và Âu Việt (甌越, hay còn gọi là Tây Âu – 西甌). Đa số những cái tên này tồn tại được đến các thời đế chế sơ khai ở Trung Quốc và có thể được giải thích gần đúng là các nhóm văn hóa.

Theo huyền sử Việt Nam, một trăm người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ là tổ của các dân tộc Bách Việt. Lãnh thổ nước Văn Lang (hay Lĩnh Nam) của các vua Hùng cũng trùng với vùng đất Bách Việt .Cổ sử và truyền thuyết tổ của người Lạc Việt bắt nguồn từ vùng Động Đình Hồ, nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, và địa bàn sinh sống lan rộng xuống tận vùng Bắc Trung Bộ của Việt Nam ngày nay. Sử sách của Việt Nam cũng chỉ trích dẫn từ các truyền thuyết này. Nguồn cổ sử duy nhất có nói đến Lạc Việt là một số rất ít các sách cổ của Trung Quốc, và các sách này cũng chỉ ghi lai rất ít thông tin.

Tài liệu cổ nhất viết về Lạc Việt là Giao Châu Ngoại Vực Ký (thế kỷ 4), được sách Thủy Kinh Chú (thế kỷ 6) dẫn lại như sau:

“Thời xưa khi Giao Chỉ chưa có quận huyện, thì đất đai có Lạc Điền, ruộng ấy là ruộng (cầy cấy) theo con nước thủy triều. Dân khai khẩn ruộng ấy mà ăn nên gọi là Lạc Dân. Có Lạc Vương, Lạc Hầu làm chủ các quận huyện. Ở huyện phần đông có Lạc Tướng. Lạc Tướng có ấn bằng đồng, (đeo) giải (vải mầu) xanh. Về sau con vua Thục đem ba vạn lính đánh Lạc Vương Lạc Hầu, thu phục các Lạc Tướng. Con vua Thục nhân đó xưng là An Dương Vương

Sử ký Tư Mã Thiên, Nam Việt Úy Đà liệt truyện, có nói về chuyện Triệu Đà thôn tính vùng đất phía Nam, trong đó có nước Âu Lạc – quốc gia do vua An Dương Vương thống nhất và được cho là sự hợp nhất của hai nhóm Lạc Việt và Âu Việt.

Đặc điểm và phân loại. Giới cổ sử học phân ra như sau

Trống đồng Nam Việt lấy từ mộ số 1 La Bạc Loan, Quảng Tây.

Trống đồng là biểu trưng quyền lực quốc gia của các tộc Bách Việt.

Đông Âu, sống ở vùng trước là lãnh thổ của các nước Ngô và Việt (ngày nay là vùng Ôn Châu (溫州), Chiết Giang, Trung Quốc)

Mân Việt, cũng nằm trong lãnh thổ cũ của nước Việt (tỉnh Phúc Kiến ngày nay), được cho là tổ tiên của người Mân ở Trung Quốc hiện đại (những người nói tiếng Mân Nam)

Nam Việt, trong địa bàn tỉnh Quảng Đông ngày nay, về sau phát triển vào địa bàn tỉnh Quảng Tây và vùng phía Nam. Họ được cho là tổ tiên của người Quảng Đông hiện đại.

Tây Âu, trong vùng ngày nay là miền Tây tỉnh Quảng Đông và miền Nam tỉnh Quảng Tây

Lạc Việt, khu vực miền Bắc Việt Nam ngày nay, là tổ tiên của người Việt Nam hiện đại.

Cho đến gần đây, các học giả Trung Quốc mới bắt đầu cố gắng phân biệt các nhóm một cách nghiêm túc hơn. Trong khi nhiều học giả vẫn dựa quá nhiều vào việc trích dẫn các sách cổ, các kết quả khảo cổ học gần đây đã bắt đầu đơn giản hóa quá trình phân tích.

Tuy nhiên, không phải tất cả các đặc điểm trên đều có ở mỗi nhóm tộc Việt. Chẳng hạn, người Việt ven biển phía Nam Trung Quốc, phía Đông Nam Trung Quốc, cũng như ở Việt Nam, sử dụng rìu đá có vai, còn người ở vùng biển phía Bắc và xa phía Tây Nam Trung Quốc thì không.

Một số nhà nghiên cứu cho rằng cách phân chia hữu ích nhất là chia các tộc Việt thành hai nhánh:

Nhóm Bắc, phân bố khắp vùng Trung và Bắc Quảng Đông, nối với vùng Bắc và Đông Quảng Tây, và trong thời kỳ đầu còn trải dài lên phía Bắc tới Phúc KiếnGiang TâyChiết Giang và Nam Giang Tô.

Nhóm Nam, với địa bàn trải dài tới vùng mà ngày nay là Tây Nam Quảng Đông, Nam và Tây Quảng Tây, và Bắc Việt Nam.

Các kết quả khảo cổ học có hỗ trợ cho cách phân chia đơn giản này. Các cổ vật đặc trưng cho nhóm thứ nhất, nhóm Bắc, bao gồm đồ gốm hình học (geometric pottery), xẻng đá lớn (large stone shovel), và đồ đồng kiểu Sở. Đặc điểm của nhóm thứ hai, nhóm Nam, là các đồ đồng kiểu tây nam, việc sử dụng các loại dụng cụ đồ đá đa dạng, hầu như không thấy đồ gốm hình học và rìu đá lớn. Nhóm phía Nam bắt đầu từ Việt Nam và kéo dài theo vùng ven biển lên tới Quảng Đông.  Phát triển từ các nhóm văn hóa thời Đồ Đá Cũ bản địa, sự tiếp nối của nhóm này đã được ghi nhận. Đó là các xã hội phát triển cao với một nền tảng nông nghiệp và một bộ đầy đủ các loại đồ gốm và đồ đá. Một điểm khác biệt rõ nét khác để phân tách hai nhóm chính là sự phát triển của một trong những loại cổ vật quan trọng nhất của khu vực: trống đồng được tìm thấy chủ yếu ở các vùng Vân Nam, Quảng Tây, và miền Bắc Việt Nam.

Hướng tới một phân loại cụ thể hơn, các nhà học giả khác đã sử dụng cách chia ba để phân tách các nhóm văn hóa Việt. Ba nhóm này bao gồm:

Nhóm Nam Việt: phân bố tại miền Trung và miền Bắc Quảng Đông, và trong thời kỳ đầu còn bao gồm cả Phúc KiếnChiết Giang, và Nam Giang Tô. (trùng với nhóm Bắc của cách chia đôi)

Nhóm Tây Âu, còn gọi là Âu Việt (甌越): phân bố ở các vùng Quế Giang (桂江) và Tây Giang (西江) của Quảng Tây.

Nhóm Lạc Việt: phân bố ở Tây Nam Quảng Đông kéo tới Đông Nam Quảng Tây và Bắc Việt Nam.

Tuy hai nhóm Tây Âu (phía Tây Nam) và Lạc Việt (phía Đông Nam) có thể xếp vào một nhóm khi phân biệt với nhóm Việt phía Bắc, giữa hai nhóm này cũng có những điểm khác biệt quan trọng về cấp độ phát triển. Địa lý là một nhân tố quan trọng để giải thích sự khác biệt này. Phía Tây là vùng đồi núi, do đó, giao thông liên lạc khó khăn và các đa dạng địa phương có thể được bảo tồn lâu dài hay tiếp tục phát triển. Ở miền Đông Nam và các khu vực ven biển, giao thông liên lạc dễ dàng hơn, do đó, sự thâm nhập của các văn hóa bên ngoài cũng dễ dàng hơn, và theo thời gian, các đa dạngvăn hóa địa phương có xu hướng phát triển về phía một dạng văn hóa chung. Theo các kết quả khảo cổ học, tuy chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi các nhóm văn hóa vùng Đông Nam Trung Quốc và ViệtNam, các nhóm văn hóa vùng Tây Nam Trung Quốc thể hiện các khác biệt địa phương nổi bật cho thấy một giai đoạn phát triển thấp hơn, đặc biệt về kinh tế nông nghiệp.

Dòng di cư của người Hán và thôn tính đất đai

Kiếm bằng đồng xanh có hình đầu người của Lạc Việt

 

Từ thế kỷ 9 trước Công nguyên, hai nhóm Việt ở phía Bắc, Câu Ngô và Ư Việt, bị ảnh hưởng ngày càng nhiều bởi láng giềng Trung Hoa ( Người Hán) ở phía Bắc. Hai nước này, một nước có lãnh thổ ở phía Nam Giang Tô, nước kia ở vùng Bắc Chiết Giang. Giới quý tộc lãnh đạo học chữ Hán, tiếp nhận các thể chế chính trị và kỹ thuật quân sự Trung Hoa. Người ta đã cho rằng sự thay đổi về văn hóa này là do  tướng nước Ngô là Ngô Thái Bá (吳太伯) – một vương tử của nhà Chu đã chạy về phía Nam lánh nạn. Vùng đất đầm lầy ở phía Nam đã mang lại cho Câu Ngô và Ư Việt những đặc điểm độc đáo. Họ không chú trọng vào làm ruộng mà dựa nhiều hơn vào nghề thủy sản (aquaculture). Giao thông đường thủy có tầm quan trọng lớn ở phía Nam, do đó hai nước này đã tiến lên trình độ cao về kỹ thuật đóng tàu thuyền và kỹ thuật thủy chiến. Họ còn nổi tiếng với những thanh bảo kiếm.

Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, hai nước này, bấy giờ có tên là Ngô và Việt, đã tham gia ngày càng sâu vào chính trị Trung Hoa. Năm 512 TCN, Ngô đánh Sở – nước lớn nhất ở miền Trung sông Dương Tử. Một chiến dịch tương tự đã diễn ra vào năm 506, lần này Ngô chiếm được kinh đô của Sở – thành Dĩnh (郢). Cũng năm đó, chiến tranh nổ ra giữa Ngô và Việt và tiếp diễn thêm 3 thập kỷ nữa. Năm 473 TCN, Việt Vương Câu Tiễn (句踐 -Câu Tiễn) cuối cùng đã đánh bại nước Ngô và được các nước phía Bắc là Tề và Tấn (晉) công nhận. Năm 333 TCN, đến lượt Việt bị Sở diệt.

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, vùng đất của Bách Việt bị nhập vào đế quốc Trung Hoa. Quân Tần còn tiến xa hơn về phía Nam dọc theo sông Tương (湘江) tới vùng đất nay là Quảng Đông và thiết lập các quận dọc theo các tuyến giao thông chính. Trong suốt thời nhà Hán, có hai nhóm Việt được nhắc đến, đó là Nam Việt ở phía cực Nam, sống chủ yếu tại các vùng Quảng ĐôngQuảng Tây, và Việt Nam; và nhóm Mân Việt ở phía Đông Bắc, tập trung tại sông Mân Giang (閩江) ở vùng Phúc Kiến ngày nay.

Quá trình Hán hóa các dân tộc này được thực hiện bởi sự kết hợp giữa sức mạnh quân sự đế quốc và định cư của người Hán. Các khó khăn về vận tải và thủy thổ phương Nam đã làm cho việc chiếm đất và cuối cùng là đồng hóa các dân tộc Việt diễn ra một cách chậm chạp. Khi người Hán đến tiếp cận với các dân tộc Việt địa phương, họ thường giành lấy quyền kiểm soát lãnh thổ hoặc khuất phục dân địa phương bằng bạo lực. Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa vào năm 40, tướng Mã Viện của nhà Hán đã đem một lực lượng gồm 10.000 quân đến đánh dẹp. Trong khoảng từ năm 100 đến 184 đã có không dưới 7 cuộc nổi dậy bằng quân sự, nhà Hán đã thường phải dùng đến các hoạt động phòng vệ mạnh.

Khi dân nhập cư người Hán tăng dần, các tộc Việt dần dần bị buộc phải chuyển đến những vùng đất xấu hơn ở khu vực miền núi. Tuy nhiên, không giống với các dân tộc du mục ở miền Trung Á, chẳng hạn người Hung Nô hoặc người Tiên Ti (鮮卑), các dân tộc Việt chưa bao giờ là mối đe dọa lớn đối với sự bành trướng hay quyền kiểm soát của người Hán.

Đôi khi, họ thực hiện các cuộc tấn công quy mô nhỏ vào vùng định cư của người Hán – các nhà sử học truyền thống của Trung Quốc gọi đây là “các cuộc nổi loạn”. Về phần mình, người Hán coi các dân tộc Việt là những tộc người  kém văn minh và có xu hướng gây chiến lẫn nhau.

Tuy nhiên, dưới đời nhà Tần và nhà Hán, các tộc Bách Việt vẫn cư ngụ ở vùng đất cũ của họ với các tổ chức xã hội và chính trị của riêng họ, sự cai trị của chính quyền người Hán chỉ là trên danh nghĩa.

Từ thế kỉ 4, khi Trung Quốc bắt đầu bị các tộc du mục phương Bắc đánh chiếm – những người đã chiếm được toàn bộ vùng Bắc Trung Quốc và thiết lập Ngũ Hồ thập lục quốc và Bắc triều, chiến tranh đã gây ra những đợt lớn dân di cư từ phía Bắc về đổ về Nam Trung Quốc. Điều này đã tăng tốc quá trình Hán hóa( Giao thoa văn hóa, giữa người Việt và người Hán) ở vùng Nam Trung Quốc, dân cư địa phương đã dần dần bị nhập vào văn hóa Hán hoặc phải rời đi nơi khác. Theo thời gian, từ “Bách Việt” đã không còn được sử liệu của Trung Quốc nhắc đến. Phần nhiều các tộcViệt đã bị Hán hóa và đồng nhất với người Hán . Văn hóa Bách Việt đã làm phong phú thêm văn hóa Hán du mục(*)(**).

———————————————————————–

(*)Một trong quá trình Hán hóa đó là chữ viết. Do đó có thể khẳng định chữ Hán hiện có là sự pha trộn chữ ( tiếng)Việt, đặc biệt những chữ thường ngày ,ví dụ như chữ áo quần. Vạc hoặc diệc thành lạc (), mít thành mật, như quả mít (– bà la mật). Kinh Dịch ( Chu Dịch) là lấy từ nhiều sách Dịch khác như Liên Sơn Dịch và Quy Tàng Dịch …của người Việt rồi những bộ Dịch này đã bị tiêu hủy, thất lạc nên có thể nói Chu Dịch hiện có chỉ đúng một phần quy luật thời tiết của vùng vĩ độ 17-22 Bắc, kinh độ 17,18 Đông mà thôi.( Xem Kinh Dịch và cuộc sống con người của Đỗ Anh Thơ- NXB LĐ-XH)

(**)  Gần đây,  thiền sư Lê Mạnh Thát căn cứ vào Lục Độ kinh Phật giáo mà cho rằng kinh này là của Việt Nam và nó được dịch ra chữ Hán từ một bản tiếng Việt chứ không phải từ bản tiếng Phạn… Tăng Khương Hội, người dịch bản kinh đó, người mà sử sách cổ Trung Quốc coi là “bậc thánh hiền”, là một người Việt Nam (ít nhất là sinh ra, lớn lên, học hành, theo đạo Phật, hành đạo và trước tác đều tại Việt Nam)  Ông đối chiếu với Lục Độ kinh và khẳng định không những không có chuyện Triệu Đà đánh An Dương Vương, mà nước ta cũng không bao giờ bị Triệu Đà chiếm. Nước Nam Việt của Triệu Đà chưa bao giờ bao hàm nước ta trong đó cả. Có nghĩa là, cho đến năm 43 (sau dương lịch), trước khi cuộc chiến tranh vệ quốc của Hai Bà Trưng thất bại, nước Việt Nam( Lạc Việt) vẫn là một nước độc lập. Tuy nhiên, luận thuyết này chưa đủ sức thuyết phục về mặt sử liệu và về chữ viết vì Thiền sư chưa đưa ra được hệ thống chữ viết của người Việt thời đó như thế nào?.( Soạn giả)

Một số tộc Bách Việt khác trở thành tổ tiên của các dân tộc thiểu số như người Cao Sơn (高山族) ở Đài Loanngười Trángngười Bố Y (布依族), người Đồng (侗族), người Hỏa (禾族) ở miền Nam Trung Quốc.

Trong khi hầu hết các dân tộc Việt cuối cùng đã bị đồng hóa vào nền văn hóa Hán, thì người Việt hậu duệ của nhóm Lạc Việt, đã giữ được bản sắc dân tộc của mình và cuối cùng đã thoát khỏi sự thống trị của Trung Hoa vào thế kỷ 10.

Trong cuốn Địa đàng phương đông ( Eden of the East) Oppenheimer lần đầu tiên đặt Đông Nam Á vào trung tâm của các nguồn gốc văn hóa và văn minh thế giới. Oppenheimer chứng minh rằng khoảng 9.000 đến 10.000 năm về trước, một số dân vùng Đông Nam Á đã là những nhà canh nông chuyên nghiệp, không chỉ là những người sống bằng nghề săn bắn ban sơ như giới khảo cổ học Tây phương mô tả. Vào khoảng 8.000 năm trước đây, mực nước biển tăng một cách đột ngột và gây ra một trận đại hồng thủy, và trận lụt vĩ đại này đã làm cho những nhà nông đầu tiên trên thế giới này phải di tản đi các vùng đất khác để mưu sinh. Trong quá trình di cư đến các vùng đất mới, họ đem theo ngôn ngữ, truyền thuyết, quan niệm tôn giáo, kinh nghiệm thiên văn, yêu thuật và đẳng cấp xã hội đến vùng đất mới. Thực vậy, ngày nay, dấu vết của cuộc di dân trên vẫn còn ghi đậm trong các quần đảo Melanesia, Polynesia và Micronesia; dân chúng những nơi này nói tiếng thuộc hệ ngôn ngữ Nam Đảo (Austronesian) có nguồn gốc từ Đông Nam Á. Theo Oppenheimer, những “người tị nạn” này có thể là những hạt giống cho những nền văn minh lớn khác mà sau này được phát triển ở Ấn Độ, Lưỡng Hà, Ai Cập và Địa Trung Hải. Những kết luận và phát biểu của Oppenheimer cũng phù hợp với hàng loạt nghiên cứu di truyền học mới được công bố gần đây. Chẳng hạn như qua phân tích DNA, các nhà khoa học Mĩ đã có thể tái xây dựng quá trình di cư thời tiền sử. Con người hiện đại di dân khỏi châu Phi đến châu Á vào khoảng 100.000 năm trước đây. Có thể trong đợt di dân đầu tiên họ đến vùng Trung Đông, nhưng không thể định cư được vì thời tiết khắc nghiệt, sau đó có thể họ phải làm thêm một hành trình thứ hai từ Trung Đông đến tận vùng Đông Nam Á. Cũng có thể họ đi thẳng từ Đông Phi, dọc theo đường biển Ả rập ngày nay băng ngang qua Ấn Độ, và đến định cư ở Đông Nam Á. Từ Đông Nam Á, họ lại di cư một lần nữa: nhóm một đi về hướng nam ra châu Úc và Tân Guinea; nhóm hai đi về hướng bắc đến Trung Quốc và Nhật Bản, và cuộc di dân này xảy ra vào khoảng 55.000 năm trước đây. Điều này cũng phù hợp với các dữ kiện di truyền gần đây cho thấy người Trung Hoa ngày nay, nhất là người Trung Hoa ở phía Nam Trung Quốc rất gần và có tổ tiên ở vùng Đông Nam Á.

Di sản văn hóa Bách Việt

Sự sụp đổ của nhà Hán và giai đoạn phân chia sau đó là đẩy nhanh quá trình Hán hóa. Các giai đoạn bất ổn và chiến tranh ở vùng phía bắc Trung Quốc, như là Nam Bắc triều và trong thời nhà Tống đã dẫn đến nhiều cuộc di dân lớn của người Hán. Hôn nhân giữa các sắc tộc và giao tiếp giữa các nền văn hóa đã dẫn đến sự pha trộn của người Hán và các dân tộc khác ở phía nam. Vào thời nhà Đường, từ “Việt” đã gần như trở thành một địa danh hơn là một từ mang tính văn hóa. Chẳng hạn, trong thời Ngũ Đại Thập Quốc, một nước tại vùng ngày nay là tỉnh Chiết Giang đã dùng tên nước là Ngô . Cũng giống như vậy, từ “Việt” trong “Việt Nam” có gốc từ chữ “Việt” (越) này.

Ảnh hưởng của văn hóa Việt đối với văn hóa Trung Hoa chưa được người Hán khẳng định một cách chính thức, nhưng rõ ràng ảnh hưởng đó là đáng kể. Các ngôn ngữ của những quốc gia cổ như Ngô và Việt đã hình thành nền tảng cho tiếng Ngô hiện đại (吳語) và ở một mức độ nào đó cũng là nền tảng cho tiếng Mân (閩方言) – các ngôn ngữ của vùng Phúc Kiến. Các nhà nhân học ngôn ngữ cũng đã khẳng định rằng một số lượng lớn các từ trong tiếng Trung Quốc có nguồn gốc từ các từ Việt cổ. Một ví dụ là từ “giang” (江), nghĩa là “sông”. Các con sông ở phía Bắc Trung Quốc đều được gọi là “hà” (河), trong khi các con sông ở phía Nam Trung Quốc được gọi là “giang” (江). Dấu vết của ngôn ngữ Việt, đặc biệt là cấu trúc “tính từ đi sau danh từ” (ngược lại với tiếng Trung Quốc) vẫn còn lại trong các tác phẩm văn thơ kinh điển của Trung Quốc như Kinh Thi, và trong tên gọi của các vị thần/vương truyền thuyết mà người Trung Quốc coi là của họ như Thần NôngĐế NghiêuĐế ThuấnĐế Khốc.

Ở một mức độ nào đó, một số dấu vết còn lại của các dân tộc Việt và văn hóa của họ còn có thể được thấy trong một số dân tộc thiểu số ở Trung Quốc, đặc biệt là Tráng(Chuang), và nhiều dân tộc ở Việt Nam.

Một số học giả cho rằng Kinh Dịch là sản phẩm của nền văn minh Thần Nông ở phía Nam sông Dương Tử (nghĩa là thuộc vùng đất Bách Việt). Có người còn khẳng định cụ thể hơn rằng đây là sản phẩm của người Âu Việt và Lạc , với các lập luận chẳng hạn như: có thể thấy các khái niệm Kinh Dịch được mã hóa trên các họa tiết trống đồng; một số tên quẻ cũng như diễn giải quẻ của người Trung Quốc từ xưa tới nay đôi khi còn rất mơ hồ…

Như vậy qua trình bày ở trên, tiếng Trung Quốc hiện đại, các chữ “越” và “粵” là khác nhau. Chữ thứ nhất thường được dùng để chỉ vùng đất nguyên thủy của Vương quốc Việt, một khu vực phía bắc của Chiết Giang vàThượng Hải, đặc biệt là các khu vực xung quanh Thiệu Hưng và Ninh Ba. Hát tuồng Chiết Giang, chẳng hạn, được gọi là “Việt kịch” (越劇). Chữ “越” cũng được dùng để chỉ Việt Việt Nam (越南). Chữ thứ hai “粵” (yuè) được dùng làm tên gọi tắt của tỉnh Quảng Đông. Tiếng Quảng Đông, được sử dụng tại Quảng ĐôngQuảng TâyHồng KôngMacau và trong nhiều cộng đồng Hoa kiều ở các nước trên thế giới, còn được gọi là “Việt ngữ” (粵語).

Trong chữ Hán-Nôm mà người Việt Nam sử dụng, chữ “越” cũng được dùng trong tên Việt Nam – “越南”.

Những di sản văn minh sông Dương tử nổi tiếng:

.

Tây Hồ (hồ ở Hàng Châu)

Tây Hồ (西湖)là một hồ nước ngọt nổi tiếng nằm về phía tây thành phố Hàng ChâuChiết Giang, miền đông Trung Quốc. Chiều dài  theo hướng bắc-nam là 3,3 km còn chiều rộng hướng đông-tây là 2,8 km. Tổng diện tích  khoảng 6,3 km², mặt nước nước khoảng 5,66 km².

Ngoại Tây Hồ, Lí Tây Hồ, Hậu Tây Hồ, Tiểu Nam Hồ và Nhạc Hồ. Trong hồ có 1 ngọn núi thấp (đồi) gọi là Cô Sơn chiếm diện tích khoảng 200.000 m² và 3 đảo là Hồ Tâm Đình, Tiểu Doanh Châu, Nguyễn Công Đôn.

Tên gọi “Tây Hồ” cũng được sử dụng cho một số hồ khác ở Trung Quốc và các nước láng giềng khác như Nhật Bản với hồ Saiko, Việt Nam với Hồ Tây. Theo thống kê của Lonely Planet, có 800 hồ ở Trung Quốc với tên gọi này. Tuy nhiên, Tây Hồ ở Hàng Châu nổi tiếng nhất do đó tên gọi này thường chỉ áp dụng cho hồ này. Người ta còn gọi nó là nhất núi, nhị đê, tam đảo, ngũ hồ.

Một trong những cảnh đẹp nhất của Tây Hồ: Tam đàm ấn nguyệt

…………………………………………………………..

_(*) Tiếng Việt Nam định ngữ được đặt sau danh từ như ta gọi Hồ Tây thay vì Tây Hồ. Trong tiêng Trung Quốc còn nhiều tên người định ngữ đặt sau như Thần Nông, Đế Nghiêu, Đế Thuấn ….Vậy nhiều địa danh vùng Dương tử này có lẽ đã bị Hán hóa sau khi Lạc Việt di cư xuống Nam. Ở đất mới họ cũng có những địa danh này( gọi ngược lại). Vậy tên Hồ Tây có trước Tây Hồ như cách đặt quận Tây Hồ ở Hà Nội vừa qua.Phải chăng cách gọi địa danh nơi ở mới của người Việt   để ghi nhớ quê hương đã mất và bị người Hán đổi lại? (người biên soạn)

Tây Hồ có mười cảnh đẹp (西湖十景-Tây Hồ thập cảnh), mỗi phong cảnh này đều được đánh dấu bằng một cái bia với tên gọi được chính hoàng đế Càn Long nhà Thanh viết theo kiểu thư pháp, là:

苏堤春晓-Tô đê xuân hiểu: Buổi sáng mùa xuân trên đê Tô

柳浪闻莺-Liễu lãng văn oanh: Chim oanh hót trong bụi liễu

花港观鱼-Hoa cảng quan ngư: Xem cá tại ao hoa

曲院风荷-Khúc viện phong hà: Hương sen thổi nhẹ tại sân cong

南屏晚钟-Nam Bình vãn chung: Chuông chiều ở núi Nam Bình

平湖秋月-Bình hồ thu nguyệt: Trăng mùa thu trên hồ yên bình

雷峰夕照-Lôi Phong tịch chiếu: Tháp Lôi Phong trong ánh sáng buổi chiều

三潭印月-Tam đàm ấn nguyệt: Ba đầm nước phản chiếu ánh trăng

断桥残雪-Đoạn kiều tàn tuyết: Tuyết còn sót lại trên cầu gãy

双峰插云-Song phong sáp vân: Hai ngọn núi đâm vào mây

Các công trình văn hóa khác còn có

Miếu thờ Nhạc Phi.

:

Nhạc Vương Miếu, ( miếu thờ Nhạc Phi).

Chùa Linh Ẩn (Linh Ẩn tự), một ngôi chùa cổ của Phật giáo tại Trung Quốc cùng các ngọn núi, đồi và vườn bao quanh.

Các trang trại trồng chè Long Tỉnh, một loại chè nổi tiếng vì chất lượng và hương vị.

Mộ Tô Tiểu Tiểu (479502?), một ca kĩ nổi tiếng thuộc Nam Tề thời Nam-Bắc triều.

Mộ Võ Tòng , người nổi tiếng vì đã tay không giết hổ trên đồi Cảnh Dương, một trong số 108 anh hùng Lương Sơn Bạc thế kỷ 11. Ngôi mộ đã bị phá hủy trong Cách mạng văn hóa, được xây dựng lại năm 2004.

Suối Hổ Bào, một dòng suối nổi tiếng vì nước của nó.

Các công trình theo phong cách cổ điển Trung Hoa bên trong Tây Hồ

Tây Hồ được cho là sự hóa thân của Tây Thi, một trong Tứ đại mỹ nhân Trung Hoa thời Trung Quốc cổ đại. Kể từ thời cổ đại, Tây Hồ đã gắn liền với nhiều nhà thơ lãng mạn, nhà triết học thâm thúy, các vị anh hùng dân tộc.

Nhà triết học Cát Hồng thời Đông Tấn đã tu luyện các phép thuật Đạo giáo và viết ra công trình triết học nổi tiếng nhất của ông là Bão Phác Tử (抱朴子) tại khu vực núi xung quanh Tây Hồ.

Nhà thơ Lạc Tân Vương thời Đường đã ẩn dật tại Linh Ẩn tự.

Nhà thơ kiêm thứ sử thời Đường Bạch Cư Dị đã cho xây dựng con đê đầu tiên, ngày nay gọi là đê Bạch.

Nhà thơ kiêm thứ sử thời Tống Tô Đông Pha, đã nạo vét hồ và cho xây dựng đê Tô, biến nó trở thành một phong cảnh đẹp khác của Tây Hồ. Ông cũng là người nghĩ ra một loại thực đơn đặc biệt để chế biến thịt lợn với tên gọi trong thực đơn là 東坡肉 (Đông Pha nhục) là món thịt lợn kiểu Đông Pha là thực đơn trong mọi khách sạn ở Hàng Châu

.

Hoa sen tỏa hương tại sân cong

Một nhà văn thời cuối Minh đầu Thanh là Trương Đại, đã viết các tác phẩm lớn về Tây Hồ, như trong Đào Am mộng ức (陶庵梦忆), và toàn bộ cuốn sách TâyHồ mộng tầm (西湖梦寻). Thời Đường, nhiều nhà thơ đã làm nhiều bài thơ tại đây và trở nên bất hủ gần 1.500 năm nay.

Sau đây là 3 trong những bài thơ tiêu biểu :

1.- Thôi Hiệu( 崔顥; khoảng 704–754)

Chữ Hán

黃鶴樓

昔人已乘黃鶴去(*)

此地空餘黃鶴樓。

黃鶴一去不復返,

白雲千載空悠悠。

晴川歷歷漢陽樹,

芳草萋萋鸚鵡洲。

日暮鄉關何處是,

煙波江上使人愁。

 Lầu Hạc vàng- ảnh chụp năm 2006

(*)Chữ 去, lâu nay ta vẫn hay đọc là khứ nên có nhiều người đã cho là một bài thơ Đường ‘phá thể’, hoặc ‘lạc vận’.

Nhưng  thời của Thôi Hiệu, hay vùng miền Nam của ông  đọc ra âm hoặc “Khu”.  hoặc “khâu”:

Phiên âm:

Hoàng Hạc Lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,

Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,

Bạch vân thiên tải không du du.

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.

Nhật mộ hương quan hà xứ thị,

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

 

(*)Chữ 去, lâu nay ta vẫn hay đọc là khứ nên có nhiều người đã cho là một bài thơ Đường ‘phá thể’, hoặc ‘lạc vận’.

 Nhưng có thuyết nói thời của Thôi Hiệu, hay vùng miền Nam của ông  đọc ra âm hoặc “Khu”.  hoặc “khâu”:

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ

Hạc vàng đi mất từ xưa

Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay

Hán Dương sông tạnh cây bày

Bãi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

Tản Đà ( dịch)

2.-       Lý Bạch (李白 701- 762)

送孟浩然之广陵
故人西辞黄鹤楼
烟花三月下扬州。
孤帆远影壁空尽,
惟 见长江天际流.
Phiên âm:

 Tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc Lâu,
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.
Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
Duy kiến Trường giang thiên tế lưu.

Dịch:  Tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng
Bạn từ lầu Hạc lên đường,
Tháng ba hoa khói châu Dương đi về.
Buồm ai lẻ chiếc xa kia?
Trường giang trời nước, tái tê lòng này!

     Đỗ Anh Thơ (dịch)

3.-      Đỗ Mục( 杜牧 803—852)

泊秦淮

煙籠寒水月籠沙,

夜泊秦淮近酒家。
商女不知亡國恨,
隔江猶唱後庭花。

Phiên âm: Bạc Tần hoài

Yên lung  hàn thủy nguyệt lung sa,

Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia.

Thương nữ bất tri vong quốc hận,

Cách giang do xướng Hậu đình hoa

Dịch:

Ghé bến Tần Hoài

Sông lạnh trùm sương với ánh trăng,

Quán rượu bến Tần ấy ngó sang.

Cô em hát Hậu đình hoa ấy.

Mất nước họa này có biết chăng?

Đỗ Anh Thơ (dịch)

     Bài học đề thủy điện Tam Hiệp và nguy cơ phá huỷ môi trường sinh thái sông Dương tử

Tôn Dật Tiên người đầu tiên xem xét đề ra kế hoạch xây dựng đập trên sông Dương Tử vào năm 1919 để phát điện, nhưng ý tưởng này đã bị gác lại do các hoàn cảnh và điều kiện chính trị cũng như kinh tế lúc đó chưa cho phép.

Đập tràn chính với khu phát điện và đập làm nổi tàu ở bên phải

Đập làm nổi tàu ở bên trái, cống kép ở bên phải

Quang cảnh dọc theo đập chính ở bên phải. Đập phụ ở phía trước với đập nước cho tàu bè ngược dòng ở phía sau

Sau khi nước CHND Trung Hoa thành lập, đề án xây dựng đập lại được đưa ra bàn thảo. Nhưng do nguồn kinh phí quá lớn, do có nhiều ý kiến phản đối về tác hại môi trường nên mãi đến tháng 4 năm 1992 mặc dù có đến 1/3 số đại biểu bỏ phiếu chống hoặc phiếu trắng, đề án xây dựng đã được Quốc hội Trung Quốc thông qua. Người ra sức vận động là thủ tướng Lý Bằng.

Đập Tam Hiệp nhìn từ vệ tinh

Việc tái định cư được tiến hành ngay sau đó và những sự chuẩn bị về vật chất đã bắt đầu năm 1994. Trong khi chính phủ tập trung thu hút công nghệ, dịch vụ, tài chính từ phía nước ngoài thì các lãnh đạo lại dành cho các hãng Trung Quốc công nghệ và các hợp đồng xây dựng.…

Khu vực xây dựng đập Tam Hiệp, phía hạ lưu, 26 tháng 7 năm 2004

Trong quá trình xây dựng, các vụ bê bối tham nhũng, chất lượng thi công, tàn phá rất nhiều di tích lịch sử, cảnh quan môi trường đã xẩy ra.

Chi phí lúc đầu dự kiến là 25 tỷ USD, nhưng chi phí thực tế lớn hơn thế rất nhiều, với ước tính  là 75 tỷ USD hoặc cao hơn. Cũng càn lưu ý rằng con số ước tính này người ta đã loại bỏ các khoản tham nhũng, các tổn thất trong hủy diệt đất trồng trọt, tái định cư dân chúng cũng như các tổn thất môi trường .

Đập chủ yếu để phục vụ cho lợi ích của các nhà công nghiệp phần bờ biển phía đông do ở đây họ có nhu cầu cao về điện năng. Không may là điều này lại dựa trên phí tổn của hàng triệu người đã bị đưa ra khỏi những vùng đất trồng trọt chủ yếu. Góp phần làm cho tình hình xấu hơn là các đền bù tái định cư không hợp lý, số lượng người tái định cư về tổng thể là không ước tính được cũng như các khu đất mới của họ xấu hơn đã làm tăng thêm chênh lệch giàu nghèo

Hủy hoại môi trường:Thủy điện là một nguồn năng lượng có thể hồi phục được mà không sinh ra các chất thải, mặc dù các đập nước có thể sinh ra một lượng lớn cacbon dioxít và một khối lượng đáng kể khí mêtan do các hoạt động của vi sinh vật trong các hồ chứa nước.

Các đập nước theo bản chất tự nhiên của chúng làm biến đổi hệ sinh thái và đe dọa một số loài sinh vật trong khi lại hỗ trợ cho một số loài khác. Cá heo sông Dương Tử là một ví dụ, chúng đang trên đà tuyệt chủng vì mất môi trường sinh sống do con đập gây nên..

Trong khi việc chặt hạ cây cối của khu vực để xây dựng làm tăng khả năng xói mòn thì việc ngăn chặn các trận lũ lụt không kiểm soát được trong một chu kỳ dài hơn.

Khu vực văn hóa và cảnh quan thiên nhiên

Hồ chứa nước dài 600 km làm ngập khoảng 1.300 địa chỉ khảo cổ và làm mất đi vẻ đẹp huyền thoại của Tam Hiệp. Các di tích văn hóa và lịch sử đã phát hiện đang được di chuyển tới những vùng đất cao hơn nhưng ngập lụt của Tam Hiệp sẽ bao phủ nhiều di tích tiềm ẩn chưa phát hiện ra.

Giao thông thủy

Đập Tam Hiệp, cửa cống để cho tàu bè qua lại đập,tháng 5 năm 2004.

Việc đưa vào sử dụng các cửa cống tàu bè có thể sẽ làm tăng vận tải đường sông từ 10 đến 50 triệu tấn hàng năm, với chi phí vận chuyển giảm khoảng 30 – 37%. Vận tải thủy cũng sẽ an toàn hơn, do các hẻm núi này đã rất lừng danh trong lịch sử về độ nguy hiểm cho vận tải. Các chỉ trích thì cho rằng lượng bùn lớn sẽ lấp đầy các cảng chẳng hạn Trùng Khánh trong vài năm..

Kiểm soát ngập lụt:Theo lý thuyết, hồ chứa nước với dung tích 22 km³ sẽ làm giảm tần suất các trận ngập lụt lớn từ một lần trong 10 năm xuống còn 1 lần trong 100 năm. Nhưng nhiều tính toán cho rằng sông Dương Tử sẽ bổ sung thêm trung bình khoảng 530 triệu tấn bùn vào hồ trong một năm và nó sẽ nhanh chóng không còn tác dụng trong việc ngăn chặn lũ mà còn đồng thời phải xả lũ để bảo vệ đập, gây nên hiện tượng lũ kép ở hạ nguồn.

Tổ chức Probe International cho rằng đập nước này không có tác dụng ngăn chặn lũ lụt, do bị mất  rừng phòng hộ cũng như sự mất đi khoảng 13.000 km² hồ điều tiết do chúng bịbùn lầy hóa, do cải tạo và các phát triển không kiểm soát được.

Các rủi ro tiềm ẩn: Việc xây dựng đập có chất lượng kém, với các vết nứt lớn đã xuất hiện trong thân đập vào năm 2000, có thể dẫn đến các thảm họa tiềm ẩn tương tự như đối với đập Bản Kiều năm 1975 do động đất.

Về mặt quân sự, trong trường hợp Trung Quốc đưa quân đánh Đài Loan, họ có thể phá đập Tam Hiệp để giảm bớt sự áp bức quân sự của đại lục.

Ở đây có hai rủi ro đã được thống nhất xác định đối với đập 2; đó là mô hình trầm tích vẫn chưa được kiểm tra kỹ và đập này nằm trên đứt gãy địa chấn. Trầm tích quá nhiều có thể che lấp các cửa xả nước, và nó có thể gây tổn hại cho đập trong một số tình huống. Đây chính là nguyên nhân gây ra sự cố của đập Bản Kiều năm 1975 đã làm hỏng 61 đập nước khác và gây ra cái chết của hơn 200.000 người. Ngoài ra, trọng lượng của đập và hồ chứa nước về lý thuyết có thể sinh ra địa chấn cảm ứng, giống như đã xảy ra với đập Katse ở Lesotho.

Kể từ năm 2006 khi đập và nhà máy thuỷ điện đi vào  hoạt động, 1,43 triệu dân phải di cư và hiện sống trong tình cảnh bấp bênh ở nơi tái định cư và gần 5 triệu người dân sống bằng nghề nông ở trung, hạ lưu sông Dương tử đã phải chịu những hậu quả khôn lường. Từ tháng 3 -2011 đến nay, cả vùng này đã gặp phải trận hạn hán khủng khiếp nhất trong vòng 50 năm qua.

.

Toàn cảnh đập Tam Hiệp

Tại tất cả các hồ chứa nước với dung lượng 10 tỷ m3 ở tỉnh Hồ Bắc, nay chỉ còn 6 tỷ m3 có thể dùng được, trong khi 4 hồ loại vừa, 1.460 hồ cỡ nhỏ đã ở mực nước chết. 3/4 diện tích hồ Bà Dương, hồ nước ngọt lớn nhất Trung Quốc giờ đã thành… đường bộ vì khô hạn. Tại thành phố Trùng Khánh, đất canh tác nứt nẻ trên diện rộng, thậm chí còn thiếu nước uống cho hàng vạn người. Dầu vậy, theo dự báo, tình trạng hạn hán sẽ càng khốc liệt hơn , khi nhu cầu về nước tưới tiêu và sinh hoạt tăng cao.

Hình ảnh các vùng bị hạn hán nặng nhất nằm dọc sông Dương Tử.

Hàng chục nghìn tấn rác đổ về mỗi năm hình thành nên những đống rác thải khổng lồ trên mặt nước sông, ken dày đến mức có thể đi lại được. Loài cá heo nước ngọt hiện đang trên đà tuyệt chủng, các loài sinh vật cũng đang đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt, như cá tầm hay loài sếu Siberia.





Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s