Docago.wordpress.com:Đỗ Anh Thơ- Chuẩn bị rửa tay gác bút, tìm lại những bài trên mạng (2): Kỷ niệm về quê mẹ ( 3 phản hồi)

Quê tôi ở Nghi Trung (thôn Kim Cẩm xưa). Dòng họ tôi vừa có học quan trong triều như cử nhân nho học Nguyễn Đức Đôn, phó bảng Nguyễn Đức Đàm, tiến sĩ Nguyễn Huy Nhu… lại có những chiến sĩ cách mạng cộng sản kiên cường như Nguyễn Thị Xân, Nguyễn Thị Thiu, Nguyễn Đức Dương, Nguyễn Đức Thái (Võ Phong)… vào Đảng từ hồi Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, và đặc biệt là có những trí thức như Nguyễn Đức Bính, Nguyễn Đức Nguyên (Hoài Thanh), Nguyễn Đức Nam… có tầm trí tuệ cao, có những công trình tâm huyết, nhưng nói như nhạc sĩ Tô Hải, có lẽ do mảnh cơm manh áo mà họ vẫn bị mang tiếng là “Nửa đời vị nghệ thuật, nửa đời lại vị cấp trên.”

Cha tôi tuy là tộc trưởng họ nhưng sau khi tham gia phong trào Đông Du, bị tri huyện Trần Mậu Trinh bắt dời nhà vào thôn Kim Chi sát ngay huyện lỵ, để thường xuyên trình diện, vì ông có con là cộng sản đang bị tù chung thân ở Côn Đảo trong vụ án Lý Tự Trọng. Ở đất mới, ông làm thuốc. Tuy đã có vợ và ba con trai, ông vẫn yêu một cô gái đẹp, góa chồng lúc mới 21 tuổi (tuổi Đinh Dậu phải hai lần đò mà!) rồi lấy làm vợ kế. Ông bà chênh lệch nhau 15 tuổi và sinh ra ba chị em chúng tôi.

Mẹ tôi lúc đó chưa biết chữ, nhưng rất thông minh, thuộc Kiều và rất nhiều truyện cổ tích. Bà kể cho chúng tôi vô số chuyện, nhưng cái đọng lại trong tâm trí tôi cho đến ngày nay là chuyện của cái thuở Nguyễn Hữu Bài từng tuyên bố “Hữu Nghệ Tĩnh bất phú, vô Nghệ Tĩnh bất bần” và chuyện ông Trần Phú có con mắt lé, bà Nguyễn thị Minh Khai (con cụ Hàn Bình, vốn là chỗ quen biết với cha tôi) có đôi mắt tròn to. Trần Phú là người đã đưa khẩu hiệu “Trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ!” vào Luận cương Đảng Cộng sản. Bà còn kể: cụ Đặng Thái Thân bị Pháp kéo qua ngõ nhà tôi, tóc dài quét tới đất như thế nào; bà cả Thanh chị cụ Hồ có đôi vú lép kẹp, người như đàn ông, gầy như con mắm, nhưng lại yêu chú cả Hiêng (con cụ đầu xứ Nguyễn Đức Công, tức liệt sĩ Đông kinh Nghĩa thục Hoàng Trọng Mậu)…, nhưng tôi nhớ nhất chuyện về đường quan cộ (cũ) sau nhà. Đó là mồ chôn tập thể, vùi xác không biết bao nhiêu là tù cách mạng Văn Thân, Đông Du… cho đến cộng sản. Ở đó có rất nhiều ma, mọc rất nhiều cây dại mà dân quanh vùng cũng như mẹ tôi thường gọi là cây cộng sản. Sau này, trong phong trào hợp tác xã, dân làng thường cắt về làm phân xanh. Xế phía tây, cách một cánh đồng nước, là thôn Yên Lạc Tiền (安樂 前 村) và thôn Yên Lạc Hậu ( 安樂 後村) (nghĩa là thôn yên vui trước và thôn yên vui sau).

Năm Ất Dậu, có lẽ do thấy nhiều gia đình chết cả nhà nên cha tôi bắt mẹ tôi phải cần kiệm, bán gạo nhà xay xát để mua gạo Nhật mang từ Sài Gòn ra cấp phát cho phu làm sân bay. Gạo xát không có chút cám và bị mốc ẩm. Có lẽ do đó mà cha tôi bị phù, xơ gan cổ trướng và chết trước Cách mạng tháng Tám mấy tháng.

Sau cách mạng, mẹ tôi học bình dân học vụ rồi vào Đảng Cộng sản từ 1946. Bà lần lượt làm bí thư phụ nữ, chủ tịch hội mẹ chiến sĩ xã, rồi chấp hành phụ nữ huyện. Bà thường giảng cho chúng tôi biết thế nào là “tam vô nhị các”, “các tận sở năng, các tận sở nhu” của chủ nghĩa này. Có một ông trong xóm thấy mẹ tôi lao vào công việc xã hội đã mỉa mai nói: Bà Y. chạy suốt ngày như con cà cưởng (tên gọi chim sáo sậu đầu trắng theo quê tôi). Bà thường nuôi các sĩ quan và chiến sĩ đại đội 60 (thuộc trung đoàn 57) trong nhà. Có hôm, họ đi qua, tiền hết gạo không, nhà chỉ còn một chú gà choai, bà đã đem giết, nấu một nồi cháo to cho cả một tiểu đội ăn.

Năm 1953, chỉnh huấn xong cấp ba, trên Khu ủy thấy tôi bập bẹ tiếng Pháp và tiếng Anh, có lý lịch là mẹ và các anh đều là đảng viên, đã điều tôi đi bộ ra tận Việt Bắc (Quán Vuông, Định Hóa Thái Nguyên) chỉnh huấn gần một năm ròng, để vào học sĩ quan quân báo, Bộ Tổng Tham mưu. Nhưng rồi, vì không phải là thành phần cơ bản, họ đẩy tôi về lại quê, dù tôi có khóc sướt mướt, xin ở lại làm cấp dưỡng nhưng cũng không được. Tôi biết chắc mẹ thấy tôi về sẽ không vừa lòng. Và quả thật, khi thấy tôi thất thểu từ hàng năm, sáu trăm cây số trở về, mẹ tôi đã phân bua ngay với hàng xóm là: “Nó về, tui cũng chẳng mừng!”. Vì thế, hôm sau tôi lại phải mò lên Khu ủy, may có lớp Trung văn, không cần lựa chọn, tôi đồng ý đi luôn, như một kẻ trốn chạy.

Mãi đến khi sửa sai, ở nước ngoài về tôi mới hay, mẹ tôi phải bán hết mọi đồ đạc, cuối cùng bán đến cả chó vẫn không đủ thóc thuế. Rồi cải cách ruộng đất, mẹ tôi bị quy là địa chủ, bị đấu tố và nhốt vào chuồng trâu nhiều tháng trời. Quá phẫn uất bà định treo cổ tự tử. Chị tôi hoảng sợ, đi báo cáo với đội trưởng cải cách là Nguyễn Kỳ Cẩm, trước kia vẫn “mẹ mẹ con con” với bà, họ mới thôi. Đến nay, tôi vẫn nghĩ, có lẽ do họ đã đủ số địa chủ theo quy định rồi, chứ công lao của bà đã thấm gì so với bà Nguyễn Thị Năm?

Ngày nay, hàng năm về quê nội giỗ cha giỗ mẹ, qua khung cửa xe ô tô tôi nhìn quê ngoại. Ở đó có phần mộ của ông bà ngoại, các cậu mợ tôi. Nhưng chưa bao giờ tôi nghỉ lại đó, vì nó gợi lại cho tôi những kỷ niệm buồn và đau thương.

Tôi chỉ nghe nói thôn Yên Lạc Hậu nay đã nổi lên một nhân vật xứng với cái tên này (安  洛 後 – hãy yên tâm trong cảnh nghèo nàn lạc hậu) với triết lý nổi tiếng về “lề đường bên phải“.

( Viết nhân 30 năm ngày giỗ mẹ 25/8 âm lịch)

© 08/10/2009  Đỗ Anh Thơ

© 2009 talawas blog

ương Thục Mỹ nói:
09/10/2009 lúc 10:48 chiều

@Đỗ Anh Thơ,

Mấy hôm nay, người ta “nói” nhiều quá, tôi lại vào đọc lại chị. Buồn! Quê hương chị vốn là nơi linh địa, vậy mà tang thương cũng chẳng tha, sở dĩ nói vậy là vì cũng chợt nhớ đến cái kết luận của một câu chuyện mà một nhà văn nọ kể về chuyện “Về Một Xóm Quê” của quê hương ông ta:

“Tôi muốn kể chuyện dâu bể của xóm tôi. Nhưng quả rằng xóm quê tôi tầm thường chẳng phải là nơi linh địa. Cho đến những điều dâu bể cũng tầm thường nhạt nhẽo, chẳng thành chuyện ra hồn. Chỉ nghe một cái gì buồn rả rích như tùng giọt, từng giọt của trận mưa dai dẳng kéo dài, kéo dài qua…qua cái gì? Qua suốt mấy chục năm dài chưa dứt sao?”(VP)
Vương Thục Mỹ nói:
08/10/2009 lúc 7:11 chiều

@Đỗ Anh Thơ

“Mẹ ơi dưới đất còn chua xót”
“Kẻ lạ” tràn sang đạp núi đồi!
(Phỏng thơ TH)
Lê Toàn Thơ nói:
08/10/2009 lúc 11:49 sáng

@Cách Mạng!

An vui trước đã chẳng xong
An vui sau hỏi còn mong nỗi gì.
Bây giờ mất chài, mất chì
Vui trong lạc hậu còn chi hỡi… đời!

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s