Docago.wordpress.com số 75 : CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY:Đỗ Anh Thơ.-Sông Danube : Vang mãi bài ca sông xanh bất hủ

Dòng chảy sông Đanube qua các nước

Đầu nguồn Donau tại Đức

Sông Donau (hay Đa Nuýp trong tiếng Việt) là sông dài thứ hai ở châu Âu (sau sông Volga ở Nga). Sông bắt nguồn từ vùng Rừng Đen của Đức, với cảnh sơn thủy đẹp vô cùng, là hợp lưu của hai dòng sông Brigach và Breg. Đó là con song chảy qua nhiều nước nhất thế giới. Nó như là một dải lụa xanh tươi đẹp vô cùng vắt qua các nước ĐứcÁoSlovakiaHungaryCroatiaSerbiaĐứcÁoSlovakiaHungary,

CroatiaSerbiaBulgariaRomaniaMoldova và Ukraina rồi đổ vào biển Đen.

Lưu vực sông Donau được tính từ vùng Donaueschingen là điểm hai con sông  gặp nhau. Sông dài 2850 km.


Chỗ uốn của sông Donau tại Visegrád,Hungary

Cửa sông tại Vylkove, Ucraina

 


Có thể nói song Danube là dòng sữa nuôi dưỡng là nguồn cảm hứng cho bao nhiêu thiên tài âm nhạc của châu Âu từ J. Strauss , Beethoven, Subert đến Mozart, Shuman… Hẳn là những ai yêu âm nhạc cũng đã từng nghe bản “Sông Danube xanh” của Johann Strauss.

Johann Strauss II (1825- 1899)


 Có nhiều bản nhạc có lời và không lời hay gợi lên trong ta những cảm xúc rung động mãnh liệt, trong đó có sông Danune xanh, bản nhạc valse bất hủ này.
Năm 1867, Johann Strauss Jr sáng tác “Donauwalzer” (bản nhạc valse sông Danube), tên đầy đủ của bản nhạc này là “An der schönen blauen Donau” (Bên dòng sông Danube xanh xinh đẹp). Bản nhạc nguyên thủy này không được đón nhận nồng nhiệt cho lắm, có lẽ vì lời nhạc của nó do Josef Weyl đặt lời không được hay.

Vài tháng sau đó, khi Strauss tham dự Hội chợ Quốc tế Paris và cần gấp vài bản nhạc mới để trình diễn, ông đã chuyển bài này thành một phiên bản cho giàn nhạc hoà tấu. Tác phẩm thành công rực rỡ ngay từ buổi trình diễn đầu tiên với cái tên “Le beau Danube bleu”. Từ đó trở đi,Sông Danube xanh soạn cho giàn nhạc hoà tấu này được trình diễn khắp nơi và trở thành một trong những tác phẩm âm nhạc được yêu thích nhất mọi thời đại.
Nghe sông Danube xanh không lời, rồi nghe thêm bài hát “Dòng song xanh có lời Việt của Phạm Duy, càng cảm được cái đẹp mênh mông xa vắng đến nao lòng

 Ludwig van Beethoven

Ludwig van Beethoven (17 tháng 12 năm 1770 – 26 tháng 3 năm 1827) là một nhà soạn nhạc cổ điển người Đức. Phần lớn thời gian ông sống ởWienÁo. Ông là một hình tượng âm nhạc quan trọng trong giai đoạn giao thời từ thời kỳ âm nhạc cổ điển sang thời kỳ âm nhạc lãng mạn. Ông có thể được coi là người dọn đường (Wegbereiter) cho thời kỳ âm nhạc lãng mạn. Beethoven được khắp nơi công nhận là nhà soạn nhạc vĩ đại nhất và có ảnh hưởng tới rất nhiều những nhà soạn nhạc, nhạc sỹ, và khán giả về sau.

Những lâu đài phong cảnh trải dài trên hai bờ song Danube

Những tác phẩm của Beethoven hoàn thành trong khoảng 18031805 vượt trội hẳn những gì mà ông sáng tác trước đó. Đó là bản Sonate Kreutzar (1803) viết cho violon và piano. Bản Giao hưởng Số 3 Anh hùng ca (1804) có sức cuốn hút mạnh mẽ và gây xúc động sâu xa, lúc đầu ông đề tặng Napoléon nhưng khi Napoléon lên ngôi Hoàng đế thì ông đã xé đi lời đề tặng. Các Sonate cho piano,Bình minh (1804) và Appasionta (1805), Bản Giao hưởng Số 4 (1806), Bản Giao hưởng Số 5 Định mệnh (1808) đều có giá trị nghệ thuật lớn lao. Ông muốn lột tả trong âm thanh về một cuộc sống trong sự đấu tranh với cái chết bằng một sức mạnh khủng khiếp cuối cùng đã ca khúc khải hoàn, như nhân vật nữ trong vở Opera Fidelio (1805) ra sức bảo vệ người chồng của mình chống lại sự xấu xa bạo tàn, và trong khúc Missa Solemnis là lời cầu nguyện để giải thoát khỏi đau thương chiến tranh.Năm 1781, Beethoven 11 tuổi, ông đã biểu diễn như một nghệ sĩ piano điêu luyện tại Hà Lan. Đến năm 1795, Beethoven bắt đầu nổi danh là một nghệ sĩ piano với bản Concerto cung do trưởng. Nhưng chẳng may từ năm 1780 ông bắt đầu bị lãng tai. Lúc đầu ông mất hết hy vọng nhưng rồi cố gắng thích nghi với điều kiện sống và bắt đầu tập trung tư tưởng tình cảm cao độ hơn bất cứ lúc nào hết trong sáng tác.

Beethoven nổi tiếng nhất về chín bản giao hưởng của ông. Ông cũng soạn vài concerto, phần nhiều để ông trình diễn, cũng như nhạc dàn nhạc khác, nhất là ouverture và nhạc nền cho kịch tại nhà hát, và những tác phẩm để kỷ niệm những sự kiện đặc biệt.

Giao hưởng số 1 cung Đô trưởng (soạn 1799–1800, trình diễn 1800)

Giao hưởng số 2 cung Rê trưởng (soạn 1801–1802, trình diễn 1803)

Giao hưởng số 3 cung Mi giáng trưởng (Eroica, “Anh hùng ca”; soạn 1802–1804, trình diễn 1805)

Giao hưởng số 4 cung Si giáng trưởng (soạn 1806, trình diễn 1807)

Giao hưởng số 5 cung Đô thứ ( “Định Mệnh” soạn 1804–1808, trình diễn 1808)

Giao hưởng số 6 cung Fa trưởng (Pastoral, “Đồng quê”; soạn 1803–1807, trình diễn 1808)

Giao hưởng số 7 cung La trưởng (soạn 1811–1812, trình diễn 1813)

Giao hưởng số 8 cung Fa trưởng (soạn 1811–1812, trình diễn 1814)

Giao hưởng số 9 cung Rê thứ (Choral, “Thánh ca”; soạn 1817–1824, trình diễn 1824)

Ngày xưa người ta tưởng rằng Giao hưởng “Jena” cung Đô trưởng là một giao hưởng sớm của Beethoven, nhưng ngày nay được cho là của Friedrich Witt. Beethoven có lẽ muốn viết Giao hưởng số 10 vào năm cuối cùng của ông; một bản vẽ phác được soạn bởi Barry Cooper.

Dòng chảy sông Đanube qua các nước

Đầu nguồn Donau tại Đức

Sông Donau (hay Đa Nuýp trong tiếng Việt) là sông dài thứ hai ở châu Âu (sau sông Volga ở Nga). Sông bắt nguồn từ vùng Rừng Đen của Đức, với cảnh sơn thủy đẹp vô cùng, là hợp lưu của hai dòng sông Brigach và Breg. Đó là con song chảy qua nhiều nước nhất thế giới. Nó như là một dải lụa xanh tươi đẹp vô cùng vắt qua các nước ĐứcÁoSlovakiaHungaryCroatiaSerbiaĐứcÁoSlovakiaHungary,

CroatiaSerbiaBulgariaRomaniaMoldova và Ukraina rồi đổ vào biển Đen.

Lưu vực sông Donau được tính từ vùng Donaueschingen là điểm hai con sông  gặp nhau. Sông dài 2850 km.


Chỗ uốn của sông Donau tại Visegrád,Hungary

Cửa sông tại Vylkove, Ucraina

 


Không thua kém về vẻ đẹp là Thành lũy của những người đánh cá với tên gọi Halászbástya, nằm ở đồi Lâu đài. Nơi đây đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Halászbástya lúc nào cũng nhộn nhịp du khách, những người bán tranh dạo, những nghệ sĩ hát rong…Tên gọi Thành lũy của những người đánh cá là để ghi nhớ công lao của những người đánh cá vào thời trung cổ đã chiến đấu ở đây để bảo vệ cho thành phố. Bảy ngọn tháp của Halászbástya tượng trưng cho bảy bộ tộc người Hungary đã định cư ở mảnh đất này từ năm 896. Đây là một trong những điểm ngắm toàn cảnh sông Danube đẹp nhất

Danube ở Budapest.

Buổi tối là thời gian đẹp nhất để đi dọc sông Danube và ngắm sự lung linh huyền ảo

Cái tên Budapest được hợp thành từ hai tên của hai khu vực trung tâm thành phố này: quận Buda và quận Pest chia nhau nằm ở hai bên bờ sông Danube. Ở Budapest, người ta có thể ngắm thỏa thích sông Danube từ nhiều góc cạnh khác nhau: từ trên cầu, trên đảo Magaret, trên đồi Gellert, trên pháo đài Buda… Bờ song Danube ở Budapest – nơi được xếp vào danh sách Di sản Thế giới – đã góp phần làm cho Busapest trở thành một trong những thành phố đẹp nhất châu Âu. Nổi bật nhất, hùng vĩ và kiêu hãnh nhất trong các kiến trúc nơi đây là tòa nhà Quốc hội Hungary nằm trên quảng trường Kossuth Lajos, một trong những tòa nhà lập pháp cổ xưa nhất châu Âu.

Không thua kém về vẻ đẹp là Thành lũy của những người đánh cá với tên gọi Halászbástya, nằm ở đồi Lâu đài. Nơi đây đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Halászbástya lúc nào cũng nhộn nhịp du khách, những người bán tranh dạo, những nghệ sĩ hát rong…Tên gọi Thành lũy của những người đánh cá là để ghi nhớ công lao của những người đánh cá vào thời trung cổ đã chiến đấu ở đây để bảo vệ cho thành phố. Bảy ngọn tháp của Halászbástya tượng trưng cho bảy bộ tộc người Hungary đã định cư ở mảnh đất này từ năm 896. Đây là một trong những điểm ngắm toàn cảnh sông Danube đẹp nhất

Danube ở Budapest
Buổi tối là thời gian đẹp nhất để đi dọc sông Danube và ngắm sự lung linh huyền ảo của chiếc cầu

Szechengi nối quảng trường Roosevelt của Pest và quảng trường Adam Clark của Buda. Vào thời điểm được khánh thành năm 1849, Szechengi được xem là một trong những chiếc cầu đẹp nhất châu Âu, là biểu tượng cho một dân tộc tiến bộ.

Cầu Szecheng đã đứng bên dòng Danube này hàng thế kỷ, nó không chỉ chiêm ngưỡng vẻ đẹp của dòng sông, chứng kiến những chuyện tình lãng mạn như lời cầu hôn của nhà văn Mark Van Spall dành cho người yêu trên cầu, mà còn vô tình chứng kiến không biết bao nhiêu cuộc tự tử. Gắn liền với cây cầu này có rất nhiều giai thoại về những vụ tự tử. Được biết đến nhiều nhất là câu chuyện về bức tượng con sư tử không có lưỡi ở hai đầu cầu. Thật ra, tượng sư tử vẫn có lưỡi, nhưng vì chúng được đặt trên bệ đá cao 3m nên không ai nhìn thấy được lưỡi của chúng khi đứng trên

cầu.


Johann Strauss II
 (1825- 1899)Có thể nói song Danube là dòng sữa nuôi dưỡng là nguồn cảm hứng cho bao nhiêu thiên tài âm nhạc của châu Âu từ J. Strauss , Beethoven, Subert đến Mozart, Shuman… Hẳn là những ai yêu âm nhạc cũng đã từng nghe bản “Sông Danube xanh” của Johann Strauss.


 Có nhiều bản nhạc có lời và không lời hay gợi lên trong ta những cảm xúc rung động mãnh liệt, trong đó có sông Danune xanh, bản nhạc valse bất hủ này.
Năm 1867, Johann Strauss Jr sáng tác “Donauwalzer” (bản nhạc valse sông Danube), tên đầy đủ của bản nhạc này là “An der schönen blauen Donau” (Bên dòng sông Danube xanh xinh đẹp). Bản nhạc nguyên thủy này không được đón nhận nồng nhiệt cho lắm, có lẽ vì lời nhạc của nó do Josef Weyl đặt lời không được hay.

Vài tháng sau đó, khi Strauss tham dự Hội chợ Quốc tế Paris và cần gấp vài bản nhạc mới để trình diễn, ông đã chuyển bài này thành một phiên bản cho giàn nhạc hoà tấu. Tác phẩm thành công rực rỡ ngay từ buổi trình diễn đầu tiên với cái tên “Le beau Danube bleu”. Từ đó trở đi,Sông Danube xanh soạn cho giàn nhạc hoà tấu này được trình diễn khắp nơi và trở thành một trong những tác phẩm âm nhạc được yêu thích nhất mọi thời đại.
Nghe sông Danube xanh không lời, rồi nghe thêm bài hát “Dòng song xanh có lời Việt của Phạm Duy, càng cảm được cái đẹp mênh mông xa vắng đến nao lòng

 Ludwig van Beethoven

Ludwig van Beethoven (17 tháng 12 năm 1770 – 26 tháng 3 năm 1827) là một nhà soạn nhạc cổ điển người Đức. Phần lớn thời gian ông sống ởWienÁo. Ông là một hình tượng âm nhạc quan trọng trong giai đoạn giao thời từ thời kỳ âm nhạc cổ điển sang thời kỳ âm nhạc lãng mạn. Ông có thể được coi là người dọn đường (Wegbereiter) cho thời kỳ âm nhạc lãng mạn. Beethoven được khắp nơi công nhận là nhà soạn nhạc vĩ đại nhất và có ảnh hưởng tới rất nhiều những nhà soạn nhạc, nhạc sỹ, và khán giả về sau.

Những lâu đài phong cảnh trải dài trên hai bờ song Danube

Những tác phẩm của Beethoven hoàn thành trong khoảng 18031805 vượt trội hẳn những gì mà ông sáng tác trước đó. Đó là bản Sonate Kreutzar (1803) viết cho violon và piano. Bản Giao hưởng Số 3 Anh hùng ca (1804) có sức cuốn hút mạnh mẽ và gây xúc động sâu xa, lúc đầu ông đề tặng Napoléon nhưng khi Napoléon lên ngôi Hoàng đế thì ông đã xé đi lời đề tặng. Các Sonate cho piano,Bình minh (1804) và Appasionta (1805), Bản Giao hưởng Số 4 (1806), Bản Giao hưởng Số 5 Định mệnh (1808) đều có giá trị nghệ thuật lớn lao. Ông muốn lột tả trong âm thanh về một cuộc sống trong sự đấu tranh với cái chết bằng một sức mạnh khủng khiếp cuối cùng đã ca khúc khải hoàn, như nhân vật nữ trong vở Opera Fidelio (1805) ra sức bảo vệ người chồng của mình chống lại sự xấu xa bạo tàn, và trong khúc Missa Solemnis là lời cầu nguyện để giải thoát khỏi đau thương chiến tranh.Năm 1781, Beethoven 11 tuổi, ông đã biểu diễn như một nghệ sĩ piano điêu luyện tại Hà Lan. Đến năm 1795, Beethoven bắt đầu nổi danh là một nghệ sĩ piano với bản Concerto cung do trưởng. Nhưng chẳng may từ năm 1780 ông bắt đầu bị lãng tai. Lúc đầu ông mất hết hy vọng nhưng rồi cố gắng thích nghi với điều kiện sống và bắt đầu tập trung tư tưởng tình cảm cao độ hơn bất cứ lúc nào hết trong sáng tác.

Beethoven nổi tiếng nhất về chín bản giao hưởng của ông. Ông cũng soạn vài concerto, phần nhiều để ông trình diễn, cũng như nhạc dàn nhạc khác, nhất là ouverture và nhạc nền cho kịch tại nhà hát, và những tác phẩm để kỷ niệm những sự kiện đặc biệt.

Giao hưởng số 1 cung Đô trưởng (soạn 1799–1800, trình diễn 1800)

Giao hưởng số 2 cung Rê trưởng (soạn 1801–1802, trình diễn 1803)

Giao hưởng số 3 cung Mi giáng trưởng (Eroica, “Anh hùng ca”; soạn 1802–1804, trình diễn 1805)

Giao hưởng số 4 cung Si giáng trưởng (soạn 1806, trình diễn 1807)

Giao hưởng số 5 cung Đô thứ ( “Định Mệnh” soạn 1804–1808, trình diễn 1808)

Giao hưởng số 6 cung Fa trưởng (Pastoral, “Đồng quê”; soạn 1803–1807, trình diễn 1808)

Giao hưởng số 7 cung La trưởng (soạn 1811–1812, trình diễn 1813)

Giao hưởng số 8 cung Fa trưởng (soạn 1811–1812, trình diễn 1814)

Giao hưởng số 9 cung Rê thứ (Choral, “Thánh ca”; soạn 1817–1824, trình diễn 1824)

Ngày xưa người ta tưởng rằng Giao hưởng “Jena” cung Đô trưởng là một giao hưởng sớm của Beethoven, nhưng ngày nay được cho là của Friedrich Witt. Beethoven có lẽ muốn viết Giao hưởng số 10 vào năm cuối cùng của ông; một bản vẽ phác được soạn bởi Barry Cooper.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s