Docago.wordpress.com số 83: CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY: Trí tuệ Lão tử của Đỗ Anh Thơư

LBT: Mặc dù sách này đã tái bản, nhưng vẫn còn rất nhiều sạn. Nay đưa lên mạng , cung cấp cho bạn đọc đồng thời để  tác giả có điều kiện tiếp tục chỉnh lý sai sốt.

Rất cảm ơn các phản hồi của độc giả


Trí tuệ Lão Tử 

 Đỗ Anh Thơ

( Biên soạn, chú giải và bình luận)

 

                  Lời nói đầu

Theo sử gia Tư Mã Thiên thì Lão tử là người thôn Khúc Nhân, làng Lệ, huyện Khổ ( 苦 縣 )(*) nước Sở (thuộc Lộc Ấp nay là trấn Chu Khẩu tỉnh Hà Nam. Có sách nói là tỉnh An Huy, Trung Quốc); tên thực là Lý Nhĩ, tự Bá Dương, làm quan giữ kho sách của nhà Chu (Thủ tàng thư chi lại), sống cùng thời với Khổng tử vào cuối đời Xuân Thu (770-476 TCN). Ông còn có tên là Lão Đam ( 聃 ). Nhưng có sách lại nói ông là Lão Lai tử  ( 老  萊  子 ) hoặc chính là Thái sử Đam ( 儋 ), sống vào thời Tần Hiếu công (362-345 TCN, tức là sau khi Khổng tử mất đến 129 năm). Như vậy tên

tuổi, quê quán của Lão tử đến nay ta vẫn không biết một cách chính xác. Tư Mã Thiên viết rằng Khổng tử có lần đến gặp Lão tử hỏi về Lễ. Lão tử trả lời:

Những người mà ông hỏi thì nay đến xương cốt cũng đã mục nát thành tro bụi cả rồi, chỉ còn lại một số câu nói mà thôi. Làm người quân tử, nếu như sinh ra gặp thời, ra khỏi nhà có thể lên xe xuống ngựa; nếu như sinh ra không gặp thời thì sống phiêu diêu cảnh nhà tranh nón lá. Tôi nghe nói người đi buôn khôn ngoan thì biết cất giấu hàng hóa giống như thứ gì mình cũng không có; người quân tử có đức hạnh cao thì bề ngoài tỏ ra như kẻ ngu đần. Ông hãy loại bỏ cái kiêu căng, ham muốn sắc thái và những hoang tưởng đi. Bởi vì những thứ đó đối với ông đều vô ích. Điều mà tôi muốn nói với ông chỉ có như thế mà thôi”.

Lúc ra về, Khổng tử đã đánh giá Lão tử với học trò như sau: “Loài chim ta biết chúng bay được. Loài cá ta biết nó bơi được; loài thú thì nó chạy được. Chạy thì ta có thể giăng lưới, bơi thì ta có thể dùng câu, bay thì ta dùng tên, còn như loài rồng cưỡi gió mây mà bay lên trời thì ta không sao biết được. Hôm nay tư tưởng của người mà ta đến gặp, ta không thể nắm bắt được. Người đó có lẽ là rồng chăng?” 

Gần đây (năm 1994), theo tài liệu của Trương Cảnh Chí, Chủ tịch Hội Lão học Lộc Ấp công bố trên mạng, thì Lão tử sinh vào đời Lỗ Tương công năm thứ 2 (571), bố tên là Lý Càn làm lại trong triều nhà Chu. Con ông tên là Lý Tông làm tướng nước Ngụy, cháu là Chú. Con Chú là Cung, chắt của Cung là Lý Giá làm quan đời Hán Hiếu công.

Hiện nay ở Trung Quốc và đặc biệt là quê ông – Lộc Ấp có rất nhiều di tích thờ Lão tử như Lão quân đài, Thái thanh cung, Động tiêu cung, Núi Ẩn dương, giếng Cửu long, nơi Khổng tử vấn lễ, Lệ hương câu, Lý mẫu phần (mộ mẹ Lão tử), bãi thả trâu của Lão tử…

Lão tử làm thủ thư cho nhà Chu nên có lẽ đã đọc được nhiều sách về văn minh cổ từ thiên văn đến triết học của thế giới như Ấn Độ, Ai Cập, Hy Lạp… Về sau thấy triều đại Chu suy vi, các chư hầu xưng hùng xưng bá khắp nơi nên ông chán thế sự thường cưỡi trâu đi du ngoạn đó đây. Một thời gian sau bỏ hẳn chức tước mà đi ở ẩn. Thân thế ông, ta chỉ biết qua Tư Mã Thiên có vậy. Cuộc đời, sự nghiệp, lúc sống ông đã xem như không có, thì lúc chết, người đời cũng không nên truy cứu nhiều làm gì. Nguyễn Hiến Lê đã dành ra gần 50 trang để trích dẫn rất

nhiều tài liệu xung quanh tên họ, quê quán, mối quan hệ bạn bè về đời ông. Theo tôi đây là điều không cần thiết. Ta không nên băn khoăn nhân vật này có thực trong lịch sử Trung Hoa hay không. Đạo đức kinh có phải là do ông viết hay không, vì về mặt văn bản học ta không có một tác phẩm nào khác của ông và không có người bạn nào của ông có tên trong sử sách. Về chuyện Khổng tử đi gặp ông hỏi về Lễ cũng vậy. Bởi vì ông là một kẻ lánh đời giấu tên, giấu tuổi kia mà! Hơn nữa, làm như thế tức là ta đã dùng phương pháp nhị nguyên (tồn tại và không tồn tại) để chứng minh một triết lý nhất nguyên, đó là đạo Lão.

Thuyết Vô vi không phải là chuẩn tắc trị nước của giai cấp thống trị. Nhưng năm 166 Hán Hoàn đế đã phong Lão tử làm Thái thượng Lão quân và đích thân làm lễ tế. Đường Thái Tông tức Lý Thế Dân vì tin rằng mình cũng họ Lý với Lão tử nên tự xưng là hậu duệ của ông. Năm đầu Càn Phong (666), Đường Cao Tông truy phong Lão tử làm Thái thượng huyền nguyên hoàng đế. Đời Tống Huy Tông cấm dân chúng đặt tên là Nhĩ, Đam, Bá Dương v.v…,

Còn trong dân gian, người đời thêu dệt nên không biết bao nhiêu huyền thoại về ông, nào là từ bụng mẹ sinh ra tóc râu ông đã bạc trắng phơ phơ.

Ông là vị tiên thánh bất tử, đi mây về gió cùng các tiên như Tây vương mẫu ở trên trời. Ông là thủy tổ của thuyết trường sinh bất lão như thế đó. Từ hàng nghìn năm nay, những người thích sống ẩn dật như Lão tử chủ yếu đều muốn sống gần với thiên nhiên, không màng danh lợi, xem mình cũng như cây cỏ, làm bạn với chim muông, phủ định Lễ Nghĩa của Khổng tử. Vua chúa các triều đại phong kiến vốn dĩ chỉ tôn sùng Khổng Mạnh, xem đó là bảo bối để củng cố quyền lực của mình. Nhưng về già, họ lại tìm đến Lão tử mong luyện được phép trường sinh bất lão để kéo dài cuộc sống, cuộc đời hưởng thụ mà thôi.

Thành Cát Tư Hãn có lần đã cho vời Khưu xử Cơ một đạo gia nổi tiếng đời Nam Tống lên thảo nguyên để hỏi về thuật dưỡng sinh. Chuyện đó có thật chứ không phải là hư cấu của Kim Dung.

Trong lịch sử Trung Quốc, những kẻ muốn phủ định chế độ phong kiến bất công, lợi dụng đạo Lão, làm một thứ thần quyền để tập hợp quần chúng như Trương Giác, Chu Nguyên Chương, Hồng Tú Toàn …

Đến các phái võ thuật như Toàn Chân, Thiếu lâm tự xưa kia và Pháp luân công hiện nay tuy lấy tu luyện là chính nhưng cũng đã dính không ít tới chính sự.

Bởi vậy, chúng ta hãy bỏ qua cái huyền bí bên ngoài, những lợi dụng của các giai cấp đối với Đạo Lão mà đi vào học thuyết Vô vi, là thứ triết học biện chứng sơ khai của ông. Những học giả xưa nay, ở Việt Nam cũng như nước ngoài, phương Đông và phương Tây… thường tiếp cận tới Đạo – Vô vi theo hai hướng: nhất nguyên luậnnhị nguyên luận. Nhưng đều gặp không ít khó khăn và mâu thuẫn.

– Thứ nhất về triết học, ông nói tới Đạo như là bản thể luận, vũ trụ luận, là hình nhi thượng học (metaphysic), là thể duy nhất, nhưng ngay sau đó, ông lại nói sang Đức là cái vỏ ngoài, cái Dụng cái Khí của Đạo, ấy là đã đi sang hình nhi hạ (physic), thể phân chia của vật chất: nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật.

– Thứ hai là ông thường nhấn mạnh tới nhu, tới bất tranh, tới vô vi nhưng rồi lại nói nhu thắng cương, vô danh hữu danh, thiện bất thiện, trị bất trị của thánh nhân… tức là nói tới hai mặt tồn tại và đối lập, tương sinh tương khắc của vật chất với vật chất và vật chất với tinh thần và có khi đi đến cực đoan là bài xích khoa học tiến bộ, chủ trương con người trở về với cuộc sống thuần phác hoang sơ. Do hạn chế bởi thời đại, ông không chứng minh được cái lý tận cùng cuộc sống là cạnh tranh. Vì ngay cả cây cỏ, muông thú … cũng có cạnh tranh để tồn tại: cây cỏ cạnh tranh vươn ra chỗ có ánh sáng, có nguồn nước; muông thú giành nhau môi trường có thức ăn… từ vô thức đến hữu thức. Không khí và nước do nặng nhẹ khác nhau, cũng giành nhau lên cao hoặc xuống thấp. Nước tuy chảy xuống chỗ trũng nhưng rồi lại bay hơi lên cao! Vậy thì bất tranh ở chỗ nào? Bất tranh không phải là quy luật tồn tại phát triển mà là quy luật triệt tiêu, ít nhất cũng là quy luật “ngủ” và “ngủ đông”, nhằm tiết kiệm năng lượng của vạn vật, để cân bằng phục hồi sức, chuẩn bị vào cuộc đua mới.

Nghiên cứu, trình bày học thuyết vi xưa nay vốn rất khó. Đạo đức kinh chẳng khác gì viên đá thô nhưng trong có chứa ngọc. Chỉ làm công việc chú giải thuần túy, trích dẫn sách vở làm ta lẫn lộn ngọc với đá. Ngày nay với thời đại con người đua tranh vào vũ trụ, nó chẳng khác gì một công việc nhàm chán, vô bổ, không còn giúp ích được gì cho cuộc sống muôn loài (trong đó có con người). Bởi con người đã chót “cưỡng lại” tự nhiên, đứng thẳng lên, bộ óc chiếm vị trí cao nhất trong thân thể, tư duy theo chủ quan, đi theo hướng công nghệ kỹ thuật… tức là hướng ngược chiều với bản năng,

muốn hay không muốn, nó phải phá vỡ dần môi trường tự nhiên. Ta nói tới thuyết bất tranh, thuần phác hiện nay chẳng khác gì đứng trước đám thanh niên đang giành nhau chiếc vé vào xem World Cup 2006 hay đang gắng xoay xở tiền để mua chiếc xe mô tô đời mới nhất… mà ta cứ lải nhải rằng:

Các cháu ơi, Lão tử là thánh nhân đã dạy bảo chúng ta đừng nên tranh giành nhau cơ mà!”.

Nhưng nếu xét về phương diện cân bằng cực, cân bằng sinh thái, phát triển bền vững giữa cuộc sống con người và tự nhiên trong đó có ta, thì học thuyết Vô vi được hiểu là vô nhân vi, vô ngụy (cũng đọc là wuwei nghĩa là không dối trá) thì nó thực sự có ánh ngọc sáng chói. Cái khó là ta đọc, hiểu, lý giải tư tưởng người xưa sao cho không khiên cưỡng. Phải có tư duy triết học lịch sử, không làm khúc xạ, méo mó lý thuyết mà chỉ phát triển ý niệm theo quy luật diễn tiến, tất yếu phải có của người xưa; lấy giả chứng để thực chứng, tìm cái chân lý tương đối khoa học trong những luận đề được xem là phi khoa học, ngụy khoa học, giữa cực bên này hữu vi mà Khổng tử là đại diện với cực bên kia là vô vi của Lão tử để quan sát thế giới mà ta đang sống cho cân bằng. Tới lúc này mà ta đứng

nguyên trên quan điểm nhất nguyên để giải bài toán thì bế tắc. Ta lại phải tiếp cận tới nhị nguyên luận và đa nguyên luận, tiếp cận tới sự cạnh tranh, tới thiện ác, thật giả, tồn tại và không tồn tại, vật chất và tinh thần… để dung hòa, để không trở nên quá cực đoan cuồng tín.

Nếu với tiêu chuẩn đề ra như vậy, soạn giả nghìn lần không dám biên soạn bộ sách này. Thế nhưng nghĩ lại, xét theo yêu cầu thanh niên trong nước, ngày nay đang có xu hướng tìm về triết học phương Đông (Lão tử, Trang tử, kinh Dịch, Luận ngữ…) như là đòi hỏi tìm đến sự cân bằng về tư tưởng, đạo đức, về môi trường, về sức khỏe… để khắc phục cái thái quá của hữu vi của con người, của công nghiệp hóa, khoa học kỹ thuật… thì soạn giả lại đầy quyết tâm dấn bước, cầm bút để viết về Lão tử và nếu thời gian còn cho phép, tiếp đến là kinh Dịch, Trang tử… góp phần đẩy lùi cái bất tri của một số người, do không có điều kiện về ngữ ngôn cổ, tiếp cận tới nguyên lý luận của những trước tác xưa mà đang sa vào vòng mê tín, dị đoan…

Trong biên soạn, tác giả cố gắng tìm trên mạng những bản dịch và chú giải xưa nhất cũng như mới nhất để khảo dị, gạt bỏ phương pháp tư duy nhị nguyên trong đầu, nhưng đồng thời có lúc cũng phải rời xa nhất nguyên luận. Đó là khi triết học hình nhi thượng không diễn giải được thì bước sang hình nhi hạ và ngược lại. Bởi vậy soạn giả cũng rất mong bạn đọc hiểu cho rằng: ta không thể lý giải được khái niệm “vạn vật vốn là nhất thể”, mà không tưởng tượng trên đời này có quy luật nhân quả, báo ân báo oán, thiên đườngđịa ngục

Tư tưởng triết học nước ta là kết quả giao thoa giữa các nền triết học Ấn Độ (Phật), Trung Quốc (Nho, Lão) theo tam giáo đồng nguyên. Đến nay chúng lại được tham chiếu với các loại triết học tự nhiên, triết học khoa học phương Tây từ phương pháp quy nạp của Descartes, thực chứng và giả chứng của Popper, Kuhn đến triết học hiện sinh của Jean Paul Sastre… Do “nhất” không có thì “nhị” cũng không thể sinh, nên ta không thể thu được một khái niệm duy nhất, càng không thể loại trừ một khái niệm duy nhất trong đầu. Không có ranh giới (không) và hữu (có) một cách tuyệt đối, càng không có khái niệm “tồn tại” hoặc “không tồn tại”, bởi vì loài người tồn tại trong không tồn tại, chỉ trong một sát na (từ Phật học, nghĩa là một khoảnh khắc). Vậy ta chỉ cần mở cánh cửa thông tin về cuộc sống bản

thân là ta có thể cảm thụ được chân lý vĩnh cửu, tức là Đạo mà Lão tử đã đặt ra từ hơn 2000 năm nay.

Từ khi loài người sinh ra, biết suy nghĩ, họ đã phải đối diện với vấn đề cần và muốn lý giải đó là sự sốngcái chết, giữa tồn tạikhông tồn tại, hữuvô.

Engels cho rằng: nhờ có đôi bàn tay tiên mà con người đã vượt qua loài thú. Điều đó không hoàn toàn đúng. Mấu chốt của vấn đề là ở bộ não chứ không phải ở bàn tay, tức là ở sự thu nhận à xử lý à sản sinh ra thông tin mới. Loài người chỉ khác loài vật và máy điện toán thông minh ngày nay chủ yếu ở giai đoạn ba của chu trình tư duy nhờ họ đã tìm ra công cụ ghi chép lại thông tin là lời nóichữ viết. Nhưng họ cũng không bao giờ chụp ảnh được ý niệm. Nói cách khác, họ không bao giờ tìm được khái niệm đích thực mà chỉ có khả năng tiến gần, đối chiếu phát hiện cái “sai” hoặc phát triển ý niệm “đúng” của những bộ óc siêu việt của cá nhân thời đại trước đó mà thôi. Chỉ có những bộ óc xơ cứng đang tiến dần đến cái chết mới nghĩ đến cái tuyệt đối đúng để đặt lên bàn thờ, hoặc tuyệt đối sai để đem vứt vào sọt rác, không hề biết chút phản tư nào mà thôi.

Nghiên cứu vận dụng học thuyết Vô vi của Lão tử cũng vậy. Người ta chỉ có thể tiếp cận được tới khái

niệm Hư dụng (công dụng của sự trống rỗng = The function of Emptiness), của sự cân bằng sinh học giữa con người và tự nhiên để kéo dài sự sống có ích chứ không thể tìm thấy sự trường sinh bất lão, thoát khỏi quy luật sống – chết được. Nhưng trường sinh bất lão lại là ước mơ của loài người. Nó trở thành cuộc sống tâm linh và là đề tài của biết bao trước tác, từ thần thoại xưa kia tới tiểu thuyết chưởng của Kim Dung ngày nay, làm cho con người cảm thấy sống vui hơn, có ích hơn, bớt thù hận nhau hơn. Đó là cốt lõi học thuyết Vô vi của Lão tử, học thuyết hòa đồng với ánh sáng và cát bụi trong xã hội hiện đại và hậu hiện đại. Nó có tác dụng làm quân bình sự sống vật chất và tinh thần, cho phép ta bỏ qua, quên đi những câu hỏi không thể lý giải được, vẫn day dứt loài người từ khi họ xuất hiện trên trái đất cho đến nay và sau này. /.

                                                  Nguyên tắc biên soạn

1. Để cho dễ đọc, quyển sách này được soạn giả viết theo cách tuyển của Diệp Châu (tác giả Lão tử đích trí tuệ), không lấy hết tất cả các phần chương cú trong Đạo đức kinh mà chỉ lấy từng đoạn, xem như là những từ khóa (key word) để chú giải, dịch nghĩa mang tính chất tham khảo và phê phán những cái sai của các tài liệu đã có. Phần bình đề cập tới tính thực tiễn của xã hội hiện đại như tên đã đặt cho quyển sách.

2. Tài liệu tham khảo gồm những bản xưa nhất như của Vương Bật đời Tấn, Hà Thượng Công, Lục Đức Minh (đời Đường) đến các bản của Legg (Anh), Suzuki (Nhật), Diệp Kim Sơn, Viên Phổ (Đài Loan), Thu giang Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê (Việt Nam)… để mong làm sáng tỏ hơn về khái niệm, cách hiểu và những nhầm lẫn của người đi trước.

3. Cách làm việc tuy nghiêm túc nhưng vì thời gian, kiến thức và phương tiện có hạn nên không thể tránh khỏi những sai lầm và thiếu sót.

Mong được các vị thức giả xa gần chỉ giáo. /.

                      Soạn giả


(*) Theo Nguyễn Hiến Lê chữ “Khổ” ở đây phải đọc là Hỗ. Nhưng Từ nguyên phiên thiết là (Khô ngũ) = khổ. Các bản dịch tiếng Anh cũng phiên là Ku.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s