Docago.wordpress.com số 84: CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY : Đỗ Anh Thơ : Trí tuệ lão Tử ( Câu 1 đến câu 3)

( Tác giả hoan nghênh mọi góp ý để sửa chữa cho lần tái bản thứ 3)

Câu 1. Bản thể của đạo

 

道 可 道 非 常 道

 

 

 

CHÚ ÂM:

Đạo khả đạo phi hằng đạo.

CHÚ GIẢI: Đây là đoạn câu của chương 1 Đạo đức kinh.

– Đạo (dao) (*): đường, nguyên lý, quy luật.

– Đạo (**): Có nhiều cách hiểu: nói, trình bày, khẳng định tuyệt đối.

– Phi (fei): không

– Hằng (héng): bất biến, vĩnh hằng (constant), quẻ “hằng”. Chữ thường 常 (cháng) ở đây nguyên là “hằng” (「 恆 」) nhưng do đời Hán kiêng tên Hiếu Văn Đế là Lưu Hằng mà viết thành thường. Nhiều trường hợp viết là thường nhưng nay ta vẫn đọc là hằng, ví dụ hằng số ( 常  數 ), hằng nga ( 嫦  娥 ).

– Hằng đạo (héng dao)(***): nguyên lý vĩnh cửu, đạo vĩnh hằng. Hằng đạo mang khái niệm nhất nguyên. Nó không có tên. Khi ta đã nghĩ tới  hay không tức là ta đã đi sang lĩnh vực mâu thuẫn đối lập, tức là sang phạm trù nhị nguyên.

Diệp Châu (tác giả Lão tử đích trí tuệ) vì hiểu 常 là thường nên chú giải đó là sự hiểu biết thông thường (ordinary). Lại có người hiểu là đạo phi thường hoặc như Hùng Lương Sơn (chủ nhiệm khoa Triết, Học viện Hoa Trung – Trung Quốc) giải thích: Phi thường đạo là có thể không gọi là đạo. Theo soạn giả, đây là những cách hiểu sai từ nguyên nên đọc sai, dịch sai văn bản cổ, không theo tư duy triết học lịch sử.

DỊCH:

Đạo mà có thể diễn tả được thì đã không còn là nguyên lý tuyệt đối của vũ trụ nữa rồi.

Do cách hiểu như đã chú giải ở trên, nên hiện nay ở Trung Quốc phổ biến nhiều sách dịch khác hẳn:

Con đường có thể đi nhưng không phải cách đi thông thường.

( 道   路   可   以   走  ,但  不   是   通   常   走   法   )

(Diệp Châu – Lão tử đích trí tuệ)

Đạo có thể gọi là đạo, cũng có thể không gọi là đạo.

( 道  ,可     以   叫   道  ,也  可   以   不   叫   道   )

(Dẫn theo Tranh luận về Đạo đức kinh do Hùng Lương Sơn dịch, – “Trung Hoa độc thư báo” phát trên mạng www.gmw.cn)

Bản của Diệp Kim Sơn trên mạng dịch là  肯  定 的 道  (đạo khẳng định) 都 不 是 『 純 粹 』的 『 道 』(đều không phải là đạo thuần túy) 。

Các bản dịch của các học giả Anh, Pháp, Nhật, Đài Loan xưa nay đều hiểu đúng là Đạo bất biến (unvariable way constant way, voie éternelle vv…). Vì vậy nó đã gây nên nhiều cuộc tranh cãi trên mạng giữa các nhà nghiên cứu về Lão xưa và nay trên thế giới.

 

 

 

 

 

 

Bình

 

Trong “Đạo đức kinh” của Lão tử, chữ “đạo” mang một khái niệm triết học hoàn toàn khác với “đạo” trong Nho học. Đây là danh từ có tính chất thần bí của phương Đông. Có lúc nó mang khái niệm là nguyên động lực vô cùng lớn của tự nhiên; Lúc biểu thị trạng thái hỗn mang, chưa phân chia (âm dương) của vũ trụ; khi lại chỉ cái mốc khởi đầu trong quá trình diễn tiến sinh à  thành của vạn vật.

Xưa nay, các nhà nghiên cứu phương Tây từng dịch là “way” (con đường) hoặc “Reason” (nguyên do) (xem các bản dịch của James Legge) (năm 1891), Suzuki (năm 1913), Dwight Goddard (1919)… nhưng đều không đạt, nên các nhà nghiên cứu Lão học hiện nay thường để nguyên chữ La tinh “Dao” hoặc “Tao”. Lão tử đề cập đến “đạo” với thái độ kính ngưỡng tuyệt đối, nhưng đó là lòng tin vào quy luật tự nhiên, khác với khái niệm quyền uy siêu hình là “ thiên ” (trời) của Nho giáo hay “thượng đế” của Cơ đốc giáo, Tiên Phật, thánh Ala v.v….Do đó tính quyền uy của nó càng cao hơn.

Diệp Châu hiểu đạo là đường và nói chữ giáp cốt xưa (chữ khắc trên xương, mai rùa) viết là “ 刀 ” (đao) nghĩa là con dao. Nếu đúng* ta có thể suy ra rằng: khi loài người ở trên cây với cuộc sống hái lượm bắt đầu xuống sống hẳn dưới đất, ở hang núi, lúc đi tìm thức ăn họ đã đi men theo mép nước đầu nguồn. Vết chân của họ để lại trên cát có hình tượng chẳng khác gì con dao. Vì vậy, họ mượn hình ảnh con dao để thông tin cho nhau một khái niệm khác là đường. Rồi từ đó họ còn dùng cách ném dao để đo khoảng cách. Ta còn biết, chữ “nhẫn”, đơn vị đo chiều dài đời Chu được viết như chữ đao 仞. Lại nữa, muốn mở đường, người ta phải dùng dao. Con dao quắm của người đi rừng, đến cái liềm của người trồng cấy, đều cong cong như những bàn chân có ngón xòe cong của người đi rừng. Bàn chân người Giao Chỉ sở dĩ có ngón cong là vì phải bám trụ đường núi trơn vùng phương nam. Từ khái niệm ban đầu đó, dần dần “đạo” có tính trừu tượng hơn. Nó chỉ người đi đường, cách thức đi đường, mục tiêu, cái đích mà con người phải vươn tới, nói tới.

Chữ “đạo” của Lão tử bao hàm ý nghĩa là con đường vĩnh hằng, cái quy luật bất biến. Đạo là cái không thấy (vô), là bản thủy của trời đất mà biểu hiện ra ngoài là cái tên (danh), cái đức thấy được, đó là có (hữu). Câu trên của Lão tử, cũng như toàn bộ lý thuyết của ông là nhất nguyên luận mang màu sắc bất khả tri luận.

Vương Bật (226-249) nhà huyền học đời Tấn cũng hiểu như sau: “Khả đạo chi đạo khả danh chi danh chỉ sự tạo hình phi kỳ thường dã cố bất khả đạo bất khả danh dã 

( 可 道 之 道 可 名  之  名  指  事 造 形﹐ 非 其 常 也﹐故 不 可 道 不 可 名 也 )

Nghĩa là cái đạo mà có thể diễn giải được, có thể đặt tên được thì không còn là cái nguyên lý vĩnh cửu nữa.

Viên Phổ chú là: nếu như có thể dùng lời để nói ra thì không còn là chân đạo tự nhiên bất biến nữa.

( 如  果  可  用  言  語  說  出 來 ,即 不 是 自 然 不 變 的 真 道 )。

Quá trình diễn tiến tư duy là từ sự vĩnh cửu thần kỳ đến thường thái. Tức là trạng thái dị thường, phức tạp rồi cũng trở lại trạng thái bình thường, giản dị như nắm đất, như chúng ta bóc một quả cây, một nụ hoa vậy. Cuối cùng là cái nhị hoa, cái hạt, cái mầm (tế bào). Sự biến đổi (biến dịch) của vạn vật muôn màu muôn sắc, nhưng bóc trần nó ra thì chỉ có hai yếu tố âm dương, hạt nhân có mang điện tích khác dấu, nhiễm sắc thể X, Y, đực cái, vật chất và linh hồn, cuối cùng trở lại 0 (không) là cát bụi. Nhưng từ 0 (không) đột biến lên thành có là sự huyền diệu của sự sống mà con người chưa khám phá ra được và có lẽ cũng không bao giờ có thể lý giải được. Đó là trạng thái hỗn mang ranh giới giữa hình nhi thượng (siêu hình, metaphysic) và hình nhi hạ (physic = vật lý). Lão tử nói: đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật. Cũng như kinh Dịch nói: “ vô cực nhi thái cực, thái cực sinh lượng nghi, lượng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quáí sinh vạn vật ” (cực không mà lại rất lớn, cực rất lớn sinh âm dương, âm dương sinh bốn hình tượng, bốn hình tượng sinh tám quẻ, tám quẻ sinh vạn vật). Đó là quy luật biến thiên theo nguyên lý nhị phân: 2 mũ 0 (= 1), 2 mũ 1 (= 2), 2 mũ 2 (= 4), 2 mũ 3 (= 8)… trong sự sống sinh học. Số 1 là thể thống nhất hỗn mang chưa phân chia, nhưng thống nhất trên hai mặt đối lập và tất yếu phải sinh ra một mặt thứ ba, hoặc thế này hoặc thế kia, nếu không thì chúng triệt tiêu, không còn tiến hóa. Đó là sự khẳng định và phủ định: khẳng định của khẳng định là phủ định; và phủ định của phủ định là khẳng định mới.

Trong đời sống hóa sinh cũng như trong cơ chế vật lý, cơ chế xã hội, không thể có một mặt (nhất nguyên, một yếu tố). Vì một (1) không thể phát triển, tăng trưởng. Ví dụ: 1 mũ 1 cho đến mũ một trăm, một triệu thì vẫn là 1. Một điểm dù lớn, thì quay bao nhiêu cũng không tạo thành diện tích tăng trưởng. Tới hai điểm tạo nên đoạn thẳng trong vòng tròn (phạm vi không tăng trưởng) tạo ra một cạnh thứ ba. Nhưng sự phát triển (quay) cũng chỉ do cạnh này tăng lên, cạnh kia thu lại cho tới lúc chúng trở thành một tam giác đều, thì diện tích là lớn nhất. Tăng lên n cạnh, diện tích (tích phân) cuối cùng chính là vòng tròn đó. Vòng tròn là giới hạn, cũng giống như cuộc sống trên quả đất được xác định bằng quy luật bảo toàn năng lượng. Do vậy, phải luôn luôn ở thế hai mặt (nhị nguyên) và nhiều mặt (đa nguyên) thì mới phát triển, nhưng sự phát triển đó có điều kiện. Cũng giống như hình phải có khối. Nếu ta cứ chia vật chất nhỏ tới dạng nguyên tử, tới hạt cơ bản thì vẫn phải có khối lượng. Cho tới khi vật chất sang một trạng thái khác, ví dụ: sóng… thì vẫn là pha khác mà thôi. Bởi vậy ta cần nhận thức cho đúng rằng: trong sự sống đã tồn tại cái chết và ngược lại có tăng trưởng phải có suy thoái, có phải ắt có trái, có trước phải có sau, có phúc tất có họa, có phát sinh phải có hủy diệt tiêu vong. Hiểu kiếp trước, kiếp sau cũng giống như trong phim khoa học giả tưởng ngày nay, con người đang ở dạng sóng, hiện hình trở lại. Như vậy có câu hỏi phải lý giải là các vật chất khác (không phải con người) thì sao? Bởi vậy, ở một góc độ nào đó ta phải thừa nhận triết lý hiện sinh: ta chỉ sống ở thì hiện tại. Nhưng ta là hiện sinh cha ta. Con ta sau này là hiện sinh của ta. Do đó có thể nói “đạo” của Lão tử chính là sự vi diệu của tự nhiên, ta không thể can thiệp. Phải có thái độ, có cái nhìn “vô vi”, tức là “vô nhân vi”. Quan niệm kiêu mãn, cực đoan của con người là mình có thể cải tạo thế giới là sai lầm, là phản quy luật. Bởi vì loài người giỏi lắm chỉ tồn tại trên hành tinh này với độ dài thời gian tính bằng con số triệu năm. Nhưng vũ trụ thì có tuổi thọ tính bằng hàng tỷ năm ánh sáng hay vô cùng, không thể tính được thời gian. Loài người dù xây nên Kim Tự Tháp, Vạn Lý Trường Thành, làm ra người máy, lên thám hiểm các vì sao… thì cuối cùng vẫn có thể biến mất bởi một sức mạnh siêu nhiên, bởi chính mình gây ra hoặc bởi những con virus nhỏ tới mức mình không nhìn thấy được.

Vấn đề trung tâm tư tưởng của Lão gia chính là sự huyền bí, là sự diễn tiến của đạo từ  (trống rỗng, hư = empty) sang hữu (đầy, doanh = surplus) và ngược lại.

 

 

 

 

 

 

 

Câu 2.  Phúc họa đi liền nhau , đó là lẽ tự nhiên.
禍 兮 福 之 所 倚﹐ 福 兮 禍

之 所 伏

 


 

 

 

PHIÊN ÂM:

Họa hề phúc chi sở ỷ; phúc hề, họa chi sở phục.

CHÚ GIẢI: Đây là phần câu trong chương 58 của Đạo đức kinh

– Họa (hùo): không may mắn, không tốt lành (disarter).

– Phúc (fu): may mắn, tốt lành (happiness).

– Hề (xi): trợ từ, tiếng phương Nam như hĩ của phương Bắc. Có thể dịch là chừ, vậy.

– Ỷ (ỷi): dựa vào, nhân tố gây nên.

– Phục (fu): ẩn nấp, che giấu, rình rập.

DỊCH:

Họa là chỗ dựa của phúc, phúc là nơi ẩn náu của mối họa đang rình dập.

 

 

 

 

 

Bình

 

Câu này Diệp Châu (tác giả Lão tử đích trí tuệ) bỏ vế quan trọng ở cuối nên không lý giải được hết cái sâu xa của triết lý phúc họa theo quan điểm nhất nguyên. Vế cuối như sau: “Thục tri kỳ cực kỳ vô chính tà”  孰  知  其  極 ,其 無  正  耶 ) nghĩa là: ai mà biết đạo lý phúc họa tới cực điểm thì biết chính danh của phúc họa. Nó không có chính tà (tức họa phúc, phúc họa), không phải là mặt nọ mặt kia của đồng tiền (nhị nguyên) mà là hai nửa của một hòn bi (khối) lăn tròn vì phúc tận là họa, họa tận là phúc (nhất nguyên).

Theo quy luật tự nhiên, thì phúc họa có tính ngẫu nhiên và quân đều, nửa này nửa kia vận động (quay) như quả đất quay. Ta chỉ biết sáng tối nhưng không biết đầu ngược xuôi vì ta đã dính chặt vào sức hút của quả đất. Trong phúc có tiềm ẩn họa, trong họa lại có cái nhân của sự tốt lành. Ta tạm gọi tính nhân quả theo triết lý Phật vậy. Xác suất là 50 / 50. Dân gian ta có câu: ai giàu ba họ, ai khó ba đời là vậy.

Đây là quan điểm, quy luật tối cao của sự bình đẳng của thị-phithiện-áctốt-xấusống-chết… mà con người phải luôn nhớ, không thể giành lấy phần hơn về mình. Bởi vì khi ta thấy rằng nó tốt thì nó đã xấu rồi (thiên hạ giai tri mỹ vi mỹ tư ố hĩ). Đây là cách nhìn biện chứng. Trang tử đã dành hẳn một chương tức là chương Tề vật luận để diễn giải cái nguyên lý không thay đổi này của vạn vật, nguyên tắc tùy thuộc, lợi dụng tự nhiên, phát triển bền vững… để cân bằng phúc họa.

Trở về với triết lý thực tiễn cuộc sống là nay ta phải thụ hưởng ít đi, biết tiết kiệm là để tránh bớt những tai họa cho con cháu, cho xã hội, cho nhân loại mai sau. Ví dụ về vấn đề năng lượng. Dầu mỏ, than đá là những thứ thiên nhiên không thể tái tạo ngay được mà phải mất hàng triệu năm. Con người hiện đại dùng nó để chạy máy, để phát động phương tiện đi lại, để sưởi ấm, để làm mát, nghĩa là xài một cách xả láng. Thử hỏi đến đời sau con cháu chúng ta dùng cái gì?

Tục ngữ ta có câu “đời cha ăn mặn, đời con khát nước” chuyện đó không phải là phúc họa từng nhà mà là cả nước, cả thế giới. Bởi vì những thứ hiện có trên hành tinh này đều do thiên nhiên ban tặng cho cả muôn loài (con người, muông thú, cây cối, côn trùng…). Con người không có quyền độc chiếm. Ngày nay những nước ở đầu nguồn ra sức ngăn sông, đắp đập để sản xuất điện, tưới tiêu… bỏ mặc cho các nước cuối nguồn khan nước, bị nhiễm mặn, hóa chất… Trước mắt, có thể nói đó là ta giành lấy phúc đẩy họa sang cho người. Như vậy có ngày ta sẽ phải trả giá. Tới lúc thiên nhiên gây địa chấn, làm vỡ đập thì sao? Nó sẽ nhấn chìm, đào thành biển ngay dưới chân ta. Lúc đó lại là: ta chết, người thoát. Ấy chính là nguyên lý cân bằng phúc họa vậy.

Mất cân bằng ở nước ta rõ nhất là hình thể sông biển và núi rừng, miền xuôi và miền ngược, điều kiện sống giữa thành thị và nông thôn, chênh lệch quá lớn giữa giàu và nghèo… Ai không thấy phúc họa tiềm ẩn ở đó là thiếu tri thức. Thấy mà làm ngơ là vô trách nhiệm, ích kỷ.

Ta không thể so sánh một căn nhà lầu ở phố gắn hàng chục cái máy lạnh với một căn nhà tranh tre nứa lá ven suối! Con người ta sống với đất, biển, rừng, chết lại về với biển, rừng, sông với núi. Đó là lẽ tự nhiên. Nhưng ta không thể cam chịu với những tai họa do chính ta tạo ra mà dân nghèo phải gánh chịu trước tiên. Không được phép dửng dưng trước thảm trạng hàng năm các vụ lở đất, chìm tàu do bão lũ gây ra ngày càng nhiều lên do công nghiệp hóa. Cam chịu tình trạng phúc quan hưởng họa dân chịu như thời phong kiến được.

 

 

 

 

Câu 3. Thế giới biến đổi như cái bóng theo mình

 

 

 

 

 

 

 

 

有 無 相 生﹐ 難 易 相 成﹐ 長 短 相 形﹐ 高 下相 傾﹐ 音 聲 相 和﹐ 前 後 相 隨

 

 

PHIÊN ÂM:

Hữu vô tương sinh, nan dị tương thành, trường đoản tương hình, cao hạ tương khuynh, âm thanh tương hòa, tiền hậu tương tùy.

CHÚ GIẢI: Đây là một phần câu trong chương 2 của Đạo đức kinh.

– Tương (xiang): cùng

– Sinh (sheng): phát sinh, nẩy nở.

– Nan (nán): khó.

– Dị (yi): dễ. Âm khác đọc là dịch nghĩa là biến đổi: kinh Dịch.

– Thành (chéng): xong, nên, hoàn thành, hoàn tất.

– Trường (cháng): dài;

– Đoản (duản): ngắn

– Hình (xíng): bóng của vật.

– Khuynh (qing): nghiêng.

– Âm (yin): tiếng vang rền (sound).

– Thanh (sheng): tiếng (voice).

– Hòa (hé): trộn lẫn với nhau.

– Tùy (súi): theo nhau.

DỊCH:

Có – không cùng sinh, khó – dễ cùng được tạo thành, dài – ngắn cùng bóng dáng, cao – thấp cùng nghiêng bên nhau, âm – thanh cùng hòa với nhau, trước – sau cùng theo đuôi nhau.

 

 

 

 

Bình

 

Đây là quy luật đối lập mà bù trừ cho nhau, là âm dương tương sinh tương khắc với nhau, biến đổi hình thành trong sự bổ trợ cho nhau, sự việc đột khởi lên rồi diễn tiến như sóng nối đuôi nhau tiến vào bờ.

Những hiện tượng vật lý đó diễn ra hàng ngày. Lão tử quan sát thấy bóng cây trước ngõ cứ ngắn dần từ sáng đến trưa rồi lại dài ra từ trưa sang chiều và biến mất hẳn khi màn đêm buông xuống, nên ông mới suy ra khái niệm trường đoản tương hình, cao hạ tương khuynh, tiền hậu tương tùy và cuối cùng là hữu vô tương sinhâm dương sinh khắc có tính trừu tượng của triết học.

Khái niệm âm dương có ba mặt:

– Thuộc tính âm – như đen tối, cong queo, trở ngại, mềm yếu, mảnh mai… là thuộc tính của giống cái (female), lấy khái niệm từ cái sinh thực khí đàn bà, với hình tượng là hai vạch đứt (- -)

– Thuộc tính dương: như sáng sủa, thẳng ngay, thông suốt, cứng rắn, thô sơ… là thuộc tính của giống đực (male), biểu hiện cái sinh thực khí đàn ông với hình tượng một nét liền (­­─).

– Thuộc tính trung gian giữa âm và dương, vật hỗn hợp, bao hàm trong nhau, bài xích lẫn nhau, phi âm phi dương hoặc bán âm bán dương, giả âm giả dương (neutre). Trong triết học gọi đó là phi thường thái (trạng thái không bình thường) biến thiên dựa vào nhau, theo nhau (tương tùy) sự thống nhất tương đối giữa hai mặt đối lập, trong thế tương đối với nhau. Thật vậy khi ta nói cao thì đã có khái niệm so với thấp, nói trước thì phải nghĩ đến sau… Nói có mà không nói không thì vô nghĩa. Chính đó là nguyên động lực phát triển. Sức nước có thể chuyển hóa thành điện chính nhờ có thế cao thấp. Xã hội phát triển nhờ có thế cạnh tranh. Cái thế đó ở mức bao nhiêu là có lợi, bao nhiêu là có hại? Mà cũng nên hiểu một cách tương đối mà thôi. Vì theo cách nói ngược của Lão thì lợi – hại tùy thuộc vào nhau. Quy luật đó con người chỉ có thể tìm hiểu, lợi dụng nó chứ không thể thủ tiêu nó. Sự cạnh tranh trong sản xuất là do quy luật giá trị, cung cầu chi phối. Thiện ác, phúc họa ta cứ tạm đồng ý do quy luật nhân quả chi phối. Bởi vậy, sự phát triển của sự vật, của con người quyết định bởi hai nhân tố:

1. Trạng thái xung đột giữa hai cực như cao – thấp, trước – sau, giàu – nghèo, thiện – ác v… tức là xung đột giữa hai cực: âm và dương.

2.- Trạng thái sinh trưởng của hai cực đó, tức là trạng thái giao hoán tương sinh, tương hình, tương hòa, tương tùy như Lão tử gọi.

Bí mật của tự nhiên chính ở chỗ này. Ta từng gặp những loài sinh sản vô tính như một số cây cỏ hoặc trung tính, không đực không cái, ví dụ loài ong, kiến, mối… Để phát triển sẽ có một cá thể được biến dị theo những điều kiện nhất định, theo mùa sinh sản. Lại có trường hợp, vì một lý do nào đó một giống bị mất đi, lập tức một cá thể trong giống kia sẽ biến tính, ví dụ cái biến thành đực hoặc ngược lại. Giới tính của loài người được phân theo tỷ lệ 50:50. Hiện tại do sức ép dân số, hạn chế sinh đẻ và tập tục, nên loài người đã mất dần tỷ lệ cân bằng đó. Ngày nay, hiện tượng hôn nhân đồng tính, mại dâm gia tăng là do biến đổi sinh lý, tâm lý hay là vấn đề suy đồi đạo đức? Do tất cả đã biến thành hàng hóa hay hiện trạng khủng hoảng giữa vật chất và tinh thần, trái với quy luật tự nhiên? Nay đã đến giai đoạn các nhà khoa học có thể lấy nhân tế bào bất cứ bộ phận nào trong cơ thể của động vật, thực vật đến con người để nhân bản vô tính (cloning). Vậy vấn đề này phải được các nhà khoa học, đạo đức học nghiên cứu mổ xẻ, không thể giữ thái độ lẩn tránh được.

 

 

 

 

 


* Soạn giả bảo lưu ý kiến của Diệp Châu. Tuy nhiên theo “Thuyết văn giải tự” của Hứa Thận thì hai chữ này viết rất khác nhau:

(đao = dao)  (đạo = đường)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s