Archive | Tháng Tư 2012

Docago.wordpress.com số 93 CHUYÊN MỤC VAN HOA ĐÔNG TAY : Le Lac của Lamartine

LE LAC

Lamartine

Lamartine (1790-1869) là một trong những nhà thơ khởi xướng phong trào  phái lãng mạn trong văn học Pháp vào thế kỷ XIX.

Bài thơ  Le Lac  được nhiều người ưa thích trong số các vần thơ của Lamartine.

Trong Le Lac, thi sĩ trở lại chốn xưa, nơi đánh dấu cuộc tình với người tình Julie Charles (Elvire) nay đã mất.

Nhà văn VITA dịch bài thơ nầy đã hơn 70 năm qua.

 

Le lac                                                    

 

Ainsi toujours poussés vers de nouveaux rivages,

Dans la nuit éternelle emportés sans retour,

Ne pourrons-nous jamais sur l’océan des âges,

Jeter l’ancre un seul jour ?

 

Cái hồ

Cứ đẩy mãi xuôi vào bến mới

Trong đêm trường đưa tới chẳng về

Thời-gian, bể cả rộng ghê

Nhân-sinh chiếc bách, bến mê không ngừng?

 

O lac ! l’année à peine a finis a carrière,

Et près des flots chéris qu’elle devait revoir

Regarde ! Je viens seul m’asseoir sur cette pierre

Où tu la vis s’asseoir !

 

Nầy hồ hỡi ! Năm dài vừa mãn,

Bên sóng yêu nàng  hẳn đến nhìn,

Xem ! Ta trên đá một mình,

Mà ngươi đã thấy bạn tình khi xưa.

 

Tu mugissais ainsi sous ces roches profondes

Ainsi tu te brisais sur leurs flancs déchirés,

Ainsi le vent jetait l’écume de tes ondes

Sur ses pieds adorés.

 

Rền-rĩ thế dưới gầm động thạch,

Sóng bủa sườn, ngươi rách tả-tơi,

Gió tung bọt sóng tơi-bời,

Gót son trắng điểm, tuyệt-vời yêu-đương.

 

Un soir, t’en souvient-il ? nous voguions en silence,

On n’entendait au loin, sur l’onde et sous les cieux

Que le bruit des rameurs qui frappaient en cadence

Tes flots harmonieux.

 

Một chiều nọ, trên gương hồ phẳng,

Còn nhớ chăng? thuyền lẵng lặng trôi,

Xa xa, mặt nước, bầu trời,

Chỉ nghe rơi mái chèo…rơi nhịp nhàng.

 

Tout à coup des accents inconnus à la terre

Du rivage charmé frappèrent les échos,

Le flot fut attentif, et la voix qui m’est chère

Laissa tomber ces mots :

 

Thình lình cất tiếng nhân-gian lạ,

Bến say mê, lay cả vang-âm

Lắng nghe sóng bạc âm-thầm,

Tiếng ai yêu-dấu, bổng, trầm hữu-duyên :

 

O temps, suspends ton vol ! et vous, heures propices

Suspendez votre cours !

Laissez-nous savourer les rapides délices

Des plus beaux de nos jours !

 

Hãy dừng lại, giờ hên, phút tốt,

Khoan trôi đi ! dừng cất cánh bay !

Để ta tận hưởng vui say

Chóng qua của những chuổi ngày xuân tươi !

 

Assez de malheureux ici-bas vous implorent :

Coulez, coulez pour eux :

Prenez avec leurs jours les soins qui les dévorent

Oubliez les heureux !

 

Biết bao kẻ chơi-vơi bể khổ,

Cầu thời gian giúp họ qua mau

Nghiệp trần với khổ lo âu :

Riêng ai hạnh-phúc xin cầu ngươi quên.

 

Mais je demande en vain quelques moments encore,

Le temps m’échappe et fuit.

Je dis à cette nuit : « Sois plus lente », et l’aurore

Va dissiper la nuit.

 

Nhưng khẩn-khoản gia thêm ít khắc,

Thời-gian đành thoăn-thoắt lướt bay,

Cầu xin chậm bớt đêm nay,

Rồi vừng đông sẽ xóa ngay đêm tàn.

 

Aimons donc, aìmons donc, de l’heure fugitive,

Hâtons-nous, jouissons !

L’homme n’a point de port le temps n’a point de rive

Il coule et nous passons !

 

Hãy yêu, yêu mãi, yêu vô-lượng,

Mau vui say giờ cuộn cuộn sang :

Giờ qua đời cũng chóng tàn

Kiếp trần không bến, thời-gian không bờ !

 

Temps jaloux ! se peut-il que ces moments d’ivresse

Où l’amour à longs flots nous verse le bonheur,

S’envolent loin de nous de la même vitesse

Que les jours de malheur ?

 

Ganh chi bấy thời gian, những lúc,

Thú yêu-đương hạnh phúc tràn tuôn,

Bay đi vun-vút biệt luôn,

Cũng đồng như lúc đau, buồn, thế chăng ?

 

Hé quoi ! n’en pourrons-nous fixer au moins la trace

Quoi ! passés pour jamais ? quoi ! tout entier perdus ?

Ce temps qui les donna, ce temps qui les efface,

Ne nous les rendra plus ?

 

Ít ra cũng lưu chi dấu vết

Kìa ! qua luôn, kìa ! mất hết sao ?

Đã ban hạnh-phúc dồi-dào,

Rồi nay lại xóa chẳng bao thuở hồi ?

 

Éternité, néant, passé, sombres abîmes !

Que faites-vous des jours que vous engloutissez ?

Parlez : nous rendrez -vous ces extases sublimes

Que vous nous ravissez ?

 

Hỡi trường-cữu, hư-vô, dĩ-vãng,

Mịt-mù xa vô-hạn, vực sâu !

Ngày vui ngây-ngất chôn sao,

Thời-gian cướp đoạt có hầu trả chăng ?

 

O lac ! rochers muets, grottes, forêt obscure !

Vous que le temps épargne ou qu’il peut rajeunir,

Gardez de cette nuit, gardez, belle nature,

Au moins le souvenir !

 

Hỡi hồ đá, hang sâu, rừng tối,

Được thời-gian thấm gội trẻ xinh,

Ít ra kỷ-niệm đêm tình,

Lưu dùm, tạ-vật đượm nghìn sắc-hương !

 

Qu’il soit dans ton repos, qu’il soit dans tes orages,

Beau lac, et dans l’aspect de tes riants coteaux,

Et dans ces noirs sapins, et dans ces rocs sauvages

Qui pendent sur tes eaux !

Dầu bảo táp hay cơn yên-tĩnh,

Và đồi con trong cảnh sởn-sơ,

Trong rừng thông bóng âm-u,

Hay trong khóm đá hoang-vu soi hình.

 

Qu’il soit  dans le zéphyr qui frémit et qui passe,

Dans les bruits de tes bords par tes bords répétés,

Dans l’astre au front d’argent qui blanchit ta surface

De ses molles clartés !

 

Dầu trong gió rùn mình nhẹ lướt,

Trong sóng đưa vỗ nước bên hồ,

Hay trong trăng bạc nhấp-nhô,

Lồng soi ngấn nước, ánh mơ dịu-dàng.

 

Que le vent qui gémit, le Roseau qui soupire,

Que les parfums légers de ton air embaumé,

Que tout ce qu’on entend, l’on voit ou l’on respire,

Tout dise : «Ils ont aimé ! »

 

Gió  hiu hắt, sậy lau than vãn,

Hương thoảng xông quanh quẩn từng không !

Bao nhiêu cảnh vật cảm-thông,

Xin đồng nhắc-nhở « Tình chung nơi hồ »

 

Lamartine (Méditations poétiques)

 

VITA dịch (Trầm-tư-lục)

 

 

Hòa Ái( RFA):Thanh niên Việt Nam “quay lưng” với nghề giáo

Chỉ có 60 bộ hồ sơ đăng ký tuyển sinh vào các trường sư phạm ở TP.HCM trong mùa tuyển sinh năm nay là thông tin do Báo Lao Động loan đi hôm 17/4/2012.

Photo courtesy of dhspttnn1.edu.vn
Trường Đại Học Sư phạm TPHCM

http://www.rfa.org/vietnamese/manuallyupload/audio-player/player.swf

Qua bài báo “Cấp cứu cho ngành sư phạm” đăng tải một ngày sau đó trình bày những ý kiến trong diễn đàn thảo luận về thực trạng ngành sư phạm hiện nay cho thấy các bạn trẻ thanh niên đang “quay lưng” với nghề dạy học. Nguyên nhân vì sao nghề giáo được cho là một trong những nghề “cao quí” trong xã hội lại không thu hút giới trẻ ngày nay?
Giáo dục luôn được xem là quốc sách đối với các chính thể tại Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước. Xã hội luôn kính trọng người làm nghề được gọi nôm na là “gõ đầu trẻ”.
Dưới thời phong kiến, thầy giáo được tôn trọng ở bậc thứ hai trong xã hội, chỉ sau Vua theo thuyết “Quân-Sư-Phụ”.
Trong giai đoạn lịch sử cận đại, hình ảnh của một nhà giáo vẫn là niềm hãnh diện của gia đình, niềm mơ ước của bao người vì đó là một hình ảnh rất đẹp được xã hội đề cao và tôn trọng. Đến thời bao cấp, hình ảnh nhà giáo bị khác đi vì “nghèo”. Người ta vẫn còn nhớ câu nói “nhất y, nhì dược, tạm được bách khoa, bỏ qua sư phạm”.
Trong thời buổi kinh tế thị trường vừa “mở cửa”, đời sống giáo viên có nhiều thay đổi, nhiều thầy cô giáo có cơ hội thể hiện tài năng của mình cũng như có thu nhập rất tốt. Dù tiêu chuẩn xét tuyển vào trường sư phạm cũng rất cao nhưng vẫn thu hút nhiều bạn trẻ chọn dự thi vào ngành sư phạm.

Khó kiếm đất dụng võ

Một lớp học trong Trường Đại học văn hóa Hà Nội, ảnh chụp 26-04-2010. Photo by Tyler Chapman/RFA.
Một lớp học trong Trường Đại học văn hóa Hà Nội, ảnh chụp 26-04-2010. Photo by Tyler Chapman/RFA.

Theo thông tin từ nhiều sở GD-ĐT thì trong vòng những năm gần đây, nhu cầu giáo viên đã bảo hòa. Hằng năm các tỉnh thành có đến hàng trăm giáo viên mới ra trường không có việc làm. Đây là một thực tế khiến cho nhiều bạn trẻ hiện nay dù rất thích nghề giáo nhưng vẫn không chọn thi vào ngành sư phạm. Bạn Mai trả lời câu hỏi của đài RFA vì sao bạn không nộp đơn thi tuyển vào trường sư phạm trong kỳ thi tuyển đại học năm nay rằng:

“Yêu thích ngành sư phạm lắm vì đó là ngành truyền dạy kiến thức cho mầm non của đất nước nhưng mà không có đầu ra, nên làm sao vào sư phạm được? Học 4 năm xong rồi đi ra lại ôm bằng chạy vòng vòng xin việc mà thấy ngao ngán lắm. Ngành sư phạm thường đi ra thì không tìm được trường học, thường là thất nghiệp. Tại vì bây giờ nhân lực đang bị dư. Phải đi dạy thêm dạy kèm tại vì cần tiền và muốn không bị quên kiến thức sư phạm mình đã học, nên vừa dạy vừa ôn tập như vậy để chờ được trường nhận hồ sơ vào để dạy.”
Yêu thích ngành sư phạm lắm vì đó là ngành truyền dạy kiến thức cho mầm non của đất nước nhưng mà không có đầu ra, nên làm sao vào sư phạm được?
Bạn Mai
Sau 4 năm vất vả học hành, tốt nghiệp ra trường mà lại không có đất dụng võ là nguyên nhân chủ yếu làm cho các bạn trẻ nản lòng. Có vẻ như là nghịch lý trong khi có rất nhiều địa phương ở khắp cả nước rất thiếu hụt giáo viên mà số lượng sinh viên ra trường lại không có việc làm. Nhà nước có chính sách khuyến khích ưu đãi cho các giáo viên dạy học ở những vùng sâu vùng xa nhưng dường như vẫn không hấp dẫn những “kỷ sư tâm hồn” vừa tốt nghiệp đại học. Cô Trần Thị Ngọc Bích, một giáo viên đứng trên bục giảng nhiều năm cho biết:
“Bây giờ ra trường sinh viên phải tự tìm trường chứ nhà nước không bổ nhiệm như ngày xưa nữa. Tìm trường cũng là một vấn đề khó khăn. Những trường ở gần trung tâm thị xã, hay thành phố thì giáo viên đủ rồi. Giáo viên về hưu thì còn ít. Cho nên lượng giáo viên nhận vào mỗi năm coi như có nhiều trường không cần nhận vào. Vì vậy kiếm một trường ở trung tâm thị xã hay trung tâm của tỉnh hay thành phố thì rất là khó. Mà đi vùng sâu vùng xa thì lớp trẻ nhiều khi không thích. Vì mới ra trường thì đồng lương còn thấp đâu có bao nhiêu.”

Thu nhập thấp, không còn được coi trọng

hoc-sinh-tieuhoc-250.jpg
Cô giáo tiểu học. RFA photo.

Cô Bích chia sẻ rằng với các yếu tố như đồng lương của giáo viên mới ra trường mà lại phải sống xa gia đình và công khó cực khổ học hành 4 năm đại học đủ để các bạn trẻ chọn cho mình một công việc trong công xưởng. Hiện nay ở các thành thị có nhiều công ty doanh nghiệp mở ra, để kiếm một công việc có thu nhập tương đương với lương của một giáo viên mới ra trường không phải là khó. Có nhiều bạn trẻ sẽ chọn lựa cách kiếm tiền bằng một công việc đơn giản, sống ở thành thị và cũng không là gánh nặng cho gia đình phải lo học phí sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học.

Các chuyên gia giáo dục cho rằng địa vị nhà giáo không còn được coi trọng trong xã hội bây giờ cũng là nguyên nhân làm cho các bạn trẻ không mặn mà với ngành sư phạm. Giáo viên không được xã hội kính trọng phần lớn cũng vì thu nhập thấp.
được gọi là nghề làm thầy nhưng mà thời mới bây giờ thì cái sự tôn trọng đấy cũng giảm đi tức là cũng trở thành một nghề bình thường như những nghề khác.
Chuyên gia GD Quỳnh Hương
Trong thời buổi giá trị đồng tiền được tôn cao, mọi ngành nghề, mọi thành phần xã hội đều tìm cách gia tăng thu nhập thì việc thầy cô giáo dạy thêm để có cuộc sống được ổn định và đầy đủ hơn là điều hiển nhiên. Tuy vậy, xã hội lại không mấy thiện cảm với việc dạy thêm này. Đa số học sinh không còn lòng tôn kính thầy cô giáo của mình nữa là với lý do tất cả chỉ vì tiền. Chuyên gia giáo dục Quỳnh Hương đưa ra nhận định như sau:
“Thực ra bây giờ mọi người chỉ muốn kiếm nghề gì để có thể kiếm được nhiều tiền. Ai mà học giỏi thì sẽ trông vào những nghề có được nhiều tiền. Những nghề ít tiền sẽ ít người đi theo. Thế còn nói riêng ngành giáo-sư phạm thì trước đây nghề đó vẫn được gọi là nghề mô phạm và được xã hội tôn trọng, được gọi là nghề làm thầy nhưng mà thời mới bây giờ thì cái sự tôn trọng đấy cũng giảm đi tức là cũng trở thành một nghề bình thường như những nghề khác. Tôi nghĩ có thể vì thế nên sức hút của nó không còn được như ngày xưa.”

Giáo dục lỗi thời

DoVietKhoa_250.jpg
Thầy giáo Đỗ Việt Khoa một người từng tố cáo tiêu cực trong ngành giáo dục, ảnh chụp trước đây. File photo.

Bên cạnh đó, với chính sách giáo dục xơ cứng, giáo điều theo sách vở, xa rời thực thế không hấp dẫn và thuyết phục học sinh cũng là nguyên nhân khiến học sinh “chán thầy”. Xã hội hiện đại với những nguồn thông tin đa dạng nhiều chiều tiếp cận rất dễ dàng. Học sinh cần một phương pháp giảng dạy mới với xu hướng được hướng dẫn sáng tạo tư duy, không nhồi nhét, học thuộc lòng những điều sáo ngữ. Do đó, có những thầy cô giáo mới ra trường rất giỏi và đầy tâm huyết yêu nghề dạy học, muốn có cách giảng dạy khác với bao qui định của Bộ Giáo Dục buộc đã rẽ sang những ngành nghề khác.

Hầu hết các giáo viên đều mong muốn có đồng lương ổn định, không còn phải bươn chải dạy thêm hay phải làm thêm những công việc khác để cải thiện thu nhập. Họ ước ao một đời sống ổn định để có thời gian đầu tư cũng như nghiên cứu sáng tạo. Từ đó bài giảng được hay hơn, thu hút hơn cho học trò của mình, không bị gò bó trong những chương trình quy định cứng nhắc, không hợp thời.
Câu hỏi đặt ra làm thế nào để mong muốn và ước mơ tưởng chừng như thật đơn giản của giáo viên nước nhà thành hiện thực? Câu hỏi này cho đến nay vẫn chưa có lời đáp.

Docago.wordpress.com số 92: Đỗ Anh Thơ: Trí tuệ Lão tử : Câu 21 Tự tao thiên thời với nhân hòa . Câu 22: Coi trọng thiên hạ hơn thân thể mình . Câu 23:: Đầy thì phải xả bớt .

21. Tự tạo ra thiên thời với nhân hòa.
 居 善 地﹐ 動 善 時。

PHIÊN ÂM:
Cư thiện địa, động thiện thời.
CHÚ GIẢI: Đây là một phần câu trong chương 8 của Đạo đức kinh
– Cư (jù): ở
– Thiện (shàn) ưa thích, thuận theo lẽ phải.
– Địa (dì): đất, nơi
– Động (dòng): hoạt động, làm việc.
 – Thời (shí): giờ, lúc.
DỊCH:
Lựa chỗ ở lành, làm việc phải hợp thời.

 Bình
Câu này Diệp Châu (tác giả Lão tử đích trí tuệ) chỉ lấy một phần trong chương 8 của Đạo đức kinh. Theo Vương Bật thì chương 8 ngoài câu 21 trên còn tiếp nối một phần như sau: “…tâm thiện uyên, dữ thiện nhân, ngôn thiện tín, chính thiện trị, sự thiện năng… Phù duy bất tranh, cố vô vưu” (lòng chịu chỗ đất sâu, xử thế theo điều nhân, nói năng giữ điều tín, chính sự cần thái bình thịnh trị, phụng sự theo khả năng… Vì không tranh giành nên không lo lầm lỗi.)Nhiều bản trên mạng không có đoạn “phù duy bất tranh”.
“Động thiện thời”, Viên Phổ chú là: “Hành động của nước không vi phạm thiên thời, lúc cần làm thì làm, khi cần nghỉ thì nghỉ”.
( 水 之  行 動 不 違 天 時 ,皆 行 則 行 , 皆 止 則 止 也 。).
Suzuki dịch là: The movements of goodness keep time.
Xưa nay các nhà chính trị thường nhấn mạnh tới thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Thiếu một trong ba yếu tố đó thì khó mà thành công trọn vẹn. Có thành công cũng chỉ là tạm thời, nhất là khi thiếu nhân hòa. Bởi vì theo quy luật, nhân định có thể thắng thiên.
Lão tử đề cập tới “cư thiện địa, động thiện thời” như là một nguyên lý sống cân bằng, giữa người và tự nhiên. Nếu ta biết quý trọng vun đắp cho mảnh đất ta đang sống, biết hành động hợp với thời cuộc thì ta mới mong có cuộc sống cộng đồng bền vững, dài lâu.
Lời nói thì dễ. Bất cứ lý thuyết gia, chính trị gia nào cũng có thể nói ra lời hay ý đẹp đó. Nhưng tới khi hành động thì vì quyền lợi nhỏ nhen ích kỷ của mình, của giai cấp mình, vì tầm hiểu biết chiến lược thấp mà đã chuốc lấy những thất bại cay đắng, thậm chí để lại hậu quả lâu dài.
Khi còn ở nơi lều tranh, Gia Cát Lượng đã nói với Lưu Bị rằng: “thế nước đã chia ba, thiên thời thuộc về Tào Tháo, địa lợi nằm trong tay Ngô Quyền, Ngài (tức Lưu Bị) chỉ còn có nhân hòa”. Lý luận thì như vậy nhưng ông đã không biết dưỡng sức dân, không biết lo chỉnh đốn nhân sự. Quân ít lương thiếu (vùng Tứ Xuyên lúc đó chỉ có khoảng ba bốn triệu dân mà thôi) nhưng hàng năm ông vẫn cứ tiến ra Kỳ Sơn để đến nỗi sau khi ông chết, chỉ có mấy năm với mấy trận đánh nhỏ mà Đặng Ngải và Chung Hội đã có thể vượt qua sạn đạo (đường ghép bằng cây ở lưng chừng núi), chiếm Thành Đô. Đó là do Thục Hán không còn giữ được nhân hòa nữa vậy.
 Trong thời đại kinh tế trí thức, mọi hoạt động tăng trưởng phải tuân theo xu hướng công nghệ tốn ít nguyên liệu, năng lượng và có hàm lượng chất xám cao, bảo vệ được môi trường. Có nhiều vùng trên thế giới hiện nay chạy theo con số tăng trưởng hai chữ số. Giỏi lắm thì họ thu được vài chục tỷ đô la tăng trưởng GDP /năm nhưng đã phá tan hàng triệu ha rừng, làm hoang mạc hóa đất nước, giết chết nhiều con sông, con suối v.v…, thì sự tổn thất đó có thể lớn gấp hàng nghìn lần cái mà họ thu được. Con cháu họ phải tốn những khoản kinh phí cực lớn và mất hàng trăm năm mới tái sinh lại môi trường mà có thể vẫn không cứu vãn nổi.
Vùng Trung cận đông cách đây hàng nghìn năm là mảnh đất phì nhiêu do các con sông Nile, Tigris, Euphrates bồi đắp nên. Nhưng chỉ do sai lầm về chăn nuôi dê cừu quá mức mà nay hầu hết đã trở thành sa mạc.
Hiện tượng thiếu nước ngọt, bão cát, nhiệt độ tăng lên… đang đe dọa chính mảnh đất của ông tổ thuyết cân bằng, người đề cao cái nhu, cái mềm yếu của nước. Có thể vùng đồng bằng ở đó sẽ có nhiều nhà chọc trời hơn, chen chúc sầm uất hơn, giàu có hơn. Nhưng nếu rừng mất, than, dầu mỏ hết, nước khan và ô nhiễm… thì làm sao mà tái tạo lại được sự cân bằng giữa núi và biển ? Bởi vì đó là công trình hàng triệu năm của tạo hóa !
22. Coi trọng thiên hạ hơn thân thể mình
 貴 以 身 為 天 下﹐ 若 可 寄 天 下. 愛 以 身 為 下﹐ 若 可 托 天 下。

PHIÊN ÂM:
Quý dĩ thân vi thiên hạ, nhược khả ký thiên hạ. Ái dĩ thân vi thiên hạ, nhược khả thác thiên hạ.
CHÚ GIẢI:
 – Quý (gùi): quý trọng.
 – Thiên hạ (tian xìa): nghĩa đen là dưới gầm trời, tức là từ chỉ chung đất nước và con người.
– Ký (jì): gửi.
– Thác (tùo): giao phó.
DỊCH:
Kẻ nào biết quý thiên hạ như quý thân mình thì ta có thể giao thiên hạ cho họ được. Người nào biết thương yêu thiên hạ như thương yêu thân mình thì ta có thể gửi gắm thiên hạ cho họ được.

Bình
Câu này Lão tử bàn về cái tôi, cái vinh và cái nhục. Theo ông cả hai đều đáng sợ vì con người chỉ biết tới cái tiểu ngã tức là cái thân của mình mà không thấy được rằng con người chỉ là hạt cát trong vũ trụ. Cho nên ông mới chủ trương “vô thân” (xem không có thân mình). Đã xem không có thân mình nên còn phải sợ gì nữa? Vô thân tức là hòa đồng thân mình cùng vũ trụ. Các bậc thánh nhân nếu biết quý trọng đất nước hơn thân mình, biết xả thân cho thiên hạ thì ta có thể gửi cả tính mệnh cho họ được.
Như phần trên đã bàn, Lão tử cho đời là một sự giả trá, là một màn kịch. Ta chỉ là kẻ lừa dối và bị lừa dối mà thôi. Vậy nên câu này của ông là một nghịch lý, tự ông mâu thuẫn với ông. Vì trong lịch sử có mấy vua chúa biết quý thiên hạ hơn quý thân mình ?
Lê Lợi có thể gọi là một ông vua anh minh. Khi quân mới có một nhóm thì biết quý những người như Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi …vốn là tôn thất nhà Trần. Khi đã có ngôi báu liền ngụy tạo nên những án phản nghịch để giết công thần.
Trong lịch sử, nước ta chưa bao giờ có được một sử quan độc lập, nên chúng ta không rõ được tại sao những danh tướng có trí thức như Trần Nguyên Hãn khi có quân trong tay, không mưu khôi phục lại nhà Trần mà đợi đến lúc Lê Lợi đã lên ngôi, khi sự nghiệp đã thành mới phản? Chuyện Hàn Tín ở thời Hán cũng tương tự, nhưng đã có Tư Mã Thiên minh oan. Tư Mã Thiên trở thành bậc thầy, là gương sáng cho tất cả các sử gia của muôn đời là vì vậy.
Ta từng thấm thía với câu nói: “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” hoặc “Bệ hạ muốn hàngtrước hết xin hãy chém đầu thần đi đã ” của Trần Thủ Độ và Trần Hưng Đạo. Đó là những câu nói trở thành lời hịch cho cả nước xông lên đánh giặc, khi lợi ích tập đoàn thống trị cũng chính là lợi ích đất nước. Nhưng ta chưa từng gặp được những tấm guơng của kẻ có chức có quyền biết chia sẻ nỗi đau của dân chúng trong cảnh nghèo ở thời bình. Họa chăng sử sách mới chép được một vài cử chỉ như của Lý Thánh Tông khi vi hành, đã cởi áo bào ra đắp cho một kẻ ăn mày. Đó thật là hành động không chút giả trá, nhưng cũng chỉ có như thế mà thôi !

23. Đầy thì phải xả bớt
 持 為 盈﹐ 不 如 其 已

PHIÊN ÂM:
Trì vi doanh chi, bất như kỳ dĩ.
CHÚ GIẢI:
– Trì (chí): nắm giữ.
– Doanh (yíng): đầy.
– Dĩ (ỷi): đã, đừng để.
DỊCH:
Giữ bình nước đầy chẳng bằng không giữ, cứ để nó vơi.

Bình
Chữ “trì” trong bản của Viên Phổ viết là “thực” 植 và chú thích  植 而 盈 之 là trồng cây quá dày, có lẽ ông đã đi xa văn bản.
Học thuyết của Lão được diễn tả trên nhiều mặt như vô vi, nhu, trống rỗnglàm bớt sắc nhọn, phúc tức là họa, bất tranh, đặt mình ở phía sau tức là đến trước v.v…
Soạn giả rất tâm đắc quan niệm giữ cho đầu mình có nhiều khoảng trống, để du nạp cái mới, tức là không để tâm thức mình ở trạng thái bất doanh, không đầy tràn.
Có thể nói cái học của cha ông ta ngày xưa chỉ chú trọng nạp đầy tràn chữ nghĩa của “thánh hiền ”nên mới ít sáng tạo chăng?. Tư duy triết học phương Tây khác phương Đông có lẽ chủ yếu ở chỗ: triết học phương Tây coi trọng thực nghiệm, thực chứng và giả chứng, tìm cách chứng minh cái sai mà không tuyệt đối hóa cái trước.
Gallileo lên dàn thiêu của cơ đốc giáo vẫn dõng dạc tuyên bố là quả đất quay, mặc dù thực tế ông cũng không thể quan sát được mà chỉ bằng thực nghiệm thả quả cầu từ trên chòi cao.
Chính nhờ có cơ học lượng tử, thuyết tương đối Einstein, phủ định cơ học Newton trong hệ quy chiếu ngoài quả đất ở vận tốc cao, nên người sau mới tính toán chính xác đưa được vệ tinh lên vũ trụ.
Tư duy phương Đông thì trái lại. Hàng nghìn năm, những bộ óc kiệt xuất vẫn chỉ biết chứng minh lời thánh nhân là tuyệt đối đúng ở mọi nơi mọi lúc. Tư duy đã đóng băng thì như dòng nước ngừng chảy, máu không lưu thông, sự sống không thể tồn tại lâu dài được. Mô hình xã hội của Trung Quốc bị kìm hãm, chậm phát triển hàng nghìn năm là vì thế. Đây thuộc lý thuyết về “cất cánh” (take off),  Nó không thuộc phạm vi quyển sách này.
Ngày nay, nếu như phương pháp giáo dục của ta không được cải tiến theo hướng tự do tư tưởng, lấy học sinh làm chủ thể, thì ta càng bị tụt hậu lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Muốn cho đất nước mạnh, ta phải nâng cao dân trí, mạnh dạn dọn sạch trong óc mình những kiến thức vô bổ, kinh nghiệm, bảo thủ …thì ta mới có khả năng giúp cho thế hệ trẻ tiếp nhận thông tin thời đại có sáng tạo.
Đối với tài nguyên của cải cũng vậy. Nếu cứ phát triển đất nước trên công nghệ tốn nhiều năng lượng, nguyên liệu là đi vào ngõ cụt.
Ở Ả Rập có câu chuyện thần thoại như sau: Một người bắt được chiếc bình đầy ngọc trên có ghi dòng chữ: “Hãy lấy đủ những viên ngọc vụn rồi đậy nắp lại”. Vì quá tham lam anh ta lấy thật nhiều. Ngọc cứ tràn ra mãi và chôn vùi luôn anh ta. Nước ta cũng có chuyện cổ tích Cây khế. Vì không tham nên túi vàng của người em tuy vơi nhưng đã giúp anh ta làm ăn ngày càng khấm khá, còn người anh thì tham cố nhét cho đầy túi nên đại bàng không cõng nổi, đã rớt xuống biển chết.
Giữ cho đầu óc không đầy, của cải vừa đủ… cũng giống như giữ cho hồ nước, bình chứa còn khoảng lưu không. Đó là biết tuân thủ quy luật cân bằng động của vật chất.
Trong kinh Dịch, quẻ Càn, thuần dương được xếp liền với quẻ Khôn, thuần âm. Quẻ Ký Vị tế (đã qua) đứng cùng quẻVị tế (chưa qua). Đó là quy luật biến dịch nghịch đảo, quy luật cùng tắc biến.
Trong cuộc sống, chúng ta thiếu những thước đo, những chỉ số …để giúp chúng ta biết trạng thái cân bằng động này, tức là biết trạng thái bấp bênh trong gang tấc giữa sự sống và cái chết. Do đó mà tai họa mới ập đến bất ngờ. Những trường hợp bị đột tử hoặc tàn phế do huyết áp, tim mạch …chỉ là do sự tràn đầy vật chất hoặc tinh thần mà ra. Vậy nên, càng về già ta càng phải sống theo những lời khuyên của Lão tử.

Trần Văn Kinh: Mùa xuân và Quên thời gian

Mùa xuân
Mùa xuân là mùa của xanh…
(Xuân Diệu)

Mùa Xuân… là cả một mùa Thơ
Hoa Lá bên Thơ, mấy cũng vừa…
Hoa Lá của ta và Hoa Lá
Của người và Hoa Lá vu vơ…
TVK

Quên thời gian…

Lũ chúng tôi
Bọn người gàn dở
Quen nhau từ thưở
“Vào đời”
Thân nhau từ thưở
Trao lời
Quan chiêm …

Đã chẳng biết sức tàn lực kiệt
Về hưu còn net net (interrnet), mêu mêu (mail)
Đông tây kim cổ đâu đâu
Chỉ thêm “chuốc não mua sầu ” vào thân

Thưở nhật nguyệt càn khôn mờ mịt
Lũ yêu ma bưng bít tầng không…
Thà rằng chẳng biết cho xong
Biết bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu

Lời ngon ngọt những điều “hữu nghị”
Nhưng trong lòng mưu kế tối tăm
Đã từng… trong bấy nhiêu năm
Đố đem “sách lược”  mà lầm được ai

Trụ Quốc phải biết ngoài nghìn dặm
Đấng Minh Quân phải nắm lòng dân
Nước xa sao cứu lửa gần
Mà không thấy những bước chân rập rình…

Thế sự phải phân minh, rành rõ
Việc nước nhà phải tỏ hào quang
Hiền tài, nguyên khí mở mang
Lũy thành cốt ở vững vàng.lòng dân

Lời Nguyễn Trãi (*) còn vang vạn thưở
Nói và làm, xin chớ nói suông :
Đã riêng bờ cõi núi sông
Riêng nền văn hiến thì không chịu hèn…
….
Đã rằng kẻ sĩ thì nên
Nói điều tâm huyết mà quên ưu phiền…
TVK
—-
(*) Bình Ngô Đại Cáo

Lê Xuân Khải : Thơ đời Tống: Vô đề (*)

Lời của Docago: Thơ đời Tống ( TQ) hiện nay chưa có ai dịch. Những bản dịch này của cụ Khải Docago cũng chưa có thời gian tra cứu , tìm thêm tư liệu để hiệu đính bổ sung. Nay post lên mạng, mong đọc giả trong ngoài nước góp ý thêm. 
                                                     Docago
无题(1)
    晏殊
油壁香车不再逢(2)
峡云无迹任西东(3)
梨花院落溶溶月
柳絮池塘淡淡风
几日寂寥伧酒后
一番萧索禁烟中(4)
鱼书欲寄何由达(5)
水远山长处处同
Phiên âm:
Vô đề
        Án Thù
Du bích phương xa bất tái phùng
Hiệp vân vô tích tự tây đông
Lê hoa viện lạc lạc dung dung nguyệt
Liễu nhứ trì đường đạm đạm phong
Kỷ nhật tịch liêu thương tửu hậu
Nhất phiên tiêu sách cấm yên trung
Ngư thư dục ký hà do đạt
Thủy viễn san trường xứ xứ đồng.
Dịch nghĩa:
Không đề
Không gặp lại cái xe có vách dầu thơm
Không có vết, mây Vu Hiệp mặc sức trôi đông dạt tây
Hoa lê ở sân trăng soi man mác
Bông liễu bên ao gió thổi vi vu
Mấy ngày tịch mịch sau say rượu quá
Lại một phen vắng lặng nhân tiết hàn thực
Thư cá muốn gửi không biết nơi nào mà đưa
Nước thẳm non xa nỗi lòng nơi nào cũng như  nhau.
Dịh thơ:
Xe vách dầu thơm không gặp lại
Vết không mây hiệp thỏa đông tây
Hoa lê man mác trăng sân chiếu
Bông liễu vi vu ao gió bay
Mấy bữa rượu say ngơ ngác tỉnh
Một ngày khói cấm nhớ nhung đầy
Muốn nhờ thư cá không nơi gửi
Nước thẳm non xa đó tựa đây.
Giới thiệu tác giả:
Án Thù 991-1055), nhà từ, nhà thơ Bắc Tống, tên chữ là
Đồng Thúc, người Lâm Xuyên (nay là thành phố Phủ Châu
Giang Tây). Ông thông minh dĩnh ngộ từ nhỏ, năm 14 tuổi
được tiến cử vì là thần đồng, năm sau được ban Đồng Tiến
sĩ xuất thân, quan đến Đồng bình chương sự. Cuộc đời làm
quan của ông không đạt, thích đề bạt người hiền tài, nhóm
Phạm Trọng Yêm, Âu Dương Tu đều ở cửa nhà ông mà ra.
Tcá phẩm có “Châu ngọc tu” “Án nguyên hiến di văn”
Chú thích:
(1)          Bài này tuyển từ “Nguyên hiến di văn” bản tứ khố toàn thư.
(2)          Du bích hương xa: Ngày xưa xe của phụ nữa giầu sang đi, thùng xe quay đầu, rẩy nước hoa.
(3)          Hiệp: chỉ Vu Hiệp, mây hiệp, mây của Vu San, truyền thuyết thần nữ Vu San “snags làm mây, chiều làm mưa” từng gặp vui vẻ với Sở Hoài Vương ở trong mộng (xem Tỗng ngọc “cao đường phú”)
(4)          Cấm yên: Ngày xưa vào tiết hàn thực cấm lửa ăn đồ lạnh.
(5)          Ngự thư:  thư tín, cổ nahcj phủ: “ẩm mã trường thành quật hành” (Bài hành cho ngựa uống nước ở hố Trường Thành ) ” Khách tonhf viến phương lai, dĩ ngã song lý ngư, hô nhi phanh lý ngư, nội hữu xích tố thư.” (Khách từ phương xa đến, cho ta đôi cá chép, gọi con mổ cá chép, trong đó có thước thư lụa.)
Lê Xuân Khải dịch và chú giải

Docago.wordpress.com số 92: Đỗ Anh Thơ: Trí tuệ Lão tử . Câu 19: Biết dùng sức người khác. Câu 20: Như nước mềm nhưng mạnh

 

19. Biết dùng sức người khác
 
 善 用 人 者﹐ 為 下(*). 是 為 不 爭 之 德。是 謂( 渭) 用 人 之 力﹐ 是 謂﹕ 配 天 古 之 極。
 

  
PHIÊN ÂM:
Thiện dụng nhân giả, vi hạ. Thị vi bất tranh chi đức. Thị vị dụng nhân chi lực, thị vị: phối thiên cổ chi cực.
(*) Theo sách của Vương Bật thì câu này thiếu chữ chi. (Thiện dụng nhân giả vi chi hạ.)
CHÚ GIẢI:
– Thiện (shàn): tốt lành, biết cách.
– Dụng (yòng): dùng.
– Bất tranh (bu zheng): không tranh chấp.
– Đức (dé): biểu hiện bề ngoài của “đạo”. Nó không mang khái niệm “đức” như trong Khổng giáo.
– Lực (lì): sức.
– Phối (fèi): kết hợp lại.
– Thiên cổ (tian gủ): xưa cũ, đã từ lâu.
– Cực (jí): đầu, tận cùng.
DỊCH:
 Biết dùng người là biết lắng nghe người dưới. Đó là cái nguyên lý bất tranh, là dùng sức người, là đỉnh cao của sự phối hợp từ xưa vậy.
 
 
BINH
 
Dùng người là mượn trí và mượn sức của người, biết quy luật dùng người cũng như mượn thế năng (sức) gió, sức nước vậy. Phải biết chỗ mạnh chỗ yếu của người. Do đó phải lắng nghe, phân tích cho được người ta nói về người đó như thế nào, trong những trường hợp nào, động cơ nào. Đó là một nghệ thuật, là sự xử lý thông tin theo nguyên tắc 5W, tức là who (ai), what (thế nào), why (tại sao), when (khi nào) và where (ở đâu).
Xưa Khổng Minh dùng người rất thận trọng, thường theo cách khích tướng, nhưng cũng đã dùng sai người như trường hợp dùng Mã Tốc chốt giữ Nhai Đình. Người đời sau thường khoác cho Tào Tháo cái tính đa nghi, nhưng thực chất ông đã phân tích và dùng người rất khoa học. Ông đã không cho quân đuổi theo Quan Vân Trường, kẻ võ biền kiêu hùng nhưng đầy nghĩa khí ấy khi đi qua sáu cửa ải, chém mất bảy tướng. Nên sau này ông mới thoát chết ở Hoa Dung.
Lịch sử nước ta, thời Trần cũng có rất nhiều bài học về dùng người. Trước thế mạnh của quân Nguyên, có không ít quan chức trong triều đã gửi mật thư hàng. Nhưng khi giặc thua, quân sĩ bắt được những lá thư đó, vua Nhân Tông đã sai đốt hết mà không truy cứu, nên nhà Trần mới giữ được tình đoàn kết, trên dưới một lòng. Có lẽ triều đại kém nhất là Lê, Nguyễn. Thời cực thịnh, Lê Lợi cũng như Nguyễn Ánh đã giết oan nhiều công thần. Đến khi mạt vận thì Lê Chiêu Thống vì tư thù họ Trịnh mà đốt tan tành cả phủ chúa và hầu hết các di tích lịch sử thành Thăng Long.
Nay tới thời cận đại, ta cần phải có sự minh bạch của một xã hội mở, có tính đồng thuận cao, nhu thắng cương, thì chúng ta mới rút tỉa được những bài học lịch sử trong sử dụng nhân tài, trí thức để tiếp tục đưa đất nước đi lên. Bởi vì hiện nay, vốn trí thức cao của chúng ta, tiếp cận được công nghệ mới, có tới hàng chục vạn đang ở nước ngoài. Con người là vốn quý nhất. Vì mục tiêu cao cả vinh danh tổ quốc, nếu mọi người là trí thức cũng như dân thường, dù có quá khứ như thế nào mà chúng ta biết “hậu kỳ thân nhi thân tiên” thì ta vẫn có thể hợp tác, đồng thuận cùng nhau chung sức đưa đất nước tiến kịp các nước khác trên thế giới.
 
 

20. Như nước mềm nhưng mạnh
 
 上 善  若 水。 水 善 利 萬 物 而 不 爭﹐ 處 眾 人 之 所 惡﹐ 故 幾 於 道
 

    
PHIÊN ÂM:
Thượng thiện nhược thủy. Thuỷ lợi vạn vật nhi bất tranh, xử chúng nhân chi sở ố, cố cơ ư đạo.
CHÚ GIẢI:
– Thượng thiện (shang shàn): tốt nhất, cực tốt (superior goodness), nghĩa như chí thiện, cực thiện.
– Nhược (rùo): như
– Lợi (lì) làm lợi.
– Vạn vật (wàn wù): muôn loài.
– Xử (chu): ở
– Chúng nhân (zhong rén): mọi người, đông người.
– Ố hoặc ác (è): xấu, ghét.
– Cơ (jì): cơ hồ, cơ cảnh, tình huống.
 
DỊCH:
Cực tốt là nước. Nước làm lợi cho muôn loài mà không tranh giành. Vậy nên nó gần với Đạo.
 
 
 
   

 

BINH
 
Nước và không khí là nguồn gốc của sự sống. Đâu có nước là vạn vật sinh sôi. Nước mềm, gặp chỗ thấp trũng thì chảy vào, cao đầy thì chảy ra. Người đời ví nước như quần chúng. Lão tử cho nước có tính bất tranh như Đạo. Nước biến thiên theo nhiều dạng: thể nước, khí dung (hạt nước li ti lẫn với không khí) và thể hơi, từ thấp lên cao, nhưng quấn quýt với đất trời. Trong bầu không khí, nước cũng chỉ tồn tại ở thể hơi trong vòng 10km độ cao nhưng nó là động lực làm biến thiên khí hậu của quả đất. Mưa, sấm chớp, điện tách không khí ra thành N2 (nitơ) và O2 (oxy), do đó mới tạo nên sự sinh trưởng phát triển tốt tươi cho vạn vật.
Quan sát sự hình thành một cơn giông ta mới thấy hé mở ra một phần sự sống. Không khí tích điện dương trên không đuổi theo trường điện âm dưới đất. Trời đất giao hoan cũng như mọi loài, nhưng dữ dội kỳ vĩ. Sự thực nếu chỉ có nước (H2O) mà không có N2 và O2 (do sấm chớp tạo thành và tan trong nước) thì có lẽ cũng không có những đơn tế bào sống ra đời, cây cối không thể quang hợp để tươi xanh và ra hoa kết trái. Bí mật của tự nhiên là vậy.
Lão tử gọi đó là Đạo và nó huyền diệu vô tận. Con người không thể giải thích được với cuộc sống hữu hạn của mình cho dù loài người có sinh ra những bộ óc siêu việt như Darwin, Einstein v.v…
Ta gặp khái niệm nhu – mềm như nước nhưng nó có thể bào mòn núi. Ta cũng gặp cặp từ đất nước để chỉ nơi ta sinh ra. Con người gắn bó với đất nước quê hương là vì vậy. Mà không chỉ có người, trên quả đất còn nhiều loài như cá, động vật có vú, côn trùng v.v…, có tập quán về sinh và chết nơi mình ra đời. Hồi nhỏ chúng ta đã thuộc làu bài văn trong Quốc văn giáo khoa thư rằng không có nơi nào đẹp bằng quê hương. Lớn lên ta thuộc bài ca Quê hương là chùm khế ngọt và nhiều người trong cảnh tha hương lữ thứ đã khóc khi đọc lại, nghe lại những bài ca, khúc nhạc đó.
Người về quê khác với người đi du lịch. Về quê là ta được xem lại cuộn phim ký ức tuổi thơ đã xa vời. Nhưng ký ức không phải lúc nào cũng đẹp, vui tươi, hạnh phúc. Bên cạnh cây đa yên bình, mái đình thân thuộc có khi nó gợi lại trong ta cảnh chết chóc, đau thương, hành hạ lẫn nhau của con người. Dĩ vãng gồm những cung bậc vui buồn đan xen, lẫn lộn..
Sự sống vốn đã khắc nghiệt, nhưng do có con người nên lại càng khắc nghiệt hơn. Có lẽ tạo hóa bắt loài người phải biết cái đau khi sinh nở và phải khóc khi chào đời là vì thế. Bởi vậy, một đất nước, một dân tộc mà không vun đắp được tình người, trước hết là tình mẹ, tình cảm quê hương, lòng vị tha, sự đồng thuận… mà chỉ biết chạy theo thị hiếu vật chất… thì tương lai dân tộc đó không còn. Vì đối với quê cha đất tổ, họ không có cuộn phim ký ức. Họ chỉ có cảm giác như những khách tham quan, thấy cái đẹp của phong cảnh, như mọi cảnh đẹp khác, dửng dưng không còn cảm giác trào nước mắt và nhớ lại… Thật đáng sợ thay cho những người đã đánh mất quá khứ và không trao được cho thế hệ sau nguồn “gen” tình cảm đó cho dù vì nguyên nhân gì!
 
 

  
 
 
 
 
 ư

Thơ đời Tống – Lê Xuân Khải( dịch): Hán dương vãn bạc của Dương Huy Chi

汉阳晚泊(1)

            杨徽之

桥吟望汉阳成

山遍楼台彻上层(2)

犬吠竹篱沽酒客

鹤随苔岸洗衣僧

钟未彻闻寒漏斜月初沈见远灯

夜静邻船问行计

晓帆相与向巴陵(3)

Phiên âm

Hán dương vãn bạc

                   Dương Huy Chi

Bạng kiều ngâm vọng hán dương thành

San biến lâu đài triệt thượng tằng

Khuyển phệ trúc ly cô tửu khách

Hạc tùy đài ngạn tẩy y tăng

Sơ chung vị triệt văn hàn lậu

Tà nguyệt sơ trầm kiến viễn đăng

Dạ tĩnh lân thuyền vấn hành kế

Hiểu phàm tương dự hướng Ba lăng.

Giới thiệu tác giả

Dương Huy Chi (921-1000), nahf thơ đầu Tống, tên chữ là Trọng Do, người Phố Thành, (nay thuộc Phúc Kiến). Tiến siox ănm Hiển Đức Hậu Chu. Trải làm: Trước tác tá lăng, hữu thập di. Khi đậu Nghiễm soạn lại kinh lễ, nhạc; Huy Chi có dự. Năm đầu Càn Đức nhà tống, ông làm lệnh Thiên hưng; đầu Thái bình hưng quốc về kinh, ông dâng len mấy trăm bài thơ, được Thái Tôn thưởng thưang thị ngự sự quyền phán bộ Hình. Sau tham dự biên toản “Văn uyển anh hoa”. soạn 180 quyển thơ, quan đến Hàn lâm thị độc học sĩ, có 20 tập avwn, nay không truyền.

Chú thích

(1)   Bài này tuyển từ quyển Hai “Tống Thi Ký Sự”

(2)   San biến lâu đài: Trong thành Hán dương có núi Quy San, trên núi có nhiều lâu đài

(3)   Ba Lăng: Tên quận, nay là một dải Hồ nam. Nhạc Dương.

Dịch nghĩa

Tựa cầu ngâm, ngắm thành Hán Dương

Khắp núi có lầu cao đến tận đỉnh

Chó sủa khách mua rượu qua rào trúc

Hạc theo sư đi giặt áo bên bờ rêu

Tiếng chuông thưa chưa dứt đã nghe thấy lạnh

Vừa lặn ánh trăng trông thấy đèn xa

Đêm vắng hơi thuyền bàn cách thức đi

Sáng ra hai cánh buồm cùng hướng về Ba Lăng.

Dịch thơ:

Ngâm ngắm Hán Dương đứng tựa cầu

Lâu đài khắp tận đỉnh non cao

Khách sau chó sủa sau rào trúc

Sư giặt hạc theo tận bến rêu

Chưa dứt chuông thưa nghe gió lạnh

Vừa chìm trăng xế thấy đèn câu

Thuyền bên đêm vằng đường đi hỏi

Buồm hướng Ba Lăng sáng nối nhau