Docago.wordpress.com số 91: Đỗ Anh Thơ : Trí tuệ Lão tử Câu 17 : Im lặng là vàng . Câu 18: Sau thành trước

 
17. Im lặng là vàng
 
 多 言  數  窮﹐ 不 如 守 中.
PHIÊN ÂM:
Đa ngôn số cùng, bất như thủ trung.
CHÚ GIẢI:
Đây là một phần câu của chương 5 Đạo đức kinh
– Đa (duo): nhiều.
– Ngôn (yán): lời, lời nói.
– Số (shù): nhiều, bao nhiêu, nhiều điều phiền.
– Cùng: ( qiong ) cùng tận
– Bất như (bù rú): không như là.
– Thủ (shou): giữ.
DỊCH:
Nói nhiều cũng kể không hết lý (của Đạo), chi bằng giữ lại ở trong lòng.
BINH
 
Nguyễn Duy Cần chú giải: Đa ngôn số cùng tức là nói bao nhiêu cũng không hết cái công dụng vô tận, cái hư không của Đạo.
 Viên Phổ chú giải: Nói tới không cùng có tác dụng gì? không bằng giữ lấy lý vốn có của đạo trời đất.
說 得 那 麼 徹 底 有 什 麼 用 呢 ?不 如 守 著 天 地 間 本 有 中 道 就 是 了 。
Lão tử dịch văn” chú là: nói nhiều thì có sai do từ không đạt ý, chi bằng ngừng đúng lúc là tốt nhất.
( 话 多 有 失 ,辞 不 达 意 , 还 是 适 可 而 止 为 妙 。)
Trong đối xử ở đời, thường ta không cần nhiều lời, chỉ bằng vài cử chỉ đồng tình hay phản đối, mà có thể làm cho người đối diện với mình thông cảm hoặc phải suy nghĩ.
Nhà triết học người Áo Ludwig Wittgenstein (1889 – 1951) từng nói:
Phàm những điều có thể nói thì nói cho hết; những điều không thể nói thì phải ngậm miệng lại”.
Trong lời tựa truyện “Cỏ dại”, Lỗ Tấn viết:
Khi trầm tư ta cảm thấy chắc đầy; khi sắp mở miệng ra thì đồng thời ta cảm thấy trống rỗng.”
( 當 我 沉 默 的 時 候﹐ 我 覺 得 充 實﹔ 我 將 開 口 ﹐ 同 時 感 到 空 虛. )
Châm ngôn Pháp có câu: Tournez sept fois la langue avant de parler. (Hãy uốn lưỡi bảy lần trước khi nói.)
Đa ngôn là tật bệnh của nhiều người. Ta thường có câu “ nói dài, nói dai, nói dại”. Cùng với Vô vi, Lão tử chủ trươngVô ngôn. Thực tế, nói là để trao đổi thông tin. Phát sóng âm để trao đổi thông tin là động thái vốn có trong nhiều loài vật, nhưng không có loài nào có ngôn ngữ phong phú như con người, bởi con người có khả năng tiếp nhận thông tin, tư duy xử lý và sản sinh ra thông tin mới. Nhưng nếu như hạn chế lời, đi đến vô ngôn thì con người cũng còn có khả năng truyền cảm nhất định bằng nhiều hình thức khác như cử chỉ của tay, chân, mắt (liếc, trào nước mắt…), mũi, gò má đỏ lên; da thịt tiết ra mùi vị (hormone)…và gần đây hơn, người ta không thể không công nhận là có giác quan thứ sáu, có sóng nhân điện. Tuy nhiên nếu như khả năng này phát triển thì khả năng kia thui chột đi, đó là quy luật. Ta hãy thử nghiệm ở một đôi trai gái yêu nhau. Họ có thể ngồi hàng giờ không nói với nhau một câu nào nhưng mà lại nói lên tất cả. Những giây phút đó có lẽ thiêng liêng nhất của cả một đời người và chỉ mãnh liệt nhất ở mối tình đầu tiên, chưa bị tạp niệm, nhục dục, giả dối và lợi dụng nhau xen vào mà thôi.
Trong chuyện chưởng, Kim Dung tưởng tượng ra ba vị sư khổ hạnh ngồi trong hốc cây mà có thể ra đòn bằng môn võ phối hợp theo tâm ý.
Lâm Đái Ngọc về Dương Châu chịu tang. Khi quay lại Giả phủ gặp Giả Bảo Ngọc. Đôi trai gái này không nói với nhau một lời mà chỉ im lặng nhìn nhau và trào nước mắt ràn rụa. Có lẽ bí mật, được mã hóa đó theo hai người cho tới khi cô gái chết, còn anh chàng thì sống trong cảnh hư vô, cùng với Tiết Bảo Thoa, người được gia đình gán ghép cho, một thời gian sau rồi bỏ đi tu tiên.
Nhiều người cả tin về vấn đề nhân điện, về việc nhờ thầy đi tìm mồ mả người thân. Thực ra đó chỉ là một sự an ủi, một cách giải thoát tâm linh. Bởi vì con người cũng như mọi động vật, sự sống vô cùng bí mật nhưng cũng rất giản đơn. Cho đến nay ta mới biết được nó chi phối bởi gien, sự phân chia tế bào, các hormon, các dưỡng chất, sóng thông tin (bao gồm sóng não, tim, hồng ngoại…). Khi chết là mất. Còn giác quan thứ sáu, linh cảm… nếu có là do sự thăng hoa vật chất hay là sóng ta chưa rõ! Nếu như ta cho rằng con người còn tồn tại một dạng sóng nào đó sau khi chết, khi vật chất đã phân hủy mà vẫn có khả năng mang thông tin của sự sống, khác với phát xạ cacbon, phốt pho …thì ta cũng phải giải thích cho được đối với trường hợp các loài vật khác. Chúng chết rồi có hồn không? nhất là với loài voi, tinh tinh, cá heo… vốn vẫn giữ được giác quan thứ sáu cao hơn loài người nhiều. Đây là ranh giới nhận thức giữa chân khoa học, phi khoa học và ngụy khoa học. Nhưng ta cũng nên nhớ cái ý niệm chân, phi và ngụy đó là sản phẩm của bộ óc, tức là thuộc về cá nhân và có tính tương đối lịch sử. Ta lại trở về câu chuyện giữa Trang tử và Huệ tử trao đổi với nhau về cá bơi lội dưới nước vui hay không vui mà soạn giả đã có lần nhắc đến trong sách Mấy kiến giải về triết học khoa học. Đó là bí mật của sự sống muôn loài mà nhận thức con người chỉ mang tính chủ quan. Ta hãy mặc nhiên công nhận tính tương đối về những giả tưởng là cây hoa trước cửa sổ nhà ta cũng biết nghe nhạc. Nhà vật lý nọ lúc sống cho rằng mình là hiện thân của một nhà bác học ở mấy thế kỷ trước. Soạn giả cũng đã tin rằng mình có sự đồng cảm với Lưu Vũ Tích khi mới ngoài 20 tuổi:
Kim nhật hoa tiền ẩm,
Cam tâm túy sổ bôi.
Đản sầu hoa hữu ngữ:
Bất vị lão nhân khai.
 
“Hôm nay uống rượu trước hoa,
Cạn đôi ba chén gọi là mua vui.
Chỉ e hoa nói lên lời:
“Em không phải nở cho người già đâu !”
(Đỗ Thơ Anh dịch – 1968)
Khi ta ngồi tĩnh tâm, bóng ta ngả theo bóng cây ngoài sân. Ta không nói, nhưng trong tâm ý ta lại “nói” rất nhiều. Ta “nói” với người thương, cha mẹ, người yêu đã khuất. Mọi cảnh trí hiện ra trong óc ta như một cuộn phim cũ được quay lại.
Còn như nhờ người khác, thì ta không thể biết được có đúng là thầy cúng đang nói chuyện với người thân của ta hay không ? Khoa học có lúc sẽ đo được sóng não, nồng độ hormone …của thầy, xem thầy nói thật hay là bịa!
 
18. Sau thành trước

聖 人 後 其 身 而 身 先﹔ 外 其 身 而 身 存。非 以 其 無 私 邪 ﹖ 故 能 成 其 私。

PHIÊN ÂM:
Thánh nhân hậu kỳ thân nhi thân tiên, ngoại kỳ thân nhi thân tồn. Phi dĩ kỳ vô tư tà ? Cố năng thành kỳ tư.
CHÚ GIẢI:
– Thánh nhân (shèng rén): chỉ vua chúa, người có tài trí đức độ. Các bản dịch của các tác giả phương Tây kể trên thường dùng là holy man.
– Hậu (hòu): sau, đặt sau.
– Thân (shèn): thân mình
– Tiên (xian): trước.
– Ngoại (wai): ngoài, đặt ngoài.
– Tồn (cún): còn.
– Tư (si): riêng.
– Tà (xíe): nghiêng, không ngay thẳng.
– Thành (chéng): nên, trở thành.
Dĩ kỳ vô tư thành kỳ tư” tức là lấy cái vô tư để đạt tới tư tâm.
DỊCH:
Thánh nhân đặt thân mình ở sau mà thành trước, để thân mình bên ngoài mà thân còn. Vì không riêng tư mà nó lại có riêng tư.
 


BÌNH
Viên Phổ chú: Hậu kỳ thân nhi thân tiên: bởi vì thánh nhân xử sự là thể hiện cái đạo trời đất, trước vì người sau mới vì mình. Không đặt mình trước thiên hạ mà mọi người trong thiên hạ đều suy tôn ngưỡng mộ mình. Ngoại kỳ thân nhi thân tồn là cho bề ngoài của mình chỉ là giả sắc, không hiển vinh gì, nên thân mình mới còn”.
Suzuki dịch:
The holy man puts his person behind and his person comes to the front. He surrenders his person and his person is preserved. Is it not because he seeks not his own? For that reason he can accomplish his own.
Trời đất rất vô tư. Không khí cho ta hít thở, nước cho ta uống, mặt trời cho ta nguồn sáng, đất cho ta điểm tựa để đứng lên v.v…, tất cả, tất cả …thiên nhiên đều không thu phí. Chỉ có khi loài người gọi là văn minh, có tà tâm chiếm lấy thì mới sinh ra sự thu phí, tranh giành nhau, chém giết lẫn nhau.
Lão tử khuyên Thánh nhân vô tư tà là vì vậy.
Nhưng tư tâm (tấm lòng riêng biệt, không ai giống ai) lại là cái vốn có và cần có để phát triển của con người. Lão tử chỉ chống lại tà tâm mà thôi. Kinh Phật cũng viết: “nhất niệm chi giác tỉnh” tức là để cho người đời nhận thức (nhận biết) tự ngã (cá nhân mình). Tự ngã đó là cái tư tâm, cái tấm lòng riêng, cái thiện ác có trong lòng mình. Khi con người có tư tâm sẽ tự mình tìm cách định vị, cân bằng, cạnh tranh quyền lợi cho mình. Tư tâm làm cho con người giác tỉnh và nhận thức tự ngã. Tư tâm cũng làm cho con người vươn lên.
Triết gia cổ Hy Lạp Myson đi trên đường thấy hòn đá thì cúi đầu vái. Có người hỏi, ông trả lời: bởi vì đá không có tư tâm nên trường cửu hơn cả vua chúa.
Ngày nay ai mà làm vậy có lẽ sẽ bị dẫn đến nhà thương điên.
Nếu như không còn tư tâm đúng thì không có con người văn minh, tức là con người không vượt qua được bản năng của loài vật và sẽ đánh mất chính mình, mất cân bằng tương đối của xã hội. Bởi vì có thể nói sự cào bằng mọi quyền lợi là triết lý không tưởng.
Đây chính là điểm mà ta cần hiểu và phân tích cho rõ tư tâm và tà tâm của Lão tử cũng như phân biệt triết lý diệt dụccủa Phật giáo và tiết dục của Khổng giáo vậy.
 
 
 
 
 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s