Đỗ Anh Thơ : Nước mắt mẹ (*)

            (*) Nhân dịp giỗ tổ họ Nguyễn Đức (5/4 Âm lịch) Docago( Đỗ Anh Thơ) tên thật là Nguyễn Đức Thanh xin đăng lại tập truyện ngắn viết về những người trong gia tộc đã xuất bản, tái bản , được đăng rải rác trên mạng và được google books số hóa,  để tưởng nhơ tới những người đã khuất. Mong bạn đọc lượng thứ cho cái ” đề cao truyền thống ” hơi quá này, đồng thời tác giả tận dụng ưu thế mạng, tiếp tục chỉnh lý, bổ sung những truyện mới viết cho lần tái bản  thứ ba./.  

                                                                                   Cảm ơn




Nhớ ơn chín chữ cao sâu,
Vùi nông một nấm mặc dầu cỏ hoa.
Lần lần tháng lụn ngày qua,
Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi!
Liên Xá – Nguyễn Đức Tụ 
 ( Thơ chữ nôm của cụ thân sinh viết trên mộ cha mẹ do Đỗ Anh Thơ chuyển sang Việt ngữ).
 Thay lời nói đầu:
               Đỗ Anh Thơ (tên thật: Nguyễn Đức Thanh) là một cán bộ khoa học, đã trên sáu mươi tuổi. Được bạn bè khuyến khích, lần đầu tiên anh cho in một tập truyện ngắn xinh gọn. Anh nói về mục đích viết văn của mình, nhằm “tạo nên những phút thư giãn, cân bằng cho mình và cho độc giả”.
Đỗ Anh Thơ viết truyện rất ngắn, thường chỉ ba đến dăm bảy trang in. Nhưng quan trọng hơn với hình thức nhỏ nhẹ như những món ăn Huế, truyện của Đỗ Anh Thơ để lại trong lòng độc giả những dư vị sâu lắng, ấm áp tình người. Anh không chạy theo những câu chuyện giật gân, xô bồ, tiêu cực đầy rẫy trong xã hội hôm nay, mà anh dụng ý khơi lại trong chúng ta những tình cảm trong lành bắt nguồn từ đời sống dân dã.
Đỗ Anh Thơ tự cho mình là còn “những cái non nớt của một cây bút không chuyên”. Điều đó thể hiện ở vài ba truyện đầu trong tập. Nhưng những điều anh viết khi khai thác từ kỷ niệm sống sâu sắc ở quê hương xứ Nghệ thì lại rất sinh động và già dặn.
Những truyện ngắn như: “Mùa hoa xoan”, “Hạt gạo ba tháng”, “Mo cơm nắm của chị dâu tôi”, “Món cua ngày Tết của chú tôi”, “Bát canh cua của o tôi” đáng được xếp ngang với những truyện ngắn hay của các tác giả chuyên nghiệp. Qua những truyện này, phong vị quê hương, cái mờ ảo của kỷ niệm, tình cảm đối với người chị dâu, bà o, ông chú, khiến tôi nghĩ đến những truyện ngắn Thanh Tịnh và Hồ Dzếnh năm xưa.
Tôi rất ủng hộ khuynh hướng sáng tác của cây bút mới, tuy không còn trẻ – Đỗ Anh Thơ. Anh đã sử dụng tiếng nói dân gian xứ Nghệ một cách đúng mực, không lạm dụng, tạo được không khí dân dã cho câu chuyện.
Được biết tên thật của Đỗ Anh Thơ là Nguyễn Đức Thanh, một người thuộc dòng họ Nguyễn Đức rất nổi tiếng ở Nghệ An với Hoài Thanh, Hoài Chân, và tiếp sau là Từ Sơn, Anh Ngọc, v.v… Mừng cho “cây bút không chuyên” Đỗ Anh Thơ với tập truyện ngắn này của anh.
                                                                                                                VŨ TÚ NAM
D
òng Châu Giang quanh năm đục lờ một màu nước đồng chiêm, nhìn xa như một dải vải thô, mới được nhúng nâu một hai lượt. Bên bờ là những ruộng mía xanh rờn, uốn lượn theo dòng nước chảy. Thỉnh thoảng lại có một cái lò gạch đỏ quạch, nham nhở, ẩn khuất… làm cho những người hơi am hiểu lịch sử mảnh đất này như Hoàng, lại vụt nhớ tới truyện ban đầu mang tên “Cái lò gạch”, đến “Đôi lứa xứng đôi” rồi cuối cùng thành “Chí Phèo” của Nam Cao với những nhân vật như Thị Nở, Chí Phèo, Bá Kiến… bất hủ.
Khoảng năm 1966, Hoàng đem gia đình sơ tán về vùng này cùng với nhà trường. Ngày hai buổi, anh thường phải đi bộ dọc con đê để đến các lớp học nằm lẩn khuất trong các xóm nghèo của làng Xuân Khê. Cái thuở trẻ trung đó, anh nhìn dòng sông, nhìn xóm làng lọt thỏm giữa vùng bom đạn ác liệt của giặc Mỹ, gầm lên suốt ngày đêm, phía thành phố ngả Phủ Lý và Cầu Giẽ…, anh có tâm trạng yên tâm, đôi chút thanh bình và lãng mạn.
Chiều chiều, về mùa hè, bao giờ anh cũng đi tản bộ trên đê để suy ngẫm những tứ thơ chưa thành. Anh rất rõ chuyện oan khuất của “vợ chàng Trương” trên dòng sông Nam Xang. Anh cũng biết, Trần Hưng Đạo đã từng rút lui chiến lược, ém quân, dấu lương thực trên đất này, để rồi làm nên những chiến thắng vang dội ở Chương Dương, Hàm Tử.
Một đôi khi, anh men theo ruộng mía để tận hưởng hết cái hương mật của đất mà cây đang chắt chiu, để đuổi bắt những con chim giẽ giun và để… mộng mơ.
Anh thường đi qua một ngôi miếu hoang trên đê. Đó là miếu Cô Chín. Dân làng cho Hoàng biết đó là cái miếu thờ một cô gái chết oan trên sông, giữa cái tuổi mười tám tràn đầy xuân sắc. Oan vì tình hay là vì sa sẩy sông nước, người Xuân Khê không còn mấy ai biết tường tận. Họ chỉ đồn với nhau là miếu rất thiêng. Nhưng nay, tịnh không hương khói. Miếu nằm giữa một vùng bãi, tĩnh mịch, cô liêu… Trẻ em chăn trâu qua đó thường đuổi con vật đi thật nhanh, mặc dù chúng cứ như muốn nán lại, ngoạm những bụi cỏ mật xanh rờn. Các cụ già đi chợ về thường nhẹ nhàng rảo bước, như không dám khua động oan hồn của cô Chín, nhưng họ cũng chẳng bao giờ dâng quà lên cho cô.
Thế mà, Hoàng là một thầy giáo xa lạ, về sơ tán, lại thường lai vãng quanh đó. Kể cũng lạ!
Người cảm nhận thấy cái không bình thường đó, trước hết là Nam – bạn cùng học với anh từ ngày ở Khu học xá, Trung Quốc. Nam như muốn loại trừ một giả thuyết là có những cuộc hẹn hò nào đó. Bởi vì, họ cùng ra lò ở một cái mái trường, mà cạnh bảng đen có dán một điều lệnh to tướng của thầy hiệu trưởng Võ Thuần Nho: “cấm thầy, cấm học trò yêu nhau trong trường!”. Bởi vậy, nay không có lý do gì Nam tin rằng bạn mình lại phạm điều cấm kỵ đó. Cũng không thể tin là Hoàng nhập nhằng với một cô thôn nữ trong làng, bởi lẽ Hoàng là một nhà giáo mẫu mực có tiếng.
Một lần, Nam nửa đùa nửa thật dọa Hoàng. Không ngờ mặt anh từ đỏ chuyển sang tái xanh rồi lắp bắp:
– Nếu chuyện… nghi ngờ đó là… có thật thì cậu sẽ cho rằng mình là một thằng thầy… đốn mạt lắm nhỉ?
Nam yên lặng, siết tay bạn mà không nói.
… Một đêm, Hoàng đang ôm Loan vào lòng, dưới chân đê, trước miếu cô Chín. Chân trời phía đông bên kia sông, phía thành phố, những tiếng đạn súng cao xạ và tiếng bom đang nổ rền. Đường đạn vạch lên trời những đường xanh đỏ như pháo bông. Bầu trời đỏ rực một màu máu.
Hoàng càng siết chặt Loan, mạnh hơn:
– Đừng sợ em. Mẹ em có đi làm ca đêm thì giờ này cũng chưa vào máy đâu!
Nói xong, anh đưa môi lướt đi lướt lại trên trán người yêu, như để lau khô những giọt nước mắt sợ hãi và sung sướng của người học trò cưng của mình.
Hồi lâu, Hoàng thủ thỉ vào tai Loan:
– Thầy Nam – bạn của anh hình như đã đoán được mối tình giữa hai ta rồi đó, em ạ!
Loan hoảng hốt ngẩng lên nhìn Hoàng:
– Chết, em lo lắm! Với em đã đành, nhưng còn anh. Anh vừa là giáo viên lại là đối tượng chuẩn bị kết nạp. Làm sao bây giờ? Hay là ta thôi đi anh. Chờ sang năm, em tốt nghiệp, chúng mình lại gặp nhau, cũng chưa muộn kia mà!
– Ừ, nhưng… anh nhớ em lắm!
Loan cười khúc khích. Cô lấy tay dí lên trán Hoàng âu yếm:
– Thế mà ở trên lớp, mặt anh cứ lạnh như tiền: “Cô Loan! Đêm qua đi chơi đâu mà không thuộc bài?” Ghét ơi là ghét!
Mỗi tối họ chỉ dám lén lút gặp nhau trong năm bảy phút như vậy. Rồi cả hai đứng lên men theo bờ ruộng mía, trở về nhà sơ tán.
Tới cổng, Loan nói thầm:
– Em nóng ruột về mẹ em quá! Giục đi sơ tán mà bà cứ không chịu. Ngày mai, em xin phép anh cho em nghỉ hai ngày nhé!
– Xin phép thầy chứ! Em… ừ mà cô Loan đã báo cáo với lớp trưởng chưa?
Loan đấm nhẹ vào lưng Hoàng mà nói:
– Khẽ chứ anh! Chúng nó đang ngồi học đó kìa!
… Hoàng không ngờ buổi tối hôm đó là buổi tối cuối cùng anh gặp mặt người yêu, người đã gieo mật đắng cho anh một mối tình đầu, muộn mằn, không thể quên sau bao nhiêu năm du học và những cấm kỵ vô lý…
Loan xin được phép là tức tốc về nhà ngay tối hôm đó. Sáng sớm sau, mới tờ mờ sáng, cô đã thu xếp cho mẹ đi sơ tán. Qua mậu dịch Hàng Thao, thấy đông nghịt người xếp hàng, thương mẹ vất vả và cũng là để mẹ thưởng thức một lần mùi vị thị thành, cô đã đưa mẹ vào ăn một bát phở. Thế rồi… một tràng tiếng nổ, như sấm ban mai…
Không biết nay có ai còn nhớ tới chuyện gì đã xảy ra sáng hôm đó nữa không…?
Mấy ngày sau lên lớp Hoàng nghe tin dữ về mẹ con Loan, như sét đánh bên tai. Anh gần như quỵ xuống trên bục giảng. Từ đó, mấy năm liền, anh sống trong hư hư ảo ảo. Anh cũng tránh qua miếu cô Chín như mọi người ở Xuân Khê. Mãi tới ngày giải phóng, chuyển về thành phố rồi vào Nam dạy học, thần kinh anh mới trở lại cân bằng.
Nay Hoàng đã trở thành một ông già. Một đôi lần ra thăm trường cũ, Hoàng đến thắp hương ở chân tượng đài Hàng Thao, rồi ngồi gục hàng giờ ở đó như người vô cảm.
Nhưng miếu cô Chín, Hoàng chưa bao giờ có dịp trở lại để thắp một nén hương, dùng thần giao cách cảm mà anh vừa “tu luyện” được để hỏi cô:
– Phải chăng do kiếp đời oan nghiệt của cô mà cô đã ganh tỵ với những hạnh phúc lứa đôi, như anh và Loan chăng?
“N
ăm 1950, tôi học đệ tam. Trường chúng tôi sơ tán vào làng. Hàng ngày, tôi phải dậy từ bốn năm giờ sáng để lên lớp. Đường quốc lộ 1 đi qua quê tôi rất sát biển đã được đào lên từng khúc kiểu hào chữ chi, để tránh cơ giới địch đổ bộ.
Buổi sáng sớm, trên những đoạn đường thẳng, không hầm hố, tôi có thể học nhẩm những bài Anh văn hay Pháp văn mà đêm trước còn bỏ dở.
Có khi vì thiếu ngủ, tôi vừa đi, vừa nhẩm bài, mắt nhắm mơ màng… cho tới khi chân sa xuống rãnh thoát nước đường tàu hỏa mới giật mình tỉnh lại.
Nhưng thường, đôi mắt cay xè của tôi không thể lặp lại cái cố tật này. Vì gần như cùng lúc đó, tại một chỗ rẽ, có một tà áo lơ muya, một mái tóc thề thấp thoáng trước mặt tôi. Ban đầu tôi không để ý. Nhưng dần dà thấy cái bóng đó đi cùng đường, rất nhanh, từ lúc trời chưa sáng hẳn tới ánh mặt trời lên, cứ như đo khoảng cách, như dẫn đường cho tôi,… thì tôi mới bắt đầu tìm hiểu.
Thì ra đó là Hạnh, học cùng trường, sau tôi hai lớp. Những ngày trời mưa, tôi mang áo tơi lá. Hạnh cũng khoác tơi. Nhưng áo tơi của tôi được ken thêm lá dừa, còn của Hạnh thì xù lên như lông một con nhím. Tôi thầm nghĩ, có lẽ Hạnh đã mồ côi cha.Cái tơi che khuất mất màu áo muya bốn mùa ấy che mất mái tóc đen huyền. Nhưng cái dáng đi tất tả của cô thì tôi không thể nào nhầm lẫn.
Vượt qua khoảng ba bốn cây số đường nhựa, Hạnh và tôi rẽ vào đường làng, xen giữa các bãi tha ma. Chúng tôi vẫn cứ giữ khoảng cách không đổi đó.
Với cái tuổi còn thiếu tự tin, thiếu một cái gì đó như sự nhanh nhạy, mạnh dạn… nên tôi chưa bao giờ dám gợi chuyện với Hạnh, mặc dù có hôm, do cỏ may găm đầy quần, Hạnh phải ngồi bệt xuống đường. Cái nón che nghiêng, cô cắm cúi nhổ hoa cỏ may. Còn tôi, khi vượt qua chỗ Hạnh ngồi, vẫn không dám nhìn cho thật rõ khuôn mặt.
Buổi trưa, mặt trời đứng bóng, lớp học mới tan. Bọn học sinh chúng tôi ra về theo các ngả. Phần nhiều, chúng ở làng ven biển. Chỉ có tôi và Hạnh bắt buộc phải vượt qua đoạn đường nhựa.
Một thời gian sau, quân ta đánh mạnh ở Hòa Bình. Giặc Pháp thua to, thường cho một chiếc B26 kiểm soát quốc lộ 1. Nó bay rất thấp, sát mặt đường nhựa. Từ ngả Cầu Cấm lao vào, nó vòng qua Rú Thành, xuống Bến Thủy rồi lại bay ra. Vì thế buổi trưa mọi người rất sợ. Đường vắng teo.
Nhưng không còn con đường nào khác nên Hạnh và tôi bắt buộc phải đi theo khúc đường nguy hiểm đó. Chân Hạnh bước hối hả. Chiếc áo màu lơ muya được thay bằng chiếc màu nâu. Tôi theo sát. Khoảng cách giữa chúng tôi được rút ngắn. Có lẽ do cả hai đều sợ, nhất là những buổi trưa gió Lào. Vì thường khi nghe tiếng máy bay thì nó đã ở trên đầu rồi, xuống hầm không kịp. Trưa hôm đó cũng như mọi trưa khác, chúng tôi đang đi, kẻ trước người sau thì tôi nghe ầm ì sau lưng. Tôi ngoảnh đầu quay lại và với phản xạ tự nhiên, tôi hoảng hốt xô Hạnh, cùng nhảy xuống hầm ngay trước mặt. Chiếc máy bay B26, như một con cá mập bụng trắng hếu, bay rẹt trên đầu chúng tôi. Hạnh ngồi thu mình lại run như cầy sấy. Còn tôi lần đầu tiên ngồi bó gối với một cô gái, mặt đỏ như quả gấc chín. Hơi nóng từ ngực cô gái cùng với mùi lá sả phảng phất trên mái tóc, làm cho tôi vừa ngây ngất, vừa sợ hãi. Tôi đứng lên. Bỗng hai tay Hạnh kéo giật tôi ngồi xuống. Mất đà, tôi gần như ngả vào lòng cô.
– Khoan đã anh! Máy bay nó quay trở lại bây giờ!
Rồi ngực Hạnh run rẩy, cô đặt một nụ hôn lên má tôi. Đúng lúc đó chiếc máy bay quay trở ra, tới đỉnh đầu chúng tôi, nó xả một tràng súng liên thanh. Người chúng tôi co rúm lại vào nhau.
Không biết chúng tôi ngồi im lặng như vậy trong bao lâu. Nhưng tôi chỉ run và không nói với Hạnh một lời nào.
Khi biết máy bay đã bay xa, Hạnh có vẻ xấu hổ, nhảy ra khỏi hầm. Cô cắp sách chạy tất tưởi. Tôi cũng bước lên và lẩm bẩm một câu tiếng Pháp:
– Oh! ma petite loriotte![2]
 Tôi thường có thói quen bập bẹ tiếng Pháp như vậy mỗi khi mất bình tĩnh. Rồi không để ý gì tới một con bò vừa mới bị bắn chết cách đó khoảng một trăm mét mà mọi người đang hò nhau khiêng đi, tôi quên cả sợ, lững thững bước về nhà. Đầu óc quay cuồng, tự chất vấn mình, phải chăng mình đã phạm tội với nàng thơ trong mộng? Nàng thơ đó, chính là một bạn gái cùng lớp. Tôi cũng chỉ đắm đuối nhìn… mà thôi.
… Bẵng đi khoảng một tuần lễ, tôi không thấy Hạnh đi trước tôi nữa. Một buổi chiều tan học muộn, tôi vừa mới lên đường quốc lộ thì nghe tin dân làng xôn xao nói rằng: giữa trưa, máy bay Pháp vừa mới bắn chết một cô gái. Như có linh tính báo, tôi tháo cả dép chạy theo đoàn người.
Tới nơi, tôi thấy một cái thây đang đắp chiếu kín mặt. Trên đầu có một bát cơm, một quả trứng với mấy que nhang. Một bà già gục đầu khóc thảm thiết, khản cả tiếng và đang cầm tay người xấu số. Tôi rụng rời tay chân khi phát hiện ra cái ống tay áo màu lơ muya…
… Tôi thất thểu bước về nhà thì trời đã chập tối. Vừa đi, tôi vừa lảm nhảm:
– Hạnh ơi, hôm nay tại sao em lại mặc áo xanh để cho may bay dễ nhận? Tại sao, tại sao???
 Từ đó, tôi như người mất trí. Trên đường đi học, tôi luôn luôn thấy một tà áo tơ muya, lúc gần lúc xa… hiện ra trước mặt đoạn đường mà Hạnh đã ngộ nạn. Tôi học hành sút hẳn. Bố mẹ tôi rất lo, nhất là những khi thấy tôi lảm nhảm một mình…
Kể tới đây, đại tá An im bặt. Ông già đi trông thấy. Không còn cái vẻ mặt vui tính thường ngày, mỗi khi ông la, ông hét, đập mạnh con xe của mình vào con tốt đối phương, như ở Câu lạc bộ mà tôi thường gặp.
Ông nhấp một chén trà, mắt mơ màng…
Tôi giục ông kể tiếp. Mãi sau ông mới nói:
– “Bác có nhớ câu: L’amour c’est une ombre suis elle te fuit. Fuis elle te suit!“[3] là của nhà văn nào của Pháp không?”
– Tôi chịu!
An kể tiếp:
… Sau đó nửa năm, trường lục quân tuyển lính, tôi vào bộ đội cho đến ngày nay. Thế mà đã gần năm mươi năm! Chóng thật. Trên đường đời của một người lính, nay đây mai đó, trải qua hai cuộc chiến tranh gặp nhiều chết chóc, gặp đôi ba mối tình, rồi lấy vợ sinh con đẻ cái… mọi chuyện như đã lùi sâu vào dĩ vãng. Nhưng thỉnh thoảng đi đường, tự nhiên tôi bỗng lại giật mình, như thấy tà áo lơ muya của Hạnh hiện ra trước mặt. Có khi, tôi còn nghe như tiếng Hạnh, văng vẳng bên tai tôi:
– Hình như em quá lo sợ nên đã bộc lộ sỗ sàng quá, anh không chấp nhận, phải không anh?
Những lúc đó, tôi lại thầm thì một câu hỏi ngớ ngẩn:
– Tại sao, tại sao…?
Đại tá An kể tới đó thì vợ đi chợ về. Nghe tiếng vợ gọi, nét mặt ông vui vẻ trở lại. Ông chạy ra mở cổng. Tôi nghe ông hỏi nhỏ:
– Bà có mua gì ăn tươi không? Để tôi đi kiếm bia về mời bác Hoàng ở lại ăn cơm với chúng mình cho vui.
Và ông bạn già của tôi lại gạt bỏ được cái ủy mị, trở về với bản chất cứng rắn thường ngày của người lính.
C
ụ Nhã Trai Trần Doãn Đạt mấy ngày nay đã yếu lắm. Gió mùa mang theo cái ẩm ướt làm cho con đường Bến Ngự, Nam Định, bùn lép nhép, một màu than đen sì, ai cũng ngại ra đường. Gió từng cơn, từng cơn, quất vào đầu hồi, khiến cơn hen của cụ càng nặng thêm.
Cụ tựa gối, ngồi dậy trên tràng kỷ, nhìn ra phố. Mấy người “khách trú” đứng co ro đầu đường, trước khay bánh bò còn nguyên, chân co chân duỗi, thỉnh thoảng lại rao một tiếng “bò ơ”, giọng lơ lớ nghe thật buồn lạnh. Bọn trẻ thò đầu ra rồi lại thụt vào. Trong túi chúng, không còn một đồng xu.
Vừa lúc đó, cụ Đạt bà đi chợ Cửa Trường về.
Nghe tiếng chồng ho sù sụ, cụ đặt vội thúng mủng xuống, chạy lại đỡ chồng.
Cụ Đạt dứt cơn ho. Cụ bà phấn khởi nói:
– Hai con chim khách cứ líu lo đầu nhà ông ạ. Chắc là đang có tin thằng San.
– Thường lệ, xuân thí treo bảng đã được một tuần rồi. Năm nay, chắc thằng Thắng hoặc thằng San sẽ giật giải tam khôi thôi! Mà bà đi chợ đã mua cái gì đó để mừng con chưa?
– Vẫn chỉ có cá trích thôi, ông ạ!
Cụ cười:
– Món đó là ngon rồi. Hai đứa chúng nó đều thích ăn. Cùng lắm là xế trưa chúng nó về.
Bỗng ngoài cổng có tiếng chó sủa. Cụ bà chạy ra. Một anh lính lệ đứng chắp tay:
– Lạy cụ ạ. Quan phủ sai con đến bẩm với hai cụ là khoảng canh Ngọ, kiệu rước quan tam nguyên sẽ về đến nơi. Xin báo tin để hai cụ chuẩn bị.
Bà cụ Đạt chạy ngay vào báo cho cụ ông:
– Thằng San đỗ đầu cả ba khoa, lính lệ vừa đến đưa tin. Đám rước chỉ còn vài giờ nữa là về đến nơi. Làm thế nào bây giờ?
– Thì bà làm gì mà cuống lên thế? Trong chuồng còn con lợn, bà sai chúng nó ngả ra làm mấy mâm là được, chứ bày vẽ ra nhiều làm gì.
Nói tới đó, ông lại gục xuống gối, ho sù sụ. Dứt cơn ho, ông lẩm bẩm:
– Văn tài thằng Thắng hơn đứt thằng San, thế mà…
Tin Trần Bích San đậu tam nguyên phút chốc vang khắp huyện Mỹ Lộc. Còn Nguyễn Thắng làng An Đổ lại hỏng. Dân khắp vùng Sơn Nam Hạ mừng vui lẫn lộn. Bởi vì ai ai cũng tin rằng cả hai đều sẽ chiếm bảng vàng.
Dân hai huyện đã chuẩn bị kiệu, cờ quạt, cắt cử nhau, làm kẻ xướng, người khiêng kiệu quan nghè từ lâu rồi!
Dân làng đồng chiêm An Đổ suốt năm tháng, mặt cúi xuống bùn, dầm trong nước đục, chỉ mong được một phen ngẩng mặt lên để…khênh kiệu cho thần đồng Nguyễn Thắng mà thôi…
Cụ Trần Doãn Đạt không những là một nhà khoa cử mà còn nổi tiếng thanh liêm thông thạo Dịch lý. Khi tiễn hai người học trò vừa là con, vừa là cháu họ xa, cụ đã biết trước điều gì sẽ xảy ra. Nhưng cụ vẫn mong mình tính toán sai.
Khi thấy kiệu và sắc phong của con về đến nhà, cụ giả vờ ốm nặng hơn để khỏi phải tiếp các quan đầu tỉnh, đầu huyện.
Trần Bích San cung kính đến trước mặt cha, quỳ lạy. Mắt anh đỏ hoe và chỉ nói với cha được một câu:
– Con không ngờ Thắng lại hỏng thầy ạ. Ngày mai con phải đi nhậm chức rồi, không thì…
Lúc đó, các quan đều đang bắc ghế ngồi bên giường bệnh thân phụ tân khoa. Cụ Đạt bảo tiểu đồng mang bút nghiên ra. Mắt cụ nhìn thẳng mà bảo:
– Con nay mũ áo xênh xang rồi. Thầy mẹ thì đã già, không có gì khao làng khao xã cả. Chỉ có cỗ xôi biếu phu phen. Riêng con, thầy tặng con đôi câu đối. San cầm bút chăm chú và nắn nót ghi những lời chậm rãi của cha:
Khả úy thi dân nham, kinh sức bất sinh bình địa lộ;
Duy thâm dã hoạn hải, ba đào vô nộ tái không chu.
(Đại ý: Rất đáng lo về việc phục vụ dân, nhưng cứ đường thẳng mà đi thì không sợ gai góc gì cả;
Bể hoạn (chốn quan trường) rất sâu hiểm, nếu thuyền không chở của tham, thì sóng gió không nổi giận, lật úp được).
Cụ Đạt lại ngả đầu xuống gối. Mấy vị quan giật mình, toát mồ hôi hột. Họ có ngờ đâu đến nhà tân quan tam nguyên để ăn khao, lại rơi vào thế khó xử này. Họ lúng túng, xin phép cụ Trần Doãn Đạt ra về.
Hai ngày sau, Thắng đến thăm thầy. Nghe tin, cụ Đạt dậy như chưa từng ốm bao giờ. Cụ dẫn Thắng đi quanh vườn đàm đạo.
Cụ không đả động gì đến bài thi của người học trò mà mình gửi gắm bao hy vọng, để xem anh đã phạm huý chỗ nào.
Cầm chiếc gậy trúc, cụ chỉ hình mấy chú tiều phu đang lom khom với bó củi trên lưng ở hòn non bộ, cụ nói như bâng quơ:
– Đó chính là hình ảnh các bậc cao sĩ như Lã Vọng cả đấy. Đưa sức[4] mà làm một kẻ tôi đòi, rồi kết cục chỉ chịu một nắm đấm mà thôi. Chi bằng gắng sức, gặp thời quyền biến giúp dân, không gặp thời thì quan kiến, răn dân… Lợi lắm ru!
Thắng biết đây là những lời vàng ngọc về Dịch lý của thầy chỉ bảo, qua thất bại bước đầu của đời anh.
Trở về nhà anh nằm vắt tay lên trán, nghĩ cả tháng. Cuối cùng anh mới hiểu, đó là chiết tự tên anh[5]. Anh liền xin phép cha mẹ, đổi tên mình, khiêm tốn hơn thành Nguyễn Khuyến.
Ba năm sau Nguyễn Khuyến đỗ Tam nguyên, Đời làm quan của Nguyễn Khuyến đúng lúc Pháp chiếm Bắc kỳ. Không chịu hợp tác với Pháp và bọn quan lại như Hoàng Cao Khải, ông cáo quan về làng dạy học, làm bạn với dân nghèo nơi đồng chiêm nước trũng, chỉ bảo cho họ cách làm ăn. Lúc rỗi rãi làm thơ, câu đối, theo như lời thầy dạy.
M
ới mờ sáng mà không khí đã nóng hầm hập. Người dân vùng Nghi Lộc vẫn thường có câu: “nắng tháng tám, rám quả bưởi” thật không sai. Gió Lào cuối mùa đã yếu lắm nhưng vẫn vượt qua Thuông Hến đưa cái nóng khô, lay cho xơ xác, rụng hết mấy chiếc lá còn lại trên ngọn khóm tre nhà bà Lê.
Bà ăn vội một lát khoai rồi cùng anh Thẩn vác cào ra ruộng. Đứng trên bờ đồng Cộn, nhìn những cây lúa vàng hoe như những khóm cỏ may giữa bãi cát trắng, bà thở dài. Anh Thẩn trước khi xuống ruộng, vặt mấy nhánh cỏ gà bên bờ, đưa lên xem rồi vui mừng nói:
– Mào cỏ gà đã trắng như ri thì chỉ nay mai là mưa thôi bà ạ!
Mặt trời đỏ như một chậu tiết trâu vừa nhô lên khỏi chân trời. Thế mà những tia nắng của nó đã làm cho những đám rôm sảy trên trán, sau lưng bà ngứa ngáy không thể chịu nổi. Vừa mới cào được một khoảng lúa rộng hơn một cái nia, Bà Lê sa sẩm mặt. Bà bước vội lên bờ, ngồi bệt xuống cỏ và nôn khan.
Anh Thẩn hốt hoảng:
– Bà làm sao thế?
Thẩn là người làm, nhưng được bà thương như con, chạy lại dìu bà về nhà. Mặt bà tái nhợt.
Ông Thái vừa thức dậy. Nghe tiếng kêu của Thẩn, không kịp xỏ giầy, ông chạy vào buồng nắm lấy tay vợ để bắt mạch. Mặt ông căng thẳng lo âu dần dần chuyển sang vui mừng. Bởi vì, là một thầy lang nổi tiếng, ông biết vợ mình đã có thai. Ông lên nhà trên, cắt vội một chén thuốc rồi tự tay ông nhóm lửa, sắc lấy. Nửa tiếng sau, ông âu yếm đưa cho vợ, ép uống cạn.
Tới gần trưa, bà Lê hết chóng mặt, ngồi dậy. Bà húp một bát cháo hành chồng trao. Bỗng bà hốt hoảng, hỏi:
– Con Trâm chạy đi đâu mà trưa rồi không về, hả ông?
Vừa lúc đó, Trâm – một cô bé mặt trái xoan môi thắm như tô son, hiện ra lấp ló sau cửa buồng. Như biết lỗi, em chạy lại ôm lấy mẹ.
Bà Lê lau mồ hôi, vuốt những sợi tóc tơ trên trán cho con, nhẹ nhàng bảo:
– Con tôi chạy nắng rồi!
– Dạ, con chỉ nhảy dây thôi mẹ ạ.
Nói xong, em chạy lại mở giỏ nước, lấy tích ra rót một chén đầy mang đến mời mẹ.
– Mẹ không khát con ạ!
Trâm tu một hơi cạn hết hai chén nước rồi nhẹ nhàng ngồi xuống giường cầm quạt phe phẩy cho mẹ.
Nhưng em chỉ gượng quạt được một lúc, mắt em đã như ríu lại. Em nằm co ro xuống dưới chân mẹ và ngủ.
Xế trưa, bà Lê tỉnh giấc. Chân bà như đụng phải một hòn than. Bà ngồi dậy sờ trán con thì thấy Trâm đang sốt li bì. Mặt em đỏ như quả bồ quân. Nghe tiếng mẹ gọi, em chỉ dạ khe khẽ, đôi mắt có đôi lông mày thanh thanh vẫn cứ nhắm nghiền.
Ôm lấy con, bà Lê chạy lên nhà trên quên cả sợ hãi thường lệ khi phải phá giấc ngủ trưa của chồng.
Bà thất thanh gọi:
– Con Trâm nóng lắm, ông ơi!
… Bắt mạch cho con xong, ông Thái run lập cập, mặt tái mét. Ông cắt một lúc ba chén thuốc, trong đó có cả mấy lát phụ tử sống. Thế nhưng thuốc sắc chưa được một nước, thì bé Trâm đã lên cơn co giật. Một lúc sau hai mắt bé trợn ngược, hàm răng nghiến chặt. Bà Lê vừa khóc vừa ôm ghì lấy con để chồng lấy thìa cậy răng đổ thuốc vào miệng.
Một giờ sau bé Trâm ú ớ kêu lên hai tiếng “mẹ ơi” rồi lịm dần.
Bà Lê như người mất hồn, vẫn cứ ôm lấy con, mặc cho thân thể em từ nóng ran chuyển sang lạnh giá. Mặc cho chồng khuyên răn thế nào cũng không được, cho tới khi ông phải khóc to mà bảo:
– Trời đã không cho nó ở với chúng ta mà gọi nó “về” thì mình cũng phải buông nó ra để giữ cái thai trong bụng chứ!
Tới lúc đó, bà Lê mới sực tỉnh buông Trâm ra rồi nói lảm nhảm:
– Con Trâm không chết đâu! Ông là thầy thuốc, nếu để nó chết, tôi đập tan cả dao cầu, đốt hết sách thuốc của ông đó!
… Anh Thẩn phải bế xốc bà Lê về nhà ngoại. Người ta cưa ván đóng áo quan cho Trâm. Những tiếng gõ chát chúa ấy làm cho ông Thái – một người vốn nổi tiếng cứng rắn, vẫn phải bịt tai, đóng chặt cửa lại, ông nằm im bất động trên giường gần tuần lễ không ăn uống gì. Nước mắt cứ tự nhiên tràn ướt gối.
Bà Lê về nhà bố mẹ đẻ ở và mất trí. Ngày ngày chồng bà phải mang thuốc đến, ép thì bà mới chịu uống. Ba tháng sau bà mới gần trở lại bình thường.
Tới giữa năm sau bà trở dạ. Bà đẻ ra một đứa con trai thiếu tháng. Sau khi cắt rốn, nghe lời bà mụ, bà định cắn ngón chân út của con đánh dấu để trời không bắt mất giọt máu hiếm hoi của mình, nhưng chồng bà biết đã kịp thời ngăn lại.
Thằng bé sinh ra chân tay như những cái cẳng gà, chỉ có cái đầu là to. Nó được đặt tên là Mày, tức là “đứa con kẻ ăn xin”. Từ phút lọt lòng nó cứ khóc hoài, nó vặn mình khóc nhè, khóc nhiều đến nỗi rốn lồi lên như quả trứng gà so. Đêm cũng như ngày, bà Lê phải nằm võng để ẵm nó. Muỗi cắn, có đêm bà phải mang cả áo tơi. Khi nó ngủ thiu thiu, mỏi lưng bà khẽ ém nó để trở mình thì nó lại bừng tỉnh dậy tiếp tục khóc.
Bà Lê chịu đựng như thế, một tháng rồi hai tháng, bà đỡ an ủi:
– Mợ phải chịu khó thêm một tháng nữa. Đúng ba tháng mười ngày, thì cháu mới hết sài.
Và lạ thay, đúng như lời bà đỡ nói, sau một trăm ngày thằng Mày hết khóc. Hai ba năm sau, nó đã biết chạy nhảy đi chơi. Nhưng đến bữa ăn, nó cứ ngậm cơm trong miệng mãi không chịu nuốt. Anh Thẩn thường phải dọa bỏ xuống giếng thì cậu ta mới ăn được nửa lưng cơm.
Trong nhà, cậu ta được cưng chiều hết mức. Năm này qua năm khác bố cậu phải hòa thuốc với mật ong thật ngọt thì cu cậu mới chịu ăn. Ai làm cái gì không vừa ý cậu là cậu lăn đùng ra nền nhà khóc suốt buổi. Có lần cậu làm rách sách bị người anh con mẹ cả phát nhẹ một roi vào đít, thế mà mắt cậu đã đỏ hoe, vác búa rượt đuổi anh.
Tuy nhiên, người xưa thường bảo: “Con có cha như nhà có nóc”. Do người cha nghiêm minh nên mặc dù Mày được mẹ nuông chiều cậu vẫn không đến nỗi hư hỏng trở thành kẻ ích kỷ. Cậu học chăm, khôn lớn dần rồi đi làm ăn xa.
… Nhiều năm sau, bà Lê ở quê nhà, đã già lắm. Một hôm, cũng vào tiết “tháng tám rám quả bưởi” bà gội đầu. Đột nhiên bà ngã rồi cấm khẩu luôn.
Thuốc thang mãi không đỡ. Qua mấy tháng bà hấp hối. Bác sĩ theo dõi, thấy có một hiện tượng rất lạ. Khi người bà đã lạnh đến chân đến bụng, ngực bà vẫn còn nóng và thoi thóp thở. Rồi chân bà ấm lại. Cảnh đó diễn ra như vậy suốt ba ngày. Cô y tá trực đã tỏ ra mệt mỏi và sốt ruột. Một bà bạn già đến thăm, khóc, ghé tai nói nhỏ:
– Bà đang chờ thằng Mày ở Hà Nội về, phải không?
Người bệnh hôn mê không hề biết. Không gian trong bệnh viện nặng nề, lạnh ngắt.
Xế trưa. Cũng lại xế trưa ngày thứ ba… khi có tiếng Mây nói ngoài hành lang: “Nhận được điện là về ngay, nhưng tàu chạy chậm quá”, thì trong phòng bà già ngoài tám mươi hấp hối ấy, mắt đã nhắm nghiền mấy tuần nay bỗng nhiên mở ra. Thấy đứa con xuất hiện, ngực người bệnh thở dồn dập chừng một phút, nước mắt ràn rụa rồi thanh thản nhắm lại vĩnh viễn.
Mây vuốt mắt cho mẹ. Bỗng nhiên có một con cánh cam màu xanh biếc bay vù vù lượn khắp phòng một vòng rồi đậu xuống màn, phía đầu người vừa mới mất.
M
ùa đông đến, khi cây xoan chỉ còn đeo lủng lẳng mấy trùm quả khô teo, cành cong trơ trụi như những bàn tay xương xẩu, già cả… giơ lên trời để chống đỡ với gió lạnh thì mấy chú chào mào cũng ngồi ủ rũ, sệ cánh trên đó, không nơi ẩn nấp, không còn hót líu lo nữa.
Đàn chim ngói vụt bay đi, sà đến mấy thửa ruộng đầu làng để nhặt mấy hạt thóc cuối cùng trên cánh đồng nghèo, chỉ còn gốc dạ lẫn cây rau muối khiến lòng ta thêm buồn, lạnh lẽo, quạnh hiu.
Tết đã gần đến. Gương mặt mẹ tôi đầy lo toan. Bà nhìn bồ thóc trong buồng. Kể từ vụ mùa đến nay đã vơi đi già nửa, nhưng bà vẫn phải lường mấy rá… mang ra chợ.
Tôi với cô gái cùng xóm đang ngồi chơi đánh ô bằng những quả khô đắng, rụng đầy gốc của chính cái cây cùng có cái tên Xoan này.
Chơi đánh ô là thú của con gái sau đánh thẻ. Nhưng vì không có bạn đá bóng tôi đành phải chơi trò này. Bao giờ cũng vậy, khi Xoan hô: “hết quan, toàn dân…” là cô ấy vơ vào lòng toàn bộ hạt xoan. Tôi cứ phải vay nợ hoài. Nợ nhiều, cáu quá, tôi leo lên cây, hái mấy chùm đem xuống trả. Cuối cùng, khi mẹ tôi về chợ, tôi có cớ để bỏ chơi, chạy đi lục thúng mủng của mẹ.
… Tôi nghe tiếng thở dài của bà. Ngoài một chục mắm nục là món ăn mà tôi rất ghét, chỉ có một đùm lá chuối gói hai cái kẹo đường đỏ tẩm bột, dài bằng hai nửa ngón tay.
Tôi đưa cho Xoan một cái kẹo. Đôi mắt cô long lanh, bảo:
– Thế là em trừ hết nợ cho anh rồi đó!
Xoan nhảy qua bờ rào, chạy về nhà. Tôi nghe tiếng thằng Cậy giậm chân đành đạch:
– Anh Niêm lại cho chị kẹo rồi. Chị phải để em cắn một nửa.
… Sát tết, là ngày trời thường rét ngọt, lất phất mưa. Những cành xoan xương xẩu ấy như tươi lại, chúm chím nụ.
Chúng tôi thường qua những cái tết ngây thơ, giữa cái nghèo túng và lo toan của người lớn như vậy.
Ra giêng hai, đến trò chơi khác. Dưới gốc cây, chúng tôi lấy hoa xoan xâu thành cườm.
Tôi đóng chú rể, đeo chuỗi ngọc cho Xoan làm cô dâu.
Thường thường trò chơi này tôi và Xoan chơi vụng trộm, không để người lớn và thằng Cậy biết.
Đôi mắt Xoan tròn như mắt bồ câu, nhìn tôi, mặt ửng đỏ, ngượng ngùng… Còn tôi, tôi chỉ sợ bạn bè cùng xóm chế mà thôi.
Năm tháng qua đi, rồi tôi phải đi trọ học xa. Xoan ở nhà làm hàng xay, hàng xáo cùng mẹ. Xoan đã trở thành một cô gái xinh đẹp và đảm đang nhất làng.
Thỉnh thoảng, mỗi lần ở trọ hết gạo, tôi về nhà lấy để mang lên. Tôi thấy mẹ tôi tần ngần, rồi chạy sang nhà Xoan. Lát sau, cô mang sang hai cái ruột tượng đầy, màu nâu non. Tôi biết chắc đó là gạo cô chuẩn bị mang ra chợ. Tôi lúng túng, đỡ lấy từ tay Xoan. Cô lại đỏ mặt, cúi mặt xuống… rồi giả vờ quay sang bắt chấy cho mẹ tôi, để được ngắm tôi xếp sách vở vào ba lô và khoác hai cái bao tượng… ra đi.
Mẹ tôi thường bảo:
– Gắng học cho giỏi, nghe con!
Tội dạ và nhìn về phía mái tóc bạc của mẹ, đôi mắt Xoan long lanh, như đợi chờ như vô vọng. Còn tôi thì lãng mạn, thầm nghĩ sẽ là một Phạm Công xưa… với nàng.
Tuy cùng nhà tranh vách đất cả, nhưng bố mẹ Xoan nghèo khổ đã rõ. Còn nhà tôi, mới sa sút từ khi bố tôi, một nhà nho nghèo, mất cách đây hai năm. Cái túng đói của nhà tôi được mẹ tôi che giấu rất giỏi. Mỗi khi có bạn cùng lớp tôi về qua, bà đon đả, giữ chúng ở lại cho bằng được.
Bà nấu một nồi cơm đầy trên mâm có hai đĩa cá nục luộc, kho nhạt. Chúng tôi được một bữa cơm trắng no nê. Ăn xong, bưng mâm xuống nhà, tôi mới chợt thấy mẹ đang nhai từng lát khoai lang hấp. Trong lòng tôi hối hận vì sự chểnh mảng học hành và những chuyện đua đòi theo bạn.
Vì thế, tôi quyết chí học và chưa có bạn gái. Mặc dù trong lớp năm cuối cấp ba, một lần tôi nhận được một mẩu thư tình, có ướp một bông hồng, không ký tên.
… Khoảng ngoài mồng bốn tết năm con hổ vàng, túc là năm 1962, khi hoa xoan đã rắc đầy ngõ, những hạt cườm tím, tôi nhận được một tin sét đánh. Ngày đó Xoan về nhà chồng.
Chả trách gì mà gần cả tháng nghỉ tết, tôi không làm sao tìm gặp được cô láng giềng ấy.
Đêm đó tôi trằn trọc và thức trắng. Nước mắt đầm đìa cả gối. Sáng ra, tôi chạy sang nhà, nhìn căn nhà thiếu vắng hình ảnh một người… của tuổi thơ, tôi ôm lấy mẹ Xoan khóc to và buột miệng gọi “mẹ”.
 Bà rưng rưng nước mắt, xoa đầu tôi, an ủi:
– Em nó chờ cậu mãi! Con gái có thì… Mà nó đã đi lên chùa, xin thẻ. Về nó khóc suốt đêm. Nó bảo tuổi nó, nếu được cậu yêu chăng nữa, thì sau này cũng làm khổ cậu mà thôi. Bởi vậy, nó mới thuận lấy anh cán bộ tập kết đã theo đuổi nó bao năm nay…
Từ đó, thỉnh thoảng Xoan ghé thăm mẹ. Có khi, khớp với lần tôi nghỉ học, ở Hà Nội về nghỉ hè. Nhưng lại đến lượt tôi lẩn tránh Xoan.
…Sau năm 1975, miền Nam giải phóng. Xoan theo chồng về trong đó. Mẹ tôi và bố mẹ Xoan lần lượt qua đời.
Thế là chúng tôi bặt tin nhau cho đến tận bây giờ. Cũng từ đó, mỗi độ xuân về, thấy hoa xoan nở đầy đường, tôi lại rón rén bước giày, cho khỏi đạp lên.
Tôi biết rằng, hết mùa hoa, nó chỉ đem lại quả đắng mà thôi. Còn đâu cái háo hức tuổi thơ… tôi trèo lên hái, để trả nợ cho ai nữa.
T
rời sắp chuyển sang mùa thu. Mây đen u ám đang sà xuống thấp, nặng trĩu. Rồi mưa đổ ập xuống như trút. Đàn kiến đen hối hả tha trứng đi. Chúng đang tụ lại ở chân tường như một đám vừng đen, trước khi làm cái công việc chọn địa điểm dựng nhà, dựng cửa.
Trong lúc đó, giáo sư Hoàng áo quần chỉnh tề, đi đi lại lại từ đầu đến cuối nhà. Nét mặt ông đầy vẻ lo âu. Ông ngó ra ngoài trời, rồi nhìn đồng hồ. Đã sáu giờ chiều. Ông quay lại phía vợ:
– Mình lấy cho tôi một tấm nylon. Không thể chờ mưa tạnh được. Còn có hơn một tiếng nữa là tàu Vinh chạy. Phải vào ga mua vé nữa cơ mà.
Bà vợ ông cách đây mươi phút nghe điện thoại báo tin người anh mất, đòi về. Nhưng ông thấy vợ đang cảm nên ngăn lại và ông phải về thay.
Ông cài khuy áo mưa cẩn thận rồi xách túi mở cửa. Con Baby tưởng ông cho nó “đi chơi”, ôm lấy chân ông, vẫy đuôi rối rít. Ông cũng chẳng kịp vuốt ve nó mà sấp ngửa bước ra mưa.
Ra khỏi ngõ, ông gặp ngay một thanh niên đi xe máy. Anh ta dừng lại, lễ phép:
– Bác có ra ga không, cháu chở?
Ông nhìn anh lái xe ôm. Ông quan sát từ đầu đến chân. Bởi vì lâu nay đọc báo, ông đã nghe nhiều chuyện về họ. Anh này trông có dáng thanh niên nông thôn, nhưng lại đi giày.
Giáo sư Hoàng ướm thử:
– Đây ra ga, anh lấy bao nhiêu?
– Dạ, bác cho cháu xin sáu ngàn.
Nghe thế, ông biết là đúng như giá vợ ông đã dặn. Ông yên tâm ngồi lên sau xe.
Anh ta nhẹ nhàng rú ga, lên cầu. Ở đó, có năm sáu anh khác, đang ngồi trong quán nước dưới chân cầu, xe được che nylon, để ngoài mưa. Họ nhìn ra, quát:
– Dừng lại!
Anh lái xe ôm hãm ga, tay có vẻ run run. Giáo sư Hoàng bỏ kính định nhảy xuống. Ông thầm nghĩ:
– Khéo lôi thôi to! Chậm giờ mất.
Nhưng một tiếng khác, cũng từ quán vọng ra:
– Thôi, lần này mưa gió. Tha! Lần sau mà dám bén mảng tới đây cướp khách chúng ông thì đừng có trách!
Khi đã phóng vù vù trên đường Láng, anh xe ôm mới phân bua cùng giáo sư Hoàng:
– Cháu vừa trả khách trong khu tập thể quân đội. Tiện đường về mới chở bác. Cháu đã định đi vòng lối kia… mà hình như chúng nó biết bác thì phải?
– Bác mới về đây có mấy năm, nên cũng chẳng rõ!
… Xe rẽ nước trên đường Kim Mã như bơi thuyền. Mấy đứa trẻ con cởi quần trùng trục, nghịch nước dưới mưa. Đèn cao áp đã bật sáng trưng, quyến rũ mấy con châu chấu, con thiêu thân cuối cùng lao vào… chụm lại dưới bóng sáng. Rồi chúng lần lượt rơi xuống lòng đường. Bỗng giáo sư Hoàng thấy anh lái xe ôm kéo sụp mũ khi thấy một cô gái đi một chiếc xe Dream lướt qua. Chiếc áo nylon trong suốt để lộ dáng người thon thả quý phái.
Từ đó, giáo sư Hoàng thấy anh lái xe ôm cứ cựa quậy hoài. Cảnh giác, giáo sư Hoàng ngồi cách anh ta ra một chút, hai tay giữ chặt túi xách, áp sát vào lòng. Ở trong đó, vợ ông cất cho ông sáu trăm ngàn đồng để lo phúng viếng, ma chay. Bà không cho ông mang cặp, mà chỉ xếp tiền dưới áo quần, trong chiếc túi cũ. Bà nhớ, có lần ông đi tàu, uống bia, rồi ngủ say. Có bao nhiêu tiền sau túi, bị móc sạch.
Nhưng ông cảnh giác lần này là quá thừa. Anh lái xe ôm đã đưa ông tới ga. Anh ta bảo:
– Bác trông xe, cháu vào mua vé giúp bác!
Lúc đưa vé ra, ông định biếu thêm mấy ngàn mua vé thừa, nhưng anh ta nhất định không nhận. Anh lễ phép chào ông, rồi phóng xe về phía Giáp Bát, mất hút trong dòng người hối hả với mưa rơi.
Việc ma chay ở quê dễ thường mất đến tuần lễ. Ông lại đi tàu đêm trở ra Hà Nội. Sáng hôm nay, vừa về đến nhà, ông chưa kịp nghỉ cho lại sức thì đã có điện thoại báo đi họp gấp.
Ông phải uống mấy viên đạm rồi đạp xe đến trường. Hai chân ông mỏi rã rời, đầu lâng lâng… Mấy lần, ông định quay về. Nhưng rồi vì trách nhiệm, ông phải gắng. Vừa bước vào hội trường, giáo sư Hoàng đã được ông hiệu trưởng bắt tay, mừng rối rít:
– May quá, Chủ tịch Hội đồng đã về đây rồi. Nếu không có anh, tôi phải thay thì gay quá!
– ???
Giáo sư Hoàng ngồi thừ trên ghế để thở. Một lát sau, bạn bè đồng nghiệp của ông, các giáo sư, tiến sĩ… cũng lục đục tới. Họ bắt tay nhau, nói chuyện rôm rả. Có mấy người Nhật, Úc, Pháp… cũng có mặt.
Lúc này ông mới biết, Nhà trường chuẩn bị làm lễ cấp học bổng cho sinh viên giỏi.
Khoảng hai chục em sinh viên được nhà trường cấp xếp hàng trên bục giảng đường. Cô cậu nào cũng tươi roi rói trong những bộ áo quần mới, là ủi thật phẳng phiu, lịch sự.
Sau những nghi thức về thủ tục, giới thiệu các nhà tài trợ, giáo sư Hoàng, với tư cách Hội trưởng Hội khuyến học, được mời lên trao hai triệu đồng cho em Tấn, Khoa tin học. Ông mệt mỏi đứng lên, hơi chóng mặt. Nhưng khi nhận ra em Tấn, người sinh viên ưu tú mà ông trao học bổng, rất giống anh lái xe ôm cho ông, đêm mưa gió tuần trước thì ông như khỏe hẳn ra.
Ông hỏi nhỏ:
– Hóa ra là anh, có phải không?
Tấn cũng nhận ra ông. Hai thầy trò nắm chặt tay nhau im lặng hơi lâu. Giáo sư Hoàng đã không nghe lời giới thiệu tiếp, em Quỳnh Hoa, cũng là sinh viên tin học, cũng được vinh dự nhận học bổng cao nhất. Cô đang lúng túng, tiến lại gần ông trong khi ông vẫn nắm chặt tay Tấn.
Khi quay đầu lại, ông sững người bởi vẻ quý phái của cô sinh viên. Bỗng ông nhìn thấy nét mặt đỏ nhừ của Tấn thì ông như chợt hiểu. Ông khoan khoái, khỏe ra và như trẻ lại cùng với họ, với những kỉ niệm cũ…
Ông phấn khởi, hai tay ôm choàng lấy cả đôi sinh viên giỏi và ông quay ra phía khán giả. Không biết ông nói một câu gì, bằng một tràng tiếng Anh, khiến mọi người cười ồ. Nhất là mấy bạn người nước ngoài cười càng to hơn.
Tôi cũng có mặt hôm đó. Vì dốt tiếng Anh, tôi về nhà đoán mò… Hay là giáo sư nhắc đến chuyện Lưu gù và tiểu thư con gái rượu của Lục Vương đó chăng?
V
ào cữ tháng tám, quê tôi trời thường mưa tầm tã hàng tuần lễ. Đó là tiết mưa giỗ Lê Lai, Lê Lợi. Lúc còn nhỏ học trường làng, tôi rất thích những ngày này. Vì đó là mùa cá rô hạt bưởi kho nghệ vàng au, mùa của những trò chơi giữa mưa, giữa nước.
Hồi đó, sau những buổi đi học, chúng tôi thường rủ nhau lên sân bay Yên Đại chăn trâu bò. Sân bay của Nhật lúc này, ngoài những đoạn đường băng đất đỏ đã bị du kích ta đào lên nham nhở để chống máy bay địch đổ bộ còn lại là những bãi cỏ rộng mênh mông. Đám cỏ may như những bụi kê hoang. Nhưng nếu ta chịu khó hái, cắn lấy hạt mà nhấm nháp thì nó cũng bùi vô kể. Bờ cỏ gà, ngọn đầy những cái mào to. Chúng tôi thường nhổ lên từng nắm, rồi ngồi chụm lại với nhau chơi trò trọi gà. Mặc cho trời mưa xối xả đàn trâu bò được thả rong. Chúng thong dong, vừa lội nước vừa thả sức gặm cỏ, trông thật vui mắt. Thỉnh thoảng, một con trâu cái đâu đó lạc mất con, lại cất tiếng gọi “nghé ọ”. Chú nghé non đang tha thẩn, khoái trá với nước mưa trời, cong vó, vội vàng chạy về. Nhưng trước khi rúc xuống bụng mẹ, cậu ta còn chạy quanh một vòng nữa… cho nước tung lên thật cao cho đã thích rồi mới chịu thôi.
Xong trò chơi chọi cỏ gà, thấy đàn trâu bò ăn đã khá no, chúng tôi thường cưỡi chúng, bày trò đánh trận giả. Cũng có hôm, chúng tôi còn mang bóng quấn bằng lá chuối ra đá giữa bãi nước.
Thường thường sau một tuần mưa như vậy, những ngày khi mặt trời bừng sáng trở lại thì những chú chim chèo bẻo, không biết từ đâu bay về, tha hồ săn mồi là những con chuồn chuồn ớt dại dột đang khoe màu áo, đỏ rực, rõ mồn một giữa đồng xanh. Chúng tôi lúc này lại có thú chơi khác là buộc chuồn chuồn trên ngọn lúa… để bẫy chim.
Nhiều năm sau rời quê nhà đi trọ học cấp ba, tôi vẫn không quên những trò chơi đó. Nhưng lúc này, phần lớn bạn thiếu thời đã vào bộ đội. Một chiều chủ nhật tôi về thăm nhà để lấy gạo, đúng vào dịp sau mưa, trời vừa bừng sáng. Tôi đi bóc vỏ cây gôm, nhai lấy nhựa, ra đồng bẫy chèo lẻo. Đi bẫy chim mà chỉ có một mình thì không thú, lại nhớ bạn. Vì thế, khi mặt trời vừa buông màn hồng sau Rú Gai, chuẩn bị đi ngủ sớm, tôi đã lững thững ven bờ ruộng trở về tay không. Lúc này, tôi đang khát khô cổ. thấy cánh đồng vắng vẻ, tiện tay tôi vội ngắt trộm mấy ngọn đòng đòng lúa nếp, nhai ngon lành.
Những giọt sữa lúa làm cho tôi khoan khoái và tỉnh táo hẳn. Tôi định phạm tội lần thứ hai. Nhưng rồi tôi nhớ tới câu hát ví của mẹ lúc còn nhỏ:
– “Thứ nhất tội trộm trứng gà,
Thứ nhì tội nhổ lúa ra đòng đòng…”
Tôi đang lưỡng lự. Bỗng tôi thấy bóng một cô gái đang ngấp ngó dưới ruộng bên cạnh. Tôi giật mình, lo sợ, rảo bước quay về nhà.
Mẹ tôi đang đi đâu vắng. Tôi giở sách ra học. Chữ nghĩa cứ nhảy múa trước mắt mà đầu óc tôi chỉ nghĩ đến ngày mai, cách bẻ khum cây lúa và buộc chú chuồn chuồn ớt sao cho con chim chèo bẻo sà xuống là vướng nhựa ngay. Tôi phải cố bẫy cho được mấy con, mang lên trường “khao” bạn học.
Tôi đang lan man nhìn ra sân thì thấy phía bên kia giậu găng, một cánh áo nâu, mái tóc xõa vai, tất tả đi về. Cái thúng cắp bên nách.
Biết chắc đó là Xoan, cô hàng xóm, nhưng tôi hơi lạ vì cử chỉ của cô có vẻ như vội vàng giấu diếm.
Mới xa nhà có một năm mà tôi thấy cô gái thuở nào đã lớn hẳn lên, trở thành một thôn nữ, một cô láng giềng xinh đẹp để thương, để nhớ… Cô thường muốn lánh mặt tôi. Nhưng tôi lại có cảm tưởng hình như mình luôn luôn bị theo dõi.
Rồi tôi lắng tai nghe, rõ cả tiếng rang rang, giã giã… bên ấy. Một mùi thơm lúa mới phảng phất đâu đây. Đang mải mê suy nghĩ và hồi tưởng thì một lát sau, tôi nghe tiếng bước chân rón rén, nhẹ nhàng đến sau lưng tôi. Rồi một bàn tay nhẹ nhàng đặt lên sách cho tôi một gói lá chuối. Tôi vội vàng quay đầu lại và sững sờ khi nhận ra đó là Xoan.
Xoan đỏ ửng mặt. Dưới làn áo nâu non, bộ ngực căng tròn đang phập phồng. Cô nói như run rẩy:
– Anh Hoàng, anh đừng ăn đòng lúa non, có tội chết! Em làm cho anh một nắm cốm nếp đó. Anh cất ngay vào cặp đi, không mẹ anh về bây giờ.
Tôi ngây người, trời đất như đang chao đảo trước mặt thì Xoan đã chạy vụt về nhà. Tôi chỉ kịp nhìn theo mái tóc phất phơ của Xoan sắp bị giậu găng kia che khuất.
Vừa lúc đó, mẹ tôi về. Tôi lúng túng chào mẹ.
Nhưng mẹ tôi không để ý. Bà đổ gạo ra sàng sàng, sảy sảy.
Tôi nhìn mái tóc bạc của mẹ đang cặm cụi nhặt từng hạt thóc, nhìn con mắt mẹ thẫn thờ, vừa lường vừa đếm đi đếm lại từng bơ gạo một… Lòng tôi xốn xang một nỗi buồn khó tả.
Cúi xuống đọc tiếp chưa hết trang sách, khi ngẩng lên, tôi không thấy mẹ tôi ngồi đó nữa. Sàng gạo còn để giữa nhà. Lắng tai tôi nghe tiếng thì thầm góc sân nhà Xoan:
– Xoan ơi, hôm nay cháu hái được nhiều lúa ba tháng chín bói không?
– Lúa mới chấp xanh cả bác ạ. Cháu nhặt mãi mới được khoảng hai bó!
Tôi nghe tiếng mẹ tôi hạ thấp giọng hơn:
– Hồi chiều bác phải lên vay chịu nhà lão Tự hai yến gạo cho thằng Hoàng ngày kia mang đi. Không ngờ về lường lại, nó thiếu đi gần hai bơ. Chúng nó ăn ở điêu toa thật!
Hai ngày sau, tôi lên trường. Học sinh cấp ba chúng tôi ngày ấy trọ học không mất tiền. Nhưng thường góp gạo nấu cơm chung theo tổ.
Hôm đó, tôi đang hí hửng đổ ruột tượng gạo ra cùng bạn bè thì mấy cô gái bỗng nhiên reo to:
– Gạo bạn Hoàng có lẫn cả gạo rang, chúng mày ơi!
Thế là, những bàn tay búp măng trắng muốt đua nhau tìm tìm, xới xới… chỗ gạo của tôi. Các bạn nhặt lên, nhón vào lòng bàn tay rồi tranh nhau, nhai ngon lành… những hạt gạo vàng ươm, thơm phưng phức ấy…
Các bạn tôi vừa ăn vừa khen ngon. Bỗng một cô cười, nói dí dỏm:
– Hình như… Hoàng đã có vợ chúng mày ạ. Mẹ tau là người Huế mà rang cốm cũng không thể dẻo được như thế này đâu!
Tôi ngượng nghịu, đỏ nhừ mặt. Nhưng trong lòng lại vô cùng tự hào về mẹ và về một bàn tay… của ai đó. Tôi cố cười phá lên, để ngăn những giọt nước mắt cho khỏi bị trào ra…
N
gười anh thứ ba của tôi thi tiểu học ba lần không đỗ. Lần cuối cùng do quy chế của trường không học đúp được, bố tôi còn cố gửi anh ra Quỳnh Lưu học thêm một năm nữa. Thi vẫn không đỗ, anh tôi sợ bố phải trốn về bên ngoại mất mấy tuần. Anh học không vào, có lẽ một phần là vì lúc nhỏ, anh bị chó dại cắn. Bố tôi phải dùng những liều thuốc rất độc mới cứu đươc.
Truyền thống họ hàng nước ta thời đó, người anh thường phải chịu thiệt thòi để nuôi em, nếu người em đó học được. Điển hình nhất trong họ tôi là gia đình nhà văn Hoài Thanh mà chúng tôi quen gọi là chú tú Nguyên. Ông Hoài Thanh, tuy học rất giỏi, nhưng vì đông em ông đã phải thôi học, sau khi đỗ tú tài đi làm lấy tiền để nuôi ba người em. Cuối cùng, cả mấy anh em đều đỗ đạt, từ tú tài đến kỹ sư nông lâm.
Theo gương đó, sau khi bố tôi mất, anh tôi cũng chịu thương chịu khó cùng mẹ kế, làm công việc đồng áng, chăm sóc cho hai anh em chúng tôi học. Đó là những năm 1946 – 1952, tôi học cấp hai, cấp ba Nghi Lộc. Lúc này anh tôi đã lấy vợ và đã có đứa con đầu lòng. Anh lại làm công tác của đoàn thanh niên cứu quốc huyện. Thường thường, anh tôi lên huyện buổi sáng. Buổi chiều về, quăng chiếc xà cột lên giường là lao vào công việc nhà nông đỡ đần cho mẹ và vợ, như cày bừa, bào khoai lang, trục lúa, giã dây khoai lang để nuôi lợn. Công viêc làm tới khuya, có khi tới 12 giờ đêm.
Chị dâu tôi người Diễn Châu, là cháu ruột quan Quang Lộc tự Thiếu Khanh họ Nguyễn ở Đông Phái. Sống trong một gia đình nề nếp từ nhỏ, cho nên tuy ở vào hoàn cảnh “mẹ ghẻ con chồng”, nhưng giữa mẹ tôi và chị, suốt tám năm ở chung, tôi không thấy họ to tiếng với nhau bao giờ.
Mẹ tôi cũng là đảng viên, đi hoạt động phụ nữ ở huyện. Công việc nhà vì thế thường đè nặng lên vai chị. Có khi mẹ và chồng đi nhiều quá, việc dồn lại, chị thấy chồng và mẹ về cũng chỉ nựng con, nói mát một câu:
– Bà và bố mày đã ở trên huyện về rồi đó!
Tôi thì vì vừa còn nhỏ tuổi vừa thiếu suy nghĩ và vì lười… nên càng ỷ lại vào anh chị tôi. Tôi không nhấc tay động cân làm bất cứ một việc gì. Có khi, chị tôi phải để đứa con gái thứ hai mới lên một ngồi trên một cái đòn thấp ngoài sân để hái cà hoặc giã gạo, kẽo kẹt một mình. Lúc đó, tôi có thể đang học bài. Nhưng thường là đang đọc truyện. Nào là “Hồn bướm mơ tiên”, “Trống mái”, “Lạnh lùng” v.v… Kể có đến cả trăm quyển tiểu thuyết lãng mạn tôi nghiến ngấu đọc trong thời gian này.
Ngày nay, anh tôi đã về nằm bên cha và hai mẹ. Tôi đã bước sang tuổi già, đang làm cái công việc tự chỉ trích đời mình. Tôi mới cố gắng lí giải tâm lý anh chị tôi hồi đó.
Về anh, sự tận tụy của anh, có lẽ là do truyền thống, nghĩa vụ, sự ký thác của anh đối với em, về những việc mà anh đã không làm được. Anh tôi mong tôi thực hiện được ước mơ của anh, đỗ đạt cao bằng này, bằng nọ. Nhưng khó lý giải nhất, là tâm lý của chị dâu tôi. Vì sao chị đối với em chồng khác mẹ, lại có vẻ hư thân mất nết, lười biếng, mà chị lại có thể tốt đến như vậy?
Tại sao cứ đến bốn giờ sáng, chị đã phải nhẹ nhàng ém con nhỏ, dậy thổi cơm. Cơm chín, chị lay chồng dậy, giạt vuông vải trắng, nắm cơm cho em, đi học? Suốt sáu năm dòng như vậy, mùa hè cũng như mùa đông?
Giờ đó, thường thường tôi cũng đã thức dậy, nhưng đang nằm rốn trong chiếu, ngái ngủ lẩm nhẩm học bài. Tôi nghe chị nói nhỏ với chồng:
– Để cho chú ấy ngủ thêm tý nữa, năm giờ hãy gọi dậy.
… Những ngày gió mùa rét căm căm, tôi phải đếm một, hai, ba có khi tới mười… rồi mới có thể tung chiếu ngồi dậy được. Mặc thêm mấy chiếc áo nâu, những chiếc áo may bằng vải thô do chính tay chị dâu tôi dệt và nhuộm, tôi cầm cặp, nhét vội mo cơm do anh tôi đưa rồi chạy đi học.
Tôi thường chạy lúp xúp suốt 11km để đến trường, nhất là những hôm thương em rét, anh chị gọi tôi dậy muộn. Cũng có khi, chiếc đồng hồ quả lắc như một ông già đã quá mệt mỏi, không đánh chuông, chị và anh tôi thức tôi dậy quá sớm. Tôi ra đi lùi lũi dưới ánh trăng suông. Tới trường vẫn chưa sáng hẳn.
Trường cấp hai lúc đó ở tận làng Vĩnh Long, Kim Khê. Chúng tôi học cả sáng lẫn chiều. Thời kỳ đầu những môn khoa học xã hội chúng tôi học thầy Nguyễn Huy Tý. Còn môn toán do thầy Nguyễn Thức Hưu dạy. Những năm sau, có thêm thầy Bùi Văn Nguyên, Đinh Văn Kinh, Nguyễn Đức Nam… dạy các môn Văn, tiếng Pháp…
… Học hết buổi sáng, khoảng một chục học sinh chúng tôi ở xa nghỉ lại trường để chờ học buổi chiều. Chúng tôi mở mo cơm ra ăn với nhau. Mo cơm các bạn tôi thường thường chỉ có mấy quả cà muối với mắm được gói riêng. Thỉnh thoảng có đứa mang một mo cơm nếp với trứng tráng mật. Món đó thường chúng tôi để dành ăn sau cùng. Mo cơm của tôi không hiểu do mẹ hay chị dâu đi chợ, nhưng thức ăn phần nhiều có cá trích, cá nục hoặc cá thèn đỏ. Cũng có trưa, tôi mở mo ra, không thấy gói thức ăn. Nhưng khi cắt cơm thì mắt chúng tôi sáng lên. Bởi vì giữa nắm cơm là những khúc tôm he đỏ au, vừa mặn vừa ngọt vừa cay… mùi hạt tiêu. Bữa trưa hôm đó, chúng tôi ăn xong mà cảm thấy vẫn thèm. Có đứa lên tiếng:
– Chị thằng Thanh nấu ăn ngon thật!
… Chúng tôi học đến chiều rồi lại chạy lúp xúp về. Có khi chạy đến cồn Vàng, chúng tôi còn lấy bóng, là quả bưởi non phơi khô, hoặc bóng cuốn bằng lá chuối ra chơi với nhau một vài hiệp rồi mới chịu chia tay. Bởi vì, đây là lối rẽ. Đứa về ngả Thịnh Trường, Ngư Hải. Đứa về xã Đoài, Đứa xuôi Quán Sen, Yên Lạc Hậu…
Thường thường, tôi về đến nhà thì trời đã tối mịt. Bữa cơm cũng vừa mới được dọn ra. Bụng đói cồn cào, tôi sà vào mươn[6]. Nhưng khi nhìn thấy thức ăn chỉ có độc một bát yêu to cà muối lẫn với gốc chuối, hoặc thân đu đủ non với mắm… tôi lại đặt đũa xuống.
Mẹ, anh và chị dâu nhìn tôi. Mẹ tôi thường dọa một câu:
– Không ăn thì nhịn!
Anh tôi trước khi ăn cơm thường chén hai ba miếng khoai vai to tướng cho lửng bụng. Vì cơm tuy là cơm gạo đỏ, nhưng có hạn. Bát cơm của đứa con đầu được chị tôi chan cho một thìa mắm cáy, là thức ăn kiêng chỉ dành riêng cho chị trong kì sinh nở.
Khi đói quá tôi cũng tự lấy chai mắm đó ra chan ăn. Nhưng nếu tôi đoán chừng được mẹ hoặc chị vừa mới mua được cá hoặc tôm cho mo cơm ngày mai thì tôi cứ ngồi trơ ra đó, hoặc lên võng nằm.
Thế là tôi được nhượng bộ. Chị dâu tôi đứng dậy, lấy một con cá hoặc khúc tôm bỏ lên bát cho em mà nói nhỏ nhẹ:
– Chú ăn tối nay thì mai cơm nắm chỉ có cà thôi đó.
Nhưng ngày hôm sau, giở mo cơm ra, tôi vẫn thấy có tôm hoặc cá, không hiểu chị dấu ở nồi nào.
Nay anh tôi không còn nữa. Mỗi lần về thăm lại chị dâu tôi. Mặc dù đã ngoài bảy mươi, ốm đau luôn, nhưng chị vẫn gượng dậy, đi chợ Quán Hành hoặc chợ Cầu mua về một chục cá trích hoặc cá nục làm cơm cho em chồng.
Đến bữa ăn chị hay bảo:
– Tôm he bây giờ nỏ có nữa! Mấy lần về Diễn Châu, tui cố tìm mua vài chai mắm cáy gửi ra cho chú mà không được.
Tôi cố nén lại để nước mắt khỏi trào ra. Nhưng còn miếng cơm trong họng không sao nuốt trôi được. Chị có biết đâu, thằng em, giờ nói thèm những món đó nhưng cũng chỉ ăn không quá được một bữa. Tuy nhiên cái nghẹn của tôi đâu phải là vì cái lưỡi đã hư đốn, mà nó còn có một cái gì… như là một sự hối hận, nhói đau của con tim nữa
Và lúc này tôi mới lý giải được câu nói trên. Đức tính hy sinh của chị đã được rèn đúc từ một gia đình có truyền thống Nho giáo với bài học vỡ lòng là “công, dung, ngôn, hạnh”của người phụ nữ. Có lẽ, lúc đầu, chị đối với mẹ tôi, chúng tôi… cũng bị chi phố bởi thói đời, dễ mặc cảm với cảnh đối xử ghẻ lạnh. Nhưng rồi cái “đức” nói trên đã được bồi đắp dần, trở thành những tình cảm máu thịt thật sự với mẹ ghẻ và em chồng. Còn tôi, người em chồng có thời vô tâm, ích kỷ… nhưng rồi cũng phải tự vấn mình và mủi lòng về người chị dâu yêu thương. Và tôi, tôi đã xem chị hơn cả chị ruột, tự bao giờ!
C
hợ Vồ nằm lọt thỏm giữa hẻm núi. Một con đường vắt qua sườn núi bên kia sang, trông xa như một tấm vải nâu rách, lơ thơ mấy túp nhà tranh vách đất. Núi bên này là một khoảnh đất rộng không quá vài trăm mét vuông, có một gốc ruối già nằm giữa hai dãy lều xiêu vẹo. Buổi sớm, có lẽ phải đến tám chín giờ sáng thì những căn lều kia mới ngái ngủ, tung khỏi màn sương mù vùng cao, như những cụ già ốm yếu, cố vươn vai ngồi dậy giữa bầu trời sáng nặng nề. Lúc đó, mới có một ông thợ cắt tóc, gầy cao, đeo đôi kính trắng, trán hói trông như một nhà giáo, mang lỉnh kỉnh đồ nghề ra đứng dưới gốc ruối. Thoạt tiên, ông treo chiếc gương lên một cái đinh thuyền được đóng sẵn vào thân cây. Sau đó, ông cầm cây chổi thanh hao cán dài quét dọn chỗ làm việc. Tiện chổi, ông khua thêm mấy nhát… Thế là cả chợ sạch bong. Xong công việc, ông ngồi lên chiếc ghế làm bằng bốn thanh gỗ chằng với nhau bởi hai miếng da trâu sống. Ông mở hòm, soạn tông đơ, dao kéo, để lên bàn gương, rồi treo tấm da liếc dao cạo sang bên cạnh. Đôi mắt già nua của ông bỗng nhiên thẫn thờ, nhìn xoáy vào tấm ảnh của một em bé gái đang giơ tay bụ bẫm như tươi cười vẫy ông. Tấm ảnh được dán vào một góc gương. Năm tháng đã làm cho hoen ố nhiều chỗ.
Ông cứ ngồi im như tượng, nhìn tấm hình như vậy không biết chán và không biết bao nhiêu lâu, nếu như không có mấy bà già bán hàng la ghim ra, đặt thúng mủng, khua động ở bên cạnh. Ông già như bừng tỉnh giấc, ông hỏi bâng quơ:
– Các bà đã dọn hàng đó à?
– Vâng. Ông Bân bao giờ cũng ra sớm nhất. Lại còn quét dọn cả chỗ ngồi cho chúng tôi nữa!
– Dân vùng trung du gọi chợ vùng này là chợ Vồ kể thật đúng. Chợ chỉ lèo tèo vài ba người họp. Mấy chị bán vài ba mớ cá đồng hoặc gánh sắn. Dăm bà khác lại bày ba bốn mẹt chè mới sao, mấy quả dứa, hoặc quả mít, thúng gạo… khách mua hầu hết là công nhân của mấy nhà máy đang đói việc ở quanh vùng. Vì thế họ mua bán một nhoáng là xong.
Cả một buổi chợ như vậy ông Bân thường chỉ cắt được một mái tóc. Bởi ông đã già, tính lại cẩn thận. Khách hầu hết là các cụ thân quen, trong xóm núi. Khách rất khoái ông thợ, vì khi cắt tóc xong, bao giờ ông ta cũng nắm lấy cằm khách lắc cho hai ba cái, kêu răng rắc, dãn hết xương cốt. Còn thợ thì khoái khách là vì được dịp trút hết bầu tâm sự, niềm thương nhớ cháu… ở tận Thủ đô với những ông bạn già.
 Bao giờ ông Bân cũng bắt đầu bằng một câu:
– Năm nay, Thu Uyên cháu tôi, đã học sang cấp hai rồi đấy, cụ à!
… Chuyện ấy cách đây năm năm. Ngày đó, ông Bân bỏ quê. Bỏ vườn tược, nấm mồ của vợ và cha me… ở tận Nghệ An, ra ở với đứa con trai duy nhất làm việc ở Hà Nội. Hai vợ chồng con ông làm cho một công ty lớn nên bận bịu suốt ngày. Ban đầu ông được con cái nể sợ lắm. Con dâu ông, tuy con nhà buôn bán nhưng ở Hà thành nên dịu dàng “biết điều”, “một thầy, hai thầy”, cơm bưng, nước rót. Nhưng dần dà, ông Bân thấy con cái bận bịu, còn mình tuy đã nghỉ hưu, sức còn khỏe, nên ông giành lấy việc chợ búa, nấu cơm, rồi đi đón đứa cháu gái cưng ở trường về cho “chúng nó” đỡ vất vả. Gia đình thuận hòa hiếm thấy.
Một tháng, hai tháng, người con dâu thấy bố chồng hiền, thương con quý cháu… Thế rồi, cô ta thử, cô thay áo quần ra đầy một chậu, bỏ trong buồng tắm cả tuần lễ. Con trai ông phải bê ra máy nước. Thương con trai ông theo ra giúp nó một tay.
Một năm, hai năm. Con dâu ông bỏ nhà máy đi buôn. Công việc bếp núc, giặt giũ, trở thành nhiệm vụ của ông tất cả.
Mỗi lần bê chậu quần áo ra máy ông rất ngượng. Nhưng ông lại tự an ủi và được bù lại bởi tình thương của đứa cháu gái. Tới ngày nó học cấp một, hai ông cháu như hình với bóng. Được điểm mười, trước hết nó khoe với ông. Có câu tiếng Anh nào khó đọc, nó hỏi ông. Bài toán khó, nó đòi ông giảng.
Có khi, hai ông cháu đang ríu ra ríu rít như thế thì con dâu ông về. Hàng họ lâu nay ế ẩm. Thấy cơm chưa nấu, chậu quần áo chưa giặt, mặt cô ta đanh lại, rồi lại phóng xe đi.
Ông Bân vội vàng vừa bắc nồi cơm vừa vò xà phòng áo quần. Trong đầu ông thoáng nghĩ đến căn nhà tre ở quê nhà với bao kỉ niệm. Ông nghĩ tới mấy nấm mộ, rồi thầm trách mình… Đã dại dột bán mất nhà chỉ với cái giá hơn một triệu để ra đi. Thu Uyên, cháu ông, thấy đôi mắt ông buồn, rớm lệ. Nó chạy lại ôm lấy cổ ông đòi giặt thay ông. Thế là, mọi phiền muộn trong đầu ông lại tan biến.
Cho đến một ngày, ông đèo cháu đi học. Đường xóc, chân cháu thọc vào bánh xe, bóc cả mảng da chân. Cháu ông khóc thét lên. Ông vứt cả xe đạp, ôm lấy nó, nước mắt đầm đìa, run lập cập, chạy vào bệnh viện.
Cháu ông phải nằm viện mất hai tuần. Ông cứ ngồi bên giường cháu, không thiết ăn uống gì. Ông cầm lấy tay cháu:
– Tại ông cả!
Thu Uyên tuy đau, nhưng nũng nịu nhìn ông:
– Do cháu vô ý đó, không phải tại ông nội đâu!
Ông ngồi bệt xuống nền nhà, ôm lấy chân cháu, vừa thoa… vừa thổi, mà mắt cứ dưng dưng muốn khóc.
Nhưng, hôm đưa cháu từ bệnh viện về nhà, vô tình ông nghe được tiếng con dâu đang đay nghiến chồng:
– Cái ông già vô tích sự nhà anh làm xấu mất bàn chân của con tôi rồi. Tôi căm ông ấy lắm, không muốn nhìn mặt ông ta nữa. Anh làm sao thì làm!
… Đêm đó dễ thường đã đến một hai giờ khuya rồi mà ông Bân vẫn còn trằn trọc, có lẽ một phần do ông uất, một phần do thiếu hơi ấm đứa cháu gái mà ông không thể chợp mắt được. Nó đã bị mẹ bắt ngủ riêng. Mặc cho nó khóc lóc thảm thiết. Nghe tiếng còi tàu xa xa ngoài ga Hàng Cỏ, ông Bân quyết định ngồi dậy. Ông vơ vội mấy bộ quần áo và tấm ảnh cháu gái, rồi bỏ nhà ra đi.
Ông lên tàu như người vô định. Ông xuống một ga xép đất trung du và đã trở thành người thợ cắt tóc từ đó.
…Một vài lần, xem nhờ ti vi, ông đọc thấy mục tìm người nhà của đứa con trai. Ông rùng mình, rồi hai giọt nước mắt nhỏ ròng ròng, trên đôi gò má nhăn nheo.
Đêm đó, thế nào ông cũng nằm mê Thu Uyên, cháu nội ông, đã trở thành một cô thiếu nhi xinh đẹp. Nó đi tàu lên, tìm ông, nằng nặc bắt ông phải quay về. Ông sửa soạn khăn gói ra tàu cùng với cháu. Bỗng ông nhìn thấy một vết sẹo to tướng nơi bàn chân thon thả của cháu và ông tỉnh giấc.
Thế là ông dậy hút thuốc, soạn đồ nghề… chờ trời sáng, để ra chợ.
H
à Nội mấy năm nay kinh tế các gia đình có khá hơn. Nhiều cụ ông, cụ bà được điều ra ở ven đô, làm nhiệm vụ thường trực, bảo vệ cho các tòa nhà rộng mênh mông, có hàng chục phòng với những khoảnh vườn cây cảnh cho con cái. Con cái họ thì vẫn đang bươn chải, buôn bán “làm ăn kinh tế” ở nước ngoài.
Vợ chồng Hoàng cũng lọt vào trong số đó.
Tuy nhiên, nhà Hoàng không to lắm, chỉ vẻn vẹn có ba phòng, nhưng trông khá xinh, vì ông vốn có “tâm hồn”, biết tạo một giàn nho, vươn cao lên đến tận tầng ba. Ngôi nhà ông được xây dựng nên nhờ khoản tiền ít ỏi của người con gái hiếu thảo đi lao động ở Đức gửi về giúp. Nó có vẻ ấm cúng và hình như quá ư khiêm tốn so với một ngôi nhà đồ sộ, ban công gập, dán ngói đỏ, nửa Âu nửa Á, trông như một cái lô cốt thời trung cổ, ở bên cạnh. Nhìn hai ngôi nhà thật giống hệt như cảnh một cô gái răng khểnh mảnh dẻ, có duyên thầm đang đắn đo nhẩm tính túi tiền, trước mặt một bà hàng thịt mập ú, phấn son lòe loẹt, vừa pha thịt vừa tuôn ra những tràng chuyện thanh có tục có với mọi người.
Đó là sự ví von. Thực ra là chuyện của các con chim. Thôi thì, mỗi sáng, ở nhà bên, nổi lên đủ các giọng hót từ hoàng yến, bạch yến kiêu sa giá đáng tiền triệu, đến khướu, chích chòe lửa, cu gáy, họa mi, chào mào… mà mỗi con không ít hơn vài trăm nghìn. Tiếng chúng tự hào và chanh chua… như khoe sự giàu sang, khoe nhà chúng có nhiều người đang làm cho liên doanh nước ngoài của Tàu, Tây, Mỹ… như khoe cái nhàn tản, hết ra lại vào của chủ nhân. Bởi vì mọi việc cơm nước, giặt giũ, rửa ráy chuồng chim đã có Osin lo.
Kể ra ở bên cạnh những căn nhà như thế, Hoàng luôn luôn bị ức chế. Bởi ông cũng là một người có tính hiếu thắng. Nhưng chẳng lẽ như chuyện xưa, mặc áo gấm đi đêm, ông lại mang sách vở ra mà phơi trên sân thượng để lòe cái giàu của mình!
Thế rồi ông quyết định trích gần nửa tháng lương hưu ra mua một chú họa mi. Ông cũng không ngờ, do thú chơi chim của người Hà Nội tăng lên hay do các loài họa mi, khướu… cũng sắp bị liệt vào sách đỏ hay sao mà cái giá cả cao đến thế. Cuối cùng, ông phải mua một con chim họa mi cụt đuôi với chiếc lồng mộc, mà đã tới trên hai trăm ngàn.
Về nhà ông treo lên sân thượng và ngồi nấp chờ nó hót. Một ngày, hai ngày rồi một tuần lễ. Hễ nghe tiếng chim nhà bên cạnh hót líu lo, chú chim họa mi của ông lại chui xuống dưới cầu, nằm im, sợ sệt. Cái đuôi cụt giống như một chiếc chổi cùn quét đi quét lại nhiều lần dưới đáy lồng bẩn, nên lông vừa mọc nhú lên đã gãy, trông thật tội nghiệp. Nó chẳng khác gì con chim mỏ nhát, lủi dưới mô đất ruộng cày tháng mười, giữa cái rét căm căm… mà thuở bé đi chăn trâu, ông thường nấp bắn bằng súng cao su nhưng không bao giờ trúng.
Hoàng cố rón rén lại gần con họa mi cụt đuôi, Chú ta vội lồng lên, rồi liên tục húc mỏ, húc đầu vào lồng. Máu nó chảy ra bê bết.
Gần một tháng trôi qua, nếu như ông cố giữ thật yên lặng cả buổi sáng thì mới nghe chú ta hót chuyện nho nhỏ, vừa rụt rè… vừa đảo mắt, nghe ngóng, cảnh giác.
Hoàng gần như thất vọng với con chim. Ông không còn dám đưa nó lên sân thượng nữa, sợ làm trò cười cho ông hàng xóm.
Nhưng rồi sau nhiều ngày đêm suy nghĩ, ông nổi lên một ý tưởng hay. Sáng ra ông đạp vội ra cửa hàng chim mua ngay một con mái với chiếc lồng chợ hết bốn chục ngàn, về đặt ở tầng dưới.
Qua một đêm, sáng hôm sau vừa nghe tiếng khẹc khẹc của “phái đẹp”, chú họa mi cụt đuôi của ông bỗng dướn cao cổ nghe ngóng… rồi bất ngờ chú cất tiếng hót vang. Tiếng chú trong thanh, dài hơn, đầy tự tin, luyến lái nhiều cung bậc như tiếng gọi tình mãnh liệt giữa chốn
ngàn sâu.
Con chim liếc thấy Hoàng đứng nấp sau cánh cửa. Mặc! Chú ta vẫn tự tin, dạo hết cả một bài nhạc rừng. Giọng nó lúc vút lên cao, lúc đột ngột hạ xuống nốt trầm, thấp nhất, ngân trong cổ, be bé như tiếng đàn môi.
Mấy chú họa mi nhà bên cạnh bỗng nín bặt. Chúng đã gặp một cây đàn lão luyện!
… Từ đó, chú họa mi cụt đuôi của ông gần như là nhà lệnh xướng. Sáng sớm, khi con mái gọi chú hót vang… thì bầy chim của nhà láng giềng bên kia, mới dám cất, tiếng họa theo.
Hoàng lại tự hào, mang chim lên treo trên sân thượng. Căn nhà với giàn nho của ông, như trở nên thanh cao hơn, tao nhã hơn.
Ông mỉm cười, tự nghĩ:
À ra thế! Con gà, con chim… tức nhau tiếng gáy, vì có con mái. Loài người như mình, thì còn tệ hơn, đố kỵ nhau về hợm của và sự giàu sang.
G
iữa tháng ba năm ấy, trời còn se lạnh, thế mà mới tờ mờ sáng con chim từ quy không biết nấp ở ngọn nào trên rặng tre bạt ngàn của vườn nhà tôi đã cất tiếng hót. Tiếng nó kéo một thôi dài, “quy, quy, quý, quý, quỹ, quỳ…” nghe thật buồn, thật thảm. Tiếng chim từ thấp ngân lên cao, rồi hạ xuống dần, cuối cùng như một tiếng nấc, nghẹn trong cổ.
Đúng lúc đó, cha tôi cũng vừa thức dậy, đang uống nước chè xanh và rít thuốc lào sòng sọc. Ông không chịu nổi tiếng kêu da diết của con chim, liền bảo tôi: “Con ra ngoài nhà thờ, xem con chim quái ác đó đậu ở mô, ném cho nó
bay đi!”.
Tôi vâng lời, rón rén bước ra, đứng dưới bụi tre nhìn lên. Con chim thấy động im bặt. Dáng nó chỉ to hơn chiếc lá tre măng, đậu khuất dưới những cành râm nhất. Màu nó đen mốc. Hòn gạch mà tôi vung lên chỉ tới mấy cành gai dưới thấp không làm nó sợ hãi. Nó chỉ chuyền cành và nhảy lên cao hơn. Tôi bỏ vào nhà. Một chốc, tiếng “quy, quy, quý, quý, quỹ, quỹ, quỳ…” lại bám theo lưng tôi mà bay vào.
… Đã hơn một tuần nay, chú Bình tôi ngã bệnh. Và cũng từ đó, con chim quái ác kia không biết từ đâu bay về. Nó đỗ nguyên một chỗ mà kêu. Giống chim này, ở quê tôi, ai cũng tránh. Nhà nào có người đang ốm nặng là y như rằng, nó đến, như để báo điềm gở. Người ta sợ nó hơn cả chim cú. Bởi vì con cú chỉ kêu mấy tiếng như tiếng lợn bị chọc tiết giữa trời khuya, có một lần rồi bay đi. Còn chim từ quy, nó kêu đeo đẳng, đeo đẳng… khi nhặt, khi khoan, cho đến khi người bệnh trút hơi thở cuối cùng! Có khi, chết rồi, nó vẫn chưa chịu buông tha, còn kêu như họa theo tiếng búa đóng quan tài bồm bộp, tiếng khóc, tiếng hú hồn:… đưa người chết ra đồng, rồi nó mới bay đi. Có nhà còn thấy tới kỵ bốn chín ngày, nó lại bay về. Mọi người cho rằng người đó chết thiêng. Họ nơm nớp lo sợ, nghĩ tới chuyện trùng tang, trùng phục.
Với tuổi thơ ngây, non nớt thuở nhỏ, mẹ tôi thường dạy: đi đường gặp chim sa, cá nhảy chớ có bắt. Bởi vậy, tháng ba năm đó, tôi càng sợ tiếng chim từ quy. Nhất là trong nhà đang có người ốm. Gian chái nhà, người em út của cha tôi, bụng phù lên như một cái trống, đang thoi thóp thở.
Chú tôi bị câm và điếc từ nhỏ. Ông ở cùng cha mẹ tôi. Chỉ mới cách mấy tháng thôi, chú tôi còn đi làm đồng cùng mẹ tôi. Mỗi lần ở ruộng về, chú thường vung tay, miệng ú ớ ra hiệu cho tôi hay những tin vui.
Chú thường dùng hai ngón tay vòng dưới rái tai rồi vỗ một cái vào lưng, xong đưa tay lên miệng xuýt soa. Đó là chú tôi bảo: “mẹ cháu, người đeo trằm, đang về sau. Bà bắt được nhiều cua cho cháu lắm”. Có khi, chú tôi đưa tay lên bờ mép rồi trợn mắt cầm lấy chiếc roi to. Đó là chú khuyên tôi đừng nghịch bẩn, cha về bị đòn đó!
Mặc dù chú vừa câm vừa điếc, nhưng cha mẹ tôi cũng một lần hỏi vợ và làm nhà riêng cho chú. Nhưng chỉ đâu khoảng một tháng, cha tôi thấy chú vác chiếc rương, trở lại nhà anh chị. Cha tôi đưa tay lên đầu khoanh một vòng, ra hiệu hỏi người chít khăn, vợ chú đâu rồi. Chú tôi đỏ mặt tía tai, giận dữ, bậm môi hét lên và xua hai tay. Thế là mọi người hiểu không biết lý do gì, chú tôi đã đánh đuổi vợ đi rồi.
Đồ đạc mà chú tôi quý nhất là cái rương. Ở trong đó có vô số thứ mà tôi cũng rất muốn có. Nào là những đồng tiền cũ vàng chóe, những chiếc cúc, bi thủy tinh xanh đỏ. Những cái vỏ diêm nhãn hiệu con vẹt, những cái hộp đựng gương “cô Ba” mà mẹ tôi đã vứt đi… Tất cả những thứ đó đều được chú tôi xếp cẩn thận vào trong rương để ở đầu giường. Tôi mon men tới gần. Chú tôi quắc mắt nhìn. Miệng bâm lại “ô… ô” như hăm dọa. Nhưng nhìn vào nếp nhăn nơi khóe mắt, tôi lại thấy chú đang cười với tôi mà bảo:
– Cháu của chú ngoan lắm! Cháu xem thì cứ xem, nhưng không được đụng tay vào, hỏng của chú!
Trong nhà chú thương tôi nhất.
Có một lần, tôi không còn nhớ rõ, tôi đã dỗi cha chuyện gì. Đêm đó tôi không chịu ăn cơm, nằm khóc tấm tức ngoài thềm. Trong nhà, cha tôi giả vờ cất chiếc đèn hoa kì vào sập, làm như mọi người đã đi ngủ hết. Tôi đang hoang mang, sợ ma và cáo. Mắt tôi ríu lại vì buồn ngủ. Nhưng chả lẽ lại xuống thang. Bỗng tôi thấy ở góc sân, một cái bóng lù lù… tiến lại. Tôi hét lên, đập cửa đòi vào. Nhưng khi nhìn lại, biết đó là chú tôi, do cha sai mang áo tơi ra dọa. Tôi vững dạ trở lại, gào to hơn, rồi buột miệng nói:
– Cáo cắn… chết… tui cũng không sợ!
Cha tôi ở trong nhà, nghe tới câu đó liền chạy ra, lôi tôi vào nhà, bắt nằm lên giường. Ông lấy chiếc roi mây xưa nay vẫn chỉ treo để thị uy tôi. Vừa đánh ông vừa nghiến răng.
– Thằng con bất hiếu! Này, nó dọa chết trước cả cha nó nữa. Này, bất hiếu, này, bất hiếu, này!
Cứ mỗi tiếng “này” ngọn roi lại hạ xuống. Lưng và mông tôi tím bầm. Tôi quặn lại, khóc lịm đi và lăn lóc quanh giường. Nhưng vẫn không chịu lạy cha, xin tha.
Mẹ các anh chị và em tôi mặt xanh không còn một hột máu. Bỗng chú tôi hét to, lăn xả vào, gạt phắt cả roi của cha tôi, rồi bế xốc tôi chạy ra cửa. Cha tôi gầm lên, còn đánh với theo. Người chú câm điếc tội nghiệp cửa tôi giơ vai ra đỡ đòn cho cháu.
Tối hôm đó, tôi gục đầu vào vai chú và khóc từng cơn. Tiếng khóc nghẹn lại trong cổ. Tôi ngủ thiếp đi, giật mình trong tiếng nấc và trong vòng tay chú tôi.
Mấy ngày sau, cha tôi nguôi cơn giận, gọi tôi. Nhưng tôi vẫn không chịu vào giường ngủ cùng. Tối tôi lại ôm choàng lấy cổ chú.
Chú vỗ lưng tôi, xoa những vết roi cho tôi, miệng thì u…u… ơ… ơ. Chú mở rương, lấy ra cho tôi một đống vỏ diêm để tôi nghịch, xây đền, xây chùa. Cha tôi đi qua, làm lành bảo:
– Nó tập để lớn lên, xây nhà cho cha dưỡng lão đó!
Tôi nín thinh mà trong bụng vẫn ấm ức về trận đòn đau, trận đòn duy nhất của người cha nghiêm khắc. Có lẽ phải đến gần một tuần lễ thì tấm lưng chỉ có da bọc xương của tôi mới hết bầm.
Từ đó, tôi càng quấn quýt chú tôi hơn.
… Thế mà hôm nay chú đang nằm đó, khi tỉnh khi mê mà không một tiếng rên. Tiếng chim từ quy đang da diết gọi chú “về”. Chiều qua, hình như biết mính sắp chết, chú tôi ra hiệu bảo cha tôi mở rương. Ông chỉ vào tôi, như có ý bảo “tui để hết gia tài đó cho thằng Thịnh”.
Lúc này, được những thứ chú cho, tôi đang vui sướng bày ra một góc nhà để chơi, như chưa hề biết người chú đang hấp hối.
Bỗng tôi nghe tiếng cha gọi. Tôi đến gần. Là một thầy lang, ông đang ngồi ủ rũ, bó tay trước căn bệnh nan y của người em út. Cha tôi khẽ bảo:
– Con ngồi xuống. Đừng sợ, bóp tay cho chú, đi con!
Tôi vừa động đến tay ông thì thấy ông mở mắt ra nhìn tôi trân trân. Tay ông quờ lên đầu tôi. Rồi nước mắt ông trào ra, thở hắt từng hồi.
Cha tôi đặt tờ giấy bản lên mũi chú. Tờ giấy phập phồng nhẹ một chốc rồi lặng yên. Bàn tay của chú trên đầu tôi bỗng buông thõng… rồi đập xuống chiếu, như ra hiệu vĩnh biệt…
Cha tôi, mẹ tôi, các anh chị tôi kêu khóc thảm thiết. Còn tôi nét mặt vẫn trơ lỳ, nhìn chú không chớp mắt. Tôi thấy nghẹn trong cổ họng mà nước mắt vẫn không chịu chảy ra. Bên ngoài tiếng con chim từ quy đang kêu, tự nhiên im bặt.
Có lẽ đã năm mươi năm có lẻ, trên đường đời, tôi chưa gặp lại tiếng chim oan nghiệt đó. Nhưng không bao giờ tôi quên được tiếng “quy, quy quý, quý, quỹ, quỹ, quỳ”, tiếng gọi “về” đó của nó. Đến nỗi gần đây, tôi mua nhầm phải một con khướu mái, khi nghe nó gọi trống, giọng cũng gần như tiếng từ quy, khiến tim tôi đau nhói. Tôi thả cho nó bay đi.
Tự nhiên, tôi lại nhớ như in hình ảnh thân thương mà bất hạnh của chú tôi thuở nào.
D
êm qua, có một cơn mưa cuối mùa hạ rất to, thế mà giáo sư Hoàng không hề hay biết. Sáng ra, nghe vợ hỏi, ông chống chế:
– Lúc mưa tôi còn thức, nhưng biết cửa sổ trên gác đã đóng kín từ chiều qua nên tôi không dậy đó thôi.
Vợ ông cười tế nhị:
– Đúng rồi, ông thức, nhưng mà… thức hai cái đầu gối!
Ông cũng cười xòa, ngồi dậy, vươn vai, rồi bước xuống giường, lao lên sân thượng tập thể dục.
Làm xong mấy động tác cuối cùng, ông mới phóng tầm mắt ra khắp vườn, quan sát từng cành nho, từng chậu cây sung, cây sứ, cây lan… quanh sân.
Tất cả, tất cả… như được tiếp thêm nhựa sống, xanh mơn mởn lạ thường, mặc dù không gian vườn chỉ có những chậu đất nhỏ hẹp.
Một vài con ong đã đến thăm dò, ướm mật hoa cau. Vợ chồng đôi chim sâu mưa gió đêm qua chúi mỏ vào nhau, trốn ngủ nơi nao… mà sớm ra đã chuyền cành, đuổi theo nhau, hót ríu rít, mừng vui đến thế!
Ông Hoàng đang khoan khoái. Bỗng mắt ông đăm đăm nhìn xoáy vào hai quả ổi cùng cuống, chín vàng, lấp ló sau tán lá. Thế là nỗi buồn thương từ đâu ập đến trong lòng ông.
… Ngày ấy, cách đây gần năm mươi năm Hoàng và Liên – cô gái hàng xóm mới ở tuổi lên mười, mười hai… nhưng đã có vẻ quyến luyến nhau. Họ như là đã sớm biết yêu bóng, yêu gió. Tuy rằng mảnh vườn nhà Liên bé xíu, sát kề nhà Hoàng, nhưng giữa họ vẫn còn một khoảng cách vô hình, đẩy hút nhau như trong trường lưỡng từ. Một cành ổi bên ấy sà sang vườn bên này, mênh mông bát ngát. Và oái ăm thay, nó lại thường đơm đầy quả, chi chít quả.
Cha mẹ Liên làm ruộng còn bố Hoàng là một nhà nho, đỗ cao nhưng không ra làm quan. Ông thường ngồi trong thư phòng, với quyển “Đường thi tam bách thủ”. Bởi vậy, những quả ổi đó, thường bố mẹ Liên để nó chín rục trên cành, mặc cho nó rụng, hoặc dơi ăn, mà không dám đưa sào sang khu vườn thâm nghiêm của “quan” nghè, để hái.
Mấy tháng sau đến Cách mạng tháng Tám. Rồi bố Hoàng ốm bệnh chết. Các buổi sinh hoạt đội thiếu nhi xóm, các buổi diễn kịch, các trò chơi đánh “mooc” đi tìm kho vàng… đã làm cho đôi trai gái sắp dậy thì đó có dịp gần nhau hơn. Vì nhà nghèo, Liên đã phải bỏ học sớm. Nhưng họ đã yêu vụng nhớ thầm nhau. Người ta vẫn bảo, với tuổi trai gái xấp xỉ nhau, người con gái biết yêu sớm và thường chủ động tỏ tình trước không biết có đúng không?.
… Hôm đó cũng vào mùa hè. Sau một tuần gió Lào ngột ngạt, đêm đến trời bỗng nổi mưa to. Sáng ra, Hoàng dậy sớm ra vườn. Bên kia, thấp thoáng bóng Liên. Cô đang cầm sào đứng dưới gốc ổi. Thấy Hoàng, Liên gọi khẽ:
– Anh Hoàng! anh hái cho em mấy quả ổi chín trên cành nớ với!
Trống ngực Hoàng đánh thình thịch ngước nhìn lên. Hai quả ổi chung một cuống đã chín bói vàng.
Anh lúng túng đưa tay qua dậu găng, đó cây sào Liên trao.
Liên bảo:
– Tay anh ở mô? Rồi vô tình hay hữu ý, cô khẽ nắm lấy tay anh va buông ra ngay. Anh đỏ mặt, mắt hoa lên, luống cuống… cầm sào chọc hai quả ổi. Nhưng chỉ có một quả rơi xuống, còn quả kia vẫn nằm lại trên cành. Vừa lúc đó, anh nghe tiếng mẹ gọi:
– Hoàng ơi, con làm gì ngoài vườn sớm thế?
Bà mẹ Hoàng bước ra vườn. Bà nhìn rõ đôi trai gái đang lúng túng. Bà làm như không biết:
– Hoàng con đang làm mô?
Anh vội vàng lên tiếng: – Con ở đây, mẹ ạ.
Trong lúc đó, Liên len lén, cúi lom khom men theo bờ găng… tới gần vại nước đầu hồi nhà, rồi cô đứng thẳng lên, giả vờ đang múc nước…
Đêm đó, ăn cơm xong, mẹ anh nói với người anh cả nhưng cố ý cho anh đang ngồi học trong buồng nghe tiếng:
– Con Liên nhà ông Tuân đẹp người, siêng năng và nết na quá. Nhưng nó tuổi thân, không thì ta ướm trước cho thằng Hoàng được đó. Cách mạng rồi, cần gì “môn đăng hộ đối”. Mà xem chừng chúng nó mến nhau lắm. Tiếc thật!
… Một năm sau, Hoàng học xong cấp ba rồi đi học ở Trung Quốc sau đó đi học tiếp ở Liên Xô. Buổi tối trước hôm lên đường, anh lấy cớ sang chào ông bà Tuân để gặp Liên, nhưng cô lánh mặt. Sáng sau, anh buồn bã khoác ba lô ra đi. Câu “đi là chết trong lòng một ít”, đúng với tâm trạng anh, mặc dù cả huyện lúc đó chỉ có một mình anh được đi du học. Tới gần chợ Sáo, anh nhận ra một dáng đi quen quen ở phía trước. Đó là Liên đi chợ bán vải. Anh bắt kịp cô. Hai mắt cô đỏ hoe. Liên dúi vào tay anh một chiếc khăn thêu rồi rẽ vào chợ, biến mất. Hoàng đứng thẫn thờ một lúc, không dám mở ra mà đút vội vào túi. Ra tới Yên Thành, anh nằm chờ mấy tuần lễ để nhập đoàn. Chiều chiều, với chiếc khăn ấp trong ngực, anh ngóng về phía Rú Gai, Truông Hến. Mắt anh đẫm lệ. Anh lấy chiếc khăn ra, vuốt ve. Chiếc khăn bằng vải thô, tự tay Liên dệt, có thêu vụng về hai chữ “NHỚ MÃI”…
…Con đường học hành chiếm của anh mất hết thời gian trai trẻ. Vết sẹo mối tình đầu tuy đã liền, nhưng anh không có thời gian nghĩ đến chuyện yêu đương. Gần bốn mươi tuổi, anh lập gia đình. Nhưng mãi đến sau chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, anh mới có dịp về lại quê. Anh được xóm giềng cho biết, sau khi anh đi, ông bà Tuân mất, Liên vào thanh niên xung phong rồi đi B. Tới năm 1972 cô chuyển ngành, về làm ở nhà máy X ở Vĩnh Phú và không lấy chồng. Chuyện cũ trở vào dĩ vãng…
Đầu năm 1990, nhân một chuyến đi giảng bài trên đó, giáo sư Hoàng cố hỏi cho được địa chỉ của Liên. Tổ chức nhà máy tra cứu mãi mới tìm ra được chỗ ở của cô. Cô đã nghỉ hưu.
Sáng hôm đó, leo hết mấy bậc dốc đồi, anh thở hổn hển và đứng trước một căn nhà xây bằng gạch tổ ong, tồi tàn, dột nát. Trước cửa có một cây ổi đang sai quả.
Anh Tuấn, cán bộ tổ chức của nhà máy, gọi to;
– Bác Liên ơi! Có khách quý đến thăm bác đây!
Một mái đầu đã bạc, hai má đầy nếp nhăn, ngó ra khỏi cửa, nhìn ngơ ngác. Rồi bà lập cập làm rơi cả then cửa, bước lại gần Hoàng:
– Ôi, anh Hoàng! Anh không già đi chút nào cả, vẫn như xưa!
Tới lúc này, Liên mới thật sự nắm chặt tay Hoàng, nước mắt ràn rụa. Sau đó bà lúng túng, thu dọn cái chiếu rách trải giữa nhà rồi mời Hoàng và anh Tuấn ngồi xuống chiếc giường tre bừa bộn áo quần. Trong nhà trống trơn, chỉ có mấy đống vôi bột hay là đất đèn, hình như là để diệt mối. Ngoài sân một đứa trẻ tật nguyền, khoảng lên mười, đứng lấp ló nhìn khách lạ, cười nhăn nhở.
– Ra ngoài chơi cho mẹ tiếp khách đi con!
Hoàng nghe Liên gọi thằng bé là con. Lúc đầu ông có chút ngạc nhiên, sau đó, ông đoán được đôi ba phần.
Hoàng không dám ngồi lâu. Anh đưa gói quà cho Liên mà… tay cứ run run như ngày nào trao quả ổi. Chỉ có khác, một đôi tay giờ đây vẫn còn trắng, múp míp, còn đôi tay kia thì đã đen, nhăn nheo…
Tối hôm đó tại phòng khách Nhà máy, anh được biết thêm: Liên về làm công nhân ở đây thì đã luống tuổi. Ở Nhà máy, nữ thanh niên tuổi còn mơn mởn, có khi còn không kiếm được chồng, huống gì cô. Nhiều năm sau không chịu nổi cảnh hiu quạnh, cô đã bất chấp dị nghị, đẻ một đứa con. Chẳng ngờ, không biết có phải do cô bị nhiễm chất độc chiến tranh hay sao, đứa con của Liên lại bị tật nguyền.
… Sau chuyến công tác đó, một năm vài ba lần; giáo sư Hoàng lại dấu vợ, gửi tiền và quà lên giúp Liên. Nhưng cái kim dấu trong bọc, lâu ngày cũng phải lộ.
Chuyện tiền nong, vợ ông biết. Ông phải thú thật và gây nên lục đục gia đình. Thỉnh thoảng nó lặp đi, lặp lại, như một điệp khúc, một bài ca muôn thuở. Ông càng thanh minh, vợ ông càng cho rằng ông không yêu bà, còn vương vấn với mối tình xưa. Có khi lên tới đỉnh cao, vợ ông còn gay gắt:
– Không khéo đứa bé tàn tật đó là con ông cũng nên. Ông đã dấu tôi. Năm 1980, có một lần ông lên công tác trên Vĩnh Phú, chắc đã gặp “người yêu cũ”!
Vợ ông nói tới đó, thì gần như ông bị xúc phạm. Ông không thể nhịn được nữa. Nhưng đã mang danh “trí thức”, lại vì các con, ông không thể nói gì khác, chỉ còn có cách làm “chiến tranh lạnh”, bỏ lên gác xép, ở một vài ngày.
Bởi vậy, như sáng nay, hình ảnh hai quả ổi chín chung cuống kia, mặc dù như một hoài niệm của tuổi thơ, một nỗi lòng trắc ẩn, giữa buổi chiều của cuộc đời, vốn không phải là một mối tình tội lỗi, nhưng ông không biết giãi bày cùng ai. Ông vẫn phải dấu kín, không còn dám kể thêm với vợ. Ông lại lủi thủi xuống thư phòng, giở quyển thơ Đường ra đọc, như người cha thuở trước.
V
ới đôi kính trắng, chiếc áo ba đờ xuy, cái xe đạp mi ni mới của Trung Quốc, trông lão thật xứng là một người danh giá, vọng tộc trong làng. Đời Lê, họ nhà lão có đến ba tiến sĩ. Nhưng truyền thuyết kể rằng: “Ông tổ nhà lão làm nghề cất vó. Một đêm đi mò cá, biết họ Võ đào nền chùa tìm huyệt. Ông tổ nhà lão dọa tố cáo. Họ Võ đành nhường cho một cái nên chỉ có phát được có ba đời”. Lão nghe chuyện, liền nổi xung. Lão đánh tiếng sẽ gọi con cáu đầu gấu đến họ Võ xin tí tiết. Ai ai nghe cũng phải sợ.
Buổi đầu, mới về làng này, chưa quen, tôi giáp mặt lão, không chào. Lão dương mắt kính, nhìn tôi trân trân. Đi một đoạn, lão buông một câu trống không:
– Đường cái làng này, mười viên gạch thì họ Trần nhà tao có chín viên. Mấy thằng ngụ cư, không biết lề thói, gì cả!
Từ đó về sau, nếu tôi có chào, lão cũng không thèm lên tiếng đáp lại… Thế là tôi bắt buộc phải tìm cách lánh mặt. Hễ nhác thấy bóng lão từ xa, tôi giả vờ sửa xe, hoặc đành quay lại, y chuyện Lạn Tương Như với Liêm Pha, xưa kia.
Có lẽ, lão hơn tôi đến hơn chục tuổi. Đã thuộc làu câu “kính… nhi viễn chi” của Khổng tử, đúng ra, tôi phải sửa lỗi lầm đó. Nhưng mà không được, lý là tại làm sao? Lòng tự ái trong tôi cứ dày vò mãi. Vợ con cứ trách tôi rằng, chẳng hiểu gì câu nói của cha ông xưa: “bán bà con xa mua láng giềng gần”. Đã nghỉ hưu rồi, làm anh dân thường, mà còn làm phách. Cực chẳng đã, chiều mồng hai tết năm đó, tôi chủ động sang nhà lão. Lão nằm ngay trên giường, đắp chăn không dậy. Bà vợ hai rót chén nước, mời chiếu lệ. Tôi vội vàng làm thủ tục của cha ông, nói mấy câu chúc tụng, rồi lủi thủi ra về.
Sau đó mấy hôm, xóm họp người cao tuổi. Tôi cũng được mời. Các cụ dòng họ Võ phấn khởi lắm. Biết tôi võ vẽ đôi ba câu, nên họ bắt tôi đọc thơ xuân. Bỗng có một tiếng cắt ngang:
– Thôn quê chúng tôi ít chữ, biết gì “thơ với thẩn”!
Tôi quay sang nhìn, thấy lão Nhắng tỉnh bơ, đang nói tiếp:
– Có bàn lễ hội thì bàn. Không, tôi về!
Cụ chủ nhiệm câu lạc bộ tuổi già cuống quýt, bấm lưng tôi. Tôi cụt hứng. Té ra cụ nào trong xóm cũng sợ lão Nhắng. Có lẽ vì lão là hậu duệ của một dòng họ danh giá, lại là ông từ “lừ khừ giữ đền”, đang cho các cụ mượn làm trụ sở chăng?
Thế là kế hoạch hội nhập của tôi không thành công. Thậm chí, mấy ngày sau, tôi còn được nghe phong thanh rằng, lão Nhắng bảo, tôi muốn vào hội, để sau này xin “hai thước đất”… cuối làng.
Từ đó tôi bất cần. Gặp lão tôi cũng giương kính lên, nhìn thẳng.
Thế rồi thời thế xoay vần. Xã tôi thành phường, một phần huyện thành quận. Dân xóm tôi bầu khối trưởng mới. Ông trưởng xóm cũ, vốn họ Trần của lão Nhắng, do tham ô nhiều tiền làm đường điện, nên mất ghế. Thế là lão đứng lên, thọc tay vào túi áo ba đờ xuy, lững thững bước ra về. Các bà trong họ ấy cũng lỉnh gần hết. Tôi thấy ông trưởng khối mới, mặt có hơi tái đi, khi thấy ba gian đình, người vãn đi già nửa.
… Rồi một hôm, tôi đi qua, thấy lão Nhắng ngồi trực đền. Nhằm chọc tức lão, tôi vào đình, đọc câu đối và ghi ghi chép chép.
Ngờ đâu, lão Nhắng đứng lên đon đả rót nước mời tôi. Thế là từ đó, hai chúng tôi thân nhau, lui tới nhà nhau như chưa từng có hiềm khích bao giờ. Lão còn lấy trong ống bương ra một cuộn giấy bản to, toàn là sắc phong thời Lê, nhờ tôi dịch. Vợ tôi mừng ra mặt. Trong óc bà ấy thoáng nghĩ ngay đến cái cơ hội “hai thước đất” mà lão Nhắng đoán như trúng tim đen ấy, đã đến gần. Vì chả dấu gì các bạn, bà ấy với tôi, đều đã già, lại thuộc diện KT2, KT3 cả, chưa có tiền nộp thuế đất, làm đơn xin sổ đỏ để nhập hộ khẩu.
Nhưng rồi một năm trôi qua. Phường mới của tôi, trâu bò vẫn cứ thả rông. Rác rưởi, rơm rạ của các nhà hàng thịt chó vẫn hun mù mịt. Lòng, phân, nước thối nồng nặc vẫn mặc nhiên… chảy tràn qua đường… hội nhập với dòng sông Tô lững lờ đen.
Tôi ngán ngẩm. Thế rồi, không biết tôi đã nhiễm vi rút A.Q của lão, tự bao giờ. Ngồi với lão, tôi cũng đâm sính kể chuyện họ hàng, rằng bà con tôi, có tới hàng chục tiến sĩ, giáo sư đang sống ở Hà Nội. Còn phó tiến sĩ, giáo sư thì… đếm không xuể.
Tôi với lão thường vỗ đùi đen đét, tâng bốc lẫn nhau như thế, rồi tu rượu đến khuya. Chỉ có khác, lão nói tiến sĩ họ nhà lão thuở trước, còn bia trên Văn Miếu. Phần tôi, tôi nói chuyện thành đạt của con cháu tôi thời nay, hết đi Tây lại đi Mỹ. Thế thôi!
D
ặc sản thì vùng nào cũng có. Cho dù đã đi xa nhưng đến chiều đông, cận kề Tết, vào những năm tháng tuổi già không ai không nhớ tới quê hương. Đêm đêm, khi gió mùa lay động ngoài thềm, trong cơn mê, ta nghe như có tiếng gõ cửa của cha mẹ, của người thân mới ở quê ra. Họ mang cho ta nào là… mấy lọ mắm rươi, mấy chai mắm cáy… những đặc sản ngày Tết! Mừng rỡ quá, thế là ta tỉnh hẳn. Ta thao thức, từ một hai giờ sáng, không chợp mắt lại được nữa, cho đến khi trời hửng.
Tôi thường bị những cơn tỉnh giấc như vậy. Rồi tôi nhớ tới gốc đa đầu làng, bụi tre sau nhà… Nhớ tới cây ruối, cạnh một cái miếu hoang mà ban ngày, tôi cùng bạn bè chăn trâu, tha hồ vào ra chơi trốn tìm. Thế mà, nếu chiều nào đi học về muộn một mình, mặc dù đã có cây kiếm gỗ buộc sau lưng, nhưng tôi vẫn rợn tóc gáy khi thấy nó hệt như bóng oan hồn của người chết, được lập miếu thờ ở đó.
Những buổi mẹ về chợ, chia cho lũ chúng tôi khi thì một xâu lạc luộc, khi thì chiếc kẹo đường, giữa có nhân màu nâu như miếng cau khô. Thế nào những thứ đó tôi cũng để dành, rủ nhau đưa ra miếu, bày trò cúng tế rồi mới hạ cỗ.
Tháng chạp, quê tôi thường sẵn cua và vẹm do người miền biển đưa lên, bán cùng với những niêu cá mu[7]. Năm nào thì mẹ tôi cũng phải mua một đôi chục. Bà luộc cho chúng tôi ăn rồi giữ lại những cái mai, cái vỏ. Bà dấu biệt đi một nơi nào đó mà thường ngày tôi không để ý, sợ tôi lấy đi để làm nồi xoong, bát đĩa, đựng cát chơi các trò nấu cơm, bán hàng.
Khoảng hai lăm Tết, trong khi cha tôi miệt mài viết câu đối tết thì mẹ tôi đã gọi anh Khởi về, giết con lợn mà bà đã băm bèo thái rau và nuôi vỗ béo từ ba bốn tháng trước.
Tiếng rằng, một con lợn già chín tháng nhưng chỉ nhỉnh hơn lợn lai ngày nay khoảng hai tháng mà thôi. Anh Khởi chọc tiết làm lông xong, chia làm bốn phần đem ra cân. Mẹ tôi gửi về bên nội cho chú Ba tôi ba phần và toàn bộ thăn nạc. Bà còn gửi kèm những chiếc mai cua và vỏ vẹm, óng ánh màu xà cừ, trông thật thích mắt.
Trong tất cả các em của bố tôi, chỉ có chú Ba biết làm cỗ ngon và nhiều món. Riêng giò ông làm được ba bốn loại. Nào là giò lụa, giò nạc lẫn bì, giò thủ, giò mỡ… nhưng phải nói, món cua mới chính là đặc sản chú tôi chế biến ngon nhất.
Đó là thức nhắm chính của các cụ, của cha tôi. Nó có thể để dành lâu hơn cả giò chả. Đến bây giờ tôi chỉ còn nhớ nguyên liệu làm cua cũng chỉ là thịt nạc như giò lụa. Cũng từ cối thịt mà chú tôi hai tay hai chày giã liên tục hàng tiếng đồng hồ, nhuyễn đến mức có khi rút chày không lên được. Sau đó gói giò xong, thịt còn lại trong cối, chú tôi thêm hạt tiêu, một số lá chát thái chỉ với miến dong. Lại tiếp tục giã thêm một hồi nữa.
Chú tôi lấy vỏ vẹm làm chừng, múc thịt ra những chiếc lá bưởi. Bên cạnh là mấy chục cái mai cua đã rửa sạch. Chú nhẹ nhàng đặt thêm một lá nữa phía trên rồi cho vào mai cua, cẩn thận xếp lớp vào cái chõ, phía dưới là nồi nước đang sôi sùng sục. Tới khi nước cạn khô, cua chín, chú lấy ra cho vào gióng treo giữa nhà.
Mỗi mâm cỗ cúng, chú thường bày hai đĩa cua như vậy. Dưới chiếc mai cua đỏ ửng là những lát thịt khô giòn đã được cắt sẵn.
… Ngày thường cũng như Tết, có lẽ cha tôi thích nhất món đó. Thế nhưng đối với bọn trẻ chúng tôi, nó hăng hắc, đăng đắng, có mùi thuốc bắc, nên ít khi chúng tôi ăn. Sau Tết nó được vứt bỏ hết mai đi, kho lại một lần nước mắm nữa để cha tôi nhắm rượu dần.
Vụ mùa năm Giáp Thân (1944), đồng lúa quê tôi bị bệnh hoàng trùng gần như mất trắng. Nhiều nhà đã phải ăn cháo cám với rau má. Con lợn Tết mẹ tôi nuôi réo trong chuồng đòi ăn suốt ngày. Nhà tôi cũng đã ăn cháo gạo xát máy từ Sài Gòn, mua của bọn cai thầu sân bay Yên Đại, hoặc của những người bạo gan, ăn trộm từ kho gạo của Nhật.
Tết Ất Dậu tới, lợn mổ ra chỉ có da bọc xương. Muốn bày biện cho đủ các món giò để cúng tổ tiên, chú Ba tôi phải độn thêm bột gạo. Vì thế, giò cua làm ra cắt chẳng thành khuôn.
Cha tôi lúc này đã có dấu hiệu biếng ăn. Gắp miếng cua lên, ông cắn một miếng, rồi bỏ sang cho tôi mà buông đũa. Chú Ba nhìn cha tôi, vẻ ân hận lộ rõ trên nét mặt. Chú đã không làm được món cua ngày Tết như trước, cho ngon miệng người anh yêu thương.
Tết năm đó, tôi còn nhớ, trên mâm cỗ cúng bày ra như thế, nhưng khi xuống bếp, tôi bắt gặp bà mự, vợ chú tôi, đang húp một bát cháo cám rau má to.
Thấy tôi nhìn, bà đỏ mặt, cười và nói:
– Cháo bùi ngậy lắm. Cháu có muốn thử một miếng không?
Tôi thử xúc một thìa bỏ vào mồm. Nó bùi thật. Nhưng ăn sang thìa thứ hai… thì rát lưỡi quá.
Thế mà bà mự tôi còn lấy vẹm vét quanh nồi một tảng cháo đặc cháy, đựng vào bát yêu, rồi bảo:
– Để dành cho chú, lát nữa…
… Sau Tết ít lâu, cha tôi bị phù nặng. Mẹ tôi cũng ốm lên ốm xuống. Chúng tôi thì chân tay rã rời, không còn muốn chạy nhảy như trước.
Mẹ tôi phải bán chiếc xe đạp của cha, mời đốc tờ Tấn đến xem mạch cho ông. Ông đốc nói thầm với người lái xe đi theo:
– Béri beri nặng quá rồi[8]
Ông kê đơn cho cha tôi. Còn với mẹ của chúng tôi, ông khuyên:
– Bà chịu khó dần kỹ cám, trộn thêm với gạo, nấu cháo mà ăn, sẽ khỏi thôi. Còn ông nhà, thì…
Không lâu sau cha tôi mất. Mẹ tôi khỏi bệnh dần.
Trước linh cữu Người, chú mự Ba gầy gò chỉ còn da với xương đập đầu khóc thảm thiết:
– Răng[9] anh nỡ bỏ đứa em côi cút này mà đi, anh ơi!
… Mãi sau này hòa bình lập lại, tôi mới có dịp về quê ăn tết ở nhà chú tôi. Tôi lại được thưởng thức món cua ưa thích của người cha, những ngày…
Gắp cho tôi miếng cua, chú nói:
– Tạng cháu, lười ăn, rứa là cũng yếu gan. Cha cháu xưa, cả ngày không hết lưng cơm. Ông nội cháu cứ sắc vỏ bưởi, bắt uống. Một lần thương anh uống đắng quá, chú phải uống thay. Sau chú nghĩ: Vỏ bưởi thì cũng như lá. Thế là chú tìm cách làm món thịt viên, hấp lá bưởi cho anh ăn. Ông ăn mãi thành nghiện. Cháu biết không? Năm đói, chú sống được nhờ có cám với vỏ bưởi đó, mà không bị phù. Chú học kém, quen lao động chân tay, nhưng cũng biết đôi chút thuốc nam, không như cha cháu, chỉ tin vào sách thuốc của Tàu.
Tôi nhìn chú tôi, rượu vào, da dẻ chú đỏ nâu như màu mai cua biển. Chỉ có mái tóc thì đã bạc phơ phơ…
H
ằng năm, cứ đến khoảng hai bảy, hai tám Tết là cha con chúng tôi lại bỏ nhà ở quê ngoại cho mự tôi để về quê nội ăn Tết. Mẹ đẻ, chúng tôi gọi là mự, như tiếng gọi mợ ở miền Bắc, góa chồng lúc 21 tuổi. Bà đã lấy cha tôi làm kế, đẻ ra ba chị em chúng tôi. Lúc chúng tôi đã hơi biết, tức là đầu những năm bốn mươi, bà cả mà chúng tôi gọi là mẹ, đã mất. Nhưng do ở quê nội, còn có các chú, bà o và người con thứ hai, lại còn có nhà thờ, mà cha tôi lại là tộc trưởng, nên đến Tết, bao giờ cha tôi cũng phải về nhà thờ trước hai hoặc ba ngày.
Buổi sáng sớm trước khi đi, cha tôi quấn hai cái giẻ lên khung xe đạp “xanh tê chiên”, rất giống như xe đạp thồ bây giờ cho chúng tôi ngồi. Người giắt một phía vạt áo lương vào cạp quần, đi đôi giày Gia Định và đội chiếc nón dứa vừa mới mua rồi ngồi lên xe. Mự tôi đứng tần ngần trước cửa. Thường cha tôi dặn trống không một câu:
– Bay trông nhà cẩn thận nha!
Bay là đại từ ngôi thứ hai mà người chỉ mự tôi.
– Dạ! Rứa ngày mô ông về, đưa ông vải?
– Phải ngoài rằm. Măm ni hàng diên[10], tau làm chủ tế, ở nhà bay coi đó mà bày biện.
Tôi thấy vẻ mặt mự tôi buồn buồn. Lớn lên, những năm sau cách mạng, lúc cha tôi đã đi xa, có lần tôi hỏi mự tôi:
– Tại sao cha lại gọi mự là bay và xưng tau?
Mự tôi cười:
– Tính cha mi rứa đó, rất phong kiến mà lại hay xấu hổ nữa. Có lần mự đi chợ Vinh, cha bọn mi cân thuốc. Khi về, gặp nhau dọc đường, rứa mà cứ lờ đi, không cho mự lên xe một đoạn. Tau giận lắm. Nhưng đêm đó, ông xuống buồng làm lành và bảo:
– “Người ta” ngượng, chứ không phải là không biết thương mình mô.
Do đó tôi mới thông cảm cho cách xưng hô rất kỳ quặc của cha tôi xưa. Trước mặt mọi người, ông xưng tau và gọi mự tôi là bay. Nhưng, cách xưng hô riêng giữa họ với nhau, có lẽ lại rất khác, rất tình cảm, rất tôn trọng và tế nhị. Có thể còn âu yếm hơn cả cách xưng hô của vợ chồng chúng tôi sau này. Nhưng bí mật đó, đã theo họ về cùng cây cỏ đất cát quê hương…
Đường từ quê ngoại ra quê nội tôi, chỉ dài từng ba cây số. Nhưng có lẽ vì nhỏ tuổi, hơn nữa, phải ngồi buông chân hai bên xe, nên khi đến nơi, chân tôi dường như tê dại. Tôi phải nhảy lò cò năm sáu bước, mới đi được.
Về đến nhà thờ, bao giờ cũng bắt gặp cảnh các chú tôi đang tát ao hoặc cất vó.
Ba chú tôi, râu tóc đã có nhiều sợi bạc, chạy đến lễ phép.
– “Enh” đã về!
Các mự tôi, đang xay lúa giã gạo, hoặc rửa lá dong dưới bếp, cũng chạy lên khép nép.
– ‘Enh” và các cháu đã về!
Câu đầu tiên mà cha tôi thường hỏi là:
– Năm ni có con cá măng mô không?
– Dạ không.
Cá măng là thứ cá mà ông bà nội và mẹ cả tôi, lúc sinh thời rất thích ăn. Bởi vậy, khi các chú tôi bảo không, cha tôi nói ngay:
– Chọn hai con cá mè to sang nhà cố Chiếng đổi một con cá măng mà làm cỗ cúng.
Thật lạ, cùng một lạch đất, nhưng ao cố Chiếng bao giờ cũng có cá măng. Nhiều con to lắm. Cố có tật hay khoe, hay phóng đại thêm, mà quê tôi gọi là “nói láp”, cho nên khi cha tôi nhắc đến chuyện cá, anh hai tôi lại kể cho chúng tôi nghe câu chuyện vui về “cá măng cố Chiếng”.
– “Ao cố có một con cá măng to… dài… dài… bằng cái đòn xóc. Một hôm con vện của cố đi qua, nó nhảy lên đớp một miếng. Chó bể đôi đầu, cố đem về niền[11] lại. Từ đó… nó đi mô… cũng… sủa cạch cạch”.
Chúng tôi tin là thật. Bởi vậy, mỗi lần qua cổng nhà cố, tôi thường chọc cho nó sủa, để nghe xem tiếng nó ra sao. Và tôi cảm thấy tiếng chó sủa nghe “cạch cạch” thật. Các chú tôi thì lại được dịp cười vỡ bụng.
Bữa cơm trưa hôm đó, mọi người ăn vội. Thế nhưng các chú tôi đã chuẩn bị cho cha tôi từ bao giờ, mấy khúc cá nheo, kho nghệ vàng ươm. Món đó hầu như không ai được đụng đũa.
Tuy nhiên, có khi ông khoái chí, muốn tập cho đứa con cưng, nết ăn cũng phải giống mình, ông gắp cho tôi một miếng. Thấy mắt tôi chớp chớp, rồi đỏ hoe, ông trừng mắt quát:
– Ăn đi, có phải rắn mô mà hãi.
Tôi bưng bát cơm, nước mắt lưng tròng. Thường phải chờ cho tới lúc ông không để ý, tôi chuyển miếng cá cho anh hai thì mới ăn tiếp được.
Buổi chiều, cha tôi dẫn tôi ra quét dọn lăng ông bà. Ông trải chiếu dưới chân lăng, quỳ hàng buổi, lấy mực tàu tô từng nét chữ nho trên bức cuốn thư. Lúc đó tôi chẳng hiểu gì. Mãi năm ngoái, về làm lại cái công việc của cha tôi ngày xưa, biết thêm một ít chữ nôm, tôi mới hiểu đây là một bài lẩy Kiều của ông:
 “Nhớ ơn chín chữ cao sâu
Vùi nông một nấm, mặc dầu cỏ hoa.
Lần lần tháng lụn ngày qua
Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi…”
Ông thường ngồi hàng giờ như vậy trước mộ, nhổ sạch hết những ngọn cỏ bò lan trên lăng. Đến tận tối mịt ông mới đứng lên, rầu rầu nét mặt trở về nhà thờ.
Đêm đó, em tôi cùng các em con chú, con o đánh chẵn lẻ tới khuya, rồi lăn ra ngủ dưới án thư nhà thờ. Các chú mự tôi người gói bánh chưng, gói nem cua, kẻ xay bột rang nếp, làm bánh ngào, bánh nổ. Tôi chui vào vạt áo của cha, thò đầu ra, tay mài mực tàu cho ông viết đối…
Chiều ba mươi tết là cúng tiên thường. Mỗi gia đình chú mự tôi, đội sang nhà thờ một mâm. Dưới đặt sáu hoặc tám bát chiết yêu, giữa các vỉ tre, trên xếp xen kẽ khoảng mười hai đến mười bốn đĩa con phượng, từ các loại thịt, giò chả, cá rán, cá kho, nem, cua, rau cải xào, đến ba bốn đĩa bánh ngọt. Cỗ nhà tôi được mự tôi chuẩn bị từ quê ngoại, cho người đội ra.
Thường thì cỗ của chú ba tôi, ngon nhất và đẹp nhất. Tôi được ngồi cùng cha tôi ở mâm đó. Món nào chú ấy nấu cũng ngon. Nhưng ngon nhất có lẽ là bánh chưng, bánh nổ. Bởi vì nhân bánh của chú, ngoài thịt mỡ, đậu xanh, còn có dừa. Bánh nổ thì có thêm lạc, gừng, mứt và nhuộm xanh, nhuộm đỏ rất đẹp. Cỗ dở nhất là của chú thứ năm, các món nấu không thiu thì cũng nhạt muối. Mâm đó thường dành cho con nít, tức là lũ em con chú của tôi.
Tôi còn nhớ năm cuối cùng mà tôi được cha đèo về quê nội ăn Tết là năm Ất Dậu. Lúc này, ở quê tôi, bọn Nhật đang khẩn trương làm sân bay Yên Đại, chuẩn bị cho cuộc chiến cuối cùng với phe đồng minh. Nhiều nơi đã bắt đầu đói. Trên đường đi học, tôi gặp nhan nhản những người Hà Tĩnh, Thanh Hóa… khoác áo tơi đi ăn xin. Một buổi, tờ mờ sáng, vừa mới cắp sách ra khỏi nhà, tôi đã chết khiếp, khi thấy một cái xác nằm trợn trừng hai mắt trên bãi cỏ “là gà”[12]. Mự tôi phải dìu tôi về và gọi hồn, mãi tôi mới tỉnh. Tiếp theo là cảnh ông “pờ lăng tông”[13] của trường lấy trộm gạo của Nhật bị chúng chôn sống… Một đống đất đã lấp, bỗng động đậy, bọn chúng hùng hổ lấy thuổng xăm mấy cái, chúng tôi nhắm mắt lại và nghe tiếng hự cuối cùng. Những hình ảnh đó, mãi in đậm trong trí óc tôi, đến nỗi chúng tôi khiếp cả trò chơi bắt dế, vùi cát rồi dội nước, thi xem con nào chui lên nhanh thì được vào vòng chọi.
Năm đó, ai cũng lo là sau Tết lấy cái gì mà ăn. Lúa chưa cấy được vì rét. Bữa cúng tiên thường vẫn thế nhưng mâm cỗ thiếu nhiều thứ. Các chú tôi không kiếm được cá măng để cúng cha mẹ. Đang ăn cha tôi vẻ mặt nặng trĩu. Ông đặt đũa xuống bảo các chú tôi:
– Năm ni rồi đói to. Tui đã sáu mươi lăm. Các chú đều gần đến sáu mươi cả rồi. khéo mà không qua được năm ni mô, các chú ạ. Tháng rồi tôi đi cắt thuốc trên Nghĩa Đàn, đã góp tiền mua được một cây đinh hương. Ra Tết, chở về, tui thuê thợ, chuẩn bị sẵn cho vợ chồng tui và các chú mự, mỗi người một cỗ áo. Qua được năm ni thì may, không qua được, thì tui nằm giữa, các chú bên trái, các mự bên phải, chúng ta sẽ quay quần lại bên cha mẹ…
Bữa cỗ đó, tôi tuy còn nhỏ tuổi, nhưng đã cảm thấy như có nhiều biến cố sẽ dồn dập xảy ra. Tôi bỗng nghĩ đến mự tôi, ăn tết ở nhà một mình, lặng lẽ. Mự có chịu xuống hầm khi máy bay đồng minh đến hay không?
Tết chồng con thì vui về việc họ, việc hàng diện, hàng tổng. Riêng bà, bà mong cho qua Tết để chồng con về đưa ông vải. Cỗ bàn nhiều khi đến lúc đó đã gần thiu hết. Nếu không, thì cũng phải hâm đi hâm lại nhiều lần, mặn xắng, cha tôi thường không đụng đũa.
Có lần, mự hỏi dò tôi:
– Năm ni, cô đầu Tuyết có ra hát không con?
Đào Tuyết ở Vinh. Mỗi khi làng vào đám, lại ra hát. Các quan viên thường chế đó là “mẹ ba” của tôi và bắt tôi phải gọi bằng dì.
Sau Tết cha tôi ngã bệnh, bốn tháng sau ông qua đời. Một người chú của tôi cũng chết đói vào tháng ba năm đó. Rồi nhật đảo chính Pháp. Sân bay Yên Đại ầm ĩ tiếng máy bay Nhật ngày đêm. Trên trời làng tôi xuất hiện một vài trận không chiến giữa máy bay phát xít với đồng minh. Một lần, chúng tôi nghe tiếng gầm rú, chỉ kịp chui xuống gầm giường thì một chiếc máy bay như một bó đuốc lớn, lao xuống sau nhà. Bọn Nhật xí xó, la la, hét hét. Hóa ra máy bay chúng bị đồng minh bắn hạ. Rồi Nhật đầu hàng, Cách mạng tháng Tám thành công. Nhiều máy bay đồng minh lượn quanh sân bay, như muốn đáp xuống. Thiếu nhi chúng tôi, có khi cả các anh thanh niên, mang cờ đỏ sao vàng ra vẫy và reo:
– Máy bay đồng minh, chúng bay ơi!
Rồi kháng chiến chống Pháp, thành phố Vinh tiêu thổ. Nhà ga, nhà băng, trường học, phố xá… ta phá trụi cho giặc khỏi đổ bộ. Hòa bình lập lại như một nhịp cầu thời gian yên ả ngắn ngủi bắc qua chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Quê tôi lại bị tàn phá lần nữa. Chùa chiền, nhà thờ họ tan hoang…
… Gần sáu mươi năm trôi qua, cha mẹ, chú mự, hai anh của tôi đã đi xa. Tết năm Bính Tý này, tôi mới có dịp về tu sửa lại nhà thờ, lăng mộ tổ tiên. Tôi lại được đi trong kỷ niệm, từ quê ngoại về quê nội… Đứng lặng nhiều giờ trước nghĩa địa, rồi tôi đi vòng theo lăng mộ, các chú bên trái, các mự bên phải. Cuối cùng tôi dừng lại phía dưới chân lăng ông bà. Đây cũng là nơi yên nghỉ nghìn thu của cha và hai bà mẹ của tôi.
Những người nằm dưới đất này, trừ ba khuôn mặt, ông bà và mẹ cả là tôi không biết, hiện lên mồn một trong mắt tôi. Đó là dáng dấp nghiêm nghị của người cha, dáng dấp của một nhà nho không may mắn, bề ngoài rất gia trưởng, nhưng trong lòng ẩn chứa đầy tình nhân ái. Ông thương vợ, thương con… theo kiểu riêng ông, ngoài mặt không hề thổ lộ. Ông quan tâm đến các em, chuẩn bị cho em cả đến chiếc áo của giấc ngủ vĩnh hằng. Còn các em của ông, tình cảm của các chú đối với cha anh, thì mộc mạc, ngọt dịu như củ khoai lang đất cát quê tôi, chân chất, một lòng hiếu đễ, từ ngày còn để chỏm cho đến khi từ giã cõi đời.
Họ nằm đó, thì thầm, trò chuyện với nhau những gì? Phải chăng vẫn là những câu chuyện tát ao, chuyện cá măng cố Chiêng, chuyện hàng diên, hàng tổng…
Tôi đốt một bó hương to, cắm lần lượt, từ ngôi mộ này, đến ngôi khác. Bỗng lại văng vẳng đâu đây, câu kết của bài lẩy Kiều của cha mà tôi vừa tô lại:
… Thần hôn chăm chút lễ, thường
Họa là người dưới suối vàng biết cho.
M
iền Trung chúng tôi gọi chị em gái của bố là o. Chồng o, gọi là dượng. Từ “dượng” còn để gọi chồng mới của mẹ – một người xa lạ đột nhiên đến xen giữa tình cảm của đứa con với người mẹ, nên thường đứa con nào rơi vào hoàn cảnh ấy cũng có cảm giác lạnh nhạt với người đàn ông đó. Bởi vậy, nhiều gia đình quê tôi nay theo cách xưng hô miền Bắc gọi người anh em rể của bố là bác hoặc chú, cho thân mật hơn. Nhưng đại từ “o” thì trái lại. Cấp độ thương yêu của từ “o” cao hơn từ “cô” rất nhiều. Kể cả việc ta xưng hô với những cô gái. Có lẽ đó là sự cảm nhận chủ quan của riêng tôi chăng? Nhưng nếu đúng thì một phần có thể là do sự tròn trịa của âm hưởng “o” tạo nên. Bởi vậy, tôi xin được giữ nguyên hai từ “o”, “dượng” trong câu chuyện về người em gái của bố mình mà không sợ bị xem là lạm dụng từ địa phương.
Bà tuy là phận nữ nhưng nét mặt rất “đàn ông”, dáng to cao không kém gì bố tôi. Giọng nói của o oang oang như lệnh vỡ. Trái lại, dượng tôi thì mảnh khảnh, tạng người ấy xưa nay người ta vẫn bảo “trói gà không chặt”. Ông là bạn học chữ Hán với bố tôi. Sau khi thi hỏng tam trường, bố tôi quay sang học nghề thuốc. Còn ông thì chỉ thích đọc sách, chơi cây cảnh sống như một người ẩn dật. Có lẽ lúc đó tôi còn quá nhỏ chưa hiểu hết tâm trạng của dượng tôi. Mọi việc đồng áng hầu như ông phó mặc cho o tôi và một người con gái áp út tên là Nậy. O, dượng tôi sinh được bảy người con, nhưng đều một bề là gái. Có người đã lớn, lấy chồng xa, có người buôn hàng xén ở chợ. Hai cô gái thứ năm và út còn đang đi học.
Khoảng năm 1944, cô con gái thứ năm của o học xong đíp-lôm về ở nhà. Tôi và người em được bố tôi gửi ra nhà o dượng học hè. Tôi thấy dượng thường nằm trên chiếc võng chõng, đọc sách chữ Hán. Thỉnh thoảng, ông mới dậy đi ra vườn, tỉa tót cành lá cho mấy cây mẫu đơn, bồn ngâu hoặc chiếc cổng uốn bằng cây dâm bụt. Gần trưa thì o tôi đi làm đồng về. Chiếc váy nhuộm nâu với bùn của o vấn lên gần tới gối. O thả trâu vào chuồng, rửa ráy qua loa, tu một bát chè xanh đặc rồi lên võng cói nằm lim dim đôi mắt. Trong khi đó, Nậy vơ vội ôm rơm vào bếp, thổi một nồi đồng cơm gạo đỏ to tướng.
Mùa ruộng khó, bà nằm nghỉ cho tới khi có cơm mới dậy. Rồi cả nhà quây quần bên mâm cơm với một tô cà muối mắm, một rá khoai lang củ hoặc khoai xéo. Dượng tôi ngồi trên nhà, được o sai con bưng lên cho một liễn cơm nhỏ với cá trích hoặc cá nục kho. Thường ngày, niêu cá này được đặt vào cái gióng mây treo dưới bếp.
Tôi từ nhỏ đã có tiếng khảnh ăn. Tôi nhỏn nhẻn mãi không hết bát cơm. O tôi vừa nhai khoai với cà đôm đốp rất ngon lành, vừa để ý đến tôi. O thường bảo:
– Thằng Thịnh cả buổi rồi mà không hết nửa lưng cơm. Thôi, vác bát lên dượng gắp cho khúc cá.
Trên nhà, dượng tôi cũng đang nhai từng hạt, từng hạt… cơm đỏ. Liễn cơm vẫn còn đầy.
Ông gắp cá cho tôi, mỉm cười mà không nói. Đến bây giờ tôi vẫn nhớ như in nụ cười hóm hỉnh đó. Ông vốn móm. Cái cười như muốn nói với tôi:
– Dượng cháu mình đều là “phường dài lưng tốn vải” cả, cháu nhỉ!
Những ngày làm ruộng nước đồng đất sét, buổi trưa về trông o lấm lem những bùn là bùn. Váy của o xắn cao hơn. Đặt cày xuống, chưa kịp rửa tay, o đã gọi tôi oang oang:
– Thằng Thịnh mô rồi, ra o cho.
O lần cạp váy lấy ra cho tôi khi thì một con muồm muỗm, khi thì ổ trứng cà cuống.
Thế là tôi chạy vù vào bếp vùi vào tro nóng. Một lát sau, tôi đưa ra gỡ từng hột, nhấm nháp. Còn muồm muỗm, tôi thường ăn cái bụng vàng ươm trước. Cuối cùng mới tới cái đầu béo ngậy.
Thích thú nhất là những hôm tôi trông thấy o ở đồng về vội vàng cởi cái giỏ đeo sau lưng, đổ ra đến gần một rổ đầy cua đồng mà hai mẹ con bắt được quanh bờ ruộng.
Tôi sán vào ngồi cạnh o, nhìn bầy cua. Con đực to đen, hai càng như hai cái gọng kìm giơ lên dọa nạt mỗi khi tôi định thò tay bắt. Con cái lưng vàng ửng bụng mang cái yếm bọc đầy một đàn con bé li ti. Chúng bò loạn xạ, cố leo lên miệng rổ mong đem con chạy thoát thân. Tay o xóc cua trong chậu nước cho sạch bùn, miệng o nói với tôi như quát:
– Mi mà mó tay vô đó, nó cắp cho một miếng là chảy máu liền. Thôi, đi lấy ấm tích nước chè xanh của dượng rót cho o một bát. O khát khô cổ rồi!
O tôi cũng giống như bố và các chú tôi, nghiện nước chè xanh có tiếng. Trưa hè, o có thể chỉ uống một bát nước chè thật đặc rồi nằm nghỉ, chiều lại ra đồng làm tiếp, không cần ăn cơm mà vẫn không biết mệt.
Tôi xách tích nước ra cho o. O uống cạn, rồi bảo:
– Cháu đi hãm cho dượng ấm khác!
Trong khi tôi rửa chè thì thấy o đã cầm từng con cua bóc mai và yếm vứt đi rồi xé đôi ra. O làm một nhoáng là xong. Sau đó o cho cả mớ cua lẫn với khế nguyên quả vào nồi nước đang sôi sùng sục. Một lát sau, o gắp từng quả khế bỏ vào cối giã. Nêm mắm muối, thả thêm hành mỡ với mấy quả ớt to… thế là thành nồi canh cua. Múc canh ra bát, bát canh đậm đặc đầy những cua là cua, chân giơ lên đỏ ửng. Khế gần như nhuyễn hết, hòa tan trong nước lờ lờ trắng đục. Đó là kiểu nấu canh cua của quê tôi.
Bữa cơm như vậy thường phải nấu thêm gạo. Chúng tôi chan canh vào cơm, nhai rau ráu miếng cua còn cả chân, thật là khoái khẩu. Gặp những cái càng cua đực quá to, bọn tôi nhường cho người lớn. Dượng tôi ở trên nhà cũng ăn rất ngon lành, gần hết cả liễn cơm với canh. Cá nục kho được bỏ lại.
Ôi bát canh cua của o tôi! Đến nay, mỗi lần nghĩ tới, tôi vẫn còn nhớ cái hương vị đậm đà, bùi thơm, chua cay lẫn với cái nóng rốp lưỡi của nó. Ai ăn cũng hít hà, chảy nước mắt vì cay, mồ hôi đổ ra như tắm.
Thường thường, đến bữa ăn o tôi cởi áo cánh, chỉ mặc có cái yếm. Thế nhưng trên vành cổ mồ hôi thấm thành một vòng. Đến chiều, lúc trở ra đồng, tôi thấy yếm o đã khô, hiện rõ một vành muối đọng lại trắng xóa.
O tôi lại vác cày ra đồng cung Nậy cày cỏ chân lúa. Gặp hai anh em tôi đang chơi ngoài gốc si, o nói:
– Ừ, bay ra đây chơi để cho dượng ngủ trưa, như rứa là ngoan lắm. Chiều o lại thưởng cho mấy ổ trứng cà cuống mà nướng!
Mới nghe tới đó mà chúng tôi đã phát thèm. Tôi nhìn theo o, vạt váy nâu xắn cao xăm xăm bước ra ruộng, trông như một lực điền…
***
… Ngày nay, mỗi lần nhìn thấy vợ làm món riêu cua, tôi lại nhớ tới bà o, tôi gợi ý cho vợ cách làm canh cua xứ Nghệ hồi đó. Vợ tôi cười:
– Anh cứ như người từ trên cung trăng xuống. Món cà muối với canh cua kiểu ấy chỉ có trong tưởng tượng của thứ nhà văn nửa mùa như anh mà thôi!
Vợ tôi thích ăn canh cua rau đay. Mỗi lần cô ấy đi chợ mua được hơn mười con. Thế mà nghe nói giá tới trên một nghìn đồng. Sau khi rửa sạch, vợ tôi bóc mai cua lấy đầu tăm cẩn thận khều từng tí gạch ra bát. Càng và mình cua được rửa lại hai ba lần nữa rồi mới cho vào cối, giã thật nhuyễn, lọc bỏ bã. Vừa làm, cô ấy vừa nói, như dạy cách nấu ăn cho tôi:
– Cần rửa cua thật sạch mới hết khai. Làm như o của anh ngày xưa thì có mà nuốt! Cua xay ở chợ không sạch mà xáp. Phải giã thật kỹ. Muốn khỏi vấy bẩn lên áo thì thêm mấy hạt muối…
Những bữa ăn có món canh cua mà vợ tôi bày ra như vậy thường thường tới hơn mười hai giờ mới có ăn. Tôi phân vân:
– Miền Bắc làm món canh cua thật cầu kỳ, nhưng canh khi múc ra bát chỉ thấy nổi lên một ít riêu nâu nâu, trông như bọt nước đầu bờ ruộng mùa mưa bão quê tôi. Đụng đũa là tan ngay. Nó đâu có tạo nên được cho ta cái thèm khát cồn cào từ tiếng rau ráu, tiếng xuýt xoa kêu cay của người ngồi ăn bên cạnh cùng với cái cảm giác đậm đà mà chua tê cứng đầu lưỡi mình của những quả khế chín vàng như bát canh của o tôi thuở nào… Phải không o?
M
ới cuối tháng tám mà gió mùa đã về, mang theo cải rét tê tái, với bầu trời mây ủ dột. Nhưng khác với năm ngoái, gió tha hồ vào ra tung hoành bốn mặt phên, nứa ken thưa của nhà mẹ Hiền. Năm nay mẹ đã có ngôi nhà tình nghĩa mới được cấp, nên mẹ cũng đỡ lạnh và đơn côi.
Lúc chiều, khi vừa có tin đài báo, cháu Thảo nhà bên, đã sang trải nệm mút, lồng chăn bông cho mẹ. Nằm trên đệm với chiếc chăn hoa con công còn thơm mùi vải mới, tuy ấm đó, nhưng nghe tiếng gió rít đầu hồi, nhớ đến cái chăn bộ đội cũ do các con để lại, nay mẹ cất trong rương thờ, trên xà nhà… nên gần nửa đêm rồi mà mẹ vẫn lạ hơi, thao thức, không sao chợp mắt được. Mẹ như nghe thấy tiếng thằng cả, thằng hai, thằng út… đang gọi cửa. Mẹ sờ soạng trở dậy bật đèn. Ngoài trời tịnh không, chỉ có gió rú. Quay vào mẹ thắp nén nhang bàn thờ con thầm thì hỏi nhỏ:
– Các con có lạnh lắm không?
… Vừa lúc đó cháu Thảo thò tay, kéo then cửa, chạy vào:
– Cháu học và làm hết bài ngày mai rồi! Mẹ cho phép cháu sang ngủ cùng bà, cho bà đỡ rét.
Nó leo lên giường, kéo bà chui vào chăn rồi cù nách bà. Cái nóng của trẻ con truyền sang, làm cho bà ấm rực, như nằm gần bếp lửa.
Bỗng có một tiếng vạc kêu phía đông nhà, nghe thấp lắm. Thảo đã buồn ngủ, ríu cả mắt lại, mà vẫn cố nói:
– Vạc về ruộng… đầu làng… đó, bà ơi!
Rồi nó ôm lấy bà càng chặt hơn và hỏi:
– Bà kể… trước kia vạc bán ruộng… cho cò, nên mới phải đi ăn đêm. Nay tại sao, ruộng cò… Lão Tự đã đấu thầu, cắm toàn cò giả, mà chúng nó lại không biết về chuộc… hở bà?
– Ừ phải, nhưng mà…
Bà lúng túng nghĩ cách trả lời cho Thảo. Tìm được ý hay nhưng ngoảnh sang, thì nó đã ngủ say tự bao giờ.
T
ôi bước lên tàu vào lúc tám giờ sáng. Vợ chồng thằng con trai và đứa cháu gái lên tám đứng dưới sân ga, lưu luyến nhìn lên. Tàu chuyển bánh, tôi chỉ kịp hét to:
– “Chăm học vào rồi ông gửi nhiều quà vào thưởng, nghe Hương!”. Cháu tôi khóc òa lên vẫy gọi:
– “Nội ơi!…”
Nước mắt tôi bỗng trào ra. Tàu lao nhanh. Hình ảnh đứa cháu cưng của mình mất hút về cuối đoàn tàu. Rút khăn lau nước mắt… Bỗng tôi bắt gặp ánh mắt của một ông già, tóc bạc phơ, dài chườm tới gáy, nằm giường dưới, nhìn tôi vừa có vẻ như thông cảm lại vừa như giễu cợt.
… Dịu nỗi buồn, tôi đi dọc các toa tàu. Cả một chuyến tàu chỉ có khoảng sáu mươi khách. Vài nhân viên nằm khểnh, tán gẫu… Con tàu tăng tốc, lắc lư mạnh. Cơn rối loạn tiền đình gây cho tôi đau đầu, buồn nôn dữ dội. Uống liền hai viên thuốc ngủ, tôi leo lên giường và ngủ thiếp đi cho tới tận chiều ngày hôm sau.
Khi bừng mắt dậy thì tàu đã vượt qua đất Nghệ An sang Thanh Hóa. Ông bạn đường duy nhất trong khoang, nhìn tôi ái ngại:
– Thế là bác bỏ cả mấy bữa cơm. Bác có uống sữa, tôi gọi giúp?
Tôi lắc đầu. Bỗng tàu dừng lại ở một ga lẻ, thấy ông bạn đường ngó ra cửa sổ, tôi cũng cố nhổm dậy. Một lũ trẻ nhỏ xúm đông lại dưới toa. Chúng xin bánh, xin kẹo, vỏ lon bia và chai nước giải khát… Mấy bà có vẻ như là những mệnh phụ ở khoang bên, chỉ trỏ những đứa cởi truồng, nhem nhuốc mà cười… Ông bạn đường của tôi vẻ mặt đăm đăm. Ông lục túi xách, lấy ra một gói kẹo mè xửng, có lẽ mua tại Huế nửa đêm qua. Tay ông cầm gói kẹo, miệng dặn dò lũ trẻ:
– Ông cho nhưng các cháu phải chia đều cho nhau, nghe!
Lũ trẻ giơ tay lên đón, nhao nhao. Ông chọn một đứa lớn nhất, trao cho nó. Thằng bé cướp được, nó dấu ngay vào trong tay áo rồi vượt qua đường tàu, nhe răng cười… biến mất. Cả bọn ngơ ngác nhìn theo. Một chuyến tàu tốc hành ngược chiều lao qua.
Ông bạn đường của tôi mặt thất sắc, tái nhợt. Lát sau ông thở dài… Tôi chợt nhận thấy trên khóe mắt của ông cũng có những giọt nước mắt.
T
rên lưng chừng núi Mã Pha Bản Séo Xìn có một gốc dẻ cụt ngọn. Nó như cột mốc chốt giữa một lối mòn, dốc đá lởm chởm. Nhưng người sống trên cao, hoặc ở những bản bên cạnh, không thể không dắt ngựa đi qua lối này để về nhà. Nhưng dưới chân đèo, bao giờ cũng vậy, họ dừng ngựa rợn tóc gáy, chần chừ nhìn lên núi, đôi mắt xoáy đăm đăm vào cây dẻ cụt ngọn. Khi thì nó như một bà già bế đứa con nằm sõng xoài trên tay, khi lại như một con chăn khổng lồ đang rướn cao cổ nuốt một con ngựa lạc đàn. Em bé hình như mới bị ma xó bắt đi và bà mẹ đang rũ rượi gọi hồn.
Sườn núi phía sau cây dẻ có một khoảng rừng rậm. Cây mọc âm u lên tới tận đỉnh Mã Pha, quanh năm sương mù che phủ. Ở đó có một cái lán xiêu vẹo của ông già Páo sống độc thân mà dân quanh vùng quen gọi ông là ông già Rắn. Các già làng thường thầm thì với nhau rằng tổ tiên của già Páo họ Giang, từ Tàu chạy loạn sang đây có lẽ cũng đã đến bốn năm đời.
Lúc trẻ Páo mồ côi cha mẹ rất sớm. Anh yêu A Mỵ con gái Phìa Mú, một nhà giàu nhất bản. Anh thường vác khèn lên núi phía sau nhà cô, chính chỗ gốc dẻ cụt hiên nay, thổi réo rắt những bản tình ca. Còn cô gái trong nhà dệt thổ cẩm, thỉnh thoảng lại dừng thoi, kéo tấm khăn trùm đầu lau nước mắt. Họ tha thiết yêu nhau nhưng vì Páo quá nghèo, không nuôi nổi một con lợn để nộp cheo, nói gì tới giết trâu bò làm cỗ cưới. Một lần Mỵ bỏ nhà trốn theo Páo. Họ băng rừng suốt mấy ngày đường nhưng rồi cuối cùng Phìa Mú cũng tìm được. Lão cột con gái vào gốc cây, lúc này còn là một cây dẻ tơ đánh cho thâm tím mặt mày. Tháng sau, biết Mỵ có thai, ông dời nhà đi sang bản khác và gả Mỵ cho Phìa Lều, là bạn già của lão để làm thiếp.
Từ đó Páo như người không hồn. Chiều chiều anh vẫn mang sáo ra gốc dẻ để thổi rồi cuối cùng anh dựng lều ở đấy luôn. Để giải sầu, anh đã làm bạn với thuốc phiện và sống xa lánh mọi người.
Cứ thế năm tháng đi qua, củ mài, ngô hoang, hoa anh túc trong rừng giúp Páo kéo dài cuộc sống… để mà đêm đêm sau khi đã tỉnh thuốc, anh lại mang khèn ra thổi những điệu khèn réo rắt nhớ thương:
“Amỵ ơi! Em là con nai rừng lạc đàn.
Anh là dòng suối mênh mang…”
Không nhớ rõ bao nhiêu mùa rẫy đã đi qua. Mọi người đã quên như không có anh trên đời này nữa. Anh đang tự giết mình trong sầu thương và khói thuốc phiện. Cho đến một đêm hè mưa gió, có một ông già người Mán vừa đi đến đây thì cả người và ngựa đều kiệt sức. Lên cơn đau bụng dữ dội, buộc ông phải bò lết leo lên nhà sàn của Páo. Lách cách liếc nhìn vào nhà xin ngủ nhờ thì người khách qua đường bỗng kêu lên một tiếng, ngã và ngất xỉu. Páo lờ đờ ngồi dậy, khua ngọn đuốc nhìn ra, thấy một cụ già đang nằm sõng xoài giữa trời mưa. Páo vội vực cụ vào nhà.
Cụ già ôm bụng rên quằn quại. Lát sau vừa nôn vừa đi tả. Páo chậm rãi đến bên bàn đèn xái thuốc phiện hòa với nước, cạy miệng cụ đổ vào. Xong, anh ta cho thêm củi và đặt cụ già bên cạnh bếp lửa.
Anh như quên hẳn có người lạ, quay về với chiếc bàn đèn. Ngoài trời mưa càng to. Một tiếng sét nổ đinh tai. Anh rung mình ớn lạnh… và cứ thế anh rít liên hồi hết điếu này đến điếu khác…
Nửa đêm, cụ già lúc này đã hết đau, mở hé mắt ra nhìn. Vẫn là cái cảnh lúc nãy đã làm cụ ngất đi. Trong ánh lửa chập chờn, có đến gần một chục con rắn hổ mang, cạp nong, hổ lửa… treo đuôi lên rui nhà buông cái đầu xung quanh người Páo. Chúng há hốc miệng, đớp lấy những làn khói. Có con còn thè cái lưỡi xanh lè ra, liếm đi liếm lại đĩa xái thuốc phiện.
Cụ già nằm im không dám động đậy, gần sáng khi cơn mưa đã tạnh, liếc thấy Páo ngủ say như chết, những con rắn đều đã khoanh tròn lại, con ở trên xà nhà, con nằm trên đùi, con yên giấc trên cổ Páo, cụ già run bần bật bò xuống cầu thang. Con ngựa của cụ cột dưới gốc cây biến đâu mất. Còn ngọn dẻ thì đã bị sét đánh chẻ đôi ngọn. Mặc cho trời tối đen và dốc đá trơn như mỡ, cụ cứ thế mà bò mà lăn xuống chân núi, tìm vào nhà một người thổ, miệng nói líu nhíu như bị ma ám rồi lại ngất đi. Mãi mấy ngày sau cụ mới hoàn hồn. Cụ đem chuyện kể cho họ nghe. Từ đó, một đồn mười, mười đồn trăm rằng nhà Páo nuôi một bầy rắn thần. Ai ai cũng sợ. Tuy nhiên, có một lần, một người trong bản bị tả lỵ thầy mo cúng tế mãi đành bó tay. Người nhà đã đi đến chuyện bó chiếu đem đi chôn, thì người con trai chợt nhớ tới chuyện ông già người Mán kể ngày nọ, đánh bạo đến nhà Páo xin ít xái thuốc phiện của rắn thần. Và thế là bố anh đã được cứu sống. Từ đó mỗi khi có người trong vùng bị bạo bệnh, họ lại liền đến cầu cứu Páo. Không hiếm người vì thế cũng được chứng kiến cảnh bầy rắn chầu bên chiếc bàn đèn của Páo. Có khi họ thấy cả cảnh Páo thổi kèn, còn bầy rắn lắc la lắc lư đầu… múa theo. Múa hát chán, Páo ôm lấy con rắn chúa, khóc sướt mướt… miệng luôn mồm gọi Amy. Đàn rắn lúc đó như muốn chia sẻ nỗi buồn cùng với chủ, rúc đầu vào tay áo anh và nằm im, mặc cho khói thuốc phiện vẫn phảng phất thơm lừng.
Cảnh đó dân bản Séo Sìn dần rồi cũng quen đi. Họ không còn sợ như trước nữa. Mà thực ra Páo và đàn rắn có làm hại ai bao giờ! Đâu có độc ác như bọn phìa tạo và lính Tây, lính Nhật. Chúng thường chặt đầu Việt minh không ghê tay rồi treo lủng lẳng trên cành cụt cây dẻ…
Cách mạng tháng Tám nổi lên. Mặc dù lúc này đã trở thành ông già, nhưng Páo như người chết sống lại, cùng hòa vào dòng người biểu tình trong bản. Có buổi liên hoan văn nghệ. Páo còn cuốn hai ba chú rắn quanh cổ, đi diễn trò văn nghệ. Ông thổi bài “Sơn la âm u”, còn bầy rắn banh cái mang ra… lắc lư múa. Trẻ em vỗ tay hoan hô, sán lại gần xem cho rõ, quên cả sợ.
Bọn thực dân Pháp nhảy dù xuống Bắc Cạn, Páo cùng dân bản trốn vào rừng. Một tiểu đội lính lên đường, sau khi đốt xong chiếc nhà sàn của Páo, liền đưa rượu thịt và những thứ vừa cướp được bày ra khoảnh đất dưới gốc dẻ. Quan và lính ăn uống no nê, say bí tỉ rồi lăn ra ngủ. Sáng ra một toán lính khác đi qua mới phát hiện ra cả tiểu đội này chết hết. Đứa nào mặt mũi cũng tím bầm. Chúng hò nhau khiêng xác xuống núi.
Chiến dịch Cao Bắc Lạng thành công. Nhân dân trở về bản cũ, trong đó có Páo. Bà con dựng lại cho Páo nhà sàn khác. Đàn rắn thần lại tụ tập trở về.
… Một buổi chiều, có một người đàn bà hơi luống tuổi dắt một chú bé chừng 15, 16, tay chân vạm vỡ như một thanh niên, họ tìm đến bản Sèo Xín. Bà đứng tần ngần nhìn cây dẻ cụt, nhìn túp nhà sàn, nét mặt buồn buồn. Bà nhìn lên đỉnh núi rồi lại trông xuống chân đèo. Ráng vàng đã đổ sau rừng mờ mờ ảo ảo. Miệng bà lẩm bẩm:
– Đúng là chỗ này, không sai!
Chú bé thì đang mải tìm hạt dẻ rụng quanh gốc cây. Bỗng có tiếng khèn từ căn nhà sàn vang lên. Người đàn bà cuống quýt:
– Này, A Cầm, con có nghe tiếng khèn không? Đúng là tiếng khèn của cha con đó! Rồi không kịp nghe đáp lại, bà chạy sấp ngửa leo lên nhà sàn. Páo đang mơ màng với khói thuốc phiện và luôn mồm hát:
“A Mỵ ơi em là con nai lạc đàn,
Anh như dòng suối mêng mang.
Nước kia vượt ghềnh thác,
Tìm dấu chân nai vàng.
Tìm ngực em nõn nàng,
Cho nai kia hết khát
Cho em băng suối ngang
Tránh nanh vuốt hổ dữ…”
Páo vừa hát vừa gào. Đàn rắn thì rướn cao cổ, lắc la lắc lư như gõ nhịp. Người đàn bà đứng sững giữa sàn nhà đến mấy phút, rồi chạy quỳ xuống bên bàn đèn:
– A lui Páo ơi!
Páo nghe tiếng gọi từ từ mở mắt, tưởng như từ cõi chết xa xăm trở về, và khi đã nhận ra Amỵ thật, ông khóc òa… như một đứa trẻ. Đàn rắn đều đã lao lên xà nhà, cuộn tròn lại, miệng phun phì phì dọa nạt…
Mấy ngày sau A Mỵ mới kể cho Páo biết rằng, Phìa Lều đã chạy theo Tây và bọn Vàng Pao, Mỵ mới trốn được, vội đưa con trở về đây tìm Páo.
Từ đó, Páo nghe lời Mỵ, năng ra suối tắm rửa. Ông cũng giảm bớt thuốc phiện. Ngày ngày ông thường cùng với A Cầm đưa chó vào rừng săn thú và đào củ mài.
Những lúc vắng mặt vợ, ông mới dám đưa bàn đèn ra. Đàn rắn lại tụ tập về, nhưng chúng trông lờ đờ uể oải hẳn, không lắc lư múa nữa mà há miểng ra đớp liên tục khói thuốc…
Mấy tháng sau, một đêm trời lại nổi mưa to, sấm chớp nổi đùng đùng. Nửa đêm, khi ở chái bên A Cầm đã ngủ say, Páo cuồng nhiệt ghì A Mỵ vào lòng như thời còn son trẻ. Hai người cởi hết áo quần, lăn tròn giống như đôi rắn. Bất giác, Páo nhìn lên mái nhà, thấy một đôi mắt rắn do ánh lửa phản chiếu trông đỏ lừ như máu. Nhưng nỗi đam mê khao khát khiến Páo mặc cho bếp lửa tí tách tàn, không thèm dậy thêm củi…
Mãi tới khi mặt trời đã gần đứng bóng, Páo mới thức dậy. Páo thấy A Mỵ lõa lồ nằm co quắp bên cạnh ông, người lạnh giá. Páo ôm lấy xác vợ thì con rắn chúa từ chỗ kín của bà từ từ bò ra, lừ mắt nhìn ông. Nó phóng lên xà nhà, trong khi Páo mặc quần áo, tìm thanh mã tấu…
Lời cuối chuyện: Tôi tình cờ nghe chuyện về Giàng A Páo nhân một chuyến đi miền núi để tìm một ít cao hổ cốt, mật gấu và mật ong rừng dùng cho tuổi già. Và tôi đã đến bản Sèo Xìn, chỗ cây dẻ cụt ngọn, ở đây tôi gặp một trại nuôi rắn. Người bác sĩ chuyên gia về rắn độc, không ai khác chính là A Cầm, còn Giàng A Páo đã mất cách đây mấy năm. Ông xác nhận chuyện trên là có thật.
Rắn của ông, một số loài được nuôi trong hang có lưới sắt. Riêng giống rắn chúa hiếm, rất độc, có họ hàng với hổ mang mà ông gọi bằng tên là tinh là “co-bra…” gì gì đó tôi quên mất, ông vẫn để sống tự nhiên trong rừng. Mỗi lần lấy nọc, ông lại dụ chúng về bằng khói thuốc phiện. Ông có biếu tôi một lọ rượu nhỏ chế bằng nọc của nó. Nghe ông nói, một ml nọc rắn này xuất khẩu giá tới mấy trăm đô la. Nó được bào chế thành thuốc có thể chữa khỏi bệnh bán thân bất toại, do tai biến mạch máu não, công hiệu hơn cả mật gấu, cao hổ cốt… mà tôi đang tìm.
S
áng sáng khi Hoàng ngồi vào bàn làm việc thì cũng là lúc chú chim khuyên trong lồng treo trên cửa sổ đang quay tròn, hót líu lo gọi bạn.
Chốc chốc chú ta lại nếm một hạt gạo trứng pha đường, rồi tu một ngụm nước, nhởn nhơ… thỏa mãn. Giọng hót của chú trong thanh, dân dã, bổng trầm to nhỏ. Có lắng tai thật kỹ mới cảm thụ được. Nó như tiễng vĩ cầm ai đó kéo trong đêm khuya thanh vắng ở xa xa, tận cuối làng, nơi đang có một người mà đêm đêm mình thường trằn trọc nhớ thương. Nó không ồn ào, chanh chua, sang trọng, kiêu kỳ mà nông cạn… như hoàng yến.
Bởi vậy, chỉ trong chốc lát, cả đàn có đến chục con khuyên trời đã bay đến. Chúng cùng nhảy nhót trên giàn nho và họa theo… tạo thành một bản hòa tấu ban mai êm dịu.
Đang tìm một tứ hay cho bài viết, Hoàng ngẩng lên. Con khuyên trong lồng cứ quay tròn, rướn cao cái cổ nhỏ bé, tội nghiệp, còn bầy chim trời thì vẫn còn hót theo an ủi. Chúng cũng không thèm ngó ngàng gì tới một chén gạo trứng khác to hơm, nhiều đường hơn mà Hoàng dành cho chúng ở ngay ngoài lồng cạnh đó. Bởi chúng chỉ là những nhạc sĩ tình nguyện mà thôi!
H
oàng bẻ quặt tay lái rồi dừng xe lại trước mấy sạp bán hoa quả đầu đường Cầu Giấy. Cả một khúc đường dài đã biến thành chợ trái cây này bày la liệt nhãn là nhãn. Mới tháng trước đây thôi, chỗ này dành cho vải Lục Ngạn. Nhưng vải chỉ khiêm tốn chiếm vỉa hè không quá mười ngày, chính giữa mùa nắng gắt. Còn bây giờ đến lượt nhãn. Nó về Hà Nội, đúng vào những tuần mưa gió sụt sùi, mây buồn nặng trĩu lo toan.
Chả trách gì mà nó tên là Nhãn, nghĩa là mắt. Tên cao quý hơn, “long nhãn” tức là mắt rồng. Hạt của nó tròn đen, như mắt cô gái tuổi dậy thì. Khi ngây thơ ngơ ngác, lúc đau đáu nhìn xoáy vào mặt người yêu thầm, không chút ngượng ngùng. Và có khi lại nhấp nháy… đỏ hoe… giàn giụa lệ.
Cùng đứng chọn nhãn với Hoàng sáng nay, còn có một cô gái khoác chiếc đi mưa màu hồng. Cô khẽ lấy móng tay son, tách lớp vỏ mỏng màu nâu đất, rồi khẽ đưa lên miệng. Cô hơi đụng lưỡi. Đôi môi đỏ chót, kiêu sa… lông mày lá liễu nhíu lại. Cô ta chê nhãn nhạt.
Hoàng cũng học theo cô, bóc một quả để thử. Tay anh vụng về bóc trần hết vỏ và quả nhãn rơi tuột khỏi tay. Anh nhìn xuống. Nó nằm cạnh chiếc giày thêu của cô gái. Bỗng anh sững sờ như nhìn thấy lại đôi mắt đục lờ của một em gái chiều qua ở trại nạn nhân chất độc màu da cam mà anh vừa dẫn mấy giáo sư người Mỹ tới thăm.
… Cô gái đã phóng xe đi làm cho Hoàng thêm khó xử trước chị bán nhãn. Anh đành phải mua mở hàng một chùm. Về nhà, vợ anh cũng chê “nhạt như nước lã!”
Ôi, cũng là những chùm nhãn, nhưng nó gây cho ta nhiều cái vui buồn lẫn lộn. Gặp ngày nắng lòng ta lâng lâng, nhãn cho ta vị ngọt thanh, sảng khoái cho ta xốn xang, hoài niệm về đôi mắt đen láy, một thời. Nhưng khi mưa ngâu rả rích như bất tận tâm hồn ta trống vắng, nó trở nên nhạt thếch, để lại trong ta cái nặng nề, bất hạnh của nước mắt… cuộc đời, là vì sao?
C
huyến tàu thống nhất về tới Nam Định đã hơn 12 giờ trưa. Ra khỏi sân ga, tôi men theo vỉa hè, định tìm một nhà nghỉ. Ngay lập tức có một bác xích lô tới gần tôi chào mời:
– Ông về đâu con chở?
Tôi ngắm nhìn bác xích lô. Hàm răng đã có nhiều chiếc rụng, má lõm sâu, chiếc quần đùi bẩn thỉu dài tới gối mà vẫn không che nổi đôi chân như hai ống sậy, vừa đen đủi vừa đầy những sẹo. Thấy mặt bác ta đỏ bừng, dị dạng, có một vết đạn sâu hoắm, sặc mùi rượu, tôi định thoái thác đi tìm chiếc xe khác. Nhưng bác xích lô nhìn tôi trân trân, rồi chắp hai tay lạy, đầu hơi cúi xuống: “Thầy, đúng là thầy Nguyễn của con đây rồi!”
Không để cho tôi kịp phân bua, bác ta kéo tôi lên xe.
– Thầy không nhận ra con nữa? Con là Tiến, học sinh khóa một trường kĩ thuật 3 đây mà! Con đang học dở thì đi bộ đội, nên thầy quên con là phải.
– Thế bác… à thế anh xuất ngũ năm nào?
– Dạ con vào bộ đội cao xạ, bị thương, điều trị khỏi được giải ngũ. Con về làm thợ bảo toàn ở phân xưởng Dệt A. Năm 90 khó khăn quá, con về một cục, lấy tiền sắm chiếc xích lô này để kiếm sống nuôi con. Thầy tính, nhà con làm một tháng chỉ được hơn một trăm ngàn mà nhiều khi nhà máy nợ hai ba tháng mới có trả. Hai đứa trẻ nhà con còn đi học cả.
Chiếc xích lô kêu cọt kẹt. Oằn lên oằn xuống trên đường. Con đường sỏi nhiều hơn nhựa. Tôi đang mải nghĩ thì chiếc xe xích lô đã đỗ kịt trước nhà khách của Nhà máy Dệt. Tiến nhảy xuống, lại cúi mình:
– Mời thầy xuống vào khách sạn nghỉ ạ.
Tôi móc túi lấy ra năm chục ngàn, dúi vào tay Tiến, với cái ý vừa trả tiền xe, vừa cho con anh ta chút quà. Nhưng anh ta co rúm lại, lạy tôi, mắt đỏ hoe:
– Con đâu dám nhận tiền của thầy.
Giằng co mãi, Tiến vẫn không chịu nhận. Đúng lúc đó, hai thầy trò phải tránh ra cho một chiếc Toyota bóng lộn lao vào cổng. Chiếc xe đi sát, suýt nữa nghiến vào chân của Tiến. Người lái xe thò cổ ra mắng:
– Mày mù hay sao đấy?
Tôi chợt nhận ra thân hình một người phì nộn, mặt đầy vết bỏng, ngồi ghế sau. Đó là khuôn mặt của N, giờ đây là Tổng giám đốc Tổng công ty Dệt. Tiến hỏi tôi:
– Thầy có nhận ra anh N trên xe đó không? Anh ấy cũng là học sinh khóa 1 với con đó.
Tôi gật đầu im lặng. Hồi lâu tôi mới vỗ vai Tiến và bảo:
– Anh không lấy tiền công chở thầy, thầy xin cảm ơn. Nhưng cho thầy gửi mấy chục này cho con anh. Chiều mai, thầy sẽ ghé nhà anh, chúng ta cùng uống rượu.
Nói thế Tiến mới chịu cầm tiền. Anh ta lại cúi xuống vái tôi rồi quay trở ra ga đón khách. Chiều hôm sau, tôi chuẩn bị đi bộ ra khu Văn Miếu, tới nhà Tiến thì lại gặp N, N nhạt nhẽo, cười xã giao, bắt tay tôi và hỏi bâng quơ:
– À, thầy đã về Hà Nội chưa?
Rồi như sợ thầy giáo già xin quá giang chăng nên anh ta vội vàng khẽ đụng ngón tay múp míp vào tay tôi mà bước lên xe.
Tự nhiên trong óc tôi có một sự so sánh, một câu hỏi: Cái gì đã đưa đẩy hai gương mặt, hai số phận của hai anh học trò trở nên biến dạng thế kia?
S
uốt ba tháng mùa đông cụ Giáo phải nằm liệt giường. Lưng cụ đau như dần, đôi bắp chân nhức buốt. Đêm đêm cụ thường nhờ đứa cháu gái duy nhất của mình là Nga Mi quấn cho hai sợi dây vải từ mắt cá chân lên tới đầu gối, cụ mới hết cái cảm giác kiến bò rân rân trong xương tủy, mãi mới thiếp đi được trong gió rét ẩm, mưa phùn.
Nhưng sáng dậy cụ lại thèm ra được quét cái sân đất để mà đứng tựa cán chổi, ngắm nhìn cây cau, khóm chuối trước sân… Dễ thường dịp này chúng đã sắp chửa buồng. Cụ thèm ngồi trước cửa để ngóng chừng cháu đi học về. Nó sẽ để nguyên cặp sách sau vai, chạy lại hay tay ôm choàng lấy nói mà nói đủ chuyện. Cuối cùng thế nào rồi nó cũng kêu đói bụng và cụ Giáo lại mắng yêu cháu một câu muôn thuở.
– Cha mẹ mi… Mi xấu đói chẳng khác gì bố mi ngày xưa. Đi học về chưa kịp buông sách đã vào bếp lục chạn tìm cơm nguội.
Ba tháng đông thỉnh thoảng trời hửng nắng, cụ mới dậy bắc được niêu cơm. Còn thường ngày phải nhờ có Na hoặc các mẹ nhà bên cạnh sang giúp.
Bố Nga Mi đi bộ đội rồi bặt tin từ ngày nó còn nằm trong bụng mẹ. Thống nhất đất nước, cụ mới nhận được giấy báo tử. Nga Mi vừa lên bốn. Mẹ em định ở vậy, nhưng cụ Giáo không chịu. Chị đành đi bước nữa, không ngờ chị lại cảnh “lỡ bước sang”, đò sông cách trở… Năm thì mười họa chị mới lén lút tạt về thăm con, thăm mẹ chồng cũ được một lần. Thường thường, sau khi cắm nén nhang lên bàn thờ cho chồng, chị lục dưới thúng lấy ra mấy chục cá nục. Chị xuống bếp nổi lửa lên cho kỹ để bà cháu ăn dần. Xong chị mới lên nhà trên ngồi bên cạnh giường cụ. Chị ôm Nga Mi vào lòng mà hôn. Còn hai bàn tay, chị quàng qua lưng con, nắn hết bắp chân này đến bắp chân khác cho mẹ chồng. Cụ Giáo nằm im vì dễ chịu hay để giấu đi nỗi xúc động. Mắt chị không dám nhìn con, cũng không dám nhìn mẹ… mà chỉ thả vào khoảng không, chìm đắm trong sâu lặng, thăm thẳm buồn. Cả ba người cứ ngồi như thế, không nói với nhau một lời. Có lẽ, giữa họ những lời âu yếm nói nhiều đã cạn. Nỗi khổ đau, những giọt nước mắt thở than nhiều đã khô. Nên cái quý nhất, thiêng liêng nhất hiện tại, đó là sự im lặng, cảm thông. Cho tới khi mặt trời gần đứng bóng, chị mới vội vã ra về cho kịp chuyến đò ngang, kịp về nhà nấu bữa cơm trưa cho người chồng nghiện hút, nát rượu, hay ghen… và cho đứa con nhỏ tật nguyền.
… Dù mùa đông có mưa phùn rét mướt lâu đến mấy đi chăng nữa, thì tôi cũng phải nhường chỗ cho mùa xuân. Qua mấy đêm, trời nổi mưa rào, tiếng sấm như gõ chiêng, gõ trống thùng thình, gọi những ngọn lúa xuân nhảy múa. Lá của chúng xanh mơn mởn, phổng phao, vươn cao nhánh như thiếu nữ đến tuổi dậy thì.
Đúng thời gian này, cụ Giáo như cất được gánh nặng trên lưng, trên ngực. Gần trưa, nắng vàng le lói, cụ ngồi dậy. Cụ lấy gạo nấu cơm. Rồi cụ bắc ghế ra sân ngồi ngóng cháu Nga Mi. Tự nhiên cụ thấy thèm trầu. Cụ lọ mọ sờ ngăn tủ tìm cái cối và tìm trầu cau mà bà bạn già vừa mới đưa cho hôm qua. Cụ bỏ trầu cau vào cối, kẹp vào đầu gối mà giã. Cụ vừa giã vừa đưa mắt nhìn hai con chào mào đang chuyền cành trên cây ổi, hót líu lo. Tai cụ nghe rõ cả tiếng vo ve của bầy ong đi lấy mật. Đầu óc cụ chưa bao giờ tỉnh táo đến như thế. Nhặt lá khi bỏ miệng trầu vào mồm, cụ cảm thấy ngực mình nóng ran, rạo rực như thời còn con gái mới về nhà chồng.
Rồi cụ giã cối trầu thứ hai. Bỗng Nga Mi từ đâu rón rén đến sau lưng ôm choàng lấy cổ má bà thơm rối rít.
– Bà khỏe rồi, để cháu giã cho! Dễ thường bà chán trầu đã hơn tháng rồi đấy nhỉ? Bà ạ, cháu nghe thầy giáo bảo, ai nghiện cái gì khi ốm mà thèm trở lại là rất khó!
– Ừ, bà cũng sắp khỏi rồi. Bà phải sống để được ăn cỗ cưới của cháu chứ!
Bà cụ móm mém cười. Còn Nga Mi thì định đấm khẽ vào lưng bà như ngày nào, như đấm vào lưng chúng bạn khi bị chế. Nó giơ tay lên và hụt hẫng… khi chợt nhớ ra rằng lưng bà mình đã cong lại đang đau. Nó nói chống chế:
– Bà ơi, chiếc cối giã trầu này làm bằng vỏ đạn do cha cháu từ Vĩnh Linh gửi về cho bà, ngày cháu mới đẻ phải không?
– Ôi, cháu của tôi nhớ giỏi quá! Nếu không có cháu thì chắc bà đã            quên mất rồi! Thôi, xuống bếp lấy cơm lên mà ăn.
– Dạ. Cháu đói bụng quá.
– Cha đẻ mi, mi xấu đói… y như là…
Người ta thường nghiệm ra rằng, người già chỉ như một ngọn đèn cạn dầu trước gió, vụt sáng lên khi sắp tắt. Đêm hôm đó, cụ Giáo ra đi… một cách thanh thản, nhẹ nhàng. Sáng ra, Nga Mi sờ tay bà thì đã lạnh giá. Nó gào lên, chạy sang nhà hàng xóm gọi cứu.
Chính quyền, các cụ phu lão, mẹ anh hùng liệt sĩ… đổ đến. Họ vén màn lên: da mặt cụ Giáo hồng hào, tóc cụ bạc phơ phơ như cước, tựa như một bà tiên đang ngủ say.
Buổi chiều khâm liệm cụ, Nga Mi khóc sưng húp cả mắt, ôm lấy quan tài bà, không cho các chú, các bác đậy nắp. Rồi nó chạy lại đầu giường, lấy ra chiếc cối giã trầu chiều qua, nhẹ nhàng đặt xuống bên má bà. Một chú phải ghì chặt lấy nó, để cho mọi người chuẩn bị đóng nắp quan.
Bỗng mẹ Nga Mi từ ngoài sân, tất tả bước vào, quần áo ướt như chuột lột:
– Cháu lạy các chú, cháu lạy các bác. Cho cháu nhìn mặt mẹ cháu một lần cuối. Cháu biết tin từ trưa, nhưng “hắn” dọa chém, không cho cháu đi. Cháu phải trốn bơi qua sông…
Nắp quan tài lại được mở ra. Chị vuốt mắt mẹ chồng tay đấm vào ngực mình:
– Con thật bất hiếu với mẹ, mẹ ơi!
Rồi chị nói lảm nhảm những gì không rõ. Chị vái người chết vái ảnh chồng trên bàn thờ. Chị quay sang vái con, vái xóm giềng đứng bên cạnh. Nước mắt cùng với nước trên áo quần chị, nhỏ xuống ròng ròng…
V
ườn nhà Nam vốn là một cái gò nổi giữa đầm lầy làng Hạ. Bố mẹ anh ra khai khẩn đã mấy chục năm nay, dựng được một túp lều vời hai gốc tre gai. Bỗng dưng, có một cây sanh mọc lên bên mé nước.
Trải qua thời gian, khóm tre đã thành rừng. Cây sanh chi chít rễ. Rồi anh cưới vợ, sinh con, đẻ cái…
Hợp tác xã cho anh đấu thầu cái đầm. Cũng từ đó, một đôi cò về làm tổ trong bụi tre. Còn cây sanh lớn nhanh như thổi, là nơi trú ngụ của một con diều hâu. Tận khuya, lão ta mới lẻn về. Mấy lần Nam rình xua đi mà không được.
… Một đêm, trời đổ cơn dông. Mưa giăng mờ mịt. Vợ chồng anh thức trắng, đóng cọc, căng tre… cố giữ đàn cá giống vừa mới thả. Rồi cơn lốc ập đến. Anh chỉ kịp chạy vội vào nhà, chống thang cho túp lều và ôm lấy con.
Sáng ra, cảnh vật bày ra trước mắt anh, trông thật tiêu điều: Bụi tre gai, gió quất xơ xác, không còn một cái lá, hai con cò bay lượn, kêu thảm thiết tìm con. Bên cạnh đó, gốc sanh đã bị bẻ gãy cành, đổ ập xuống.
Vợ chồng anh vội vàng chạy ra vớt cá con. Bỗng anh thấy hai chú cò non nằm nguyên trong tổ, sát ngay mép nước, như có một phép màu nào đã cứu chúng. Chúng đang há miệng đòi ăn. Dưới cành sanh gãy, xác con diều hâu bị bẹp dí, đàn kiến lửa đã đến vây quanh…
Tự nhiên, anh cảm thấy khoan khoái. Anh ngồi xuống, huýt sáo, mớm cá cho hai chú cò non. Cò mẹ thấy thế, thôi kêu, sà xuống một cành gai thấp nhất, nghiêng nghiêng, ngó ngó… Còn vợ anh, đứng bên cạnh, mặt đầy bùn, nhoẻn miệng cười, hồn nhiên hệt như cô Tấm ngày xưa… bị Cám đổ trộm hết giỏ tép.
C
ứ dịp đông, người Hà Nội lại không quên bóng dáng những cây bàng đầu phố. Gốc nó xù xì như vai gù của người thợ bến Phà Đen, anh đạp xích lô Bến Nứa. Lá nó tuy đã đỏ ối nhưng vẫn chưa chịu rụng hết, như để níu kéo lại chút ấm áp, chở che cho những cụ già chưa có tiền sắm áo rét.
Đến khi nó trút hết chiếc lá cuối cùng, thì ai ai đi dọc đường phố mà chẳng ngậm ngùi, chạnh lòng xót thương? Nó giơ cao cành, như bất lực trước gió mùa phương Bắc.
Nhiều nhà Hán học cho rằng: Bàng chính là cây phong lá đỏ của cuộc đời cát bụi. Không rõ đúng hay sai?
Nay ở Hà Nội, nó đang được thay thế dần bởi cây bằng lăng. Cũng phải thôi, vì loài cây này chắc cùng họ, dẻo dai, trơn tru và chóng lớn.
Thế nhưng cho ngâu, mẫu đơn, cỏ… vào thế chỗ ở các dải phân cách đường thì ôi thôi, thật chẳng còn gì là Hà Nội nữa. Mà Paris thì còn xa vời quá. Rồi cái nắng chang chang, cát bụi trưa hè, cây nào có thể thay bóng người, mát rượi như gốc đa làng, chở che chốc lát cho bác đạp xích lô, cô gái xe thồ… đứng vắt vội chiếc khăn mồ hôi và nước mắt đây hỡi bàng?
1.       Thơ Đường (cùng nhiều dịch giả) – NXB Văn hóa, 1963; tái bản 1988.
2.       Truyện ngắn hay Quân đội nhân dân cuối tuần (cùng nhiều tác giả) – NXB Hội Nhà văn 1998.
3.       Nước mắt mẹ (tuyển truyện ngắn đã đăng báo) – NXB Hội Nhà văn 1999.
4.       Những kiến giải về Triết học khoa học – NXB Hà Nội, 2006.
5.       Khổng Tử cùng học trò đối thoại về giáo dục – NXB Hà Nội, 2006.
6.       Những câu nói bất hủ của Khổng Tử (3 tập) – NXB Lao động – Xã hội, 2006.
7.       Trí tuệ Lão Tử – NXB Lao động – Xã hội, 2006.
8.       Những câu nói bất hủ của Mạnh Tử (2 tập) – NXB Lao động – Xã hội, 2006.
9.       Kinh Dịch với cuộc sống con người (2 tập) – NXB Lao động – Xã hội 2007.
10.   Trí tuệ Trang Tử (2 tập) – NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2008.
11.   Trí tuệ Khổng Minh Gia Cát Lượng – NXB Lao động – Xã hội, 2008.
12.   Trí tuệ Mạnh Đức Tào Tháo – NXB Lao động – Xã hội, 2009.
13.   Trí tuệ Trọng Đạt Tư Mã Ý – NXB Lao động – Xã hội, 2009.
14.   Trí tuệ Tôn Tử – NXB Lao động – Xã hội, 2009.
15.   Trí tuệ Tào Tuyết Cần – NXB Lao động – Xã hội, 2009.
Mục lục
Thay lời nói đầu
MIẾU CÔ CHÍN
TÀ ÁO LƠ MUYA
HAI VỊ TAM NGUYÊN VÙNG SƠN NAM HẠ
NƯỚC MẮT MẸ
MÙA HOA XOAN
KHÔNG PHẢI CHUYỆN LƯU GÙ
HẠT GẠO BA THÁNG
MO CƠM NẮM CỦA CHỊ DÂU TÔI
ÔNG GIÀ CẮT TÓC NGOÀI CHỢ TRUNG DU
CHÚ CHIM HỌA MI CỤT ĐUÔI
TIẾNG CHIM TỪ QUY
MÙA ỔI CHÍN
LÃO NHẮNG VÀ TÔI
MÓN CUA NGÀY TẾT CỦA CHÚ TÔI
NHỮNG KỈ NIỆM KHÓ QUÊN
BÁT CANH CUA CỦA O TÔI
TIẾNG VẠC KÊU ĐÊM
NƯỚC MẮT CỦA TUỔI GIÀ
A PÁO VÀ BẦY RẮN THẦN
CON CHIM KHUYÊN TRONG LỒNG
CHÙM NHÃN LỒNG
HAI NGƯỜI HỌC TRÒ CŨ
CHIẾC CỐI GIÃ TRẦU CỦA MẸ
TỔ CÒ TRÊN BỤI TRE GAI
HƯƠNG SẢ
TRÒ CHUYỆN VỚI CÂY BÀNG
Cùng một tác giả

                   Chú thích[1] Kiểu áo hiệu Cát Tường, trước đây người ta thường gọi tên Tường là “le mur” (bức tường). Ở đây tác giả chỉ áo màu xanh da trời (“bleu d’ azur”).

[2] Ôi, con chim vàng anh bé nhỏ của tôi.
[3] Ái tình là một cái bóng, theo nó, nó trốn anh. Trốn nó, nó theo anh.
[4] Chữ “Khuyến”,( 勸) “lực” nằm bên phải, chính. Bỏ “lực” thay “mộc” vào bên trái, tà, thành “quyền”(權) là quyền lực. Ở đây ông Đạt có khuyên trò cần rèn chí học, chống cường quyền.
[5] Hiểu theo lối chiết tự, “Thắng”(勝) có chữ “lực” nằm ở dưới, nếu bỏ, “nguyệt”, thay”lực” bằng chữ “thủ” thành”quyền”(拳) nghĩa là nắm đấm.
[6] Bàn ăn cơm ken bằng tre như cái chõng, ăn xong treo lên vách của quê tôi.
[7] Cá nục bé.
[8] Bệnh phù do thiếu vitamin B1.
[9] Tại sao, tiếng Nghệ An.
[10] Hàng diên : lễ tế thần hoàng làng
[11] Niền: buộc
[12] La gare: Ga xe lửa.
[13] Planton: Người khán trường, gác trường.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s