Docago.wordpress.com số 95 :Đỗ Anh Thơ: Trí tuệ Lão tử : Câu 27- Dành những khoảng trống để phát triển. Câu 28 – Sống thảnh thơi, chết bình thản.

27. Dành những khoảng trống để phát triển
三 十 輻 共 一 穀﹐ 當 其 無﹐ 有 車 之 用 也 (*)
PHIÊN ÂM:
Tam thập phúc cộng nhất cốc, đương kỳ vô, hữu xa chi dụng dã.
(*) Cổ văn không bao giờ có dấu ngắt câu. Do đó đọc cổ văn rất khó. Hiện nay các tác giả tùy theo cách hiểu mà đặt chấm phẩy khác nhau. Câu này Diệp Châu đặt dấu phẩy sau chữ “hữu”. Xét thấy không đúng với các bản của Nguyễn Duy Cần và các học giả phương Tây (Bản The Canon of Reason and Virtue của James Legge dịch là Thirty spokes unite in one nave and on that which is non-exostent depends the weel’s utility.) nên soạn giả sửa lại.
CHÚ GIẢI: Đây là phần câu trong chương 11 của Đạo đức kinh.
– Phúc (fù): nan hoa xe đời xưa
– Cốc (gủ): trục xe
DỊCH:
Ba chục cái nan (căm) hợp lại nơi lỗ trục xe, nhưng nhờ cái lỗ trống đó mới có tác dụng của xe (làm cho bánh xe quay).
BÌNH
Lão tử biện luận rằng: cái bình khác với hòn đất nung có thể chứa đựng được là nhờ nó rỗng. Bánh xe quay được là nhờ trục xe có lỗ. Đạo trời đất có chỗ dụng là nhờ ở sự trống rỗng.
Mọi vật quay là nhờ có tâm quay. Nếu như mọi thứ đều đặc thì không thể quay được. Trong vũ trụ mọi vật thể quay là nhờ tổng hợp của các lực hút của thiên thể. Nếu chỉ có riêng mặt trời và quả đất thôi thì chắc rằng quả đất đã bị hút vào lò lửa đó rồi. Phải có mắt bão (vùng gần như chân không tạo sức hút lên, gọi là dòng đối lưu) thì không khí mới xoáy tạo thành cơn bão và ngược lại.
Lão tử là một ông quan coi kho sách đời Chu. Có lẽ ông đã như là một sử quan, thường xuyên quan sát và cảm nhận được bầu trời với hàng tỷ ngôi sao quay như một cái bánh xe khổng lồ. Nay với giả thuyết vật lý hiện đại Big Bang vàHố đen cũng được xây dựng trên những tâm rỗng đó: tâm quay rỗng đẩy các thiên thể ra xa (nổ lớn giãn nở -Big Bang) và khi hết quay, hết giãn nở thì các thiên thể sẽ bị hút lại trong cái hố đen hủy diệt.
Như vậy ta có thể nói: có khoảng trống thì mọi vật mới quay, mới biến thiên, phát triển.
Khái niệm rỗng của Lão tử – nhà triết học phương Đông cũng trùng hợp với khái niệm của nhà triết học Hy Lạp vĩ đại: Một lần, Socrates uống rượu với học trò là Platon. Ông ngồi đăm đăm suy tư khi nhìn bầu rượu vơi dần. Platon thấy lạ hỏi thầy. Socrates trả lời:
– “Bầu vơi thì ta mới có thể say sưa mãi”.
Platon ngơ ngác. Socrates giải thích: “Bình mà đã đầy thì không còn có khả năng chứa được rượu nữa”.
Platon hiểu ý thầy nên không bao giờ ông coi kiến thức mình là đủ. Ông miệt mài học và nối được chí thầy.
Vậy nên, cái “hố đen” hủy diệt của mọi người, của nhân loại là khi ta không còn “quay”, không còn vận động phát triển, tức là không còn chỗ trống, độ tự do nữa.
28. Sống thảnh thơi , chết bình thản.
 歸 根  曰 靜 ﹐ 靜(*) 曰 復 命。 復 命 曰 常﹐ 知 常 曰 明。 不 知 常 妄 作 凶。

PHIÊN ÂM:
Quy căn viết tịnh, tịnh viết phục mệnh. Phục mệnh viết thường, tri thường viết minh, bất tri thường vọng tác hung.
(*) Bản của Vương Bật và Nguyễn Duy Cần không có chữ “tịnh” mà là: “thị vị viết phục mệnh. Phục mệnh viết thường, tri thường viết minh bất tri thường vọng tác hung”.
CHÚ GIẢI:
– Quy (gùi): về
– Căn (gen): rễ.
– Tịnh (jìng): lặng (rest).
– Phục mệnh (fù mìng): theo mệnh định mệnh (destiny).
– Thường (cháng): bất biến, vĩnh cửu (eternal). Có thể đọc hằng như chú giải ở đầu sách.
– Minh (mìng): sáng, khai sáng (enlightenment).
– Vọng (wang): không biết, không rõ, mơ hồ.
– Hung (xiong): dữ.
DỊCH:
Trở về cội rễ gọi là “tịnh”, tức là “phục mệnh”. Phục mệnh là “thường ”… Biết thường gọi là “minh”. Không biết đạo thường mà làm càn sẽ gây họa.
 BÌNH
 Người ta ai cũng phải chết. Bởi vì không lý giải được cái chết, nghĩa là ta lại trở về cái không theo quy luật không – có, có – không (hay là sắc sắc không không của Phật) nên ai ai cũng sợ chết. Vì thế ta mới tự lừa dối ta, sống thiện thì linh hồn lên thiên đàng còn ác thì phải xuống địa ngục. Triết lý của đạo Lão là nhất nguyên luận, không phân biệt thiện ác, nguyên tắc sống của môn phái này là luyện cho lòng mình trống rỗng. Nhưng tín đồ Phật giáo thì theo nhị nguyên. Có thiện có ác, có thiên đàng và địa ngục. Họ chủ trương tu nhân tích đức. Thái độ của Lão tử và Trang tử là rất yêu sự sống nhưng xem chết là lẽ thường. Họ xem chết là trở về cội rễ (quy căn), trở về tịnh không, là phục mệnh, là sự vĩnh hằng. Biết được lẽ thường này thì sẽ sáng lòng. Nếu không biết thì sẽ gặp hung họa. Hung họa có nghĩa là đi cầu xin trời đất, đau khổ, lo sợ về cái chết nên càng chết mau hơn.
Vì không hiểu quan niệm của Lão tử nên ở Trung Quốc rất phổ biến những dòng tu tiên, tìm thuốc trường sinh bất lão. Tiểu thuyết Trung Quốc hư cấu nên Thái thượng lão quân (hình ảnh bất tử của Lão tử) hoặc những nữ tu sĩ sống tới hàng mấy trăm năm mà vẫn trẻ như con gái. Tần Thủy Hoàng đã bắt không biết bao nhiêu thầy thuốc đi lên rừng tìm các loại thuốc bất tử cho mình và tự thân lên biển bắc bắn cá voi về để luyện kim đan. Lý Thái Bạch có bài thơ châm biếm như sau:
Từ thị tải Tần nữ
Lâu thuyền kỷ thời hồi ?
Đán kiến tam tuyền hạ,
Kim quan tang hàn hôi.
Tạm dịch:
Thuyền rồng chở đám gái Tần,
Về nơi Từ thị biết bao lần.
Chỉ thấy suối sâu nơi âm phủ
Quan tài vàng chói chứa tro than.
Có người hỏi đến cái chết, Khổng tử cũng đã thản nhiên trả lời: “Chưa từng biết sống phải ra sao mà đã hỏi cái chết như thế nào!”
Thực ra sống là ta vay nợ thiên nhiên, đã tiêu tốn thiên nhiên bao của cải thì chết là ta trả lại cho thiên nhiên những thứ ta đã mượn mà có. Từ vua quan cho đến thứ dân lúc sống đều đổ tiền của ra để xây mồ mả, nhưng thử hỏi chúng tồn tại được bao lâu? Ở Ấn Độ có phong tục chết thì hỏa thiêu rồi đem tro rắc lên dòng sông Hằng. Hay như ở Mỹ, mộ của hai anh em Kennedy chỉ là hai phiến đá được đặt trên đồi cỏ.
Nước ta mang nhiều yếu tố tam giáo đồng nguyên. Bởi vậy nhiều bài thơ của các nhà sư nổi tiếng thời Lý phảng phất triết lý vô vi, hòa mình với thiên nhiên cây cảnh. Có khi lại coi thường Phật pháp nữa, ví như:
 Bài Cáo bệnh thị chúng của sư Viên Chiêu (999-1091):
Xuân đi trăm hoa tàn,
Xuân tới trăm hoa nở.
Việc đời ruổi qua trước mắt,
Tuổi già hiện trên mái đầu.
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua sân trước nở nhành mai.
(Lê Văn Hảo dịch).
 Hay bài kệ Sinh lão bệnh tử của nữ thiền sư Lý Ngọc Kiều (1041- 1113):
Sinh lão bệnh tử là lẽ thường xưa nay
Muốn cầu siêu thoát càng bị trói buộc thêm.
Vì mê muội mới cầu Phật, vì lầm lẫn mới cầu thiền,
Chớ nên cầu thiền cầu Phật làm chi
Mà nên mím miệng không nói là hơn.
                                                                        (Lê Văn Hảo dịch)
Kệ Cảm hoài của thiền sư Bảo Giám (?- 1173)
Đạt được chính giác ít khi nhờ vào tu hành,
Vì tu hành chỉ là giam cầm cái ưu việt của trí tuệ.
Trí tuệ như trăng soi sáng giữa trời,
Như cây cỏ sum suê trên ngọn núi phủ khói chiều.
 (Lê Văn Hảo dịch)
Kệ Dừng theo bước Như Lai của thiền sư Quảng Nghiêm (1121-1190):
Thoát được tịch diệt rồi hãy bàn chuyện tịch diệt,
Vào được cõi vô sinh hãy nói tới vô sinh.
Làm trai tự mình có cái chí tung trời,
Đừng đi theo bước đi của Như Lai.
(Lê Văn Hảo dịch)
 Sự cân bằng sinh thái trước hết là cân bằng vật chất, tinh thần của con người với thiên nhiên. Hiện nay ở nước ta, mọi người, mọi dòng họ, mọi địa phương đang đua nhau xây lăng mộ, đài liệt sĩ cho thật to, thật đẹp, nhưng không có một bóng cây, một hồ nước mà đứng phơi chang chang giữa nắng cát và gió lào. Họ có biết đâu rằng đó chính là một lãng phí lớn của cải và phá vỡ mất sự cân bằng môi trường.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s