Docago.wordpress.com số 96 : CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TAY: Đỗ Anh Thơ: Trí tuệ Lão tử . Câu 29 Nhìn từ chỗ vi diệu. Câu 30:: Loại bỏ dục niệm

29. Nhìn từ chỗ vi diệu


視 之 不 見 名 曰 夷﹐ 聽 之 不聞 名 曰 希﹐ 搏 之 不 得 名 曰 微。 此 三 者 不 可 致 詰。 故 混 而 為 一。

PHIÊN ÂM:
Thị chi bất kiến viết di, thính chi bất văn danh viết hi, bác chi bất đắc danh viết vi. Thử tam giả bất khả trí cật. Cố hỗn nhi vi nhất.
CHÚ GIẢI: Đây là một phần câu chương 14 của Đạo đức kinh
 – Thị (shi): nhìn.
 – Di (ỳi): Thấp hèn, mọi rợ.
Xưa, phong kiến Trung Quốc gọi các bộ tộc miền Nam là man, di; phía bắc là nhung, địch là những bộ tộc kém văn minhXét chữ di gồm có chữ cung và nhân dùng để chỉ chung các bộ tộc sống ở Quý Châu, Vân Nam, Bắc Việt (Giao Chỉ) là người miền núi quen săn bắn, đi rừng.
Chữ Di ở đây Diệp Châu (tác giả Lão tử đích trí tuệ) hiểu là tiêu tan, nhưng Charles Muller (Đại học Gakuken Tokyo) hiểu là khoảng cách mờ nhạt (The distant), Peter A.Merel hiểu là dạng thấp kém (beneath form), James Legge dịch làkhông màu (colorless).
– Bác (bó): đánh, tát tai, bắt lấy.
– Hi (xi): hiếm, lạ, tĩnh mịch, không có tiếng (rare, beneath sound, soundless).
– Vi (wei): rất nhỏ, mảnh mai, không hình dáng. Các dịch giả phương Tây hiểu  微 茫  là mơ hồ (= subtle, beneath felling) hoặc bodiless (không hình dáng).
– Cật (jíe): căn vặn
– Hỗn (hùn): trộn, lẫn lộn.
Toàn bộ câu trên Vương Bật chú: “Vô trạng vô tượng vô thanh vô hưởng cố năng vô sở bất thông vô sở bất vãng bất đắc nhi tri cánh dĩ ngã nhĩ mục thể bất tri vi danh cố bất khả trí cật hỗn nhi vi nhất” (không hình, không dáng, không tiếng, không vang tức là không gì không thông, không gì không đến, không bắt mà biết, càng không dựa vào lỗ tai, con mắt của mình không biết tên. Không thể cật vấn được tên, nên ta phải gộp lại làm một).
DỊCH:
Nhìn mà không thấy là “di”. Lắng mà không nghe gọi là “hi”. Bắt mà không nắm lấy gọi là “vi”. Ba cái đó không thể phân tách mà phải gộp lại làm một.
BINH
Ba chữ di, hy, vi là những chữ mượn miễn cưỡng của Lão tử, cũng như chữ đạo và đức, để chỉ sự vi diệu của tự nhiên. Thấm nhuần nguyên lý của Đạo cũng giống như người nhạc sĩ nghe nhạc không lời, nhà họa sĩ xem tranh ấn tượng. Họ có cái tai, con mắt thẩm âm, thẩm sắc rất cao, không cần dùng đến lời, đến hình dáng thực mà trong óc họ vẫn có sức truyền cảm mãnh liệt như nhìn thấy, nghe thấy tất cả. Chữ “vi” thường đi với chữ thúy tạo nên một hình ảnh vừa mảnh mai vừa yếu ớt vừa phải nâng niu, có thể bay đi mất như sợi tơ trên mái tóc thề.
Lý Bạch có bài thơ rất hay về cảnh chiều tà như sau:
暮  從  碧  山  下 ﹐
山  月  隨  人  歸 。
卻  顧  所  來  徑
蒼  蒼  橫  翠  微 .
Mộ tòng bích sơn hạ,
Sơn nguyệt tùy nhân quy.
Tức cố sở lai kinh,
Thương thương hoành thúy vi.
Tạm dịch:
Chiều tà dưới chân núi,
 Núi trăng cùng người về.
 Đường qua ngoảnh nhìn lại,
 Mờ xanh màu tái tê.
                                                                        (Đỗ Anh Thơ dịch)
 Vương Duy cũng viết về hạt mưa bụi (ta thường gọi hạt móc) rất hay:
山  中  原  無  雨 ﹐
空  翠  滴  人  衣 .
Sơn trung nguyên vô vũ,
Không thúy tích sơn y.
 Tạm dịch:
Núi sâu chẳng có mưa đâu,
Chỉ là sợi móc dính vào áo ta.
Đỗ Anh Thơ (dịch)
Tồn tại của sự sống, nói chung là sinh thái, sinh quyển trong trời đất rất mảnh mai, vi diệu. Không biết gìn giữ thì cũng giống như sợi móc trên vai áo Vương Duy mà thôi. Nắng lên là biến mất.
30. Loại bỏ dục niệm


塞 其 兌﹐ 閉 其 門﹐ 終 身 不 勤。 開 其 兌﹐ 濟 事 終 身 不 救。

PHIÊN ÂM:
Tắc kỳ đoài, bế kỳ môn, chung thân bất cần. Khai kỳ đoài, tế kỳ sự, chung thân bất cứu.
CHÚ GIẢI:
– Tắc (sai): bịt kín.
– Đoài (dùi), cũng có thể đọc là đoái như hoán đổi, hối đoái, quẻ đoài. Ở đây có nghĩa là phát ra lời.
– Bế (bì): đóng.
– Môn (mén): cửa. Ở đây có nghĩa là tai, mắt.
– Chung thân (zhong shen): suốt đời.
– Cần (qín): khó nhọc.
– Khai (kai): mở
– Tế (ji): khe hở, qua, sang.
-Tế sự (ji shì): xong việc
– Cứu (jìu): giú事p đỡ, thoát nạn.
DỊCH:
Ngậm miệng lại, bịt tai mắt thì suốt đời không khó nhọc. Mở miệng ra, ôm lấy mọi việc thì không bao giờ thoát nguy được.


 BÌNH
Thế giới hiện nay đang từ một xã hội truyền thống chuyển mạnh sang xã hội tiêu dùng dựa trên công nghệ thông tin, nghe nhìn hiện đại. Tai chúng ta nghe được xa hơn, mắt chúng ta nhìn được dài và nhiều hơn. Nhưng theo quy luật thì diện đã phát triển, tất phải hẹp bề sâu. Con người đang bị quy luật toàn cầu hóa với thiết bị đa phương tiện (multimedia) chi phối quá mạnh khiến cho nhiều nơi nhiều lúc ta không biết ta yêu cái gì, ghét cái gì, cần cái gì, làm cái gì nữa! Bởi vậy, ta luôn luôn bị tác động của hiện tượng phản cảm. Nghe nhiều, nhìn nhiều thì đâm chán ghét. Làm việc nhiều khi không có chủ đích, không tự chọn lựa mà theo trào lưu. Đó là mặt trái của cuộc sống tinh thần và vật chất hiện nay. Con người không còn phút giây nào để ngậm miệng, bịt mắt lại như Lão tử nói mà luôn luôn đứng trước tấm gương đa chiều, trên sàn nhảy, múa may quay cuồng với loa đài khuếch đại hết mức. Đây là sự ô nhiễm về tiếng ồn, về hình ảnh làm cho con người bị nhiều chứng bệnh phân tán, rối loạn tinh thần mà ta quen gọi là stress. Theo ước tính, trong mỗi con người bình thường hiện nay đã có tới gần 30 % suy nghĩ và hành động hâm hâm, lẩm cẩm.
Nhưng những câu nói như trên của Lão tử không thể lọt tai thanh niên thời đại hiện nay. Việc học tập, làm việc của họ đều giảm sút. Đời người là có hạn và đến khi ta thấy những cuộc vui chơi trên màn hình, chat game thâu đêm là vô bổ thì đã quá muộn. Bởi vậy các bạn thanh niên hãy cố gắng dành mỗi ngày mươi mười lăm phút đọc một vài câu nói của các triết gia, nghe một đoạn nhạc cổ điển, đọc một mẩu truyện ngắn nổi tiếng trước khi đi ngủ hoặc trong khi đi dã ngoại. Làm được như vậy là chúng ta đã kéo lại được chút cân bằng cho cuộc sống vậy.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s