Docago.wordpress.com số 100. CHUYÊN MỤC VĂN HÓA ĐÔNG TÂY: Đỗ Anh Thơ: Trí tuệ Lão tử Câu 37: Sự sống và cái chết . Câu 38: : Sự quay trở về gốc.

37. Sự sống và cái chêt
 人 之 生﹐  動 之 於 死 地﹐  亦 十 有 三

PHIÊN ÂM:
Nhân chi sinh, động chi ư tử địa diệc thập hữu tam.
CHÚ GIẢI:
– Động (dòng): hoạt động. Đây nghĩa là sống.
– Tử địa (sỉ di): cõi chết
– Thập hữu tam: Vương Bật chú là: “do vân thập phân hữu tam phân thụ kỳ sinh đạo” (nghĩa như là nói đời người mười phần thì có ba phần thu nhận lẽ sống). Diệp Châu cũng dịch như vậy. Nhưng ta đã từng gặp câu nói của Khổng tử:Ngô thập hữu ngũ nhi chí ư học (nghĩa là ta mười lăm tuổi đã chuyên tâm học tập) (xem Những câu nói bất hủ của Khổng tử tập 1 – Đỗ Anh Thơ – NXB Lao động – Xã hội 2006) thì đây phải dịch là mười ba. Nguyễn Duy Cần dịch là 13 và giải thích là hư, vô, thanh, tịnh, nhu, nhược, từ niệm, bất cảm, vi thiên hạ tiên, tri túc, tri chỉ, bất dục, đắc vô vi. Hàn Phi Tử lại cho là tứ chi (tay chân) với cửu khiếu (hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, miệng, hậu môn, sinh thực khí). Trong “Đạo đức kinh chú giải” ở trên mạng, thiền sư Viên Phổ giải thích: đó là số thất tình và lục dục của con người. Bảy tình là: hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ác, dục (vui, giận, thương, sợ, yêu, ghét, ham muốn) và sáu ham thích là: sinh, tử, nhĩ, mục, viết, khứu (thích sống, sợ chết, tai nghe, mắt thấy, miệng nói, mũi ngửi). Xét cho cùng, đây là cách lý giải của người đời sau. Ta vẫn chưa thật rõ ý con số 13 của Lão tử. Vì Lão tử nói “sinh chi đồ thập hữu tam. Tử ư đồ thập hữu tam” (Đường sống có mười ba. Đường chết cũng có mười ba). Vậy số mười ba của đường chết là gì?.
DỊCH:
Người ta sinh ra sống cho tới cõi chết cũng có mười ba.


BÌNH
Người ta thường nói: “nhân sinh tại thế, tựu thị đồ cá danh” nghĩa là người ta sinh ra ở đời là mưu đồ cái danh. Nguyễn Công Trứ lận đận chốn quan trường là thế mà cũng nói: “làm trai phải có danh gì với núi sông”. Nhưng đấy là những nhà nho, chủ trương nhập thế, coi trọng sự sống và danh vọng. Còn đối với Lão tử thì sao? Ông quan niệm “xuất sinh nhập tử” (sống là cửa vào cõi chết, chết là cửa vào cõi sống) và dĩ sinh sinh chi hậu (không nên coi nặng sống chết) mà nên biết nhiếp sinh (tức là thu tinh thần giữ điều hòa sự sống). Ngủ là một hiện tượng nhiếp sinh tự nhiên. Ngày nay ta ngồi thiền, nhập tịnh, tập hít thật sâu thật chậm, loại bỏ tạp niệm, tập trung tinh thần vào đan điền, (vùng rốn)… đều thuộc thuật nhiếp sinh tức là giữ cho sự trao đổi chất ở mức thấp nhất, não được nghỉ ngơi, tim đập chậm, thần kinh thư giãn… để kéo dài cuộc sống. Nhưng có một câu hỏi khó lý giải là: thời gian của con người thì có hạn (một ngày chỉ có 24 giờ) nếu ta đã nhiếp sinh tự nhiên đủ (ngủ sâu đúng 8 tiếng) thì thực tế ta chỉ còn có 8 tiếng làm việc, 8 tiếng cho sinh hoạt khác. Kéo dài thêm thời gian nhiếp sinh, ngồi thiền, không suy nghĩ gì, thế còn thì giờ làm việc được bao nhiêu? Theo nhiều nghiên cứu, có những phát kiến của các nhà khoa học ra đời trong khi đang nghỉ ngơi, thí dụ Archimedes đang tắm thì tìm ra định luật sức đẩy của nước. Newton đang ngồi nghỉ dưới gốc táo bỗng tìm ra định luật sức hút của vạn vật. Đó là chính lúc nghỉ, bộ óc ta đang hoạt động theo chiều sâu ảo tưởng, ảo giác, mộng mơ, tưởng tượng… chứ không phải nghỉ hoàn toàn. Vào khoảng 1950, Cleyman (Mỹ) dùng điện não đồ phát hiện ra rằng giấc ngủ con người cũng như các động vật khác, không giống như trạng thái hôn mê thần trí. Lúc này hoạt động đại não ở hai trạng thái, hai phương thức ngủ khác nhau, ta gọi là giấc ngủ phi nhãn động (mắt không chuyển động) tức giấc ngủ sâu và giấc ngủ nhãn động (mắt chuyển động) tức giấc ngủ nông hoặc giấc ngủ mộng mỵ. Đi vào giấc ngủ rất giống như ta bước xuống thềm tầng hầm sâu vậy. Ở bậc thềm thứ ba và thứ tư, nhịp thở hết sức bình ổn, tim đập đều, đường sóng lớn (sóng delta) của não thấy rất rõ. Ở bậc nông, vỏ đại não vẫn hoạt động và ta thường thấy mộng. Nhiều khi thấy những giấc mộng khủng khiếp, não phát tín hiệu tới thần kinh tủy sống, nhưng các chi đã nghỉ. Vì vậy, nhiều người nằm mê, bị “mộc đè” nhưng không kêu được, cử động được là hiện tượng này. Cũng có khi ta mơ tới việc làm đã qua, nghĩ ra những ý tưởng rất mới lạ. Giới văn nghệ sĩ và các nhà khoa học thường sống trong trạng thái này. Họ sáng tác nên những vần thơ, bản nhạc hay, những định luật… vào lúc trước giấc ngủ sâu hay sau khi dậy, đang nửa tỉnh nửa mê. Nhưng những ý tưởng sáng tạo đó thường vụt hiện, vụt mất nếu ta không kịp thời ghi chép lại.
 Con người có giấc ngủ nửa tỉnh có lẽ cũng giống như loài chim, khi ngủ thường đứng một chân, mắt nhắm chập chờn là tập tính nguyên thủy, để đề phòng kẻ thù.
 Thuật nhiếp sinh ví dụ như khi ta khó ngủ thì ta phải cắt hết mọi ý nghĩ, thở thật đều, thật sâu, thiền định ở trạng thái nằm … ta mới có thể tạo nên giấc ngủ ngon được. Giấc ngủ ngon là giấc ngủ sâu. Nếu con người mỗi ngày đã ngủ đủ tám tiếng (kể cả khoảng nửa tiếng vào buổi trưa) thì hiệu suất làm việc cả ngày hôm đó rất cao, không cần có thời gian nhiếp sinh thêm. Ngủ đủ 8 tiếng mà vẫn thèm ngủ, đọc sách cứ ríu mắt lại, thì ta phải đề phòng đó là bệnh lý. Ví dụ như bệnh cao huyết áp, tim mạch …
 Sự thực, ta chỉ nên kéo dài tuổi thọ khi ta còn có ích cho đời, đầu óc còn minh mẫn, chưa trở thành hình ảnh đáng thương trong con mắt mọi người. Cho nên:
Mỹ nhân tự cổ như danh tướng,
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.
(Người đẹp xưa cũng như danh tướng, không muốn cho người đời thấy mình khi đầu đã bạc).
Không nên kéo dài tuổi thọ thực vật, cũng không nên kéo dài tuổi thọ kinh nghiệm bảo thủ ….Đó chỉ là tham sống sợ chết, làm vật cản bước tiến của xã hội mà thôi. Phải tôn trọng quy luật thay thế và đào thải tự nhiên.
Chúng ta thường nghe câu:
Điềm đạm hư vô,
Chân khí tòng chi.
Tinh thần nội thủ,
Bệnh an tòng lai.
(Sống điềm đạm, giữ cho lòng trống rỗng. Tinh thần giữ ở trong thì bình yên, chân khí theo về, sẽ yên bệnh)
Hoặc:
Thanh tâm, quả dục luyện thần
(luyện cho lòng trong sạch, hạn chế ham muốn, luyện tập tinh thần).
Hải Thượng Lãn Ông có khuyên ta rằng:
Bán dạ nhất bôi tửu,
Bình minh nhất trản trà.
Nhất nguyệt dâm nhất độ,
Lương y bất đáo gia.
(Nửa đêm uống một chén rượu,
Sáng ra dùng một chén trà,
Một tháng một lần chăn gối,
Thầy thuốc không phải thăm ta).
Đó là những lời khuyên rất quý của nhà y học đã thấm nhuần triết lý cao siêu của Lão tử đối với lớp người đã bước sang dốc bên kia của cuộc đời, muốn còn thời gian sáng suốt, tổng kết kinh nghiệm giúp cho lớp trẻ.
38.  Sự quay trở về gốc
 萬 物 並 作﹐ 吾 以 觀 其 (*) 復

PHIÊN ÂM:
Vạn vật tịnh tác, ngô dĩ quan kỳ phục
(*) Sách của Vương Bật và các tác giả khác không có chữ “ kỳ ”
CHÚ GIẢI:
– Vạn (wàn): mười nghìn
– Vật (wu): vật
– Tịnh (bìng): cùng, hợp, sánh vai nhau.
– Tác (zùo): làm, tác động.
– Ngô (wú): ta. Lão tử tự xưng.
– Dĩ (ỷi): lấy đó, dựa vào đó.
– Quan (guan): xem.
– Phục (fù): trở lại, sự trở về gốc, căn nguyên (root).
DỊCH:
Vạn vật đều cùng sinh ra (xoắn xuýt lại với nhau) rồi ta lại thấy nó trở về gốc.

BÌNH
 Leggs thêm vào chữ bloom (xoắn xuýt lại với nhau) làm cho câu văn thêm sáng lên rất nhiều: All the ten thousand things arise, and I see them return. Now they bloom in bloom but each one homeward returneth to its root.
 Vương Bật chú: “dĩ hư tịnh quan kỳ phản phục phàm hữu khởi ư hư, động khởi ư tịnh cố vạn vật tuy tịnh động tác túy phục quy ư hư tịnh thị vạn vật chi cực đốc dã”. (từ hư tịnh mà quan sát sự trở về ta thấy phàm là  bắt đầu từ không, động khởi từ tịnh cho nên vạn vật mới tới chỗ cực điểm vậy).
Theo Lão tử, ở trạng thái động, trạng thái có là trạng thái bệnh, trạng thái hỗn loạn, rối như trăm mối như tơ vò. Ta phải quay trở lại tịnh hư, Đạo tức là trở về nhất nguyên. Tiếc thay, như trên đã nói, một thì không thể phát triển, chỉ có chia 2 rồi mới có thể biến thiên tới 4, 8 tới vô cùng của vạn vật.
 Ngày nay con người đã khám phá ra sự phân chia của tế bào, đã có thể nhân bản vô tính (cloning) cừu, dê, bò, mèo, chó …Con người cũng từ động vật mà ra. Tất nhiên khoa học sẽ tới lúc có thể nhân bản vô tính người (human cloning) nhưng có thể nhân bản được tư duy người hay không hay là sẽ làm cho con người trở lại thành con vật có hình dáng người?
Bởi vậy mà vấn đề triết học đạo đức cấp thiết phải được đặt ra trước khi chưa quá muộn.
Anh phi công ném quả bom nguyên tử xuống Hirosima sau đã phát điên. Nhà khoa học nuôi được trứng thụ thai trong ống nghiệm tới tháng thứ 6 đã loạn trí và sau đó phải hủy cái thai đi. Triết học đạo đức chính là luật đi đường để con người khám phá tự nhiên, lợi dụng quy luật cân bằng của tự nhiên chứ không phải tạo ra tự nhiên một cách chủ quan như nhiều người lầm tưởng.
Đức tin về một đấng tạo hóa, về cuộc sống tâm linh chắc chắn sẽ còn mãi mãi, kể cả đối với giới khoa học gia nghiên cứu về nhân bản vô tính tế bào gốc của con người. Nó sẽ có tác dụng làm cho con người bớt kiêu ngạo, bớt làm càn quấy… để khỏi bị tận diệt bởi con dao sắc “khoa học công nghệ”.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s