Tạp chí Nhà văn: Hai truyện ngắn của Trần Dần chưa công bố

LTS: Nhà thơ Trần Dần (tên thật là Trần Văn Dần) sinh ngày 23.-8-1926 tại thành phố Nam Định, mất ngày 17-01-1997 tại TP Hà Nội. Ông đỗ tú tài triết học thời Pháp thuộc trước khi đi bộ đội. Ông là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam từ năm 1947 và là một trong những văn nghệ sĩ tham gia thành lập nhóm văn nghệ quân đội đầu tiên. Những đóng góp cho văn học của ông đã ngày càng được ghi nhận. Tác phẩm thơ Cổng tỉnh được xuất bản năm 1994, sau đó được tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2008 và nhiều giải thưởng khác như Giải Văn học Nghệ thuật Thủ đô, Giải Thành tựu trọn đời… Sự nghiệp sáng tác của ông phong phú về nội dung, đa dạng về thể loại. Giá trị các tác phẩm của ông không chỉ nằm ở thơ, họa, dịch thuật mà còn ở văn xuôi nhu tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận…

Tạp chí Nhà văn trân trọng giới thiệu hai truyện ngắn chưa công bố trong di cảo Truyện ngắn Trần Dần do các con ông bảo quản lưu giữ. Hai truyện ngắn này được viết vào những ngày đầu thời kỳ hòa bình lập lại ở miền Bắc 1954. Nhà thơ Trần Dần Hai đứa trẻ vào đêm giao thừa Suốt đêm Ba mươi vào cái Tết hòa bình năm thứ nhất, tôi thong dong bách bộ trên khắp phố Hà Nội. Tôi dự định là sẽ đi tới kỳ không bước nổi chân nữa, chứ đi ngủ thì quanh năm, tôi thiếu gì lúc. Vào đêm nay, cái đêm đặc biệt Ba mươi Tết, thì một nhà thơ trẻ sống độc thân như tôi, cũng giống hàng triệu người dân khác, chắc đều thấy đi ngủ thật là uổng phí, chắc đều đang hồi hộp, xao xuyến ngóng đợi năm mới sắp đến. Vậy là tôi đi vung khắp các con phố. Một mình. Gần 12 giờ đêm. Cái giờ biên thuỳ giữa hai năm cũ mới. Trong tôi cứ trỗi dậy từng mớ tình ý nhập nhằng khó diễn tả, không ra vui cũng chẳng buồn, không rõ về hồi ức hiện tại hay quá khứ, về ước ao hay mơ mộng… Đó là một thứ hổ lốn tâm tư, hết sức lan man và lêu lổng. Chẳng hạn như tôi mường tượng ra một người con gái nào đó mình bất chợt quen rồi đem lòng yêu thương… giống cái thứ mộng mơ của đám trai chưa vợ. Thế rồi vẫn đang bước đi trong hưng phấn, tôi lại quay ra cãi vã tưởng tượng, với một người tưởng tượng, về một cuốn thơ có thực. Chưa xong, đến lúc quặt ra đầu phố Đ… thì một kỉ niệm yêu đương từ mười năm trước, thời tôi còn đi học trung học ở chính nơi đây, đang nằm phục sẵn trong tôi, đã chồm lên, xỉa vào tâm của tôi một nhát dao lá mía khá đau. Tôi mải chống đỡ với cảm giác nhói buốt thì đã tới cái ngõ P.Đ lúc nào không hay. Ngõ hẻm P.Đ dài hun hút, ngay cạnh sông Hồng. Cái mồm ngoác miệng ra phía bờ sông thì khá rộng, lại được xây cổng gạch, trát xi măng, ra dáng ngõ tử tế lắm. Nom hao hao như ga ra ô tô vậy. Một cái hàng nước nhỏ xíu, co ro ở đầu ngõ, lom dom một ngọn đèn hạt tấm vàng nhợ. Gió lạnh của năm tàn, đã vận tải xác lá bay tứ tung, tạt phứa cả vào bà hàng nước nhỏ xíu đang ngồi rúm ró, không rõ mặt, chỉ thấy một chiếc áo bông rách. Bông trắng lòi cả ra vô khối chỗ. Hàng bày bán cũng lèo tèo, chỉ có dăm chiếc bánh chưng còn nóng lỏng chỏng bên mấy gói thuốc lá, vài phong thuốc lào. Tôi ngồi nghỉ chân nơi hàng nước khá quen thuộc này. Bà chủ tên Gắm. Đêm Ba mươi, bà vẫn dọn hàng để mong bán thêm được ít nhiều cho kíp thợ còn làm quá giao thừa, ngoài bến phà kia. Chồng bà cũng có trong số đó. Tuy trong túi của tôi có đến gần hai bao thuốc, xong tôi vẫn cứ mua cho bà vài điếu lẻ. Rồi ngồi trên cái ghế thấp khấp khểnh, tôi duỗi chân, giơ tay vỗ về các bắp thịt mỏi nhừ… Tôi nói chuyện tếu, tưởng làm thế thì bà Gắm vui lên khi năm mới sắp về. Ai ngờ có người tiếp chuyện, bà cứ bám lấy tôi mà phàn nàn đủ mọi chuyện: “Nào kháng chiến mười năm về thế này đây…!”. (Tôi trộm nghĩ, chắc bà cụ tưởng đi kháng chiến về thì bà sẽ được làm vương làm tướng, được báo ân báo oán đây?). “… Nào hòa bình lại khổ hơn, đêm Ba mươi cũng chẳng được nghỉ!… Nào con nhà người ta ở trong thành thì quần nọ áo kia xúng xính, chứ đám con bà theo cách mạng lên chiến khu mà bây giờ, ngày Tết cũng chả có cái gì cho chúng nó mừng gọi là có!… Nào biết vậy cứ ở mẹ Hà Nội lại đâm sướng. Chả kháng chiến thì đừng, chứ được tiếng khen ho hen chả còn!… Nào tôi tủi lắm anh ạ! Cứ so bì với người ta, nhục không để đâu cho hết cái nhục!…”. Ấy thế rồi bà mếu xệch đi, khóc sụt sùi, giọt ngắn nối giọt dài. Bà lấy vạt áo bông lau những vệt nhăn đọng đầy nước mắt. Suýt nữa thì tôi đã lên tiếng ngay để giảng giải chính trị nếu bà không khóc như thế này. Để cho bà dù không thông hẳn, thì lý lẽ phải trái ít nhất cũng ngăn bớt được cái tốc độ của sự bất mãn đang cái đà lao đi, khó kìm hãm làm sao… Vậy mà trước những giọt nước mắt đau khổ đang rỏ ở cái ranh giới của năm tàn này, tôi đâm thành lúng túng. Rồi tôi cũng cố lựa lấy dăm lời an ủi, nhưng xét ra, toàn là những lời vô bổ cả… Vừa hay, có hai đứa bé tông tốc chạy xộc vào ngõ, cười nói như phá làm không khí thay đổi hẳn. Hai đứa bé dắt nhau vào một góc bên trái, đối góc với hàng nước, cách nhau chừng mươi thước. Trông chúng, chắc ai cũng biết đấy là những đứa trẻ vô thừa nhận, phải ăn mày mà sống. Đứa lớn hơn là con gái. Tóc nó cắt ngắn, rối bết từng cụm trên bộ mặt nhem nhuốc, nhưng thoáng nhìn cũng nhận ra khuôn mặt với cái mũi xinh đáo để. Đứa bé hơn cũng chạc tuổi đứa gái, khoảng chừng mười hai mười ba, nhưng có lẽ là con trai nên cọc người. Bộ mặt đứa trai trông đanh đanh như một đứa bé sớm khôn. Cuộc sống vỉa hè đã phết lên nó những nét láu cá cùng những nét quỉ quyệt thật khó chịu. Mỗi đứa khoác ở ngoài một cái bao tải, cùng khâu theo một kiểu. Cái áo bao tải lam nham chẳng ra cái kiểu gì. Nhưng để ý kỹ, tôi thấy nó có thể trải phẳng ra làm đệm và có thể làm chăn đắp được, mà khi mặc bao tải vào trông vẫn gọn, có đủ cả túi tử tế. Có lẽ là do đứa con gái khâu nên chăng? Tôi chưa kịp hỏi bà Gắm về hai đứa bé này, thì bà đã chép miệng nói trước: – Ấy dưng mà, cứ trông cái cảnh đám trẻ ăn mày ăn nhặt kia mới ngẫm ra lũ con mình còn sướng chán! Hai đứa này mới đến đây từ một tuần thôi! Khổ thân, chả có cha, có mẹ gì sốt! – Hai chị em hay sao thế bà? Nhưng mà trông không giống nhau, bà nhỉ? Lúc này bà Gắm đã quên hẳn cái khổ của mình, nét mặt rất ái ngại khi nói về hai đứa bé kia. – Không phải chị em đâu! Kết ngãi đó thôi. Vậy mà thân bằng mấy ruột thịt. Rõ khổ! Công an cứ đuổi chúng nó chạy quanh các xó xỉnh mãi! Giá công an có đến đây hỏi, tôi sẽ nhận liều chúng là con ông bác… Nhưng chắc sớm muộn cũng không che được con mắt các ông ấy đâu. Mà hai đứa này cũng ương bướng lắm cơ! Chứ ai lại không chịu ở trại thiếu nhi mà trốn ra ngoài. Chúng kêu rằng trong đó khổ với bị bó buộc lắm… Con nhà lại có cái chứng lạ, đầu đường xó chợ mà lại lấy làm sướng! Trong khi ấy, hai đứa đang ngồi tính sổ chi thu trong ngày hôm nay. Tôi để ý đến chúng mà lãng quên câu chuyện lúc nãy với bà cụ Gắm. Chính bà cũng không biết tên hai đứa bé. Chúng muốn giấu danh tính hay sao ấy? Bà Gắm đành gọi chúng là Cu với Gái. Chúng cũng nhận. Thế mà thành tên. Cu dốc túi áo bao tải ra, đếm được một ngàn. Nó còn sắm được ít món ăn Tết gồm hai cái bánh chưng to xụ với một bọc kẹo. Gái cầm lấy số tiền cất đi cẩn thận. Xong xuôi nó mới nắn khắp người Cu, từ gấu áo đến cạp quần, xem thằng Cu có ăn bớt ít nào không? Hai đứa hình như có giao ước với nhau, cái Gái làm cái khoản thủ quỹ nghiêm khắc để chèo chống cho cái gia đình lưu lạc nhỏ bé và sinh sống bấp bênh này. Khi móc tới túi trong cái áo bao tải của Cu, thì Gái bỗng kêu toáng lên: “Cái gì thế này, hử…?”. Gái móc ra một bọc giấy nhỏ. Cu hơi sượng sùng quay đi, miệng huýt tí sáo còm. Gái giở bọc giấy ra thì thấy hai điếu Côtáp… Gái liếc nhìn Cu rồi rút nhanh trong người mình ra một gói con và bảo: “Tao cũng mua cho mày hai điếu rồi! Nhưng thế này là cu cậu sai lời thề nhé! Cấm hút thuốc rồi cơ mà! Xa xỉ!”. Cu cười xòa: “Tết thì cũng nới vòng vây ra cho người ta một tí chứ lị!”. Gái ném tất cả thuốc lá cho Cu, môi bĩu dẩu ra. Đúng là một lối đồng tình độ lượng thật đặc biệt. Hôm nay Gái kiếm được chừng gấp rưỡi của Cu, mà sự mua sắm cũng tương đương. Ngoài ít mứt, lại có cả một chai rượu mùi con nữa! Gái còn xỉa ra có đến dăm bảy cái pháo đỏ, là những cái pháo lọt lưới mà Gái nhặt ở những nhà đốt pháo sớm, cốt để cho Cu… Hai đứa liên hoan ở cái góc nhập nhoạng. Gái ý tứ dúi cho bà Gắm ít bánh kẹo mứt, bảo là “cho các em”. Nó ép mãi, bà Gắm mới chịu nhận vài miếng mứt gừng vì sợ chúng tủi thân. Bà lại rót hai cốc nước nóng, bưng đến cho hai đứa trẻ. Lúc này, pháo giao thừa nổ phá lên. Hà Nội như quê hương của các loại âm thanh báo hiệu mừng vui. Phố to, ngõ hẻm đang chen chúc biết bao con người chứa chan xúc động trong giờ phút đẹt đùng này. Xin chớ có ai rỏ một giọt lệ nào, dù là một giọt lệ đáng rỏ nhất! Tôi sung sướng dõi theo cái hạnh phúc tiệc tùng tay đôi của hai đứa bé. Cả hai đứa cùng uống rượu. Rồi thì Gái xếp các thứ lá lẩm đem bỏ đi và trải một chiếc áo tải làm đệm, còn một chiếc để đắp. Trong khi đó Cu vẫn ngất ngưởng ngồi tu cái chai, từng ngụm nhỏ, khề khà nhắm với khói Côtáp. Trông Cu đặc là một tay nghiện, sành mép lắm. Nhưng Gái, nghĩ thế nào, hất chăn nhỏm dậy. Nó đến chỗ Cu, giật lấy cái chai còn độ một phần ba, thủng thỉnh thút nút lại, đem về chỗ nằm. Cu ngồi hút thuốc lá, lạnh lùng một lát, rồi cũng bò đến bên Gái. Nó bảo: “Giả chai đây!”. Gái không đáp, cứ quặp cái chai trong lòng, kéo chăn nằm lặng thinh. Cu dọa: “Không giả, ông cù cho bây giờ!”. Gái đáp: “Cho cù, tao chẳng sợ!”. Hình như bé gái ấy không có máu buồn! Cu gật gù cái đầu khô khẳng, nhếch mép ranh mãnh, cười khà: “Thế ông… ông giở cái trò… cái trò ấy nhé!”. Gái hỏi: “Trò gì?”. Cu nói: “Còn vờ! Trò… trò cu-nắn ấy!”. Gái hoảng lên: “Không sợ người ta chửi cho à?”. Cu trâng tráo: “Thứ tao mà lại còn sợ chửi nữa à?”. Nói đoạn, nó chui vào chăn, lục xục… Gái hốt quá, vùng dậy, đành chịu đưa chai cho nó. Nói vậy thôi, Cu không uống nữa. Vừa hay, có một cặp trai gái phía xa. Tôi trông thấy họ trong bóng tối thì chụm đầu, đến chỗ sáng thì tách nhau ra. Người con trai vờ vĩnh nói một câu bâng quơ: “Mai lên bà em nhé!”. Họ ăn vận rất diện. Người thanh niên đầu trần, chải bóng, com-lê nâu. Người con gái vận áo Sơ-vi-ốt đen, lót xanh, dưới thè ra cái tà áo gấm đỏ chữ thọ vàng. Vừa qua khỏi ánh đèn, lại vào bóng tối, họ tưởng là an toàn nên đã chụm đầu vào nhau, tay người con trai lả lơi đỡ lưng người con gái. Cặp này nếu không phải là già nhân ngãi thì cũng mới vợ chồng non thôi. Tôi đang lẩm bẩm đoán vậy thì đã thấy bé Gái chạy ra, lẽo nhẽo theo sau họ. Nó chìa bàn tay nhỏ xíu mà gày gò ra xin. Họ từ chối: “Không có tiền lẻ!”. Cu cũng vừa chạy phóng đến, đứng cạnh Gái. Người con trai kia gắt: “Đã bảo không có tiền lẻ mà!”. Cu đáp lại: “Thì cho tiền chẵn, tôi trả lại vậy!”. Người con gái đẹp mã kia quay ra mắng lũ trẻ: “Ăn mày mà sang thế? Tiền chẵn cũng không có! Đã nói không cho là không cho!”. Có lẽ cái chữ “ăn mày” nó nhục lắm nên Cu mới rụt phắt tay lại, chống khuỳnh cạnh sườn, quát tướng lên: “Không cho thì thôi, chứ làm bộ với ai hử con kia? Có phải thời Đế Quốc đâu hả?” Tức thì nổ ra một cuộc đấu khẩu dữ dội. Không ai ngờ rằng câu chuyện lại xảy ra đến cái nước ấy. Người con trai lịch sự thế kia mà khuỳnh hai tay, rẽ vet-tông ra chống nạnh, đứng hiên ngang quát: “Đồ khốn nạn! Đồ mất dậy!”. Anh ta giậm chân, vung đấm tay, nhẩy bổ lên hai đứa bé. Nhưng hắn ta chỉ vồ được cái khoảng trống không! Hai đứa đã chạy bứt đi. Hắn đuổi theo, hai bên chửi nhau không ngớt, khua động đường phố tĩnh mịch… Nhất là khi mùa xuân độ lượng đã sang, bầu trời tối đen trên thành phố đang ửng lên những ánh phản quang màu đỏ, thì một cuộc chửi nhau như thế, nghe mới lạc điệu và rợn tai làm sao! Tôi đứng dậy, theo bản năng, nhưng rồi lúng túng chưa biết nên xử sự như thế nào? Hai đứa bé đã rẽ ngoắt vào đầu ngõ bên kia. Người thanh niên áng chừng không có cách gì nữa, có khi cho thế cũng là may, mới lộn lại. Cặp trai gái tiếp tục đi, bước rảo hơn, và không thấy họ chụm đầu vào nhau nữa. Cũng chưa thôi! Hai đứa bé lại đã hiện ra, đứng chửi: “Đồ khốn nạn!” vang um cả lên. Cặp kia rảo cẳng miết, không ngoái cổ lại, rồi gặp một cái phố ngang, họ rẽ biến đi mất. Cu với Gái lộn về cái ngõ Ga-ra ô tô. Tôi đinh ninh sẽ được thấy hai bộ mặt đắc thắng của hai đứa bé ấy! Ngờ đâu, mặt hai đứa đều sa sầm cả lại. Cu bảo: “Về bố nó Trại là hơn! Nhục lắm!”. Gái phân vân: “Liệu Trại người ta có nhận không?”. Cu tự tin: “Chẳng nhận cứ nằn nì ăn vạ, khắc phải nhận! Như thế này thì nhục lắm! Mẹ bố chúng nó “khinh người!”. Gái trách móc: “Tại mày rủ tao đi chứ!”. Cu cáu: “Mày chẳng thích thì ai rủ được”… Đến lúc hai đứa đã đắp chăn rồi, tôi còn nghe chúng cảu nhảu với nhau. Rồi thấy tiếng Gái khóc nức nở, tiếng Cu dỗ: “Đừng nhớ mẹ nữa đi, Gái!”. Xong dỗ cũng chả được, tự dưng Cu cũng khóc nấc lên! Không hiểu có phải vì sự sỉ nhục vừa qua, nó khơi gợi trong em tất cả những gì là cay đắng nhất của cái kiếp vỉa hè, những cái thú vui của sự lang thang vẫn không át hết được những điều tủi nhục! Hay là chỉ vì, cũng như Gái, Cu nhớ đến một hình ảnh thân yêu máu mủ nào? Nhưng chỉ một lát sau, hai đứa bé đã ôm nhau ngủ, như đã quên hết tất cả mọi sự ưu tư phiền muộn. Lúc ấy, tôi cứ ước làm sao mình có cái phép gì, có thể cung cấp cho các em, một giấc mộng đẹp nhất trong các giấc mộng có thể có trên cõi đất. Giấc mộng thật nhiều bướm chim, thật nhiều mứt mật… Tôi rời khỏi ngõ P.Đ, sau khi đã trả tiền cho bà hàng nước. Còn một số tiền lẻ thừa, cũng kha khá, tôi dặn bà, đưa cho hai đứa trẻ. Cũng không phải là khi nào tôi cũng độ lượng quá như thế. Xong lúc ấy, tự dưng tôi có cái ý muốn như là đền bù một cái gì đó cho hai em bé, để các em thấy rằng, bên cạnh những cái vị đắng của cuộc đời, cũng lại còn khá nhiều vị ngọt… Lúc tới một ngôi đền gần Hồ Gươm, tôi thấy cái hình ảnh thần tiên của tục đi hái lộc đầu năm. Thực nhiều màu sắc thanh lịch, và nhiều nụ cành tươi hơn hớn, đậm đà cái không khí tẩm nhựa say, thừa thãi tình yêu. Tất cả cái quang cảnh ấy, mãi lâu vẫn không thể thay thế được trong tôi, cái hình ảnh buồn bã của hai đứa bé ôm nhau ngủ trên đỉnh đầu mùa xuân năm ấy… Tháng 12-1957 Chú bé làm văn Gió bấc thổi như điên, gió ào ào lùa vào trong ngõ, gió vặn xoắn lấy bộ quần áo rộng thùng thình của Lư, tạo ra tiếng phần phật khi em đang thoăn thoắt chạy thi với gió. Hai tay chú bê lễ mễ mâm cơm. Cái mâm gỗ xin xỉn thật là to hơn cả người chú bé Lư. Lư chạc 13 tuổi, cái đầu húi ngắn mà bé như một quả đấm, thò ra trên cái áo bu-dông mầu nâu bạc rộng thùng thình. Cái quần kaki cũ mà chú đang mặc cũng rộng. Ống quần dài lại to như chân voi phải vén lên tới 2 gấu, làm thân người săn sắt của chú lọt thỏm đi trong bộ quần áo rộng quá khổ. Chắc hẳn là quần áo của người lớn nào đó cho chú. Chú Lư tạt ngang vào cầu thang, bê mâm cơm lên gác, chồng bát hơi xô nhau. Chú lấy chân đẩy cửa rồi đặt mâm lên chiếc bàn nhỏ. Một chút gió lùa thốc sau gáy chú vào buồng. Gian buồng nhòm xuống phố, nhòm lên trời, khung cửa sổ mở rộng thấy mấy nóc nhà trước mặt rét co ro dưới một mảnh trời đông xin xỉn. Cả gian buồng này có đồ gỗ duy nhất là chiếc bàn nhỏ kia, với hai chiếc ghế mây, một chiếc đã thủng mặt, trên có kê một tấm ván gỗ. Ở một góc nhà nằm thu lu cái hòm gạo, xưa từng là cái hòm đựng sữa hay đựng cái gì đó mãi tận bên nước ngoài. Bây giờ nó nằm ngoan ngoãn xó nhà bên chai nước mắm, với nồi niêu cũng thường nằm thon lỏn ở đó. Ở góc buồng đối diện là một cái chiếu còn mới, hoa đỏ chon chót, cuộn tròn phủ lên trên ba lô, quần áo, chăn màn. Tất cả thành một đống khá to nằm nép cạnh tường. Chủ nhân nhà này ngủ ở đây. Ban ngày chiếu được cuộn lại cho gọn mắt. Cả gian buồng bày biện sơ sài còn có thêm một chiếc dây thép vắt khăn mặt, với một cái chổi vàng xỉn khiêm tốn nép vào tít một xó nhà ít ánh sáng nhất. Thế là hết. Ánh sáng mùa đông một ngày rét ngọt không đủ sức nóng sưởi ấm cái không khí lạnh lẽo này. Gian buồng trông cứ trơ ra như một ngườicởi trần đứng trong gió bấc. Nhưng được cái là tất cả đều sạch sẽ, gọn gàng, khiến gian phòng nhỏ có thể kéo lại được khá nhiều cảm tình. Chú Lư khoan khoái nhìn mâm cơm đạm bạc với một đĩa tép kho nhỏ, một đĩa bắp cải luộc và một tô nước đánh gừng còn bốc khói. Rồi chú nhìn quanh quẩn. Không biết nghĩ sao mà sàn gác sạch thế, chú vẫn vớ cái chổi quét một lượt nữa. Chú Lư mồ côi cha từ lúc còn ẵm ngửa. Đến năm lên bảy ra ngoài kháng chiến, chú lại mồ côi nốt mẹ. Bây giờ ở gian buồng này, chú sống với người anh ruột lớn gấp đôi tuổi chú, tên là Khiền, cán bộ một cơ quan Trung ương. Chú hiện đang theo học lớp 6 một trường tư. Thật là cả một sự gắng gượng hết sức của người anh ruột mới có thể lo cho chú Lư được đi học. Bởi vì một xuất sống phải chia xẻ thành hai xuất sống. Riêng một đồng lương của người anh thôi, dù khéo co kéo đến đâu cũng khó mà đủ đầy được cho cả hai anh em. Nhưng anh Khiền đã từng biết những ngày ăn toàn măng mà vẫn làm việc trong những lán rừng kháng chiến. Khiền lại thương em lắm. Anh không muốn em mình sớm vào đời, sớm đóng góp với hai bàn tay còn non nớt và bộ óc thất học. Tình yêu em đã làm anh nẩy ra phương kế phải thi hành một chính sách tiết kiệm hết mức. Đúng là nghĩa đen của chữ thắt lưng buộc bụng. Khiền nhịn quà sáng, cai cả thuốc lá, từ chối mọi giải trí của thành phố, lại còn tiết chế cả lòng thương em nữa. Lâu lắm Khiền mới lại dúi cho em trăm bạc ăn quà hay đi xi-nê ngoài bãi. Người anh ấy thu vén chi ly, thực là một sự hy sinh cực nhọc vì tương lai của em. Hòa bình đối với anh, hẳn lại là một cuộc chiến tranh mới, cũng tự nguyện gian khổ và cũng cao đẹp như những ngày kháng chíến trước kia. Tính Khiền ít nói, hình như là anh tiết kiệm cả ngôn luận. Đối với em cũng thế, thương thì để bụng chứ hàng ngày anh nghiêm nghị lắm. Khiền đi rồi lại về, chẳng mấy khi hỏi han trò chuyện với em cả. Chú Lư vừa yêu vừa sợ anh. Ban tối có chung nhau ngọn đèn 25w nến vàng nhòe bên bàn làm việc thì cũng im lìm mỗi người mỗi việc. Người anh đi vắng gần như cả ngày, có khi đêm cũng còn đi, chẳng biết là học tập hay chạy vạy một món gì đó. Riêng chú Lư bầu bạn nhiều hơn với bốn bức tường này, bộ bàn ghế nọ, hay cái chiếu kia. Chú đi học một buổi, còn ở nhà làm những việc vặt cùng bếp núc. Bây giờ bữa cơm sáng đã chuẩn bị xong xuôi, chú Lư khoan khoái đợi người anh về cùng ăn dù bụng đói đã lâu. Chú ra chiếc ban công nhỏ để nhìn xuống phố. Gà vịt ngoài đường có đến chục con đang rỡn. Chợt đầu phố, một chú gà sống đỏ xù lông mổ nhau với một chị vịt trắng. Thế mà chị vịt lại được chú gà hung hăng. Phố vắng tanh, ngoài lũ gà vịt chỉ có lũ trẻ con. Từ đứa mới lũn chũn biết đi đến đứa lớn bằng chú, hơn chú, phải đến chục đứa. Đặc biệt có một đám chơi bi bể, một tốp con gái xoè váy nhẩy dây. Phố nhỏ chính là thiên đường của trẻ con. Xe cộ chả vắng, bố mẹ mới thả cho con cái ra nô đùa trong lòng phố. Chú Lư từ trên gác cao cúi cái đầu lởm chởm tóc khô khấc, đưa cặp mắt hoanh hoảnh mà thèm thuồng hết nhìn đám bi bể lại sang nhìn đám nhẩy dây, rồi lại quay xem lũ gà vịt có lắm trò gà vịt. Chán mắt, chú lại vu vơ nhìn nhà này nhà khác. Chú ngắm cái ô cửa tròn của cái nhà mầu đỏ trông huếch hoác như con mắt chột. Chú quay nhìn sang bên kia. Nơi có cái sân thượng phơi quần áo lắm màu loạn cả mắt. Còn chỗ này nữa, mấy tia khói nhàn nhạt đang bay lửng trên mái tôn gian bếp căn nhà đầu phố, thường khi có con mèo đen nằm sưởi nắng. Chú Lư thuộc cái phố này lắm. Thuộc đến nỗi chú có thể nhắm mắt mà kể vanh vách từ cái nhà xanh lơ thò ra ngoài, đến cái nhà đỏ 3 tầng chói cả mắt, rồi tiếp đến cái nhà vàng thụt vào. Cứ vậy chú điểm hết phố, chỗ nào cổng sắt tường gạch, chỗ nào tường lở mấy chỗ làm trơ ra những cái mụn loét đỏ. Tất cả chỉ có mười lăm nóc nhà thôi mà. Vậy mà cái thì thò ra, cái thì thụt vào, mầu vôi đều đã nham nhở. Cả phố cứ như một hàm răng khấp khểnh và hà sún. Vậy mà không biết làm sao mà chú yêu cái phố nghèo này đến thế. Cái phố xộc xệch, cũ kĩ, nhỏ xíu đến nỗi ban đêm không có nổi một ngọn đèn đường, nhưng nếu phải chuyển đi nơi khác, hẳn chú Lư nhớ, buồn lắm. Ngày nào chú cũng ngắm cái phố này dăm bẩy bận mà không chán mắt, vào cái lúc cắp sách đi về nhà, lúc ngồi học bài hoặc khi nấu cơm xong, được rỗi rãi như sáng hôm nay. Tối hôm ấy, anh Khiền đi vắng. Trời mưa phùn, gió rét buốt thổi long sòng sọc trong ruột phố. Một mình một ngọn đèn, chú Lư nghiêng cái đầu húi ngắn làm luận quốc văn. Chú chăm chú lắm. Nhà chả đông chủ, gian buồng bên, đâu như có khách nói cười ầm ĩ, nhưng tiếng động tới buồng Lư cửa đóng kín mít nên đã trầm đục đi. Chú đang tập trung suy nghĩ. Tai chú chẳng còn nghe thấy tiếng động bên ngoài mà chỉ nghe thấy tiếng bút sột soạt. Chú nắn nót từng chữ, mấp máy môi mà viết. Hình như chữ nghĩa nó biết nói hay sao ấy. Chúng cứ reo réo lên trong đầu chú, trong màng nhĩ chú, đến khi chúng đã lũ lượt nằm tím đặc trên trang giấy mà vẫn như tiếp tục rầm rì. Góc nhà, một con chuột nhắt cậy nồi cơm lục cà lục cục mà vẫn không bị chú Lư xuỳ xuỳ như những lúc khác. Đầu đề bài luận: “Hãy tả cảnh êm ấm gia đình em một buổi tối” Từ lúc chép đầu đề bài luận, chú Lư cứ lo mãi. Sao mà nó hắc búa thế! Không phải vì chú bé kém về văn mà ngược lại, văn là môn khá của chú. Thầy giáo nhiều khi bình văn chú làm kiểu mẫu cho cả lớp học. Nào tả ngày tiếp quản, nào tả thủ đô ngày quốc khánh v.v… những chuyện ấy chú “coi bằng tép”. Giọng văn chú chẩy reo như suối, chẳng như một số bạn khác bí quá phải lục báo ra mà “cóp”. Chú thì chú không cần giở cái trò ấy ra, cứ tự chú viết mà ối bạn phải tấm tắc khen là “Như báo ấy!”. Nhưng đến lần này thì chú ngồi lắc lư lo rối cả ruột gan lên. Chà, khó ơi là khó! Tả cảnh gia đình một buổi tối, lập tức chú thấy hiện ra trước mắt anh Khiền nghiêm nghị ngồi lặng thinh bên bàn làm việc, trong một gian buồng lành lạnh và vàng nhợ ánh đèn. Thế thì tả làm sao cho hay được? Mà lại còn êm ấm nữa chứ! Đêm ngủ với anh thì cũng ấm thực, nhưng không đúng đầu bài. Vả lại khi ngủ chung vậy, bụng chú còn lo ngay ngáy là nằm phải giữ ý giữ tứ, kẻo nhỡ ngủ quá say kéo bừa chăn của anh. Ấy có lần như thế, anh Khiền đập chú dậy, dù không mắng mỏ gì nhưng chú cứ sờ sợ anh thế nào ấy… Thế thì làm sao mà trôi được bài luận này? Chú nghĩ tới đôi mắt trô trố ốc nhồi của thầy giáo cứ đảo sòng sọc sau chiếc kính đen to tướng. Nếu mình tả cho đúng cái gia cảnh của mình thì úi trời, sợ thầy lắm, thầy sẽ quở cho là vô chính trị. Chú Lư bấm bụng, buộc phải nghĩ ra hình ảnh một gia đình êm ấm khác thôi. Có vậy mới được điểm tốt. Bây giờ thì chú Lư đang vùi đầu viết. Thực là may, khi nẫy chú mở đầu được một câu khá thú vị: “Tối nào gia đình em cũng quây quần quanh ngọn đèn sáng ánh điện, trong một căn phòng rộng có bàn ghế đẹp đẽ. Cảnh gia đình em thật đẹp như trong một bài thơ …” Câu mở có cảm hứng phá toang cửa cho luồng văn trong đầu chú như thác lũ tuôn ra. Chú viết kín đặc cả trang giấy nháp. Lát sau thì chú như quên cả mọi cảnh bên ngoài. Chú mê man theo ngòi bút chạy. Chú say sưa nghe những cái gì nó cuồn cuộn trong lòng. Khi thì nó rạt rào lên, khi thì nó lắng lịm xuống, nó im lặng mà nó rì rầm, nó rì rầm mà lại im lặng. Khi thì chữ nghĩa nó chen nhau, nó xô đẩy nhau nhiều quá, đông quá, nhung nhúc những chữ. Chú luống cuống chọn chữ này bỏ chữ kia. Khi thì chữ nghĩa nó lại đi đâu cả, đầu óc chú bỗng trắng bệch ra, chú lại phải cắn bút khổ công tìm gọi nó đến. Rồi bỗng lại hoa cà hoa cải trong đầu óc. Chú đắm đuối đến lịm đi trong cái công việc thú vị này: “… Bố tôi ngồi ở góc bàn đọc báo, vẻ mặt đăm chiêu học tập. Mẹ tôi ngồi khâu vá ở giường bên. Bỗng mẹ tôi hỏi bố tôi: – Báo hôm nay có gì vui không? Bố tôi tạm bỏ tờ báo xuống và thân ái giải thích cho mẹ tôi rằng: – Báo không phải là để mua vui giải trí, mà báo là để học tập cho thông suốt đường lối chính sách của Đảng, của chính phủ và của mặt trận tổ quốc. Mẹ tôi nghe vậy xong hí hửng vì mới được đánh thông về lợi ích của báo chí, và rồi mẹ tôi lại cúi xuống khâu…” Trang giấy nháp của chú Lư gạch xóa vài chỗ. Có đoạn chú viết sạch và nắn nót, có đoạn viết láu đi. Ngoài phố mưa phùn vẫn rả rích châm buốt các nhà cửa nép đầu vào nhau. Gió vẫn kéo xác lá xềnh xệch trên đường. “… Còn tôi thì ngồi ở bàn, bên cạnh người cha thân yêu. Tôi đang làm bài toán. Bài hôm nay khó quá. Hai cái vòi nước chảy vào một cái bể nước, một cái lại chảy ra. Tôi vốn kém về môn toán, nhất là về cái món vòi nước thì tôi càng sợ lắm. Tôi cứ cắn bút loay hoay mãi định hỏi bố tôi, xong tôi lại sợ là mắc bệnh ỉ lại, không lấy tự lực cánh sinh làm chính. May quá, bố tôi phán đoán ngay được tư tưởng tôi nên bố tôi đến lãnh đạo tôi, giúp đỡ cho tôi vượt qua sự khó khăn gian khổ này. Bố tôi chỉ giảng giải khêu gợi sự nỗ lực chủ quan của tôi thôi, chứ bố tôi không có tác phong làm thay”. Chú Lư dừng bút nghĩ ngợi. Lại bí rồi. Một con nhện to bằng lọ mực đang đậu im trên vách tường trước mặt, chú Lư nhìn thấy nó. Mọi khi á, chỉ vài bước chân, một cái vung tay thế là chộp! Chú Lư được một món quà đêm thơm lựng! Xong đêm nay chú làm thinh. May cho con nhện, văn chương đã cứu mạng cho nó. Chú Lư đang còn đắm đuối ở đoạn này. Con mắt chú thường khi ráo hoảnh, giờ này nó đâm ra dìu dịu mơ mộng hơn. Và cả nét mặt khô khốc của chú cũng dễ thương đi chút ít. Chú lại chúi đầu xuống gần sát trang giấy, ngòi bút lại chạy, gạc đi, xoá lại, ngoặc lên. Cứ một chốc một lát là chú đọc lại, khi đọc một đoạn, khi đọc lại từ đầu. Tưởng là bí, hóa ra lại khoái gớm! Có đoạn thật sướng tai ghê! Đến một đoạn chú nói về các em… thì chú xúc cảm rất mạnh, bụng cứ xốc lên, con mắt hơi ươn ướt. Chú nhớ đứa em gái quá! Con bé gày gò da xanh tái, hiện nó ở tận Nam Định. Một người chú họ làm nghề thợ may nhận nuôi cho. Chú viết: “… Các em tôi thì chúng nghịch quá! Chúng tranh nhau con búp bê dân chủ mà buổi chiều, bố tôi mới mua ở cửa hàng mậu dịch Tràng Tiền. Mẹ tôi thấy chúng mất đoàn kết với nhau nên mới gọi chúng lại rồi ôn tồn giải thích. Sau đó thì các em tôi cũng thông suốt ngay. Chúng thay nhau ẵm con búp bê trong một bầu không khí thân mật…” Gió ghé mồm thổi phù vào khe cửa sổ. Hơi lạnh phả lên mặt chú Lư. Chú vẫn mê man tả đứa em gái với con búp bê. Ngọn đèn toả ánh sáng vàng nhờ. Im lặng trùm lên chú bé mồ côi. Chú viết như say, hí hoáy gạc xóa. Chú như mê đi. Rồi chú lặng cả người… Chú thấy hiện lên rõ rệt cái gia đình êm ấm đó như thực tại. Nào cha ở góc bàn, nào mẹ ở phản bên, nào đứa em gái lăng xăng ôm con búp bê hồng hào tóc vàng mượt… Chú Lư mê lịm đi, cả người chú run lên. Từ đôi mắt long lanh, một hạt nước mắt lăn từ từ trên gò má khô của chú. Bỗng chú Lư gọi to lên: “Em Hòa!”. Chú gọi tên em gái ở xa, âm thanh tiếng gọi làm vỡ tan mất giấc mơ đẹp vừa hiện lên trước mặt chú. Gian buồng lạnh lẽo ánh đèn vàng lại ôm lấy chú bé cô đơn. Ngày hôm sau ở lớp học, thầy giáo cho chú 9 điểm bài luận quốc văn. Lồi cả con mắt ốc nhồi lên sau cặp kính cận, thầy khen văn chú đúng lập trường trước khi đứng trên bục bình văn của chú làm mẫu cho cả lớp hàng mấy chục thiếu niên nghe. Thầy khuyến khích: nếu cứ đà đó mà đi thì sau này chú có thể trở thành nhà văn lớn. Lời tác giả:“Văn chương có khả năng tạo ra mộng thật đẹp. Nó có sức mạnh đánh lừa được ngay chính bản thân tác giả và đánh lừa được cả người đọc nữa!” 07-11-1956 T.D

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s