Đô Anh Thơ(Docago): Nhớ…quên…tiếng Nghi lộc (I)

Cuối năm 1946,  toàn quốc kháng chiến , vì gia đình nghèo không thể theo trường trung học Nguyễn Công Trứ ( College Nguyễn Công Trứ) sơ tán lên Nam Đàn và Anh Sơn , nên đầu năm 1947 Docago về học trường Cấp 2 Tư thục Nghi Lộc. Thày dạy văn là Bùi Văn Nguyên. Hè năm đó, ông hướng dẫn học sinh chúng tôi đi sưu tầm phương ngữ, ca dao tục ngữ , truyện kể …trong huyện cho ông. Tiêc rằng sau đó . ông đi học them rồi ra dạy cấp 3 Phan Đình Phùng ( Hà Tĩnh), tiếp theo ông ra dạy ĐHSP Hà Nội và được phong Giáo sư Hán Nôm. Công trình nghiên cứu của ông hình như bỏ dở.

Học trò của ông quê ở Nghi lộc khá nhiều, nhưng ít có ai theo đuổi sự nghiệp của ông trừ giáo sư Nguyễn Đình Chú .

Là một người kiến thức hạn hẹp, lúc trẻ phải qua nhiều ngành kỹ thuật, đến tuổi già mới học them, viết và dịch sách cổ văn, nên trong tâm khảm của mình vẫn dành một góc trăn trở muốn có một vài ghi chép về tiếng nói đặc thù của quê hương .

Bởi vậy, trên blog này độc giả cho phép Docago gặp gì ghi nấy để may ra sau này có ai đó quan tâm đào sâu thêm phương ngữ này :

1.- Trầu chè:

Dân miền Yên Đại, chợ Sơn ( nay gần thị xã Cửa Lò) nổi tiếng về trồng cây trầu không và cây chè.  Xưa họ quen gọi chúng là b’lù và b’le . Ngoài cây chè ( tea, 茶), để đã khát nước trưa hè gió Lào, họ còn quen uống chè vối đặc rát cổ, bằng lá và nụ cây vối, chè vằng( một loại cây leo mọc xen trong các hốc đá, lùm cây mà họ thường đi hái về đúng ngày 5/5 âm lịch hàng năm)

Cây trà ( chá  茶) cũng là cây đặc sản vùng Tứ Xuyên và Vân Nam (TQ), vùng cận và nhiệt đới ẩm.  Bởi vậy, cho phép ta đặt dấu hỏi

Phải chăng đã có sự biến âm từ B’le-> chè-> trà  ?

               2.-  Mươn : Đây là một cái bàn ăn cơm làm bằng tre có bốn chân như cái chõng, cái liếp kết rời có thể cọ rửa hang ngày ngoài ao rất tiện lợi .

Docago chưa rõ đây có phải là biến âm từ mâm hay không?

Một hình ảnh không bao giờ quên ở thôn quê xưa. Chỗ ăn cơm thường ở bếp, gần chuồng trâu bò. Ruồi nhiều vô kể, đậu kín mươn. Lại nữa: chú vàng, chú Vên thường nằm chờ dưới đó, thỉnh thoảng đứng lên, ngoe nguẩy đuôi…có khi đụng cả vào thức ăn của người. Nồi cơm để trên kieng tre cao. Có con hỗn còn ghé mũi hít hít nữa.

3. Rằn:  Rằn là chuồng trâu bò làm bằng những than cây gỗ tạp quanh vườn. Chỗ trâu bò ra vào tháo ra ghép vào được. Đêm người ta nêm chặt. Xung quanh trống để dễ cào phân với rơm ra ủ ngay gian bên canh chờ phân hoai . Đây là nơi ruồi nhặng, ấu trùng bọ hung sinh sống. Chúng cũng góp phần đẩy nhanh qua trình phân hủy chất thải của trâu bò.

Tre em từ nhỏ đã biết tự đi vê sinh . Các em thường nhờ chú vàng dọn sách . Em nào lớn hơn, đã biết lấy giẻ rách giắt cạnh rằn bò để lau. Lau xong lại nhét vào chỗ cũ.

Bên trên chuồng trâu, dân Nghi Lộc xưa có khi bắc ván để cất thóc. Ở đó không có chuột vì mèo khi nào chán nằm bếp, lại leo lên đó ngủ . Đố các bạn câu “ Ló gác trên rằn tru”  của dân Nghi lộc nghĩa là gì các bạn có đoán ra không?.

Từ “ rằn “ có thể là từ Việt cổ./.

Kỳ sau: các từ Nọ( hay nõ) . rùng

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s