Cao Việt Dũng: Vài khác biệt trong cách nhìn lý thuyết văn học theo “kiểu Mỹ” và “kiểu Pháp”

Tóm tắt:
Bài viết có xuất phát điểm là việc đọc tác phẩm The Blackwell Guide to Literary Theorycủa Gregory Castle. Lý thuyết được trình bày như thế nào? Nó được hình dung ra sao, và lịch sử của nó được tái hiện khác nhau đến mức độ nào tùy thuộc nhà nghiên cứu? Đặt trong đối sánh về cách nhìn giữa các nhà nghiên cứu Mỹ và Pháp về cùng một số vấn đề cũng như thời điểm lịch sử, sự khác biệt này sẽ được miêu tả không chỉ như là một khác biệt bề mặt mà còn liên quan đến cách quan niệm chung về lý thuyết cũng như cách thức xử lý kích thước lịch sử đặc trưng ở mỗi “trường phái”. Từ đây mà có những gợi ý đối với tiếp nhận lý thuyết nước ngoài tại Việt Nam: vấn đề giờ đây đã được chuyển dịch nhiều hơn từ tiếp nhận cái gì sang tiếp nhận như thế nào, với ý thức rõ ràng về tương đồng và khác biệt.
*
Bài viết này lẽ ra sẽ chỉ gói gọn trong phạm vi “đọc sách” với đối tượng khảo sát làThe Blackwell Guide to Literary Theory1, một Hướng dẫn về lý thuyết văn học do Gregory Castle2 thực hiện cho nhà xuất bản Blackwell. Nhưng quá trình đọc công trình đó đã làm nảy sinh một số suy nghĩ khác, và cuối cùng bài viết đã chuyển sang một hướng hơi lệch với ban đầu: sử dụng Hướng dẫn về lý thuyết văn học như một điểm xuất phát để đi đến một vấn đề rộng hơn, đồng thời cũng lý thú hơn, đó là đưa ra một số nhận xét về khác biệt trong cách nhìn nhận, hình dung và phát ngôn lý thuyết giữa hai “trường phái” ở đây tạm gọi tên là “kiểu Mỹ” và “kiểu Pháp”. Nội dung chi tiết cuốn sách sẽ được trình bày dưới dạng tổng thuật ở phần Phụ lục của bài viết.
“Cách đọc” này có lợi thế là bao quát vấn đề ở khía cạnh cọ xát giữa cách nhìn nhận và tiếp thu lẫn nhau của Pháp và Mỹ. Sở dĩ điều này cần thiết là vì một mô tả cố gắng chính xác về sự khác biệt (thậm chí là xung đột) đó có thể là những gợi ý cho tiếp nhận lý thuyết văn học nước ngoài ở Việt Nam, nhất là khi giờ đây Pháp và Mỹ đã dần trở thành hai nguồn lý thuyết văn học chiếm vị trí trung tâm trong đời sống nghiên cứu Việt Nam thay thế cho hai nguồn trước đây là Nga và Trung Quốc. Hy vọng lớn nhất là phần nào nhấn mạnh được sự cần thiết của việc nhìn nhận vấn đề rộng rãi hơn, cũng như của những cách tiếp cận mới, tránh tình trạng độc tôn trong giới nghiên cứu Việt Nam của những thuật ngữ bị tước đi không nhiều thì ít chiều dài lịch sử xuất hiện và tồn tại cũng như chiều sâu của các tranh luận xung quanh, thể hiện chẳng hạn ở sự tràn ngập của diễn ngôn nghiên cứu sử dụng “đại tự sự”, “ngôi trần thuật”, “điểm nhìn”… như một sự điểm trang hơn là mang tinh thần lý thuyết và tinh thần phê phán.
Tuy nhiên, “cách đọc” này lại có một nhược điểm rất rõ ràng là dễ gây ra hiểu nhầm rằng bài viết có ý định từ một cuốn sách riêng biệt (và cũng không thực sự là một tác phẩm có tầm quan trọng quá lớn trong nền lý thuyết Mỹ) để quy nạp một cách dễ dãi về một hiện tượng có tầm vóc lớn hơn nhiều. Tác giả bài viết đã có một quá trình nghiên cứu lý thuyết văn học của Pháp (từ những năm 1960 đến nay)3, và khi tiếp xúc với lý thuyết văn học Mỹ, ngoài những khó khăn thông thường còn luôn phải tìm cách vượt qua những khác biệt về cách hiểu, cách lựa chọn, cách biểu hiện và cả cách hình dung chung nhất về câu hỏi “lý thuyết là gì?”
Xuất phát từ đó, bài viết mong muốn mang tới một cái nhìn mang tính chất so sánh ở một số chủ đề và cách diễn giải một số thời điểm quan trọng trong lịch sử tiếp thu lẫn nhau của giới nghiên cứu văn học hai nước Mỹ và Pháp, dựa trên các vấn đề mà công trình của Gregory Castle nêu ra.
Hướng dẫn, tuyển tập, dẫn luận và từ điển
Cuốn sách mà chúng ta đang thảo luận ở đây, Hướng dẫn về lý thuyết văn học, thuộc vào mấy dạng sách điển hình trong ngành nghiên cứu lý thuyết văn học “trường phái Anh-Mỹ”. Các kiểu nhan đề tìm thấy được ở mật độ cao là “hướng dẫn”, “tuyển tập”, “dẫn luận”, “từ điển”; có thể kể ra: Modern Criticism and Theory: A Reader4Literary Theory: An Anthology5The Norton Anthology of Theory and Criticism6;Columbia Dictionary of Modern Literary and Cultural Critiscism7Literary Theory: A Practical Introduction8, v.v… Ngay lập tức đã có thể có ba nhận xét: 1. các nhà nghiên cứu Anh và Mỹ có xu hướng biến lý thuyết thành những thứ trong tầm tay, công cụ để sử dụng đối với mọi người, nhất là sinh viên chuyên ngành văn học. Điều này được khẳng định bởi chính Castle: “Lý thuyết văn học có thể được hiểu […] là các nguyên lý và quan niệm, chiến lược và chiến thuật cần thiết để dẫn lối cho thực hành phê bình9”; 2. cách làm này không phải là đặc trưng của giới nghiên cứu lý thuyết Pháp; sự khác biệt về hình thức đã nảy sinh ngay từ đây. Quả thực ở Pháp đôi khi cũng có những bộ sách mang tính công cụ cao và đặc biệt dành cho mục đích giảng dạy ở đại học, như tủ sách “Corpus” của nhà xuất bản GF-Flammarion10, nhưng đây không phải là một truyền thống, số lượng sách “dẫn giải”, “nhập môn” không quá nhiều; 3. bản thân việc đưa ra các tuyển tập và sách hướng dẫn một mặt cho thấy thái độ nghiêm túc về tập hợp văn bản, nhu cầu trình bày sáng sủa cũng như việc nhìn nhận lý thuyết văn học như một cái gì đó hết sức phức tạp, cần được dẫn dắt, và mặt khác, nó hé lộ một kích thước ít thấy trong diễn ngôn lý thuyết văn học ở các lý thuyết gia người Pháp: kích thước lịch sử (tất cả các dạng công trình nói trên đều có tính chất tổng kết, đánh giá lại một trào lưu, một giai đoạn lịch sử). Chúng ta sẽ quay trở lại với vấn đề này.
Hướng dẫn về lý thuyết văn học của Gregory Castle có hai phần trung tâm: “The Rise of Literary Theory” (Sự trỗi dậy của lý thuyết; 15-56, đi kèm với một bảng niên biểu) và “The Scope of Literary Theory” (Phạm vi của lý thuyết văn học; 63-190). Hai phần này nằm sau phần dẫn luận và trước các phần đặc biệt mang tính “hướng dẫn” giống như nhan đề cuốn sách nêu rõ, gồm có một phần tiểu sử khoa học các “gương mặt chủ chốt của lý thuyết văn học”, một phần gồm các ví dụ về áp dụng lý thuyết vào đọc tác phẩm văn học, đi từ Shakespeare và Keats đến Rushdie và Carter. Ở các phần sau này, chúng ta đặc biệt quan tâm đến các lý thuyết gia người Pháp có trong phần các “gương mặt chủ chốt”: họ chiếm 11 chỗ (đúng ra là 12) trong tổng số 39 gương mặt: Louis Althusser; Roland Barthes; Jean Baudrillard; Pierre Bourdieu; Hélène Cixous; Gilles Deleuze và Félix Guattari; Jacques Derrida; Michel Foucault; Julia Kristeva; Jacques Lacan; Jean-François Lyotard11. Với những người ít nhiều thông thạo lý thuyết văn học Pháp, hai cái tên “bị bỏ sót” lập tức hiện ra: Gérard Genette và Tzvetan Todorov12. Chỉ ra điều này không nhất thiết đồng nghĩa với việc cho rằng tác giả cuốn Hướng dẫn về lý thuyết văn học đã không bao quát đầy đủ, mà quan trọng hơn là để hiểu quan niệm “lý thuyết” của tác giả. Cần lưu ý rằng trong số các chuyên luận có tính chất tổng quan về lý thuyết văn học hiện đại của Pháp rất khó tìm được công trình nào không nhắc đến Genette (và Todorov). Một nhận xét cần thiết khác là trong số 11 (12) lý thuyết gia người Pháp có tên ở đây, chỉ Roland Barthes có thể coi là một người có phạm vi quan tâm chủ yếu nằm trong văn học (một phần ở Hélène Cixous và Julia Kristeva), những người khác hay được nhắc đến dưới các danh hiệu khác hơn, như “nhà triết học” hoặc “nhà tâm phân học”.
Phần “Phạm vi” chia làm mười sáu mục nhỏ được quan niệm như mười sáu nhánh lý thuyết, hoặc mười sáu lý thuyết hợp thành “lý thuyết văn học nói chung” (theo định nghĩa mà Castle đề nghị, “lý thuyết là năng lực tổng quát hóa các hiện tượng và phát triển các khái niệm tạo nên nền tảng cho diễn giải và phân tích13”): Critical Theory (Lý thuyết Phê phán); Cultural Studies (Nghiên cứu Văn hóa); Deconstruction (Giải cấu trúc); Ethnic Studies (Nghiên cứu các nhóm người thiểu số); Feminist Theory (Lý thuyết Nữ quyền); Gender and Sexuality (Giới và Tính dục); Marxist Theory (Lý thuyết Marxit); Narrative Theory (Lý thuyết Tự sự); New Criticism (Phê bình Mới); New Historicism (Tân Duy sử luận); Postcolonial Studies (Nghiên cứu Hậu thuộc địa); Postmodernism (Hậu hiện đại); Poststructualism (Hậu cấu trúc); Psychoanalysis (Tâm phân học); Reader-Response Theory (Lý thuyết Người đọc14); Structuralism and Formalism (Cấu trúc luận và Hình thức luận). Trong số các công trình giới thiệu lý thuyết văn học vào Việt Nam, một vài công trình đã sử dụng cùng dạng sơ đồ này, chẳng hạn như trong Mấy vấn đề phê bình và lý thuyết văn học15 của Nguyễn Hưng Quốc. Chắc chắn mô hình này gây ngay được ấn tượng về tính chất toàn cảnh, bao quát. Tuy nhiên cũng phải nói rằng nó có một nhược điểm lớn là buộc người trình bày phải lặp lại quá nhiều lần một số vấn đề và một số lý thuyết gia, chẳng hạn như Jacques Derrida hoặc Judith Butler16xuất hiện trong rất nhiều “tiểu phạm vi”. Điểm rất đáng lưu ý là cụm từ “literary theory” (lý thuyết văn học) nằm ở nhan đề sẽ dần dần bị thay thế bởi cụm từ “literary and cultural theory” (lý thuyết văn học và văn hóa), đặc biệt mang tính gợi ý cao khi cụm từ này xuất hiện trong câu cuối của cuốn sách: “Quyển Hướng dẫn này được thiết kế […] nhằm cung cấp một bước đi đầu tiên tới việc hiểu được rõ hơn lý thuyết văn học và văn hóa17”.
Ý muốn “trong sáng hóa” (điều này rất có thể đồng nghĩa với giản lược hóa quá mức) của Gregory Castle thể hiện rõ nét ở cách phân kỳ lịch sử, với các “giai đoạn lịch sử đặc thù”: kỷ nguyên hiện đại của những năm 1920 và 1930, “bước ngoặt” hậu cấu trúc những năm 1960 và đầu những năm 1970, sự trỗi dậy của duy sử luận trong những thập niên cuối của thế kỷ XX. Tiếp theo đó Castle nói rõ:
Cuốn sách lịch sử ngắn gọn về lý thuyết văn học thế kỷ XX này sẽ cố gắng công bình được với cả bức tranh chung của phát triển lịch sử trong suốt thế kỷ cũng như những sự phức tạp của các giai đoạn đặc thù ở trong đó. Nó sẽ chỉ ra rằng có một xu thế rõ nét hướng về các hình thức ý thức hệ và duy sử luận của lý thuyết, nhất là sau Thế chiến thứ hai, điều này trùng hợp một mặt với quá trình dân chủ hóa của các trường đại học Anh và Mỹ, mặt khác với các tiến trình toàn cầu hóa và giải phóng hậu thuộc địa18.
Để hiện thực hóa lời đảm bảo về một “bức tranh chung”, trong tác phẩm của mình Gregory Castle nhắc lại từ Plato và Aristotle, rồi các nhà triết học và nhà phê bình Đức và Anh thế kỷ XIX, cho đến những lý thuyết gia gần đây hơn cả như Judith Butler hay bell hooks.
Đã từng có một sự chỉ trích dành cho diễn ngôn lý thuyết theo kiểu này: tuy không chỉ rõ tên gọi, nhưng Antoine Compagnon trong tác phẩm Bản mệnh của lý thuyết19đã có một phê phán nhất định cách thức trình bày lý thuyết đó: ông mô tả các “bản tổng kết lí thuyết văn chương” như sau:
[…] chủ nghĩa hình thức Nga, thuyết cấu trúc Praha, Phê bình Mới Mĩ, hiện tượng học Đức, tâm lí học Genève, trường phái mác xít quốc tế, trường phái cấu trúc và hậu cấu trúc Pháp, trường phái chú giải, phân tâm học, tân mác xít, trường phái nữ quyền v.v. Có vô số cuốn khái luận thuộc khổ sách đó; chúng làm các giáo sư bận bịu và các sinh viên an tâm. Nhưng chúng rọi sáng một phương diện rất phụ của lí thuyết20.
Theo Compagnon, thậm chí cách diễn giải đó còn “khiến lí thuyết biến chất21”, vì cái làm nên đặc tính của lý thuyết theo ông là vis polemica (sức mạnh luận chiến), đã được Sophie Rabau bình luận trong bài viết của mình trên tạp chí HLT (tạp chí thuộc trang web http://www.fabula.org)22. Với  Compagnon,
[…] lí thuyết thú vị và đích thực […] ở cuộc chiến đấu dữ dằn và đem lại sức sống mà nó đã tiến hành chống các thành kiến quen thuộc trong nghiên cứu văn chương, và ở sức kháng cự cũng quyết liệt như vậy của các thành kiến chống đối lại nó23.
Vấn đề là sự luận chiến, tranh luận, sức sống thực thụ của lý thuyết, đã dần mất đi, đó cũng là sự phàn nàn của các nhà nghiên cứu lý thuyết Pháp khi tiếp nhận lý thuyết Mỹ (như phần sau của bài viết sẽ nói rõ hơn):
Tình hình bây giờ không còn đúng như vậy nữa. Lí thuyết đã thể chế hóa, đã biến đổi thành phương pháp, đã trở thành một thủ thuật sư phạm nho nhỏ nhiều khi cũng làm khô héo y như lối giảng văn mà trước đây nó hăng hái trách cứ24.
Những thời điểm quan trọng
Cần phải nói ngay rằng giữa hai “khối” châu Âu lục địa và Anh-Mỹ không có nhiều cuộc tranh luận đáng kể. Người ta có thể kể ra những đối thoại giữa chẳng hạn Spinoza và Descartes, giữa Wittgenstein và Popper, hoặc gần đây hơn cả là giữa Habermas và Lyotard (đây là cuộc tranh luận liên quan nhiều đến chủ nghĩa hậu hiện đại, một trong những đề tài đang được đề cập trong bài viết25). Tạp chí Le Magazine littéraire số 468 (tháng Mười 2007) trong chuyên đề “Những cuộc cãi cọ lớn giữa các triết gia26” (28-64) nhắc đến mười hai cuộc tranh luận, thì chủ yếu là giữa các triết gia cùng quốc tịch; cũng có những cuộc tranh luận giữa các triết gia khác quốc tịch, nhưng chỉ có một trường hợp duy nhất giữa hai “khối” kể trên: Jean-Jacques Rousseau và David Hume. Một phương Tây không ở số ít chắc chắn mang lại cho chúng ta nhiều điều hơn một phương Tây bị đóng khung trong một nhận thức có sẵn và cố định27.
Trong văn học, tạp chí Littérature số 144, tháng Mười hai 2006 mở chuyên đề mang tên “Et la critique américaine?” (Thế còn phê bình Mỹ?), do các nhà nghiên cứu chuyên về lý thuyết (Jean-Louis Jeannelle, Alexandre Gefen và Marielle Macé28) chủ trương, dành cả số cho lý thuyết văn học mới của Mỹ. Trong phần “Dẫn nhập” có đoạn viết về việc công chúng (và giới nghiên cứu) Pháp phát hiện lý thuyết Mỹ một cách muộn màng, thông qua một số cái tên nổi bật như Judith Butler, Slavoj Zizek hoặc Eve Kosofsky Sedgwick29:
[…] công chúng Pháp say mê một cách muộn màng và đón nhận một mảng lý thuyết cô đặc trong một vài tác phẩm mà không theo dõi được các tranh luận, tranh cãi liên quan, và đặc biệt là không có trải nghiệm về các dấn thân mang tính chính trị […] phê bình của Mỹ đến với chúng ta khi đã ở dạng thể chế hóa, đã được cấu trúc thành các bộ môn và rất khó để khai thác trong khuôn khổ các trường đại học Pháp […]30
Đây chính là một tiếng vọng hưởng ứng lời phê phán của Antoine Compagnon như đã trích ở phần trên, một tiếng vọng đồng thời là một trong những nỗ lực trên thực tế khá yếu ớt của các tạp chí nghiên cứu lý thuyết văn học của Pháp trong việc giới thiệu các nghiên cứu lý thuyết mới của Mỹ (thỉnh thoảng mới có chẳng hạn một bài điểm sách31). Sự liên thông giữa hai “khối” không phải là một cái gì đó trơn tru và thông suốt, mà thậm chí còn liên tục gặp tắc nghẽn. Quả thực, sau khi French Theory32 vươn ra khỏi biên giới nước Pháp để phát triển bùng nổ tại Mỹ, đến lúc “Theory américain” (Lý thuyết Mỹ) di chuyển theo chiều ngược lại, lẽ ra các nhà lý thuyết Pháp phải cảm thấy quen thuộc, gần gũi, nhưng điều này không có gì là chắc chắn: tờ Littérature thậm chí còn nói đến “một sự gần gũi đánh lừa” (une familiarité trompeuse33). Cái khó trước hết có lẽ nằm ở sự tách bỏ khỏi bối cảnh ban đầu, và ở diễn ngôn đặc thù của mỗi khu vực.
Chắc chắn là Gregory Castle ý thức rất rõ điều này. Trong quyển sách của mình, ông viết: “Độc giả khi đối diện với lý thuyết văn học thường cảm thấy bị ngợp trước ngôn ngữ mang tính kỹ thuật và một phong cách viết thường cô đọng và mờ đục34”. Nguyên nhân, theo Gregory Castle, là “nhiều lý thuyết văn học và văn hóa thoát thai từ triết học và các lĩnh vực mang tính kỹ thuật khác35”. Ngoài ra nguyên nhân còn nằm ở “các chiến lược phong cách được tính toán sao cho người đọc không rơi vào những cái bẫy của lối nghĩ thông thường36”. Cũng cần phải nói đến các vấn đề liên quan đến dịch thuật: “Điều rất gần gũi với độc giả Pháp hoặc Đức, thậm chí cả với những người có hiểu biết không lớn về triết học, lại có thể vô cùng xa lạ với độc giả người Anh hoặc Mỹ chỉ dựa được vào các bản dịch37”.
Quay trở lại với chuyên đề phê bình của Mỹ trên tờ Littérature, sau đây là một nhận xét quan trọng:
Hiện tượng nổi bật nhất chắc hẳn là độ mở rộng của trường nghiên cứu: bằng những cái tên vừa mang tính trí thức vừa mang tính thể chế: điện ảnh, đa phương tiện, các vấn đề luật học hoặc y học, khoa học luận, kinh tế, tâm thần học, cách mạng nhận thức luận… nghiên cứu văn học vượt khung rất xa tại tất cả những gì với chúng ta hẳn sẽ được định vị ở nơi khác, đặc biệt là trong địa hạt khoa học xã hội38.
François Cusset, trong bài viết gần đây, “French Theory’s American Adventures” (Những cuộc phiêu lưu Mỹ của French Theory), trên tạp chí Chronicle Review ở chuyên đề “The State of Literary Theory” (Thực trạng của lý thuyết văn học), số ra ngày 13/6/200839, đã đặt lại gần như hoàn toàn vấn đề: “liệu có phải là đã quá muộn khi vẫn nói về lý thuyết Pháp và vai trò của nó trong đời sống trí thức Mỹ hiện nay?”, và gọi phong trào lớn ngày xưa là “cái đối tượng văn bản kỳ cục được biết đến như là lý thuyết”. Tuy nhiên, Cusset vẫn khẳng định sự đóng góp của “French Theory” trong sự hình thành và phát triển của một bộ môn rất phát triển ở Mỹ: Cultural Studies (Nghiên cứu văn hóa). Nhận định sau đây hết sức quan trọng:
Tất cả các ‘lý thuyết du hành’ như Edward Said quá cố từng gọi, đều mang theo mình một nguy cơ, vì chúng luôn hàm chứa một sự đứt đoạn khỏi một bối cảnh đặc thù và nối kết với một bối cảnh đặc thù khác – trong trường hợp này là sự đứt đoạn khỏi một quan niệm về viết nhất định của Lục địa, khỏi chân trời của chủ nghĩa Marx và cách mạng, và khỏi một sự phê phán đúng thời điểm của ký hiệu học và bước ngoặt ngôn ngữ học – và nối kết với nhiều truyền thống của Mỹ như bản thể luận văn bản và mỉa mai trong văn học, được đại diện rõ nét nhất bởi các nhà Phê bình Mới những năm 1940, chống lại những ‘ảo tưởng’ của tâm lý học và ý hướng tính. Nối kết cả với truyền thống chủ nghĩa thực dụng của Mỹ. […] Lại nối kết, lần này gần gũi hơn về thời gian, với các phân tích mới mẻ về tâm thần phân liệt, trị liệu, và tính bên lề đưa ra trong những năm 1950 bởi những người theo Gregory Bateson hoặc R.D. Laing. Nối kết có lẽ không phải là từ chuẩn: điều cần nói ở đây là đã có một sự hội tụ mang tính lịch sử của hai nhánh, Pháp và Mỹ, Foucault và Bateson, Deleuze và Ralph Waldo Emerson, Derrida và Robert Penn Warren40.
Trong bài, Cusset cũng đưa ra quan điểm theo đó tại Pháp hiện nay mọi điều đang bắt đầu thay đổi.
Về phần mình, Gregory Castle nói đến những thời điểm quan trọng trong tiếp xúc giữa lý thuyết Mỹ và lý thuyết Pháp, ở chiều Mỹ tiếp nhận của Pháp. Với nữ quyền luận, Castle phân chia thành ba “làn sóng”, trong đó làn sóng thứ hai bắt nguồn từ Pháp với các tác phẩm của Simone de Beauvoir (làn sóng đầu tiên từ thời các tác giả như Virginia Woolf, và làn sóng thứ ba gần đây gắn liền với các tên tuổi như Barbara Smith, bell hooks từ giữa những năm 1980), “Tác phẩm của de Beauvoir mở ra một làn sóng thứ hai trong nữ quyền luận chuyên chú về các quyền dân sự, công bằng xã hội, và phê phán hình thức gia trưởng41”. Hoặc một ví dụ khác là việc phát hành bản dịch tiếng Anh bộ Écrits (Các bài viết) của Jacques Lacan vào năm 1977 đã tạo ra một sự phục hưng của tâm phân học.
Nhưng điểm giao nhau quan trọng nhất mà Gregory Castle nói tới là thời điểm năm 1966. Chúng ta sẽ dừng lại ở cái mốc đặc biệt này.
Một chỉ dẫn đáng chú ý khác của bước chuyển từ tư tưởng cấu trúc luận sang hậu cấu trúc là một cuộc hội thảo, ‘Các ngôn ngữ của phê bình và các khoa học về con người’, được tổ chức tại Trung tâm Khoa học Nhân văn thuộc Đại học Johns Hopkins vào tháng Mười năm 1966 (các bài tham luận được xuất bản vào năm 1970 dưới cái tên Cuộc tranh cãi của cấu trúc luận). Trong số những người tham gia có René Girard, Georges Poulet, Tzvetan Todorov, Jean Hyppolite, Barthes, Jacques Lacan, và Jacques Derrida. Trong số các bài viết có bài của Derrida mang tên ‘Cấu trúc, ký hiệu, và trò chơi trong diễn ngôn các ngành khoa học nhân văn’, sẽ có một tác động mang tính bước ngoặt lên phê bình và lý thuyết văn học ở Mỹ […] Cuộc hội thảo Johns Hopkins năm 1966 là một chuyển tiếp mang tính lịch sử, vì nó đánh dấu thời điểm ‘French Theory’ xâm nhập vào giới độc giả Mỹ. Quãng giữa những năm 1970, với việc in bản dịch Ngữ pháp học của Derrida (1976), hậu cấu trúc luận đã trở thành xu hướng lý thuyết chủ đạo tại các trường đại học Mỹ42.
Từ đoạn này, có thể rút ra hai điều quan trọng: thứ nhất là bản thân cuộc hội thảo năm 1966 và thứ hai là nhận định cho rằng đó chính là bước chuyển về hệ hình từ cấu trúc luận sang hậu cấu trúc. Dưới đây sẽ là phần trình bày các điểm nhìn mang tính cọ xát để không những chỉ ra các khác biệt về đánh giá hồi cố, mà còn nhấn mạnh thêm vào tính chất số nhiều của phương Tây như đã được nhắc tới.
Ít nhất hai người từng trực tiếp tham gia cuộc hội thảo lừng danh đó có thuật lại sự kiện. Người thứ nhất là René Girard, nhà nhân học nổi tiếng của Pháp, vào thời điểm ấy đang dạy tại Đại học Johns Hopkins. Ông đã cùng Richard Macksey và Eugenio Donato đứng ra tổ chức cuộc hội thảo nói trên.
Với tập sách in các bài tham luận là “best-seller” của Đại học Johns Hopkins trong suốt nhiều năm, cấu trúc luận đã có bước tiến vào nước Mỹ đầy ấn tượng. Girard kể là đã mời đến được Johns Hopkins tất cả các nhân vật quan trọng trong lĩnh vực này, trừ Claude Lévi-Strauss.
Khi ông ấy [Lévi-Strauss] hủy chuyến đi, tôi không biết phải mời ai, và tôi đã gọi điện cho Michel Deguy. Deguy nói Jacques Derrida sắp xuất bản các khảo luận quan trọng trong hai năm sắp tới và chúng tôi đã mời ông ấy. Quả thực ông ấy là người duy nhất dám đối đầu với Lacan […]43
Tiếp sau đó, Girard có một nhận xét khá kỳ lạ:
Khi Freud đến Mỹ, nhìn thấy New York, ông ấy nói: ‘Tôi mang dịch hạch đến cho họ đây’. Ông ấy đã nhầm. Người Mỹ không gặp khó khăn nào trong việc tiêu hóa một thứ tâm phân học nhanh chóng được Mỹ hóa. Nhưng vào năm 1966, chúng tôi đã thực sự mang dịch hạch đến cùng với Lacan và giải cấu trúc… ít nhất là tới các trường đại học! […] Một năm sau, giải cấu trúc đã trở thành mốt. Điều đó khiến tôi cảm thấy khó chịu. Đây cũng là lý do khiến tôi chuyển sang dạy ở Buffalovào năm 196844.
“Phiên bản” của Todorov, ngoài các sự việc chung, có một câu đáng chú ý:
René Girard, người dạy học ở đó [Johns Hopkins], cảm thấy, theo cách của mình, là một nhà cấu trúc luận bởi vì, với Lời nói dối lãng mạn và sự thật tiểu thuyết, ông ấy tra vấn các cấu trúc tiểu thuyết… điều này không có gì chung với nội dung các tác phẩm cấu trúc luận thời đó cả45.
Nhận xét của Todorov đặc biệt quan trọng đối với chủ đề đang thảo luận ở đây. Như vậy là có nhiều hơn một cách hiểu “cấu trúc luận”, và, qua đó, nhiều hơn một cách hiểu “lý thuyết”. Một cái gì đó là lý thuyết trong mắt một ai đó lại có thể hoàn toàn không phải là lý thuyết trong mắt một người khác.
Chúng ta sẽ đến với một phân tích cuối cùng liên quan đến năm 1966, lần này trong một diễn ngôn phi tự thuật: bộ tác phẩm đồ sộ Lịch sử cấu trúc luận của François Dosse46. Chỉ riêng cách bố cục tác phẩm đã mang rất nhiều ý nghĩa. Quả thực, tập một được đặt nhan đề “Le champ du signe, 1945-1966” (Trường ký hiệu, 1945-1966) và tập hai có nhan đề “Le chant du cygne, 1967 à nos jours” (Tiếng hát thiên nga, 1967 đến ngày nay).
Năm 1966, đúng theo những gì lịch sử lý thuyết văn học ghi nhận, được coi là năm “kỳ diệu” của cấu trúc luận Pháp với việc xuất bản hàng loạt các tác phẩm lớn của Barthes, Genette, Foucault, Lacan… cho nên việc coi đó là điểm mốc chuyển từ cấu trúc luận sang hậu cấu trúc rất có thể gây bối rối về mặt phân kỳ.
Với sử gia Dosse, năm 1969 mới có thể được coi là một bước chuyển quan trọng của lịch sử cấu trúc luận với việc Julia Kristeva trước đó thực hiện một loạt các bài trình bày trong giờ giảng của Roland Barthes, đưa lý thuyết của Mikhail Bakhtine vào nghiên cứu nhằm vận động hóa trở lại kích thước lịch sử (cho đến khi đó kích thước lịch sử này được triệt để loại bỏ khỏi nghiên cứu lý thuyết tại Pháp) và đưa lý thuyết thoát ra khỏi sự kín mít của văn bản. Năm 1969, Kristeva xuất bản công trình Sémiotiké tập hợp các bài viết tấn công cả vào ngôn ngữ học của Saussure lẫn nhiều chủ đề cốt yếu của cấu trúc luận, và cùng thời điểm với các luận đề giải cấu trúc của Derrida, cộng thêm công trình của Noam Chomsky và Émile Benveniste, tham vọng ban đầu của cấu trúc luận giai đoạn đầu mới bắt đầu bị lay động.
Việc cô gái trẻ người Bungari này đến trong giờ giảng của ông [Roland Barthes] sẽ đánh hồi chuông chấm hết cho những tham vọng mang tính thuần khoa học mà ông đã từng thử nghiệm rất nhiều trong Các yếu tố của ký hiệu học cũng như Phê bình và Chân lý47.
Và:
S/Z chính là bước ngoặt chính, thời điểm Barthes phá rời cái khung quan niệm của chính mình để dành nhiều chỗ hơn cho trực giác văn chương. Barthes trỗi dậy đúng ở nơi không ai chờ đợi48.
Rõ ràng là với Dosse, nếu quãng thời gian cuối những năm 1960 có quả thực là một bước ngoặt quan trọng, thì nó vẫn nằm trong một hệ thống, trong cùng một lịch sử, một bước ngoặt ít nhiều mang tính đồng chất với các bước ngoặt trước đây của cấu trúc luận. Lịch sử với một sử gia như Dosse là một “lịch sử dài”. Trong khi đó, với một nhà quan sát người Mỹ, ở đây là Gregory Castle, thể hiện trong các trích dẫn được sử dụng ở phần trước và phần sau của bài viết, lịch sử có vẻ ngắn hơn, với sự nhấn mạnh vào những bước gấp khúc và thay đổi, điều đó cũng đồng nghĩa với nhấn mạnh vào sự xuất hiện của những cái mới, và một ý thức đứng ở đằng sau để quan sát những gì được quan niệm là “đã hoàn tất”.
Hậu-cái-này-hoặc-cái-kia”
Quả thực, những ai quen thuộc với lý thuyết Pháp khi đọc cuốn sách của Castle luôn có cảm giác mọi thứ bị đẩy sớm lên quá mức và các mốc thời gian lần nào cũng hết sức chính xác. Chẳng hạn như ở phần nói về hậu cấu trúc luận:
Hậu cấu trúc xuất hiện trong quá trình phát triển của cấu trúc luận, đã đạt đến đỉnh cao vào năm 1958 trong tác phẩm Nhân học cấu trúc của Lévi-Strauss […] Khoảng 1970, S/Z, nghiên cứu về một truyện ngắn của Balzac, đánh dấu bước chuyển của Barthes đến với một cách hiểu mang tính hậu cấu trúc về cách thức vận hành của tự sự và chỉ ra tiềm năng mang tính sáng tạo của các mâu thuẫn, khoảng cách, và ‘aporia’ [nan đề] tìm được trong các văn bản ở nhiều lĩnh vực khác nhau49.
Đây chính là một nhược điểm lớn (nếu không nói là chính yếu) của lối tiếp cận này: nhu cầu sáng sủa về thời gian được đặt lên trước hết, làm lu mờ, thậm chí nhấn chìm, nhu cầu hiểu các tư tưởng. Một mô hình theo đó khoảng trống giữa hai thời điểm phải được lấp đầy bằng một hay nhiều sự kiện có ý nghĩa nhất định. Vai trò của các cá nhân, ngược lại, luôn không nằm vừa trong dạng khuôn khổ này. Một số cái tên, như đã nói, xuất hiện gần như khắp mọi nơi, luôn ở “mặt tiền”: Jacques Derrida, Judith Butler, Jacques Lacan, bell hooks… Dù vậy, cũng không thể phủ nhận ưu điểm về sự dễ nhớ, dễ tiếp cận của dạng trình bày này.
Điều vừa nói liên quan đến vấn đề cuối cùng được bàn đến ở đây: bản chất sự khác biệt của cách nhìn nhận lý thuyết “kiểu Pháp” và “kiểu Mỹ” là gì? Giữa một bên luôn tìm cách đưa mọi thứ vào văn học, còn bên kia, đưa lý thuyết trải rộng ra mọi lĩnh vực, tồn tại một khoảng cách không nhỏ. Có rất nhiều lý do để nghĩ rằng một lượng lớn nguyên nhân nằm ở quan niệm của hai “khối” về kích thước lịch sử. Cách xác định thời điểm của các nhà nghiên cứu lý thuyết văn học Mỹ dựa trên cơ sở nào? Dĩ nhiên, một loạt các “từ nhãn” bao gồm tiền tố “post-” (hậu-) đã ngay lập tức hàm ý một dẫn chiếu đến tính lịch sử. Đây không phải là nghĩa duy nhất của tiền tố “post-”, như nhiều người đã chỉ ra (tiền tố này còn thể hiện một sự phản kháng, một sự phê phán, hoặc ít nhất là một sự phản tư), nhưng ý hướng rút ngắn và phân kỳ lịch sử quả thực rất đậm nét.
Về sự phức tạp ở phương diện nghĩa của các tiền tố tưởng chừng đơn giản, có thể tham khảo ý kiến của Claudio Magris khi nói về Nietzsche:
Trong Übermensch, Nietzsche đã không nhìn thấy trong con người “Siêu Nhân”, cái cá thể mang năng lực gấp bội và năng khiếu vượt trội kẻ khác, mà nhìn thấy […] một con người “Bên-kia-con-người”, một hình thái mới của cái Ngã, không còn chắc đặc và thống nhất nữa, mà được cấu thành […] bởi một tính cách “vô chính phủ của các nguyên tử”, bởi một tính cách đa bội của các hạt tâm thần, của các xung lực không còn bị giam hãm trong cái bộ áo giáp của tính cá thể và của ý thức50.
Có thể dễ dàng thấy rằng nghĩa của tiền tố “über-” trong tiếng Đức đã được Claudio Magris mềm mại hóa bằng một cách hiểu, xét cho cùng, lại rất gần với Nietzsche, cụ thể là gần với quan điểm “hãy vượt qua con người” (để đến với “bên-kia-con-người”) mà Zarathustra đã trình bày trong lần “hạ san” đầu tiên (tác phẩmZarathustra đã nói thế).
Các tiền tố không chỉ án ngữ ở đầu các thuật ngữ, mà còn ngày càng có sức nặng hơn trong văn học và nghiên cứu văn học. Không giống như hậu tố “-ism” khái quát hóa, nâng cấp, tạo thành các “chủ nghĩa”, tiền tố “post-”, ở đây cần nhấn mạnh một lần nữa, ngoài hàm ý lịch sử còn có thể hiểu là một sự phê phán hoặc suy tư về cái từng có. “Post-” cũng như “anti-” góp phần đi vào chiều sâu của các thuật ngữ: nhiều người sử dụng thuật ngữ “anti-roman” (phản tiểu thuyết) thay vì “roman”, André Malraux gọi hồi ký của mình là “anti-mémoires” chứ không phải “mémoires”, và với Antoine Compagnon những người thực sự hiện đại là những người “phản hiện đại”51. Trong bài báo “Modernity versus Postmodernity”, Jürgen Habermas nhắc đến nhan đề một bài báo đăng trên tờ Frankfurter Allgemeine Zeitung viết về kỳ triển lãm kiến trúc năm 1980 ở Venice: “Postmodernity definitely presents itself as Antimodernity” (Hậu hiện đại cả quyết tự trưng bày như Phản hiện đại). Nhận xét của Herbermas như sau:
Câu nói này miêu tả một dòng xúc cảm của thời đại chúng ta, cái đã xâm nhập tất cả các địa hạt của đời sống trí thức. Nó đã đặt ra các lý thuyết hậu-khai minh, hậu hiện đại, thậm chí là hậu lịch sử52.
Trạng thái (liên quan nhiều đến tâm lý) này xuất hiện ở rất nhiều tác giả khác. Dưới đây là hai ví dụ. Thứ nhất là của Homi K. Bhabha:
Định vị vấn đề văn hóa trong lãnh thổ của cái bên ngoài là bước ngoặt của thời đại chúng ta. Khi sắp hết thế kỷ, chúng ta bớt bị tác động bởi sự hư vô hóa – cái chết của tác giả, hoặc sự vụt hiện – việc xuất hiện của “chủ thể”. Sự tồn tại của chúng ta ngày nay được đánh dấu bởi một cảm giác sống sót tối tăm, sống trên đường biên của “hiện tại”, với điều này có vẻ như không có cái tên nào khác thích hợp hơn là tính chất gây tranh cãi hiện nay của tiền tố ‘hậu’: hậu hiện đại, hậu thuộc địa, hậu nữ quyền…53
Kwame Anthony Appiah, về phần mình, trong bài báo “Is the Post- in Postmodernism the Post- in Poscolonial?” nói đến “a catalogue of its ways-of-being-post-this-and-that54” (một catalô những cách thức hậu-cái-này-và-cái-kia”). Ý tưởng chính của Appiah nằm ở lời khẳng định sau: “tiền tố post- của nó [của tính chất hậu thuộc địa], cũng giống như trong tiền tố post- của chủ nghĩa hậu hiện đại, cũng là một tiền tố post- thách thức các dạng tự sự trước đây được hợp thức hóa55”.
Theo Appiah, “neotraditional” (tân truyền thống) cũng là một cách thức để ở trong truyền thống, nơi tiền tố “neo-” hàm ý “một thời điểm sau đó56”. Sau khi điểm lại lý thuyết về hiện đại của Max Weber, T.S. Eliot hay Le Corbusier (đồng quy ở điểm đều coi hiện đại tính thể hiện ở sự hợp lý hóa thế giới: với T.S. Eliot chẳng hạn, thời hiện đại được đánh dấu bởi quá trình thế tục hóa của xã hội, nơi chủ nghĩa duy lý của Khai minh được áp dụng cho toàn bộ thế giới), Appiah đưa ra nhận xét về hậu hiện đại: “khởi đầu của sự hiền minh hậu hiện đại là việc tra vấn liệu sự hợp lý hóa của Weber có quả thực đã từng xảy ra xét ở khía cạnh lịch sử hay không57”. Appiah đặt song hành trong thế so sánh chủ nghĩa hậu hiện đại và chủ nghĩa hậu thuộc địa. Gregory Castle cũng có suy nghĩ theo hướng so sánh tương tự:
Theo nhiều cách, chủ nghĩa hậu cấu trúc trùng hợp với chủ nghĩa hậu hiện đại, mặc dù hai khái niệm này không phải là đồng nghĩa. Trong khi hậu hiện đại trước hết liên quan đến một sự phê phán chủ nghĩa hiện đại và một sự từ bỏ chủ nghĩa hiện đại về phương diện mỹ học, thì hậu cấu trúc lại hướng đến sự phê phán khi đó đang diễn ra về cấu trúc luận và sự phát triển của các lý thuyết mới về ngôn ngữ, tính văn bản và tính chủ thể. Cũng như hậu hiện đại và hậu thuộc địa, hậu cấu trúc quả thực có một giá trị lịch sử – nó xuất hiện trong những năm 1960, ở giai đoạn đỉnh cao của cấu trúc luận và thực sự đã xóa bỏ cấu trúc luận – nhưng đặc điểm trọng tâm của hậu cấu trúc không phải ở chỗ nó đến sau cấu trúc mà ở chỗ nó đưa cấu trúc luận vào sự kiểm tra58.
Lập luận của Habermas trong bài viết đã nêu thì đi sát vào sự giãn cách giữa hiện đại và hậu hiện đại, cộng thêm một sự suy tư về chuyển hóa từ hiện đại sang cổ điển: “một tác phẩm hiện đại trở thành một tác phẩm cổ điển bởi vì nó đã từng là hiện đại một cách chân chính. Cảm giác của chúng ta về tính hiện tại đã tạo ra các quy phạm tự đóng kín về thế nào là một tác phẩm cổ điển59”.
Ranh giới giữa các chủ nghĩa, như các ý kiến được trích dẫn trên đây, như vậy là rất mờ. Một mặt, kích thước lịch sử luôn có mặt trong các luận bàn liên quan đến các trào lưu tạm gọi là “chủ nghĩa mới” cũng không đủ sức một mình giải thích các phân chia trong chỉ riêng cách trình bày lý thuyết. Có lẽ đó cũng chính là nguyên do khiến cuốn sách của Gregory Castle, ngoài việc dần trượt từ lý thuyết văn học sang lý thuyết văn hóa như đã nói60, còn thường xuyên viện đến một khái niệm thường bị các lý thuyết gia loại bỏ: khái niệm “ảnh hưởng”.
Chú thích
Gregory Castle. 2007. The Blackwell Guide to Literary Theory.Oxford: Blackwell.
Gregory Castle hiện là giáo sư tại Arizona State University, tác giả của nhiều bài nghiên cứu và bốn chuyên luận: ngoài The Blackwell Guide to Literary Theory làPostcolonial Discourses: An Anthology (2001), Modernism and the Celtic Revival (2001) và Reading the Modernist Bildungsroman (2006).
Luận văn Master II bảo vệ tháng Sáu năm 2006 tại Paris IV-Sorbonne nhan đề La Théorie en revue. La revue Poétique (1970-2000) et la pensée théorique en études littéraires(Lý thuyết trên tạp chí/Xem lại lý thuyết. Tạp chí Poétique (1970-2000) và tư tưởng lý thuyết trong nghiên cứu văn học).
David Lodge biên soạn. 1988.London: Longman.
5 J. Rivkin và M. Ryan biên soạn. 1998.Oxford: Blackwell.
6 Vincent B. Leitch biên soạn chính. 2001.New York: Norton & Company.
7 Joseph Childers và Gary Hentzi biên soạn. 1995.New York:ColumbiaUniversity Press.
8 Michael Ryan. 2000.Oxford: Blackwell.
9 Castle. The Blackwell Guide. 2.
10 Một số nhan đề của tủ sách này: L’Auteur (Tác giả), Le Lecteur (Độc giả),L’Intertextualité (Liên văn bản)… mỗi đầu sách do một chuyên gia đảm nhiệm.
11 Tên các nhà nghiên cứu Pháp thế kỷ XX nổi tiếng ở nhiều lĩnh vực khác nhau: Althusser là triết gia Marxit; Barthes, nhà ký hiệu học; Baudrillard, triết gia, Bourdieu, nhà xã hội học; Cixous, lý thuyết gia nữ quyền luận; Deleuze và Guattari, các nhà tâm phân học; Derrida, triết gia ngôn ngữ; Foucault, triết gia; Kristeva, nhà ký hiệu học và lý thuyết gia nữ quyền luận; Lacan, nhà tâm phân học; Lyotard, triết gia, có vai trò quan trọng trong lý thuyết hậu hiện đại.
12 Cuốn sách có dung lượng lớn hơn nhiều, The Norton Anthology of Theory and Criticism [Tuyển tập lý thuyết và phê bình của Norton] (sđd.), tuy có dẫn bài viết của Todorov nhưng tên của Genette không hề xuất hiện cả với tư cách một tác giả lý thuyết cũng như trong phần “Chỉ mục” với tư cách một tác giả có được nhắc tới. Cùng với Hélène Cixous, hai lý thuyết gia được kể tên ở đây sáng lập tạp chí quan trọng nhất của phong trào lý thuyết Pháp mang tên Poétique (Thi pháp) vào năm 1970. Ngay khái niệm “phong trào lý thuyết” cũng không được hiểu giống nhau ở Pháp và ở Mỹ.
13 Castle. The Blackwell Guide. 3.
14 Có một số cách dịch khác, chẳng hạn như “thuyết người đọc-trả lời” hoặc “thuyết hồi ứng người đọc”.
15 Nguyễn Hưng Quốc. 2007. Mấy vấn đề phê bình và lý thuyết văn học.California: Văn Mới. Phần phụ lục “Các lý thuyết phê bình văn học chính từ đầu thế kỷ 20 đến nay” (lưu ý: Nguyễn Hưng Quốc sử dụng cụm từ “lý thuyết phê bình văn học” chứ không phải “lý thuyết văn học”) gồm 11 mục (đúng ra là 12, nếu kể thêm chủ nghĩa hậu hiện đại đã nằm ở một phần khác trong sách): 1. Hình thức luận của Nga (Formalism); 2. Phê bình Mới của Anh Mỹ (New Criticism); 3. Cấu trúc luận (Structuralism); 4. Hậu cấu trúc luận/Giải cấu trúc (Poststructuralism/Deconstruction); 5. Các lý thuyết Mác-xít (Marxist Theories); 6. Thuyết người đọc (Reader Theory); 7. Phân tâm học (Psychoanalysis); 8. Nữ quyền luận (Feminism); 9. Thuyết lệch pha (Queer Theory); 10. Chủ nghĩa hậu thực dân (Postcolonialism); 11. Chủ nghĩa tân duy sử (New Historicism) và Chủ nghĩa duy vật văn hóa (Cultural Materialism). Khác biệt lớn nhất giữa Gregory Castle và Nguyễn Hưng Quốc là ở sơ đồ của Nguyễn Hưng Quốc không có Cultural Studies, Ethnic Studies và Narrative Theory; hơn nữa, ở Nguyễn Hưng Quốc không có sự phân biệt giữa hậu cấu trúc luận và giải cấu trúc.
16 Judith Butler (sinh năm 1956) hiện được coi là một trong các lý thuyết gia Mỹ quan trọng nhất, có ảnh hưởng rất lớn trong các ngành nghiên cứu về giới và nữ quyền luận, với tác phẩm nổi tiếng Gender Trouble (1990).
17 Castle. The Blackwell Guide. 296.
18 Như trên. 16.
19 Antoine Compagnon. 2006. Bản mệnh của lí thuyết. Văn chương và cảm nghĩ thông thường (Lê Hồng Sâm và Đặng Anh Đào dịch) Hà Nội: Đại học Sư phạm. Nhan đề gốc: Le Démon de la théorie. Littérature et sens commun. 1998.Paris: Seuil.
20 Như trên. 16.
21 Như trên.
22 Tạp chí LHT (Littérature Histoire Théorie – Văn học Lịch sử Lý thuyết) bắt đầu ra vào tháng Năm 2005. Bài viết của Sophie Rabau có tên “Perdre le sens (commun)? Remarques sur l’histoire de la théorie littéraire” [Mất nghĩa (lương thức)? Các nhận xét về lịch sử lý thuyết văn học]; địa chỉ URL:http://www.fabula.org/lht/0/Rabau.html, (truy cập ngày 1 tháng Bảy, 2008).
23 Compagnon. Bản mệnh… 16.
24 Như trên. 11.
25 Xem thêm bài viết của Bùi Văn Nam Sơn. 2007. “Lyotard với tâm thức và hoàn cảnh hậu-hiện đại” dẫn luận cho bản dịch tiếng Việt Hoàn cảnh hậu hiện đại của Jean-François Lyotard (Ngân Xuyên dịch) Hà Nội: Tri Thức. 7-51.
26 Les grandes querelles entre philosophes.
27 Ở đây cần thiết phải nói đến vụ việc được biết đến dưới cái tên “cú lừa đảo của Sokal” (Sokal’s hoax): năm 1996, nhà vật lý người Mỹ Sokal gửi cho tạp chí Social Text một bài báo rồi sau khi tờ tạp chí đã đăng tuyên bố bài báo của mình hoàn toàn vô nghĩa và không có chút giá trị khoa học nào. Tiếp sau đó, năm 1998, Sokal đồng tác giả với Jean Bricmont xuất bản Fashionable Nonsense: Postmodern Intellectuals’ Abuse of Science [Sự vô nghĩa theo mốt: việc lạm dụng khoa học của các trí thức hậu hiện đại] (trước đó đã in bằng tiếng Pháp với nhan đề Impostures Intellectuelles [Những trò bịp bợp trí thức]; xin lưu ý là Raymond Picard khi tranh luận với Roland Barthes và Jean-Paul Weber về “phê bình mới” trong những năm 1960 cũng đã sử dụng từ “imposture” (bịp bợm) như một lời tố cáo). Sokal tấn công vào các lý thuyết gia “hậu hiện đại” ở khía cạnh sử dụng tràn lan và sai lầm các kiến thức thuộc khoa học tự nhiên. Cuộc tranh luận sẽ kéo dài với sự tham gia của một số triết gia.
28 Các lý thuyết gia thuộc thế hệ mới ở Pháp, cũng là những người tích cực tham gia trang web fabula.
29 Zizek (sinh năm 1949) là nhà tâm phân học theo trường phái Lacan, tác giả củaOn Belief (2001), How to Read Lacan (2006)…; Sedgwick (sinh năm 1950) là lý thuyết gia quan trọng của ngành nghiên cứu về giới, với một số tác phẩm tiêu biểu: Between Men: English Literature and Male Homosocial Desire (1985), Novel Gazing: Queer Readings in Fiction (1997). Một trong những người đóng vai trò quan trọng trong quá trình du nhập lý thuyết Mỹ vào Pháp là François Cusset với tác phẩm Queer Critics: la littérature française déshabillée par ses homo-lecteurs [Queer Critics: văn học Pháp bị lột truồng bởi các độc giả đồng tính]. 2002.Paris: PUF.
30 Jean-Louis Jeannelle, Alexandre Gefen và Marielle Macé. 2006. Bài “Dẫn nhập” của chuyên đề “Et la critique américaine?” [Thế còn phê bình Mỹ?], Littérature 144 (12. 2006). 3.
31 Xem Thi Thu Hang Nguyen, “Récit, genre et société en Inde du Sud” [Truyện kể, thể loại và xã hội ở Nam Ấn Độ], điểm sách Gender and Story in South India (Leela Prasad, Ruth B. Bottigheimer, Lalita Handoo biên soạn). 2006. New York: State University of New York Press. http://www.fabula.org/revue/document4206.php, truy cập ngày 1 tháng Bảy 2008).
32 Nhan đề một tác phẩm khác của François Cusset, đầy đủ là: French Theory. Foucault, Derrida, Deleuze & Cie et les mutations de la vie intellectuelle aux Etats-Unis[Lý thuyết Pháp. Foucault, Derrida, Deleuze và các cộng sự và các dịch chuyển trong đời sống trí thức ở Mỹ]. 2003. Paris: La Découverte; bản dịch tiếng Anh của Jeff Fort, Josephine Berganza và Marlon Jones: French Theory: How Foucault, Derrida, Deleuze, & Co. Transformed the Intellectual Life of the United States. 2008.University ofMinnesota Press. Cụm từ “French Theory” giờ đây đã trở thành phổ biến, hiểu theo nghĩa gốc, “lý thuyết Pháp” nhưng cũng thường xuyên mang một nội hàm không thực sự tốt đẹp.
33 Littérature 144. 3.
34 Castle. The Blackwell Guide. 293.
35 Như trên.
36 Như trên.
37 Như trên.
38 Littérature. 144. 3.
39 Chronicle Review, địa chỉ URL: http://chronicle.com/temp/reprint.php?id=5xc4vh095tvr4q3rybvmdv94vkwxfjnl (truy cập ngày 3 tháng Bảy 2008).
40 Như trên. Về Edward Said, xem bài “Lý thuyết du hành và Orientalism ở Đông Á” trong số này. Tên các nhà bác học và nhà nghiên cứu Mỹ được nhắc đến ở đây thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.
41 Castle. The Blackwell Guide. 35.
42 Như trên. 32-33.
43 Les Origines de la culture. Entretiens avec Pierpaolo Antonello, professeur à l’université de Cambridge et Joao Cezar de Castro Rocha, professeur à l’université de Rio de Janeiro [Nguồn gốc của văn hóa. Trò chuyện với Pierpaolo Antonello, giáo sư đại học Cambridge và Joao Cezar de Castro Rocha, giáo sư đại học Rio de Janeiro]. 2004. Desclée de Brouwer. 42.
44 Như trên. 41.
45 Tzvetan Todorov. Devoirs et Délices, une vie de passeur. Entretiens avec Catherine Portevin [Các nghĩa vụ và niềm thích thú, một đời của kẻ vượt tuyến. Trò chuyện với Catherine Portevin]. 2002.Paris: Seuil. 94.
46 François Dosse. 1991. Histoire du structuralisme.Paris: La Découverte. 2 tập. Tiêu đề hai tập là một sự chơi chữ về tính đồng âm giữa “champ” (trường) và “chant” (tiếng hát).
47 Như trên. t2. 78.
48 Như trên. 79. Ở đây Dosse muốn nhắc đến tác phẩm S/Z, khởi đầu là những bài giảng trong đó Roland Barthes phân tích truyện ngắn Sarrasine của Balzac theo một cách thức khác hẳn trước đây, sau khi đã bắt đầu chịu ảnh hưởng của Kristeva. Tác phẩm này thường được coi là một điểm mốc của việc chuyển biến từ cấu trúc luận sang hậu cấu trúc.
49 Castle. The Blackwell Guide. 32.
50 Claudio Magris. Không tưởng và thức tỉnh, tiểu luận chọn lọc (Vũ Ngọc Thăng dịch). 2006. Hà Nội: Hội Nhà văn và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây. 111.
51 Xem Antoine Compagnon. 2005. Les Antimodernes: de Joseph de Maistre à Roland Barthes [Những người phản hiện đại: từ Joseph de Maistre đến Roland Barthes].Paris: Gallimard, tủ sách “Bibliothèque des Idées”.
52 Habermas. 1981. “Modernity versus Postmodernity” [Hiện đại chống lại hậu hiện đại; được Habermas đọc tại chương trình James Lecture tại New York Institute for the Humanities, Đại học New York, 5/3/1981; nguồn gốc là bài phát biểu bằng tiếng Đức đọc vào tháng Chín năm 1980 nhân dịp Habermas được thành phố Frankfurt trao giải thưởng Theodor W. Adorno]. New German Critique. No. 22 (Winter). 3.
53 Homi K. Bhabha. 2007 [1994]. The Location of Culture [Nơi chốn của văn hóa].London: Routlegde. 1.
54 Kwame Anthony Appiah. 1991. “Is the Post- in Postmodernism the Post- in Poscolonial?” [Liệu “hậu” trong hậu hiện đại có phải là “hậu” trong hậu thuộc địa?]. Critical Inquiry. Vol. 17. No. 2 (Winter). 349.
55 Như trên. 353.
56 Như trên. 343.
57 Như trên. 344.
58 Castle. The Blackwell Guide. 33.
59 Habermas. “Modernity versus Postmodernity”. 4.
60 Đây cũng là xu hướng chung: ấn phẩm gần đây của nhà xuất bản Routledge mang tên The Routledge Critical and Cultural Theory Reader [Sách đọc của Nxb Routledge về lý thuyết phê bình và văn hóa]. 2008. Neil Badmington và Julia Thomas. New York/London: Routledge.
  
Phụ lục:
Tổng thuật nội dung cuốn sách
Hướng dẫn về lý thuyết văn học của Gregory Castle
 Gregory Castle mở đầu phần “Dẫn luận” bằng cách trích dẫn lời nhà phê bình văn học nổi tiếng người Anh I. A. Richards, nói tới một “sự hỗn độn các lý thuyết phê bình”, và bàn đến “Bản chất của lý thuyết văn học”: “lý thuyết văn học khác hẳn với phê bình văn học, phê bình là sự áp dụng thực tế của lý thuyết”. Lý thuyết văn học “có thể được hiểu […] là các nguyên lý và quan niệm, chiến lược và chiến thuật cần thiết để dẫn lối cho thực hành phê bình”. Trong thế kỷ XX, lịch sử của lý thuyết văn học đã chứng kiến việc thay nhau thống trị của hai dạng lý thuyết: một bên các lý thuyết dựa trên văn bản như Phê bình Mới, Cấu trúc luận và Hậu cấu trúc, một bên là các lý thuyết mang tính duy sử luận như Chủ nghĩa Marx, Nữ quyền luận, Tân Duy sử luận, và Hậu thuộc địa. Ở trường hợp đầu tiên, chiếm vị trí chủ chốt là phân tích ngôn ngữ, tu từ, ký hiệu hoặc các hệ thống biểu nghĩa khác; ở trường hợp thứ hai, xu hướng chung là phê phán các điều kiện xã hội, văn hóa và lịch sử, cũng như cách thức những điều kiện ấy phản ảnh trở lại và được biến đổi thông qua các hình thức văn hóa như văn bản văn học. Một định nghĩa ngắn gọn được đưa ra: “lý thuyết là khả năng tổng hợp hóa về các hiện tượng và phát triển các khái niệm tạo thành nền tảng cho diễn giải và phân tích.”
Các lý thuyết gia ngày nay thường rời xa mô hình lập luận phát triển từ thời Khai minh, theo đó chủ thể tri thức được phổ quát hóa, sử dụng một lối tiếp cận mang tính kinh nghiệm chủ nghĩa tới các hiện tượng, và tin tưởng vào tính phổ quát cũng như năng lực to lớn của lý trí. Tuy nhiên, cũng cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề “phong cách” của các lý thuyết gia, kể cả vấn đề về những biệt ngữ mù mờ, tối tăm.
Trước câu hỏi “Văn học là gì?” Castle lược lại lịch sử mỹ học từ Aristotle cho tới Heidegger và cả Jean-François Lyotard, với sự nhấn mạnh vào cái “trác tuyệt” (sublime). Hiện nay, một lý thuyết đang cạnh tranh mạnh mẽ với các lý thuyết trước đây là lý thuyết về người đọc, đặt trọng tâm của quá trình văn học vào giới độc giả thay vì vào sự sáng tạo và người sáng tạo như trước đây. Lịch sử của lý thuyết văn học là một lịch sử về những quan niệm luôn thay đổi liên quan tới đọc vàdiễn giải, cũng như những quan niệm luôn thay đổi về văn học và tính văn học, và lý thuyết văn học thường xuyên phát triển bằng cách áp dụng một lý thuyết tổng quát hơn (về nghệ thuật, văn hóa, ngôn ngữ…) vào các tác phẩm văn học theo một hướng phê bình nào đó. Do vậy lý thuyết văn học phát triển với nhiều quan niệm, thuật ngữ, và hệ hình mượn từ các lĩnh vực tri thức khác. Cần phải chú ý rằng lý thuyết văn học không có các tiêu chí cố định.
Trong phần “Sự trỗi dậy của lý thuyết”, Castle trình bày một lịch sử của lý thuyết văn học. Khởi thủy là Hy Lạp cổ đại, trong các ý tưởng của Plato về sự mô phỏng (mimesis) và tác phẩm Nghệ thuật thi ca của Aristotle. Tác phẩm của Aristotle thiết lập các định nghĩa cổ điển về bi kịch và phân biệt thơ với lịch sử. Một nhân vật Hy Lạp cổ đại quan trọng nữa là Longinus với lý thuyết về cái trác tuyệt. Giai đoạn từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII chứng kiến sự xuất hiện của một số khảo luận quan trọng về nghệ thuật văn chương, với các tên tuổi như Philip Sidney, John Dryden, Pierre Corneille, Alexander Pope, Edmund Burke, Immanuel Kant, triết gia đặc biệt chủ chốt của lịch sử mỹ học, nhất là phương diện năng lực phán đoán. Kant chính là người gây ảnh hưởng lớn lên chủ nghĩa lãng mạn Anh: William Wordsworth, tiếp theo Schiller, nhấn mạnh tầm quan trọng của cái “chơi” mang tính mỹ học trong tác phẩm mỹ học. Cho đến Matthew Arnold, chủ nghĩa lãng mạn Anh đã tìm được truyền nhân xứng đáng ở lý thuyết và phê bình văn học. Với việc vai trò của tôn giáo và nhà thờ suy giảm trong xã hội,Arnold đã có thể phát biểu rằng văn học cung cấp sự hướng lối về đạo đức và tinh thần cho một xã hội thế tục mới mẻ.
Một phần tư cuối của thế kỷ XIX chứng kiến một số tiếng nói cất lên hưởng ứngArnold, nhấn mạnh cả các trách nhiệm xã hội của nghệ thuật lẫn sự tự do của nghệ thuật. Thời kỳ này có các tác giả nổi bật như John Ruskin, Oscar Wilde và Walter Pater. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, đã có thể nói đến “các xu hướng của chủ nghĩa hiện đại trong lý thuyết văn học, từ 1890 đến những năm 1940”. Giai đoạn của chủ nghĩa hiện đại có một số “pha” phát triển chính: đầu tiên là từ 1890 đến 1918, rồi từ 1919 đến 1939 và những năm 1930-1940, khi ở Anh và Mỹ bắt đầu xuất hiện các nhà phê bình chuyên nghiệp sống bằng phê bình như một cái nghề thực thụ. Ảnh hưởng củaArnoldvẫn còn rất mạnh mẽ, nhưng cũng đã bắt đầu xuất hiện sự phê phán, chẳng hạn như từ Oscar Wilde. Các nhân vật cần nhắc đến của chủ nghĩa hiện đại là T. S. Eliot, Ezra Pound, T. E. Hulme, và Wyndham Lewis. Henry James tuy là một nhà văn nhưng cũng có nhiều đóng góp về lý thuyết văn học, đặc biệt là lý thuyết tự sự, khi bàn về lĩnh vực này trong nhiều lời giới thiệu tiểu thuyết. Một nhóm văn chương không thể bỏ qua là nhómBloomsburyvới gương mặt chủ chốt Virginia Woolf, và những người như Lytton Strachey và E. M. Forster.
Kỷ nguyên chủ nghĩa hiện đại của phê bình văn học còn đồng hành với sự xuất hiện của chủ nghĩa hình thức, một sự tiếp nối công trình lý thuyết của nhà ngôn ngữ học Ferdinand de Saussure. Các nhà hình thức Nga đã đặt nền móng cho cấu trúc luận sau này. Cùng với đó là Phê bình Mới ở Anh, Mỹ (xuất phát từ thơ và thi học, đưa ra các chiến lược mới về diễn giải). Các trường đại học Anh, Mỹ dần được quy chuẩn và đó cũng là điều kiện tiên quyết đề hình thành một nền nghiên cứu hàn lâm, dòng sách giáo khoa và hướng dẫn trở nên thịnh hành, như những cuốn sách do Brooks vàWarrenthực hiện.
Từ những năm 1930 đến những năm 1960, lý thuyết xã hội và lý thuyết phê phán trở nên chiếm ưu thế. Một trong những gương mặt mang tầm quan trọng lớn nhất của thời kỳ đầu là nhà Marxit người Hungari Georg Lukács, một nhà phê bình tiểu thuyết Hiện đại đầy danh tiếng và một người chủ xướng cho “chủ nghĩa hiện thực phê phán”. Ông coi tiểu thuyết là một thể loại “có vấn đề”, sử thi của một thời đại trong đó tính toàn bộ rộng lớn của cuộc sống không còn là một điều hiển nhiên nữa. Trong những năm 1920 và 1930, Viện Nghiên cứu Xã hội Frankfurt được thành lập bởi Felix Weil và được sáp nhập vào Đại học Frankfurt năm 1923 dưới sự lãnh đạo của Carl Grünsberg, người biến chủ nghĩa Marx trở thành nền tảng lý thuyết của nó. Từ đây sẽ hình thành “trường pháiFrankfurtdanh tiếng”, với những cái tên như Max Horkheimer, Theodor Adorno, Walter Benjamin và Herbert Marcuse. Horkheimer quan tâm đến một phân tích mang tính Marxit về văn hóa, nhấn mạnh các phương pháp xã hội học, trong khi Adorno và Benjamin chú tâm hơn đến phân tích triết học, văn học, phim, nhạc, và các hình thức sản xuất văn hóa khác. Marcuse, giống như Horkheimer, thực hiện các nghiên cứu xã hội học, nhưng công trình của ông về tâm phân học của Freud đã nhấn mạnh vào tầm quan trọng của tâm lý học trong nghiên cứu các hình mẫu hoặc thiết chế xã hội. Dự án lý thuyết chung của họ là cuộc điều tra mang tính hệ thống về tính hiện đại (modernity), văn hóa đại chúng và văn hóa hàng hóa, chế độ độc đoán, chủ nghĩa bài Do Thái, và ý hệ tư bản.
Trường pháiFrankfurtcó ảnh hưởng rất lớn về sau trong lý thuyết phê phán. Với việc Adorno mất vào năm 1969 và Horkheimer mất vào năm 1973, thế hệ đầu tiên của các lý thuyết gia phê phán đã chấm dứt. Đầu những năm 1960, Jürgen Habermas nổi lên như gương mặt dẫn đầu của một thế hệ mới các lý thuyết gia phê phán. Ông phê phán lý thuyết Marxit mạnh mẽ hơn nhiều so với thế hệ trước đó, và do vậy công trình của ông về địa hạt công cộng tập trung không phải vào đối kháng giữa các hoặc vào tính không thể tránh khỏi của một cuộc cách mạng vô sản, mà vào quyền lực ẩn giấu đằng sau các diễn ngôn chính trị và văn hóa cũng như các thiết chế và cách thức chúng hoàn chỉnh và giữ vững tính hợp thức. Với ông, vấn đề cốt tử là cuộc khủng hoảng về hợp thức hóa của giai đoạn hiện đại sau này.
Có nhiều điểm trùng nhau giữa Lý thuyết Phê phán và Lý thuyết Hậu thuộc địa, bắt đầu hình thành như một bộ môn vào những năm 1950. Các gương mặt chủ chốt của giai đoạn đầu tiên này là Albert Memmi và Frantz Fanon. Albert Memmi là tác giả của công trình Kẻ thực dân và người thuộc địa (The Colonizer and the Colonized), được xuất bản vào năm 1957 giữa khi diễn ra những cuộc đấu tranh chống thuộc địa tại Tunisia và Algeria. Fanon cho xuất bản một tác phẩm quan trọng, Da đen, mặt nạ trắng (Black Skin, White Masks), bàn về các vấn đề của một người da đen sống trong một thế giới “da trắng hóa”. Trong Những người khốn khổ của Trái đất (The Wretched of the Earth) (1961), ông lập luận rằng vai trò của cuộc chiến đấu chống thực dân là nhằm để “tái đưa loài người vào lại với thế giới, toàn thể loài người”.
Một xu hướng lý thuyết quan trọng khác bắt nguồn trong giai đoạn hậu chiến này là Cultural Studies. Trong những năm đầu tiên, Richard Hoggart và Raymond Williams đưa các phương pháp duy vật và xã hội học trong phân tích vào nghiên cứu văn hóa. Williams, người chú trọng vào các mối liên hệ giữa văn học và văn hóa cũng như vào các phương thức mới của liên lạc đại chúng đang chuyển hóa đến tận bản chất của văn hóa, là đại diện lớn nhất của ảnh hưởng từ chủ nghĩa Marx vào Cultural Studies. Cuốn sách Văn hóa và Xã hội: 1780-1950 (Culture and Society: 1780-1950) (1958) mở đầu một truyền thống của Anh về chủ nghĩa Marx theo hướng văn hóa được cung cấp tư liệu từ xã hội học và nhân học, trong khi tác phẩmCommunications (1962) của ông mang tính công cụ trong việc định nghĩa các ngành mới, truyền thông và nghiên cứu các phương tiện truyền thông. Việc thành lập, vào năm 1964, của Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Đương đại tại Đại học Birmingham mang tính then chốt trong việc tạo lập lĩnh vực này, trước hết là ở Anh. Trong giai đoạn đầu của Cultural Studies đó (giai đoạn thứ hai ở Mỹ sẽ bắt đầu nổi lên vào những năm 1980), các lý thuyết gia chủ yếu quan tâm đến các truyền thống văn hóa và văn học, các công nghệ mới, và các nhóm xã hội bên lề. Tác phẩm của Hoggart về sự biết đọc biết viết và tác phẩm của Stuart Hall về chính trị và cảnh sát điển hình cho tính chất xã hội học đậm nét trong các tác phẩm giai đoạn sớm trong Cultural Studies của Anh.
Năm 1966 là bước ngoặt của hậu cấu trúc, nảy sinh từ các phát triển của Cấu trúc luận, đã đạt đến một đỉnh cao vào năm 1958 với tác phẩm Nhân học cấu trúc của Lévi-Strauss. Tác động của Lévi-Strauss là rất lớn lên Roland Barthes, người có các tác phẩm không chỉ quan trọng vì những gì nó hoàn thành được trong khuôn khổ phong trào Cấu trúc luận mà còn ở chỗ nó nhanh chóng và cả quyết thoát khỏi các quy chuẩn của Cấu trúc luận. Năm 1970, S/Z, nghiên cứu về một truyện ngắn của Balzac, đã đánh dấu bước quá độ của Barthes sang một cách hiểu mang tính hậu cấu trúc về cách thức hoạt động của truyện kể và chỉ ra tiềm lực năng sản của các mâu thuẫn, khoảng trống, và các “nan đề” (aporia) tìm được trong các văn bản từ rất nhiều lĩnh vực khác nhau.
“Một dấu hiệu đáng kể nữa của bước ngoặt từ tư tưởng cấu trúc luận sang tư tưởng hậu cấu trúc luận là một cuộc hội thảo, “Các ngôn ngữ của phê bình và các khoa học về con người”, được tổ chức bởi Trung tâm Khoa học Nhân văn thuộc Đại học John Hopkins vào tháng Mười, 1966 (các tham luận được xuất bản vào năm với cái tên Cuộc tranh luận cấu trúc luận – The Structuralist Controversy). Trong số những người tham gia cuộc hội thảo có René Girard, Georges Poulet, Tzvetan Todorov, Jean Hyppolite, Barthes, Jacques Lacan, và Jacques Derrida. Trong số các tham luận có bài viết của Derrida mang tên “Cấu trúc, ký hiệu và trò chơi trong diễn ngôn của các khoa học nhân văn” (Structure, Sign, and Play in the Discourse of the Human Sciences), đã tạo ra một hiệu ứng chuyển đổi lên phê bình và lý thuyết văn học tại Mỹ. Bài tiểu luận là một sự phê phán nặng nề đối với “quan niệm về cấu trúc trung tâm hóa – centered structure” và một phân tích về quan niệm trò chơi (play), thuật ngữ của Derrida cho các khả năng phi trung tâm hóa của ngôn ngữ và các văn bản. Những người tham gia cuộc hội thảo, đặc biệt là Barthes, Lacan và Derrida, chỉ ra những lĩnh vực mới của nghiên cứu lý thuyết dựa trên một phê phán về Cấu trúc luận của Saussure. “Bước ngoặt” hậu cấu trúc luận này đã thay đổi đến cực điểm cách thức lý thuyết văn học tự tạo ra chính nó cũng như các đối tượng phân tích của mình.”
Theo nhiều cách, Hậu cấu trúc luận trùng hợp với chủ nghĩa Hậu hiện đại, mặc dù hai khái niệm này không hề đồng nghĩa với nhau. Trong khi Hậu hiện đại chủ yếu quan tâm đến một phê phán về tính hiện đại và một sự khước từ chủ nghĩa Hiện đại mỹ học, thì Hậu cấu trúc luận lại hướng vào quá trình phê phán đang diễn ra đối với Cấu trúc luận và sự phát triển của các lý thuyết ngôn ngữ mới, văn bản học (textuality), và tính chủ thể (subjectivity).
Giải cấu trúc không chỉ thuần túy lý thuyết mà còn được áp dụng vào nghiên cứu thực tế: Derrida sử dụng các phương pháp thuộc giải cấu trúc để xem xét một khối lượng đa dạng các văn bản xã hội và văn hóa, Homi Bhabha và Gayatri Chakravorty Spivak (người dịch tác phẩm Ngữ pháp học của Derrida sang tiếng Anh) sử dụng các phương pháp Hậu cấu trúc để tra vấn các diễn ngôn thuộc địa, còn Foucault nghiên cứu bản chất các thiết chế xã hội (bệnh viện, nhà thương điên, và nhà tù) đã có một tác động vô cùng lớn tới quá trình chính trị hóa lý thuyết. Quả thực, sau 1968, các hoạt động chính trị của ông đã trở thành khuôn mẫu cho lý thuyết gia “dấn thân”, cả ở châu Âu và Mỹ.
Nhiều nhà nghiên cứu Mỹ đã tiếp thu Derrida với nhiều thành tựu nổi bật, trong đó phải kể đến Các nhà Giải cấu trúc Yale, gồm có J. Hillis Miller, Paul de Man, Geoffrey Hartman, Barbara Johnson, và Harold Bloom. “Bắt đầu vào những năm đầu thập niên 1970, với tác phẩm Mù lòa và nhìn thấu (Blindness and Insight) của de Man (1971), giải cấu trúc Mỹ tập trung mối quan tâm mới vào diễn giải và nhấn mạnh giá trị của triết học (đặc biệt là triết lý của Nietzsche) trong việc hình thành lý thuyết văn học. Các bài tiểu luận của Miller vào thời điểm này trình bày rõ rệt các tính chất mang tính mê cung của tính văn bản và của sự đọc. Ông tập trung vào các khuôn mặt đã trở thành điển phạm của văn học Anh và Mỹ, với sự lưu ý lớn vào các tiểu thuyết gia Anh thế kỷ mười chín. Tác phẩm của Miller chính là lần xem xét lại truyền thống tiểu thuyết Anh quan trọng nhất kể từ Truyền thống lớn (Great Tradition) của Leavis in vào năm 1948. Hartman và Bloom thì liên quan đến một dự án tương tự, phục hồi vị trí của các nhà thơ lãng mạn, đặc biệt là Wordsworth và Shelley. (Mặc dù thường xuyên được tính như một thành viên của nhóm Yale, tác phẩm của Bloom lại có một đặc tính riêng biệt, thiếu vắng cái nền tảng chung rút ra từ hiện tượng luận và ngôn ngữ học châu Âu có ở các nhà Giải cấu trúc quan trọng.) Tác phẩm của Barbara Johnson đi tiên phong trong ứng dụng lý thuyết của Derrida vào các vấn đề của Nữ quyền luận và văn học Phi-Mỹ và cho thấy rõ vai trò cốt yếu của lý thuyết Nữ quyền trong kỷ nguyên Hậu cấu trúc.”
Hậu cấu trúc và Hậu thuộc địa gây tác động to lớn lên Nữ quyền luận. “Tác phẩm của de Beauvoir mở màn cho một đợt sóng thứ hai của Nữ quyền luận chăm chú về quyền dân sự, công bằng xã hội, và sự phê phán chủ nghĩa gia trưởng. Đỉnh cao đầu tiên của làn sóng này được đạt tới ở Mỹ, nơi ba tác phẩm chủ chốt xuất hiện trong vòng bảy năm – Bí ẩn tính nữ (The Feminine Mystique) của Betty Friedan (1963), Chính sách về giới (Sexual Politics) của Kate Millet (1970), và Nữ hoạn quan (The Female Eunuch) của Germaine Greer (1970) – và chúng tạo cơ sở cho cuộc cách mạng nữ quyền luận, cái với nhiều nhà quan sát người Mỹ, không tách rời khỏi cuộc cách mạng tình dục. Những mối quan tâm chính của các nhà nữ quyền luận này – các quyền bình đẳng ở nơi làm việc, tái hiện trong văn học và chính trị, tự do tình dục – chỉ ra bầu không khí xã hội và chính trị thời ấy. Khoảng cuối những năm 1970, Nữ quyền luận đã trở thành một lực lượng mạnh mẽ trong các trường đại học Mỹ và các giới trí thức. Elaine Showalter, Sandra Gilbert, và Susan Gubar viết các tác phẩm tiên phong trong lịch sử văn học nữ quyền và tạo ra các hình mẫu cho lý thuyết và phê bình văn học nữ quyền, nhanh chóng được áp dụng rộng rãi và biến đổi theo hướng nhân rộng.”
Những năm 1960 và 1970 còn chứng kiến sự phát triển vượt bậc của lý thuyết tự sự. Từ các lý thuyết gia mở đường như Roland Barthes, Gérard Genette, Mikhail Bakhtin, lý thuyết gia người Mỹ Seymour Chapman, vay mượn các thuật ngữ từ Chủ nghĩa hình thức Nga và xây dựng trên tác phẩm của Christian Metz ở Pháp, phát triển một lý thuyết về tự sự mà ông ứng dụng cả vào hư cấu và phim. Các tác phẩm mới cũng hướng đến lý thuyết tiểu thuyết, xây dựng trên nền tảng mà Henry James và Conrad để lại. Chẳng hạn như tác phẩm Tu từ học hư cấu (Rhetoric of Fiction) của Wayne Booth cung cấp một hệ thống loại hình mang tính tu từ học về tiểu thuyết, trong đó một số khía cạnh – người kể chuyện đáng tin và người kể chuyện hàm ngụ – vẫn còn được sử dụng rộng rãi ngày nay.
Lý thuyết người đọc (Reader-Response) mang một phần sự nghiêm ngặt về mặt lý thuyết của thông diễn học ra để áp dụng ngữ dụng học của sự đọc. Một số tác phẩm mới nhất trong lĩnh vực này đã được thực hiện vào những năm 1930 bởi nhà hiện tượng luận Roman Ingarden, và sau này chính công trình đó đã tạo cảm hứng cho Umberto Eco và Wolfgang Iser. Trong khi các lý thuyết mới bắt đầu xuất hiện trong những năm 1970, nhiều cách tiếp cận lý thuyết truyền thống hơn đối với văn học được hưởng một mối quan tâm trở lại. Một trong các lý thuyết có được sức sống mới quan trọng nhất là Chủ nghĩa Marx, đặc biệt là chủ nghĩa Marx thông qua sự diễn giải lại của Fredric Jameson và Louis Althusser.
Sang đến những năm 1980, lý thuyết lại tập trung vào chiều hướng duy sử luận (historicism) và phê phán văn hóa. Một xu hướng quan trọng là “chủ nghĩa duy vật văn hóa”, vứt bỏ các phương pháp và phạm vi quan tâm của Hậu cấu trúc, đặc biệt là Giải cấu trúc. Phân tích văn học và văn hóa từ một quan điểm duy vật đặt tiền giả định là chủ thể vừa không bền vững vừa không độc lập, mà trở thành chủ thể của các lực lượng xã hội, văn hóa, và lịch sử. Năm 1981, nhà Marxit người Mỹ Fredric Jameson tuyên bố: “Phải luôn luôn lịch sử hóa!” (Always historicize!), đòi hỏi phê bình văn hóa phải bao hàm việc kiểm tra các yếu tố vật chất, xã hội và chính trị cấu thành nên mỗi thời điểm lịch sử. Tác giả quan trọng của giai đoạn này là nhà Tân duy sử luận Stephen Greenblatt, và cũng phải tính đến vai trò của tờ tạp chíRepresentations với Greenblatt là đồng tổng biên tập. Greenblatt đề xuất một cách đọc văn bản văn học dựa trên việc bối cảnh hóa chúng bên trong một môi trường gồm các văn bản phi văn học khác (lịch sử “dày”). Edward Said cũng đóng góp vớiĐông phương luận, một tác phẩm chủ chốt của lý thuyết hậu thuộc địa, giờ đây cũng phát triển không ngừng.
Nghiên cứu về giới và tính dục trở nên quan trọng, với các tác giả như Angela McRobbie và Janice Radway. Donna Haraway tìm đến sự năng động của giới trong tự nhiên. Chủ thể trở thành nhân vật chính của giai đoạn này, với những tra vấn mới của Slavoj Zizek và Homi Bhabha. Judith Butler nổi bật lên với tác phẩm Gender Trouble và khái niệm “biểu hành” (perfomativity), ngày càng có ảnh hưởng lớn hơn lên nghiên cứu lý thuyết văn học nói chung.
Castle kết thúc phần này bằng mục “Lý thuyết ở Fin de Siècle – cuối thế kỷ”: “Trong thập niên cuối cùng của thế kỷ hai mươi, xu hướng chung tiến về phía duy sử luận (historicism) tiếp diễn, với các phát triển mới trong lý thuyết Hậu hiện đại, Nữ quyền luận, và Lý thuyết Phê phán. Ở vị trí hàng đầu trong các phát triển đó là sự phục hồi mang tính phê phán của một số phạm trù – đặc biệt là chủ thể (subject) và tính phổ quát (universality) – những gì có thể được sử dụng để phục vụ cho chuyển đổi xã hội và văn hóa. Nữ quyền luận ở fin de siècle [cuối thế kỷ] đóng một vai trò dẫn đầu trong việc tạo ra lý thuyết phê phán ở Hậu hiện đại. Từ đầu những năm 1990, Butler, Seyla Benhabib, và Drucilla Cornell bắt đầu sử dụng Lý thuyết Phê phán chung với phê phán Nữ quyền luận để hướng đến các vấn đề thuộc về xã hội và chính trị liên quan tới phụ nữ. Cùng lúc đó nữ quyền luận hậu thuộc địa, đặc biệt trong các tác phẩm của Spivak và Mohanty, tiếp tục đặt thành vấn đề chính sách của các quốc gia hậu thuộc địa nơi phụ nữ vẫn tiếp tục phải chịu đựng quy chế gia trưởng. Vai trò xương sống của phê phán nữ quyền luận đối với hậu hiện đại là tác phẩm Nữ quyền luận hợp pháp hậu hiện đại (Postmodern Legal Feminism) của Mary Joe Frug (1992), cuốn sách chiến đấu chống lại các giả thuyết nam quyền trong chủ thể của diễn ngôn hợp pháp. Tác phẩm mang tính đột phá của bà được phát triển bởi Jennifer Wicke và Barbara Johnson, những người hướng tới các vấn đề về giới, căn cước, và công bằng xã hội. Theo Wicke, Nữ quyền luận cần “nắm bắt được một thực tế mà hiếm khi chúng ta đặt được tên, tình thế Hậu hiện đại của một lý thuyết về căn cước tìm cách vượt qua các giới hạn của các căn cước cố định, bất di bất dịch, và mang tính tôn ti, với một nữ quyền luận vẫn liên quan tới một chính sách thẳng thắn về căn cước”. Việc đặt vấn đề mang tính phê phán về những khía cạnh nền tảng của cuộc sống xã hội – quy chế hợp pháp của phụ nữ, đạo đức học về sinh sản, cuộc sống trí thức và thẩm mỹ, tầng lớp và căn cước chủng tộc – tiếp tục là trọng tâm của một Nữ quyền luận Hậu hiện đại không hề để mất dấu chủ thể của chính sách về căn cước.”
Phần “Phạm vi của lý thuyết văn học” chia làm mười sáu mục nhỏ: Critical Theory (Lý thuyết Phê phán); Cultural Studies (Nghiên cứu Văn hóa); Deconstruction (Giải cấu trúc); Ethnic Studies (Nghiên cứu các nhóm người thiểu số); Feminist Theory (Lý thuyết Nữ quyền); Gender and Sexuality (Giới và Tính dục); Marxist Theory (Lý thuyết Marxit); Narrative Theory (Lý thuyết Tự sự); New Criticism (Phê bình Mới); New Historicism (Tân Duy sử luận); Postcolonial Studies (Nghiên cứu Hậu thuộc địa); Postmodernism (Hậu hiện đại); Poststructualism (Hậu cấu trúc); Psychoanalysis (Tâm phân học); Reader-Response Theory (Lý thuyết Người đọc); Structuralism and Formalism (Cấu trúc luận và Hình thức luận). Ở phần này, các lý thuyết được đi sâu phân tích hơn phần trước, với lịch sử vấn đề cặn kẽ hơn và sử dụng các trích dẫn từ tác phẩm cụ thể để minh họa cho các diễn giải.
Phần “Các gương mặt chủ chốt của lý thuyết văn học” (tiểu sử ngắn gọn đi kèm với một trình bày súc tích đường lối nghiên cứu chính) gồm có 39 nhân vật: Theodor Adorno, Louis Althusser, Mikhail Bakhtin, Roland Barthes, Jean Baudrillard, Walter Benjamin, Homi Bhabha, Pierre Bourdieu, Judith Butler, Hazel Carby, Hélène Cixous, Teresa de Lauretis, Gilles Deleuze và Félix Guattari, Paul de Man, Jacques Derrida, Terry Eagleton, Frantz Fanon, Stanley Fish, Michel Foucault, Henry Louis Gates, Sandra Gilbert và Susan Gubar, Stephen Greenblatt, Stuart Hall, Donna Haraway, bell hooks, Linda Hutcheon, Luce Irigaray, Wolfgang Iser, Fredric Jameson, Julia Kristeva, Jacques Lacan, Jean-François Lyotard, J. Hillis Miller, Edward Said, Eve Kosofsky Sedgwick, Elaine Showalter, Gayatri Chakravorty Spivak, Raymond Williams, Slavoj Zizek.
Phần cuối của cuốn sách được dành cho các “ứng dụng”: “Đọc cùng với lý thuyết văn học”. Castle đưa ra cách đọc mang tính lý thuyết đối với một số tác phẩm nổi tiếng: The Tempest (Cơn bão) của William Shakespeare, “Ode on a Grecian Urn” (Bài tụng ca trên một cái bình Hy Lạp) của John Keats, Jane Eyre của Charlotte Brontë, Bartleby the Scrivener: a Story of Wall Street (Bartleby người cạo giấy: một câu chuyện Wall Street) của Herman Melville, Heart of Darkness (Tâm bóng tối) của Joseph Conrad, Ulysses của James Joyce, To the Lighthouse (Đến ngọn hải đăng) của Virginia Woolf, Their Eyes Were Watching God (Mắt họ đang nhìn Chúa) của Zora Neale Hurston, “Leda and the Swan” (Leda và thiên nga) của William Butler Yeats,Endgame của Samuel Beckett, Midnight’s Children (Những đứa con lúc nửa đêm) của Salman Rushdie và Nights at the Circus (Những đêm ở rạp xiếc) của Angela Carter.
 NguồnNghiên cứu văn học Việt Nam-những khả năng và thách thức (Tuyển tập chuyên khảo do Viện Harvard-Yenching, Hoa Kỳ tài trợ). Nxb Thế giới, 2009

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s