(Lk với Tạp chí Nhà văn): NGUYÊN THANG: Phải chăng Vũ Trinh là tác giả Áng văn tế trận vong tướng sĩ?

 
Mùa thu năm Nhâm Tuất (1802), sau khi bình định được Bắc Hà, vua Gia Long trở về Phú Xuân, ủy thác cho Tiền quân Nguyễn Văn Thành ở lại Thăng Long làm Tổng trấn Bắc Thành, thống lĩnh cả mười một trấn Bắc Hà. Vị tướng Tiền quân Tổng trấn sửa một tuần rượu tế các tướng sĩ đã tử trận và đọc bài văn tế như sau:
Than ôi!
Trời Đông phố vận ra Sóc cảnh, trải bao phen gian hiểm mới có ngày nay; nước Lô Hà chảy xuống Lương Giang, nghĩ mấy kẻ điêu linh những từ thủa nọ. Cho hay sinh là ký mà tử là qui; mới biết mệnh ấy yểu mà danh ấy thọ.
Xót thay:
Tình dưới viên mao, phận trong giới trụ. Ba nghìn họp con em đất Bái, cung tên ngang dọc chí nam nhi; hai trăm vầy bờ cõi non Kỳ, cơm áo nặng dầy ơn cựu chủ.
Giấn thân cho nước, son sắt một lòng; nối nghĩa cùng thày, tuyết sương mấy độ.
Kẻ thời theo cơ đích chạy sang miền khách địa, hăm hở mài nanh giũa vuốt, chỉ non tây thề chẳng đội trời chung; kẻ thời đón việt mao trở lại chốn sơ cơ, dập dìu vén cánh nương vây, trông cõi Bắc quyết thu về đất cũ.
Nằm gai nếm mật, chung nỗi ân ưu; mở suối bắc cầu, riêng phần lao khổ.
Trước từng trải Xiêm La, Cao Miên về Gia Định mới dần ra Khánh, Thuận đã mấy buổi sơn phong hải lề, tròi Cao, Quang soi tỏ tấm kiên trinh; rồi lại từ Đồ Bàn, Nam, Ngãi lấy Phú Xuân mà thẳng tới Thăng Long, biết bao phen vũ pháo vân thê, đất Lũng, Thục lăn vào nơi hiểm cố.
Phận truy tùy, gẫm lại cũng cơ duyên; trường tranh đấu biết đâu là mệnh số.
Kẻ thời chen chân ngựa quyết giật cờ trong trận, xót lẽ gan vàng mà mệnh bạc, nắm lông hồng theo đạn lạc tên bay; kẻ thời bắt mũi thuyền toan cướp giáo giữa dòng, thương thay phép trọng để thân khinh, phong da ngựa mặc bèo trôi sóng vỗ.
Hồn tráng sĩ biết đâu miền minh mạc, mịt mù gió lốc, thổi dấu tha hương; mặt chinh phu không vẽ nét gian nan, lập loè lửa chơi, soi chừng cổ độ. Ôi! Cùng lòng trung nghĩa, khác số đoản tu; nửa cuộc công danh, chia phần kim cổ.
Đoái là tiếc xương đồng da sắt, thanh bảo kiếm đã trăm rèn mới có, nợ áo cơm phải trả đến hình hài; những là khen dạ đá gan vàng, bóng bạch câu xem nửa phút như không, ơn dầy đội cũng cam trong phế phủ.
Phận dù không gác khói đài mây; danh đã dậy ngàn cây nội cỏ.
Thiết vì thủa theo cờ trước gió, thân chả quản màn sương đệm giá, những chờ xem cao thấp bức cân thường; tiếc cho khi lỡ bước giữa dòng, kiếp đã về cõi suối làng mây, nào kịp thấy ít nhiều ơn vũ lộ.
Vâng thượng đức hồi loan tháng trước, đoàn ứng nghĩa dẫu Quảng, Thuận, Nghệ, Thanh cũng vậy, giội ân quang gieo khắp xuống đèo Ngang; mà những người từng thượng trận ngày xưa, dắp tấu công từ Ngọ, Vị, Thân, Dậu đến giờ; treo tính tự để nằm trong lá số.
Ngọn còi rúc nguyệt, nơi tẻ nơi vui; dịp trống dồn hoa, chốn tươi chốn ủ. Đã biết rằng anh hùng thì chẳng quản, trăm trận một trường oanh liệt, cái sinh không, cái tử cũng là không; nhưng tiếc cho tạo hóa khéo vô tình, ngàn năm một hội tao phùng, phận thủy có phận chung sao chẳng có?
Bản chức nay:
Vâng việc biên phòng, chạnh niềm viễn thú. Dưới trướng nức mùi chung đỉnh, sực nhớ khi chén rượu rót đầu ghềnh; trong nhà rỡ vẻ áo xiêm, chạnh nghĩ buổi tấm cừu vung trước gió. Bâng khuâng kẻ khuất với người còn; tưởng tượng thầy đâu thì tớ đó.
Nền phủ định tới đây còn xốc nổi, vụ lòng một lễ, chén rượu thoi vàng; chữ tương đồng ngẫm lại vốn đinh ninh, khắp mặt ba quân, cờ đào nón đỏ. Có cảm thông thì tới đó khuyên mời; dù linh thính hãy nghe lời dặn dỗ.
Buổi chinh chiến hoặc là oan hay chẳng, cũng chớ nề kẻ trước người sau, hàng trên lớp dưới, khao thưởng rồi sẽ tấu biểu dương cho; hội thăng bình đừng có nghĩ rằng không, dù ai còn cha già, mẹ yếu, vợ góa, con côi, an tập hết, cũng ban tồn tuất đủ.
Hồn phách đâu đều ngày tháng Thuấn, Nghiêu; hài cốt đó cũng nước non Thang, Vũ.
Cơ huyều diệu hoặc thăng trầm chưa rõ, thiêng thời về cố quận, để hương thơm lửa sáng, kiếp tái sinh lại nhận cửa tiền quân; niềm tôn thân dù sinh tử chớ nề, linh thời hộ Hoàng triều cho bể lặng sông trong, duy vạn kỷ chửa dời ngôi bảo tộ.
Áng văn tế nêu lên công trạng anh hùng của các tướng sĩ từng cùng nằm gai nếm mật, chiến đấu gian nan đã hy sinh anh dũng, biểu lộ tình cảm thương tiếc của người chủ tướng đối với binh sĩ đã mất, đến ngày thắng lợi không còn trở về cùng đồng đội, bâng khuâng kẻ khuất người còn.
Lời văn thống thiết hùng hồn gây xúc động lòng người. Người ta đều thán phục đây là một áng văn tuyệt bút, nhưng không biết ai là tác giả viết nên áng văn tế này cho vị võ tướng Tiền quân người Gia Định đọc trong buổi tế.
Xét lời văn thì bài văn tế có vẻ do một văn sĩ người Bắc Hà viết! Chắc hẳn tác giả phải là một cây bút đại gia, học vấn uyên thâm, văn chương uẩn xúc; phải có quan điểm chính kiến về triều đại chính thống như người chủ tướng; phải có quan hệ chí thiết với vị Tổng trấn và có lẽ phải được ông này quý phục ngưỡng mộ tài năng văn chương mới tin cậy ủy thác cho soạn bài văn quan trọng này và chắc hẳn để đáp lại ân tri ngộ của vị chủ soái, tác giả mới dốc hết tâm huyết tài năng văn chương ra soạn nên áng văn tế.
Đã có thuyết cho tác giả bài văn tế là Nguyễn Huy Lượng – từng là tác giả áng văn nổi tiếng Tụng Tây Hồ phú (1801) ca tụng công đức nhà Tây Sơn và cảnh đẹp Hồ Tây Thăng Long khi vua Tây Sơn Quang Toản bị Gia Long đánh thua phải bỏ Kinh đô Phú Xuân chạy ra trụ ở Thăng Long.
Nhưng theo thiển ý có lẽ không phải Nguyễn Huy Lượng là tác giả bài văn tế Trận vong tướng sĩ này vì:
– Khó có thể một danh sĩ, một đại thần vừa mới năm trước đây (1801) ca tụng công đức triều đại mình dốc lòng phục vụ mà ngay năm sau (1802) đã có tâm trí nào mà quay lại, dốc hết tâm huyết ra múa bút ca tụng triều đại mới, chủ mới… Vả lại không dễ gì nhà Nguyễn Gia Long lại tin cậy một hàng thần vừa mới ca tụng nhà Tây Sơn, kẻ thù không đội trời chung của họ.
– Cứ xem cách họ đối xử với các đại danh sĩ từng cộng tác với nhà Tây Sơn như Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích bằng cách dùng nhục hình đem nọc đánh họ ở Văn Miếu thì đủ rõ!
Tìm hiểu các tác gia thời Lê Mạt – Nguyễn Sơ, chúng tôi thấy có một người đáp ứng được các điều kiện nêu trên đó là Liên Trì Ngư Giả Vũ Trinh.
Danh sĩ Vũ Trinh (1759-1828), người làng Xuân Quan, huyện Lương Tài, trấn Kinh Bắc (nay thuộc Bắc Ninh), tự là Duy Chu biệt hiệu là Lai Sơn, Nguyên Hanh, hiệu là Liên Trì Ngư Giả. Ông là một cựu thần nhà Lê từng giữ chức Tham Tri Chính Sự. Vũ Trinh là con rể Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm, anh rể của thi hào Nguyễn Du.
Trung thành với nhà Lê, ông không chịu ra cộng tác với nhà Tây Sơn mà lui về ẩn cư ở vùng Hồ Sơn.
Năm Mậu Tuất (1802) khi Gia Long ra bình định Bắc Hà, có vời các cựu thần nhà Lê ra cộng tác, trọng dụng các người không làm quan cho nhà Tây Sơn. Vũ Trinh được Gia Long bổ làm Thị Trung học sĩ, sau này làm đến chức Hình Bộ Hữu Tham Tri, phụ tá cho Tiền quân Quận công Tổng trấn Nguyễn Văn Thành.
Năm 1807 ông được cử dẫn đoàn sứ thần sang Trung Quốc, khi trở về nước ông được cử tham gia soạn bộ luật Hoàng Việt luật lệ cùng với Tổng Tài Nguyễn Văn Thành.
Vũ Trinh là một vị túc nho học vấn uyên thâm, một cây bút đại gia, văn chương uẩn xúc. Ông là tác giả các tác phẩm như: Cung Oán Thi Tập, Lan Trì Kiến Văn Lục, Sứ Yên Thi Tập, Ngô Tộc Truy Viễn, Đàn Ký… và là một trong những người đầu tiên bình giải Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kiều) của Nguyễn Du.
Mối quan hệ giữa Vũ Trinh và Nguyễn Văn Thành gắn bó mật thiết ngay từ khi họ gặp gỡ nhau (1802) cho đến khi Nguyễn Văn Thành bị Gia Long bức hại chết (1816).
Tiền quân Quận công Nguyễn Văn Thành, một đệ nhất công thần của Gia Long, tuy là một võ tướng nhưng có học thức, biết tôn trọng nhân tài, thu phục nhân tâm. Những năm ông là Tổng Trấn Bắc Thành đất Bắc Hà tương đối yên ổn.
Ngay từ buổi đầu gặp Vũ Trinh, ông đã mến phục quý trọng nhân cách, học vấn sâu rộng, tài năng văn chương của vị danh sĩ này nên đã lấy lễ mời Vũ Trinh làm thầy học cho con trai mình – Có lẽ vì thế ông mới tin cậy ủy thác cho vị danh sĩ soạn thảo giúp mình bài văn tế quan trọng này chăng? – Cũng như những năm về sau khi Nguyễn Văn Thành được cử làm Tổng Tài soạn luật, ông đã đề cử Vũ Trinh cùng cộng tác soạn bộ luật quan trọng đầu tiên của Triều Nguyễn là bộ Hoàng Việt Luật lệ… Và chắc hẳn để đáp lại ân tri ngộ của vị Tổng trấn, cây bút đại gia họ Vũ mới dốc hết tâm huyết tài năng văn chương hàm xúc ra viết nên áng văn tế tuyệt bút này?
Vũ Trinh cũng còn là nhân vật chủ chốt soạn thảo các sách văn, chiếu văn hồi đầu thời Gia Long.
Chính vì mối thâm giao mật thiết giữa hai người mà sau này khi Gia Long nghi kỵ kiếm cớ giết hại công thần thì cả hai người cùng bị bức hại vì vụ án văn chương: Bài thơ của Nguyễn Văn Thuyên, con Nguyễn Văn Thành (học trò của Vũ Trinh) bị xuyên tạc; Nguyễn Văn Thành phải uống thuốc độc chết, con thì bị chém, còn Vũ Trinh thì bị hạ ngục (1816) rồi sau bị lưu đày ở Quảng Nam hơn mười hai năm cho đến khi già ốm mới được tha về, đến quê hương thì chết…
Vì những lẽ trên, theo thiển ý thì chính Liên Trì Ngư Giả Vũ Trinh là tác giả của áng văn tế Trận Vong Tướng Sĩ này.
Dù sao đây cũng chỉ là một giả thuyết, mong được các vị thức giả đóng góp thêm tư liệu và ý kiến để vấn đề này được sáng tỏ thêm.
N.T
Nguồn tin: TCNV 08-2012
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s