Archive | Tháng Chín 2012

Thơ song ngữ của Nguyễn Chân:

 

                                                  
DEUX ATTENTES

                                                   (Aprés avoir lu LE PONT MIRABEAU et ĐỢI)

À peu près de cent ans auparavant

Sur le pont MIRABEAU

APOLLINAIRE s’est mis à attendre
Son amante tant que coule encore la SEINE.
Près de cent ans après, à perdre haleine
Un poète Vietnamien a attendu
Son aimée sur le pont connu
Jusqu’à ce que ce pont lui devenait étrange.
L’attendrait-t-il encore ? Qu’on en pense !


                                               
  LES YEUX BLEUS


(Après avoir écouté un couplet de l’opéra OTHELLO)
Affectueux, les éclats de tes yeux
Murmurent des morceaux de romance.
Que je me noie dans ce bleu immense
Pour chercher le chemin vers ton coeur !

HAI CUỘC ĐỢI
(Sau khi đọc bài Trên cầu MIRABEAU và ĐỢI)
Ngót trăm năm trước
Trên cầu MI-RA-BÔ
A-PÔ-LI-NE đứng đợi.
Đợi người tình khi sông lớn còn trôi.
Ngót trăm năm sau,
Cũng trên cầu
Một nhà thơ Việt Nam đứng đợi.
Đợi người tình, chẳng thấy tăm hơi.
Đợi lâu rồi, cầu quen thành lạ.
Liệu còn đợi nữa hay thôi ?


MẮT BIẾC
(Sau khi nghe một đoạn trong vở Ca kịch OTHELLO)
Ôi !Đôi mắt xanh gợn sóng
Thầm thì hát khúc yêu đương
Giá được đắm chìm tromg làn biếc ấy
Đến trái tim em anh cố tìm đường !


NGUYỄN CHÂN 20.11.2007


Advertisements

Trao đổi giữa TTCh và Nguyễn Chân về l’ adieu

Chan Nguyen
     
               Hoà thương ttch còn lãng mạn lắm. Và cũng triết lí nữa.
               Không biêt ngoài đời Apollinaire có chung thuỷ thế không?
               Sang thế giới bên kia còn chò nhau, Nhưng một nhà thơ VN
               khá nổi tiếng thì viết “…Đứng một ngày đất lạ thành quen,
               đứng một đời.em.(?).quen thành lạ…”
                            Tôi có viết một bài “Deux attentes” về chuyện này
               bây giờ tìm chưa ra. Sẽ tìm và gửi các Bác sau.   CHÂN
TTCh
Có phải lạ…quen trong thơ của Vũ Quần Phương không bác ? Thế bác thư đọc bài này xem sao
 Lạ – Quen
*
                                   (Em đứng…một mình…
Đất lạ… rồi… thành quen
                                            Đứng… một đời em…
                                                   Quen… thành lạ…
                                         Đợi… chờ… chờ… ai…???)
X
X      x
                Bài “Đợi “ Huy Thục sáng tác năm 1986, nhưng mãi đến 1995 tôi mới lần đầu được nghe trong một bữa tiệc chia tay một người bạn về nghỉ hưu.
                Nay đã hơn 15 năm trôi qua, giờ nghe lại “Đợi” do NSND Thu Hiền hát vẫn như tinh khôi thứ tình cảm ban đầu lâng lâng với giai điệu ca trù mượt mà, lời thơ như oán như than, day dứt, xót xa, xoáy mãi tim tôi
                Bữa đó anh Tân, giám đốc dệt Thắng Lơi ra Hà nội chào, chia tay bè bạn về nghỉ hưu. Anh lo tiệc, còn nhờ tôi tổ chức cho nghe ca trù.Tôi nhận lời vì nghĩ anh về nghỉ, chắc ít có điều kiện gặp. Nhưng bữa tiệc ca trù chiều hôm đó thật không may trời đổ mưa như trút. Mới 4 giờ, cơ quan chưa tan tầm, mà bảo vệ đã goi điện lên phòng, nói tôi xuống đón khách văn công !  biết họ khó cảm thông, mà Cty tôi thủ trưởng vẫn thường xuyên cho lật thẻ như doanh nghiệp vào đầu giờ  sáng! Vừa xuống đến cổng cơ quan, thấy Bạch Vân lướt thướt áo dài, son phấn, trống phách treo trên ghi đông xe đạp, còn cụ Chu văn Du áo the, khăn xếp, tay sách chiếc đàn đáy cũng ướt sũng nước mưa. Tôi  vội mượn mấy tấm vài ny lông che mưa cho khách và đưa khách sang nhà hàng Cây Sấu bên kia đường Bà Triệu. Thế mà bữa tiệc chia tay ngày ấy lại để lại trong lòng Tân và bạn hữu tôi, thầy Chương, Hy, Tiễu và Bảo nhiều kỷ niệm không quên. Bà chủ quán, nhác trông chạc ngoại tứ tuần, có nhan sắc của một thuở văn công nay về mở quán, bà  đon đả đón khách, niềm nở như người nhà, vừa làm thực đơn, bà vừa tự ôm đàn hát Suối mơ, Thiên thai…rất diệu nghệ.Bạch Vân và cụ Du thì sửa sang lại phấn son, mũ áo, đàn, phách, để thăng chầu. Nhưng nhà hàng đã bê các món ăn nghi ngút khói, thơm phức bầy đầy bàn tiệc. Tân vẫn có cái cười  lớn, khà khà giống giọng thủ tướng Phạm văn Đồng, tác phong của một chủ doanh nghiệp thành đạt, anh vô tư khoát tay chẳng nghe chẳng hát mà mời tất cả thực khách chạm cốc, vừa ăn vừa đàm đạo; nên bữa tiệc có ca trù mà thành bữa tiệc chia tay bè bạn, thăm hỏi đời sống nghệ nhân, và cũng chính bữa đó tôi mới biết Bạch Vân là cô cử nhân khoa văn trường đại học sư phạm, công tác ở Sở văn hóa và được phân công về phòng lễ hội , rồi yêu thích ca trù, được tiếp cận với NSND Quách thi Hồ, bà yêu quí truyền nghề, sẵn có fond văn hóa nên cô cảm thụ nhanh, rồi thành ca nương có hạng .Cụ Chu văn Du người nghệ nhân đàn đáy số 1 Hà nôi, nhưng tuổi đã cao, tai đã ngễnh ngãng, tay đã run, mà tiếng đàn vẫn trau chuốt. Cụ đã mất năm sau bữa tiệc ngày ấy.Tuy nhiên Bạch Vân cũng tế nhị, khi tiệc sắp tàn mà chưa có Hồng Hồng Tuyết Tuyết của Dương Khuê, chưa có Gặp Xuân của Tản Đà…trước lúc ra về cô đã hát tặng thực khách bài “Đợi” . Bạch Vân hát trong tiếng phách ròn tan của cô, cụ Du đàn đáy và tiếng trống chầu tom chát còn ai nữa ngoài tôi. Bài “Đơi” lần đầu tôi biết. Ôi! Chao ! câu thơ : “….đứng một đời em, quen thành lạ…” , cứ như mũi kim đâm nhói tim tôi, đau buốt đến tận giờ !  Tân tiễn khách ra về, ghé vào tai tôi như cùng tâm trạng, Tân nói bài thơ đó đã làm anh thổn thức, nổi da gà.!.
                     Sau buổi chia tay đó, chúng tôi đều  đã lần lượt ra về nghỉ hưu, ít gặp lại! nhưng tôi vẫn có ý định vào chơi, thăm Tân ở Sài gòn,  nói với anh; ca trù không phải là một ngành nghệ thuật có phông màn để thưởng thức bằng tai, nó chỉ là một thú chơi văn hóa của các văn nhân xưa, thế thôi; nhưng nếu hiểu nó như một thú tiêu khiển chân, tay, thì thực cũng là bậc phàm phu ! Unesco đã công nhận hương hỏa này như một nền văn hóa Hàn lâm thuần Việt. Đảng ta đang ra sức phục hồi, sợ nó đang dần mất đi một di sản quí, khách văn và nghệ nhân ngồi chung một chiếu đã mai một gần hết ! Nhưng ngày đến thăm anh, có anh Thịnh, bạn cùng học đưa đến, chúng tôi lại chẳng nói được gì với nhau, trên giường bệnh, anh chẳng nhận ra tôi ! Anh Tân ra đi, để lại trong tôi một nỗi buồn xao xuyến về một người bạn yêu ca trù đến trong trắng, ngây dại !
                   Tôi sinh hoạt trong CLB ca trù ở Bích Câu đạo quán nhiều năm; bài “Đợi” chỉ là bài dân ca phỏng ca trù, nhưng bài thơ “Đợi” thì cứ ám ảnh tôi mãi! Nhớ về 1 câu chuyên buồn trên đất Campuchia,  ngày tôi sang giúp nước bạn phục hồi công nghiệp dệt sau tàn phá của Polpot. Anh Keo Chea là người phiên dich của đoàn. Anh chỉ ngoài 30, thật thà, hiền lành, đen đúa, chắc lao động nặng thời Polpot,  nên trông anh như đã gần 50. Ngày nghỉ, trưa, tối, chủ nhật, anh hay đến chỗ chúng tôi ăn ở, trò chuyện có khi hết buổi. Lúc thân, gần gũi, tôi nói,  anh em chúng tôi ở đây vui lắm rồi, anh bận việc vợ, con  thì ngày nghỉ nên dành cho gia đình, anh không phải đến thăm chúng tôi. Không ngờ, lời nói chân thành của tôi lại đụng đến nỗi đau sâu thẳm của anh. Anh nghẹn ngào nói, anh cũng từng có gia đình, nhưng bây giờ thì không !  Chẳng gặng hỏi thêm, nhưng anh tự bộc bạch, kể về ngày Angka tổ chức đám cưới cho anh với cô vợ bên lán con gái. Angka chúng đánh đập, bắt lao động cực nhọc, nhưng chúng cũng thỉnh thoảng tố chức chiếu phim,  tổ chức đám cưới cho những đôi trong trại, đến tuổi mà chưa lập gia đình. Vợ anh được Angka  tổ chức cho là một sinh viên trường thuốc ở Phnompênh. Sau cưới rồi mà vợ chồng anh ít gặp, ít trò chuyện, mỗi người mỗi lán, nhưng những ngày nghỉ, được qua lại, 2 người vẫn như xa lạ, vì cô ấy người học cao, ở thành phố, còn tôi người lao đông chân quê, lam lũ. Nhưng được Angka cưới cho, đã thành vợ chồng, được qua lại bên nhau, qua năm tháng, lâu rồi quen, mà cũng sợ Angka biết chúng tôi đã lấy nhau lâu mà không con thì tai họa sẽ ập đến, Angka cho rằng không nghe lênh thì cũng có thể chịu hình phạt bỏ đói đến chết; nên sợ, dần…dần…quen dần… đến  thương nhau,  giờ tôi còn kỷ niệm của cô một cái áo gối thêu đôi chim ngậm chữ Keo Chea – Prack Saony; chúng tôi đã chung sống thực sự  vợ chồng; anh nói : lạ…dần…quen, vợ chồng tôi đã có ngày hạnh phúc. Sau ngày Phnompenh được giải phóng,  chúng tôi dắt díu về thành phố, cũng mơ về một gia đinh với đứa con sắp ra đời. Nhưng tôi có ngờ đâu, ngày về phnompenh lại là ngày vợ chồng tôi vĩnh viễn mất nhau. Cô ấy cứ âm thầm dấu tôi, lao động cực nhọc như trâu ngựa mà chúng tôi còn chịu được, giờ cô ấy cứ u uẩn, sầu não, chắc là lo chuyện sinh nở. Chẳng ngờ, về lại thành phố, làm ở một bệnh viện Phnompenh, cô ấy đã gặp lại người bạn đính hôn năm xưa cùng trường thuốc. Không khắc phục đươc cuộc sống gia đình đã quen…nhưng vẫn lạ… ! cô ấy đã tự vẫn quên sinh, mang theo cả đứa con trong bung! Anh Keo Chea tiếp tục nói về tội ác thời Polpot; chuyện một bác sĩ đói quá ăn vụng mít xanh trên cây, chúng bắt được đã trói người bác sĩ dưới gốc cây mít bắt ăn hết số mít xanh trên cây và vài hôm sau người bác sĩ đã chết, tay vẫn còn bị trói dưới gốc mít! 2 ngày vào Phnompenh, chúng xua toàn bộ dân ra khỏi thành phố để thay vào một lớp người mới. Số người thành phố này chết dần nhiều nhất dưới thời Polpot! Tôi bàng hoàng, mắt tôi hoa, tai tôi ù đặc, không còn nghe thấy anh nói gì!  Trời ơi,tôi đã tưởng loài người gặp một Hitler bệnh hoạn, mà sao người dân Campuchia lại gặp Polpot bệnh hoạn gấp nghìn lần, nó là đảng viên cộng sản Pháp, được sống ở đất nước đã sinh ra nhà tư tưởng Montesquieu và Jean Jacques Rousseau, lập nên nền công hòa Jacobin 1789, mang đến ánh sáng văn minh sớm nhất cho nhân loại lại có thể dìm chính dân tộc mình như thế này ư!  Ông Vũ Quần Phương, ông viết nên  bài thơ “ Đợi” một trong số bài thơ hay nhất  thế kỷ XX.  “…Em đứng đợi một ngày, đất lạ thành quen….Em đứng đơi một đời, quen thành lạ…” ông có trải nghiêm như tôi, qua câu chuyện về tôi ác Polpot. Có thể không? Trước lạ, sau quen? Một mớ lý thuyết xã hội Angka mà Polpot dựng lên; một trăm năm, một nghìn năm cũng không bao giờ thành quen!!!
          Tiếng ca Thu Hiền lại nức nở bên tai tôi :
“Em đứng…một mình,
Đất lạ…rồi thành quen.
Đứng một đời em…quen thánh lạ!
Đơi…đợi….đợi…đơi ai ?”
12-1-2011
Ghi chú :  mong các hữu nghe trước bài Đơi trước khi đọc bài viết
Doi – Ngoc Lan.mp3
5502K   Phát   Tải xuống

TTCh ( dịch ) : Giã biệt

 

               Bác  Docago và TVK ơi
 Tự dưng tôi muốn dịch bài l’Adieu của Apollinaire với hết hồn vía của mình,  không chỉ vì yêu Apollinaire mà còn vì ý riêng của mình. Tôi quí Phạm Duy, Không ai cho tôi cảm nhận được trọn vẹn nỗi niềm thu trắc ẩn một tình xưa tan vỡ của Apollinaire bằng ca từ ” mùa thu chết”  mà PD đã dịch; nó không phải là bài thơ mà thật là thơ, không vần, không vận mà hơi thơ, cảm xúc thơ vừa trung thực, vừa chan chứa nhuốm đẫm không gian kỷ niệm. Nếu vị nào thật kém cỏi, thật lùn tịt về văn hóa, húc đầu vào đá mới dám dịch lại L’Adieu bằng thơ. Nhưng tôi lại làm điều điên dồ đó. Làm suốt tối qua, làm hết sáng nay, để cảm nhận được điều đó vì ca tư Mùa Thu Chêt của PD đã có, đã thành thơ đầy đủ quá rôi, không thể thây ở bất kỳ bài thơ nào khác. Nếu cảm nhân không chuẩn bác Thanh thử dịch xem nhé, cả nhà thơ King nữa, xem có phải ? Không phải quá sùng bái PD mà tôi nói vậy đâu. Ở tôi PD không phải chỉ là một nhạc sĩ tài ba mà ông còn là nhà văn hóa thơ đúng nghĩa..Thế thôi bác Thanh ạ.
L’Adieu
J’ai cueilli ce brin de bruyère 
L’automne est morte souviens-t’en 
Nous ne nous verrons plus sur terre 
Odeur du temps brin de bruyère 
Et souviens-toi que je t’attends

Poète Apollinaire 1880-1918

Giã biệt
Anh ngắt cho em nhành hoa thạch thảo,
Nhớ không em  khi mùa thu đã chết
Rồi trên đời ta nhìn nhau cũng hết
Thời gian trôi ngậm hương mùi thạch thảo
Hỡi em yêu ! ta vẫn đợi chờ em
TTCh
Mua Thu Chet – Khanh Ha.mp3
6200K   Play   Download

Trần Văn Kinh : Có một khoảng trời sâu thẳm

 

Có một khoảng trời sâu thẳm

Ta nhìn mây núi chon von
Có một mảnh đời xa lắm
Ta nhìn qua chiếc gương trong…
Em thương con cò lặn lội
Hay là em nhớ đời ta
Hay là em thương đời mẹ
Trập trùng mây núi băng qua…
                           TVK
(Trích trong bài Chiều sâu đôi mắt– Viết tặng ca sĩ NH)

Đỗ Anh Thơ: Nỗi buồn canh khuya

Cái buồn mẹ đẻ theo mi,
Lúc đeo trước ngực, lúc thì sau lưng!
Đỏ hoe mắt ấy đã từng,
Nay già vẫn cứ rưng rưng đêm dài!
Canh khuya kinh tụng bên tai
Đám ma hàng xóm… nguôi ngoai ít nihiều?
11h đêm 14/8 Nhâm Thìn
( ngày giỗ bà nội )

Nguyễn Đình Thi và mối tình không biên giới

Nhà văn Nguyễn Đình Thi vốn nổi tiếng vì tài hoa và vẻ ngoài đẹp trai, phong trần. Gắn với cuộc đời ông là những chuyện tình lãng mạn, đẹp đẽ.
Mối tình của Nguyễn Đình Thi với nữ nhà báo Madeleine Riffaud để lại trong lòng người nhiều dư vị nuối tiếc, bâng khuâng xen lẫn cảm phục.
Cuộc gặp “sét đánh” giữa đôi trai tài, gái sắc xảy ra vào năm 1951, tại Đại hội liên hoan Thanh niên Quốc tế diễn ra ở Berlin, Nguyễn Đình Thi được cử làm đại biểu của VN. Tại đây, chàng trai 27 tuổi đẹp trai, tài hoa lần đầu gặp được một phụ nữ rất quan trọng trong đời mình. Năm ấy, Nguyễn Đình Thi đã nổi tiếng với hai ca khúc Diệt phát xít và Người Hà Nội, đang giữ cương vị Tổng thư ký Hội Văn hóa cứu quốc kiêm Ủy viên Thường vụ Quốc hội. Lúc này cuộc chiến tranh chống Pháp đang đi vào giai đoạn khốc liệt, tin chiến thắng đến liên tục, nên đoàn đại biểu Việt Nam luôn là tâm điểm của các đoàn quốc tế, truyền thông và báo chí. Trong đó, Nguyễn Đình Thi càng được chú ý bởi vóc dáng cao ráo, vẻ đẹp trai rất phong trần và khả năng nói tiếng Pháp lưu loát, tư duy sắc sảo.
a
Nhà thơ Nguyễn Đình Thi và nữ nhà báo người Pháp.
Thuộc phái đoàn đến từ Pháp, Madeleine Riffaud, phóng viên báo Nhân đạo cũng không kém nổi bật, không chỉ bởi chị đẹp một cách thanh tú và mê hoặc hay vì chị là tác giả của tập thơ Con ngựa đỏ đã được trao giải văn chương Pháp, mà Madeleine Riffaud từng là đội viên du kích chống phát xít, nữ du kích đầu tiên hạ sát một sĩ quan Nazi giữa lòng Paris. Riffaud bị Gestapo bắt năm 1944, bị kết án tử hình và được giải cứu thành công chỉ 6 ngày trước ngày hành quyết. Năm 1946, Madeleine được nước Pháp phong tặng danh hiệu anh hùng và được thưởng huân chương Bắc Đẩu bội tinh, phần thưởng cao quý nhất của nước Pháp. Với một quá khứ kỳ lạ như thế, việc Madeleine Riffaud được nhiều người quan tâm, ngưỡng mộ không phải là lạ. Trong số đó có Nguyễn Đình Thi. Hay nói đúng hơn là họ bị “sét đánh” và say mê nhau từ lần đầu gặp gỡ. Đôi trai tài gái sắc cảm nhau vì tài, luôn quấn quýt trong đợt liên hoan, mà dù đã cố gắng giữ khoảng cách, khách sáo với nhau, nhưng nhiều nhà văn từ phái đoàn các nước cũng đã nhận ra những “tín hiệu bất thường” và tác hợp cho họ. Kết thúc kỳ liên hoan, cả hai chia tay trong lưu luyến.
Mối tình đẹp, thủy chung
Ở hai đất nước xa xôi, những cánh thư vẫn liên tục đi về kết nối họ với nhau. Nhà thơ Huy Cận, bạn thân của Nguyễn Đình Thi sau này từng kể lại: “Cuối năm 1951, một hôm tôi nhận được bức thư của chị Madeleine Riffaud gửi cho anh Thi, nhờ tôi chuyển. Ngoài phong bì có đề ‘Xin mở xem thư và nhớ học thuộc lòng càng tốt, để đọc lại cho anh Thi nghe, nhỡ mà thư có thể trôi mất hoặc ướt khi qua suối qua đèo'”.
Tôi mở thư ra đọc, bắt đầu bằng hai câu ca dao Việt Nam: “Ông tơ ghét bỏ chi nhau – Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi” và “Đôi ta làm bạn thong dong – Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng”, tiếp theo là thư bằng tiếng Pháp. Cuối tháng anh Thi mới gặp tôi, tôi đọc cả bức thư cho anh Thi nghe rồi mới giao thư…”.
Nhà thơ Nguyễn Đình Thi.
Nhà thơ Nguyễn Đình Thi.
Nguyễn Đình Thi đã làm nhiều bài thơ tặng người tình trong mộng của mình. Một bài thơ Nguyễn Đình Thi từng viết tặng Madeleine Riffaud được nhiều người biết đến, đó là bài thơ Nhớ viết trên đường hành quân:
Anh yêu em như anh yêu đất nước
Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần
Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước
Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn
Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt
Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời
Ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực
Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người
Tình yêu xa xôi nhưng không bao giờ thôi cháy trong tim họ. Nhưng lúc này, Nguyễn Đình Thi đã có vợ và ba con nơi quê nhà. Điều này không ngăn cản trái tim Madeleine Riffaud luôn hướng về người yêu và đất nước Việt Nam đang trong bom đạn. Đến năm 1955, vợ Nguyễn Đình Thi mất, Madeleine Riffaud qua Việt Nam liên tục để gặp gỡ ông. Cả hai đã có những ngày tháng say đắm và hạnh phúc tuyệt vời. Tưởng như không gì có thể ngăn cản hai trái tim đang bừng bừng lửa cháy đến với nhau. Tuy nhiên, cuộc chiến vẫn chưa chấm dứt, cùng với tình hình gian nan của đất nước, ở cái thời ấy, hai người với hai quốc tịch làm sao có thể tiến đến hôn nhân… Một lần nữa, họ chấp nhận xa nhau. Nói là xa, nhưng với nhớ nhung cháy bỏng của một người đàn bà yêu, cộng với niềm trắc ẩn của một nữ nhà báo cách mạng, chị vẫn thường qua lại Việt Nam, để gặp Nguyễn Đình Thi và để viết lên những tiếng nói phản ánh cuộc kháng chiến vệ quốc của dân tộc Việt Nam đến bạn bè quốc tế. Lặn lội khắp chiến trường Nam Bắc, lao vào mưa bom bão đạn, Madeleine Riffaud đã viết nên những bài báo từng đoạt các giải thưởng, gây tiếng vang với truyền thông quốc tế. Chính bà cũng là người đưa các tiểu thuyết của Nguyễn Đình Thi ra khỏi biên giới Việt Nam. Hình ảnh quen thuộc của Madeleine Riffaud mà người ta thường thấy và đến nay vẫn còn lưu lại trong các ảnh tư liệu chiến tranh, là chị đứng trong lửa khỏi, quấn khăn rằn rất hiên ngang và rất “Việt Nam”. Có người nói, hình ảnh người con gái hiện lên đẹp đẽ trong bài thơ Lá đỏ, chính là tạc lại từ Madeleine Riffaud:
Gặp em trên cao lộng gió
Rừng lạ ào ào lá đỏ
Em đứng bên đường, như quê hương
Vai áo bạc quàng súng trường
Chưa từng là vợ chồng, nhưng Madeleine Riffaud đã nguyện luôn thủy chung với Nguyễn Đình Thi. Bà không hề lấy chồng, ở vậy với những kỷ niệm cho đến cuối đời. Người ta nói, căn hộ của bà ở Pháp đầy ắp hình ảnh chụp có, phác họa có, chân dung Nguyễn Đình Thi, được treo trên tường. Những kỷ vật của bà và ông luôn được bà nâng niu trân trọng. Phần ông, trước lúc mất năm 2003, đã giao lại tập hồ sơ cho người con trai và dặn chỉ mở ra sau khi ông mất. Trong tập hồ sơ ấy có gần 1.000 bức thư, bưu thiếp, những lời yêu thương cháy bỏng họ trao nhau trong suốt cuộc yêu thương gần nửa đời người.
Theo Pháp Luật Việt Nam.

Nguyen Chân (ct): Sợ …. của Tiến sĩ Phạm Ngọc Cương

 

“Nếu việc của anh là ăn con cóc, tốt nhất nên ăn ngay đầu giờ sáng. Còn nếu phải ăn hai con cóc, thì tốt nhất nên ăn con to trước.”(1) (Cóc hay ếch nhái là thứ mà chỉ nghĩ đến việc ăn phải thôi người phương Tây đủ nôn thốc ra rồi!)- Bài viết mới của Tiến sĩ Phạm Ngọc Cương, Toronto, Canada.
Trong chúng ta có mấy ai dám cắn ngay nỗi sợ ra từng miếng to mà nuốt đường hoàng hay thường là chỉ rón rén vừa gặm nhấm vừa hãi hùng cùng nó?
Nhưng dù giải quyết cách nào thì “Nỗi sợ vẫn hiện hữu, sự dũng cảm chỉ đề kháng làm nó bớt lan tỏa mà thôi.”(2). Cách giải quyết nỗi sợ đúng đắn nhất là “Cần làm cái đáng sợ nhất và nỗi sợ chắc chắn sẽ biến mất.”(3)
Sợ hãi thực ra có hoàn toàn đáng sợ và đáng ghê tởm không? Thực ra là tùy loại.
Ở các xứ phát triển không có nỗi sợ nào lớn bằng sợ mất việc. Mất việc là gần như mất tất cả, mất nhà, mất xe, khéo mất theo luôn cả vợ hay chồng và cuộc sống coi như rơi xuống vực. Nhưng nỗi sợ đó lại thực cần thiết cho sự tiến hóa. Mang tính tích cực vì kích thích sự sáng tạo của bản năng sinh tồn. Các chính trị gia ở đó nếu không tạo ra thêm nhiều chỗ làm mới thì không hy vọng gì sẽ tái đắc cử. Vì lo mất việc mà ai cũng phải hoàn thiện mình tối đa, học hỏi, nâng cấp, làm việc chỉn chu để mong bán mình với cái giá cao hơn, chắc ăn hơn.
Có nỗi sợ làm thui chột tâm lý và sự phát triển của xã hội. Ví dụ nỗi sợ làm biết bao nhà văn nhà báo (…) luôn tự kiểm duyệt mình và kiểm duyệt đồng nghiệp. Với những người làm công tác truyền thông trái khoáy này thì có lẽ lời khuyên đúng cho họ là:”Tốt hơn là ngậm miệng để mọi người nghĩ rằng anh là kẻ ngu còn hơn mở mồm ra và tất cả mọi sự hồ nghi tan biến.”(4)
Cùng là sợ đấy mà có những thuộc tính khác nhau: loại có tính cách hủy diệt và loại mang tính xây dựng. Người quản lý giỏi là phải biết hướng mọi người tới loại sau chứ không phải loại đầu.
Lãnh đạo (…) có tâm lý sợ mất đảng, sợ đảng cứ đà này tiêu một sớm một chiều. Họ thấy sự phát triển của xã hội không song hành với sự vững vàng về phẩm chất của một “bộ phận không nhỏ”(phải nói toẹt ra là đại đa số) đảng viên. Không kịp thời nắm bắt công cụ thời đại, để xoay chuyển tình thế; lãnh đạo lại chỉ quen xài đỡ vũ khí cấm đoán, uy hiếp và trấn áp. Kích nỗi sợ có tính chất hủy diệt lan tỏa ra toàn xã hội thì sấm chớp hủy diệt sẽ chỉ tới mau hơn mà thôi!
Dù là nỗi sợ trong xương tủy hay ngoài da thịt thì nỗi sợ- nhiều khi – cũng theo góc nhìn mà ra. Khi thiếu ăn thì người ta sợ gầy, yếu. Lo ốm o qúa trông không phát tài, phát tướng. Khi béo tốt rồi thì nhiều người biết mập thật nhiều bệnh, chóng chết. Nghèo khi mời nhau thường phải lo mâm cao cỗ đầy. Khá giả nhiều khi chỉ nhâm nhi chai vang, chai nước khoáng, uống sẽ quan trọng hơn ăn. Từ có cái ăn là niềm mơ ước đến nghĩ tới cái ăn đâm phát sợ. Ở nhiều xứ nhiệt đới thì đàn bà con gái che chắn tối đa khi ra đường vì theo họ da đen là xấu gái. Nơi tôi ở cô nào trắng bóc dễ bị nghĩ là dân nghèo.  Còn nghèo nên phải mải miết đi làm, không có thời gian dã ngoạn, thể thao, tắm biển làm sao đen cho được? Phần đông nhân loại thường sợ chết. Vậy mà không thiếu gì người không cho Thượng đế cái quyền vặn cái đồng hồ sinh học của cơ thể họ. Họ chỉ chấp nhận thua có keo đầu vì họ không thể quản lý được chuyện họ ra đời mà thôi. Nhưng ở keo hai là chết thế nào và lúc nào thì họ quyết dành quyền chủ động. Có người chỉ viết được khi mọi thứ phải an bài và thanh thản trong trại sáng tác, có người vẫn viết và viết tốt ngay cả dưới giá treo cổ. Nhiều người mong thoát nghèo. Vậy giầu có thực sự quan trọng? Để sống thì tiền có quan trọng, nhưng để chết thì đâu còn cần nó? Người vĩ đại sẽ chết vì cái vĩ đại. Người tầm thường sẽ chết vì điều tầm thường. Và thánh nhân thì cũng chết tốt.
Nhiều người khi mới lập nghiệp rất thích khoe có ba lầu, bốn bánh. Dạo này tôi gặp nhiều người khá giả chỉ còn khoe nhau cái xe đạp mới. Nhìn cái xe đạp đã thấy khỏe cả người, thật lành mạnh và thân thiện với môi trường.
Nhiều người lo hạnh phúc mong manh, khó bền. Họ nói yêu mà thấy họ chỉ tìm cách chồng một núi trách nhiệm lên vai người yêu thì chắc phải gọi lại việc cho đúng tên là lợi dụng nhau. Dễ hiểu vì sao ngày càng nhiều người chần chừ thoái thác hoặc muốn rút chân ra trong chuyện lập, hoặc giữ gia đình. Có thể tôi chưa đủ may mắn để được chứng kiến dạng thức tình yêu vô điều kiện. Ngay cả ở thế tự nguyện gánh trách nhiệm thì sức người cũng có hạn! Gánh xong hết nợ đời thì còn đâu hơi sức cho tình yêu.
Nhiều người bức xúc vì chính phủ rặt hứa cuội. “Nhưng thà có lời hứa cuội còn hơn không hứa lời nào” (5). Nhiều lời hứa cuội cũng sẽ mang đến điều tích cực vì khi không thể tiêu hóa mãi sự dối trá thì dân chúng đến ngày sẽ tìm cách để có cho mình một chính quyền biết nấu nồi cơm thật.
Người Việt thường sính bằng cấp. Dẫu là học thật, những anh chị chỉ mải trương ra cái học hàm, học vị của mình thường là loại vô dụng, nhân cách thấp. Học lắm để mong đi làm thuê cho được giá. Nhiều người tốt nghiệp đại học xong mà không nơi nào nhận việc thì đành học tiếp lấy bằng tiến sỹ. Những sinh viên giỏi thường được các công ty thơm lượm từ năm học thứ hai, ba rồi. Học nhiều mà không áp dụng được sở học của mình thì sự lãng phí càng lớn. Học thực là một thứ quá dễ nếu đem so với hành. “Thượng đế đầu tiên tạo ra những thằng dở hơi. Để cốt thực tập. Sau đó Người làm ra các sở giáo dục.”(6)
Với đất nước thì sự toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia làm những người còn nặng lòng lo lắng đến quặn thắt ruột gan. Điều đó còn đáng sợ hơn cả chiến tranh, nên nhiều quốc gia sẵn sàng tiến hành chiến tranh để dẹp bỏ nỗi sợ hãi đó. Nhiều người Việt đang sợ là Tổ quốc đang chìm vào một thiên niên kỷ Bắc thuộc mới. Nhiều người bảo đừng sợ, “tiếng Việt còn thì nước Việt còn”. Hay tệ nhất là chịu trận để thằng tàu nó đô hộ mình cho xong còn hơn cho mấy thằng ác với dân hèn với giặc đè đầu cưỡi cổ.
Người Việt còn có nỗi sợ lớn là không dám tin nhau để cùng hướng tới làm việc hiệu quả bên nhau. Nhiều người bảo tôi là sao lại giao tiếp với người nọ người kia. Khi họ hỏi vậy tôi thường nhớ câu: “Tôi không thích gắn tôi vào thiên đường hay địa ngục- như anh thấy, tôi có bạn ở cả hai nơi ấy.”(7) Nếu thực ai đó tôi biết là người của cái cơ quan”cứ tưởng văn hóa” hay gì gì đó thì tôi không sợ phải tuyệt giao mà lại khoái tìm hiểu là đằng khác. Nếu những công cụ sắc bén ấy của nền độc tài chuyên chính đương đại mà có thể có những con người dồi dào năng lực, biết đổi mới tư duy và phong cách làm việc thì nước Việt hôm nay chắc chưa hết hy vọng. Là người không quan trọng là phải đi rặt theo lề trái hay lề phải, vung cờ vàng hay cờ đỏ. Cứ cái gì lợi cho sự phát triển của dân tộc thì là tốt, là nên ủng hộ.
Sống quá nửa đời tôi thấy hóa ra chỉ còn hai nhóm nỗi sợ. Sợ Trời đất và sợ người. Lưới Trời thưa mà không lọt thực ra chắc cũng là cái con người đặt ra để mà răn, mà sửa mình. Sống sao cho đúng với đạo làm người thì chả có gì phải lăn tăn góc đó! Rốt cuộc ám ảnh duy nhất vẫn chỉ còn lại là nỗi sợ người và qui vào đúng bốn nhóm người.
Đáng sợ nhất là những người không dám sống thật với ngay cả chính bản thân họ. Sống mà còn không thật thì cũng như xài tiền giả, đồ dởm mà thôi. Rầu nhất là loại này hay là các quan phụ mẫu trong xã hội.
Loại thứ hai là loại luôn muốn nhìn vào túi người khác. Loại này thối thay, nhiều lắm! Vô vàn kẻ chức quyền đang thả sức vơ vét công quĩ quốc gia vì “quyền lực dẫn đến tham nhũng, và quyền lực tuyệt đối sẽ dẫn đến tham nhũng một cách tuyệt đối”. Nhiều con cái chỉ chăm chăm săm soi túi bố mẹ. Nhiều bậc phụ mẫu không những lục ví con mình mà còn lột của cả dâu, rể. Nhiều cảnh sát chuyên việc lo mãi lộ người đi đường. Nhiều thầy cô dậy thì lười mà móc túi trò thì chăm. Nhiều bác sỹ không chăm lo cứu người mà chỉ lo nắn cho kỹ lưỡng ruột tượng bệnh nhân…
Loại thứ ba là loại lười lao động. “Đừng chạy quanh và nói thế giới nợ anh cuộc sống. Thế giới không nợ anh gì cả. Nó có trước anh.”(8)
Loại cuối cùng là loại không biết lao động có phương pháp để ra hiệu quả. Nhiều người càng lao động càng biến họ từ kẻ hữu sản thành vô sản. Mà “Thiếu tiền là cội rễ của mọi cái ác.”(9)
“Dễ nhất trần đời là bỏ hút thuốc lá. Chắc chắn là vậy rồi vì tôi đã làm điều đó nhiều ngàn lần.”(10) Nhất trí rằng cần bớt đi thói quen sợ hãi và sống cho có nhân cách hơn với nhiều người hẳn cũng “dễ” như bỏ thuốc lá vậy thôi! Có ngay đây cây đũa thần biến chuyện khó này thành đơn giản: “Tôi ra một nguyên tắc là không bao giờ hút thuốc khi đang ngủ.”(11)
Ước gì khi hút thuốc mình bớt hốt hoảng đi !!!

Phạm Ngọc Cương, Toronto, Trung thu 2012

       Các trích dẫn trong bài là của Mark Twain, thành thực xin lỗi bạn đọc nếu lời dịch chưa đạt, hoặc chưa được sát nghĩa. Để tiện tham khảo nguyên gốc tiếng Anh như sau:
1-“If it’s your job to eat a frog, it’s best to do it first thing in the morning. And if it’s your job to eat two frogs, it’s best to eat the biggest one first”
2-” Courage is resistance to fear, mastery of fear- not absence of fear”
3-“Do the thing you fear most and the death of fear is certain”
4-”It is better to keep your mouth closed and let people think you are a fool than to open it and remove all doubt”
5-“Better a broken promise than none at all”
6-“In the first place, God made idiots. That was for practice. Than he made school boards”
7-“I don’t like to commit myself about heaven and hell- you see, I have friends in both places”
8-”Don’t go around saying the world owes you a living. The world owes you nothing. It was here first”
9-”The lack of money is the root of all evil”
10-“Giving up smoking is the easiest thing in the world. I know because I’ve done it thousands of times”
11-“I make it a rule never to smoke while I’m sleeping”