Trao đổi giữa TTCh và Nguyễn Chân về l’ adieu

Chan Nguyen
     
               Hoà thương ttch còn lãng mạn lắm. Và cũng triết lí nữa.
               Không biêt ngoài đời Apollinaire có chung thuỷ thế không?
               Sang thế giới bên kia còn chò nhau, Nhưng một nhà thơ VN
               khá nổi tiếng thì viết “…Đứng một ngày đất lạ thành quen,
               đứng một đời.em.(?).quen thành lạ…”
                            Tôi có viết một bài “Deux attentes” về chuyện này
               bây giờ tìm chưa ra. Sẽ tìm và gửi các Bác sau.   CHÂN
TTCh
Có phải lạ…quen trong thơ của Vũ Quần Phương không bác ? Thế bác thư đọc bài này xem sao
 Lạ – Quen
*
                                   (Em đứng…một mình…
Đất lạ… rồi… thành quen
                                            Đứng… một đời em…
                                                   Quen… thành lạ…
                                         Đợi… chờ… chờ… ai…???)
X
X      x
                Bài “Đợi “ Huy Thục sáng tác năm 1986, nhưng mãi đến 1995 tôi mới lần đầu được nghe trong một bữa tiệc chia tay một người bạn về nghỉ hưu.
                Nay đã hơn 15 năm trôi qua, giờ nghe lại “Đợi” do NSND Thu Hiền hát vẫn như tinh khôi thứ tình cảm ban đầu lâng lâng với giai điệu ca trù mượt mà, lời thơ như oán như than, day dứt, xót xa, xoáy mãi tim tôi
                Bữa đó anh Tân, giám đốc dệt Thắng Lơi ra Hà nội chào, chia tay bè bạn về nghỉ hưu. Anh lo tiệc, còn nhờ tôi tổ chức cho nghe ca trù.Tôi nhận lời vì nghĩ anh về nghỉ, chắc ít có điều kiện gặp. Nhưng bữa tiệc ca trù chiều hôm đó thật không may trời đổ mưa như trút. Mới 4 giờ, cơ quan chưa tan tầm, mà bảo vệ đã goi điện lên phòng, nói tôi xuống đón khách văn công !  biết họ khó cảm thông, mà Cty tôi thủ trưởng vẫn thường xuyên cho lật thẻ như doanh nghiệp vào đầu giờ  sáng! Vừa xuống đến cổng cơ quan, thấy Bạch Vân lướt thướt áo dài, son phấn, trống phách treo trên ghi đông xe đạp, còn cụ Chu văn Du áo the, khăn xếp, tay sách chiếc đàn đáy cũng ướt sũng nước mưa. Tôi  vội mượn mấy tấm vài ny lông che mưa cho khách và đưa khách sang nhà hàng Cây Sấu bên kia đường Bà Triệu. Thế mà bữa tiệc chia tay ngày ấy lại để lại trong lòng Tân và bạn hữu tôi, thầy Chương, Hy, Tiễu và Bảo nhiều kỷ niệm không quên. Bà chủ quán, nhác trông chạc ngoại tứ tuần, có nhan sắc của một thuở văn công nay về mở quán, bà  đon đả đón khách, niềm nở như người nhà, vừa làm thực đơn, bà vừa tự ôm đàn hát Suối mơ, Thiên thai…rất diệu nghệ.Bạch Vân và cụ Du thì sửa sang lại phấn son, mũ áo, đàn, phách, để thăng chầu. Nhưng nhà hàng đã bê các món ăn nghi ngút khói, thơm phức bầy đầy bàn tiệc. Tân vẫn có cái cười  lớn, khà khà giống giọng thủ tướng Phạm văn Đồng, tác phong của một chủ doanh nghiệp thành đạt, anh vô tư khoát tay chẳng nghe chẳng hát mà mời tất cả thực khách chạm cốc, vừa ăn vừa đàm đạo; nên bữa tiệc có ca trù mà thành bữa tiệc chia tay bè bạn, thăm hỏi đời sống nghệ nhân, và cũng chính bữa đó tôi mới biết Bạch Vân là cô cử nhân khoa văn trường đại học sư phạm, công tác ở Sở văn hóa và được phân công về phòng lễ hội , rồi yêu thích ca trù, được tiếp cận với NSND Quách thi Hồ, bà yêu quí truyền nghề, sẵn có fond văn hóa nên cô cảm thụ nhanh, rồi thành ca nương có hạng .Cụ Chu văn Du người nghệ nhân đàn đáy số 1 Hà nôi, nhưng tuổi đã cao, tai đã ngễnh ngãng, tay đã run, mà tiếng đàn vẫn trau chuốt. Cụ đã mất năm sau bữa tiệc ngày ấy.Tuy nhiên Bạch Vân cũng tế nhị, khi tiệc sắp tàn mà chưa có Hồng Hồng Tuyết Tuyết của Dương Khuê, chưa có Gặp Xuân của Tản Đà…trước lúc ra về cô đã hát tặng thực khách bài “Đợi” . Bạch Vân hát trong tiếng phách ròn tan của cô, cụ Du đàn đáy và tiếng trống chầu tom chát còn ai nữa ngoài tôi. Bài “Đơi” lần đầu tôi biết. Ôi! Chao ! câu thơ : “….đứng một đời em, quen thành lạ…” , cứ như mũi kim đâm nhói tim tôi, đau buốt đến tận giờ !  Tân tiễn khách ra về, ghé vào tai tôi như cùng tâm trạng, Tân nói bài thơ đó đã làm anh thổn thức, nổi da gà.!.
                     Sau buổi chia tay đó, chúng tôi đều  đã lần lượt ra về nghỉ hưu, ít gặp lại! nhưng tôi vẫn có ý định vào chơi, thăm Tân ở Sài gòn,  nói với anh; ca trù không phải là một ngành nghệ thuật có phông màn để thưởng thức bằng tai, nó chỉ là một thú chơi văn hóa của các văn nhân xưa, thế thôi; nhưng nếu hiểu nó như một thú tiêu khiển chân, tay, thì thực cũng là bậc phàm phu ! Unesco đã công nhận hương hỏa này như một nền văn hóa Hàn lâm thuần Việt. Đảng ta đang ra sức phục hồi, sợ nó đang dần mất đi một di sản quí, khách văn và nghệ nhân ngồi chung một chiếu đã mai một gần hết ! Nhưng ngày đến thăm anh, có anh Thịnh, bạn cùng học đưa đến, chúng tôi lại chẳng nói được gì với nhau, trên giường bệnh, anh chẳng nhận ra tôi ! Anh Tân ra đi, để lại trong tôi một nỗi buồn xao xuyến về một người bạn yêu ca trù đến trong trắng, ngây dại !
                   Tôi sinh hoạt trong CLB ca trù ở Bích Câu đạo quán nhiều năm; bài “Đợi” chỉ là bài dân ca phỏng ca trù, nhưng bài thơ “Đợi” thì cứ ám ảnh tôi mãi! Nhớ về 1 câu chuyên buồn trên đất Campuchia,  ngày tôi sang giúp nước bạn phục hồi công nghiệp dệt sau tàn phá của Polpot. Anh Keo Chea là người phiên dich của đoàn. Anh chỉ ngoài 30, thật thà, hiền lành, đen đúa, chắc lao động nặng thời Polpot,  nên trông anh như đã gần 50. Ngày nghỉ, trưa, tối, chủ nhật, anh hay đến chỗ chúng tôi ăn ở, trò chuyện có khi hết buổi. Lúc thân, gần gũi, tôi nói,  anh em chúng tôi ở đây vui lắm rồi, anh bận việc vợ, con  thì ngày nghỉ nên dành cho gia đình, anh không phải đến thăm chúng tôi. Không ngờ, lời nói chân thành của tôi lại đụng đến nỗi đau sâu thẳm của anh. Anh nghẹn ngào nói, anh cũng từng có gia đình, nhưng bây giờ thì không !  Chẳng gặng hỏi thêm, nhưng anh tự bộc bạch, kể về ngày Angka tổ chức đám cưới cho anh với cô vợ bên lán con gái. Angka chúng đánh đập, bắt lao động cực nhọc, nhưng chúng cũng thỉnh thoảng tố chức chiếu phim,  tổ chức đám cưới cho những đôi trong trại, đến tuổi mà chưa lập gia đình. Vợ anh được Angka  tổ chức cho là một sinh viên trường thuốc ở Phnompênh. Sau cưới rồi mà vợ chồng anh ít gặp, ít trò chuyện, mỗi người mỗi lán, nhưng những ngày nghỉ, được qua lại, 2 người vẫn như xa lạ, vì cô ấy người học cao, ở thành phố, còn tôi người lao đông chân quê, lam lũ. Nhưng được Angka cưới cho, đã thành vợ chồng, được qua lại bên nhau, qua năm tháng, lâu rồi quen, mà cũng sợ Angka biết chúng tôi đã lấy nhau lâu mà không con thì tai họa sẽ ập đến, Angka cho rằng không nghe lênh thì cũng có thể chịu hình phạt bỏ đói đến chết; nên sợ, dần…dần…quen dần… đến  thương nhau,  giờ tôi còn kỷ niệm của cô một cái áo gối thêu đôi chim ngậm chữ Keo Chea – Prack Saony; chúng tôi đã chung sống thực sự  vợ chồng; anh nói : lạ…dần…quen, vợ chồng tôi đã có ngày hạnh phúc. Sau ngày Phnompenh được giải phóng,  chúng tôi dắt díu về thành phố, cũng mơ về một gia đinh với đứa con sắp ra đời. Nhưng tôi có ngờ đâu, ngày về phnompenh lại là ngày vợ chồng tôi vĩnh viễn mất nhau. Cô ấy cứ âm thầm dấu tôi, lao động cực nhọc như trâu ngựa mà chúng tôi còn chịu được, giờ cô ấy cứ u uẩn, sầu não, chắc là lo chuyện sinh nở. Chẳng ngờ, về lại thành phố, làm ở một bệnh viện Phnompenh, cô ấy đã gặp lại người bạn đính hôn năm xưa cùng trường thuốc. Không khắc phục đươc cuộc sống gia đình đã quen…nhưng vẫn lạ… ! cô ấy đã tự vẫn quên sinh, mang theo cả đứa con trong bung! Anh Keo Chea tiếp tục nói về tội ác thời Polpot; chuyện một bác sĩ đói quá ăn vụng mít xanh trên cây, chúng bắt được đã trói người bác sĩ dưới gốc cây mít bắt ăn hết số mít xanh trên cây và vài hôm sau người bác sĩ đã chết, tay vẫn còn bị trói dưới gốc mít! 2 ngày vào Phnompenh, chúng xua toàn bộ dân ra khỏi thành phố để thay vào một lớp người mới. Số người thành phố này chết dần nhiều nhất dưới thời Polpot! Tôi bàng hoàng, mắt tôi hoa, tai tôi ù đặc, không còn nghe thấy anh nói gì!  Trời ơi,tôi đã tưởng loài người gặp một Hitler bệnh hoạn, mà sao người dân Campuchia lại gặp Polpot bệnh hoạn gấp nghìn lần, nó là đảng viên cộng sản Pháp, được sống ở đất nước đã sinh ra nhà tư tưởng Montesquieu và Jean Jacques Rousseau, lập nên nền công hòa Jacobin 1789, mang đến ánh sáng văn minh sớm nhất cho nhân loại lại có thể dìm chính dân tộc mình như thế này ư!  Ông Vũ Quần Phương, ông viết nên  bài thơ “ Đợi” một trong số bài thơ hay nhất  thế kỷ XX.  “…Em đứng đợi một ngày, đất lạ thành quen….Em đứng đơi một đời, quen thành lạ…” ông có trải nghiêm như tôi, qua câu chuyện về tôi ác Polpot. Có thể không? Trước lạ, sau quen? Một mớ lý thuyết xã hội Angka mà Polpot dựng lên; một trăm năm, một nghìn năm cũng không bao giờ thành quen!!!
          Tiếng ca Thu Hiền lại nức nở bên tai tôi :
“Em đứng…một mình,
Đất lạ…rồi thành quen.
Đứng một đời em…quen thánh lạ!
Đơi…đợi….đợi…đơi ai ?”
12-1-2011
Ghi chú :  mong các hữu nghe trước bài Đơi trước khi đọc bài viết
Doi – Ngoc Lan.mp3
5502K   Phát   Tải xuống

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s