Archive | Tháng Mười 2012

Trần văn Kinh: Lại nói về truyện Trạng Quỳnh

 

Cách đây hơn 10 năm, có một dạo người ta bàn tán rất nhiều về việc : Trạng Quỳnh có phải là câu chuyện viết về cụ Nguyễn Quỳnh, một nhà nho khoa bảng (đỗ hương cống triều Lê, tức là bậc cử nhân dưới triều Nguyễn) , đã từng làm quan (Tri phủ, Huấn đạo, Hàn lâm viện tu soạn) , quê làng Bột Thượng (nay là xã Hoằng Lộc ), huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, hay không. Cuộc tranh luận đã đến hồi gay gắt, người tranh luận dẫn ra ý kiến của nhiều người danh tiếng đẻ bảo vệ lập luận của mình. Trước tình hình đó, tôi viết một bài ngắn nhan đề Trạng Quỳnh đang ở đâu, với nội dung : Trạng Quỳnh chỉ là câu chuyện dân gian, phản ánh một hiện thực xã hội, có giá trị phản kháng nhất định, nhưng không phải là một tác phẩm văn học chính thống có ý nghĩa hàn lâm, nên xét ra không nên đề cao quá mức trên văn đàn, và không nên gán nhân vật TQ vào tên nhà nho danh giá là cụ Nguyễn Quỳnh..
Bài viết được đăng trên Tạp chí Công nghiệp Việt nam số Xuân Quý Mùi (2003). Không biết bài viết có tác dụng đến mức nào, nhưng sau đó, không thấy ai tranh cãi gì về ý kiến này . Và cuộc tranh luận về Trạng Quỳnh cũng chấmdứt.
Mới đây, trên Blog của DOANHTHO, xuất hiện một bài viết có nhan đề: Có nên dạy truyện Tấm Cám trong nhà trường hay không? Bài viết này như nhắc tôi phải nói lại một số điều đã đề cập trước đây, nhằm biểu lộ sự đồng tình với tác giả bài viết này, và, để  đi đến một mục đích rộng lớn  hơn : Nhìn nhận lại kho tàng truyện dân gian và truyện cổ tích Việt Nam với một trình độ nhân văn cao hơn.
Trong bài viết của tôi, chữ Trạng Quỳnh là để chỉ tác phẩm Trạng Quỳnh, còn nhân vật Trạng Quỳnh thì đôi khi được viết tắt thành T.Q. Thực tế thì trong khi nói, hai khái niệm này thường lẫn lộn, nhưng cũng có lúc phải tách bạch ra.
Xuất xứ của tác phẩm:
Nói T.Q quê ở Thanh hóa chăc không ai cãi, nhưng nói Trạng Quỳnh là một tác phẩm văn học dân gian của vùng Thanh Hóa thì dễ đồng tình hơn.
Thật vậy, ở miền Trung, từ Nghệ An trở vào, không ai nói lái như trong truyện Trạng Quỳnh: Ngáy đèo =  Đéo ngày, Thiện đức = Đực thiến, Tượng lo = Lọ tương…
Còn ở miền Bắc lại không ai nói mần răng, mần đơn  như ở miền Trung: ( Nếu mà chú hỏi mần răng/ Thì chú bú … cho thằng mần đơn.)
Bằng cách loại trừ như vậy, ta thấy rõ ràng Thanh Hóa là quê hương của truyện Trạng Quỳnh.

Tính cách nhân vật:
T.Q  là một nhân vật có lẽ lúc đầu là có thật, nhưng đã được hư cấu thêm, tô vẽ thêm. Nói cách khác, đó là một sự góp nhặt của nhiều nhân vật, và đặt một cái tên chung là T.Q. Dù sao, xem xét tính cách nhân vật T.Q trong truyện Trạng Quỳnh, ta cũng thấy nổi lên rất rõ những điểm sau đây:
+ Một anh chàng láu cá. Tính cách này thể hiện qua các truyện ngắn : Dê đực chửa, Trả nợ anh lái đò (Đ mẹ thằng nào bảo thằng nào), Cấy rẽ bà Chúa Liễu, Vay tiền bà Chúa Liễu, Thơ trống vần thiến,Thi vẽ rồng…


+ Đánh tráo khái niệm: Thể hiện qua các truyện Lễ Chúa Liễu ba bò, Ông nọ bà kia, Tiên sư thằng bảo thái (Bảo Thái)…


+ Chọc quấy: Thể hiện qua các truyện Cúng Thành Hòang (Thôi chú anh linh, Xơi hai trứng vậy), Voi nan, Ông Tú Cát, Thiện đức, Nhặt bã trầu (Đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm), Đơn trình bò chết (Nếu mà chú hỏi mần răng…), Chúa ngủ ngày (Ngáy đèo), Bà chúa mắc lỡm (Đá bèo chơi), Chọi gà…


+ Đả kích có khi hơi thô tục ( Điều này không đúng với phong cách chốn quan trường và nơi giao tế): Trao ống quyển (đựng cứt, nước đái và châu chấu) cho các quan chấm thi, Anh lái đò (Lôi động Nam bang, Vũ qua Bắc quốc), Cô hàng nước (Nam bang nhất thốn thổ, Bắc triều chư đại phu…), Sứ Tàu mắc lỡm (Tiếu nà ma cái nị)…


Những chuyện như vậy, phản ánh sinh hoạt dân dã, xảy ra ở nhiều nơi, nhiều lúc, nhiều người, không phải là một nơi hay một người cụ thể nào. Câu chuyện nhiều khi chỉ bịa ra cho vui, nói cho đã miệng, có tính ám chỉ, đả kích bọn thống trị, áp bức, nhưng không có địa chỉ cụ thể nào, hoặc hòan cảnh xảy ra không có thực. Văn học nước ngoài cũng thường có những truyện dân gian như vậy, như Truyện cười Gabrovo, Những người thích đùa của Na- dim Hic- mét…


Tóm lại, với một tính cách nhân vật như vậy, không thể nói Trạng Quỳnh là một tác phẩm viết về cụ nhà nho khoa bảng và ông quan Nguyễn Quỳnh được. Tôi đã có dịp nói điều này với GS Hà văn Tấn, và ông cũng đã đồng tình như vậy.


Về những truyện tao nhã trong Trạng Quỳnh.
Trong Trạng Quỳnh cũng có những truyện hay mà thanh, như Dòm nhà quan bảng, Đào trường thọ…, nhưng những truyện như thế quá ít. Hơn nữa, nếu so sánh Trạng Quỳnh với các Giai thoại văn học của những người có khoa bảng, có tên tuổi trên văn đàn (như Mạc Đĩnh Chi đọc văn tế công chúa Tàu, Trạng Hiền đọc chữ thiếu nét của sứ Tàu, Nguyễn Du viết Phản Chiêu hồn (Khuất Nguyên) ngược với Chiêu hồn của Đỗ Phủ… , thì truyện của những danh nhân này có giá trị cao hơn nhiều, cả về tính thâm thúy của văn chương, triết học, lẫn tính tao nhã của người quân tử. Nhân vật Trạng Quỳnh, tuy gọi là trạng, nhưng không phải là Trạng Nguyên, mà chỉ là nói trạng, nói tếu cho vui, nhằm giải tỏa những dồn nén, bất công, éo le, nực cười, nhằm chửi lại bọn áp bức, có khi chửi đổng, trong điều kiện không làm gì khác được.


Kết luận.
Trạng Quỳnh nói riêng và những truyện dân gian như Trạng Quỳnh nói chung, có một giá trị nhất định trong việc phản ánh các sinh hoạt văn hóa dân gian một thời của dân tộc. Nhưng nó không phải là dòng văn học chính thống, bác học (academic), không phải là truyện các danh nhân, không phản ánh một tài năng thực, đáng được đề cao và noi theo trong lịch sử văn học.
Trong câu chuyện thi vẽ rồng, nhân vật Trạng Quỳnh được cuộc vì, mới đánh một tiếng trống đã vẽ xong 10 con rồng (giun), trong khi sứ Tàu phải mất 3 tiếng trống mới vẽ xong một con ngựa. Đọc một câu chuyện như vậy ta thấy ngượng, trên cả hai phương diện tài năng và phong cách: đã không có thực tài, lại còn láu cá, dương dương tự đắc! Nhà nho chính thống không làm thế. Văn hóa của ta không phải thế. Lịch sử văn học Việt nam không thiếu những tác phẩm lớn, không ít những truyện danh nhân nổi tiếng đáng làm gương cho hậu thế, cả về tài năng, phong cách, và cả về tâm hồn, tư tưởng.
Vì thế mà tôi tán thành ý kiến không nên đưa Tấm Cám vào dạy trong nhà trường, trừ phi có sự thẩm định lại theo hướng nhân bản hơn. Tôi cũng nghĩ rằng, mỗi người Việt nam cũng như  dân tộc Việt Nam phải theo gương các danh nhân Đất Việt thuở trước, tự nâng mình lên tầm văn hóa tư tưởng cao hơn, có triết học nhân bản hơn, sâu sắc hơn. Việc đó, như ngày xưa thì trước hết là việc của các bộ như bộ Học (như Bộ Giáo dục Đào tạo ngày nay ), bộ Lễ (như Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch  và Bộ Ngoại giao ngày nay) và của quan Đại tư đồ (gần như Ban Tuyên giáo TƯ ngày nay).

 

Advertisements

Lân Nguyễn(ct) : Bùi Xuân Đính Ôn Cố Tri Tân (i) Vua Minh Mạng Trị Con Hư Để Làm Gương Cho Thiên Hạ

Vua Minh Mạng (1791 – 1841) nổi tiếng trong lịch sử nhà Nguyễn nói riêng, các vương triều phong kiến Đại Việt nói chung không chỉ là vị vua giỏi việc hành chính,  giỏi thơ văn mà còn rất nghiêm khắc với trăm quan, người thân; không để các tình cảm thân quen làm ảnh hưởng công việc; không để vợ con, anh em ỷ thế mình mà làm những việc ngang trái. Ông còn nổi tiếng trong việc dạy con. Tuy có tới 142 người con (gồm 78 trai – thường có tên gắn với chữ “Miên”, 64 gái) và tuy rất bận với công việc trong triều, song ông luôn để ý đến họ, thấy họ sai là chấn chỉnh luôn. Câu chuyện dưới đây là ví dụ điển hình về việc răn dạy con rất nghiêm khắc của ông.
Trong số các con trai của Vua Minh Mạng có Hoàng tử Miên Phú. Cậy thế vua cha, Phú thường chơi bời lêu lổng. Vào một đêm tháng Một năm Ất Mùi (tháng 12 năm 1835), trời rét, Miên Phú cùng bọn phủ thuộc là Hoàng Văn Vân, Bùi Văn Nghị, Bùi Văn Quế tổ chức đua ngựa ở ngoài hoàng thành. Đua được mấy vòng, Miên Phú về trước, mấy tên phủ thuộc tiếp tục cho ngựa chạy thi. Vó ngựa rầm rập gây náo loạn nhiều đường phố. Một bà già đi bên đường tránh không kịp, bị ngựa của Hoàng Văn Vân xéo chết !
Vua Minh Mạng được tin, sai các quan đại thần là Trương Văn Quế, Tôn Thất Bằng, Phan Bá Đạt đi điều tra. Ngày hôm sau, Vua nhận được lời Tâu của các qaun, liền dụ rằng : “Trẫm rất buồn giận, thường ngày Trẫm vẫn rất nghiêm khắc với các hoàng tử, hễ sai phạm là trừng phạt ngay, chưa từng dung tha một chút nào. Miên Phú từ nhỏ bẩm tính ngu đần, lời nói việc làm đều bỉ ổi, lớn lên chỉ rong chơi. Trẫm đã nhiều lần nghiêm khắc dạy bảo, nhưng không biết chừa và sửa lỗi. Nay (Phú) lại gần gũi với lũ tiểu nhân tổ chức phi ngựa ngoài đường lớn Kinh thành là nơi quan quân đi lại đông đúc để đến nỗi xéo chết mạng người. Sao còn xứng đáng là công tử nữa. Lại không vâng lời cha dạy bảo, thực là đứa con xấu xa, tội nào còn lớn hơn nữa. Nay để giữ công bằng, quyết không có lý nghị thân, nghị quý(1). Phàm các em và con cháu chớ nên coi khinh, lấy thân để thử pháp luật, gương sáng chẳng xa, ai nấy phải kính nể”.
Rồi Vua ra lệnh tước mũ áo của Miên Phú, cách lương bổng hàng năm, giam lỏng ở nhà riêng để tự mình sửa lỗi, không cho ra ngoài một bước, không được dự vào hàng các hoàng tử, chỉ được gọi tên là Phú. Phú còn phải bồi thường cho người bị hại 200 lạng bạc.
Đối với bọn Hoàng Văn Vân, Vua Minh Mạng cũng chỉ rõ : “Vân là đứa con côn đồ, nương tựa nơi cửa quyền, ngày ngày cám dỗ người khác càn quấy, quen làm những điều bất thiện. Lại dám phóng ngựa ở nơi công đường, thực là không coi ai vào đâu. Nếu xét án thì khó mà khép tội giết người vì lầm lỡ được, phải xử tội thực phạt”.
Rồi Vua sai chém Vân ngay sau khi hết hạn tạm giam, để “răn những kẻ bám vào cửa quyền không coi pháp luật vào đâu”. Anh em tên Bùi Văn Nghị, Bùi Văn Quế bị đày đi phát vãng ở nơi xa, khi đến nơi còn bị đánh 100 gậy.
Lời bàn:
Câu chuyện có thật trên đây được ghi trong sách Đại Nam thực lục – bộ chính sử của nhà Nguyễn trên đây gợi lên những suy nghĩ về thái độ ứng xử trước pháp luật của ba thành phần xã hội.
Trước hết là Hoàng tử Miên Phú. Là con vua, nhưng Phú không những không biết giữ cho cha, theo gương cha để trở thành người tốt, để xứng đáng là “con ông cháu cha; con vua cháu chúa”, đặng kế tục được sự nghiệp của cha; mà còn ỷ thế cha mình để chơi bời lêu lổng, kết giao với cả bọn du thủ du thực, làm càn, vi phạm pháp luật, gây chết người, dẫn đến bị tước cả danh hiệu, bổng lộc, bị phạt giam … Cho hay, một con người dù đã có nền, có móng, có bệ đỡ chắc chắn, nhưng không biết tu thân, tích đức, thì nền móng, bệ đỡ đó cũng sớm bị “tan tành”. Và giữa Hoàng tử quý phái và người tầm thường, giữa người lẽ ra đáng được trân trọng, nể phục với kẻ đáng bị lên án, khinh bỉ; giữa người thuộc tầng lớp “thượng thượng lưu” với kẻ tội đồ chỉ là khoảng cách rất mỏng manh.
Thứ hai, là bọn Hoàng Văn Vân, Bùi Văn Quế, Bùi Văn Nghị. Là người trong phủ thuộc, lẽ ra phải có trách nhiệm giám sát, quản lý các hoạt động, hành vi của con vua, để góp phần cùng vua rèn, giáo dục hoàng tử; hơn thế nữa, còn có điều kiện để học tập những cái tốt, điểm hay của dòng phái nhà vua. Vậy mà, bọn Vân, Quế, Nghị không những không làm được điều đó mà còn ỷ thế là phủ thuộc của con vua để càn quấy, coi thường pháp luật. Chúng không những phạm tội mà còn gián tiếp đẩy con vua vào vòng tội lỗi. Và bị vua ra lệnh thẳng tay trị tội chẳng có gì oan ức với chúng.
Thứ ba là Vua Minh Mạng. Là người nổi tiếng thượng tôn pháp luật, đã không biết bao lần, ông sâu sát, nghiêm minh xét từng vụ án các quan phạm tội, kể cả các quan có nhiều công lao và từng là cận thần của mình. Điều này hẳn là bình thường và “dễ dàng” với một vị quân vương. Song với các em và các con mình, một vị quân vương dù “rắn” đến mấy, cũng phải có lúc “mềm lòng”, lưỡng lự trong việc xử lý, bởi liên quan đến tình cảm máu mủ ruột rà, nhất là khi phải áp dụng các biện pháp phạt bổng, đánh gậy với họ – những người từ bé sớm được yêu chiều, sống trong nhung lụa.
Tuy nhiên, Vua Minh Mạng lại không nghĩ như vậy. Ông hiểu rằng, nếu “nương tay” với Miên Phú, trăm quan và muôn dân sẽ chẳng “tâm phục khẩu phục” khi cho rằng, vua chỉ nghiêm với quan, dân mà lại dung túng cho cái sai của con em mình. Ông cũng hiểu rõ, nếu nương tay với Phú, Phú sẽ càng được thế ỷ vào vua cha, tiếp tục làm những điều càn bậy. Khi đó, ông không chỉ “mất con” mà còn mất đánh cả thành danh uy tín của mình. Vì thế, ông đã thẳng tay phạt con mình quen thói ỷ thế cha làm vua để chơi bời lêu lổng, kết thân với bọn xấu làm điều bất lương; trị tội nghiêm khắc cả các thuộc hạ của con, dùng con làm “bình phong, lá chắn” để càn quấy, gây rối trật tự xã hội. Minh Mạng là điển hình của việc dạy con biết sống theo pháp luật, làm gương cho cả thiên hạ.

Chẳng bù cho một số người trong xã hội ta ngày nay, cậy có tiền, cậy có quyền, nuông chiều con để con hư hỏng; không ít kẻ cậy thế của cha mẹ để làm càn, nhận hối lộ của các cơ quan dưới quyền cha mình, một số kẻ “choai choai” thì càn quấy, vi phạm pháp luật, sau đó lại được cha mẹ dùng tiền, dùng thế “bảo lãnh” xin về, mà những vụ các “công tử nhà quan, nhà giàu” tổ chức đua xe máy, thậm chí đua ô tô trong một vài năm gần đây là ví dụ điển hình.

Câu chuyện này cần nêu lên để những người đó suy ngẫm.

(1) Nghị thân: những người thân thích của vua. Nghị quý : những người có chức tước lớn, được vua quý trọng. Theo luật pháp phong kiến, những người này thuộc diện bát nghị, khi phạm tội sẽ được tha tội hoặc giảm tội.                                  .

* Bài đăng trong tập sách Những câu chuyện pháp luật thời phong kiến của tác giả, Nxb. Tư pháp, 2005. Tác giả có chỉnh sửa lại lời bình.

(ii)
Vua Minh Mạng Trị Tội Bọn Cường Hào Ác Bá Tỉnh, Huyện, Xã
Thời phong kiến, hệ thống thanh tra của nhà nước gồm các cơ quan: Đô Ngự sử (từ thời Nguyễn đổi thành Viện Đô sát) ở cấp trung ương, Giám sát Ngự sử ở cấp liên trấn (thời Nguyễn là cấp liên tỉnh) và Hiến ty ở cấp trấn (thời Nguyễn là tỉnh). Mỗi cơ quan, mỗi cấp thanh tra này có chức năng, nhiệm vụ riêng, song đều có nhiệm vụ chung là kiểm tra, giám sát quan lại, phát hiện các vụ việc tiêu cực của họ. Các cơ quan cũng như các chức quan của hệ thống thanh tra này hoạt động độc lập, không phụ thuộc vào nhau và cũng không phụ thuộc vào cơ quan hành chính cũng như cơ quan ngành dọc cùng cấp hoặc trên cấp. Chẳng hạn, một vị Hiến sát sứ ở Hiến ty (thanh tra cấp tỉnh), phát hiện một vị quan tỉnh tham tang, có quyền tâu thẳng lên Viện Đô sát, thậm chí tâu thẳng lên vua, không cần thông qua Giám sát Ngự sử (thanh tra cấp liên tỉnh); cũng không phải thông qua Tổng đốc hay Tuần phủ là các quan đứng đầu tỉnh đó.
Ngoài ra, những khi một địa phương nào đó trải qua binh đao, quan lại ức hiếp dân chúng gây tao loạn, các vua thường cử đoàn thanh tra đặc biệt, gọi là Kinh lược sứ, gồm các quan đại thần có uy tín, tài năng và công tâm đến, có nhiệm vụ làm rõ nguyên nhân, ổn định tình hình; được toàn quyền giải quyết các vụ việc ở địa phương đó rồi tâu báo lại với vua.
Vào tháng Tư­ năm Đinh Hợi, triều Vua Minh Mạng (tháng 5 năm 1827), tại trấn Nam Định (từ năm 1831 đổi thành tỉnh Nam Định), nhân dân gặp nhiều đau khổ vì nạn trộm cư­ớp hoành hành và quan lại địa phương nhũng nhiễu, hà hiếp. Nhiều đơn thư kêu cứu liên tiếp gửi vào triều đình Huế. Vua Minh Mạng bèn phái một đoàn kinh l­ược sứ, đứng đầu là các quan đại thần Nguyễn Văn Hiếu Nguyễn Kim Xán ra Bắc xem xét tình hình.
Đến Nam Định, các quan Kinh lư­ợc một mặt khẩn cấp xét cấp tiền gạo cho những người bị hại ở các làng quê; mặt khác đi đến các phủ huyện nào cũng cho phép người dân được đến gặp quan thanh tra triều đình phản ánh tình hình quan lại địa phương.
Sau một thời gian, đoàn Kinh lược sứ thu được rất nhiều chứng cứ về các hành vi tham tang, ức hiếp dân chúng của quan lại các cấp trấn này. Một số quan cấp phủ, huyện bị đưa ra xét xử ngay, khiến cho nhiều quan các phủ huyện khác lo sợ. Từ nỗi lo sợ “dắt dây” của quan lại các phủ huyện, các quan Kinh lược sứ phát hiện ra đầu mối của tình hình tao loạn ở trấn Nam Định chính là một số quan chức trấn này, gồm Cai án Phạm Thanh, Thư ký Bùi Khắc Tham. Họ là những kẻ “gian tham, giảo quyệt, hung ác, ng­ười trong vùng đều oán giận”. Nghe tin có quan Kinh lược sứ của triều đình về, các quan tham này đều lo sợ, đến nỗi Phạm Thanh bỏ cả ấn tín, công sở chạy trốn.
Vụ việc đư­ợc tâu lên Vua Minh Mạng. Vua lệnh cho các quan Kinh lược sứ phải bắt bằng đ­ược Phạm Thanh, bằng không sẽ bị xử theo luật “cố thả”. Vua lại dụ quở  trách các quan trấn thần Nam Định: “Lũ các ngươi làm quan trong hạt lại để có nhiều kẻ tham lam, làm hại dân, rồi lại bao che cho chúng mà nói dối vua, dám tâu rằng không xét thấy việc tham bỉ. Đến như­ Phạm Thanh tội lớn, khi Kinh lư­ợc sứ đến nơi thì sự việc vỡ lở nên lọt tin ra để nó trốn đ­ược. Các ng­ươi trị dân thì vỗ nuôi sai pháp, giặc nổi như­ ong; xét quan thì không biết phân biệt, dung túng thiên vị, như­ thế thì khép vào tội cách chức ch­ưa thỏa”.
Rồi Vua ra lệnh giải chức của  các quan đầu trấn Nam Định là Đỗ Văn Thịnh, Trần Chính Đức, Vũ Đức Khuê; đồng thời lệnh cho họ trong ba tháng phải bắt được những kẻ phạm tội, căn cứ vào đó để xét giảm tội hay không.
Nghe tin vậy, Bùi Khắc Kham cũng bỏ trốn, như­ng ít lâu sau cùng bị bắt với Phạm Thanh. Nhân dân địa phư­ơng lại đem các việc làm xấu xa của họ ra tố cáo. Vua Minh Mạng sai giải bọn Thanh – Kham đến chợ trung tâm của trấn, chém ngang lư­ng, tịch thu gia tài của chúng đem chia cho những ng­ười dân nghèo.
Đoàn Kinh l­ược sứ còn đi xem xét một số phủ, huyện khác, điều tra và đề nghị trị tội một số quan lại thoái hóa. Tri phủ Kiến X­ương Nguyễn Công Tuy tham tang phải tội chết, Đồng Tri phủ Ứng Hòa Phan Thọ Vực và Tri huyện Đại An Nguyễn Văn Nghiêm cố ý dung túng cho các nha lại nhũng nhiễu hại dân đều bị cách chức. Nhiều quan của các nha phủ khác qua tra xét thấy không xứng đáng chức đã bị truất bãi về làm dân.
Lời bàn:
Vụ việc trên đây được ghi rõ trong sách Đại Nam thực lục – bộ quốc sử của nhà Nguyễn. Từ vụ việc này cho thấy những bài học giá trị với việc quản lý xã hội và công tác thanh tra, giám sát quan lại ở các địa phương.
Một là, mặc dù hệ thống thanh tra của Nhà nước phong kiến có đủ “lệ bộ”, quy chế thanh tra, kiểm tra, giám sát khá rõ ràng, thậm chí với nguyên tắc thanh tra độc lập – như đã nêu ở trên, nhưng vẫn có không ít vụ quan lại vi phạm pháp luật với hai tội danh, cũng là hai “đặc trưng” cơ bản là lợi dụng chức vụ để tham tang và ức hiếp dân chúng; nhiều vụ diễn ra rất trầm trọng, khiến triều đình phải cử đoàn thanh tra đặc biệt về xem xét mà vụ việc ở trấn Nam Định trên đây là điển hình. Đó là vì, chỉ cần lơi lỏng một chút trong công tác thanh, kiểm tra, các quan lại “sẵn sàng” lợi dụng những kẽ hở của pháp luật, tình trạng thiếu hiểu biết pháp luật và nỗi lo ngại của người dân về những nỗi khổ ải mỗi khi phải đến cơ quan công quyền, cơ quan pháp luật; sự quan liêu của bộ máy công quyền, sự dung túng – và cả thông đồng, “bảo kê” của quan trên; tình trạng thông tin liên lạc kém v. v.  để phạm tội. Cho nên, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát luôn phải thường xuyên, sâu sát mới có thể ngăn chặn, hạn chế tình trạng quan lại lợi dụng để phạm tội; không thể để khi sự việc xảy ra mới cử đoàn thanh tra đặc biệt về giải quyết, bởi khi đó, hậu quả đã rất nặng nề.
Hai là, cả một “bộ sậu” quan lại ở Nam Định, từ cấp trấn xuống cấp huyện  thoái hóa, biến chất, trở thành “tập đoàn cư­ờng hào” hà hiếp dân chúng nặng nề như­ thế, nếu không có sự sâu sát và nghiêm minh của các quan Kinh l­ược sứ thì  chắc chắn, những “quan cường hào” vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, sau khi “tai qua nạn khỏi” sẽ quay lại tham nhũng và ức hiếp dân, dân lại khổ thêm biết chừng nào. Cho hay, thanh tra phát hiện các vụ việc tiêu cực đã là cần thiết, giải quyết dứt điểm vụ việc đó, hay nói một cách khác, phải “trị tận gốc, bốc tận rễ” mới là điều quan trọng.
Ba là, công lao phát hiện ra những tiêu cực, thoái hóa biến chất của quan trấn Nam Định đầu tiên chính là những người dân ở trấn này. Cho hay, có hệ thống thanh tra các cấp với đầy đủ quy chế, quy tắc làm việc rõ ràng cũng chỉ là một điểu kiện ban đầu, để phát hiện ra các vụ việc tiêu cực của quan lại địa phương, người làm công tác thanh tra phải gần dân, sát dân, lắng nghe ý kiến của người dân.
Bốn là, việc xử lý các quan lại thoái hóa, biến chất ở trấn Nam Định rất kiên quyết và nghiêm khắc còn có vai trò rất lớn của Vua Minh Mạng.
*Bài đã đăng trên tạp chí Kiểm tra (Ủy ban Kiêm tra Trung ương) số tháng 8 năm 2011, có tiêu đề “Sâu sát và nghiêm minh”. Nhân vụ Tiên Lãng, tác giả đổi lại tiêu đề để mọi người cùng suy ngẫm, nội dung không thay đổi.

 

TTCh ( dich) Thơ : Jean-Pierre Claris de Florian (1755-1794) Nhạc : Jean Paul Egide Martini (1741-1816)

TTCh:
Bài Plaisir d’amour của Florian và Martini đã ru hồn những cặp tinh nhân suốt thế kỷ 18, 19 rồi 20, chắc cõn đến thế kỷ 21 này. Lại được biết tác giả thơ Forian lại là chau thi sĩ Voltaire và Florian lại dinh lứu đến CM 1789 nên ông bị cầm tù tại nhà tủ Bourbe, tỵ nưã lên đoạn đầu đài. Hôm nay một ngày mưa sụt sùi, buồn, thương ông và ngưỡng mộ ông nên dịch thử. Có ngây ngô xin được lượng thứ.

Thơ : Jean-Pierre Claris de Florian (1755-1794)
Nhạc : Jean Paul Egide Martini (1741-1816)
Plaisir d’amour ne dure qu’un moment,
Chagrin d’amour dure toute la vie.

J’ai tout quitté pour la belle Sylvie,
Elle me quitte et prend un autre amant.
Plaisir d’amour ne dure qu’un moment,
Chagrin d’amour dure toute la vie.

Tant que cette eau coulera doucement
Vers ce ruisseau qui borde la prairie,
Je t’aimerai, me répétait Sylvie…
L’eau coule encor’, elle a changé pourtant !

Plaisir d’amour ne dure qu’un moment, Chagrin d’amour dure toute la vie.

Martini 1760
Tình hồng
Tinh hồng ngắn chẳng tày gang                
Tình buồn theo mãi đa mang một đời
Sylvie, em vẫn ơ thờ
Bên người yêu khác hững hờ tình tôi.
Tinh hồng ngắn chẳng tày gang                
Tình buồn theo mãi đa mang một đời
Nước êm êm chảy lững lờ
Theo dòng suối mát quanh bờ đồng xanh
Lời em nói vẫn bên anh,
Nước trôi trôi mãi em thay lời nguyền.
Tinh hồng ngắn chẳng tày gang                
Tình buồn theo mãi đa mang một đời
TTCh
29-10-2012

Lê Xuân Khải: Lâm kinh (Đến bên gương) – Nguyễn Chân dịch sang Pháp Nga .

 

3.臨 鏡
面 瘦 不 應 臨 鏡 照
心 清 頻 慰 淡 生 安
思 維 慢 轉 遺 人 笑
往 念 當 年 說 李 陳


LÂM KÍNH
Diện sấu bất ưng lâm kính chiếu.
Tâm thanh tần uỷ đạm sinh an.
Tư duy mạn chuyển di nhân tiếu,
Vãng niệm đương niên thuyết Lí Trần!


ĐẾN BÊN GƯƠNG
Mặt gầy nên ngại soi gương,
Giữ lòng thanh thản, sống thường yên vui.
Tư duy chậm chuyển, người cười,
Lí Trần hay nhắc đến đời ngày xưa.
1981


DEVANT LE MIROIR
Visage émacié, dans la glace on ne se mire.
Par âme sereine et vie sobre on est soulagé.
Arriéré, on devient fable du quartier.
Des histoires de Li Tran, on trouve long à dire.


ПЕРЕД ЗЕРКАЛОМ
С измождённым видом смотреть в зердало боюсь
Веду радостную жизнь со спoкойной душой
Как притчей во языцех смеятся надо мной
О временах Ли Чан всегда рассказываю.
NGUYỄN CHÂN dịch 25.04.2009
4.曉 風
曉 風 推 醒 我 濃 眠
對 面 花 池 滿 睡蓮
不 待 風 吹 花 夜 發
還 教 枝 上 鳥 聲 暄


HIỂU PHONG
Hiểu phong thôi tỉnh ngã nồng miên.
Đối diện hoa trì mãn thuỵ liên.
Bất đãi phong xuy hoa dạ phát.
Hoàn giao chi thượng điểu thanh huyên.


GIÓ SỚM
Gió mai lay tỉnh giấc đang nồng.
Ao súng hoa đua nở rực hồng.
Chẳng đợi gió mai, hoa tự nở.
Rủ bầy chim hót rộn tầng không.
1993


LE VENT MATINAL
Du profond sommeil le vent matinal me réveille.
Nuitament, dans l’étang, n’attendant pas le vent
Les lotus s’épanouissent abondamment
Excitant les oiseaux à chanter sur la treille.

УТРЕННИЙ ВЕТЕРОК
Ветерок пробудил меня от крепкого сна
На озере лотусы ещё не проснулась
Их цветы распускаются не ожидая ветра
И птицы на ветвях на хоровод призывая

NGUYỄN CHÂN dịch 25.03.2009

Đỗ Anh Thơ : Mắt huyền vũ trụ

                      Misa năm ngủ sau lưng,
                     Giọt mưa tí tách gạn từng phút giây.
                     Màn đen choàng cả Đông Tây
                     Mắt huyền vũ trụ:  giữa ngày là đêm !.
                                               Đỗ Anh Thơ
                                    ( Đêm mưa bão Sơn Tinh
                                         28/10/2012 tại Hà Nội)

Đỗ Anh Thơ: Trò chuyện với chú Mèo có đôi mắt xanh mắt đỏ (*)

                           Huynh nhát,  đệ già ở với nhau
                            Đệ dịch sách, Huynh ra gốc cau (**).
                            Nước chảy to, Huynh đà bạt vía,
                            Non dù bé, Đệ cứ chuồn mau  !
                            Giương mắt xanh Huynh nhìn ngày rạng
                            Nhắm mắt đỏ Đệ lệ đêm thâu.
                            Ngày ngày sớm tối vui bầu bạn
                             Đệ dịch sách- Huynh ra gốc cau !
                                                     Đỗ Anh Thơ
                                                          28/10/2012
                (* ) Docago mới được con cho một chú mèo trắng để bầu bạn. Nó có đôi mắt một xanh một đỏ ..
                    (**) Đồng dao «  Con mèo mà trò cây cau ». Còn mèo Docago thi thường rón rén ra gốc cau đi vệ sinh rồi trốn nhanh vào phòng ngồi bên Docago đang  mải mê dịch sách ….

Đất Việt: Điện ảnh Việt: “Dốt từ diễn viên đến đạo diễn”

Nhìn từ thực tế hiện nay cho thấy, phim do Nhà nước tài trợ ngày càng “cạn kiệt” nhưng hễ “thò” cái nào ra y rằng bị… “bệnh”.

Trong khi các hãng phim tư nhân giới thiệu đến công chúng hết phim này đến phim khác thì các hãng Nhà nước gần như đặp chiếu. Đã vậy, cứ bộ phim nào chuẩn bị ra mắt thì lại mắc hết “bệnh” này đến “bệnh”. NSND Thế Anh chia sẻ: “Hiện nay nhân lực làm điện ảnh của Việt Nam không thiếu, chỉ có điều là quá dốt, dốt từ diễn viên đến đạo diễn, nhưng cứ đổ lỗi cho hết cái này đến cái khác”.

Từ “bệnh” bản quyền đến “bệnh” không tiền
Chỉ cần điểm qua các dự án phim do Nhà nước đặt hàng tài trợ từ khi mừng Đại lễ 1000 năm đến nay đã cho thấy có quá nhiều rắc rồi. Chẳng hạn như bộ phim Thái sư Trần Thủ Độ được đầu tư 56 tỷ đồng từ năm 2009 đến nay vẫn… “im thin thít và lặn mất tăm”. Giờ đây cả UBND thành phố Hà Nội và Công ty cổ phần Phim truyện I đều không ai muốn trả lời về số phận của nó.
Gần đây nhất, khi bộ phim Huyền thoại 1C là dự án phim truyền hình lịch sử hiếm hoi được Bộ VH,TT&DL làm chủ đầu tư, Công ty Cổ phần Tây Nam Phim sản xuất với tổng kinh phí lên tới 20 tỷ đồng, dài 22 tập, mới phát sóng được một nửa số tập thì bị mắc “bệnh” bản quyền. Cụ thể, phim đề tên tác giả kịch bản là Đoàn Minh Tuấn, tên tác giả kịch bản nâng cao là nhà văn Anh Động, nhưng trên một tờ báo, nhà văn Anh Động đặt câu hỏi Đoàn Minh Tuấn là ai mà đứng trước tên ông trong bộ phim này. Trong khi đó, nhà sản xuất lại nói rằng kịch bản ban đầu do biên kịch Đoàn Minh Tuấn viết, sau đó, nhà văn Anh Động – người từng tham gia chiến trường 1C – chỉnh sửa thêm. Vậy là, từ những chuyện “hậu trường” không rõ ràng, thiếu chuyên nghiệp, bộ phim lịch sử đã vướng phải những lùm xùm không đáng có.
Cảnh trong phim “Huyền Thoại 1C”
Bồi thêm vào “mớ bòng bong này” là kỳ án 44 tỷ đồng của Cục Điện ảnh hồi năm ngoái, và đến giờ này được phán một câu xanh rờn: đình chỉ vụ án… cho đến khi bắt được Phạm Thanh Hải, kẻ đang biến mất.
Từ sự việc này điện ảnh Nhà nước gần như đi vào ngõ cụt. Bởi từ khi vụ việc xảy ra đến nay các hãng phim Nhà nước đều năm há mồm chờ… sung rụng. Điều này đã được chứng minh, vì chỉ còn hơn 2 tháng nữa là hết năm 2012 vậy mà chưa có phim nào hoàn thành. Ví như phim Những người viết huyền thoại (kịch bản: Nguyễn Anh Dũng; đạo diễn: Bùi Tuấn Dũng) của Hãng phim truyện Việt Nam và Cát nóng (kịch bản: Phạm Thùy Nhân; đạo diễn: Lê Hoàng) của Hãng phim Giải Phóng. Hai phim này mới xong giai đoạn quay hình, đang chuẩn bị làm hậu kỳ để kịp ra mắt vào cuối năm.
Há miệng chờ chính sách
Điện ảnh Nhà nước thì ngày một thảm. Trong khi đợi Nhà nước có chính sách cho điện ảnh thì các hãng phim Nhà nước chỉ còn cách ngồi chờ sung rụng. Đơn cử là khi hỏi lãnh đạo hai hãng phim lớn nhất của Nhà nước là Hãng phim truyện Việt Nam và Hãng phim Giải Phóng về kế hoạch sản xuất phim thì đều nhận được câu trả lời: chưa có kế hoạch vì còn chờ chính sách mới.
Phim “Thái sư Trần Thủ Độ”
Theo NSND Thế Anh, hiện nay ta đã có “bột” rồi, nhưng vẫn thiếu người thợ giỏi để “gột nên hồ”. Cần phải đầu tư nhiều cho chất xám, vì hiện nay chúng ta đã xuất khẩu được gạo, cao su, dầu… nhưng riêng nghệ thuật thì chưa thể xuất khẩu được. Giá trị văn hóa của Việt Nam đang ở con số không. Nhưng quan trọng hơn hết, để giải thoát được tình trạng này thì Nhà nước phải sắn tay  quan tâm đến điện ảnh một cách thực sự và đúng cách, nếu không, điện ảnh sẽ càng ngày càng thảm.
Đạo diễn Phạm Nhuệ Giang thì cho rằng, hiện nay điện ảnh Việt Nam đã có sự phát triển đối với dòng phim tư nhân, nhưng chỉ có điều chất lượng nghệ thuật của dòng phim này không cao, nhiều khi biến điện ảnh thành một thứ như tấu hài. Do đó, một mặt đáp ứng thị hiếu của người xem nhưng một mặt nào đó cũng có hại cho điện ảnh. Còn dòng phim Nhà nước thì thực sự một vài năm lại đây đang ngày càng đi xuống vì không có kinh phí một phần là do những thất thoát của ngành điện ảnh vừa qua. Hàng năm chỉ có thể cho ra đời được 1 – 2 phim mang tính nghệ thuật.
Với một bên là để cho điện ảnh tồn tại đó là phim thương mại, còn một bên là để nghệ thuật phát triển thì lại không có nhiều tiền để làm. Kinh phí không có thì làm sao làm được. Do đó theo tôi, giải pháp đầu tiên là phải có một chính sách nào đó của nhà nước để ủng hộ điện ảnh. Có thể nguồn tiền đó được thu từ đâu đấy. Chẳng hạn giờ họ có quyền làm phim thương mại nhưng cái nguồn tiền từ phòng vé đó sẽ có một phần trích lại đầu tư cho điện ảnh. Cái này là do chính sách của nhà nước và phải do nhà nước ra lệnh mới có thể làm được. Phải có quỹ điện ảnh tốt để đầu tư thêm cho điện ảnh. Dòng phim nghệ thuật có vẻ không hút khách nhưng lại là dòng phim đại diện cho VN đi thi quốc tế.
Phim “Huyền Thoại 1C”
Còn về đào tạo là khâu quan trọng nhất, vì cơ sở vật chất của trường đào tạo điện ảnh của ta hiện nay đã tốt hơn rất nhiều, nhưng phải có thầy giỏi và phải được tái đầu tư. Đặc biệt là những em có tài năng thì nên có những đầu tư vào họ. Tôi đã đi chấm thi cho những phim trẻ thấy nhiều em có tài năng hơn hẳn và nếu họ được đi học lên cao nữa, chẳng hạn như sang Mỹ, Hàn Quốc để học hỏi thì sẽ chất lượng hơn gấp nhiều lần.

Nhà biên kịch Trịnh Thanh Nhã khẳng định: “Để Điện ảnh Việt có chỗ đứng trong lòng khán giả, vai trò Nhà nước là không thể bỏ qua. Tuy nhiên, việc tài trợ phim lại không thể làm như cũ, với lối cào bằng về kinh phí cho mọi loại phim. Vì thế, cơ chế tài trợ này cũng cần phải được kiểm soát chặt chẽ bằng những chế tài minh bạch, nếu không lại thành cơ hội để mưa móc cho nhau thì tệ lắm. Trong trường hợp không thể có chế tài đủ mạnh để làm trong sạch đường đi của nguồn tài chính từ ngân sách, thì có lẽ nên xóa sổ cái gọi là điện ảnh luôn cho khỏi mệt. Lúc đó, phim thị trường sẽ thoải mái lên ngôi, và các Chàng men nàng bóng cứ việc dung dăng dung dẻ”.

Theo Đất Việt