Lk TCNV: Giáo sư HÀ MINH ĐỨC: Tôi là người cầu tiến và yêu thích cái mới

GS Hà Minh ĐứcGS Hà Minh Đức

Nhà ông trong một ngõ phố yên tĩnh, chủ nhà có phong thái nhẹ nhàng với lối nói nhỏ nhẹ và ấm áp. Ít ai ngờ ông đã gần 80 tuổi, khi nhìn vào sự nhanh nhẹn trong những động thái của ông, cũng như những lập luận, kiến giải của ông. Nhìn nhận, đánh giá một nhà nghiên cứu phải nhìn vào tác phẩm. Và số sách mà Giáo sư (GS) Hà Minh Đức – Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2012 – liên tục cho ra đời là minh chứng hùng hồn về sức lao động cần mẫn, dường như không biết mệt mỏi của ông. Không bao giờ viết bằng vi tính, ông chỉ viết tay, cũng không vì để câu chữ mạnh mẽ hơn, có hồn hơn như nhiều người khác nói, GS Hà Minh Đức bảo: là do quen tay thôi.

Ông có tới gần 50 công trình sách cá nhân đã xuất bản, với các cuốn tiêu biểu như: Nam Cao, nhà văn hiện thực xuất sắc (NXB Văn học, 1961), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại (NXB Khoa học xã hội, tái bản 4 lần, xuất bản lần đầu 1974), Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà thơ lớn của dân tộc (NXB Khoa học xã hội, tái bản 6 lần, lần đầu xuất bản năm 1979), C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lê Nin và một số vấn đề lý luận văn nghệ” (NXB Sự thật, xuất bản 1982, tái bản 3 lần), Đi tìm chân lý nghệ thuật (NXB Văn học 1988), Báo chí Hồ Chí Minh (NXB Chính trị quốc gia, 2000 tái bản 2 lần). Tố Hữu, Cách mạng và thơ (NXB Đại học 2004, 2008, NXB Văn học 2008), Tự lực văn đoàn – Trào lưu và tác giả (NXB Giáo dục, 2007), Một nền văn hóa văn nghệ đậm đà bản sắc dân tộc với nhiều loại hình nghệ thuật phong phú (NXB Khoa học xã hội, 2005-2007), C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lê Nin với báo chí” (NXB Chính trị quốc gia 2010), Một thế kỷ thơ Việt Nam 1900-2000 (NXB Khoa học xã hội, 2012), Nhận thức và đối thoại văn hóa văn nghệ (NXB Hội Nhà văn, 2012) và 5 tập bút ký, 6 tập thơ. Trong thời gian từ 2007-2012 ông cho xuất bản một cụm bảy tác phẩm dưới dạng nghiên cứu, chuyện trò với các nhà thơ tiêu biểu: Xuân Diệu – Vây giữa tình yêu (NXB Giáo dục 2009), Văn chương và thời cuộc (NXB Khoa học xã hội 2009), Huy Cận, ngọn lửa thiêng không tắt (NXB Giáo dục 2010), Tố Hữu cách mạng và thơ (NXB Văn học, 2009), Chế Lan Viên, người trồng hoa trên đá (NXB Văn học 2010), Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi (NXB Đại học, 2011), Tế Hanh – mãi mãi hoa niên (NXB Văn học 2011), Nữ sĩ Anh Thơ – mùa hoa đồng nội (NXB Văn học, 2012). Trong các công trình nghiên cứu của ông có 12 công trình được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (6 cuốn), hai Giải thưởng Nhà nước (6 cuốn), giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (1 cuốn), giải thưởng sách hay 2009 (1 cuốn).

Vì  thế câu hỏi đầu tiên đặt ra phải là:
Ông đã sử dụng thời gian như thế nào để có thể hoàn thành một khối lượng công việc lớn như thế? 
Thực ra quỹ thời gian thì trời cho thế cả. Tôi làm liên tục, nhưng không dồn dập vì nếu làm vội vàng sẽ không như ý muốn. Cùng một lúc tôi làm hai, ba việc, có việc làm được 5/10, có việc 2/10 và có việc mới bắt đầu. Cuộc đời lạ lắm, nhiều khi có những cái ngẫu nhiên thú vị như khi đi tìm ông A lại gặp ông B. Tư liệu là khâu cơ bản, “có bột mới gột nên hồ”.
Vấn đề quan trọng nhất là chọn đề tài theo một hệ thống, tôi không muốn nói là mình nhìn xa, nhưng về lâu dài phải biết mình sẽ làm gì, cái gì vướng, cái gì thuận. Năm 1979, tôi ra mắt cuốn về thơ Hồ Chí Minh thì năm 1985, là về văn Hồ Chí Minh, đến năm 2000, tôi cùng lúc ra hai cuốn về báo chí  Hồ Chí Minh, Văn thơ Hồ Chí Minh và các bài tiểu luận…
Hay như nhóm Tự lực văn đoàn từ năm 1956, tôi đã viết một bài dài nhưng thấy khó có thể trình bày thỏa đáng trong thời điểm bấy giờ. Chờ đợi mãi đến năm 1986, khi đó trường ĐH Tổng hợp giao cho tôi là chủ nhiệm bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại, đứng ra kết hợp với NXB Đại học, tổ chức Hội nghị bàn về những đóng góp, hạn chế của nhóm Tự lực văn đoàn, có nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Huy Cận, Tế Hanh, Tô Hoài, Bùi Hiển, Nguyễn Văn Bổng và lớp sau như  Nguyên Ngọc, Vũ Tú Nam đến dự. Nhà thơ Huy Cận khẳng định nhóm Tự lực văn đoàn trước có tinh thần dân tộc thiên về văn chương văn hóa, nhà thơ Lưu Trọng Lư thì khen tiểu thuyết Tự lực văn đoànhiện đại và có tính dân tộc. Sau hội nghị đó,tôi bắt đầu dồn sức viết cuốn sách Tự lực văn đoàn – Trào lưu và tác giả.
Sử dụng thời gian tốt nhưng nếu sức khỏe không tốt thì vô nghĩa. Ông có tập thể dục đều đặn để duy trì sức khỏe? 
Không. Tôi chỉ uống chè xanh và tắm nước nóng nhiều lần trong ngày theo sách Nghìn lẻ một đêm. Tôi làm nhiều, nhưng không làm căng, đến 11h đêm là nghỉ vì như bác sĩ nói ngủ trước 12h đêm 1 giờ thì bằng 2, 3 giờ đồng hồ ngủ sau 12h đêm.
Vì sao ông lại chọn những nhà thơ lớn của dân tộc làm đối tượng nghiên cứu của mình?
Nền văn học của mỗi giai đoạn thường quy tụ ở các tác giả lớn. Đầu năm 1960 tôi viết Nam Cao rồi Tô Hoài. Bên cạnh các nhà văn hiện thực tôi chú ý văn xuôi lãng mạn, đặc biệt nhóm Tự lực văn đoàn. Đến cuốn Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại; khi làm cuốn sách này, tôi đã đi gặp, tiếp xúc với rất nhiều nhà thơ lớn và tôi định hình một cách tiếp cận riêng đó là trò chuyện nhiều lần với họ và kết hợp với những nghiên cứu riêng của mình trong việc khảo sát thơ trong nước và ngoài nước. Nhà thơ Huy Cận có lần bảo tôi “ông là nhà văn bản học”, thực tế là tôi không thêm bớt gì trong những cuộc trò chuyện với họ.
Tôi không thích khai thác đời tư của họ vì  đó là vấn đề tế nhị.
Tiếp xúc với giới văn nghệ sĩ, nhất là với các nhà thơ lớn, ông có cảm thấy tự ti không, và với những người khó tính, ông có phải uyển chuyển nhiều?
Lúc tôi  tiếp xúc với các nhà thơ lớn như Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tế Hanh… có mấy thuận lợi. Tôi lúc đó khoảng 35 tuổi thua họ từ 10-15 tuổi. Tôi cũng đã có một số sách xuất bản như các tác phẩm nghiên cứu về Nam Cao, về thể loại thơ ca Việt Nam và tập phê bình tiểu luận Nhà văn và tác phẩm, tôi cũng đã có chút ít vốn. Ngày bắt tay vào nghiên cứu Nam Cao, tôi được nhà văn Tô Hoài chân tình giúp đỡ.
Tôi cũng không phải khéo léo gì, cứ tự nhiên, chân tình và thực sự coi trọng các ông, hiểu các ông, và thẳng thắn không khen cái mình không thích. Trước khi gặp ai, tôi đều tìm hiểu kỹ và chuẩn bị sẵn những câu hỏi về đặc điểm thơ của từng tác giả… để hỏi. Và tôi có may mắn được các ông chấp nhận cho gặp gỡ, chia sẻ và nhiều lần cho đi cùng tháp tùng như nhà thơ Huy Cận. Còn nhà thơ Xuân Diệu cũng rất cởi mở, riêng năm 1969, tôi gặp ông cả chục lần, mỗi lần một đề tài khác, có khi một buổi đủ cho Xuân Diệu nói về bài Đây mùa thu tới
Ông tiếp nhận được gì ở những “cây cổ thụ” ấy?
Nhiều lắm, từ tri thức, sự say mê lao động hết mình trong quỹ thời gian chật chội cho đến cung cách ứng xử của những nhà văn, nhà thơ lớn với nhau.
Kín đáo nhất là nhà văn Tô Hoài, nhưng cũng là người cởi mở nếu được ông yêu quí. Ông biết nhiều thứ vô cùng. Cặp đôi Xuân Diệu – Huy Cận tuyệt nhiên không bao giờ chê nhau trước mặt và sau lưng. Câu chữ của nhà thơ Xuân Diệu thì lạ lắm. Có lần tôi tặng sách, Xuân Diệu bảo: mỗi lần nhận sách Hà Minh Đức ngoài chuyện văn chương, mình mừng vì cái bếp nó lại hồng, bếp nó lại hồng thì lại tạo điều kiện cho văn chương ra đời!
Tôi còn học nhà thơ Xuân Diệu nhiều tri thức, để đỡ kinh viện, công thức. Trong khi nhà thơ Nguyễn Đình Thi mỗi nhận xét đều hàm chứa tri thức, giàu tính nhân văn. Nhà thơ Chế Lan Viên trí tuệ, tự tin và có những câu thơ mạnh mẽ, sắc sảo…
Và những buổi chuyện trò với các nhà văn, họ giúp mình nhìn nhận cuộc đời công bằng hơn, rộng lượng hơn..
Cuốn sách nào tiêu tốn thời gian và tâm lực, trí lực của ông nhất?
Điều này cũng khó nói, dường như mỗi cuốn đều có những khó khăn riêng.
Cụm tác phẩm về văn thơ, báo chí Hồ Chí Minh với tôi là một thách thức phải cố vượt qua. Viết đúng, tiếp cận và tìm được cái mới, không lặp lại với mọi người là điều khó.
Cụm hai tác phẩm C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lê Nin và một số vấn đề lý luận văn nghệ và C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lê Nin với báo chí lại là một thử thách khác. Đó cũng là hai cuốn sách nằm trong danh mục những tác phẩm của tôi giành Giải thưởng Nhà nước, GS Đinh Gia Khánh xem xong nói “mình tưởng ông nặng về sao chép, nhưng đây là một trong số những cuốn hay nhất của ông”. Cuốn C. Mác – Ph. Ăngghen – Lê Nin với báo chí lại là một trọng điểm báo chí còn ít được quan tâm. Chỉ riêng công đọc,chọn lọc đã rất vất vả. Phải chính xác và chính xác. Lúc đưa in chỉ định in 500 cuốn nhưng nhà xuất bản đề nghị in 1500 cuốn, thật mừng.
Tích lũy tư liệu, dày công nghiên cứu, nhưng có những cuốn sách dù đã xong, ông vẫn để lại một thời gian tạo độ lùi nhất định. Vì ông muốn thêm thời gian kiểm nghiệm hay vì một lý do nào khác?
Vì nước mình nhiều chuyển động lịch sử, văn chương gắn với thời cuộc, văn chương phục vụ nhiệm vụ chính trị kịp thời. Vì thế người làm nghiên cứu phải thận trọng. Không thể vội vàng. Phải nỗ lực sưu tầm, chắt chiu tư liệu và nhất là đầu tư suy nghĩ. Cuốn Hồ Chí Minhnghiên cứu từ năm 1973, 1979 mới ra. Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại do nhà thơ Chế Lan Viên viết lời tựa, được viết thời kỳ chống Mỹ trên vùng sơ tán Việt Bắc từ năm 1967-1973, sách mới xuất bản. Nhà thơ Hữu Thỉnh còn cho rằng sau này tôi cũng không có tác phẩm nào vượt qua được cuốn sách đó (cười).
Ông có tiếng là nhà phê bình nghiêm ngắn mực thước, ông không thích hay không dám tung tẩy câu chữ?
Tôi không thích bay bổng câu chữ trong nghiên cứu. Tôi chủ trương viết nghiên cứu phải nghiêm chỉnh, sáng rõ, ý tưởng thể hiện rõ ràng. Và liên tục xem lại chỉnh sửa bổ sung. Như cuốn sách Một nền văn hóa văn nghệ đậm đà bản sắc dân tộc với nhiều loại hình nghệ thuật phong phú. Lúc đầu in 2005 chỉ có 276 trang nhưng khi tái bản, tôi bổ sung thành 385 trang, phong phú và dày dặn hơn, đoạt giải sách hay của Bộ Thông tin năm 2009.
Ông nghĩ gì về khái niệm chủ quan, khách quan trong phê bình?
Đã 20 năm nay tôi không viết phê bình. Phê bình phải ở tuyến đầu văn học, phải nhạy cảm, mạnh mẽ, cái đó thích hợp với người trẻ, sức nghĩ mới. Còn tôi làm nghiên cứu, khảo cứu, đợi mọi thứ lắng xuống đã… Nhưng nói thật, khảo cứu lại có những khó khăn khác, phải bao quát, thấu hiểu, nhận thức lại có tính chất tái cấu trúc cho đúng đắn, công bằng khi đánh giá các hiện tượng văn học.
Thời gian và công chúng là hai điểm tựa vững chắc cho phê bình và nghiên cứu văn học.
Theo ông, vì sao có thời kỳ xuất hiện những tên tuổi lớn đồng loạt và có thời lại quá vắng bóng những dấu ấn…? 
Điều kiện xã hội cũng tạo ra những tên tuổi. Nhưng tôi cảm nhận tài năng có thể tạo bằng nhân lực, bằng nỗ lực, còn xuất hiện thiên tài thì cực kỳ khó. Nói như Tố Hữu là “trời cho” không đoán định trước được. Theo nhà thơ phải biết chờ đợi và sớm phát hiện tài năng nảy sinh và bồi dưỡng.
Phẩm chất nào quan trọng nhất của nhà nghiên cứu theo ông?
Phải có tri thức, mà cái này phải tích tụ tương đối lâu. Phải công bằng, không định kiến. Một đời người cũng là dài, nếu không chuẩn bị chu đáo thì dễ dang dở. Với những tài năng lớn thì sự dang dở, thậm chí những “mảnh vỡ” cũng có ý nghĩa còn với những trường hợp bình thường thì giống như người đi đường không đến đích. Tục ngữ Pháp có câu “Không nên để ngày mai cái gì có thể làm hôm nay”. Huy Cận đã nói “tôi làm việc như ngày mai tôi chết và tôi làm việc trong ý nghĩ tôi sẽ sống mãi”.
GS nổi tiếng là người mát tay khi đào tạo nhiều học vị tiến sĩ, phó tiến sĩ, và ông cũng là người đóng góp nhiều cho một số nhà nghiên cứu có điều kiện tập hợp những bài viết riêng lẻ thành sách cá nhân, khi ông về làm Viện trưởng Viện Văn học? 
Tôi thấy chuyện đó có gì đáng kể đâu. Khi được cấp trên cử về Viện văn học, thực là tôi không muốn về vì lúc đó đã nhiều tuổi (60 tuổi). Và tôi đang trong quá trình xây dựng khoa Báo chí của trường ĐH Khoa học Xã hội và nhân văn… Nhưng rồi cấp trên vẫn cử tôi về. Viện Văn là cơ quan nghiên cứu lớn có nhiều nhà nghiên cứu giỏi. Tôi khuyến khích những công trình tập thể. Tuy nhiên, ngoài việc “góp gạo nấu cơm chung” cần đặc biệt chú ý công trình của cá nhân. Tôi hướng cho cán bộ trong Viện tập trung vào thành tựu cá nhân, viết công trình, tiểu luận ra sách. Ví dụ như ai đó đã viết được 5, 7 bài nghiên cứu đã đăng, tôi khuyến khích, động viên họ viết thêm nhiều bài nữa, rồi bàn  phối hợp với Nhà xuất bản Khoa học Xã hội in sách cá nhân.
Viện cũng ký kết với Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản bộ sách Về tác gia tác phẩm và cuối cùng ra được 40 cuốn, các cán bộ Viện Văn học làm là chính, mỗi người chủ biên một, hai cuốn, vừa có thu nhập tốt, vừa có ích cho giáo dục. Nhà thơ Tố Hữu khi xem công trình này, cho rằng: Giáo viên cấp 3, nhà nghiên cứu đọc bộ sách này sẽ không phải đi thư viện.
Ông làm nhiều, ra nhiều sách, hẳn sẽ bị ghen ghét…
Chắc chắn là có, yêu ghét là quyền của mọi người. Câu hỏi của nhà báo làm tôi nhớ đến Giáo sư Nguyễn Văn Khỏa ở Khoa Văn, thầy đã mất nhưng có một câu khá nổi tiếng : “Trước kia Trâu buộc ghét Trâu ăn còn ngày nay lại có tình trạng Trâu chơi ghét Trâu cày“.
Cuộc đời tôi có những  trắc trở nhưng tôi  không  bao giờ thất vọng  mà luôn tìm ra nguyên nhân, hiện tượng lý giải nó để rồi tiếp tục làm tốt hơn.
Tư duy của một nhà nghiên cứu đòi hỏi sự khúc triết, rành mạch và sự logic nhưng thơ đòi hỏi cảm xúc lãng mạn và trí tưởng tượng bay bổng. Cảm hứng làm thơ đến với ông như thế nào? 
Giọng ông trầm xuống: con trai tôi mất khi cháu đang sung sức nhất ở tuổi 17 sắp vào tuổi được yêu. Tôi bị sốc một thời gian dài không làm được gì. Bài thơ tôi viết cho cháu thuộc cảm xúc đầu đến với thơ.
Rồi tôi viết những bài sau. Tất cả thường nặng về cảm xúc buồn.
GS Hà Minh Đức đã cho ra đời 6 tập thơ Đi hết một  mùa thu – 1999, Ở giữa ngày đông – 2001, Những giọt nghĩ trong đêm – 2001, Khoảng trời gió cát bay – 2003, Ngoài trời còn mưa – 2007, Chiều miên man gió – 2011…
Tập đầu tiên Đi hết một mùa thu của ông được nhà thơ Tố Hữu nhận xét “Thơ anh đã kết hợp được cảm xúc và suy nghĩ thực và hư. Giọng điệu chung là vui và buồn nhưng nghiêng về buồn. Như con thuyền đi trong sương mờ ảo nhưng thiếu cái neo.Tóm lại thơ hiền quá, thiếu táo bạo” (báo Văn nghệ số 24 (16-6-2001). Nhà thơ Hữu Thỉnh cho rằng: “Thơ Hà Minh Đức chân thực và ấm”. Nhà thơ Huy Cận nhận xét “Thơ Hà Minh Đức hồi xuân, truy lĩnh những cái đã mất. Thơ Hà Minh Đức là lời nói thầm, thầm thì với chính mình”.
Thực ra thơ Hà Minh Đức không hiền. Có những bài thơ ý tứ mãnh liệt, nhưng nó không phô diễn mà lặng như sóng ngầm tuôn chảy. Bài thơ Chí Phèo có một tứ lạ, khi Chí Phèo “độc thoại”: Đừng lầm lẫn tôi với AQ/ Tôi xem thường thằng hàng xóm ấy/ Trai tơ không yêu nổi một u Ngò/ Suốt đời dương dương tự đắc/ Viết không tròn  một chữ O…
Nhưng 5 câu kết mới ám ảnh người đọc “Họ quên tôi rồi/ Ông giáo Trí thương tôi, hiểu tôi/ Ông chỉ ra tôi mang dòng máu Việt/ Tôi không tuyệt tự/ Đời nay vẫn nhiều người như tôi.” (Chí Phèo, 8-2011).
Nhưng bao trùm thơ ông là nỗi buồn, sự cô đơn thấm thía, tự xót xa cho mình mà vẫn như định mệnh không rũ ra được “Cái tổ nhỏ và tôi/ Không còn hơi ấm/ Tôi chưa hiểu em/ Sao vẫn chắt chiu/ Làm tội một đời” (trích bài Chắt chiu – 6-2008). 
Nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng: con người mỗi cá nhân mới chỉ sử dụng một phần nhỏ khả năng diệu kỳ của bộ não, vấn đề là làm sao khai mở hết những khả năng tiềm ẩn khác của não.
Viết nghiên cứu, làm thơ và ông còn viết bút ký. Bạn đọc có thể tìm thấy những chi tiết sống động, chân thực, gợi hình ảnh  trong những  tập bút ký của ông. Khả năng quan sát nhạy bén, và thói quen luôn luôn làm việc đã giúp ông cho ra mắt  5 tập bút ký. Vị giáo sư và ẩn sĩ đường, Tản mạn đầu ô, Đi một ngày đàng, Ba lần đến nước Mỹ, Nước Nga – Thu vàng và miên man tuyết trắng… Trong đó, những bài ký về chân dung con người, về giai thoại văn nghệ của những bậc gạo cội trong làng văn Việt Nam là ấn tượng nhất.
GS Hà Minh Đức có một cuộc sống không rượu, bia, thuốc lá, không tụ bạ bàn tán chuyện quốc sự. Như ông tự nhận: thế giới của tôi không rộng mở. Ông ít bạn nhưng là bạn chí cốt, tử tế và chung thủy… Ông bảo: tôi đã gặp những đỉnh cao trong văn học rất khiêm nhường, và thấy những cái kiêu căng của người khác so với các ông ấy không xứng đáng.
Cuộc sống của ông gắn liền với cây bút mà dường như cả trong giấc ngủ nó cũng đồng hành với ông, để lắm lúc ông bật dậy mà ghi, sợ rằng những ý tưởng bay đi mất.
Kể từ dấu mốc đầu tiên, tác phẩm nghiên cứu về nhà văn hiện thực Nam Cao (cuốn sách nghiên cứu sớm nhất về nhà văn Nam Cao, khi Hà Minh Đức mới 26 tuổi) – cho đến hàng loạt tác phẩm sau này về những cây đại thụ của thơ ca, văn học Việt Nam… Tôi đồ rằng một thoáng nào đó nhìn lại, ông cũng phải tự ngạc nhiên vì chính sức làm việc khủng khiếp của mình. Nhưng càng có tuổi, người ta càng trầm tĩnh hơn, ông bảo: sự sàng lọc của thời gian là nghiệt ngã nhất. Càng sống, tôi càng quý thời gian, chắt chiu thời gian. Ông nhớ nằm lòng câu thơ của Xuân Diệu “Trải qua một cuộc bể dâu/ Cái nghề đào thải ai đâu có chừa”.
Đã có người nói GS Hà Minh Đức tẩm ngẩm tầm ngầm thế mà đào hoa lắm. Ông cười bảo: trong một cuộc vui, đã có người hỏi tôi câu đó. Thực ra tôi cũng có nhiều mối tình nhẹ, lãng mạn một thời, không rõ đường nét, nhưng nếu nói ra biết đâu lại là sự ngộ nhận, ngại nhất là đụng chạm đến hạnh phúc của người ta hôm nay. Đời tư không có hạn kỳ như các loại bí mật khác, có khi “sống để dạ chết mang đi”…
Thưa, với ông trong cuộc sống điều gì là quan trọng nhất?
Quan trọng nhất là thực hiện được mong ước có tính bền vững, lâu dài. Tôi chú ý hiệu quả, tác phẩm phải có ích, không xa lạ, phù phiếm. Tôi cố gắng để những cuốn sách của tôi đều có ích, vì nghề nhà giáo là điểm tựa của tôi.
Nhìn lại cuộc đời đã qua, ông có gì tiếc nuối nhất?
Có những điều mình trải qua rồi, muốn lặp lại để tốt hơn mà không được. Tôi nhớ ý của C. Mác về Sự không lặp lại của lịch sử, thời cuộc và cả số phận cá nhân. Đừng để tuột khỏi tay bông hoa, quả chín mà cuộc đời tặng cho bạn. Tôi có nhiều nỗi buồn nhưng không chán nản. Tôi tôn trọng và yêu mến cuộc đời nên cũng luôn biết tiếc nuối.
Có người nói tôi không mạnh dạn, cứ tròn tròn. Thực ra, không phải. Tôi không cấp tiến, nhưng là cầu tiến. Tôi thích sự đổi mới. Như trong bài Một hướng đi trong thơ tôi tỏ ý chê chủ trương thơ “chân chân thật thật” của Xuân Diệu, gặp tôi, nhà thơ bảo “Người khác với mình như thế là không xong đâu. Nhưng với Hà Minh Đức, thôi cho qua”.
Thời mới bước chân vào tập sự nghiên cứu, ông có hình dung ra thành công sau này của mình – như bây giờ có thể gọi là thành công viên mãn?
Tôi không dám nghĩ đến chữ “viên mãn”. Có lẽ không bao giờ có được hạnh phúc đó. Trước đây, bắt tay vào làm việc như người tập sự và cứ dần từng bước một khá hơn.
Nhiều lúc cảm thấy chơi vơi và tự ti trong môi trường lẫn lộn. Nhiều người quá đề cao mình đến khó hiểu. Nhưng rồi mọi việc cũng ổn định. Tôi nhớ câu nói vui  của một nhà thơ lớn nói với một nhà văn quá tự cao: “Thưa ông, chắc tôn ông không phải là Lép Tôn-xtôi”.
*
Cuốn sách mới nhất của GS Hà Minh Đức là về Nữ sĩ Anh Thơ, mùa hoa đồng nội – cuốn sách ông phải làm dốc sức vì sợ rằng nếu để chậm sẽ dang dở. Mắt ông yếu lắm, bác sĩ nói nếu mổ cũng không có tiên lượng, không mổ thì chắc chắn sẽ mờ dần. Tôi động viên ông rằng vẫn còn nhiều cơ hội, nhưng ông vẫn chỉ cười buồn lắc đầu: “Tôi sẽ cố gắng sống thanh thản và làm việc theo hoàn cảnh riêng của mình”.
Thời gian trôi nhanh và cũng nghiệt ngã. Nhưng có những thứ còn lại với thời gian.

Việt Văn (thực hiện)

Nguồn tin: TCNV 10-2012

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s