Lk TCNV: Nguyễn Huy Tưởng đã viết tác phẩm TÌM MẸ như thế nào?

Thứ ba – 23/10/2012 08:11

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng

Tapchinhavan.vn- Vậy là, thời điểm truyện Tìm mẹ ra đời và được phổ biến đã có thể xác định: nửa đầu năm 1954, khi đã vào hè và trước khi cơ quan văn nghệ về tiếp quản Thủ đô. Nhưng còn hoàn cảnh ra đời của tác phẩm? Tại sao vào thời gian cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Huy Tưởng lại viết nên câu chuyện “lạ lùng xanh biếc” ấy – xin mượn cách gọi của nhà văn Tô Hoài về mảng truyện cổ tích của ông. Liệu chuyện hai anh em Nhà và Gạo vượt qua bao gian truân để cuối cùng tìm được mẹ có liên quan gì với đời sống cách mạng và kháng chiến khi ấy, hay trực tiếp hơn, có liên quan gì với cuộc sống của chính tác giả thời gian này?

NGUYỄN HUY THẮNG

Nguyễn Huy Tưởng đã viết tác phẩm TÌM MẸ như thế nào?

Tìm mẹ là một trong những truyện thiếu nhi hay nhất của Nguyễn Huy Tưởng – điều này xem ra không còn gì phải bàn cãi. Nhà văn Nguyên Ngọc, trong một tham luận về văn học thiếu nhi, có viết: “Tìm mẹ của Nguyễn Huy Tưởng chỉ có vài chục trang, Đàn chim gáy của Tô Hoài chỉ mấy chục dòng nhưng đều lớn và đẹp”. Tác giả Lê Huy Anh, trong một bài viết về tác phẩm này của Nguyễn Huy Tưởng cũng cho rằng, Tìm mẹ xứng đáng được coi là tác phẩm tiêu biểu của ông (không chỉ riêng phần viết cho thiếu nhi), và mai sau, khi làm hợp tuyển của một thời, nếu người ta có chọn thiên truyện này để giới thiệu về tác gia Nguyễn Huy Tưởng thì cũng là điều dễ hiểu!
Như một nghịch lý, truyện Tìm mẹ nổi tiếng bao nhiêu, thì những gì người ta biết về xuất xứ của nó càng mù mờ bấy nhiêu. Kết thúc câu chuyện đầy tính sáng tạo của mình, Nguyễn Huy Tưởng ghi: “Theo một truyện cổ tích Tây NguyênNhưng là truyện nào? Phó giáo sư, tiến sĩ Vân Thanh, trong suốt quá trình nghiên cứu về văn học thiếu nhi, đã không tìm thấy gốc gác hay hơi hướng tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng trong kho tàng truyện cổ tích Tây Nguyên, cũng như trong bất cứ truyện cổ tích các dân tộc nào! Nhà thơ Phạm Hổ, trong lời giới thiệu cho một ấn bản Tìm mẹ của Nhà xuất bản Kim Đồng, có dẫn lời kể của nhà văn Tô Hoài; theo đó, Nguyễn Huy Tưởng viết truyệnTìm mẹ trong một cuộc hội nghị. Tác giả vừa họp vừa viết. Viết được trang nào lại truyền cho anh em đọc. Nguyễn Huy Tưởng càng viết càng say. Anh em càng đọc càng hứng thú…
Hồi ức của tác giả Dế mèn phiêu lưu ký, qua lời kể lại của tác giả Chú bò tìm bạn thật thú vị. Nhưng cụ thể là hội nghị nào, vào thời gian nào thì cả người kể và người ghi đều không thấy nói. Ta chỉ có thể đoán đó là vào khoảng thời gian cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp mà sau đây, chúng tôi sẽ cố gắng chứng minh.
Nguyễn Huy Tưởng từng viết truyện thiếu nhi từ trước Cách mạng. Những năm hoạt động hướng đạo (1940-1945), ông có viết một số truyện cho các em, in trong Tủ sách Hoa Xuân của Đoàn hướng đạo Việt Nam, như Cô bé gan dạ, Tấm Cám, Chiếc bánh chưng… Trong kháng chiến chống Pháp, cùng với nhà văn Tô Hoài và vài người tâm huyết khác, các ông lập ra một tủ sách cho thiếu nhi do Nhà xuất bảnVăn nghệ ấn hành, mang tên Sách Kim Đồng. Mặc dù thiết tha viết cho các em, nhưng do bận bịu công tác, thời gian này ông chỉ viết được vài cuốn sách nhỏ, trong đó có hoạt cảnh Một ngày hè và truyện Chiến sĩ ca nô. Hòa bình lập lại, về tiếp quản Thủ đô, Nguyễn Huy Tưởng bắt tay ngay vào viết các truyện cho thiếu nhi, như để bù vào quãng thời gian đã mất trong kháng chiến. Ông viết Thằng Quấy (1955), Con cóc là cậu ông giời (1956), An Dương Vương xây thành ốc (1957), Hai bàn tay chiến sĩ (1958), Kể chuyện Quang Trung (1959), Lá cờ thêu sáu chữ vàng (1960).
Nhưng tuyệt nhiên không phải truyện Tìm mẹ!
Ấn phẩm Tìm mẹ sớm nhất của Nguyễn Huy Tưởng mà gia đình ông còn giữ được, là bản in tháng 6-1960. Vì trên sách không thấy đề là tái bản hay in lần thứ mấy, nên ta chỉ có thể phỏng đoán đây là lần in đầu tiên tác phẩm này của Nguyễn Huy Tưởng tại Nhà xuất bản Kim Đồng. Vấn đề là trước đó nó đã được in ở đâu và vào thời gian nào chính là điều chúng tôi muốn làm sáng tỏ ở bài viết này.
Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng được xuất bản cũng như những gì được lưu giữ tại gia đình ông cho thấy, trong suốt cuộc đời cầm bút, Nguyễn Huy Tưởng đã để trống hai khoảng thời gian không thấy ghi nhật ký. Lần thứ nhất là vào năm 1937, và lần thứ hai là từ tháng 6-1953 đến nửa đầu tháng 9-1954. Năm 1937, Nguyễn Huy Tưởng còn đang trên bước đường mày mò đến với văn chương, còn đến cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, ông đã trở thành một cây bút có tên tuổi, viết nhiều và viết khoẻ. Trong nhật ký của mình, ông vẫn hay ghi về quá trình sáng tác, nhất là với những tác phẩm dày công, hoặc được ông đặc biệt tâm đắc, như Vũ Như Tô, Sống mãi với Thủ đô, tuỳ bútMột ngày chủ nhật, truyện thiếu nhi Lá cờ thêu sáu chữ vàng… Truyện Tìm mẹmà chúng tôi được biết ông rất thích – lúc sinh thời, nhà văn vẫn hay kể cho các con nghe về thằng Nhà con Gạo, và câu chuyện các em giết được hổ và tìm được mẹ – chắc chắn đã phải được ông nói đôi điều gì đó trong nhật ký, nếu như ông có viết nhật ký vào quãng thời gian viết Tìm mẹ. Vậy nên, sự ngoại suy đầu tiên cho phép ta rút ra là: Nguyễn Huy Tưởng đã viết Tìm mẹ vào khoảng nửa cuối 1953 – tương ứng với khoảng thời gian để trống trong nhật ký những năm chống Pháp của ông.
Trong bài Các cụ ngày xưa, đăng trên báo Sức khoẻ và đời sống, số ra ngày 24-5-2000, anh Nguyễn Vũ Giang, con trai của nhà văn Nguyên Hồng cho biết, truyện Tìm mẹ đã đến với anh cũng như các anh chị bên gia đình nhà văn Kim Lân từ hồi còn ở ấp Đồi cháy. Anh còn nhớ tác giả Tìm mẹ, mà anh gọi là bác Tưởng, đã cho lũ trẻ nhà anh và nhà bác Kim Lân mỗi nhà một cuốn. Các anh chị bấy giờ còn bé lắm, nhưng đã bập bẹ đánh vần và cũng có người đọc được. Dưới ánh trăng sáng trên đồi, lũ trẻ tụ tập ở cái sân sỏi nóng hầm hập và cùng nhau đọc Tìm mẹ. Thế rồi trong đám con gái, đứa này, đứa kia, rồi đứa nữa cùng khóc nức lên mà bảo: “Sao nó ác thế!” Chắc là đọc đến đoạn chúa làng giết người bố rồi lại đi tìm giết nốt ba mẹ con. Anh Giang cũng nhớ, ít lâu sau thì được theo gia đình về Hà Nội…
Vậy là, thời điểm truyện Tìm mẹ ra đời và được phổ biến đã có thể xác định: nửa đầu năm 1954, khi đã vào hè và trước khi cơ quan văn nghệ về tiếp quản Thủ đô. Nhưng còn hoàn cảnh ra đời của tác phẩm? Tại sao vào thời gian cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Huy Tưởng lại viết nên câu chuyện “lạ lùng xanh biếc” ấy – xin mượn cách gọi của nhà văn Tô Hoài về mảng truyện cổ tích của ông. Liệu chuyện hai anh em Nhà và Gạo vượt qua bao gian truân để cuối cùng tìm được mẹ có liên quan gì với đời sống cách mạng và kháng chiến khi ấy, hay trực tiếp hơn, có liên quan gì với cuộc sống của chính tác giả thời gian này?
Chúng ta biết rằng Nguyễn Huy Tưởng ra đi kháng chiến có một mình. Thời gian đầu, ông để vợ và ba con gái nhỏ ở lại Hà Nội với ông bà ngoại. Đến tháng 5-1951, vợ ông mới đem được con gái thứ ba ra đoàn tụ ngoài kháng chiến với ông. Năm sau, ông có thêm cô con gái thứ tư. Tháng 5-1953, ông nhận nhiệm vụ đi công tác “phát động quần chúng”, chuẩn bị cho cuộc cải cách ruộng đất sẽ được tiến hành ngay khi kháng chiến thành công. Địa bàn công tác của ông ở tận xã Tân Trào thuộc huyện Hạ Hòa, Phú Thọ. Đây là đợt công tác dài ngày, nên khi ra đi, ông thu xếp cho vợ con ra ở nhờ nhà một người tản cư trên đường Tuyên – Hà: Trên con đường từ Tuyên Quang đi Hà Giang, ở cây số 7 có một xóm nhỏ gồm bà con phần lớn là người miền xuôi lên tản cư. Trong xóm có một người đàn ông khoảng 50 tuổi, ông này có một căn nhà bỏ không, lâu nay không dùng đến. Đó là một căn nhà ba gian, phía trước là một vạt rừng cỏ tranh, tiếp đến là đường. Giữa vạt rừng tranh nổi lên hai cây đa cổ thụ cao đến chục mét, rễ cây rủ xuống tua tủa, to như những cây tre, cây nứa bám vào lòng đất. Ở cuối xóm có một con suối nhỏ, có cây cầu bằng gỗ bắc qua, vì vậy mọi người vẫn quen gọi nơi đây là “Cây đa nước chảy”. Nguyễn Huy Tưởng đã mượn tạm căn nhà ba gian đó cho vợ con ông và các con của nhà văn Vũ Ngọc Phan ở. Một gian bên này là vợ ông và hai con gái, một lên tám, một chưa đầy hai tuổi. Gian bên kia là hai chị em con ông bà Vũ Ngọc Phan – Hằng Phương mới ở Thanh Hoá ra. Cậu em, Vũ Triệu Mân cũng chỉ trạc tuổi đứa con lên tám của ông. Cô chị, Vũ Phi Hồng, có lớn hơn, nhưng vẫn chỉ là một đứa trẻ. Năm mẹ con, dì cháu nương tựa vào nhau mà sống. Thỉnh thoảng Nguyễn Huy Tưởng mới có dịp đi công tác qua, ở lại với vợ con đôi ba hôm và cũng thỉnh thoảng, nữ sĩ Hằng Phương lại từ trong rừng, chỗ cơ quan đóng, ra thăm và tiếp tế cho các con. Chính tại đây, bà Hằng Phương đã có lần gặp nhà văn Nguyễn Huy Tưởng và khắc hoạ chân dung ông khi ấy:
Trên đường kháng chiến Tuyên – Hà
Anh đi công tác ghé nhà đôi khi
Gặp anh nhoẻn miệng cười khì
Râu xanh chưa cạo, áo thì vá vai
Đèn dầu, phên nứa, đêm dài
Bóng người mải viết, trăng cài rừng giang…
Nguyễn Huy Tưởng viết gì? Chắc chắn không phải là nhật ký. Từ khi tham gia công tác phát động, xuống “ba cùng” với bà con bần nông (cùng ăn, cùng ở, cùng làm), ông đã thôi viết nhật ký, để tránh gây cảm giác “khác người” với bà con. Cũng không phải là sáng tác – thời gian này, ông hầu như không viết cuốn sách nào, đến báo cũng không. Song người viết bài này có thể đoán chắc rằng, ông viết rất nhiều những gì liên quan đến công tác phát động quần chúng: báo cáo công việc triển khai, ghi chép về tình hình bà con nông dân, lập các bảng biểu thống kê về kinh tế, xã hội địa phương… (hiện trong gia đình ông còn giữ được rất nhiều tài liệu thuộc loại này, từ các cuốn sổ đóng lấy đến những trang giấy ghi chép số liệu, về người, về việc, về địa chủ và tá điền, về phú nông và bần nông…). Đồng thời, cũng theo thói quen của ông, Nguyễn Huy Tưởng ghi lại cuộc đời của rất nhiều nông dân ông gặp trong quá trình bắt rễ; phần lớn họ là những người cùng khổ, bị đè nén, bóc lột, quanh năm ăn đói, mặc rách, chồng chất nợ nần đến độ phải đi ở đợ, làm thuê… Đó sẽ là những “nhân vật” tương lai của tiểu thuyết Truyện anh Lục gồm ba tập mà ông sẽ viết rất nhanh và cho in ngay trong năm 1955, nghĩa là chỉ một năm sau khi ông kết thúc công tác phát động và về tiếp quản Thủ đô…
Đến đây, ta có thể lần ra mối liên quan giữa những công việc của ông trong thời gian làm công tác phát động với việc sáng tác Tìm mẹ.Tham gia công tác phát động quần chúng, thấu hiểu nỗi khổ cùng cực của nông dân, Nguyễn Huy Tưởng nhận ra một khát vọng giản đơn của tất cả mọi người: có nhà để ở, có hột gạo để ăn. Và ông nghĩ đến hai đứa con gái đầu lòng của ông còn phải để lại Hà Nội. Lúc này các con ông còn được ông bà ngoại trông nom, nhưng ngộ nhỡ địch khủng bố, ngộ chúng trả thù ông, một người kháng chiến và trút đòn thù lên đầu lũ trẻ. Ông nghĩ đến vợ và hai đứa con sau ở căn nhà lá bên đường, nghĩ đến hai chị em con ông bà Vũ Ngọc Phan – Hằng Phương phải xa cha mẹ, ở với vợ ông, mấy dì cháu nương tựa vào nhau, đùm bọc lấy nhau. Có lần, cả hai nhà cùng hết cái ăn. May được người đàn ông chủ nhà ra thăm, chặt cho buồng chuối tiêu xanh ở sau vườn nhà. Ông bày cho cách lột vỏ chuối, thái mỏng, đem ngâm nước cho hết nhựa, rồi đun sôi lên, cho ít muối vào là được bát canh ăn tạm…
Bấy giờ đã là đầu năm 1954. Chiến cuộc Điện Biên Phủ đang hình thành. Chỗ ở của mấy mẹ con, dì cháu chỉ cách đường có một vạt rừng tranh, đêm đêm nghe được cả tiếng chân bộ đội hành quân lên mặt trận. Thế nên rất dễ bị máy bay địch ném bom. Tuy đã có đào hầm nhưng nguy hiểm là rất lớn. Thực tế có lần ông qua nhà, buổi đêm đã phải chạy máy bay. Đưa vợ con xuống hầm, ông không quên dặn chị em Hồng – Mân nhớ đem theo xuống hầm cả ba lô, đề phòng bị bom cháy nhà còn có cái mà dùng… Ôi! máy bay, bom đạn, chết chóc, loạn lạc! Biết bao đau thương đã diễn ra trong cuộc kháng chiến này… Tất cả những những hình ảnh ấy, những nghĩ suy ấy dần dần hình thành ở ông một câu chuyện. Câu chuyện mượn hình thức truyện cổ tích Tây Nguyên, nhưng tất cả đều là những trải nghiệm của chính bản thân ông: Các con ông, hay hai chị em con ông bà Vũ Ngọc Phan – Hằng Phương thì cũng vậy, sẽ là thằng Nhà, con Gạo, biểu tượng của khát vọng người dân lành được có nhà để ở, có hột gạo để ăn. Vợ ông thì gợi cho ông nghĩ đến nhân vật người mẹ, và cả nhân vật người con gái trong câu chuyện. Người đàn ông cho ở nhờ, cho nải chuối tiêu xanh sẽ là ông lão Đá cho mấy mẹ con giỏ gạo khi chạy khỏi nanh vuốt chúa làng. Những tên địa chủ độc ác bóc lột nông dân ở nơi ông tham gia phát động quần chúng sẽ được hình tượng hoá thành chúa làng, còn những chiếc máy bay gieo giắc chết chóc của giặc Pháp thì cũng ví như hùm beo. Đặc biệt, cây đa cổ thụ toả bóng yên bình trong vạt rừng tranh chính là một gợi ý tuyệt vời để ông kết thúc câu chuyện: đó sẽ là đích đến của hai anh em Nhà và Gạo trên bước đường gian truân đi tìm mẹ, để rồi mấy mẹ con “Trở về làng từ nay có nhà, có gạo, có mẹ có con”…
Và như hồi ức của nhà văn Tô Hoài được nhà thơ Phạm Hổ ghi lại, dòng cảm xúc đã đến với Nguyễn Huy Tưởng tại một hội nghị khiến ông không thể không ghi ngay ra. Ông say sưa viết, hết trang này sang trang khác. Hết mỗi trang lại chuyển cho các bạn đọc – ông không thể không chia sẻ ngay cảm xúc của mình với các bạn được. Cuộc kháng chiến chống Pháp sắp thắng lợi rồi. Ước mơ muôn đời của người Việt Nam sắp được thực hiện rồi. Nhà sẽ có nhà, Gạo sẽ có gạo, chân lý nhỏ nhoi ấy không thể không đến với những người Việt Nam khiêm nhường, đồng bào của ông…
N.H.T
(Bài viết có sử dụng tư liệu trong
cuốn Lòng mẹ của Vũ Phi Hồng,
NXB Hội Nhà văn, 2009)
Nguồn tin: TCNV 10-2012
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s