Trần văn Kinh: Lại nói về truyện Trạng Quỳnh

 

Cách đây hơn 10 năm, có một dạo người ta bàn tán rất nhiều về việc : Trạng Quỳnh có phải là câu chuyện viết về cụ Nguyễn Quỳnh, một nhà nho khoa bảng (đỗ hương cống triều Lê, tức là bậc cử nhân dưới triều Nguyễn) , đã từng làm quan (Tri phủ, Huấn đạo, Hàn lâm viện tu soạn) , quê làng Bột Thượng (nay là xã Hoằng Lộc ), huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, hay không. Cuộc tranh luận đã đến hồi gay gắt, người tranh luận dẫn ra ý kiến của nhiều người danh tiếng đẻ bảo vệ lập luận của mình. Trước tình hình đó, tôi viết một bài ngắn nhan đề Trạng Quỳnh đang ở đâu, với nội dung : Trạng Quỳnh chỉ là câu chuyện dân gian, phản ánh một hiện thực xã hội, có giá trị phản kháng nhất định, nhưng không phải là một tác phẩm văn học chính thống có ý nghĩa hàn lâm, nên xét ra không nên đề cao quá mức trên văn đàn, và không nên gán nhân vật TQ vào tên nhà nho danh giá là cụ Nguyễn Quỳnh..
Bài viết được đăng trên Tạp chí Công nghiệp Việt nam số Xuân Quý Mùi (2003). Không biết bài viết có tác dụng đến mức nào, nhưng sau đó, không thấy ai tranh cãi gì về ý kiến này . Và cuộc tranh luận về Trạng Quỳnh cũng chấmdứt.
Mới đây, trên Blog của DOANHTHO, xuất hiện một bài viết có nhan đề: Có nên dạy truyện Tấm Cám trong nhà trường hay không? Bài viết này như nhắc tôi phải nói lại một số điều đã đề cập trước đây, nhằm biểu lộ sự đồng tình với tác giả bài viết này, và, để  đi đến một mục đích rộng lớn  hơn : Nhìn nhận lại kho tàng truyện dân gian và truyện cổ tích Việt Nam với một trình độ nhân văn cao hơn.
Trong bài viết của tôi, chữ Trạng Quỳnh là để chỉ tác phẩm Trạng Quỳnh, còn nhân vật Trạng Quỳnh thì đôi khi được viết tắt thành T.Q. Thực tế thì trong khi nói, hai khái niệm này thường lẫn lộn, nhưng cũng có lúc phải tách bạch ra.
Xuất xứ của tác phẩm:
Nói T.Q quê ở Thanh hóa chăc không ai cãi, nhưng nói Trạng Quỳnh là một tác phẩm văn học dân gian của vùng Thanh Hóa thì dễ đồng tình hơn.
Thật vậy, ở miền Trung, từ Nghệ An trở vào, không ai nói lái như trong truyện Trạng Quỳnh: Ngáy đèo =  Đéo ngày, Thiện đức = Đực thiến, Tượng lo = Lọ tương…
Còn ở miền Bắc lại không ai nói mần răng, mần đơn  như ở miền Trung: ( Nếu mà chú hỏi mần răng/ Thì chú bú … cho thằng mần đơn.)
Bằng cách loại trừ như vậy, ta thấy rõ ràng Thanh Hóa là quê hương của truyện Trạng Quỳnh.

Tính cách nhân vật:
T.Q  là một nhân vật có lẽ lúc đầu là có thật, nhưng đã được hư cấu thêm, tô vẽ thêm. Nói cách khác, đó là một sự góp nhặt của nhiều nhân vật, và đặt một cái tên chung là T.Q. Dù sao, xem xét tính cách nhân vật T.Q trong truyện Trạng Quỳnh, ta cũng thấy nổi lên rất rõ những điểm sau đây:
+ Một anh chàng láu cá. Tính cách này thể hiện qua các truyện ngắn : Dê đực chửa, Trả nợ anh lái đò (Đ mẹ thằng nào bảo thằng nào), Cấy rẽ bà Chúa Liễu, Vay tiền bà Chúa Liễu, Thơ trống vần thiến,Thi vẽ rồng…


+ Đánh tráo khái niệm: Thể hiện qua các truyện Lễ Chúa Liễu ba bò, Ông nọ bà kia, Tiên sư thằng bảo thái (Bảo Thái)…


+ Chọc quấy: Thể hiện qua các truyện Cúng Thành Hòang (Thôi chú anh linh, Xơi hai trứng vậy), Voi nan, Ông Tú Cát, Thiện đức, Nhặt bã trầu (Đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm), Đơn trình bò chết (Nếu mà chú hỏi mần răng…), Chúa ngủ ngày (Ngáy đèo), Bà chúa mắc lỡm (Đá bèo chơi), Chọi gà…


+ Đả kích có khi hơi thô tục ( Điều này không đúng với phong cách chốn quan trường và nơi giao tế): Trao ống quyển (đựng cứt, nước đái và châu chấu) cho các quan chấm thi, Anh lái đò (Lôi động Nam bang, Vũ qua Bắc quốc), Cô hàng nước (Nam bang nhất thốn thổ, Bắc triều chư đại phu…), Sứ Tàu mắc lỡm (Tiếu nà ma cái nị)…


Những chuyện như vậy, phản ánh sinh hoạt dân dã, xảy ra ở nhiều nơi, nhiều lúc, nhiều người, không phải là một nơi hay một người cụ thể nào. Câu chuyện nhiều khi chỉ bịa ra cho vui, nói cho đã miệng, có tính ám chỉ, đả kích bọn thống trị, áp bức, nhưng không có địa chỉ cụ thể nào, hoặc hòan cảnh xảy ra không có thực. Văn học nước ngoài cũng thường có những truyện dân gian như vậy, như Truyện cười Gabrovo, Những người thích đùa của Na- dim Hic- mét…


Tóm lại, với một tính cách nhân vật như vậy, không thể nói Trạng Quỳnh là một tác phẩm viết về cụ nhà nho khoa bảng và ông quan Nguyễn Quỳnh được. Tôi đã có dịp nói điều này với GS Hà văn Tấn, và ông cũng đã đồng tình như vậy.


Về những truyện tao nhã trong Trạng Quỳnh.
Trong Trạng Quỳnh cũng có những truyện hay mà thanh, như Dòm nhà quan bảng, Đào trường thọ…, nhưng những truyện như thế quá ít. Hơn nữa, nếu so sánh Trạng Quỳnh với các Giai thoại văn học của những người có khoa bảng, có tên tuổi trên văn đàn (như Mạc Đĩnh Chi đọc văn tế công chúa Tàu, Trạng Hiền đọc chữ thiếu nét của sứ Tàu, Nguyễn Du viết Phản Chiêu hồn (Khuất Nguyên) ngược với Chiêu hồn của Đỗ Phủ… , thì truyện của những danh nhân này có giá trị cao hơn nhiều, cả về tính thâm thúy của văn chương, triết học, lẫn tính tao nhã của người quân tử. Nhân vật Trạng Quỳnh, tuy gọi là trạng, nhưng không phải là Trạng Nguyên, mà chỉ là nói trạng, nói tếu cho vui, nhằm giải tỏa những dồn nén, bất công, éo le, nực cười, nhằm chửi lại bọn áp bức, có khi chửi đổng, trong điều kiện không làm gì khác được.


Kết luận.
Trạng Quỳnh nói riêng và những truyện dân gian như Trạng Quỳnh nói chung, có một giá trị nhất định trong việc phản ánh các sinh hoạt văn hóa dân gian một thời của dân tộc. Nhưng nó không phải là dòng văn học chính thống, bác học (academic), không phải là truyện các danh nhân, không phản ánh một tài năng thực, đáng được đề cao và noi theo trong lịch sử văn học.
Trong câu chuyện thi vẽ rồng, nhân vật Trạng Quỳnh được cuộc vì, mới đánh một tiếng trống đã vẽ xong 10 con rồng (giun), trong khi sứ Tàu phải mất 3 tiếng trống mới vẽ xong một con ngựa. Đọc một câu chuyện như vậy ta thấy ngượng, trên cả hai phương diện tài năng và phong cách: đã không có thực tài, lại còn láu cá, dương dương tự đắc! Nhà nho chính thống không làm thế. Văn hóa của ta không phải thế. Lịch sử văn học Việt nam không thiếu những tác phẩm lớn, không ít những truyện danh nhân nổi tiếng đáng làm gương cho hậu thế, cả về tài năng, phong cách, và cả về tâm hồn, tư tưởng.
Vì thế mà tôi tán thành ý kiến không nên đưa Tấm Cám vào dạy trong nhà trường, trừ phi có sự thẩm định lại theo hướng nhân bản hơn. Tôi cũng nghĩ rằng, mỗi người Việt nam cũng như  dân tộc Việt Nam phải theo gương các danh nhân Đất Việt thuở trước, tự nâng mình lên tầm văn hóa tư tưởng cao hơn, có triết học nhân bản hơn, sâu sắc hơn. Việc đó, như ngày xưa thì trước hết là việc của các bộ như bộ Học (như Bộ Giáo dục Đào tạo ngày nay ), bộ Lễ (như Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch  và Bộ Ngoại giao ngày nay) và của quan Đại tư đồ (gần như Ban Tuyên giáo TƯ ngày nay).

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s