Archive | Tháng Mười Một 2012

TTCh: Sưu tầm & biên soạn Chuyện cười quanh đống rác

          Đống rác 1
          Ông Xê rất ham đi đổ rác, cả ngày ông chỉ chăm chăm, ngong ngóng tiếng kẻng xe rác để được xách sọt rác đi đổ. Thậm chí ông còn tạo 1 âm thanh rác của riêng ông bằng 2 vỏ sữa hộp đeo trên cổ. Mỗi bận ông cầm cái sọt rác trên tay, cổ ông lắc lư thì vỏ hộp sữa lại phát lên 1 thứ âm thanh riêng, leèng keèng, leẻng queẻng đùng đuc, không giông tiếng xe rác thành phố, nhưng xóm giềng đều biết tín hiệu xe rác đến và ông Xê đi đổ rác; thế là cả xóm ông ở người ta nháo nhào mang rác ra xe. Nên khu ông được bầu là khu dân cư văn mình, và moi người trong xóm đều quí ông Hai Xê và thây được vai trò dân cư của ông. Nhưng thực chất ông Xê khoái đi đổ rác là bởi lúc ấy là lúc ông cảm thấy mình được tự do nhất, sảng khoái nhất, được ra ngoài đường ngắm phố phường, chào hỏi bà con xòm giêng thân thiện, không phải giam mình trong 4 bức tường chật chội, chát chúa tiếng bà Xê chửi con, mắng chồng the thé suốt ngày !
          Thời khắc ông mong đợi đã đến, tiếng xe rác leng keng vang ngoài đường phố,  ông vôi đeo 2 vỏ hộp sữa, lắc lư cổ vang lên tiếng rác đặc trưng ông Xê, tay ông xách sọt rác lên tay, thì tiếng bà Xê the thé quát tháo : ông điên à, ông nhìn lại xem sọt rác nhà mình hôm nay làm gì có rác mà ông cũng đem đi đổ ? hay ông mê con nào ở ngoài bãi rác mà ông ra để liếc tình với nó hả ! ông Xê giật mình nhìn thì đúng là sọt rác nhà mình trống trơn chẳng có đến 1 cuộng rau.
          Ông Xê ầm ừ trả lời trong cổ họng đủ để bà Xê nghe thấy, để bà thuận cho ông làm nhiệm vụ hàng ngày mà bà Xe vẫn giao, ông chuyên trách công việc đổ rác : mẹ mày không nhìn thấy à ?  gián nó đái đầy ra sọt đây này, đổ nước đái gián cho nhà đỡ hôi !
          Đồng rác 2
          Nhân bà vợ đi công du nước nước ngoài, ông Tư Chơi kiếm lý do sang ở cùng bà bồ hàng xóm vài ngày. Ông Tư Chơi báo con gái lớn cơm nước, trông em bố đi công tác vắng nhà vài ngày. Ông nằm tịt trong nhà bà bồ mấy ngày không dám lộ diên ra ngoài. Nhưng có tiéng kẻng xe rác, bà bồ lên tiêng : Anh ơi, mang rác xuống đổ hộ em với. Ông Tư Chơi sốt sắng giúp người tình nên quên béng, ông vừa xách sọt rác vừa huýt sáo bài ca quen thuộc “ Giải phóng Điện Biên”. Con trên gác nghe tiéng sáo biết bố về, chạy vội ra đón ông Tư Chơi đi xa về trong tư thế quần xà lòn, áo may ô và tay xãch sọt rác bà hàng xóm ?????
          Đống rác 3
          Hai vợ chồng ông Hai Phải đang trò chuyện vui vẻ thì một bà mẹ trẻ bồng trên tay một trẻ sơ sình đến đòi trả con cho ông Hai Phải. Bà Hai Phải nổi tam bành, cho là trò ăn vạ vô lối của đám làm tiền.
          Bà Hai Phải : Ông Hải Phải, ở nhà suốt ngày, tôi chỉ cho ra đường khi đổ rác mà thôi,  đi chợ thì tôi đã khóa trái cửa, ông ở trong nhà làm sao ông lại có con với cô đươc ?
          Bà mẹ trẻ : Dạ thưa bà chúng em cũng chỉ làm tình với nhau đúng thời gian ông Hai Phải đi đổ rác thôi ạ.
          Đông rác 4
          Ông chồng : Đang theo rõi trên TV trân bóng đá giưa Real Madrid và Barcelona.
          Bà vơ : Thấy tiếng kẻng xe rác thì lên tiếng : anh đi đổ rác cho em với.
          Ông chồng : Máu mê bóng đa nên vùng vằng lên tiếng : đổ rác không phải phận sự của đàn ông.
          Bà vợ : Nổi tam bành hét tướng : Úi dào, thì ông lên giường làm ngay phân sự đàn ông xem trò trống ra sao ?
          Ông chồng : Biết phận lép vế cố hữu, ông chồng đành lên tiềng : Ư thì anh đi đổ rác ngay đây
TTCh.
Advertisements

Lân Nguyễn (ct) : Những màu tím hoa sim của Hữu Loan

 
LỜI TỰ THUẬT CỦA HỮU LOAN
VỀ BÀI THƠ ” MÀU TÍM HOA SIM “
alt
“Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung, tôi cũng học tại Thanh Hoá, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938, lúc đó cũng đã 22 tuổi, tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khoá ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi, Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn, Đỗ Thiện và … Tôi – Nguyễn Hữu Loan.
alt

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hoá để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khoá đầu tiên. Ở Thanh Hoá, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.
Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí : ‘ Em chào thầy ạ’. Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằng sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu ấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một ‘bà cụ non’. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo : em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn ; những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …
 
Có lần tôi kể chuyện « bà cụ non » ít nói cho 2 người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận ! Suốt một tuần liền em nằm lì trong buồn trong, không chịu học hành … Một hôm, bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ … Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý : « mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu » Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …
 
Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. bất chợt em hỏi tôi :
– Thầy có thích ăn sim không ?
Tôi nhìn xuống sườn đồi : tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ … Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.
– Thầy ăn đi.
Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ : « Ngọt quá ».
Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế !
Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này đến quả khác.Tôi nhìn em, em cười. hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì … tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo !

alt

Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi … Tôi quay đầu nhìn lại … em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa … 
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …
 

Chín năm sau, tôi trở lại nhà, về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn là cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp … 
Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sơ,ï vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm « soạn kịch bản ».
Một tuần sau đó, chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là :’yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả’. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay … lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long,huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hoá của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết !
Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, Em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ giờ em không còn cô bé Ninh nữa, mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại … Nếu như 9 năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mát thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ : vợ tôi qua đời ! Em chết thật thảm thương : Hôm đó là ngày 25/05 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối ! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi nỗi đau không gì bù đắp nổi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sau thẳm trong trái tim tôi …

Tôi phải giấu kính nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn … Dường như càng kèm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, Tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra :

alt
Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh …
 
… Tôi về không gặp nàng …
Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hoá … Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.
Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 02/04/1916 hiện tại đang « ở nhà trông vườn » ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ « quê đẻ của tôi đấy » thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá.
Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay, nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu :
Chiều hành quân, qua những đồi sim
Những đồi sim, những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt
Và chiều hoang tím có chiều hoang biếc
Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.
alt

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi’ hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi’. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá ! với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi !
Đó là thời năm 1955-1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút cam tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn. Làm thơ phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì ! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng … Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn 1 tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông … Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động.. Tôi phản động ở chỗ nào ? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc ?

Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được ! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có 2 cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi … Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi ! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi ! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi.
Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mết chuộng. sau năm 1956, khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm !

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954-1955.
Lúc đó còn là chính trị viên của tiểu đoàn, tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học, lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần 500 mẫu tư điền.
Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn, nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông. Thế rồi, một hôm, Tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố . Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại 2 cái đầu đó, cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.
Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ, nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.

Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi ; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.
Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.
Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no … Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa !
Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ. Thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm ra nhập làm gì.

Năm 1988, tôi « tái xuất giang hồ » sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gío. Tôi lang bạt gần 1 năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự.

Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyền bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với gía 100 triệu đồng. Họ bảo, đó là một hình thức bảo tồn tài sản Văn hoá. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia « lộc » cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi gìa, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.
Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán…”.

Nhà Thơ HỮU LOAN

Những đồi Hoa Sim

Dọc Trường Sơn, mùa này những đồi hoa sim tím nở bung nhuộm tím góc rừng. Màu tím bát ngát, man mác gợi nhờ một niềm thương. 

Những đồi hoa sim
ôi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt
 
Vào chuyện ngày xưa nàng yêu hoa sim tím khi còn tóc búi vai
Mấy lúc xông pha ngoài trận tuyến ai hẹn được ngày về
Rồi một chiều mây bay, từ nơi chiến trường đông bắc đó
Lần ghé về thăm xóm hoàng hôn tắt sau đồi…
Tím cả chiều hoang
 
Một rừng đầy hoa sim
 
Thoáng buồn ánh sim bên đồi hoang
 
Màu sim bên đồi xưa
 
Vào chuyện ngày xưa…
 
Hoàng hôn màu sim
 
Một đồi hoa sim
 
Tím ngắt cả rừng hoang
 
Nhìn đồi sim tím nhớ người em xưa
 
Đồi sim vẫn còn trong lối cũ?
 
Những đồi hoa sim chạy xa tít..
 
 
 
 
Đồi sim vẫn còn trong lối cũ-Giờ thiếu người xưa ấy-Đồi hoang mới tiêu điều
 
 
·        Ảnh: Minh Phong gửi Cu Làng Cát
 
 
 
Màu tím hoa sim
 
HỮU LOAN
 
Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…
Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu… Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu 

Áo anh nát chỉ dù lâu…

Nguồn nhạc: Youtube
 

TTCh(ct):Bàn thêm về chữ VĂN trong từ VĂN MIẾU Bài của GS.TS Ngô Ngọc Liễn

Văn Miếu ở thủ đô Hà Nội có tầm quan trọng đặc biệt: là một di tích văn hóa, lịch sử lớn và lâu đời vào bậc nhất của Việt Nam, cũng là trung tâm du lịch văn hóa hàng đầu của Hà Nội và chung của cả nước. Nơi diễn ra các hoạt động văn hóa trọng đại của đất nước: là địa điểm vinh danh các nhà khoa học đạt danh hiệu giáo sư, phó giáo sư; tuyên dương các thủ khoa trong các kỳ thi đại học, trung học; khen thưởng các học sinh, sinh viên giỏi, gương mẫu; nơi tổ chức tôn vinh các danh sĩ, các danh tướng và các nhà khoa bảng của các dòng họ…. Đây cũng là nơi các nhà khoa học tìm hiểu, bổ xung cho các tư liệu về các nhà khoa bảng, danh sĩ trong suốt mấy trăm năm qua; 82 bia Tiến sĩ đã được tổ chức Văn Hóa thế giới (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Để thống nhất nhận đinh về ý nghĩa và vị trí, góp phần cho việc quy hoạch phát triển cũng như chỉ đạo các hoạt động, giới thiệu về Văn Miêu được hoàn chỉnh hơn xin nêu lên mấy đề xuất về tìm hiểu chữ văn trong từ Văn Miếu


Văn Miếu nói theo tiếng Việt là Miếu Văn. Miếu ai cũng hiểu để chỉ nơi thờ cúng như với các từ đền, miếu …; nhưng từ Văn lại có nhiều nghĩa khác nhau tùy theo cách dùng và theo từ ghép như văn chương, văn hóa ,văn minh….
Về chữ văn trong từ văn miếu có thể có mấy cách hiểu sau


  1. Là miếu thờ Khổng Tử:
Vì Khổng Tử được nhà Đường tôn là Văn Tuyên Vương nên nơi thờ Ông ở Khúc Phụ được gọi là Văn Tuyên Vương miếu, sau đến đời nhà Minh mới gọi tắt là Văn Miếu
Do Văn Miếu của nước ta cùng tên nên cho là cũng giống như Văn Miếu của Trung Quốc tại Khúc Phụ là miếu thờ Khổng Tử. . Thực ra Văn Miếu nước ta theo Đại Việt sử ký toàn thư tập I: đời Lý Thánh Tông, tháng tám năm Thuần Vũ thứ II (1070) lập đền, đắp tượng Khổng tử, Chu công và tứ phối, vẽ tranh thất thập nhị hiền để bốn mùa cúng tế gọi là Văn Miếu; đồng thời cũng đưa Hoàng thái tử ra đây học . Theo Việt sử thông giám cương mục năm Anh Vũ, Chiêu Thắng thứ nhất đời Lý Nhân Tông (1076) lập nhà Quốc Tử Giám là trường học cho con vua và các nhà quyền quý ở Văn Miếu. Đến Nhà Trần, năm Thiên Ứng Chỉnh Bình thứ V (1236) đời Trần Thái Tông gọi là Quốc Tử Viện cử thượng thư Phạm Ứng Thần làm Đề Điệu Quốc Tử viện thu nhận cả học trò xuất sắc con em văn thần và tụng thần; đến năm Quý sửu niên hiệu Nguyên Phong thứ 3 tháng 6 lập Quốc Học viện, tháng 9 có chiếu vời Nho sĩ trong nước đến nghe giảng tứ thư, ngũ kinh. Đời Trần Anh Tông cử Chu văn An – thày dạy hoàng tử – làm Quốc tử giám tu nghiệp (hiệu trưởng), năm 1370 khi Chu văn An mất, Trần Nghệ Tông phong tặng tước Văn Trinh công và cho thờ ở Văn Miếu cạnh Khổng tử.
Như vậy Văn Miếu nước ta có trước và khác với Văn Miếu Trung Quốc, không chỉ là nơi thờ riêng Không Tử mà còn thờ những danh Nho khác, hơn nữa còn là nơi đào tạo cao cấp của đất nước nên Văn Miếu nước ta tuy cùng tên nhưng không nên hiểu là nơi thờ cúng Khổng Tử đơn thuần như Văn Miếu Trung Quốc và chữ Văn không có nghĩa là danh từ riêng,.
2- Văn được hiểu theo nghĩa từ ghép: hiện nay chữ văn của từ Văn Miếu được coi là từ ghép văn  chương, thể hiện trên bảng giới thiệu ngay ở cổng chính đi vào khu di tích từ văn miếu được dịch ra tiếng Anh là literatur templ và tiếng Pháp là temple de la literature, như vậy từ văn được hiểu là văn chương. Do đó đã có người nước ngoài hiểu biết, quan tâm thắc mắc vì sao trong Văn Miếu lại không thờ nhà thơ hay nhà văn đại diện cho nền văn chương. Trong cuốn “Lãng du trong văn hóa Việt Nam”, nhà văn hóa, nhà báo lão thành Hữu Ngọc có bài “Dịch từ Văn Miếu sang tiếng phương Tây” đã nêu: Đây không phải chỉ là vấn đề chữ nghĩa mà còn là vấn đề hiểu thế nào cho đúng. Sau khi phân tích Ông dã kết luận: …khi giới thiệu Văn Miếu với người nước ngoài nên nhắc họ rằng Văn Miếu là một biểu trưng của văn hóa Việt Nam (văn hóa bác học). Như vậy nên hiểu chữ văn trong từ Văn Miếu là văn hóa chứ không chỉ là văn chương.
Để có khái niệm đầy đủ về từ văn hóa theo quan niệm của phương Đông xưa, xin nêu lại trong một buổi mạn đàm thân mật nhỏ sau khi Nhà nước cho xây dựng lại nhà Thái Học giữa một số nhà văn hóa lão thành như Vũ Khiêu, Thạch Giang, Ngô Linh Ngọc … GS Vũ Khiêu nêu khó khăn khi chưa viết được câu đối mừng khánh thành nhà Thái Học vì mới chỉ có tượng thờ Chu Văn An (sau có thêm tượng thờ 3 vị vua có công xây dựng và phát triển Văn Miếu-Quốc Tử Giám là Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Trần Thánh Tông). Đúc tượng thờ các vị trên là đúng nhưng chưa đủ để thể hiện chữ văn trong tên văn miếu. Theo GS chữ văn trong từ văn miếu nước ta có nghĩa là văn hóa mà tượng trưng cho văn hóa trước hết phải là Nguyễn Trãi, người vẫn được coi là nhà văn hóa hàng đầu nước ta (được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới), người trên thực tế cuộc đời và qua “Bình Ngô cáo” bất hủ đã nêu rõ quan điểm văn hóa của dân tộc ta “…Lấy chính nghĩa để thắng hung tàn, đem chí nhân mà thay cường bạo…”. Nhưng theo quan niệm phương Dông xưa văn hóa cũng bao gồm văn chương và đại thi hào Nguyễn Du chỉ với riêng “Truyện Kiều” mà mọi người Việt đều biết đến, xứng đáng là tiêu biểu cho văn chương Việt Nam. GS cũng nêu thêm: văn hóa còn bao gồm cả triết học và khoa học, ở nước ta tuy trước đây có hạn chế nhưng có thể kể đến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm với triết học ứng dụng thể hiện với các phán đoán, nhận định về thời cuộc qua các câu “sấm Trạng Trình” còn được lưu truyền và Bảng Nhỡn Lê Qúy Đôn được coi là nhà bác học với các sách viết về nhiều lĩnh vực: sử ký, địa lý, xã hội học, dân tộc học …
Như vậy với nhận định đúng và đủ về chữ Văn trong từ Văn Miếu như đã trình bày xin đề xuất:
Việc dịch, giới thiệu từ Văn Miếu-Quốc Tử Giám ra tiếng nước ngoài mà cụ thể ở bảng giới thiệu bằng tiếng nước ngoài nên dùng từ culture thay cho từ literature để nêu lên đầy đủ ý nghĩa của khu di tích
Cùng với tượng danh sư Chu Văn An nên có thêm tượng thờ Nguyễn Trãi, Nguyễn  Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Lê Quý Đôn để các khách thăm quan trong và ngoài nước hiểu biêt và có nhận định đầy đủ hơn.


Tất nhiên việc thay đổi, bổ xung tên gọi, tượng thờ của một khu di tích lịch sử, văn hóa tầm cỡ quốc gia như khu Văn Miếu là việc trọng đại, liên quan đến nhiều lĩnh vực, tổ chức Nhà nước và Thủ đô Hà Nội. xin được coi đây là mấy ý kiến mang tính cá nhân, mong được các bậc trí giả, các chuyên viên, các nhà nghiên cứu và những người yêu quý Văn Miếu-Quốc Tử Giám chỉ giáo và cho thêm ý kiến.
Riêng cách gọi khu di tích Văn Miếu-Quốc Tử Giám với đơn thuần là Văn Miếu không thể hiên đúng và dủ bản chất và nội dung của khu di tích theo lịch sử, nhất là khi Nhà Nước ta đã xây lại Nhà Thái Học, xin được bàn đến trong một bài sau.

                                                                            Hà Nội mùa thu Nhâm thìn

lk blog NTT: ĐÔI ĐIỀU NHỚ LẠI VỀ VIỆC BIÊN TẬP SÁCH Ở NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN

 

LẠI  NGUYÊN  ÂN

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân

Kể từ khi tốt nghiệp đại học (tháng 6/ 1968), sau gần chục năm lận đận làm việc ở tỉnh ngoài, từ mùa thu 1977 tôi mới trở lại làm việc ở Hà Nội. Nơi công tác mới của tôi là nhà xuất bản Tác Phẩm Mới (từ 1990 đổi là Nhà xuất bản Hội nhà văn); tôi làm việc liên tục tại đây cho đến tận lúc về nghỉ hưu (tháng 12/2007).
Đúng 7 giờ sáng ngày 1/9/1977, tôi bước vào ngày làm việc đầu tiên tại căn phòng giữa ở tầng 2 nhà số 65 Nguyễn Du, khi ấy là trụ sở Hội nhà văn Việt Nam. Trong tòa nhà vốn là biệt thự tương đối nhỏ ấy, lãnh đạo Hội dành cho nhà xuất bản sử dụng 1 phòng tầng 1 và 2 phòng tầng 2; phòng ở tầng 1 là văn phòng hành chính quản trị, 2 phòng ở tầng 2 là biên tập, – phòng trong là thơ và văn xuôi, phòng giữa là dịch và lý luận phê bình, – từ chánh phó giám đốc đến các biên tập viên, mỗi người ngồi một bàn trong cùng một phòng.
Trong khuôn viên nhà số 65 khi ấy, ở phía giáp với số nhà 63 có một khoảng trống hồi đó có 2 cây cau và một cây táo to, dịp cuối năm những cành táo trĩu quả, xòa vào ban-công tầng 2; sau năm 1980, lãnh đạo Hội đồng ý cho nhà xuất bản xây trên diện tích ấy 2 tầng nhà để có thêm chỗ làm việc, kho đựng sách; không gian nhà xuất bản từ thời mang tên “Tác phẩm mới” sang thời mang tên “Hội nhà văn” trước sau chỉ có chừng ấy. Cảm giác chung, suốt thời gian làm việc tại đây, là cảm giác về sự chật chội vốn có trong mọi ngôi nhà nội thành. Ở chật mãi cũng quen, chen vai nhau mà ai nấy vẫn theo được mạch đọc mạch nghĩ của mình, bởi trong phòng rất yên lặng; chỉ khi thấm mệt hay khi có khách, một ai đó dừng tay quay ra pha chè và lên tiếng mời gọi, một vài người mới ngừng nghỉ, vừa uống nước vừa trò chuyện nho nhỏ, trong khi mấy người khác vẫn tiếp tục công việc. Tất nhiên, còn có thể trò chuyện thoải mái hơn nếu đi xuống dưới sân nhà 65, nơi có vài ghế đá trong khuôn viên, dưới gốc hai cây bách tán lớn, ngọn vươn cao hơn cả tầng thượng, – một trong hai cây bị bão đánh gãy vào năm 1989, sau đó người ta gọi thợ vào chặt bỏ cả hai cây, khiến sân nhà 65 từ ấy sạch mọi bóng cây.
Còn nhớ, buổi sáng đầu tiên vừa kể, khi tôi đang đứng chờ người mở cửa phòng, thì một người nữa cũng đến cùng tôi đứng chờ; hỏi han nhau mới biết đó là nhà thơ Ngô Văn Phú, vừa chuyển từ báo “Văn Nghệ” sang, cũng đi làm ở nhà xuất bản từ 1/9/1977 như tôi.
Đó là những năm đầu “Tác Phẩm Mới” chuyển chức năng từ một tạp chí văn chương sang chức năng một nhà xuất bản sách văn học, đang gấp rút xây dựng lực lượng biên tập.
***
“Tác Phẩm Mới” với tính cách tạp chí của Hội nhà văn Việt Nam, được thành lập từ tháng 4/1969, ra số đầu vào tháng 5/1969. Dưới sự chủ trì của nhà văn Nguyễn Đình Thi và nhất là các nhà thơ Xuân Diệu, Chế Lan Viên và sự cộng tác của đông đảo các nhà thơ nhà văn quen biết, “Tác Phẩm Mới” sớm trở thành một địa chỉ tin cậy, một trong số vài tạp chí văn chương hầu như duy nhất trên miền Bắc hồi ấy. Tuy vậy, giới những người chủ trì Hội nhà văn hồi ấy lại ngày càng cảm thấy sự thiếu hụt một cơ quan xuất bản sách để có thể cho công bố được nhiều hơn nhanh hơn những sáng tác văn học đang có chiều hướng xuất hiện ngày một nhiều thêm, dày dặn hơn. Trong giới cũng nghe thấy những tin đồn về sự trục trặc giữa người đứng đầu nhà xuất bản Văn học với mấy nhà văn “gạo cội” trong Hội. Xin phép để lập một nhà xuất bản mới là chuyện quá khó; bởi thế đã ngày càng chín muồi cái ý tưởng chuyển đổi tờ tạp chí hiện hành thành nhà xuất bản. Lãnh đạo Hội đem ý tưởng ấy đề đạt các cấp liên quan. Bản thân tạp chí “Tác Phẩm Mới”, sau chiến thắng 30/4/1975, cũng chủ ý làm những số mang tính tổng kết văn thơ thời chống Mỹ bằng các tuyển văn tuyển thơ.
Tháng 2/1976, tạp chí “Tác Phẩm Mới” ra số 58, thông báo đây là số cuối cùng:
Cùng bạn đọc
“Tác Phẩm Mới” từ khuôn khổ một tạp chí đã được phép nâng lên thành một nhà xuất bản văn học. Nhìn lại, ra đời tháng 4/1969, qua gần 7 năm với 58 số tạp chí, Tác Phẩm Mới đã cố gắng góp phần xây dựng nền văn học kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong tình hình mới, Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới sẽ nối tiếp duyên văn tự với độc giả tạp chí “Tác Phẩm Mới”.
          Sáng ngày 11/5/1976, tại phòng họp ở tầng 1 nhà 65 Nguyễn Du, Hội nhà văn tổ chức lễ ra mắt nhà xuất bản “Tác Phẩm Mới”. Tổng thư ký Nguyễn Đình Thi nêu chức năng và nhiệm vụ của nhà xuất bản và giới thiệu Ban giám đốc gồm Vũ Tú Nam, Nguyễn Minh Tấn, Nguyễn Văn Mãi, Nguyễn Kiên cùng với hội đồng biên tập bao gồm nhiều nhà văn nhà thơ quen biết; Giám đốc kiêm Tổng biên tập Vũ Tú Nam trình bày phương hướng và kế hoạch công tác trước mắt. Giới nhà văn nhà thơ nhà phê bình lý luận có mặt trong buổi lễ tỏ ra vui mừng khi được thông báo Nhà xuất bản của Hội được thành lập và bắt đầu làm việc ngay từ tháng 5 này. Trong năm 1976, nhà xuất bản đã kịp có sách để ra mắt bạn đọc gần xa.
***
Ai cũng biết trước đó, trong giới nhà văn đã từng có một nhà xuất bản. Hội nghị thành lập Hội nhà văn Việt Nam diễn ra các ngày 1 – 4/4/1957, thì đến hội nghị Ban chấp hành khóa I lần thứ 2 (25 – 26/4/1957) Hội đã quyết định ra tờ tuần báo “Văn” và lập nhà xuất bản mang tên “Hội Nhà Văn”. Những biên chế đầu tiên của nhà xuất bản là giám đốc Tô Hoài và các biên ủy viên Hoàng Cầm, Đoàn Giỏi, Nguyễn Văn Mãi. Trong khoảng 1 năm, từ tháng 5/1957 đến đầu năm 1958, Nxb. Hội Nhà Văn ra được trên 40 tên sách, trong đó có một loạt tác phẩm in sách lần đầu như các tập truyện ngắn: Bên bờ sông Lô (Nguyễn Đình Thi), Nhật ký của đời sống (Vũ Tú Nam); các tiểu thuyết:Ngẩng lên (Phạm Hữu Tùng), Sắp cưới (Vũ Bão), Mười năm (Tô Hoài); các tập ký: Gặp lại một người bạn nhỏ (Nguyễn Đổng Chi), Triều lên (Xuân Diệu); các kịch bản: Cô Thục (Chu Ngọc), Đêm Lào Cai (Hoàng Cầm); các tập thơ: Gò Me (Hoàng Tố Nguyên), Tình người soi dặm đường (Hoàng Yến), Những ngọn đèn (Yến Lan), Những ngày xưa thân ái (Phạm Hổ), Bài thơ trên ghế đá (Lê Đạt, Vĩnh Mai), Gửi miền Bắc (Tế Hanh), Rừng biển quê hương (Trần Lê Văn, Quang Dũng), Thơ ngang (Đồ Phồn), Nụ cười chính nghĩa (Tú Mỡ); các tập thơ văn nhiều tác giả (Bóng dừa xanh; Nhìn sang bên kia; Tháng Mười); bản dịch lần đầu truyện thơ Thái (Xống chụ xôn xao = Tiễn dặn người yêu);các tuyển dịch tác phẩm M. Gorki, Tchekhov, Lỗ Tấn; bên cạnh đó là tái bản một loạt tác phẩm của Ngô Tất Tố (Tắt đèn; Việc làng), Nguyễn Công Hoan (Bước đường cùng; Truyện ngắn chọn lọc), Nguyễn Tuân (Vang bóng một thời), Thạch Lam (Truyện ngắn, tiểu luận), Thanh Tịnh (Quê mẹ), Vi Huyền Đắc (Kim tiền), Nguyễn Bính (sơ tuyển thơ Nước giếng thơi), Anh Thơ (Bức tranh quê), Bùi Hiển (Nằm vạ), Lê Văn Hiến (Ngục Kontum), … Công việc xuất bản hầu như ngừng lại từ đầu năm 1958 để tham gia các đợt học tập chỉnh huấn ở ấp Thái Hà. Khi kết thúc đợt đấu tranh chống “Nhân văn – Giai phẩm”, hội nghị lần 4 BCH Hội nhà văn VN khóa 1 (2 – 3/7/1958) đã quyết định “đình chỉ hoạt động của Nhà xuất bản Hội nhà văn, giao Ban Thường vụ Hội làm việc với Bộ văn hóa để thành lập một Nhà xuất bản văn học của Nhà nước, và Nhà xuất bản Hội nhà văn sẽ hợp nhất vào đó”. Trên thực tế, kể từ đó Hội nhà văn không có nhà xuất bản.
Việc chuyển “Tác Phẩm Mới” từ chức năng tạp chí sang chức năng nhà xuất bản vào năm 1976 chính là phương cách khôi phục hoạt động xuất bản ngay trong phạm vi Hội nhà văn.
***
          Phải nói, – nhìn bằng con mắt của thời đại truyền thông và internet bây giờ thì công việc thời kỳ đó (cách nay 30 năm) là khá nhiêu khê, việc gì cũng đi qua rất nhiều công đoạn, kể từ việc biên tập đến việc in ấn.
Bản thảo các tác giả đưa đến hoặc gửi qua bưu điện đến nhà xuất bản rất ít khi có bản đánh máy, thường chỉ là bản viết tay; chính bản viết tay đó được biên tập viên đọc, nhận xét hoặc đưa đi nhờ chuyên gia đọc giám định (tất nhiên các nhận xét phải ghi trên giấy khác, không được ghi lên bản thảo); chỉ khi nhận thấy bản thảo có triển vọng sử dụng, biên tập viên mới đề nghị trưởng phòng ký cho đánh máy. (Tại văn phòng nhà xuất bản luôn luôn có vài ba tay đánh máy cự phách, không chỉ đánh máy nhanh, chính xác, mà còn giỏi đọc ra những thói quen viết ngoáy viết tắt của từng nhà văn; Xuân Diệu viết rõ ràng dễ xem nhưng vẫn có những chỗ viết tắt ai quen mới đọc ra được; Chế Lan Viên viết rất ngoáy, lại thường viết tắt, rất khó đọc ra đoán ra; chữ Nguyễn Đình Thi, – như mô tả của Nguyễn Công Hoan, – là từng dòng chữ “nhỏ lắt tắt”, có lẽ do thói quen tiết kiệm giấy từ hồi kháng chiến ở Việt Bắc… nhưng vào tay những người đánh máy tầm cỡ như cụ Quý thì biên tập viên nào cũng có thể yên tâm!). Bản đánh máy ấy được dùng để biên tập, rồi kèm hồ sơ đưa đọc duyệt; bản thảo được tổng biên tập ký duyệt rồi mới trở thành bản thảo của nhà xuất bản đưa đi nhà in.
Khâu in ấn, ở miền Bắc cho đến những năm 1980 vẫn dừng lại ở loại máy in nhập nội hồi cuối thế kỷ XIX. Thợ sắp chữ xếp từng con chữ chì đúc rời hợp lại thành chữ, thành câu, thành từng trang, dùng dây đay dây lạt buộc lại, cho vào cái khuôn nhỏ gọi là bát chữ; xếp xong mỗi bát chữ thợ lại dập thử ra giấy (gọi là bản dập thử, chữ Pháp:épreuve); lần đầu thường là người sửa in (gọi là sửa morass) của nhà in sẽ sửa lỗi trên giấy ấy rồi đưa lại, thợ sắp chữ sửa các lỗi đó trên bát chữ, lại dập ra giấy; lần này bản dập được đưa về nhà xuất bản, người sửa in của nhà xuất bản sửa xong rồi gửi trở lại nhà in; các bản dập dùng để sửa in này thường được gọi là bon (đọc là “bông”, công việc sửa in cũng được gọi là “đọc bông”; “bon”, chữ Pháp, nghĩa cụ thể ở đây là “phiếu”, vì các tờ giấy in dập thử này đang là một thứ phiếu giao dịch giữa nhà in với nhà xuất bản); quy trình này lặp đi lặp lại vài lần, có cuốn sách phải “đi bon”  tớilần thứ 3; nhiều khi không chỉ biên tập viên mà chính các tác giả (như Xuân Diệu, Tô Hoài, …) cũng yêu cầu được tham gia sửa in; bản dập lần sửa cuối được người sửa in của nhà xuất bản ký in thì nhà in mới đưa vào in hàng loạt; 8 bát chữ ứng với 8 trang sách hợp lại thành một khuôn lớn, ứng với một tờ giấy lớn, in hai mặt thành 16 trang; có quy cách đặt trang và gấp giấy để tạo thành 16 trang liên tục, gọi là một tay sách (nhà văn Nhật Tuấn đã đem việc này viết thành truyện ngắn “Trang mười bảy”, cũng là nhan đề chung tập truyện ngắn đầu tay của anh).
Hoạt động từ năm 1976 nên nhà xuất bản Tác Phẩm Mới có thể tính tới việc sử dụng kỹ thuật in mới tại một số nhà in miền Nam. Hai cuốn sách đầu tiên được đưa vào Tp. HCM. in tại nhà máy in Trần Phú, ruột sách được chế bản bằng kỹ thuật monofoto tại phòng chế bản của nhà in Nguyễn Bá Tòng; biên tập viên Bùi Văn Hòa (1944-2000) từ Hà Nội vào Sài Gòn, hàng ngày xuống nhà in để làm công việc sửa in.
Tại xưởng chế bản của nhà in Nguyễn Bá Tòng ở Tp.HCM., năm 1978, khi đi vào sửa in cuốn sách dịch “Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học”, tôi cũng có dịp làm việc với lối chế bản monofoto, – nó tương tự lối đánh máy trên máy chữ, nhưng chữ sẽ in lên phim âm bản, qua khâu rửa phim sẽ thành dương bản; mỗi tờ phim dương bản ứng với một trang sách, được nhà in gắn lên một tờ giấy trắng, đưa về nhà xuất bản; người sửa in hoặc biên tập viên sẽ sửa bằng bút sáp lên chữ nào đó cần sửa; theo chỉ dẫn ấy thợ nhà in sẽ sửa trên phim bằng lối cắt dán; cuối cùng các tấm phim ấy sẽ được gắn lên giấy tráng kẽm, sau khi phơi dưới ánh sáng, khuôn kẽm sẽ thành khuôn chữ dùng để in hàng loạt. Ngày nay, khi đã có máy điện toán (computer), lối chế bản tương tự monofoto được thực hiện ngay tại nhà xuất bản, giấy can sẽ được thay cho giấy phim, giá thành chế bản rẻ hơn.
Hai cuốn sách do nhà xuất bản Tác Phẩm Mới cho ra mắt tháng 11 năm 1976 đều được dùng các kỹ thuật chế bản và kỹ thuật in tiên tiến nhất tính đến lúc ấy ở Việt Nam.“Thơ Việt Nam 1945-1975” (396 trang) và “33 truyện ngắn chọn lọc” (468 trang), khổ sách trung bình (24 x 15,5 cm), với trang bìa mang rõ phong cách sách Hà Nội, với lượng in lớn (mỗi cuốn 25.600 bản) là một lời ra mắt có sức khích lệ khá lớn.
***
Vào những ngày đầu chuyển sang hoạt động xuất bản, nhân sự của nhà xuất bản Tác Phẩm Mới, trên nét lớn, gồm nhân sự của tạp chí “Tác Phẩm Mới” trước đó, cộng thêm những cán bộ nhân viên nhà xuất bản Văn học giải phóng không chuyển vào Tp. HCM. (Nhà xuất bản này vốn được lập ra từ khoảng 1969 và thường trú ẩn danh tại Hà Nội, trong khuôn viên trường mỹ thuật Yết Kiêu,  sau tháng 4/1975 chuyển vào Tp. HCM., rồi mấy năm sau sẽ gia nhập nhân sự nhà xuất bản Văn nghệ Tp. HCM.).
Bộ phận biên tập nhà xuất bản Tác phẩm mới ban đầu khá ít ỏi.
Phần văn xuôi do nhà văn Nguyễn Kiên phụ trách, ban đầu chỉ có một biên tập viên Bùi Văn Hòa, từ 1980 dần dần có thêm Nguyễn Phan Hách (từ báo “Văn Nghệ” chuyển sang), Lê Minh Khuê (từ đài truyền hình Việt Nam chuyển về), Trần Vũ Mai (từ trại viết Quân khu V chuyển ra).
Phần biên tập thơ lúc đầu chỉ có một mình Ý Nhi, sau rồi có thêm Ngô Văn Phú; rồi Ý Nhi chuyển vào phụ trách chi nhánh nhà xuất bản tại Tp. HCM., thì lại có anh Vân Long chuyển sang đây từ tờ báo “Độc Lập” vừa đóng cửa; Xuân Quỳnh trước khi mất (1988) cũng là biên tập viên tổ thơ.
Phần biên tập sách văn học dịch, do Bằng Việt phụ trách, lúc đầu cũng chỉ có 2 biên tập viên Quang Chiến, Chu Nga; rồi chị Chu Nga chuyển đi, chỉ còn lại Quang Chiến; rồi Quang Chiến chuyển đi, Bằng Việt cũng chuyển đi; từ giữa những năm 1980 lại có Thái Bá Tân, Vũ Đình Bình từ Đại học sư phạm chuyển về, Phạm Sông Hồng từ công trường thủy điện Hòa Bình chuyển về, vừa học trường viết văn Nguyễn Du vừa làm biên tập sách dịch; khoảng năm 2000 bạn trẻ Hà Việt Anh từ Nga về nước có đến làm ở phòng sách dịch một thời gian ngắn trước khi chuyển đi làm báo.
Năm 1980 có một tổ làm sách chuyên đề được lập ra, như là chuẩn bị cho một loại tạp chí; nhà thơ Xuân Tùng từ phòng kế hoạch xuất bản được cử làm biên tập viên đầu tiên, rồi tổ biên tập này có thêm nhà thơ Xuân Quỳnh từ báo “Văn Nghệ” chuyển sang.
Năm 1988 có một tổ làm sách tái bản được lập do Bùi Văn Hòa phụ trách, có thêm Nguyễn Thị Anh Thư từ phòng sửa in chuyển lên; cũng như tổ sách chuyên đề, tổ sách tái bản chỉ tồn tại một thời gian ngắn.
Phần biên tập sách lý luận phê bình do anh Nguyễn Minh Tấn phụ trách (anh vốn là viện phó Viện văn học chuyển sang khi lập nhà xuất bản), lúc tôi về thì hai biên tập viên tiền nhiệm là Hoàng Trung Nho và Trọng Hứa đã chuyển đi cơ quan khác, để lại mấy cuốn sách tiểu luận, kinh nghiệm sáng tác đầu tiên hãy còn đang được sản xuất tại nhà in; cuối năm 1980, trung úy Vương Trí Nhàn từ tạp chí “Văn Nghệ Quân Đội” xuất ngũ, chuyển sang nhà xuất bản, được giao phụ trách tổ biên tập lý luận phê bình; từ 1986 Vương Trí Nhàn đi Moskva, theo thỏa thuận Việt – Xô, hợp tác làm sách dịch tại nhà xuất bản Cầu Vồng; tổ Lý luận phê bình chỉ có một mình tôi; năm 1987 Bùi Văn Hòa, rồi năm 1989 Vương Trí Nhàn từ nhà Cầu Vồng trở về, đều được đưa vào tổ lý luận phê bình; năm 2000, Bùi Văn Hòa lên làm phó tổng biên tập, rồi lâm bệnh mất đột ngột; cũng năm 2000 có thêm Ánh Ngân, tốt nghiệp đại học xã hội nhân văn, bổ sung vào tổ biên tập này.
***
Làm sách lý luận phê bình được xem là việc rất không đơn giản dễ dàng, nhất là lại làm dưới góc độ nhà xuất bản của Hội nhà văn. Thời đầu, mảng sách này tập trung vào kinh nghiệm sáng tác, vào loại lý luận hướng dẫn sáng tác, –hầu hết các nhà văn cựu trào ở Hội chỉ chấp nhận loại sách đó. Những cuốn ra sớm nhất: “Sổ tay viết văn”(1977) của Tô Hoài, “Hỏi chuyện các nhà văn” (1977) của Nguyễn Công Hoan,“Những nhân vật ấy đã sống với tôi” (1978) của Nguyên Hồng, “Mùa thu lớn” (1978) của Lưu Trọng Lư, “Chuyện nghề” (1986) của Nguyễn Tuân, …
Rất ít cuốn kinh nghiệm nào thuần nhất chỉ nói kinh nghiệm, mà thường pha tạp với hồi ức, với các loại bài tiểu luận hay tạp văn,… Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới vài ba năm đầu đôi khi được nhận xét là nặng duyên với sách tiểu luận của giới nhà văn hơn là của giới nhà phê bình. Quả là chúng tôi không thể không ưu ái hơn cho việc in các tập tiểu luận của những nhà văn vốn rất có uy trong Hội, mà sách của họ cũng dễ gây thiện cảm vì cái văn riêng từng tác giả. Từ các tập tiểu luận như “Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy” (1979) của Xuân Diệu, “Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân” (1981) của Chế Lan Viên, “Chuyện nghề” (1999) của Nguyễn Khải,… đến những tập hồi ức văn học như “Những gương mặt” (1988), “Cát bụi chân ai” (1992), “Chiều chiều” (1999) của Tô Hoài, Một thời để mất (1995) của Bùi Ngọc Tấn, và nhiều cuốn của một số nhà văn khác, luôn luôn tự chứng tỏ được về vị thế của mình trước độc giả.
Tất nhiên biên tập viên chúng tôi cũng thuyết phục ban giám đốc giành số đầu sách cần thiết để in các tập phê bình tiểu luận của giới phê bình chuyên nghiệp, xem đây như là cách phát hiện, khẳng định sự định hình những tác giả phê bình. Sớm nhất trong loại này có lẽ là cuốn “Nhà văn, tư tưởng và phong cách” (1979) của Nguyễn Đăng Mạnh, sau đó là các cuốn “Tìm hiểu và suy nghĩ” (1982) của Triêu Dương, “Thơ, những gương mặt” (1983) của Thiếu Mai, “Mấy vẻ mặt thi ca” (1983) của Nguyễn Huệ Chi, “Văn học và phê bình” (1984) của Lại Nguyên Ân, “Tìm hiểu và thưởng thức thơ”(1985) của Nguyễn Xuân Nam, “Bước đầu đến với văn học” (1986) của Vương Trí Nhàn, “Thi pháp thơ Tố Hữu” (1987) của Trần Đình Sử, “Những tín hiệu mới” (1995) của Huỳnh Như Phương, “Đối thoại mới với văn chương” (1996) của Nguyễn Thị Minh Thái, v.v…
Bên cạnh các loại trên, tôi và Vương Trí Nhàn thường trao đổi với nhau nhiều về hướng phát triển sách lý luận phê bình.
Có rất nhiều hướng cần phát triển.
Giới thiệu lý luận đương thời ở Liên Xô và Đông Âu, giới thiệu các mảng văn học, các tác gia tác phẩm, thể loại, vấn đề nổi lên ở thế giới hiện đại, – đều là những thứ chúng tôi quan tâm. Nhưng số đầu sách trong kế hoạch dành cho lý luận phê bình vốn rất ít, mỗi năm chỉ vài ba cuốn, thật khó để có thể làm những cuốn sách dịch dày dặn. Sau cuốn “Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học”  của M. B. Khapchenko (Lê Sơn dịch, in 1978), bọn tôi nhắm vào cuốn chuyên luận“Số phận lịch sử của chủ nghĩa hiện thực” của B. Sutchkov (Hoàng Ngọc Hiến, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Hải Hà dịch), nhưng sau khi làm xong được bản thảo, sách đưa in lại bị chia làm hai tập, dàn ra trong 2 năm (1980, 1982) mới in xong.
(Anh Hoàng Ngọc Hiến có kể cho vài bạn quen một kỷ niệm; một hôm, nhà văn Nguyễn Đình Thi nhìn thấy anh từ nhà xuất bản đi ra, liền vẫy tay gọi lại gần, bảo: cậu thừa sức viết những quyển như “Số phận lịch sử của chủ nghĩa hiện thực” , việc gì phải mất công dịch?! Bọn tôi biết, số đông nhà văn kỳ cựu ở Hội không ưa các quyển sách dịch chuyên luận dày của những “ông ốp ông ép”, mặc dù họ vẫn thường xuyên đi Moskva. Định kiến về lý luận Nga-Xô của lớp nhà văn ít nhiều đọc được nguồn sách tiếng Pháp, tất nhiên là cũng có sở cứ, nhưng nó thường bị phổ cập hóa ra đám đông thành một thứ định kiến trùm lớp nên rất dễ đa đoan. Tất nhiên cũng có những nhà văn chịu khó lắng nghe. Vương Trí Nhàn kể, có lần Nguyễn Khải đọc được một bài, từ nguồn tài liệu tiếng Pháp, nói rằng có một học giả Nga Xô đã làm sáng danh một tác gia Pháp; sau đó tìm ra thì đó chính là nói về nhà nghiên cứu Mikhail Bakhtin (1895-1975) với quyển sách nổi tiếng về sáng tác của François Rablais (1494-1553). Những năm 1980 chúng tôi tìm đọc Bakhtin và luôn nghĩ cách đưa tới các đồng nghiệp; khoảng dăm năm sau đó tôi và Vương Trí Nhàn bỏ khá nhiều công sức biên tập một cuốn tuyển “Lý luận và thi pháp tiểu thuyết” của Bakhtin, bản dịch này sau đó, năm 1992, được dịch giả Phạm Vĩnh Cư đưa về trường viết văn Nguyễn Du đứng tên xuất bản lần đầu; đến lần in thứ hai, năm 2003, sách này mới lại đứng tên Nxb. Hội nhà văn chúng tôi).
Vậy là phải tránh loại sách chuyên luận dày, để hướng vào loại sách biên dịch, rút ngắn các nội dung cho hợp với vài trăm trang in. Sau “Sổ tay truyện ngắn” (1980) của Vương Trí Nhàn, chúng tôi làm các cuốn mang tính lược thuật, biên dịch như “Các nhà văn Xô-viết” (1982), “Mười nhà thơ thế kỷ XX” (1982), “Số phận của tiểu thuyết”(1983), “Chân dung văn học” (1983), “Cuộc tìm tòi vô tận” (1988), “Sự thật đời sống, sức mạnh của văn học” (1988), v.v…
Một trong những đề tài mà Vương Trí Nhàn và tôi chăm chú nhất, ấy là làm các cuốn sách thể hiện đời sống văn học Việt Nam, các dữ kiện, dữ liệu, vấn đề của văn học Việt Nam, từ hiện tại tới quá khứ. Sản xuất ra các hiểu biết (tri thức) về tác giả, tác phẩm, tư trào, xu hướng, phong cách, bút pháp,… thuộc các thời kỳ, thời đại của văn học Việt Nam, – chính là một trong những nhiệm vụ lớn nhất của sách lý luận phê bình nghiên cứu văn học của ta. Các cuốn sách tập hợp bài lẻ của các nhà văn hoặc nhà phê bình kể trên tất nhiên cũng phần nào thuộc đề tài đó, nhưng dù sao cũng không nên đơn điệu lười nhác chỉ làm mãi một thứ.
Ngay từ đầu, công trình sưu tầm biên dịch về tư tưởng văn học của tác gia Việt Nam ở thời đại sử dụng văn tự Hán Nôm, do một số cán bộ nghiên cứu Viện văn học (Đỗ Văn Hỷ, Trần Nghĩa, Hồ Tuấn Niêm, Trần Lê Sáng,…) thực hiện, do Nguyễn Minh Tấn chủ biên, được chính anh Tấn mang theo từ Viện sang đây, đưa vào kế hoạch xuất bản, lại gửi bản thảo vào Tp. HCM., nhờ nhà thơ Chế Lan Viên đọc và viết cho một lời tựa. Khi tôi về nhà xuất bản, anh Tấn giao cho tôi bản thảo này để tổ chức thành sách; sau nhiều lần trao đổi với nhau, chúng tôi chọn đặt cho cuốn sách ấy cái tên “Từ trong di sản…”  (có thêm phụ đề “Những ý kiến về văn học từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX ở nước ta”)và xếp các đoạn trích theo thời gian xuất hiện; sách in lần đầu vào tháng 9/1981, nhận được hồi âm rất tích cực, năm 1988 tái bản lần đầu có bổ sung. Trên thực tế, cuốn tuyển nhỏ “Từ trong di sản…”  này đã cung cấp tư liệu và tạo ra một cái hích cho khá nhiều công trình sẽ xuất hiện dưới các tay bút hàn lâm về sau, xoay quanh đề tài những tư tưởng lý thuyết trong văn chương cổ Việt Nam, điều mà trước đó hầu như chưa hề có.
Cũng nhắm vào quan niệm văn học của nhà văn Việt Nam, nhưng là trong giới cầm bút đương đại, Vương Trí Nhàn tìm được một nhóm giảng viên trẻ Đại học sư phạm, đưa họ một đề cương, gợi ý họ sưu tầm, tập hợp trong vài ba năm để ra được 2 tập“Các nhà văn bàn về văn” (tập 1 in 1985, tập 2 in 1986).
Đời sống văn học trong diện mạo cụ thể của nó, tất nhiên, vẫn lôi cuốn nhiều hơn. Chuyện chiến tranh và văn học, ban đầu là sách của tổ chuyên đề, Xuân Quỳnh và Xuân Tùng đã làm 2 cuốn “Trận tuyến phía Bắc” (in 1979) và “Campuchia khi nụ cười trở lại” (in 1980), nhưng đó là những tập sáng tác thơ văn viết về cùng một đề tài. Sách lý luận phê bình cần đề cập chiến tranh ở khía cạnh nhà văn trải nghiệm chiến tranh và viết các tác phẩm ra sao, tức là phạm vi những hồi ức, trải nghiệm sáng tác. Ban đầu đề tài này được tổ chức thành cuốn “Chiến trường, sống và viết” (Vương Trí Nhàn và Xuân Quỳnh biên tập, tập 1 in 1982; tập 2 in 1984) trong đó đề cập hoạt động văn học trong các cuộc chiến ở Việt Nam từ 1945 đến 1975, lại cũng đưa vào đây tài liệu biên dịch kinh nghiệm viết đề tài chiến tranh ở các nước ngoài. Sau đó, mảng hồi ức, tư liệu về hoạt động văn nghệ ở Việt Nam những năm 1945-54 được tách riêng vào bộ sách “Cách mạng, kháng chiến và đời sống văn học”  (tập 1 in năm 1985; tập 2 in năm 1987; tập 3 in năm 1993); còn mảng hồi ức, tư liệu về hoạt động văn nghệ của ta những năm chống Mỹ 1954-75 thì được đưa vào bộ sách mới, cũng mang nhan đề“Chiến trường, sống và viết”  (tập 1 do Ngô Thảo biên soạn, in 1994; tập 2 in 1995); tiếc là bộ sách này không ra được những tập tiếp theo, phần vì hứng thú theo đuổi đề tài giảm đi do không khí xã hội thay đổi, phần vì có trục trặc giữa biên tập viên với người biên soạn.
Những thể nghiệm sáng tác của từng nhà văn trong từng trường hợp tác phẩm cụ thể, được bọn tôi lấy làm đề tài “đặt hàng” hai nhà báo đồng thời là nhà phê bình: Lê Quang Trang và Trần Bảo Hưng; bản thảo quyển “Thai nghén tác phẩm”  hoàn thành cuối những năm 1980, mãi tới năm 1995 mới in ra được. Cũng cuối thời bao cấp, bọn tôi còn thử làm sách tổng hợp dư luận văn học từng đoạn thời gian nhất định; quyển“Văn học 1975-1985, tác phẩm và dư luận” (nhóm soạn: Vân Trang, Ngô Hoàng, Bảo Hưng) hoàn thành năm 1987, cũng phải đợi 10 năm sau mới in được thành sách.
Bước vào những năm 1990, – khi nhà xuất bản đổi từ tên “Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới” thành “Nhà xuất bản Hội nhà văn” (cũng là lấy lại cái tên đã có từ 1957), – việc xuất bản không còn bao cấp, phải tính nhiều hơn đến sức mua, khả năng tiêu thụ; tuy vậy, không khí tinh thần có nhiều cởi mở, cũng dễ làm sách hơn. Đề tài tác gia hiện đại, nếu trước đấy chỉ được phép (“được phép” là hiểu ngầm thôi, không có quy tắc thành văn!) làm sách nghiên cứu về dăm ba tác gia nhất định, thì từ đây được mở rộng. Từ lâu tôi và Vương Trí Nhàn vẫn tâm niệm cùng nhau: các phạm trù văn học có thể rất rộng, rất mơ hồ, nhưng “tác gia”, “tác phẩm” thì hầu như bao giờ cũng vẫn là những đơn vị cơ bản, không thể bị triệt tiêu trong bất cứ hệ khảo sát nào, cũng không thể bị coi nhẹ coi rẻ như quan niệm bao cấp vốn công nhiên tuyên bố chỉ coi trọng sáng tác vô danh của nhân dân, của công nông binh.
Vậy là từ đây có thể làm những cuốn sách nói về từng nhà văn nhà thơ. Vừa hay, từ chi nhánh nhà xuất bản ở Tp. HCM., Ý Nhi báo cho bọn tôi biết có một số mối liên kết xuất bản phát hành để ra một loại sách chuyên đề nói về các nhà văn, các sự kiện văn học. Loại sách này sẽ nằm trong một loại được gọi là  tủ sách “Thế giới văn học”; một cây bút biên soạn có nhiều mối quen biết với giới làm sách ở Tp.HCM. được giới thiệu làm những cuốn đầu tiên, ấy là ông Hoài Việt. Cũng thời gian ấy, một nhóm biên soạn ở phía Nam liên lạc với chúng tôi để ra loại sách “Bách khoa văn học” như một thứ tạp chí, nêu các vấn đề, sự kiện văn nghệ. Lại có một nhà báo ở thông tấn xã đến hợp tác với chúng tôi ra loại sách “Cửa số văn học”, cũng là một thứ tạp chí dưới dạng sách.
Cả ba loại này đều tiến triển được ít lâu.
“Bách khoa văn học” in tại Tp. HCM., trong 2 năm 1990-91 ra được khoảng 11 cuốn. Loại “Cửa số văn học”  in ở miền Bắc thì mỗi cuốn ẩn dưới một tên sách cụ thể (“Sổ tay du lịch”, “Người Việt di tản, người Việt hồi hương”, “Những mảnh đời vũ nữ”, “Những cuộc tình tay ba”, “Chuyện lỡ làng”, “Giai nhân với mùa thu”, v.v…) cũng duy trì được chừng vài năm, đôi lúc lôi cuốn được khá đông các tay bút tại chỗ của nhà xuất bản, lại cũng hứng chịu ít nhiều lời chê trách từ bạn bè trong giới. Loại “chí” ẩn danh sách này sau đấy bị giới quản lý cảnh báo ngăn chặn, và nội dung từng cuốn cũng không mấy giá trị, chỉ như thứ quà vặt ở phố nghèo. Riêng các cuốn trong tủ sách “Thế giới văn học” thì hướng đúng vào đơn vị cơ bản là các tác gia nên nói chung tạo được dấu ấn, đưa ra ánh sáng được khá nhiều mảng tài liệu tản mác ẩn khuất và là sự gợi ý ban đầu cho những nghiên cứu sưu tầm sâu hơn kỹ hơn về từng tác gia. Cuốn mở đầu là “Quang Dũng, người và thơ” (1990); cuốn thứ hai “Nguyễn Bính thi sĩ của yêu thương” (1990) thậm chí còn được bổ sung và tái bản ngay sau khi phát hành; ngay trong năm 1990 ra được 7 cuốn nữa: Nguyễn Huy Tưởng, văn và người; Nguyễn Minh Châu, con người và tác phẩm; Thâm Tâm và T.T.Kh.; Nguyễn Tuân, con người và văn nghiệp; Hàn Mặc Tử, hương thơm và mật đắng; Thế Lữ, cuộc đời trong nghệ thuật; Tagore, người tình của cuộc đời. Sang năm 1991 ra được 6 cuốn: Lê Văn Trương, có phải người hùng; Bích Khê, tinh hoa và tinh huyết; Đông Hồ – Mộng Tuyết; Vũ Trọng Phụng, tài năng và sự thật; Để nhớ Đặng Thai Mai. Năm 1992 cũng 6 cuốn:Hồ Dzếnh thi sĩ; Nguyên Hồng, cát bụi và ánh sáng; Tiếng cười Tú Mỡ; Trương Vĩnh Ký nhà văn hóa; Ngô Tất Tố với chúng ta; Thanh Tịnh nhà văn xứ Huế. Loại sách này những năm về sau tuy không còn mang nhãn phụ “Tủ sách Thế giới văn học” nữa nhưng vẫn ra đều đều, là vì đã xác lập được quan niệm tác giả (hay tác gia) như thực thể hữu cơ của quá trình văn học, như đối tượng quan sát và ghi nhận cần thiết và thường xuyên của dư luận.
Trong giới xuất bản trong nước đương thời, đây là loạt sách đầu tiên lấy các tác gia văn học chuyên nghiệp (chứ không phải một vài tác gia được chỉ định sẵn là tiêu biểu) làm đối tượng biên soạn. Vì thế chăng, cũng khá tai hại, loại sách này của bọn tôi bị “chôm” bị “luộc” rất sớm rất nhanh, cả ý tưởng chung lẫn từng chùm tài liệu cụ thể. Người ta ra những quyển tương tự, chắp vá thêm chút ít, lúc đầu chỉ cốt được nhiều người mua, sau rồi người ta lấy được nguồn đầu tư từ ngân sách công, đội dưới cái nhãn trùm lớp “tác gia và tác phẩm”, dựng ra cả serie sách hàn lâm, vừa vinh danh vừa dựng bia tạc tượng ban phát ân huệ cho thân nhân các tác gia được chế độ thừa nhận. Tất nhiên những cuốn trong tủ sách “Thế giới văn học” bọn tôi làm lúc đầu thường nhằm gợi ý tháo gỡ những hồ sơ tương đối “có vấn đề” của khí hậu văn học thời bao cấp: các tác gia ít nhiều bị rẻ rúng, bị định kiến (Quang Dũng, Nguyễn Bính, Lê Văn Trương, Vũ Trọng Phụng), những hồ sơ tồn đọng như những nghi án văn chương một thời, mỗi thứ một kiểu (T.T.Kh., Hàn Mặc Tử, Trương Vĩnh Ký,…); những “vấn đề” mà các cuốn thuộc tủ sách “Thế giới văn học” của bọn tôi gợi ra, thì loại sưu tập “tác gia và tác phẩm” kia sẽ gắng xoa mờ đi.
Bước sang thế kỷ XXI, trong sự đua tranh hỗn tạp trên thị trường sách, hầu hết các sách tiểu luận phê bình, tương tự các tập thơ, đều bị các đối tác liên kết từ chối, lại cũng không chen chân được vào danh mục những sách được “nhà nước đặt hàng” tức tài trợ vốn in. Trong nhà xuất bản Hội nhà văn tuy vẫn còn giữ nguyên cơ cấu các phòng biên tập như cũ, nhưng mọi biên tập viên đều phải làm mọi thể tài sách khi cần.
Đáp ứng nhu cầu công chúng, sách văn nghệ trước 1945 được giới xuất bản chú ý tìm tòi và in lại. Văn chương miền Nam trước 1975 cũng có một phần nhỏ có thể được khai thác; nhưng nội một việc có một ít truyện chưởng được phép in lại là đã có ngay một số quan chức thao túng chọc ngoáy, làm biến hình biến dạng, – cho thấy rằng trước mắt hầu như chẳng thể làm được gì nghiêm túc đối với nguồn di sản quá khứ gần ta nhất và vẫn còn bị coi là “nhạy cảm” này. Phần làm được vẫn chỉ là di sản trước 1945. Nguồn này thì giới làm sách làm báo ở Sài Gòn trước 1975 đã đụng chạm mỗi thứ một chút, tuy vậy tại nguồn sách báo cũ ở Hà Nội vẫn có thể tìm thấy những thứ chưa ai biết. Theo hướng này, Vương Trí Nhàn làm hồ sơ “Hàn Mặc Tử, hôm qua và hôm nay”  (in 1995) “Khảo về tiểu thuyết”  (in 1996), và một số cuốn khác. Tôi và Ý Nhi, liên kết với Hội nghiên cứu giảng dạy văn học Tp. HCM., làm bộ sách thơ mới (1932-1945), ban đầu là in lại đúng nguyên trạng 12 tập thơ mới tiêu biểu thời đầu; sách đáp ứng được nhu cầu công chúng vào dịp kỷ niệm 60 năm phong trào cải cách văn học này; sau đó, hợp tác với Trung tâm văn hóa-ngôn ngữ Đông Tây, tôi sưu tầm thêm tài liệu và dựng thành bộ sưu tập“Thơ mới 1932-1945, tác gia và tác phẩm”, đã in đi in lại tới 6 lần. Theo hướng sưu tầm tập hợp di sản thơ văn, di sản nghiên cứu phê bình có nguy cơ mất mát thất lạc của các tác giả nhiều năm trước, bọn tôi làm tiếp những cuốn: “Nghiên cứu phê bình văn học” (in 2001) của tác giả Lê Thanh (1913-44),“Chống nạng lên đường” (in 2001, tái bản có thêm 2004) tìm lại chùm sáng tác đầu tay của Vũ Trọng Phụng, “Pháp du hành trình nhật ký” (in 2004) của Phạm Quỳnh,“Viết và dịch Lỗ Tấn”   “Tác phẩm đăng báo 1931”  của Phan Khôi(in 2006), v.v…
Có một loại di sản mà bọn tôi nghĩ nếu bắt tay vào làm thì sẽ được hưởng quy chế sách “nhà nước đặt hàng”, – đó là thành phần di sản thuộc văn học cách mạng và kháng chiến. Tôi và nhà báo Hữu Nhuận (báo “Văn nghệ”) cùng nhau tìm tài liệu khôi phục được toàn bộ 24 số tạp chí “Tiên phong” 1945-1946 của Hội văn hóa cứu quốc; sách in thành 2 tập, in xong tôi lại cùng ban văn nghệ của Truyền hình Việt Nam dựng một phim tư liệu về Hội văn hóa cứu quốc, có sự góp mặt của Trần Độ, Nguyễn Hữu Đang, Tô Hoài, Trần Đình Thọ. Theo cái đà có vẻ thuận lợi này, tôi và nhà nghiên cứu Nguyễn Thành tập hợp tài liệu cho cuốn “Các hội nghị văn hóa toàn quốc 1946 và 1948”, tiếp tục đề nghị đưa vào loại sách “nhà nước đặt hàng”; bản thảo đưa ban giám đốc, liền trong mấy năm không thấy được duyệt; hỏi ra thì giám đốc Nguyễn Phan Hách cho biết lý do là vì người phụ trách Vụ xuất bản trên Bộ Văn hóa nói rằng ông ta chưa bao giờ nghe nói có hội nghị văn hóa toàn quốc (!) nên sách không được duyệt cấp tài trợ in; bản thảo cũng bị mất do quăng quật đâu đó. Thật tiếc.
Nhà văn Nguyễn Đình Thi ở Ủy ban toàn quốc các Hội văn học nghệ thuật, nhân xem sưu tập “Tiên phong”, có lời khen bọn tôi “biết cách làm việc” và đề nghị làm tiếp sưu tập tạp chí “Văn nghệ”  thời kỳ 1948-1954 ở Việt Bắc hồi kháng chiến chống Pháp. Tôi lại cùng anh Hữu Nhuận tìm tài liệu, soạn thành từng năm, rồi làm tổng mục lục. Tập đầu, “Sưu tập Văn nghệ 1948”  (in 1998) thì suôn sẻ, vì cơ quan Liên hiệp VHNT chỗ ông Thi đặt mua 200 cuốn làm quà cho một kỳ họp đại hội. Năm 1999 ra tập 2 (Văn Nghệ 1949), năm 2000 ra tập 3 (Văn Nghệ 1950). Đến đây thì tắc. Các vị trong ban giám đốc bảo: tập 3 sách đọng cứng trong kho, phải đem bán cân, dừng lại thôi! Liền mấy năm sau, năm nào tôi đề nghị dành tài trợ cho việc làm tiếp bộ sách này cũng bị bác bỏ. Đến 2003, tôi thuyết phục ban giám đốc: hai năm 1951-52 Văn Nghệ chỉ ra được rất ít, tôi sẽ ghép chung 2 tập 4 và 5 vào một cuốn sách không dày, các tập còn lại sẽ tính sau. Thế là ra tiếp được cuốn nữa gồm 2 tập (in gộp 2 năm Văn Nghệ 1951, 1952). Nhân dịp ấy, tôi cho sắp chữ và làm chế bản luôn các tập còn lại, để sẵn đấy, lúc nào có tài trợ là đưa in chen ngang, in gối đầu… Và tập 6 (Văn Nghệ 1953) ra năm 2005, tập 7 (Văn Nghệ 1954) ra năm 2006. Mãi đến khi tận mắt nhìn thấy bản in tập 7, tôi mới thở phào vì đã xong hẳn một việc!
          
30 năm làm việc tại một nhà xuất bản, trải qua khá nhiều thăng trầm của nghề làm biên tập sách, tôi tự thấy mình chỉ thích hợp với sách lý luận, phê bình, nghiên cứu, tư liệu văn học kiểu truyền thống, làm kỹ với tốc độ chậm. Tôi không nghĩ rằng ở thời thị trường thì loại sách này cần phải được làm nhanh. Sách làm kỹ, in rồi có thể in lại, có sửa hoặc thêm chút ít. Còn kiểu làm nhanh in một lần rồi quên luôn, thì tôi không biết cách làm.