Lk blog NTT: HỌC PHI BÁCH NIÊN LÃO THỰC

NGUYỄN THẾ KHOAủa 
Học Phi
Học Phi
Gặp Học Phi, trò chuyện với ông, khó ai nghĩ rằng ông đã trăm tuổi và đã về hưu đến 36 năm. Đôi mắt vẫn tinh anh sắc sảo, tư duy vẫn rành mạch, khúc triết, hóm hỉnh, giọng nói vẫn sang sảng sôi nổi khi nói về chuyện thế sự văn chương hôm nay. “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, người sống đến 70 tuổi đã được coi là hiếm, sống đến trăm tuổi chắc chắn còn hiếm hơn, sống đến trăm tuổi mà vẫn minh mẫn như Học Phi thì quả là phi thường. Ở tuổi 100, nhà cách mạng lão thành, nhà văn, nhà viết kịch lẫy lừng này đã cho ta biết thế nào là “Bách niên lão thực”
“Tôi tự hào là một nhà văn nhà viết kịch cộng sản”.
Học Phi vừa nhận huy hiệu 80 năm tuổi Đảng. Ông vào Đảng năm 1932, khi mới 19 tuổi, thuộc lớp Đảng viên đầu tiên của Đảng ta. Sinh trong một gia đình địa chủ lớn ở Tam Nông, Tiên Lữ, Hưng Yên, nhưng là cháu nội của một vị tướng trong khởi nghĩa Bãi Sậy do nhà cách mạng Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo, Học Phi đã tham gia phong trào yêu nước từ năm 12, 13 tuổi. Năm 1933, ông đã bị giặc Pháp bắt giam ở nhà tù Hưng Yên và hai năm sau lại bị bắt đưa về nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội. Nhớ lại những ngày tiền cách mạng gian khổ đó, Học Phi nói:  ”Tôi vốn không phải là dân văn nghệ nhưng được Đảng đào tạo thành nhà văn, nhà viết kịch. Tôi tự hào là một nhà văn, nhà viết kịch cộng sản”. Chính trong nhà tù Hỏa Lò, khi các chiến sĩ cộng sản biến nhà thù thành trường học, cùng nhau học văn hóa, học tiếng Pháp, các nhà lãnh đạo cách mạng đã phát hiện ra khả năng hoạt động văn hóa văn nghệ của Chu Văn Tập (tên thật của Học Phi). Đ/c Trường Chinh “phân công” ngay: “Khi ra tù, Tập phải tham gia hoạt động văn nghệ. Văn nghệ có sức mạnh riêng, sẽ là một thứ vũ khí sắc bén của người cộng sản”. Tại Hỏa Lò, nhờ các vị cách mạng tiền bối, Học Phi đã được đọc tiểu thuyết của Victor Hugo, Balzac, Maxim Gorki, kịch của Molierre và tập viết báo, viết truyện.
Năm 1936, ra tù, Học Phi lao vào hoạt động văn hóa văn nghệ. Ông viết và cho in hàng loạt các tiểu thuyết như “Xung đột” “Đắm tàu”, “Dòng dõi”, “Yêu và thù”. Đến năm 1944, Học Phi viết vở kịch đầu tiên theo đề nghị của các tổ học sinh cứu quốc trường nữ sinh Đồng Khánh sơ tán về Hưng Yên. Đó là vớ kịch “Đào nương” kể câu chuyện về một ca nương Đào Thị Huệ ngày xưa đã dùng tiếng hát của mình làm vũ khí chống quân xâm lược Minh.
Sau đó, khi Học Phi cùng với Vũ Quốc Uy được Đảng giao nhiệm vụ tập hợp trí thức văn nghệ sĩ xây dựng Hội Văn hóa Cứu quốc, ông đã viết vở kịch “Cà sa giết giặc”. Dịp kỷ niệm một năm ngày Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 2-9-1946 tại Nhà hát Lớn, kịch “Cà sa giết giặc” với các diễn viên hầu hết là các vị sư đã được Hội Văn hóa Cứu quốc cho mắt công chúng và được nhiệt liệt hoan nghênh.
Sau Cách mạng tháng Tám, Học Phi làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hưng Yên một thời gian rồi lại chuyển hẳn sang làm công tác văn hóa văn nghệ với các chức vụ Đoàn trưởng Văn công Nhân dân Trung ương, Giám đốc Nhà hát Kịch Trung ương, Tổng thư ký Hội Nghệ sĩ Sân khấu VN cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1976.
Cho đến nay, ở tuổi 100, nhà văn, nhà viết kịch Cộng sản Học Phi đã có một gia tài văn chương kịch nghệ rất lớn với hơn 30 vở kịch, 12 tiểu thuyết và truyện ký, 3 kịch bản phim truyện. Điều rất đặc biệt là các sáng tác của Học Phi hầu hết đều viết về thời kỳ tiền cách mạng, thời kỳ như Tổ Hữu viết: “Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu/bước chân vô là phải chịu tù đày/là gươm kề tận cổ súng kề tai”. Nhân vật chính trong các sáng tác nổi tiếng của Học Phi như “Chị Hòa”, “Bên đường dốc”, “Một đảng viên”, “Ni cô Đàm Vân”, “Cô hàng rau”, “Hoàng Lan”, “Mai” … đều là các Đảng viên Cộng sản. Học Phi được coi là nhà viết kịch VN đầu tiên xây dựng thành công hình tượng người Đảng viên Cộng sản trên sân khấu, không là những hình mẫu khô cứng, những cái loa hô khẩu hiệu mà là những con người sống động đầy sức thu hút, có nhỏ nhen và cao cả, có yếu đuối và can trường, có hy vọng và tuyệt vọng, có vấp ngã và đứng dậy, họ luôn phải đấu tranh với hoàn cảnh với bản thân mình để sống, yêu thương và cống hiến cho Đảng cho cách mạng những gì quý giá nhất. Chính vì vậy, mà có lúc, một số tác phẩm của Học Phi bị phê phán gay gắt vì nhân vật Đảng viên Cộng sản có lý lịch quá phức tạp, có tình cảm quá rộng mở, thiếu tính giai cấp. Tuy vậy, sau đó, người ta mới nhận ra giá trị nhân văn to lớn của các nhân vật Đảng viên Cộng sản của nhà văn, nhà viết kịch Học Phi.
Chính những giá trị to lớn ấy đã đem đến Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật cho Học Phi trong đợt xét tặng đầu tiên năm 1996.
Mừng Nhà viết kịch Học Phi 100 tuổi

Mừng Nhà viết kịch Học Phi 100 tuổi
Gần 40 năm lặng lẽ sống, lặng lẽ viết
Kể từ năm 1976, khi Học Phi về hưu, gần 40 năm nay, nhà cách mạng lão thành, nhà văn, nhà viết kịch này dường như đã hoàn toàn ở “ẩn”. Ông dường như không còn đăng đàn ở bất kỳ nơi nào. Và mặc dù bản thân ông rất nổi tiếng, lại có hai người con là hai nhà văn lừng danh là Hồng Phi và Chu Lai, trên công luận cũng không có nhiều thông tin về Học Phi trừ khi ông được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996. Những người quen biết Học Phi rất ngạc nhiên không hiểu sức mạnh nào đã khiến một con người tràn đầy ý thức nhập thế, khát sống, khát yêu, tài năng, đào hoa, hừng hực đấu tranh, hành động như ông lại có thể “rút vào bí mật” nhanh như thế. Sau này, mọi người mới hiếu sức mạnh ấy đơn giản là nỗi đam mê viết. Kể từ những năm 1980 đến nay, ai đến thăm Học Phi ở khu tập thể Bách Khoa, khu đô thị Đầm Trấu hay khu đô thị Trung Hòa đều có thể cảm thấy Học Phi tập trung hết thời gian tinh lực cho sáng tác văn chương. Học Phi tâm sự rằng ông còn bao đề tài ôm ấp về quê hương Hưng Yên, về những người cộng sản đồng chí, đồng đội mà ông yêu mến. Nhưng để có thể hoàn toàn chủ động việc công bố, ông sẽ không viết kịch nữa mà trở lại công việc viết tiểu thuyết đã bỏ dở từ những năm 1940. Trong suốt thời gian mấy chục năm trời, Học Phi chỉ ở căn hộ của mình ở Hà Nội hay về quê hương Hưng Yên sưu tầm thêm tư liệu và lấy cảm hứng. Kết quả của gần 40 năm lặng lẽ sống lặng lẽ viết này của Học Phi là những cuốn tiểu thuyết Hừng đông”Ngọn lửa” Xuống đường”Bà đốc Huệ”, “Cuộc đời về cuối”…Năm 2010 vừa qua, Học Phi cho xuất bản tiểu thuyết“Đi tìm mái ấm gia đình” làm giới văn chương nước nhà kinh ngạc về bút lực của ông ở tuổi 98. Không chỉ viết tiểu thuyết, ý thức được sức phổ biến của điện ảnh và truyền hình, ông đã tim hiểu và trực tiếp viết các kịch bản phim truyện điện ảnh và truyền hình. Năm 2004, Học Phi viết kịch bản “Minh Nguyệt” được đạo diễn Nguyễn Hữu Phần dàn dựng, đã được trao huy chương vàng trong Liên hoan truyền hình toàn quốc rồi nhận giả Bông sen bạc của hội Điện ảnh. Đầu năm nay, vào tuổi 100, Học Phi lại hoàn thành kịch bản phim “Âm vang Bãi Sậy” về cuộc khởi nghĩa chống Pháp nức tiếng của quê hương Hưng Yên.
Nỗi khổ của tuổi 100
Tôi đưa cha tôi, nhà nghiên cứu Mịch Quang đến thăm Học Phi tại căn hộ ở khu đô thị Trung Hòa vài ngày sau lễ mừng thọ 100 tuổi của ông do Hội Nghệ sĩ Sân khấu VN và Hội Nhà văn VN long trọng tổ chức với sự có mặt của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân. Thấy cha tôi, Học Phi cười vui: “Bặt tin mấy năm nay, tôi không biết ông còn sống hay đã mất. Nhờ giời ông vẫn còn mạnh khỏe để đến thăm được tôi”. Cha tôi chúc mừng ông nhân lễ mừng thọ. Học Phi nói: “Tôi vui vì lãnh đạo Đảng, Nhà nước và anh em vẫn nhớ tới và uu ái mình”. Nhưng rồi giọng ông lắng xuống, thoáng buồn: “Đáng ra thì mình không cho tổ chức lễ mừng thọ này đâu, nhưng nể anh em người ta chuẩn bị cả năm nay rồi. Ông biết đấy, Hồng Phi vừa mất, hay ho gì con vừa mất mà cha mừng thượng thọ?”. Rồi bất chợt Học Phi trầm ngâm: “Tôi với ông, người sống đến 100 tuổi như tôi, 96 tuổi như ông quả là may mắn. Nhưng có lẽ sống đến tuổi này mà còn minh mẫn như bọn mình thì cũng khổ lắm ông nhỉ? Giá cứ lú lẫn thì có khi lại hay… “. Học Phi kể rằng ông có 10 người con, toàn trai, và đã mất 8 người, trong đó có 4 liệt sĩ chống Pháp và chống Mỹ. Ông đã sống trong nỗi khổ nhớ con. Rồi nỗi khổ người vợ, người bạn đời chung thủy đã vắng bóng 15 năm nay. Và nỗi khổ khi thấy đôi chân dần bị liệt. Gần nhất là cái khổ khi thấy tác phẩm mà ông yêu mến nhất, vở kịch “Ni cô Đàm Vân”, vừa được phục dựng không đúng ý ông. Đây là vở kịch từng được hàng chục đoàn sân khấu cả nước dàn dựng những năm 1970 -1980. Sau những lần dàn dựng, ông ưng ý nhất bản dựng của Đoàn Dân ca kịch Phú Khánh năm 1978, nên đã dựa trên bản dựng này để hoàn chỉnh thành kịch bản tâm đắc nhất. Khi được tin Bộ VHTT&DL chủ trương cho phục dựng “Ni cô Đàm Vân”, Học Phi đã đưa kịch bản trên cho ông Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu VN nhờ chuyển lại cho Nhà hát Chèo VN. Nhưng rủi thay, văn phòng hội đã để thất lạc, Nhà hát Chèo VN không nhận được kịch bản ấy nên cứ lấy kịch bản chèo chuyển thể từ năm 1976 của Trần Đình Ngôn phục dựng. Vở dựng hoàn thành, Học Phi được mời xuống xem thì mới biết chuyện như đùa này. Học Phi nói rằng ông giận lắm, vở diễn đã không được dựng theo kịch bản ông đã công phu hoàn chỉnh, các nhân vật tâm đắc của ông sai hết tính cách, cả vở lại toàn những trò hề gượng gạo, nhạt nhẽo, suốt hai tiếng đồng hồ xem vở với Học Phi là cả một cuộc tra tấn dằng dặc. Nhưng Học Phi đành nuốt giận cho qua vì Nhà hát đã chót nhận tiền của Bộ, đã chót dựng vở như thế, chẳng thể phá hết làm lại theo ý ông. Học Phi trầm ngâm nói với cha tôi: “Việc xảy ra như vậy nhưng xem ra chẳng ai thấy mình có lỗi, cứ nhơn nhơn như không. Bây giờ người ta vô tâm vô cảm quá! Tôi với ông cứ còn minh mẫn thì chắc còn phải chịu nhiều chuyện khổ thế này”. Cha tôi nhẹ cười chia sẻ: “Khổ, nhưng minh mẫn dù sao vẫn tốt hơn lú lẫn, giúp mình còn sống được còn viết được”. Học Phi cười ha hả đồng ý với cha tôi rồi khoe với cha tôi kịch bản phim truyện “Âm vang Bãi Sậy”. Viết về cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thiện Thuật là tâm nguyện của Học Phi từ thời trai trẻ nhưng mãi đến cuối đời ông mới thực hiện được. Học Phi nói rằng Khởi nghĩa Bãi Sậy rất độc đáo ở tính chất do dân vì dân và phẩm chất kẻ sĩ của vị lãnh tụ, nhưng cho đến nay vẫn chưa có tác phẩm nghệ thuật nào viết về cuộc khởi nghĩa vĩ đại này. Bởi thế, là người Hưng Yên, ông phải có trách nhiệm viết về nó, làm sống lại khát vọng độc lập tự do và bài học vì dân của những người dấy nghĩa. Học Phi kể rằng hoàn thành được “Âm vang Bãi Sậy”, ông hào hứng gửi ngay kịch bản cho nhà văn Nguyễn Thị Hồng Ngát, Phó Chủ tịch Hội Điện ảnh VN, đồng hương Hưng Yên, người đã từng làm bà đỡ cho kịch bản “Minh Nguyệt” thành phim. Nhưng lần này thì chị Ngát cho biết dù đánh giá cao tác phẩm của Học Phi, chị chưa có cách nào đưa kịch bản này lên màn ảnh vì sau vụ Cục Điện ảnh mất gần 40 tỷ, tiền để làm phim giờ rất bí. Tôi nói với Học Phi rằng nghe đâu Thủ tướng Chính phủ đã chính thức ký cấp hơn 60 tỷ đồng để Bộ VH, TT và DL và các hội văn học nghệ thuật chuyên ngành Trung ương đặt hàng các sáng tác về đề tài lịch sử yêu nước, cách mạng, cụ nên đưa “Âm vang Bãi Sậy”lên Bộ và Liên hiệp VHNTVN , may ra tìm được tiền làm phim. Học Phi hỏi: “Khoa nghe có chắc không?”. Tôi nói rằng đó là điều nhà thơ Hữu Thỉnh đã công bố trong hội thảo “Văn chương và lịch sử” vừa qua. Học Phi mừng lắm: “Nếu thế mình sẽ gửi cho anh Thỉnh, mình chỉ mong được xem phim “Âm vang Bãi Sậy” khi mình còn sống và còn minh mẫn”…

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s