Trần văn kinh :Góc bình luận: Vì sao kinh tế của nước ta phát triển không nhanh và lủng củng ?

(Bình luận trên  3 nhân tố chủ yếu là : Công nghệ, Lao động và  Quản lý .)
Một là vì: Chưa chú trọng từ đầu công nghệ và ngành nghề cho nhiều giá trị gia tăng.
Nền kinh tế của ta hơn 20 năm qua đã có bước phát triển khá. Thu nhập GDP đầu người từ dưới 200 US$ (1990) lên trên 1000 US$ (2010). Tốc độ tăng bình quân trong 20 năm đó khoảng 5- 5,5%/ năm.
Tuy nhiên so với nhiều nước khác từng đi lên công nghiệp hóa ở nhiều giai đoạn khác nhau như nước Nga thời Pie Đại đế (1634-1668), Liên Xô thời kỳ phát triển sau Đại chiến thứ hai (1950-1980), nước Nhật thời Minh Trị (1868-1900), và thời Phát triển thần kỳ sau Đại chiến thứ hai (1950-1980), Hàn quốc thời kỳ NIEs (các nền kinh tế mới Công nghiệp hóa 1960-1990), Trung Quốc thời kỳ “Trỗi dậy hòa bình” (1970-2000), thì sự tăng trưởng của nước là quá thấp và không bền vững.
Trong vòng 3 hoặc 4 thập kỷ, các nền kinh tế ấy đã tăng trưởng liên tục trên dưới 10% / năm, và có đủ các yếu tố phát triển bền vững.
Một trong những biểu hiện hiệu quả thấp của kinh tế nước ta là chỉ số ICOR. Không có nước nào chỉ số đó vượt trên 4, trong khi ở nước ta  thường xuyên từ 5 đến 6, thậm chí có nơi có lúc từ 7 đến 8 ! (Để có được tăng trưởng1%  GDP , đã phải huy động vốn đầu tư đến 8% GDP).
Ngay trong dự kiến mức phấn đấu năm 2013: vốn đầu tư khoảng 29-30% GDP, mức tăng trưởng GDP khoảng 5,5%, dù đạt được thì chỉ số ICOR vẫn còn khá cao:  5,5.
Như vậy thì đầu tư còn quá lãng phí ở nhiều lĩnh vực.
Sự lãng phí “khách quan” nằm ở chỗ các giải pháp công nghệ được lựa chọn.
Có thể thấy trước rằng : Nếu ta làm một phép phân tích tăng trưởng kinh tế nước trong hơn 20  năm qua theo Hàm Coob-Dowglass  Y= Vα Lβ Kλt
ta sẽ thấy α +  β # 1,0.
Có nghĩa là yếu tố công nghệ không đóng vai trò gì đáng kể đối với sự tăng trưởng (λ # 0,0).
(Xem chẳng hạn: Trần Văn Kinh-Phân tích năng suất lao động ngành Công nghiệp nhẹ thời kỳ 1976-1985 theo hàm Coob-Dowglass- Tạp chí CNn  số  3/89 )
Nói cách khác, công nghệ của ta tiêu tốn nhiều sức lao động, năng lượng, và cả nguyên vật liệu đầu vào.…
Tình trạng  này gọi là mới có quảng canh, chưa có thâm canh. Tức là mới chỉ chủ yếu dựa vào các yếu tố vốn và lao động, chưa coi trọng nhiều đến yếu tố kỹ thuật công nghệ cao.
Trừ các doanh nghiệp FDI, các  doanh nghiệp trong nước và quốc doanh chưa đi vào các công nghệ mũi nhọn.
Ngay trong các doanh nghiệp FDI, phần thực hiện  tại Việt Nam không đóng vai trò quyết định giá trị sản phẩm, ví như chỉ chủ yếu là lắp ráp ! Trong các mặt hàng điện tử như điện thoại di động, yếu tố cốt lõi là con chíp và bo mạch thì ta không sản xuất được ở trong nước !
Vì chưa dựa vào công nghệ cao nên sản phẩm ít có giá trị thặng dư, không mang tình độc đáo, tiên phong, khả năng cạnh tranh thấp.
Chưa có nhiều các sáng chế, phát minh, giải pháp quản lý khoa học, hoặc mua lại sáng chế, chuyển giao công nghệ tiền tiến để từ đó đi thẳng vào công nghệ cao, tạo ra lợi thế  cạnh tranh.
(To be continued).

Hai  là vì: Chất lượng lao động nước ta chưa theo kịp yêu cầu:
+ Năng suất lao động thấp.
Ngoài nguyên nhân công nghệ và quản lý thì chất lượng lao động lành nghề kém trong một số ngành ở nước ta cũng là nguyên nhân trực tiếp của tình trạng năng suất lao động thấp.
+ Lười.
Trước đây ta thường tự hào nhân dân ta ta cần cù lao động. Nhưng nay đức tính đó đang mất dần.
Số lao động yêu nghề, có chí tiến thủ, thích tìm tòi sáng tạo, tự giác hoàn thành nhiệm vụ vì lợi ích của đất nước…là không nhiều. Không ít thanh niên chỉ thích hưởng thụ, thậm chí đua đòi, hưởng thụ trên mức thu nhập!
Nước Nhật khi đi vào giai đoạn phát triển thần kỳ, có một khẩu hiệu ngầm: “Trước mắt người Nhật, toàn thế giới đều là những người lười”.
Còn với người Hàn Quốc trong thời kỳ NIEs : “ Trước mắt người Hàn Quốc, toàn thế giới đều là những người lười, kể cả người Nhật”.
Mấy chục năm qua, chúng ta đã không làm được như họ.
+ Chất lượng đào tạo nghề chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Cả nội dung học, cách học đều khô cứng, học sinh không được ném vào cuộc sống để rèn luyện kiến thức và kỹ năng, nên bỡ ngỡ khi ra trường. Trừ một số ngành kỹ thuật công nghệ, xây dựng, tài chính, ngân hàng… mấy năm qua đã có nhiều cải tiến, đa số các ngành khác khi ra trường học sinh phải mất rất nhiều thời gian để học lại trong thực tế, mới có đủ trình độ để làm vịêc.
Đào tạp người có năng lực thực sự (và là năng lực hành động) và có tư cách cá nhân cao đang là nhiệm vụ nặng nề của ngành giáo dục – đào tạo và của cả xã hội.

Ba là vì: Hệ thống quản lý chưa theo kịp tốc độ phát triển:
+ Doanh nghiệp chưa được coi trọng đúng với vai trò của nó trong nền kinh tế.
Nhà đầu tư chưa hoàn toàn yên tâm phát triển đầu tư.
Trong chừng mực nào đó có thể nói: Hệ thống quản lý vĩ mô vẫn mang tư duy cũ: mới chỉ quan tâm đến các chỉ số kinh tế vĩ mô, chưa hiểu hết và chưa quan tâm đầy đủ các chỉ số kinh tế vi mô.
Còn nhiều sự can thiệp bất thình lình không theo đúng trình tự pháp luật và đặc thù kinh doanh của doanh nghiệp, rất dễ làm ngưng trệ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, làm mất cơ hội của doanh nghiệp để rồi sau đó không thể phục hồi lại được nữa.
Trong các loại rủi ro thì rủi ro do chính sách hoặc thể chế  gây ra là thứ rủi ro mà doanh nghiệp khó có  thể lường trước.
Sự phân cấp phân quyền quá dàn trải. Bộ máy quản lý lớn và cồng kềnh, mỗi nơi làm một tý, rất phức tạp cho doanh nghiệp., nảy sinh cơ chế xin-cho, đi cửa sau…
Nền kinh tế của một quốc gia là một hệ thống thống nhất. Trung ương và địa phương phải là một hệ thống, chứ không thể thành nhiều hệ thống.
Hiện nay ở nước ta, một số  nơi có sức thu hút FDI hay ODA thì cứ thu hút mãi. Những nơi khác khó khăn hơn thì cũng cứ mãi chẳng có đầu tư gì đáng kể để có thể  làm thay đổi bộ mặt của địa phương đó.
Điều bình thường trong lịch sử là nhiều khi chính quyền trung ương xuất phát từ quyền lợi chung của quốc gia mà không quan tâm hết được nguyện vọng và quyền lợi của từng bộ phận dân cư, từng địa phương, thì lúc đó, các địa phương phản hồi và kiến nghị với trung ương bổ sung hoặc điều chỉnh các giải pháp .
Điều không bình thường là nhiều khi địa phương đưa ra những quyết sách không phù hợp lòng dân, đến khi Trung ương can thiệp thì mới chịu sửa !
Ở cấp Trung ương cũng thế.  Đảng và Chính phủ phải là một, phải thống nhất và cùng hậu thuẫn cho các giải pháp chung. Mỗi cá nhân lãnh đạo phải vừa là người của Chính phủ, vừa là người của Đảng.  Đừng để tình trạng người ta thấy đó là hai hệ thống khác nhau, làm việc tách rời nhau.
+ Chưa hoàn thiện các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng và thụ hưởng kết quả tăng trưởng:
Trong tăng trưởng thì ngoài GDP, phải thường xuyên tham khảo một chỉ tiêu khác là GNP.
GDP là thu nhập quốc nội, nhưng GDP của nước ta có đến gần 1/3 là do FDI mang lại, mà FDI thì ta chỉ được giữ lại một phần trong đó thôi, phần khác lớn hơn đã phải chuyển ra nước ngoài- nước quốc tịch hoặc đại bản doanh của nhà đầu tư.
Trong khi đó,  GNP là thu nhập quốc dân, được tính bằng:
GNP = GDP – phần chuyển ra nước ngoài + phần chuyển từ nước ngoài về.
Ngày nào kinh tế nước ta phát triển cao hơn, cơ cấu GDP thay đổi theo hướng tỷ trọng đầu tư trong nước cao hơn (không phải là 2/3 như hiện nay mà là 3/4 hay  4/5, gồm cả nhà nước và tư nhân mà tư nhân sẽ tất yếu phải ngày càng lớn hơn), thì lúc đó GDP sẽ tiến đến gần với GNP.
Mặt khâc, nếu ta có nhiều đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài, ta cũng sẽ được hưởng một phần thu nhập từ nước ngoài chuyển về để bù đắp phần đã bị chuyển đi.
Đối với những nước mà  hai phần chuyển đi  và chuyển về  này tương đương nhau, thì sự khác nhau giữa GDP và GNP sẽ không còn là vấn đề. Thậm chí GDP còn cao hơn GNP vì phần chuyển về nhiều hơn phần chuyển đi, như trường hợp của các nước kinh tế phát triển.
Tương lai sẽ như thế.  Nhưng lúc này thì còn cần xem xét chỉ tiêu GNP bên cạnh GDP.
+Trong một số lĩnh vực , chưa có các chỉ tiêu đánh giá kinh tế vi mô.
Chẳng hạn như trong các ngành hàng dệt may, da giày, chế biến gỗ, hàng điện tử, sản xuất điện năng…, cần tính toán lợi thế so sánh của các mặt hàng đó trong nền kinh tế, cũng như lợi thế so sánh các mặt hàng đó với mặt hàng tương tự của nước khác để có chiến lược phát triển trong nước (ví dụ nên làm thủy điện đến đâu…) và chiến lược xuất nhập khẩu. Tính tóan giá trị ngoại tệ ròng của kim ngạch xuất khẩu (sau khi trừ đi phần nhập khẩu) trong từng mặt hàng và từng ngành hàng là bao  nhiêu để có chiến lược tăng giảm quy mô sản xuất và quy mô thị trường của từng mặt hàng đó…. Quản lý chặt chẽ và phát triển mạnh Thị trường chứng khoán, đừng để được chăng hay chớ, bỏ mặc một số phần tử thao túng…
+ Chưa đi vào kinh tế tri thức.
Chưa có chính sách nhất quán từ trên xuống dưới trọng dụng nhân tài.
Nhiều lĩnh vực như là cửa cấm , chỉ dành cho con cha cháu ông hoặc người có nhiều tiền đút lót. Người có tài cũng không được tuyển dụng vào, hoặc đã tuyển dụng bằng các con đường nào đó rồi thì cũng không giao trọng trách.
Nhiều nơi tuy có việc thi cử tuyển dụng nhưng kết quả thi cử không phản ánh đúng thực chất người có tài.
Vì thế mà cán bộ tham mưu kém chất lượng, dẫn đến tình trạng nhiều chính sách, quy chế này nọ ban hành ra sớm bị lỗi, không đến nơi đến chốn hoặc lạc hậu so vối thực tiễn.
Ở doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước cũng thế. Nếu người lãnh đạo không đủ tầm tri thức và nhân cách thì không thể thu hút nhân tài.
+ Ít hỏi ý kiến dân.
Chúng ta phải làm quen với hiện tượng này: Có nhiều ý kiến khác nhau là tốt, thậm chí rất tốt ! Điều đó chứng tỏ có nhiều người suy nghĩ, chứ không phải chỉ có một người hay một nhóm người!
Đành rằng tri thức giỏi, chuyên gia giỏi trong các cơ quan nhà nước không ít, nhưng với chế độ làm việc hành chính, xử lý thông tin vào ra hằng ngày  theo mệnh lệnh, liệu họ có điều kiện phát huy được tài năng ở đó không?
Phải có các chuyên gia ở nơi khác, độc lập với cơ quan nhà nước, mới có thể có cách suy nghĩ khác, cách nhìn khác, tiếp cận những nguồn thông tin khác, mới có thể có những đề xuất khác.
Các Viện nghiên cứu, các Trung tâm, các Hội, các trường Đại học phải là những lực lượng quan trọng tham gia chủ lực vào việc hoạch định các chính sách của quốc gia. Ngoài ra, cá nhân các chuyên gia độc lập, như những cán bộ nghiên cứu đã nghỉ hưu, các nhà khoa học, nhà văn,  nghệ nhân, nghệ sĩ có tên tuổi và tâm huyết cũng là những nguồn lực với tư cách là ý kiến của nhân dân, khi ta biết cách lấy ý kiến của họ.
+ Nạn tham nhũng trong hệ thống quản lý.
Tính minh bạch kém (như trong một số trường hợp đấu thầu dự án…) và cơ chế xin-cho xuất phát từ cơ chế quyền lực ở nước ta là môi trường cho nạn tham nhũng.
Chất lượng nhân lực kém: Năng lực thực sự và trách nhiệm cá nhân của rất nhiều bộ phận trong hệ thống quản lý kinh doanh và quản lý vĩ mô không đáp ứng kịp khi mở rông diện hoạt động trong cơ chế thị trường cũng là nguyên nhân sinh ra tham nhũng.
Việc tái cơ cấu nền kinh tế đang diễn ra không thể chỉ đơn thuần là sắp xếp chỗ này sang chỗ khác, mà phải chú ý tăng yếu tố thâm canh: Đầu tư công nghệ mới ở bất kỳ nơi nào có thể; Tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp chế tạo và chế biến, là những ngành tạo ra nhiều giá trị gia tăng; Nâng cao năng lực quản lý cả ở kinh doanh và ở cấp vĩ mô; Nâng cao năng suất lao động;  Có chiến lược phát triển thị trường để tăng sức cạnh tranh và tăng thị phần…

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s