Archive | Tháng Một 2013

HD PPS: Docago Quý Tỵ

Hình ảnh nội tuyến 1

Advertisements

Nhạc sĩ Phạm Tuyên :Lúc anh ấy về, tôi rất là vui

Ca khúc của Phạm Duy được yêu mến, nhưng các hoạt động của nhạc sĩ vẫn gây tranh cãi
Tri ân nhạc sĩ Phạm Duy (1921-2013), một đồng nghiệp của ông nhưng nhạc sĩ thuộc dòng nhạc cách mạng, ông Phạm Tuyên nói “một thế hệ vẫn chịu ảnh hưởng” của Phạm Duy.
Phạm Tuyên, sinh năm 1930, hiện đang sống ở Hà Nội, từng nói “không nên quá đề cao” nhạc Phạm Duy, khi đêm diễn “Ngày trở về” được phép tổ chức ở Hà Nội tháng Ba 2009.
Nhưng trả lời BBC hôm 28/1, nhạc sĩ Phạm Tuyên cho biết ông đã gửi lời chia buồn và vòng hoa tang vào TP. HCM, nơi ông Phạm Duy đã sống từ khi về Việt Nam năm 2005.
“Âm nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy trước kia, thế hệ tôi cũng chịu ảnh hưởng,” ông Phạm Tuyên cho biết đã gặp nhạc sĩ Phạm Duy hai lần hồi năm ngoái.
Khi được hỏi lại về những khen chê khác nhau quanh việc về nước của ông Phạm Duy, nhạc sĩ Phạm Tuyên trả lời “cuộc đời mỗi người đều nhiều gian truân”.
“Khi anh Phạm Duy ra nước ngoài, lúc ấy lo cho cuộc sống gia đình, cũng gặp nhiều khó khăn nên viết cái nọ, cái kia.”
“Nhưng những bài anh viết về quê hương đất nước, vẫn để lại trong ký ức chúng tôi rất nhiều.”
Nhạc sĩ Phạm Tuyên nói về Phạm Duy
Nhạc sĩ cách mạng khen ngợi ảnh hưởng của nhạc sĩ Phạm Duy vừa qua đời, mặc dù từng nói ‘không nên quá đề cao’ nhạc Phạm Duy.
Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.
Năm 2009, tờ An Ninh Thế Giới phỏng vấn một loạt các nhạc sĩ hàng đầu của dòng nhạc cách mạng phê phán báo chí trong nước “lăng xê” ông Phạm Duy.
‘Quá khứ tội lỗi’
Nhạc sĩ Trọng Bằng khi đó nói “quá khứ đối với dân tộc của Phạm Duy là một tội lỗi”.
Còn nhạc sĩ Hồng Đăng nhắc lại “trong giai đoạn đầu kháng chiến, nhạc sỹ Phạm Duy là một trong những nhạc sỹ có ý thức khai thác vốn dân ca, đưa chất liệu dân ca vào sáng tác mới”.
“Bài nào nói về tinh thần yêu nước, như Bà mẹ Gio Linh, vẫn có sức sống trong đời sống âm nhạc dân tộc.”
Phạm Tuyên
“Sau này lớn lên thì có nghe tin nhạc sỹ Phạm Duy đã vào trong thành, sau đấy bẵng đi thời gian 5 đến 6 chục năm, chúng tôi cũng không mấy lưu tâm.”
Đây là đoạn nhắc đến sự kiện Phạm Duy sau khi đi kháng chiến được sáu năm thì bỏ về Hà Nội là vùng Pháp chiếm khi đó.
Sau 1954, ông cũng đưa gia đình vào miền Nam, điều đối với hệ thống cộng sản tại miền Bắc khi đó là bị gọi là ‘đi theo địch’.
Ông Hồng Đăng bức xúc: “Rất nhiều người phàn nàn là tác phẩm của Phạm Duy như thế mà báo chí tâng bốc, đề cao đến mức y như là nhân vật số một của âm nhạc Việt Nam.”

Nhạc sĩ Phạm Duy sống qua nhiều thời đại của lịch sử Việt Nam
Còn nhạc sĩ Phạm Tuyên được tờ báo trích “cần phải thẩm định đúng giá trị thật những đóng góp của nhạc sỹ Phạm Duy, không nên quá đề cao”.
“Bởi lẽ tìm tòi trong âm nhạc của Phạm Duy cũng chỉ có hạn thôi, trong khi đó tìm tòi về mặt sáng tạo âm nhạc ở trong nước ta có rất nhiều tài năng, nhiều khả năng.”
Nhưng nói chuyện với đài BBC hôm 28/1/2013, ba năm sau tranh cãi này, nhạc sĩ Phạm Tuyên dường như có thay đổi trong suy nghĩ.
Ông nói “lúc anh ấy về, tôi rất là vui”.
“Một thế hệ vẫn chịu ảnh hưởng nhạc anh Phạm Duy. Những năm cuối đời khi anh về Việt Nam, những bài biểu diễn ở TP. HCM người ta vẫn nhắc đến.”
“Bài nào nói về tinh thần yêu nước, như Bà mẹ Gio Linh, vẫn có sức sống trong đời sống âm nhạc dân tộc,” nhạc sĩ Phạm Tuyên kết luận.

Bùi Văn Phú( từ ĐH Berkeley HK): ‘VN hai câu nói sau cùng khi lìa đời’

Cuối tháng Tư 1975, tôi rời Việt Nam trên một con tàu không máy được kéo ra khỏi bờ sông Sài Gòn từ bến kho 5. Khi tàu tách bến, nhìn thành phố bập bùng khói lửa, nước mắt rưng rưng và lòng thầm hát:
Chiều nay sương khói lên khơi
Thùy dương rũ bến tơi bời
Làn mây hồng pha rán trời
Sóng Đà giang thuyền qua xứ người…
Lời ca theo tôi trên một hành trình vô định. Cho đến khi tới được Hoa Kỳ và biết rằng nhạc sĩ Phạm Duy, tác giả của “Thuyền viễn xứ”, cũng đã bỏ nước ra đi.
Với ông, đó là một lần nữa bỏ quê hương, sau lần rời Bắc vào Nam sinh sống hơn 20 năm trước đó. Lần xa quê này ông chỉ mang theo được người bạn đời là ca sĩ Thái Hằng và những cô con gái là Thái Hiền, Thái Thảo và Thái Hạnh, còn các con trai Duy Quang, Duy Minh, Duy Hùng, và Duy Cường đều kẹt lại.
Nơi quê người, khởi đầu định cư ở Pensacola, tiểu bang Florida. Sau một thời gian ngắn Phạm Duy đưa gia đình về Midway City – mà ông gọi là “Thị trấn Giữa đàng” – nằm ngay cạnh Westminster, thủ phủ của người Việt ở miền nam California. Ở đó gia đình Phạm Duy thường đi rong hát xẩm, là cách gọi của ông khi nói về những chuyến ôm đàn đi hát cho đồng hương ở Mỹ nghe.
Những năm ở nước ngoài Phạm Duy viết được một số ca khúc và đã thu âm vào những băng, đĩa nhạc: Ngục ca, Bầy chim bỏ xứ, Rong ca, Thiền ca, Hàn Mặc Tử ca.
Sống đời lưu vong ông luôn hướng về quê nhà. Năm 1978 ông viết lên ca khúc “Ở bên nhà em không còn đứng chờ đợi anh” là những cảm xúc sâu lắng được nhiều người tị nạn chia sẻ:
Ở bên nhà đôi tay ngà em vục bùn đen
Ở bên nhà đôi môi mềm thu vạn tủi oán
Ở bên này sống với ác mộng
Từng đêm ngày anh ra biển rộng khóc thương em.
Hai lần phải bỏ quê hương ra đi được ông ghi lại trong ca khúc: “54 cha bỏ quê, 75 con bỏ nước”:
Một ngày 54, cha lìa quê hương
Lánh Bắc vô Nam, cha muốn xa bạo cường
Một ngày 75, đứng ở cuối đường
Loài quỷ dữ xua con ra đại dương!…
Một ngày 75, con bỏ hết giang sơn
Hai mươi năm tình, yêu người yêu cuộc sống
Giờ nơi nước mình niềm đau thay nỗi vui
Sài Gòn đã chết rồi, phải mang tên xác người…
Đời hai lần ta bỏ quê bỏ nước
Phải nuôi ngày sau về ôm Tổ Quốc.
Đầu năm 2004 trong một cuộc phỏng vấn dành cho người viết bài này, khi hỏi cảm nhận và so sánh giữa bỏ quê hương ra đi trong “Thuyền viễn xứ” và “54 cha bỏ quê, 75 con bỏ nước”, Phạm Duy từ chối trả lời câu hỏi này như để tránh rắc rối cho việc nhạc sĩ đang chuẩn bị chuyến trở về sống hẳn ở cố hương.
Sau ba mươi năm lưu vong, tháng 5-2005 Phạm Duy đã “về ôm tổ quốc”. Quyết định của ông được nhà nước Việt Nam hoan nghênh. Một số người Việt hải ngoại lên án ông.
“Một ngày 54, cha lìa quê hương Lánh Bắc vô Nam, cha muốn xa bạo cường Một ngày 75, đứng ở cuối đường Loài quỷ dữ xua con ra đại dương!…”
Phạm Duy, lời bài hát ’54 cha bỏ quê, 75 con bỏ nước’
Từ khi ông trở về, trong nước thỉnh thoảng có những chương trình nhạc Phạm Duy tổ chức tại Hà Nội và Sài Gòn. Một vài đầu sách và đĩa chương trình ca nhạc của ông cũng được phát hành. Tuy nhiên vẫn có những văn nghệ sĩ, nhà báo trong nước chỉ trích quá khứ của Phạm Duy, nào là đã bỏ kháng chiến về thành, vào nam sinh sống, đã ca ngợi chế độ Việt Nam Cộng hoà, rồi lại bỏ nước ra đi khi chiến tranh chấm dứt, như thế Phạm Duy – “tên phù thủy âm nhạc” như cán bộ văn hoá từng đặt cho ông – không xứng đáng được vinh danh là một nhạc sĩ tài ba của nền âm nhạc Việt Nam.
Với cả ngàn bài ca, núi nhạc của Phạm Duy sừng sững như dãy Trường Sơn mà người Việt nào cũng thấy bóng hình mình ẩn hiện trên đó. Đó là “Bà mẹ quê”, “Em bé quê” là “Tuổi ngọc”, Tuổi biết buồn”. Đó là đồng lúa, là tà áo dài, vòng quay xe đạp, là mảnh áo nâu, là quang gánh trên vai. Không như Trịnh Công Sơn viết về thân phận và huyền thoại quê hương trong một giai đoạn chiến tranh nhất định, nhạc Phạm Duy dạt dào tình yêu quê hương, nổi bật với những hình ảnh thật gần gũi với mọi người. Hãy nghe ông viết về đất nước:
Quê hương tôi có con sông đào xinh xắn
Nước tuôn trên đồng vuông vắn
Lúa thơm cho đủ hai mùa
Dân trong làng trời về khuya vẳng tiếng lúa đê mê.
Quê hương ơi bóng đa ôm đàn em bé
Nắng trưa im lìm trong lá
Những con trâu lành trên đồi nằm mộng gì
Chờ nghe tôi thổi khúc sáo chơi vơi…
Không nhạc sĩ nào đã đưa sông nước, đồng lúa, trâu cày, bóng đa đầu làng vào lòng người một cách êm đềm và tình tự như Phạm Duy để rồi những ai sống xa quê hương khi nghe mà không thương, không nhớ.
Hay như hình ảnh tà áo dài, chiếc xe đạp của tuổi thơ sao thật dễ thương:
Xin cho em một chiếc áo dài
Cho em đi mùa xuân tới rồi
Mặc vào người rồi ra
Ngồi lạy chào mẹ cha
Hàng lụa là thơm dáng tiểu thơ.
Xin cho em môt chiếc xe đạp
Xe xinh xinh để em đi học
Từng vòng từng vòng xe
Là vòng đời nhỏ bé
Đạp bằng bàn chân gót đỏ hoe.
Ca từ của ông vẽ lên quê hương, lịch sử nước nhà như một bức hoạ đẹp tuyệt vời qua trường ca “Con đường cái quan”:
Tôi đi từ Ải Nam Quan sau vài ngàn năm lẻ
Chia đôi một họ trăm con đã lên đường…
Về Hà Tiên ta tiễn Chúa ra đảo khơi
Về Cà Mau ta đốt biết bao lửa vui.
Nhạc Phạm Duy đến với tôi vào những năm giữa thập niên 1960 khi còn học cấp 2. Đầu tiên là tiếng dân ca “Qua cầu gió bay” với nét vui đùa, là “Giọt mưa trên lá” mang mang buồn, trước khi biết rung động theo những bóng hình ở sân trường, biết mơ mộng một mối tình vu vơ qua “Nghìn trùng xa cách”, “Thà như giọt mưa”, “Trả lại em yêu”, “Còn chút gì để nhớ”, “Con đường tình ra đi”, “Nha Trang ngày về”, “Tóc mai sợi vắn sợi dài”…
Khi có nhận thức và hiểu biết về lịch sử nước nhà, về văn hoá dân tộc thì nhạc Phạm Duy như xoáy xoay vào hồn với trường ca “Mẹ Việt Nam”, trường ca “Con đường cái quan” với 10 bài “Đạo ca” với bài “Tình ca” bất hủ:
Tôi yêu tiếng nước tôi
Từ khi mới ra đời người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời…
Tiếng nước tôi
Bốn nghìn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi…
Trong nửa thế kỉ qua, nhạc Phạm Duy đã theo bước chân người Việt đi khắp nơi với yêu thương qua những cuộc tình, với quê hương biết bao niềm nhớ, với tình tự dân tộc nơi quê người hay ngay cả trên quê hương đã sinh ra ông, dù vẫn còn những ngăn cấm.
Nhạc sĩ Phạm Duy tên thật Phạm Duy Cẩn, sinh ngày 5-10-1921 tại phố Háng Cót, Hà Nội và qua đời tại Sài Gòn hôm 27-1-2013, thọ 93 tuổi.
Như thế ông đã trọn vẹn với ước nguyện thể hiện khi ông viết bản đồng ca – mà ông gọi là chung khúc “Việt Nam, Việt Nam” – trong trường ca “Mẹ Việt Nam” đã được rất nhiều người Việt biết đến:
Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời
Việt Nam, hai câu nói bên vành nôi
Việt Nam nước tôi…
Việt Nam, Việt Nam tên gọi là người
Việt Nam hai câu nói sau cùng khi lìa đời.
Năm 1995, trong dịp đến Đại học Berkeley nói chuyện với sinh viên nhạc sĩ Phạm Duy đã phát biểu: “Nhạc của tôi đi vào lòng người thì dễ, nhưng đi vào lòng ông Đỗ Mười sao khó thế!”. Lúc đó ông Đỗ Mười là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.
Mười tám năm sau, hầu hết nhạc của ông dường như vẫn chưa dễ gì lọt được vào lòng giới lãnh đạo Hà Nội.
Dù ông đã hồi tịch, được cấp chứng minh nhân dân, mua nhà ở. Dù ông đã nhiều lần phát biểu hết lòng ca ngợi chính sách hoà giải của nhà nước, nhưng cho đến lúc nhắm mắt lìa trần, gia tài âm nhạc của Phạm Duy với cả ngàn bài ca cũng mới chỉ có chưa đến 100 bài được phép phổ biến trong nước.
Tác giả hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco. Độc giả có thể đọc bài phỏng vấn nhạc sĩ Phạm Duy trên Blog Buivanphu.

TNO: Vĩnh biệt nhạc sĩ Phạm Duy

Nhạc sĩ Phạm Duy đã ra đi vào lúc 14 giờ 30 hôm qua 27.1. Chúng ta cũng biết rằng sự ra đi của một người ở vào lứa tuổi ngoài 90 không phải là đường đột, nhưng tôi vẫn nuối tiếc.

Những nhạc sĩ lớn của chúng ta đã lần lượt ra đi, Văn Cao, Trịnh Công Sơn và hôm nay Phạm Duy. Mới cách đây ít hôm, chúng ta vừa nhận tin nhạc sĩ Hoàng Hiệp mất. Tôi là người yêu âm nhạc Việt Nam, mặc dù mỗi bản nhạc hay của ngoại quốc như ABBA, Bob Dylan, BoneyM… cũng chưa bao giờ cho tôi sự xúc động mãnh liệt như những bài tình ca, kháng chiến ca do các nhạc sĩ Việt Nam viết. Có lẽ tôi thuộc loại người bảo thủ.
 Nhà báo Nguyễn Công Khế và nhạc sĩ Phạm Duy - Ảnh: Đào Ngọc Thạch
Nhà báo Nguyễn Công Khế và nhạc sĩ Phạm Duy – Ảnh: Đào Ngọc Thạch
Lần Duyên Dáng Việt Nam trình diễn ở Anh, một nhà báo hỏi tôi yêu âm nhạc nước nào nhất, tôi không ngần ngại nói rằng tôi yêu âm nhạc Việt Nam và các nhạc sĩ Việt Nam. Vì nhạc cùng ngôn ngữ, cùng dòng chảy qua các thăng trầm của lịch sử mà tôi từng chứng kiến hoặc đọc qua những trang sử của đất nước.
Những năm nhạc Phạm Duy chưa được phổ biến, khi tôi nghe lại từ các bạn bè những bài Làng tôi, Quê nghèo, Tình hoài hương, Tình ca, Việt Nam Việt Nam có lúc lãng mạn, có lúc hùng tráng…, lòng tôi lại rung lên, thơ thẩn bởi những giai điệu đó. Khi tiếp xúc với ông (ở Mỹ và cả Việt Nam) trước khi ông trở về sống và tiếp tục viết trong những năm tháng cuối đời, tôi là người nhiệt tình ủng hộ; mặc dù tôi biết không phải ai trong chúng ta cũng dễ có sự đồng cảm này. Chiến tranh, hòa bình, chia ly, hội ngộ là những ký ức khó phai mờ cho cả những người Việt Nam ở bên này hoặc bên kia cuộc chiến. Trước khi về Việt Nam, ông có nhờ tôi: “Anh nói giúp tôi với các vị lãnh đạo bên nhà suốt cuộc chiến tranh tôi mang trên vai 6-7 đứa con mà tôi nuôi chúng nó bằng chính nhạc của mình, nên có lúc tôi cũng rất khốn khó, nhưng chưa bao giờ có ai đó bảo được tôi phải làm một việc gì đó không có lợi cho đất nước”.
Khi tôi sắp xếp để nguyên Thủ tướng tiếp ông và gia đình tại Văn phòng 2 Chính phủ trên đường Lê Duẩn, bữa cơm đó tôi đãi hai người bạn già một bữa ăn Nhật được mang vào từ bên ngoài, bữa cơm thật vui vẻ và thoải mái mà nhạc sĩ Phạm Duy không ngờ. Hai bên gặp nhau thân mật như không có một ranh giới nào, như không có một cuộc chiến tranh nào vừa đi qua giữa hai người bạn già. Ban đầu nhạc sĩ gọi là thủ tướng, nhưng sau đó cuộc nói chuyện đã trở thành anh Sáu và anh Duy. Hai người lại kể về những vùng đất đã đi qua. Những Bà mẹ Gio linh, những “Giặc về ta đánh, giặc tràn ruộng xanh, đời nghèo mong manh, đừng chia rẽ đôi đứa mình” lại trở về trong bữa cơm trưa hôm đó.
Tôi chắc chắn tôi là người rất yêu nhạc của ông, tuy không phải là tất cả; phần lớn là những bản kháng chiến ca, những bài tình ca thời kháng Pháp và cả sau này tôi từng rất thích. Ông viết thư cho tôi lúc đang còn ở Mỹ nói ông khao khát được trở về để sống và viết trên quê hương trong quãng đời còn lại ngắn ngủi của mình. Tôi đã từng chuyển lời của ông lại với ông Nguyễn Khoa Điềm, với Thủ tướng Phan Văn Khải và anh Phạm Quang Nghị. Tôi thấy tất cả những vị quan chức trên gần như đều đồng tình với ý nguyện của ông. Trong buổi gặp chú Sáu Dân, ông đã dắt cả Duy Cường, Duy Minh, Duy Quang đến cùng ăn cơm. Ông khoe với chú Sáu, Duy Cường là người phối nhạc rất hay, Duy Quang vừa viết nhạc vừa hát, Duy Minh cũng là một nhạc sĩ.
Ngày Duy Quang mất, tôi đã đến thăm tại nhà riêng ở đường Lê Đại Hành, quận 11. Ông nói với tôi rằng khi có ai đó báo tin về Duy Quang đã mất, ông đã tự tay cúp điện thoại. Tôi nghĩ rằng ông ra đi sớm hơn cũng do vì quá thương Duy Quang. Tôi rất quý ở ông một người cha rất thương các con mình, khi mới qua Mỹ ông đã từng lái taxi để kiếm sống, lúc đó gia đình chưa đoàn tụ với ông. Ông nói với tôi rằng lúc đó thực sự ông rất muốn tự vẫn.
Những bài hát của ông cho tôi biết ông cũng có rất nhiều trăn trở về đất nước và cũng nhiều khắc khoải như lời bài hát của ông khóc cười theo vận nước nổi trôi.
Có những giai đoạn người ta sống thế này thế khác, có những năm tháng chiến tranh, phân ly giằng xé trong từng con người dân Việt. Nhưng từ trong sâu thẳm tâm hồn của các nhạc sĩ Việt Nam đều nặng lòng với đất nước nên các nhạc sĩ mới tặng cho chúng ta những dòng nhạc để đời như thế. Phạm Duy cũng nằm trong trường hợp đó. Tiếc rằng những năm trở về quê nhà quá ngắn. Tuy nhiên tôi biết ông cũng tiếp tục viết rất nhiều tác phẩm mới mà ông từng nung nấu.
Ông đã ra đi. Và không ai phủ nhận ông đã để lại một gia sản âm nhạc to lớn cho đời.
Vĩnh biệt nhạc sĩ Phạm Duy.

 

Đỗ Anh Thơ Những bài thơ viết trước tết Quý Tỵ III.- Ta và họa mi

             Nằm buồn mang máy lên lầu,
           Xùy cho Mi hót, bớt sầu thế gian.
             Mi cất hai điệu khàn khàn,
           Rồi im.  Tiếng nấc nhớ ngàn chiều đông.
                Tập tênh ta lại về phòng
            “Ta Mi ai kẻ não lòng hơn ai? ‘
                                          Đỗ Anh Thơ
                                   ( Chiều 26/1/2013
                                     tại Rạch Chiếc Nam Long)
                         Trần văn Kinh: Đọc bài “Xùy cho họa mi hót” của Đỗ Anh Thơ, tôi cảm thấy
đừng nghe họa mi hót là hơn Vậy xin có bài họa vần như sau:
Đừng nghe họa mi hót
(Họa vần bài Xùy cho họa mi hót của Đỗ Anh Thơ).
Lên lầu rồi lại xuống lầu
Nghe gì cái thứ thêm sầu thế gian
Quanh năm một giọng khàn khàn
Làm sao  nghe  được  gió ngàn tây đông
Thôi đành về lại thư phòng
Họa là nghe được tiếng lòng của ai !

TVK. 1/2/2013.

Kieu Mien Luong&Đàm Cao: Hà Nội Ăn và Tiêu

 

Keangnam Hanoi Landmark Tower, toà nhà cao nhất Việt Nam đã hoàn thành và đi vào hoạt động

Ăn sáng bằng một tô phở 650.000 đồng, ăn tối trong một căn phòng vàng và đêm đến thì ngủ ở một khách sạn với giá 6.200 US đô la một đêm…? Hà Nội là nơi có thể thỏa mãn bất cứ ai có tiền bằng những dịch vụ đắt tiền như thế.
Bát phở đặc biệt có giá cao nhất là 650.000 đồng. Ảnh: ST

Bát phở đặc biệt có giá cao nhất là 650.000 đồng.

Trên những con phố Hà Nội chật chội, ngột ngạt vì kẹt xe, vỉa hè ngập tràn những quán vịt om sấu hay bún ốc, ít ai ngờ rằng thủ đô có những chốn “xứng danh kim tiền” đến vậy.
Ấn tượng đầu tiên về khách sạn Grand Plaza Hà Nội khánh thành mới đây trên đường Trần Duy Hưng, gần Trung tâm hội nghị quốc gia, là từ sảnh lớn cho tới nhà vệ sinh đều dát kim loại màu vàng. Khách sạn có 618 phòng khách cao cấp và phòng hạng sang cùng nhiều nhà hàng mang nhiều phong cách ẩm thực, phòng tiệc, hội nghị…

Có hai phòng tổng thống với giá cao ngất: phòng 325m2 giá 3.900 USD/đêm, còn phòng 410m2 giá 6.200 USD/đêm, tức hơn 125 triệu đồng. Kim loại màu vàng dát đầy trên các chi tiết trang trí trong phòng, theo như lời kể của ban quản lý khách sạn. Bước vào căn phòng này, sờ tay vào cái giường ngủ của “tổng thống”, ta có cảm giác như mình đang bước vào một bảo tàng kim hoàn.

Nếu đã ở phòng “tổng thống” thì sao không đi ăn tối theo kiểu “hoàng đế”, với một phòng ăn được gọi là phòng vàng tại nhà hàng Long Đình trên phố Quán Sứ? Nhà hàng này nhìn bên ngoài cũng khá bình thường, nhưng có thêm những phòng ăn đặc biệt gọi là phòng vàng, phòng bạc. Những ly tách muỗng nĩa trên bàn lấp lánh màu của kim tiền. Thực đơn của quán toàn những món với tên gọi hào nhoáng và tiền thì tất nhiên cũng… xả láng. Cô Phạm Thị Vân Anh, phụ trách PR của công ty sở hữu nhà hàng này, cho biết một bát xúp vi cá giá 72 USD, một bữa tiệc có giá ít nhất cũng 800 USD.
cua hoang de
Cua hoàng đế nhập ngoại giá 10 triệu đồng/con, bán rất chạy ở Hà Nội

 Anh Việt, một doanh nhân Hà Nội từng mời bạn hàng Trung Quốc đến nhà hàng Long Đình, kể: “Người ta đến đây để hưởng cảm giác yến tiệc hơn là để ăn. Hôm đó năm người, tôi phải thanh toán hết gần 2.000 đô…” – anh cười. Cung cách phục vụ như thế nào là tùy theo ý muốn của khách, nhưng theo giới thiệu của nhà hàng thì khi ngồi ở phòng vàng, thực khách được phục vụ như “hoàng đế”.

Bát phở giá bằng cả tạ thóc
Bát phở bò này có giá 650.000 đồng, bằng giá một tạ thóc nếu tính giá cao 6.500 đồng/kg. Nhưng “có người sáng nào cũng ăn, có người kéo cả gia đình ba bốn thế hệ đến thưởng thức, thanh toán tiền ăn sáng hết vài triệu đồng là chuyện bình thường” – ông Tô Lâm, tổng giám đốc khách sạn Vườn Thủ Đô kiêm ông chủ nhà hàng trong khuôn viên khách sạn, nơi duy nhất ở Hà Nội bán loại phở bò đắt khủng khiếp này, kể về khách hàng của mình. Bãi đỗ xe nhà hàng chật ních những loại xe sang trọng, đắt tiền như Porche, Lexus…
Có gì khác biệt giữa hai loại phở? Phở Sagagyu 650.000 đồng được đặt trong tô bằng sứ có mạ vàng với một cái muỗng cong, còn bát phở bò Mỹ 125.000 đồng đặt trong tô thường, muỗng thẳng. Cũng khác biệt so với phở thường nữa là ở chỗ nhân viên chỉ mang bát phở có nước dùng ra, phần thịt bò được thái mỏng bằng máy và bọc trong một đĩa riêng để khách hàng tự tay nhúng. Khi cho vào bát phở chỉ sau chốc lát thịt bò đã chuyển từ màu đỏ sang màu sẫm. Cho vào miệng nhai có cảm giác miếng thịt tan rất nhanh, mềm, đậm đà và thơm. Ngoài ra còn có loại phở Kobe giá 500.000 đồng chế biến từ thịt bò Kobe, hoặc “mềm” hơn là phở Wagyu với thịt bò Úc có giá 220.000 đồng.
Làm khách sạn hơn 20 năm, bán phở đã năm năm nhưng chỉ hơn một năm trở lại đây ông Lâm mới bán phở bò Kobe . Ban đầu ông chỉ có mong muốn đơn giản là mang đến cho khách hàng những món ăn truyền thống đậm đà hương vị xứ Bắc. Nhận thấy thị hiếu khách hàng đất Hà thành ngày càng cao, ông quyết làm một bước đột phá: bán loại phở bò thượng hạng. Không ngờ món phở bò “quý tộc” này lại thu hút nhiều khách hàng đến vậy.
Thị bò Kobe là nguyên liệu khiến cho bát phở có giá rất cao. Ảnh: ST

Thị bò Kobe là nguyên liệu khiến cho bát phở có giá rất cao

Ông Tô Lâm cho biết mặc dù đắt đỏ là vậy, nhưng nhiều hôm cả ba nhà hàng của khách sạn phục vụ 150 suất ăn một lúc vẫn bị quá tải. Lượng khách thưởng thức món phở này khá phong phú nhưng theo lời ông Lâm, hầu hết là giới doanh nhân tiếp đối tác, bàn chuyện làm ăn. Khách cuối tuần thường là gia đình giàu có.
Đứng dậy cầm hóa đơn thanh toán, dù biết trước giá cả nhưng chúng tôi không khỏi “xót ruột” khi trả hơn 800.000 đồng cho hai bát phở bữa sáng. Chợt nghĩ tới hóa đơn thanh toán của những người kéo cả gia đình đến ăn sáng bằng phở bò Kobe . Giá tiền trả cho một bát phở Sagagyu có thể đủ cho một bữa tiệc 5-6 người với vịt om sấu và rượu vodka – món ăn thuộc loại thịnh hành nhất trên vỉa hè Hà Nội hiện nay.
Hà Nội còn rất nhiều thứ xa hoa khác đang phô diễn trên những “ngõ nhỏ, phố nhỏ”, từ những chiếc xe siêu sang cho đến những cửa hiệu thời trang dành cho người có thu nhập rất cao. Những thương hiệu thời trang danh tiếng nhất trên thế giới khi vào Việt Nam vẫn chọn Hà Nội là điểm đến đầu tiên. Chẳng hạn như nhãn hiệu Hermes tại Việt Nam hiện chỉ có ở Hà thành, trong một khách sạn nổi tiếng nhất tại trung tâm thành phố. Và bây giờ là khách sạn 6.200 USD/đêm, là bữa tiệc vàng…
Còn bò Kobe hay Sagagyu? Vấn đề khiến người ta ngỡ ngàng không phải ở chỗ nó là món thịt đắt nhất vì chúng vẫn được bán nhiều trong các nhà hàng khác ở Việt Nam đấy thôi, mà là chuyện nó nằm trong một tô phở – món ăn vẫn bán đầy vỉa hè ngoài kia. Chẳng đâu xa, chỉ cần bước ra khỏi Vườn Thủ Đô mấy trăm mét, ta gặp ngay một cái bàn ven đường dưới tấm vải bạt, nơi những sinh viên, công nhân đang xì xụp những tô phở 15.000-20.000 đồng nghi ngút khói.
Việt kiều dành dụm mang tiền về nước làm từ thiện cho nhà giầu, Hà Nội ăn chơi xa hoa
Phóng sự của Đài BBC của Anh, Alastair Leithead từ Hà nội gởi về nói về dân nhà giàu ăn chơi. Tựa đề phóng sự là “Ăn Phở 35 Đô Ở Nước Việt Nam Cộng Sản”. Chơi xe máy dầu Harley Davidson mà một thành viên người ngoại quốc của câu lạc bộ nhận xét “Ông sẽ không bao giờ nhìn thấy nhiều xe hạng sang như thế này ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới.” Chơi xe hơi mắc, mới, lạ không thể tưởng. Xe Porsche hai cầu dù Alastair Leithead là nhà báo đi nhiều nhưng chưa biết có loại xe đó; xe Rolls-Royce Phantom chế tạo theo ý người đặt hàng mua.

 xe sang
 Các siêu xe nhập khẩu vẫn bán chạy. Ảnh: Hải quan

Tin RFA, thống kê của Bộ Công thương của CS Hà nội công bố trong năm 2010, Việt Nam CS đã “nhập khẩu“ những mặt hàng xa xỉ lên đến 10 tỷ đô la. Ô tô và xe máy chỉ chiếm khoảng 1 tỷ đô la, trong khi “hàng hiệu” được xem là xa xỉ phẩm như: điện thoại di động loại mới, mỹ phẩm, rượu bia, thuốc lá, đồ trang sức, đá quý và quần áo loại sang chiếm 9 tỷ đô la.

Số triệu, tỷ phú đô la nổi ở trong nước mỗi năm đều tăng lên. Có người chẳng những mua xe sang mà mua luôn máy bay để đi nữa. Số triệu, tỷ phú chìm ắt còn nhiều hơn nữa nhưng họ dấu kín. Đó là những cán bộ đảng viên có quyền khi tham nhũng trở thành quốc nạn. Tài sản họ cướp được của đất nước và nhân dân nhiều vô số kể.

Làm gì trong bối cảnh tham nhũng là quốc nạn, một thiểu số 3 triệu 6 cán bộ đảng viên CS không hối mại quyền thế, tham ô nhũng lạm, dĩ công vi tư khi họ đang cầm quyền, nắm tiền, nắm của của nước Việt Nam. Họ giàu có, thừa mứa, mỗi năm xài hết 10 tỷ Mỹ kim cho hàng “nhập” xa xí. Họ là những người làm giàu nhờ nguời dân trong nước thì khi người dân gặp thiên tai thì họ là người phải gíup trả lại một phần cho cộng đồng chớ.

Người Việt hải ngoại đâu có giàu như họ, phải làm việc một tuần 40 giờ, hàng chục thứ hoá đơn phải trả, đóng thuế cao, đâu có được hưởng quyền lợi gì ở VN như họ, tại sao khi có thiên tai thì lại bị kêu gọi góp tiền đem về cứu trợ.

Hỏi có người Việt Hải ngoại nào ăn tô phở bò 35 Đô mắc như vàng, đi xe máy dầu loại dầu Harley Davidson hạng sang, xe hơi Porsche hai cầu, Rolls-Royce Phantom chế tạo theo ý người chủ mua. Có mấy người mua Iphone 4 mới ra giá tương đương 900 Đô.

Thử tính sơ đi, sẽ thấy cán bộ, đảng viên và những người ăn theo trong nước việt cộng giàu thế nào trong thời kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cái thời Đảng Nhà Nước và bọn tài phiệt theo cướp của quốc gia, bóc lột công người lao động như thời kinh tế tư bản hoang.

Từ hải ngoại, người Việt hải ngoại cũng đóng góp cho cái giàu của đảng viên, cán bộ và bọn tài phiệt ăn theo trong nước. Mỗi năm “Việt Kiều” gởi về nước 8 tỷ Đô và về chơi mang theo để xài tối thiểu cũng 6 tỷ nữa ( 300,000 người về, mỗi người tốn 2000$ để xài). Liên Hiệp Quốc viện trợ 3 tỷ. Sơ sơ Đảng Nhà Nước thu được 17 tỷ là giá chót. Đó là chưa nói số ngoại tệ Đảng Nhà Nước bòn vét tài nguyên dầu khí, cao su, gạo, v.v đem bán thô cho ngoại quốc. Phải hàng chục tỷ nữa.

Nếu so sánh với chánh quyền Việt Nam Cộng Hoà thời trước 75 ở Miền Nam mới thấy CS họ hoang phí vô độ. Việt Nam Cộng Hoà khi xưa chỉ nhận viện trợ dân sự 700 triệu Mỹ Kim mà phải lo cho 17 triệu dân với giáo dục công lập, y tế công cộng miễn phí. Tài trợ cho đồng bào Miền Trung ăn gạo giá có thể chịu được.

Thế nhưng khi có thiên tai bão lụt, nhân dân và chánh quyền đùm bọc lấy nhau, đâu có ngửa tay xin ngoại quốc. Và công dân VNCH lên máy bay đi ngoại được các nước xem là công dân của một nước có nền kinh tế phát triển, hơn Đài Loan , Nam Hàn, Thái Lan.

Còn bây giờ, Đảng Nhà Nước Cộng Sản Hà nội là cơ quan có nhiệm vụ pháp lý và đạo lý phải lo cứu trợ. Luật CS Hà nội qui định không tổ chức nào trong và ngoài nước được phân phối tiền cứu trợ tại Việt Nam ngoại trừ cơ quan cứu trợ có thẩm quyền từ Trung Ương tới địa phương do Mặt Trận Tổ quốc lãnh đạo (Thông tư số 72/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính & Nghị định số 64/2008/NĐ-CP ngày 14/05/2008 của Chính phủ). Thế mà Đảng Nhà Nước giàu nứt đổ đổ vách lại lơ là không làm. Mà người Việt Hải ngoại đi làm một việc Đảng Nhà Nước CS cấm không cho làm.

Người Việt hải ngoại làm là trái luật của CS Hà nội. Nên đa số thu tiền ở hải ngoại đem về nước làm từ thiện đều tuyên bố khi thu rằng sẽ giúp trực tiếp cho dân. Nhưng kinh nghiệm cho thấy tất cả đều phải qua nhà cầm quyền CS ở địa phương mới đi đứng, gặp gỡ người cần gíúp được. Ở trong xứ CS không thể họp dân mà nhà cầm quyền không hay biết.

Trong việc cứu trợ nhà cầm quyền địa phương có uyển chuyển với những người ngoại quốc vì có lợi cho họ. Họ không đòi hỏi phải giao tiền và quà cứu trợ cho họ vì họ biết đòi hỏi như thế “Việt Kiều” sẽ không đồng ý. Họ cho Việt Kiều đứng ra phát để chụp hình đem về chứng minh và làm thành tích của hội đoàn ở hải ngoại. Nhưng họ nắm quyền lợi của CS bên trong. Họ được “Việt Kiều” phải quấy với họ, làm “thủ tục đầu tiên” khi gặp để xin phát cho dân. Họ chọn người được phát đa số là thân nhân, bè bạn của họ.

Số tỷ, triệu phú Đô la ở VNCS hiện rất nhiều. Đảng Nhà Nước CS Hà nội rất giàu. Họ quá giàu đến đổi phải hoang phí. Không lý do gì người Việt hải ngoại lại đi làm vú sữa cho họ nữa. Mấy mươi năm đã quá thừa rồi. Không lý do gì để CS và những người chuyên sống bằng nghề từ thiện lợi dụng tình đồng bào, khai thác tai nạn của dân chúng để móc túi người Việt hải ngoại nữa. Người Việt có thương ai, giúp ai cứ gởi trực tiếp, đường dây chuyển tiền bây giờ quá dễ./.

Vũ Thanh Bình – Lâm Hoài
—————————————–

TTCh(ct): Văn Cao: Một thiên tài bị lưu đầy– Bài của Trần Mạnh Hảo

Âm nhạc sang trọng bậc nhất nước Việt của ông còn sống mãi. Những bài hát rất hay,
rất quý phái cao sang đầy chất thánh ca của ông vẫn hằng tụng ca con người, tụng
ca Cái Đẹp, như một cứu cánh góp phần cứu chuộc dân tộc ta, đất nước ta đang có
cơ bị diệt vong bởi chính sự băng hoại của những tà thuyết phi nhân. Xin được gọi
ông bằng tên gọi thường nhật trìu mến nhất mà thế hệ đi sau ông vẫn hằng được gọi
thầm tên ông: ANH VĂN; như ngày xưa thi thoảng được hầu rượu ông nơi quán rượu
gần rạp xiếc. Vâng, anh Văn suốt một đời sống chết cũng chỉ vì hai chữ Nhân Văn
thiêng liêng, cao cả này mà thôi…*

“Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một
ông hoàng. Trên cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều
giấy thả chơi. Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng. Tôi la đà
đi giữa cõi con người. Anh cứ bay và tôi cứ chìm khuất. Bay và chìm trong những
thân phận riêng tư…” – Trịnh Công Sơn.

Năm 2013 này là năm kỷ niệm 90 năm ngày sinh của thiên tài văn
nghệ Văn Cao – người đã tự lưu đầy mình vào vĩnh cửu bằng ba tài năng lớn: hội
họa, thi ca và âm nhạc. Văn Cao nhà cải cách tiền phong cả ba nghệ thuật: hội họa,
âm nhạc và thi ca. Bài này chỉ nói về kiếp nhạc của Văn Cao.

Không đợi khi xuân đến, tết về như dịp này, chúng tôi mới nghe lại
bản nhạc bất hủ: “Mùa xuân đầu tiên” Văn Cao khởi viết cuối
tháng 12-1975, hoàn thành trong dịp tết Bính Thìn năm 1976.

Đây là bài hát có số phận đặc biệt nhất trong cuộc đời sáng tác
của Văn Cao. Đây cũng là bài hát mang nhiều tâm trạng đối lập, hòa trộn nước với
lửa: vui ít, buồn nhiều, mừng ít, tủi nhiều, hoan ca ít, bi ca nhiều, tha thiết
ít, nghẹn ngào nhiều, bâng khuâng ít, đau đáu nhiều, tự sự ít, ai oán nhiều, mê
say ít, thở than nhiều, cứng cỏi ít, run run nhiều, da diết ít, nỉ non nhiều,
cười ít, khóc nhiều, sum họp ít, cô đơn nhiều, yêu thương ít, đau thương nhiều,
gặp gỡ ít, bơ vơ nhiều…

Hầu như tất cả các trạng thái tình cảm trái ngược nhau của con
người đều có trong bản nhạc kỳ lạ này: ai vui hát lên thì nghe vui, ai buồn hát
lên thấy buồn não ruột, ai đau khổ hát lên thấy một trời đau khổ, ai sầu thảm
hát lên thấy cả một thế giới sầu thảm đang đồng cảm cùng mình…

Nghe đi nghe lại bản nhạc này, ta thấy xuất hiện trong tâm trí
mình rất nhiều tâm trạng không thể dùng ngôn ngữ diễn đạt. Nếu bạn đã hoặc đang
đi qua bể khổ trần gian, nghe bản nhạc“Mùa xuân đầu tiên” bạn sẽ cảm
thương, nhờ nước mắt diễn đạt nỗi lòng mình.

Riêng lời bài hát đã là một bài thơ hay:

“Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về

Mùa bình thường mùa vui nay đã về

mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên

Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông

một trưa nắng cho bao tâm hồn.

Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về

Người mẹ nhìn đàn con nay đã về

Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên

Nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh

Niềm vui phút giây như đang long lanh.

ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên.

ôi giờ phút trong tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm.

Từ đây người biết quê người

Từ đây người biết thương người

Từ đây người biết yêu người.

Giờ dặt dìu mùa xuân theo én về

Mùa bình thường, mùa vui nay đã về.

Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu

với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông

một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông.”

Rất nhiều chim én, nhiều nắng gió, có nước mắt vui gặp gỡ của
đàn con nay đã về, có cuộc đời êm ấm… nhưng sao hình ảnh “khói bay
trên sông, gà đang gáy trưa trên sông” lặp lại hai lần làm không gian
của “Mùa xuân đầu tiên” xa xôi, bơ thờ thế, xao xác thế, hoang
vắng thế, hiu quạnh thế, đơn độc có phần cô đơn thế? Chợt nhớ nỗi buồn thiếu
quê hương của Thôi Hiệu trong Hoàng Hạc lâu xưa, cũng một tiếng gà trưa Văn Cao
nay, một khói sóng trên sông xa Văn Cao nay, u hoài khôn xiết: “một
trưa nắng thôi hôm nay mênh mông”:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị,

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

(Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?

Trên sông khói tỏa, sóng gợn, khiến buồn lòng người!)

Chợt nhớ Lưu Trọng Lư “thời con nai vàng ngơ ngác” với
câu thơ tiền chiến xưa sao rất đồng cảm với nỗi vui não nùng Văn Cao nay: “Tiếng
gà trưa xao xác não nùng”.

Bài hát như một điệu valse bằng nước mắt; sự thướt tha, quý phái
của một giai điệu bi thương; sự sang trọng của ngậm ngùi, day dứt; sự lãng mạn
của một phiêu linh, xô dạt; sự mê đắm của một vu vơ; sự đoan trang của cái đẹp
lỡ thì; sự liêu trai của ngơ ngác, đìu hiu; sự dịu dàng của nỗi thương đau, xót
nhớ…

Chừng như đã mấy chục năm chiến tranh liên miên chưa từng có
xuân về? Chừng như gần hết cả đời người bận chuyện đấu tranh giai cấp giành giật
miếng ăn chưa từng thấy chim én báo xuân? Chừng như đã rất lâu rồi sự căm thù
trùm lên xã hội không còn ai biết thương người? Chừng như đã lâu lắm rồi ta tha
hương trên chính quê hương mình? Chừng như suốt mấy cuộc chém giết kinh hoàng mạo
danh cách mạng, không còn ai biết yêu con người? Chừng như mấy mươi năm rồi con
người đã quên mình còn nước mắt? Chừng như lâu rồi tâm hồn người không được sưởi
nắng mùa xuân?

Và chừng như lâu lắm rồi Văn Cao quên không còn nhớ mình từng là
nhạc sĩ lãng mạn đã có cả chục ca khúc vào hàng kiệt tác? Chừng như cây đàn
piano cũ kỹ do Hội nhạc sĩ Việt Nam cho Văn Cao thuê mỗi tháng 07 đồng, (thuê
căn gác chật hẹp cũ kỹ 108 Yết Kiêu 15 đồng) đã bị thời gian phủ bụi đầy rêu mốc?
Chừng như đôi tai Văn Cao đã bị súng đạn thời cuộc, sự hò hét xướng ca hò vè phục
vụ chính trị một thời làm ù đặc, khi tất cả các kiệt tác âm nhạc của ông đều bị
chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa (Miền Bắc) cấm hát, trừ bài quốc ca (kể cả thơ
Văn Cao cũng bị cấm)?

Và chừng như toàn bộ vết thương cuộc đời Văn Cao, vết thương cuộc
đời dân tộc, bỗng mượn ngón tay ông mà nhỏ xuống cây đàn piano những giọt nước
mắt giai điệu, khiến những vết thương chợt mở miệng ca hát: “Mùa xuân đầu
tiên”

Chừng như nỗi niềm ngày 30 tháng tư năm 1975: “có một
triệu người Việt Nam vui thì cũng có một triệu người Việt Nam buồn” (lời
ông cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt) đã hiện ra nơi bài hát: “Mùa xuân đầu
tiên” của Văn Cao? Trong bài hát ấy, kỳ lạ thay, tôi nghe có một nửa
nước vui thắng trận trào nước mắt và một nửa nước buồn thua trận cũng trào nước
mắt, chợt ôm chầm lấy nhau mà quằn quại, mà dằn vặt giằng xé nhau, cười khóc mếu
máo bầm dập nhau, nên vui ấy sao buồn hiu hắt thế, lênh đênh phiêu bạt thế, nức
nở nghẹn ngào thế?

Có lẽ, chính vì những điều trên mà kiệt tác “Mùa xuân đầu
tiên” của Văn Cao sau khi được báo“Sài Gòn giải phóng” in
trước tết Bính Thìn: 01-01-1976, được hát trên Đài Tiếng nói Việt Nam mấy lần
liền bị cấm suốt 24 năm (1976-2000). Sinh thời, Văn Cao không được nghe, được
nhìn thấy đứa con tinh thần lớn lao này của mình được trình diễn. Sau khi ông mất
(1995) 05 năm,“Mùa xuân đầu tiên” mới ra khỏi nhà tù kiểm duyệt của
chế độ.

Xin quý bạn đọc hãy nghe nhà thơ, họa sĩ Văn Thao, con trai trưởng
của nhạc sĩ Văn Cao kể sơ qua về sự ra đời của bài hát này:

“Sau khi bài “Tiến về Hà Nội” ra
đời cuối năm 1949, bố bị đưa ra kiểm điểm và bị phê phán khắp nơi. Từ đó bố đã
thề, sẽ không sáng tác ca khúc chính trị nữa… Nhưng rồi những năm tháng sau
này đôi lúc hứng khởi bố vẫn sáng tác. Vẫn biết có sáng tác ra cũng chẳng được
dàn dựng…

Tôi còn lưu giữ được một số tác phẩm của
ông sáng tác sau này nên tôi hiểu những điều ông nói. Giá như ông không bị rơi
vào cái nạn “Nhân văn” và bị “vô hiệu hoá” mất 30 năm thì
tôi chắc rằng ông sẽ còn sáng tác được thêm nhiều tác phẩm cho nền âm nhạc Việt
Nam.

Những ngày tháng sau đó, căn gác nhỏ nhà
Văn Cao không lúc nào ngớt khách. Những khuôn mặt bừng sáng. Những nụ cười rạng
rỡ. Những giọt nước mắt sung sướng bên những ly rượu tràn đầy và có cả những
khuôn mặt, một thời không dám bước chân đến căn gác nhỏ này vì sợ “bị vỗ vai”.

Văn Cao đã sáng tác xong ca khúc MÙA XUÂN ĐẦU
TIÊN vào đúng dịp tết Bính Thìn.” – Trích bài “Văn Cao với ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Thao in
trên “Tạp chí Sông Hương” số 179-180

Văn Thao tiết lộ tiếp rằng, bài hát bị cấm ở Việt Nam nhưng bên
nước Liên Xô người ta lại dịch sang tiếng Nga, phát trên Đài phát thanh
Matxcova:

“Nhưng cũng thật bất ngờ (không hiểu bằng
con đường nào), trong cái năm 1976 ấy MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN đã được in ở nước Nga
và được Liên Xô trả nhuận bút cho tác giả 100 Rúp. Văn Cao phải viết giấy uỷ
quyền qua sứ quán để con gái ông đang học bên đó lĩnh hộ. Ông bảo con gái: “Con
cứ lấy mà tiêu, ở nước mình bao lâu nay bố có được biết đến đồng nhuận bút tác
phẩm nào đâu.”

Qua tiết lộ trên của anh Văn Thao, con trưởng nhạc sĩ thì nhà
ông Văn Cao trên căn gác nhỏ 108 Yết Kiêu suốt một thời luôn luôn có công an ngầm
canh gác, ai đến đều “bị vỗ vai” hỏi tên tuổi, xem đến nhà tên
phản động “Nhân Văn” làm gì? Người viết bài này sau năm 1975
có lần đến thăm nhạc sĩ Văn Cao để cho ông mượn cuốn tiểu thuyết vĩ đại: “Giờ
thứ 25” của văn hào Romania Constantin Virgil Gheorghiu (1916-1992)
mang ra từ Sài Gòn như đã hứa, cũng đã từng bị công an mật “vỗ vai” hỏi
đi đâu? Bèn bảo: đi phỏng vấn tác giả “Quốc ca” viết bài in báo cũng bị cấm à?
Người “vỗ vai” hất đầu cộc lộc: “Vào đi”.

Người ta đã cầm giữ Văn Cao như một tù nhân lương tâm bị giam lỏng,
một thứ nhà tù tại chỗ, nhà tù nhân dân kiểu xã hội chủ nghĩa. Rằng Văn Cao bị
vô hiệu hóa suốt 30 năm vì tội Nhân Văn – Giai Phẩm. Rằng suốt 30 năm ấy, nhạc
sĩ Văn Cao sống rất nghèo khổ, “bố có được biết đến đồng nhuận bút tác
phẩm nào đâu”.

Chúng ta lại được nghe người con trai thứ của nhạc sĩ Văn Cao,
nhà thơ Nghiêm Bằng kể sơ qua về sự ra đời của “Mùa xuân đầu tiên”:

“Đó là một đêm vào giữa tháng 12-1975.
Chúng tôi đang sống với cha mẹ trong ngôi nhà số 108 Yết Kiêu. Mùa đông Hà Nội
rét tê tái. Cha tôi đã từ lâu rồi không đàn. Vậy mà trong đêm ấy, tôi nghe có
tiếng chân nhè nhẹ lần từng bước từ phòng trong ra gần chiếc đàn piano – đối diện
với chiếc đi văng tôi đang ngủ.

Một giai điệu khe khẽ vang lên, nó được đàn
bởi một bàn tay phải. Cũng phải nói thêm là cha tôi đã đàn trên chiếc đàn vốn
được Hội Nhạc sĩ VN cho thuê lại với giá 7 đồng rưỡi một tháng (lương tôi hồi
đó là 63 đồng, còn tiền thuê nhà là 15 đồng); từ ngày kỷ niệm 30 năm Tiến quân
ca (1974), chiếc đàn mới được tặng hẳn cho cha tôi thì cha lại rất ít có dịp
dùng đến.

Bài hát đã được báo Sài Gòn Giải Phóng số
năm mới 1-1-1976 in trang trọng ở bìa 4 và thu thanh ngay sau đó, được phát
trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, nếu tôi không nhầm thì do ca sĩ Trần Khánh và
đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam trình bày. Bài hát được phát khoảng mươi lần
trong chừng một tháng (hồi ấy ca khúc được truyền bá chủ yếu qua sóng phát
thanh), rồi không hiểu sao lặng lẽ chìm đi, như thể bị quên lãng.

Như mọi lần, trong suốt mấy chục năm, cha
không tỏ ra bực bội gì, chỉ hơi buồn thôi. Cha tôi nói chắc chắn bài hát sẽ có
ngày được hát lại và mọi người sẽ yêu nó. Và như mọi lần, cha tôi lại đúng. Chỉ
có điều lúc đó cha tôi không còn nữa. Khi bài hát lần đầu tiên được phát trên
sóng truyền hình Việt Nam năm 2000, cha tôi đã mất được năm năm.” – Nhà thơ NGHIÊM BẰNG – THU HÀ ghi

Nhà văn Vũ Thư Hiên, trong tác phẩm “Đêm giữa ban ngày”,
kể lại lời Văn Cao nói với ông về Tố Hữu hay Trường Chính chủ trương đánh “Nhân
Văn”, kể lại chuyện ông lãnh tụ Trường Chinh cho gọi Nguyễn Tuân và Văn Cao
lên cảnh cáo sau vụ “Nhân Văn – Giai Phẩm” < *1 *> (xem
thú thích dưới bài)

Xuân Diệu đấu tố Văn Cao là trùm phản động, là đầu sỏ chống cộng
< *2*> (xem chú thích cuối bài)

Với tất cả tội trạng tày trời do Xuân Diệu đấu tố Văn Cao công khai
trên báo chí, tội của Văn Cao có khi còn to hơn tội của bà nhà văn Thụy An và
ông Nguyễn Hữu Đang (cùng bị án 15 năm tù giam, 05 năm quản thúc vì hai người
này bị cho là đầu sỏ gây ra vụ án chống đảng“Nhân văn – giai phẩm”). Sở
dĩ Văn Cao thoát tù mọt gông vì ông chính là tác giả Quốc ca.

Ngay sau vụ “Nhân Văn”, nhà nước cộng sản tính lấy một
bài hát “Cách mạng tiến quân” của Đỗ Nhuận làm bài quốc ca,
thay bài “Tiến quân ca” của Văn Cao nhưng việc không thành. Mấy
năm sau, năm 1981 nhà nước mở cuộc thi quốc ca trong suốt hai năm, quyết thay
bài hát của tên phản động đang bất đắc dĩ dùng làm quốc ca; nhưng mấy trăm bài
dự thi thay đổi quốc ca, không bài nào được chọn (vì quá tẻ nhạt) để thay thế
bài ca lịch sử của Văn Cao.

Nếu không có bài quốc ca che chắn, có lẽ Văn Cao có thể đã chết
trong tù Cộng sản? Một Văn Cao mềm mỏng, nồng nàn, say đắm, lãng mạn tận cùng
(với các ca khúc bất diệt: “Buồn tàn thu”, “Suối mơ”, “Bến xuân”,
“Trương Chi”, “Thiên Thai”..) trong một Văn Cao tỉnh bơ, quyết liệt, lạnh
băng, thần kinh thép, thậm chí dữ dằn, sắt máu: “thề ăn gan uống máu
quân thù”… “đường ta đi xây xác quân thù”… đến cùng tận khi một mình một
xe đạp, đến tiệm hút thuốc phiện ở Hải Phòng, dương khẩu súng lục số 7165 của tổ
chức (do Nguyễn Đình Thi trao) nhắm thẳng vào đầu Đỗ Đức Phin (bị Việt Minh cho
là tay sai của Nhật) tuyên án từng lời đanh thép: tao bắn mày vì mày là Việt
gian tay sai giặc Nhật! Đoạn, Văn Cao bóp cò súng cái đoàng, đầu Đỗ Đức Phin nức
toác, tóe máu; rồi ông thủng thẳng nhét súng vào thắt lưng, đủng đỉnh đạp xe đi
như đang dạo mát…

Sau này, cả cuộc đời còn lại, Văn Cao vô cùng ân hận vì đã bắn
chết một con người là Đỗ Đức Phin. Đến nỗi, sự sám hối quằn quại khôn xiết này
đã khiến ông không còn dám gõ lên piano những giai điệu lãng mạn tuyệt đẹp thuở
ban đầu kiểu “Suối mơ”, “Bến xuân”… nữa; vì ông có cảm giác tay
mình còn nhuốm máu đồng loại. Thế mà, có những kẻ vô lương tâm, can dự vào việc
giết chết hàng chục triệu đồng bào vô tội của mình mà vẫn vênh mặt tự hào, chẳng
một chút ăn năn sám hối!

Nghe nói Văn Cao còn bắn sẩy (bắn hụt) hai mật thám Nhật tại Hà
Nội là Cung Đình Vạn và Võ Văn Cẩm (không biết có phải vì ông căm thù quân Nhật
từng giết bố vợ mình là cụ Nghiêm Xuân Huyến – một chủ báo, chủ xuất bản lớn Hà
Nội từng bị Nhật thủ tiêu trong tù?). Một con người như thế không dễ gì thỏa hiệp,
đầu hàng, thà chết cho điều mình tin yêu hơn là phải sống như một chiếc bóng
trong suốt hơn ba mươi năm bị giam lỏng trong án tù thả rông:“Nhân văn –
Giai phẩm”…

Có lần, Văn Cao kể cho người viết bài này (trong một bàn rượu
đơn sơ “cuốc lủi”, lạc rang, đậu phụ mắm tôm, với bạn tâm giao: nhà
văn Mạc Phi, nhà văn Sơn Tùng…) rằng: “Sau vụ Nhân Văn, anh em “chống
đảng” chúng tôi, ngoài mấy người bị án tù 15 năm, tất cả đều bị đi cải tạo lao
động trên Tây Bắc. Trong chặng đường đi đày trên tàu hỏa, dù tôi đang đau dạ
dày nặng sắp chết vẫn bị điệu đi, mấy lần tôi đã toan nhảy xuống đường tự tử
khi tàu chạy, nhưng hình bóng đàn con lóe lên trong đầu như ánh chớp, hình bóng
bà Băng (bà Nghiêm Thúy Băng – phu nhân nhạc sĩ) còng lưng nuôi đàn con bơ vơ mất
bố, tôi liền bỏ ý định tự sát để tiếp tục sống hèn mà trở về nuôi con…”

Có lẽ men “cuốc lủi” làm Văn Cao cảm động, tay
ông run run, kể tiếp: “Thảm nhất là khi ở nơi cải tạo lao động, đến bữa
ăn, cứ thấy mình ngồi bàn nào là anh em (cùng bị đi đày lao động) lại tìm sang
bàn khác ngồi, không ai chịu ngồi cùng bàn ăn với kẻ đầu sỏ Nhân Văn, đến nỗi
chị nuôi trại đi đày phải xẻ một suất cơm ôi cá thối cho tôi ngồi một mình một
bóng mà ăn cho khỏi chết đói chứ nào có ngon lành gì…”

Ngày 30 tháng tư 1975, ngày kết thúc 30 năm chiến tranh, theo mấy
người con và mấy người bạn thân của nhạc sĩ kể lại, Văn Cao im lặng không nói
gì, không reo mừng hò hét vỗ tay vỗ chân rầm rập trong hàng nghìn ca khúc khẩu
hiệu điếc tai như phần lớn đồng nghiệp đã hét. Có lẽ, ông nghĩ rằng, nhờ chiến
thắng này mà có thể thân phận “tù tại ngoại” của ông cũng sẽ
được giải phóng, thoát án giam lỏng nhân văn chăng?

Dồn nén khát vọng tự do mấy chục năm, dồn nén khát vọng hòa bình
mấy chục năm, dồn nén khát vọng mùa xuân mấy chục năm, dồn nén khát vọng thoát
khỏi “nhà giam tư nhân” mấy chục năm, dồn nén khổ đau buồn hận
mấy chục năm, dồn nén oan ức bị chà đạp mấy chục năm, chợt một sáng cuối đông,
đầu xuân năm 1976, vỡ òa cảm xúc, vỡ òa nước mắt nhỏ giọt yêu thương, nhỏ giọt
mật đắng nghẹn ngào lên từng phím đàn thành giai điệu Văn Cao “Mùa xuân
đầu tiên” chăng?

Thành ra, “Mùa xuân đầu tiên” chính là lời reo
vui của đắng cay, niềm rưng rưng kiếp nạn giải thoát, nỗi hoan ca ngục tù gặp nắng
gió mênh mông…?

Xin xem thêm tài liệu tổng kết vụ án “Nhân Văn – Giai Phẩm” (NVGP)
của đại tá công an A 25 Thái Kế Toại đã in công khai trên rất nhiều trang mạng,
để thấy thân phận của Văn Cao suốt ba mươi năm dưới chế độ “ưu việt gấp triệu lần
tư bản” thê thảm là dường nào < *3 *> (xem chú thích cuối bài)

Qua lời tự thú của vị đại tá công an phụ trách theo dõi văn hóa
văn nghệ trên, ta thấy số phận kẻ trọng tội NVGP bị lưu đày trong chính căn phòng
mình, trên chính quê hương mình của Văn Cao và các bạn hữu NVGP của ông hầu như
đã bị tước quyền công dân, tước hết quyền sáng tạo nghệ thuật, bị “giam
tại nhà”, bị đấu tố, bị làm nhục, bị cải tạo lao động hà khắc; không khác mấy
so với những kẻ thua trận Việt Nam cộng hòa bị tù tội trong danh phận học tập cải
tạo sau năm 1975…

Không thấu hiểu hoàn cảnh sống bị chà đạp, bị lăng nhục, vùi dập,
bị đói khổ, bị mất hết tự do nơi Văn Cao suốt ba mươi năm, chúng ta sẽ không cảm
nhận được hết nỗi vui của người tù vừa tìm thấy một khe hở gió nắng, được vụt
lóe với khói trên sông, với tiếng gà trưa hiu quạnh trong nỗi đau nghẹn
ngào “Mùa xuân đầu tiên” này…

Chính nỗi đau buồn kia đã đẩy Văn Cao tới chân tường của cô đơn,
lưu đày ông vào ly rượu và khói thuốc. Chứng nghiện rượu đã giúp Văn Cao phần
nào quên đi thực tại thê thảm, giúp ông có nghị lực để sống qua thời thương
khó. Nhiều đêm, không ngủ được, thức khuya để tìm ảo giác trong men rượu, thấy
bóng mình in trên tường, Văn Cao chợt rùng mình hoảng sợ, ngỡ là công an mật nửa
đêm xuyên tường đến hỏi cung ông, suýt nữa làm ông co cẳng ù té chạy…

Suốt một đời Văn Cao không chạy thoát khỏi bóng mình, không
thoát khỏi kiếp lưu đầy thiên bẩm của một nghệ sĩ lớn mà thời đại dường như
không đủ chỗ cho mình tỏa bóng. Đành thu bóng lại như con mèo nghệ thuật nằm cuộn
tròn trong đống tro tàn cải tạo tại gia mà ăn năn hối cải về tội chống đảng của
mình.

Đâu rồi chàng trai Văn Cao yêu đời, yêu người, tự do tự tại,
thanh bình, phiêu lãng miền thiên giới, thần tiên sống lẫn con người, lãng mạn
tới tận cùng chân trời góc bể trong những ca khúc tiền chiến tuyệt tác? Xin
cùng nghe lại bản nhạc đầu tay tuyệt diệu của trang thiếu niên 16 tuổi, và xem
lại lời của ca từ “Buồn tàn thu”:

Ai lướt đi ngoài sương gió,

Không dừng chân đến em bẽ bàng,

Ôi vừa thoáng nghe em mơ ngay bước chân chàng,

Từ từ xa đường vắng.

Đêm mùa thu chết, nghe mùa đang rớt rơi theo lá vàng.

Em ngồi đan áo lòng buồn vương vấn, em thương nhớ chàng.

Người ơi còn biết em nhớ mong,

Tình xưa còn đó xa xôi lòng.

Nhờ bóng chim uyên, nhờ gió đưa duyên

Chim với gió bay về, chàng quên hết lời thề.

Áo đan hết rồi, cố quên dáng người,

Chàng ngày nào tìm đến?

Còn nhớ đêm xưa kề má say sưa

Nhưng năm tháng qua dần, mùa thu chết bao lần.

Thôi tình em đấy, như mùa thu chết rơi theo lá vàng.

“Buồn tàn thu” một nỗi buồn đẹp,
trong veo dù tình em tưởng “chết rơi theo lá vàng”. Cái buồn của
tình yêu “em thương nhớ chàng” Văn Cao kết hợp hồn nhạc ngũ
cung với chất khải huyền Thánh ca Thiên Chúa giáo rất cổ thi; như người chinh
phụ nhớ chinh phu “Chinh phụ ngâm”Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm,
như thần thiếp nhớ quân vương “Cung oán ngâm khúc”Nguyễn Gia Thiều,
Kiều nhớ Thúc Sinh trong mùa thu chết “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan
san” Nguyễn Du thuở lục bát “người lên ngựa, kẻ chia bào” của “bụi
hồng dặm cuốn chinh an”…

Cái buồn của con người gặp cái buồn của trời đất, rất “mang
mang thiên cổ sầu” Văn Cao. Chàng thiếu niên 16 tuổi đã ký thác đời
mình trong vàng thu lá chết, lấy lá vàng mùa thu làm chiếc diều của của nghệ
thuật muôn đời siêu thoát. Chàng tự lưu đày mình vào mùa thu một cách tự nguyện.
Chàng chết đuối theo vàng thu chìm nghỉm để bất tử trong giai điệu du dương,
sang trọng, như danh họa Nga gốc Do Thái Levitan phó linh hồn cho mùa thu Nga
vĩnh cửu sơn dầu…

Ngay từ 16 tuổi, bằng sự lãng mạn tận cùng qua “Buồn tàn
thu”, Văn Cao đã sung sướng được đắm chìm vào vương quốc Cái – Đẹp. Chàng dùng
nỗi buồn làm rượu, làm lương thực hằng sống nuôi dưỡng những giai điệu du dương
lãng mạn đẹp nhất của nền tân nhạc Việt Nam thuở ban đầu trong năm kiệt tác vô
song: “Buồn tàn thu”, “Suối mơ”, “Bến xuân” (lời Phạm
Duy) “Trương Chi” và “Thiên Thai”…

Dường như năm bản nhạc lãng mạn trên là năm bản thánh ca của tâm
hồn con người, đưa ta thoát mọi phàm tục để được thánh hóa, được thăng hoa tới
muôn vàn mê đắm, thoát khỏi hận thù mà bất tử với thương yêu? Bản tình ca của nỗi
buồn, của Cái – Đẹp ban sơ được hát lên cùng thiên giới thiêng liêng niềm hoài
niệm trần thế; nơi suối nguồn róc rách mê ly chảy ra từ năm dòng kẻ nhạc Văn
Cao, theo giai điệu thiên thần réo rắt thanh tao kia mà rót vào hồn ta hơi thở
đất trời, rót vào tai ta chất men say của niềm ham sống, của tin yêu và hoài vọng.
Âm nhạc Văn Cao nâng cánh con người bay lên cõi đẹp, cõi mê, cõi thần tiên, cõi
hằng sống là vì thế chăng?

Chừng như Văn Cao đã ngầm ký gửi thân phận mình vào hai ca khúc
lãng mạn một cách siêu nhiên có phần kỳ bí, huyền nhiệm: “Thiên thai” và “Trương
Chi”, vừa mang phong cách cao sang, nền nã, cổ điển của nghệ thuật Apollon
– thần ánh sáng và thi ca, vừa mang phong cách ma mị, xuất thần, cuồng si của
nghệ thuật Dionysos – thần rượu nho (theo quan niệm về bi kịch Hy Lạp của Nietzsche)?

Văn Cao, ngay từ độ đôi mươi, đã tự đày ải mình lên miền thiên
giới trong đại kiệt tác “Thiên Thai”. Cuộc nhập “Thiên
Thai” ấy không chỉ có hai chàng Lưu Nguyễn mà thực ra đã có ba chàng:
người tham gia khí muộn vụ thiên hành lên cõi tiên ấy chính là Văn Cao:

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng

Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên

Kià đường lên tiên, kìa nguồn hương duyên

theo gió tiếng đàn xao xuyến

Phím tơ lưu luyến, mấy cung u huyền

Mấy cung trìu mến như nước reo mạn thuyền

Âm ba thoáng rung cánh đào rơi

Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời

Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan

Quê hương dần xa lấp núi ngàn

Bâng khuâng chèo khua nước Ngọc Tuyền

Ai hát trên bờ Đào Nguyên

Thiên Thai chốn đây Hoa Xuân chưa gặp Bướm
trần gian

Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần

Thiên Tiên chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm

Khúc nghê thường này đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn

Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quyên

đây đó nỗi lòng mong nhớ

Này khúc bồng lai

là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi

Đàn xui ai quên đời dương thế

Đàn non tiên đàn khao khát khúc tình duyên

Thiên Thai! Ánh trăng xanh mơ tan thành suối
trần gian

Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần

Gió hắt trầm tiếng ca tiếng phách ròn lắng
xa

Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta

Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn quên trần hoàn

Cùng bầy tiên đàn ca bao năm

Nhớ quê chiều nào xa khơi Chắc không đường về

Tiên nữ ơi!

Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn khi trở về

Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao?

Những khi chiều tà trăng lên

Tiếng ca còn rền trên cõi tiên

Văn Cao và hai chàng Lưu Nguyễn đã nhập “Thiên Thai” nghệ
thuật. Nơi đó, Cái Đẹp chính là tiên nữ, khởi nguồn mọi xúc cảm hồn người. Nghệ
thuật, nói cho cùng KHÔNG VỊ BẤT CỨ ĐIỀU GÌ, vì nó là cái chân thiện mỹ đã được
thánh hóa, được đóng dấu thiên giới cao sang. Tột cùng của nghệ thuật là sự
thoát tục, sự thăng hoa con người lên những thế giới khác, tâm hồn khác, rung động
khác, mê ly khác, ảo diệu khác… do con đò của tưởng tượng chở ta sang bờ bên
kia của sự thật, bờ bên kia của thế giới.

Những giai điệu thần tiên mê ly hết mực Văn Cao đã đưa hồn ta du
nhập cùng ba chàng lãng tử Lưu – Nguyễn – Văn vào cõi trời. Thiên Thai ấy, tiên
nữ ấy, nghê thường ấy hóa ra không ở đâu xa, lại ở chính nơi hồn ta khi được âm
nhạc thiên tài Văn Cao đánh thức…

Văn Cao hóa thân vào bi kịch nghệ thuật Trương Chi, hay chính hồn
chàng Trương Chi đã ám lấy cuộc đời Văn Cao trong một ca khúc hay đến rợn người,
hay đến ngờ có ma trong giai điệu du dương chìm lắng, thê lương, rờn rợn liêu
trai, khuya khoắt ngồi nghe một mình có thể nổi da gà:

Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ

Trầm trầm không gian mới rung thành tơ

Vương vất heo may hoa yến mong chờ

Ôi, tiếng cầm ca thu tới bao giờ.

Lòng chiều bơ vơ lúc thu vừa sang,

Chập chùng đêm khuya thức ai phòng loan

Một cánh chim rơi trong khúc nhạc vàng

Đây đó từng song the hé đợi đàn.

Tây hiên Mỵ Nương khi nghe tiếng ngân

Hò khoan mơ bóng con đò trôi

Giai nhân cười nép trăng sáng lả lơi, lả lơi bên trời

Anh Trương Chi

Tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung,

Anh thương nhớ.

Oán trách cuộc từ ly não nùng.

Đò trăng cắm giữa sông vắng.

Gió đưa câu ca về đâu?

Nhìn xuống đáy nước sông sâu.

Thuyền anh đã chìm đâu!

Từng khúc nhạc xa vời

Trong đêm khuya dìu dặt tiếng tơ rơi.

Sương thu vừa buông xuống

Bóng cây ven bờ xa mờ xóa dòng sông

Ai qua bến giang đầu tha thiết,

Nghe sông than mối tình Trương Chi

Dâng úa trăng khi về khuya,

Bao tiếng ca ru mùa thu.

Ngoài song mưa rơi trên bao cung đàn

Còn nghe như ai nức nở và than,

Trầm vút tiếng gió mưa

Cùng với tiếng nước róc rách ai có buồn chăng?

Lòng bâng khuâng theo mưa đưa canh tàn

Về phương xa ai nức nở và than,

Cùng với tiếng gió vương,

Nhìn thấy ngấn nước lấp lánh in bóng đò xưa.

Đò ơi! Đêm nay dòng sông Thương dâng cao

Mà ai hát dưới trăng ngà

Ngồi đây ta gõ ván thuyền,

Ta ca trái đất còn riêng ta.

Đàn đêm thâu

Trách ai khinh nghèo quên nhau,

Đôi lứa bên giang đầu.

Người ra đi với cuộc phân ly,

Đâu bóng thuyền Trương Chi?

Bi kịch Trương Chi chính là bi kịch của nghệ thuật, bi kịch cuộc
đời, hơn nữa là bi kịch của thiên tài và thời đại, bi kịch của Văn Cao và chế độ…
Hình như Văn Cao đã đổi vai cho chàng ca sĩ thiên tài Trương Chi trong câu chuyện
cổ diễm tình, được kể lại bằng hồn Văn Cao với giai điệu bi ca, khốc ca, hú ca,
Mỵ Nương ca?

Hồn Trương Chi u uẩn, u u trong gió sương vương vấn trên sông,
đêm đêm đã lấy đi hết nước mắt nàng Mỵ nương ân hận nghìn đời. Nay hồn ấy, tình
đơn phương yêu đến chết ấy lại nhập vào hồn Văn Cao với giai điệu sầu thương, nức
nở, lấy đi bao giọt khóc của người nghe nhạc hôm nay.

Thương thay chàng Trương Chi Văn Cao đã dâng hiến cả tâm hồn và
thân xác mình cho tình yêu con người, cho tình yêu thời đại, yêu đến nỗi cuồng
điên kiểu Xuân Diệu: “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” nhưng
đã bị thời đại đáp lại bằng “cú đớp chính trị” Nhân Văn Giai Phẩm tàn mạt cả một
đời.

Nàng Mỵ Nương cuộc đời, nàng Mỵ Nương thời đại không chấp nhận
tình yêu đơn phương tận hiến ấy, yêu và ca hát như con ve tới chết cho nàng, vì
nàng, một tình yêu phi điều kiện, phi chính trị. Cũng như Trương Chi, Văn Cao
đã bị nàng Mỵ Nương – Thời đại phụ tình, hớp hết hồn chàng, rút hết gan ruột
chàng trong các ca khúc kháng chiến bất hủ: “Trường ca Sông Lô”,
trong “Tiến quân ca”, trong “Làng tôi”, trong “Tiến
vế Hà Nội”, trong “Ngày mùa”… ăn ốc đổ vỏ, rồi nhốt chàng vào mật
thất cô đơn như một huyệt mộ của tự do trá hình có tên là căn gác chật hẹp 108
Yết Kiêu, Hà Nội, thuê 15 đồng một tháng (ở tù tại gia mà phải thuê a?)…

Trương Chi đã yêu, đã chết cho mối tình lý tưởng đơn phương,
thân xác tan vào sông nước và hồn hóa thành đá quý làm chén ngọc cho Mỵ Nương
gieo nước mắt thương tình thành sông. Văn Cao không ném thân xác mình vào cát bụi
để được chết vì yêu như Trương Chi; nhưng linh hồn ông, âm nhạc ông đã đang và
mãi mãi sẽ được người đời yêu thương đón nhận. Hồn Văn Cao còn hát mãi tiếng
tuyệt vời Trương Chi trên dòng sông âm nhạc, nơi sẽ có hàng nghìn Mỵ Nương xinh
đẹp mong ước chàng sống lại để hậu thế được yêu chàng như lời thơ R. Tagore vẽ
hộ tình yêu mai sau dành cho chàng Trương Chi – Văn Cao:

“Nàng ơi / tất nhiên là nàng sẽ ra đời /
trong một thế kỷ nào đó / xin nàng tha thứ cho / nếu quả vì tôi kiêu hãnh / vẽ
dáng nàng đang đọc thơ tôi / khi trăng rọi im lìm qua khe chữ / tôi biết đêm
nay / dưới trăng mờ / nàng thắp đèn chờ / dù nàng biết chẳng bao giờ nhà thơ
(nhạc sĩ – chua thêm TMH) đến nữa …” (bản dịch từ tiếng Anh của Cao Huy Đỉnh)

Tiền bối Văn Cao ơi!

Âm nhạc sang trọng bậc nhất nước Việt của ông còn sống mãi. Những
bài hát rất hay, rất quý phái cao sang đầy chất thánh ca của ông vẫn hằng tụng
ca con người, tụng ca Cái Đẹp, như một cứu cánh góp phần cứu chuộc dân tộc ta,
đất nước ta đang có cơ bị diệt vong bởi chính sự băng hoại của những tà thuyết
phi nhân. Xin được gọi ông bằng tên gọi thường nhật trìu mến nhất mà thế hệ đi
sau ông vẫn hằng được gọi thầm tên ông: ANH VĂN; như ngày xưa thi thoảng được hầu
rượu ông nơi quán rượu gần rạp xiếc. Vâng, anh Văn suốt một đời sống chết cũng
chỉ vì hai chữ Nhân Văn thiêng liêng, cao cả này mà thôi…

Sài Gòn ngày 23-01-2013

Trần Mạnh Hảo